Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Đánh máy truyện "TASS được quyền tuyên bố"

111 trả lời, 18.122 lượt xem — Trang 1 / 4
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-02-11 16:58:06ct.ly>
Tác giả là Yulian Semenov (1931-1993),
(còn được phiên âm là Julian Semyonov), nhà văn Liên Xô. nguyên tác tiếng Anh "Tass is Authorised to Announce".

PHẦN 1 - 4

Hoa tulip đen gõ

TỔ HỢP CÔNG NGHIỆP – QUÂN SỰ

- Ông thấy không, ông Mai-cơn, - Lão Nen-xơn Grin trầm ngâm nói, mắt nhìn lũ cháu nhỏ đang nhào lộn trong bể bơi lát bằng thứ đá túp đỏ, chở từ Thổ Nhĩ Kỳ về, - mọi cảm giác chỉ là cảm giác. Còn xét đoán nó, lại là chuyện khác. Khi xét đoán, có thể đúng hoặc sai … Tôi vẫn còn nhớ một bài giảng của giáo sư Mít-sen, thời xa xưa, thời ông cũng còn để chỏm, chứ chưa phải phó giám đốc Cục tình báo Trung ương như bây giờ. Giáo sư Mít-sen ấy nói rằng, nếu nhìn một mái chèo nhúng xuống nước y như bị gãy, thì cảm giác đó là đúng, vì người quan sát thực sự có cảm giác ấy. Nhưng nếu anh ta lại khẳng định rằng mái chèo gãy thật, thì sự xét đoán ấy sai! Mà lỗi lầm của con người không phải ở chỗ cảm giác sai, kệ nó chứ; vấn đề là ở chỗ xét đoán sai kia, ông Mai-cơn thân mến ạ!
Nói xong rồi, Nen-xơn Grin nheo mắt lại, cặp mắt nhỏ như hai giọt nước của lão ẩn dưới đôi lông mày bạc. Trong các buổi họp của Hội đồng thị sát Công ty “Kim cương thế giới”, mà lão là chủ, các thư ký và nhân viên tốc ký chẳng thể hiểu được là lão già đang nhìn hay là đang ngủ mở mắt nữa!
Còn Mai-cơn Ven-xơ mỉm cười:
- Tôi đang có cảm giác là món dâu tây người ta bày cho chúng ta đây, đang bốc lên mùi hương đồng nội của Tếch-dớt, nói như vậy đúng chứ?
- Đó không phải là cảm giác, ông Mai-cơn! Đó đã là xét đoán rồi đấy. Mà lại là xét đoán sai! Dâu tây đang ăn đây không thể bốc mùi hương Tếch-dớt, vì ở đó đang còn lạnh. Nó bốc mùi đồng nội Châu Phi kia. Tôi phải cho máy bay sang tận Luy-xbua chứ không phải chỉ sang Na-gô-ni-a thôi đâu! Mua dâu tây ở đấy đắt hơn bốn mươi bảy xu mỗi cân, đường đi lại xa hơn một trăm chín mươi hai dặm, tốn thêm bao nhiêu nhiên liệu, thế mới ngao ngán chứ!
- Ông lo sạt nghiệp chắc? – Ven-xơ hỏi đùa.
- Hẳn chứ! – Grin nhại lại giọng ấy - Sạt nghệip bao giờ cũng bắt đầu từng đồng xu, chứ không phải từ bạc triệu!
- Này, thôi không đùa nữa. Ông định tác động vào Ngũ Giác đài ở mức độ nào đấy?
Grin bèn hớp một ngụm chè ướp nhài, hỏi lại, giọng giễu cợt:
- Ông định chở dâu tây bằng máy bay của họ chăng? Tôi nghĩ là tôi có thể tác động được đấy! Nhưng để làm gì?
- Ông Nen-xơn ạ! Chúng tôi đang có một số dự tính về nước Na-gô-ni-a. Tôi cần được Lầu Năm góc ủng hộ.
- Sẽ giải quyết thôi! Nhưng còn bộ ngoại giao? Ông đã bàn những dự tính với họ chưa?
- Hãy còn sớm, chỉ cần đưa họ vào vòng ngay ở phút cuối, không thì dễ lộ bem. Bọn làm ngoại giao rượu chè khiếp lắm! Bệnh nghề nghiệp của họ là xơ gan đấy! Tôi đã nghiên cứu các kết luận của bác sĩ, chọn ra từ ba sứ quán: bảy mươi phần trăm quan chức ngoại giao bị bệnh gan kinh niên cả đấy!
- Đừng láu cá, ông Mai-cơn! Ông biết quá rõ rằng mấy cha ở Bộ Ngoại giao đâu có dửng dưng với mọi quyền lợi của tôi. Nếu tôi mất độ ba trăm triệu bạc ở Na-gô-ni-a, thì họ cũng sẽ bị đi tong mất hai trăm ngàn, mất một món bở đối với họ rồi!...
- Ông Nen-xơn, nhưng xin ông hiểu cho: Đưa Bộ Ngoại giao vào việc bây giờ là quá sớm. Chúng ta phải làm cho xong những việc ta dự định đã…
- Đừng có cãi người già! – Grin cắt ngang - Đại sứ đặc nhiệm là người có cổ phần với tôi, ban thư ký của tôi cứ viết sẵn điều gì, ông ta sẽ nói nấy. Thôi đừng từ chối, ông Mai-cơn, thế không khôn ngoan đâu. Tốt hơn hết, ông hãy nói cho tôi hay ông đang trù liệu những gì, có thể tôi còn giúp được ông, với cương vị cố vấn chẳng hạn!
- Tính toán khéo lắm! Thì đây, chúng tôi đang có gián điệp ở Mát-xcơ-va. Một tay rất thạo tin! Do vậy, ta không phải kế hoạch mò, mà có khả năng tính nước đi của mình, khi biết nước đi đối lại của điện Krem-li. Ông hiểu chứ, chưa bao giờ ta có được một tay nội gián cỡ ấy cả. Vì vậy nên tôi tin chắc thành công.
- Ờ, phải gõ thử mà xem chất gỗ đã…
- Loại thượng thặng – Ven-xơ đập đập ngón tay lên đầu nói - rắn như gỗ bá hương vậy. Có được một người như thế ta phải đánh càng sớm càng tốt. Ta thường thua cuộc luôn, vì ta mất khả năng xét đoán, chỉ hành động theo cảm giác.
- Ông lý sự cũng khá đấy! – Grin nhận xét – Trong mọi thứ, tôi đều thích sự trọn vẹn. Hình thái cao nhất của sự trọn vẹn là hình tròn. Bây giờ tôi phải nói với Lầu Năm góc những gì nào?
- Ông nói làm sao để hạm đội được di chuyển đến bờ biển Na-gô-ni-a đúng ngày giờ bắt đầu chiến dịch của ta. Làm sao cho không quân sẵn sàng chuyển quân đổ bộ sang được đó - độ một ngàn lính “mũ nồi xanh”, biết làm ăn đâu ra đấy, thế là đủ. Vậy thôi!
- Nếu tôi hiểu đúng ý ông, thì ông sẽ đưa hạm đội và không quân vào cuộc ở giai đoạn cuối, giống như một hành động răn đe, phải thế không?
- Phải.
- Còn đại sứ đặc nhiệm mà bản thân tôi phải đích thân lo liệ thì sẽ được đưa vào cuộc lập tức, phải thế không?
- Tôi thì không muốn lắm, ông Nen-xơn ạ. Nhưng nếu ông cứ khăng khăng giữ ý mình…
- Xin cảm ơn. Còn điểm cuối cùng. Khi nào mọi việc đó phải xảy ra?
- Hai ba tuần nữa, chúng ta sẽ lật đổ Gioóc-giơ Gri-xô.
- Chính quyền chi cho vụ này đủ chứ?
- Ông lạ gì, chính quyền bao giờ chẳng tiết kiệm từng đồng…
- Thôi được, tôi sẵn sàng mua một cổ phần của CIA độ ba triệu – Nen-xơn Grin cười khùng khục - Thậm chí bốn triệu… Ông xơi dâu tây nữa chứ?
- Vâng, rất hân hạnh.

XTÊ-PA-NỐP

“Gioóc-giơ Gri-xô trong ảnh trông rất cao, thực ra không đúng vậy. Tầm vóc ông không lớn, người xương xương, nhưng ông cử động ít. Ông quay đầu thận trọng, y như sợ phải trông thấy điều gì đó khủng khiếp.
Khi tôi phát biểu cảm tưởng ấy với ông, Gri-xô đáp chậm rãi: Cảm tưởng của ông đúng đấy, tôi mới tập đi lại được một năm nay. Mọi cử động mạnh vẫn làm tôi đau đớn, hơn nữa tôi lo còn phải đi bệnh viện, mà thời buổi này tôi không có quyền đi nằm bệnh viện.
Và ông kể tôi nghe, tại sao ông mới phải tập đi trở lại:
- Hồi đấu tranh du kích, khi thắng lợi của nhân dân đã hoàn toàn khẳng định, chúng tôi đang vùn vụt tiến về thủ đô thì giám mục Phéc-nan-đê gửi thư cho tôi: Ông đề nghị cuộc gặp gỡ ở làng quê tôi, ông sẵn sàng đến đó một mình vào bất cứ lúc nào, để dàn xếp một kết cục hoà bình và ký hiệp ước chuyển giao quyền lực từng giai đoạn. Chúng tôi đã đưa ra Bộ Chính trị thảo luận vấn đề này. Dù sao, Phéc-nan-đê trước kia vẫn giữ lập trường trung lập; vị trí không xứng đáng lắm với kẻ phụng sự Chúa, mà lẽ ra, ông ta phải đứng về phía những ai bị đày đoạ và bị tước mọi quyền dân chủ. Tuy nhiên, tôi vẫn giữ ý kiến nên gặp. Tôi nghĩ, Phéc-nan-đê hẳn vẫn còn nhớ đến thời thơ ấu, nhớ lại là ông đã hứng chịu biết bao điều nhục nhã trước khi những nhà truyền đạo đưa ông ta, khi đó còn là một cậu bé da đen nhỏ tuổi, sang Rô-ma.
Khi tôi gặp Phéc-nan-đê, mọi việc trôi chảy, những đề nghị của ông ta có thể làm cơ sở để thương lượng được. Chúng tôi đã thảo ra một tuyên bố chung, chỉ có hai người, không thêm ai hết, như chính ông ta đề nghị. Thế rồi bọn lính com-măng-đô lặng lẽ bò vào làng. Lúc ấy tôi không có vũ khí, chả lẽ lại không tin đức giám mục, chính ông ấy đã ra điều kiện tay không đến cuộc gặp gỡ kia mà!... Trước tiên, bọn chúng tra tấn Phéc-nan-đê. Chúng buộc ông thừa nhận một điều thôi: “Ăn tiền của cộng sản và theo lệnh họ, kêu gọi nhân dân bất tuân thượng lệnh”. Giám mục đã chịu đựng rất cứng cỏi. Bọn chúng gí than đỏ vào gan bàn chân và thọc kim nung nóng vào dưới móng tay ông. Rồi bọn chúng quay sang tôi. Chúng trói tay chân treo lên cây, dốc đầu xuống, giống như người trượt từ tảng đá cao lao đầu xuống biển. Tôi rất khoẻ và chịu được hết mọi ngón tra tấn mà chúng gọi là trò “con én”. Chúng bèn dẫn mẹ tôi tới, lột quần áo của bà ra, và nói rằng sẽ thiêu sống bà ngay trước mặt tôi, nếu tôi không từ bỏ sự nghiệp của mình, và không khai rõ chỗ ở của Bộ chỉ huy du kích. Tôi im lặng. Không thể chọn cách khác được. Khi chúng xô mẹ tôi xuống đất và tưới xăng lên bà, tôi thét lên, rằng tất cả bọn chúng sẽ phải đền tội ác man rợ ấy. Tôi bảo chúng hãy giết tôi bằng cách gì khủng khiếp nhất cũng được, vì tôi mới là kẻ thù của chúng, chứ đâu phải là mẹ già tôi. Chúng trả lời, là mụ già đã đẻ ra lũ cướp không còn tim, một khi đứa con đã dám đem mẹ ra hy sinh cho những lý tưởng điên rồ của hắn, thì tha mụ sao được. Khi bọn chúng quăng mồi lửa vào mẹ tôi, tôi oằn oại, thết lên thất thanh. Nhưng mẹ tôi chỉ bảo: “Con đừng làm thế, cẩn thận đấy, kẻo lại gãy xương con ạ!”
Gri-xô hút hơi thuốc, hớp ngụm nước, tiếp tục kể:
- Sau đó, chúng dẫn con trai tôi là Va-lê-ri-ô đến. Chúng cũng lột hết quần áo, nói đúng hơn là xé toạc cái áo sơ-mi của nó ra, đó là món quà tôi tặng cho con. Cái áo bằng vải ka-ki, cắt ra và may lại từ cai áo khoác của vợ tôi, cái áo mà thằng bé rất hãnh diện. Nó gào lên, chìa bàn tay xinh xắn về phía tôi, lặp đi lặp lại: “Bố ơi, cứu con với! Cứu con với, bố ơi!”
Giám mục Phéc-nan-đê thì vẫn đứng nguyền rủa bọn đồ tể, ông bắt đầu thét lên một cách đáng sợ, thế là một tên com-măng-đô xả ngay vào ông ấy một tràng tiểu liên. Nhưng các chiến sĩ du kích của tôi đã nghe thấy tiếng súng. Họ xông vào làng ngay. Ấn tượng cuối cùng tôi nhớ được là khẩu súng trường tự động chĩa vào bụng tôi. Tên com-măng-đô lấy họng súng cù cù tôi, và nhắc đi nhắc lại: “Nào, cười lên, cười đi, Gioóc-giơ, mày vẫn cười vui lắm mà, hở thằng trí thức đeo kính!”. Rồi hắn ấn cò… Tôi chỉ tỉnh lại ở bệnh viện, hai tháng sau. Còn đúng ba tháng sau thì qâun du kích tiến vào thủ đô. Đấy, vì thế mà giờ đây tôi quay người chậm chạp và đi lại rất khó khăn. Thật bực mình, vào năm ba mươi sáu tuổi đã như anh què, tuy tôi còn bắn được như trước kia, và ngòi bút vẫn còn chịu sự điều khiển của tôi như trước.
Ông đôn hậu nở nụ cười chua chát của một người đã từng giáp mặt với cái chết, và kết thúc cuộc phỏng vấn:
- Tôi sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi của ông về tình hình trong nước, nhưng xin hoãn đến tuần sau. Bây giờ tôi phải bay đi biên giới. Ô-ga-nô đang dồn cả bọn lâu la đến đó. Vấn đề thể chế Nhà nước chúng tôi đang còn là vấn đề tương lai, nó sẽ được quyết định ngay ở chiến trường. Theo tôi, hiện nay không còn lực lượng nào có thể chặn tay được bọn Ô-ga-nô, sau lưng có CIA và Bắc Kinh ủng hộ, ngừng cuộc tấn công vào Tổ quốc tôi. Và tôi cũng nghĩ rằng con đường Nghị viện cũng không gỡ nút được tình hình này. Tuy nhiên, tôi vẫn chuẩn bị tinh thần đến đàm phán với hắn, tay không mang vũ khí. Tôi sẽ đến đó bình thản, nếu hắn tráo trở, hắn chỉ có thể giết nổi mình tôi thôi, điều đó hoàn toàn không đáng sợ, một khi đã quyết hy sinh cho Tổ quốc. Xin lỗi ông vì những lời có phần quá thống thiết, nhưng tôi đã nói lên điều tôi vẫn tâm niệm, vì vậy dùng mọi lời lẽ khác đều có vẻ tô vẽ”.
Đặc phái viên Đơ-mi-tơ-ri Xtê-pa-nốp, truyền bằng điện thoại từ Na-gô-ni-a: Xin đề nghị biên tập đừng cắt đoạn nào, dù phải miêu tả sự thật khủng khiếp trước người đọc. Nếu lược đi còn độ một trăm dòng, cắt gọt mượt mà, thì tốt hơn là không đăng. Tôi sẽ về vào thứ bảy tuần sau. Gửi lời chào tất cả anh em! Đ.Xtê-pa-nốp.
*
* *
Đại sứ Liên Xô đọc hết bài phóng sự của Xtê-pa-nốp và hỏi:
- Chẳng lẽ con người ấy sẽ dang tay cho chúng chặt sao?
- Đó cũng nằm trong tính cách của chúng ta. Chúng ta ưa mềm mỏng, nói đúng hơn là ưa tế nhị, lịch thiệp. Nhưng cái kiểu quân tử như thế, đôi khi còn tệ hơn cả ăn cắp! Đồng chí đã xem buổi truyền hình về chuyện chống nghiện rượu trên Tivi Mát-xcơ-va chưa?
- Chưa có dịp, đồng chí Xtê-pa-nốp ạ.
- Tôi khuyên đồng chí nên xem. Họ làm một trò tài tử là đưa một anh chàng thôi miên lên màn ảnh, để anh ta ru ngủ mấy tay nghiện rượu ở phòng y tế. Có ru ngủ hay không thì chưa chứng minh được. Người xem chờ đợi một trò ảo thuật, nhưng ảo thuật cũng không có nốt! Bọn nghiện rượu được một mẻ cười! Giá như đưa hẳn lên cách bài trừ rượu thẳng thừng có phải tốt hơn không?
- Trời mà biết được! Tuyên truyền ngày nay là một hình thức của chính trị, thẳng thừng quá, nhiều khi lại nguy hiểm!...
- Đồng chí nói về chính sách ngoại giao thì đúng. Nhưng đây là vấn đề nguyên tắc kia: Có để người ta chặt tay hay không? Ta còn chờ gì nữa nhỉ?
- Tôi cho Gri-xô nói đúng: Ô-ga-nô không đàm phán gì đâu. Hắn chẳng có việc gì để ngồi vào đó, hắn là tên bù nhìn được nặn lên. Hắn cần làm đảo chính, có thế thôi. Vấn đề là thời điểm. Nếu như Gri-xô có độ nửa năm chuẩn bị, ông sẽ chẳng phải sợ gì Ô-ga-nô, đến mười tên phiến loạn cỡ ấy cũng không sợ! Đáng tiếc thật… Thiếu thời gian, không phải là một người mà là cả một đất nước… Tuy nhiên, tôi vẫn không hiểu nổi bọn Mỹ, chúng đánh một ván bài quá ngốc nghếch với loại như Ô-ga-nô… Tư duy có hệ thống khác với thứ tư duy chẻ sự vật ra mà phân tích, vì nó nhất thiết phải tính đến các dữ kiện đi kèm, các yếu tố giúp ta hiểu sự vật đầy đủ hơn, bao quát hơn. Thiếu cơ sổ ABC ấy của tư duy, người Mỹ sẽ chỉ xôi hỏng bỏng không thôi!... Khi nào đồng chí về Mát-xcơ-va?
- Mai ạ. Nhưng tôi sẽ chỉ về đó độ vài ba hôm thôi.
*
* *
“Điện tối mật: Gửi điện Krem-li, Mát-xcơ-va.
Chúng tôi – chính phủ Na-gô-ni-a, đề nghị Mát-xcơ-va viện trợ kinh tế khẩn cấp, do tình hình bị phong tỏa kinh tế triệt để. Bọn thân Mỹ và thân Trung Quốc vây chặt quanh chúng tôi. Nguy cơ xâm lược quân sự đe doạ trực tiếp. Nếu Liên Xô không viện trợ gấp, số phận cuộc cách mạng của Na-gô-ni-a có nguy cơ bị tiêu diệt.
Thủ tướng G.Gri-xô”
*
* *
“Điện tối mật: Gửi Mát-xcơ-va.
Ba cố vấn đến đây cùng tôi không thể làm nổi việc gì, sau khi nghiên cứu tình hình tại chỗ. Chủ nghĩa thực dân đã ngu dân hóa triệt để. Các kỹ sư, bác sĩ, nhà nông học ở Na-gô-ni-a thực tế là không có. Bọn phản động hoành hành liên tục khắp nơi. 40% dân số mắc bệnh lao, 70% bị đau mắt hột, 98% mù chữ. Cần phái sang đây ít nhất từ 300 đến 500 chuyên gia.
Đại sứ Liên Xô tại Na-gô-ni-a A.A-li-ô-sin”
*
* *
“Điện tuyệt mật: Gửi Bắc Kinh.
Bọn Nga đã bắt đầu tung cố vấn sang Na-gô-ni-a.
Tướng Ô-ga-nô theo chỉ thị của chúng tôi đã gặp sứ quán Mỹ ở Luy-xbua, để xin viện trợ quân sự trực tiếp.
Đại sứ CHND Trung Hoa tại Na-gô-ni-a
Đỗ Lý Nghị”
*
* *
“Điện tuyệt mật: Gửi Cục tình báo trung ương Mỹ.
Việc chuẩn bị chiến dịch “Ngọn đuốc” thực tế đã hoàn tất. Tuy nhiên nhiều nguồn tin cho hay là trong thời gian trước mắt, bọn Nga sẽ cung cấp cho Na-gô-ni-a một đợt hàng kỹ thuật lớn, việc này có ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động của chúng ta tại đó. Vì tầm quan trọng của chiến dịch “Ngọn đuốc”, tôi đề nghị Trung tâm nên hỏi ngay điệp viên nội gián có bí danh Tỉnh táo, về quy mô cuộc cung cấp này của Nga.
Rô-bớt Lo-ren-xơ, nhân viên CIA tại Luy-xbua”
*
* *
“Trích tuyên bố của đại sứ Mỹ:
Công bằng xã hội, dân chủ, trật tự trong luật pháp là những điều duy nhất mà những người ái quốc Na-gô-ni-a, đứng đầu là tướng Ô-ga-nô đang mong muốn. Họ bị chính phủ Gri-xô đối xử rất vô nhân đạo.
Nước chúng tôi chưa bao giờ can thiệp và không hề có ý định can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Tuy nhiên, từ trên diễn đàn cao quý này, tôi không thể không nói rằng dư luận Hoa Kỳ đang theo dõi chăm chú những sự kiện đang phát triển ở đất nước Châu Phi này. Đồng thời, tôi xin tuyên bố về những tin đồn trên báo chí, rằng dường như Hoa Kỳ đang tiếp xúc với Bắc Kinh để tiến hành lật đổ chính phủ hiện nay ở Na-gô-ni-a, là hoàn toàn vô căn cứ và sự bịa đặt có tính chất vu khống…”

NHỊP ĐỘ

Côn-xtan-ti-nốp cất kính vào bao, mỉm cười với Pa-nốp ở ban giải mã, anh chàng này thở dài sườn sượt, đặt trước đồng chí bảng chữ số:
45225, 66167, 85, 141965, 5181713
- Tháng này bọn chúng điện cho hắn cả thảy bao nhiêu lần?
- Nhiều vô kể. Đây là đợt thứ tư. Đồng chí chắc là “hắn” à? Nhỡ là “ả” thì sao?
- Thật đáng tiếc, nếu là phụ nữ cái giá phải trả cũng là như nhau. Nhưng nhiều phối âm có vẻ nam giới nằm trong các chữ số, đồng chí có thấy thế không?
- “Những phối âm kiểu nam giới…”. Một định nghĩa đáng giá đấy. Mà quả đúng như vậy, đồng chí thiếu tướng ạ!
- Đồng chí cho rằng không thể giải mã được những tín hiệu vô tuyến này, nếu ta không có chìa khóa giải, phải không?
- Thì đồng chí thử xem đây! – Pa-nốp vừa nói vừa đặt lên bàn tờ giấy đầy những chấm, những số, những gạch ngang bí ẩn.
- Giống như thơ vị lai I-ta-li-a hồi đầu ấy nhỉ!
Côn-xtan-ti-nốp nhận xét, rồi đứng dậy về phòng, để một điếu xì – gà lại cho Pa-nốp. Hôm nay, ông phải trực về công tác phản gián.
Trong chiếc cặp giấy đỏ ở bàn làm việc của ông, có bức điện mật mã mới đánh từ Na-gô-ni-a: Hai chuyên gia Xô-viết bị bọn Ô-ga-nô bắn, cả hai được đưa đến bệnh viện trong tình trạng nguy kịch.
Chiếc cặp giấy xanh chứa những tài liệu đặc biệt quan trọng cũng nằm trên bàn. Ở đó có một bức thư lạ, viết bằng tiếng Nga, chỉ vừa mới nhận được nửa giờ trước đây từ đại sứ quán Liên Xô ở Na-gô-ni-a.

XLA - VIN

- Chỉ nay mai thế nào cũng có đánh nhau – phóng viên Xtê-pa-nốp nhắc lại, vẻ chắc chắn – Và sẽ rất dữ dội.
- Thế tại sao cậu lại bứt khỏi đó chớp nhoáng, đúng vào lúc này? – Xla-vin hỏi.
- Mình về nộp phim, Vi-ta-li ạ. Đã có lệ rồi mà. Kế hoạch là trên hết!
- Loạt phim đạt chứ?
- Theo mình là được. Ngày kia, mình sẽ trở lại đó.
- Tớ phát ghen với cậu đấy!
- “Ông bầu về các tình hình khủng hoảng” đã quyết định rồi mà! - Xtê-pa-nốp cười khì, rồi ngả người xuống ghế tựa. Ở đây, trong câu lạc bộ Hội nhà văn, không khí đang náo nhiệt. Món xúp ô-crô-sca đầu tiên trong năm được đem ra phục vụ (1). Có người đồn rằng sắp có cả tôm và bia hơi cực ngon, từ câu lạc bộ Báo chí đưa sang, nên sự náo nhiệt lại càng tăng, càng háo hức.
- Họ chẳng chịu đi liên hệ mua về cho anh em đâu! – Xtê-pa-nốp nhăn mặt nói, và đẩy món xà-lách về phía Xla-vin.
- Ở đời phải vừa lòng với những gì anh đang có thôi. Đừng mong có bia Pen-den và tôm Rô-xtốp nữa, làm gì có ở đây!
- Chịu khó ăn chay vậy – Xla-vin khuyên. Rất có ích đối với người sáng tác đấy!
- Vậy à, -Xtê-pa-nốp cười xoà và rót rượu vốt-ca ra các ly – Ăn chay là sự tự hạn chế, mà mọi thứ hạn chế, dù là vì tự do đi chăng nữa, cũng vẫn là một hình thức của nô lệ…
- Cậu cãi không nổi với Ăng-ghen đâu. Tự do đó là điều tất yếu nhưng có ý thức; nó được khắc lên bia đá rồi, ông bạn thân mến ạ, đừng có động vào…
- Nâng cốc chúc cậu nhé! – Xtê-pa-nốp nâng ly rượu lên.
- Này, nhưng tớ chỉ xin một cốc rượu vang thôi đấy!
- Uống vốt-ca hơn chứ?
- Mi-chi-a ạ, về lý thuyết thì tớ cũng chấp nhận thế, chỉ có điều, cơ thể tớ không chấp nhận được! Tớ chỉ uống vốt-ca trong trường hợp công vụ đòi hỏi thôi.
- Cậu đạo mạo gớm nhỉ!
Xla-vin mỉm cười:
- Ồ, trái lại, tó chơi thể thao ra trò đấy, Mi-chi-a ạ! Tớ đánh ten-nít như điên ấy chứ!
- Này, Vi-ta-li, thế cậu có dễ nổi khùng không?
- Không bao giờ!
- Cậu tự phụ nhỉ!
- Mi-chi-a ạ, cũng không phải thế. Tớ muốn định nghĩa rằng tớ là người tự tin, thế thôi! Còn về chuyện hạn chế và tự do, thì tớ có đọc một khái niệm khá láu lỉnh của Bô-nan. Theo thuyết của ông ta, con người đã không tự do ngay từ lúc lọt lòng, mà lỗi là ở tự nhiên, bởi vì chính nó là kẻ hạn chế nhiều thứ chủ yếu ở con người. Con người chỉ có thể trở nên tự do trong trường hợp bỏ vào đó những nỗ lực tối đa để giành giật lấy những gì lẽ ra bị tước đoạt mất!...
… Người phụ trách nhà ăn nhòm vào căn phòng nhỏ, được che chắn và trang trí lại từ cái khoảnh hiên cũ, và hỏi:
- Đồng chí Xla-vin ở đây phải không? Mời đồng chí đến ngay điện thoại, có người gọi gấp.
- Món kem thế là không thành rồi! – Xla-vin chấm dứt câu chuyện - Chắc là có việc quan trọng. Cậu đi mạnh giỏi nhé, Mi-chi-a.

(1) Ô-crô-sca: món ăn lạnh bằng nước kơ-vát với rau và thịt.
📎 1|2|3|4|5
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-25 04:12:04ct.ly>
Hoa tulip đen gõ

PHẦN 5-10

CÔN-XTAN-TI-NỐP

Khi Xla-vin bước vào, Côn-xtan-ti-nốp nhìn anh với vẻ thông cảm và hỏi như để khẳng định:
- Chắc anh phải rủa thầm vì bị sục tìm bất thần thế này?
- Cũng có phần thế.
- Anh đừng giận. Hãy đọc đây này – Côn-xtan-ti-nốp chìa bức thư từ Luy-xbua ra – Thư vừa mới đến.
Xla-vin cười, lấy kính ra:
- Tín hiệu về cuộc đổ bộ của những người từ hành tinh khác vào các mục tiêu quân sự chăng? Hay là tư liệu về chuyện mặt trời đang giảm độ nóng đi đấy?
- Với cái đầu óc thích suy nghĩ toàn cầu như của anh, thì cái thông báo này chẳng gây được mối quan tâm đâu…
Xla-vin đọc gấp bức thư, rồi nhìn Côn-xtan-ti-nốp vẻ dó hỏi:
- Phải đọc to lên – Côn-xtan-ti-nốp nói - Để tôi đọc to lên một lần nữa nhé.
Rồi Côn-xtan-ti-nốp chậm rãi đeo cái kính dày cộp lên, khuôn mặt ông tự nhiên đâm trẻ ra (khi thăng ông lên cấp tướng, các vị tướng lão thành đã đùa: “Bốn mươi lăm tuổi, thời nay được lên tướng là trẻ quá mức, chỉ ở vào cái thời chúng tớ, người ta mới gắn lon tướng ở tuổi ba mươi thôi!”). Ông bắt đầu đọc:
- “Tháng Chạp năm ngoái, trong một phòng của khách sạn “Hin-tơn” ở Luy-xbua, có hai người Mỹ, một người tên là Giôn đã thoả thuận với một người Nga, về việc tiến hành hoạt động ở Mát-xcơ-va và truyền tin tức qua một kẻ “láng giềng” nào đó. Tên Nga kia có bộ mặt sung mãn, hắn nói thạo tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Anh… Thằng đểu cáng… Lá thư này có thể làm tôi mất mạng, nhưng tôi không thể cho phép mình im lặng…”
Côn-xtan-ti-nốp nhìn Xla-vin, mắt ông ánh lên một nét cười và ông kết luận câu chuyện:
- Nào, anh Vi-ta-li, anh đã sẵn sàng bình luận chưa?
… Trước tiên, bức thư này rõ ràng do một người Nga viết.
- Thế anh tưởng rằng, nếu bọn CIA muốn bày ra một trò gì đấy, lại không thể nhờ các nhà ngôn ngữ học thông thạo làm cố vấn cho chúng sao?
Xla-vin vẫn mỉm cười.
Côn-xtan-ti-nốp lấy một tờ giấy, vạch đậm nét con số 1 rồi khoanh tròn lại, ngẩng nhìn Xla-vin:
- Nào ta hãy phân tích từ đầu. Những buổi truyền tín hiệu của CIA về hướng Mát-xcơ-va cho một tên điệp viên bí mật đang được tiến hành đều đặn, gần đây càng trở nên dày đặc hơn. Tất nhiên, chúng ta chưa giải mã được. Những giả định của Pa-nốp vẫn chỉ là giả định, ngoài các dự đoán đó ra, chúng ta vẫn không nắm được nội dung những tín hiệu chúng truyền cho nhau. Tôi thường tự hỏi: Điểm nóng nhất trên thế giới hiện đang nằm ở đâu?
- Có thể là Na-gô-ni-a được không?
- Tôi cũng đang nghĩ thế. Còn bức thư này nếu không phải một trò chơi khăm, một mưu toan bôi xấu ai đó trong số cán bộ của ta đang làm việc ở Luy-xbua, thì có thể cho phép ta tự đặt câu hỏi thứ hai: Điểm mạnh nhất trong hoạt động của CIA ở châu Phi thực chất đang nằm ở đâu?
- Tôi nghĩ chính là ở Luy-xbua!
- Hoàn toàn đúng – Côn-xtan-ti-nốp lặp lại - Ở Luy-xbua! Và Luy-xbua cách biên giới Na-gô-ni-a bao xa nhỉ?
- Hai trăm ki-lô-mét, anh ạ.
- Như vậy đó!
Côn-xtan-ti-nốp viết tiếp số 2 đậm, lại khoanh bằng một vòng tròn nữa. Ông nói luôn:
- Bây giờ đến điểm thứ ba. Ta hãy giả thiết rằng sự dồn dập đến mức dày đặc của các bức điện đánh đi từ trung tâm CIA ở châu Âu tỷ lệ thuận với tình hình đang căng thẳng đến mức báo động ở Na-gô-ni-a. Có thể thế được chứ?
- Cứ giả sử là thế đi đã – Xla-vin đồng ý.
- Ta đi tiếp đến một kết luận bạo phổi nữa: Không phải chỉ Luy-xbua là mục tiêu quan tâm của CIA thôi đâu. Anh láng giềng Na-gô-ni-a mới là vấn đề! Và suy ra rằng, với những tín hiệu dồn dập như vậy, bọn chúng chắc hẳn đang xếp đặt một âm mưu gì đó khá nghiêm trọng với Na-gô-ni-a.
- Tôi cũng đồng ý thế, cho dù kết luận đó có phần bạo phổi!
- Được rồi. Hẵng biết vậy. Ta giả định tiếp, là do CIA đang mưu mô làm trò gì đó ở Na-gô-ni-a, nên ra sức giật dây lên “nằm vùng” ở Mát-xcơ-va. Trước kia, chúng lắp đặt ở Na-gô-ni-a những tên lửa mang đầu đạn hạt nhân chĩa về phía chúng ta. Mất đứt Na-gô-ni-a là một đòn chí mạng, giáng vào khối NATO… Nên tôi cho rằng, bọn chúng sẽ không từ trò gì để cốt đoạt lại được Na-gô-ni-a.
Trong mắt Côn-xtan-ti-nốp, ánh cười ban nãy đã tắt, ông chỉ nhìn Xla-vin rất chăm chú, vẻ chờ đợi.
- Bây giờ ta dự tính thử xem chúng sẽ có những mưu mô gì ở Na-gô-ni-a – Xla-vin nói.
- Tôi lại đang muốn nghĩ về trình độ của tên điệp viên CIA. Hắn phải có một trình độ thế nào để CIA có thể tác động vào trong một chiến dịch chính trị đối ngoại như vậy? Anh cũng thừa hiểu mức độ nghiêm trọng của “cú đấm ở châu Phi” mà chúng sửa soạn, một mưu toan của phái “diều hâu”, đẩy người dân Mỹ đối lập với chúng ta, ngăn cản tình hình hoà dịu quốc tế, tạo ra cuộc khủng hoảng mới, đặt thế giới bên bờ vực thảm hoạ. Ai có lợi lúc ấy? Không phải là người dân Mỹ. Mà là CIA và công nghiệp quân sự. Bức thư từ Luy-xbua có đúng thật không? CIA có thực đã tuyển mộ được một người của chúng ta ở khách sạn “Hin-tơn” và hắn đã trở về được Mát-xcơ-va không? Hắn có khả năng nắm được các tài liệu mật không? Ở đâu? Thuộc bộ nào?
- Ta có thể bắt đầu từ việc thẩm tra những người đã từng làm việc ở Luy-xbua?
- Nếu giả thiết đã là một mạng lưới, thì phải thẩm tra cả những người đang còn làm việc tại đó. Loại bỏ đi những ai không có khả năng nắm được những tài liệu mật. Tập trung vào những nhân vật biết nhiều, cả ở đây, cả ở bên đó.
- Đồng chí Côn-xtan-ti-nốp ạ, những bức điện mật lại đang tới tấp đánh về Mát-xcơ-va. Nếu tên điệp viên đó đang còn ở Luy-xbua, thì chúng đánh điện về đây có ý nghĩa gì?
- Như vậy là anh loại bỏ giả thuyết mạng lưới? Tin tức sơ bộ thì bọn CIA nhận được ở Luy-xbua, còn việc xác nhận thì đòi hỏi ở tên điệp viên gài tại Mát-xcơ-va. Anh có gì phản bác khả năng này không?
- Không, - Xla-vin trả lời trầm ngâm, - tôi không hề bác bỏ khả năng ấy.
Côn-xtan-ti-nốp nhấc ông điện thoại, quay số điện của trung tướng Phê-đô-rốp:
- Chào đồng chí Phê-đô-rốp. Tôi đang cùng Xla-vin nghiên cứu bức điện. Cả bức thư nữa, khá thú vị, xin được báo cáo với đồng chí vào thứ hai này nhé. Hay là… Vâng. Xin chờ.
Ông đặt ống nói xuống: “P.G (tên tắt gọi Phê-đô-rốp) đã rời bản doanh đến đây. Nào, hãy mời những người của anh lại đây, ta cùng tập hợp các đề nghị. Phải khởi tố vụ hình sự đi. Và liên lạc với Viện Công tố ngay. Hãy thế đã nhé”.

VẪN CÒN CÔN-XTAN-TI-NỐP

Li-đa, vợ Côn-xtan-ti-nốp, trong bữa ăn sáng, băn khoăn và hơi phật ý nhìn chồng. Ông vừa gọi dây nói cho Xla-vin, hẹn bảy giờ bốn lăm sẽ có mặt ở ngoài sân quần vợt.
… Côn-xtan-ti-nốp uống hết cà phê, đặt tách xuống, và Li-đa hiểu rằng ông sắp sửa rời nhà. Đã chung sống với nhau hai mươi năm, người ta hiểu nhau không cần lời nói, mà chỉ qua những cử chỉ báo hiệu bên ngoài.
Về phần mình, Côn-xtan-ti-nốp cũng hiểu là vợ sắp đứng dậy, nên ông đặt tay lên mấy ngón tay của Li-đa, và nói tiếp câu chuyện dang dở với vợ.
- Anh nhớ cả rồi. Còn em ghi lại hay cũng sẽ nhớ?
- Anh kịp đọc hết tập bản thảo ấy rồi sao?
- Tất nhiên! Thế này nhé, Li-đa ạ, tập truyện ấy chẳng được tích sự gì. Đó là thứ văn học buồn tẻ; mà như các nhà văn lớn đã nói, mọi loại văn học đều có quyền tồn tại, chỉ trừ thứ buồn tẻ.
- Anh Cô-xchi-a ạ, điều ấy là kiến thức ABC của văn học rồi, khỏi phải nói. Em chỉ muốn hỏi anh giúp em tìm cách nào từ chối, để khỏi phải in nó ra!
- Em có quyền từ chối kia mà.
- Tất nhiên, em có quyền đó.
- Nếu em bảo “tất nhiên”, thì lại không hay đâu. Thế nhỡ em không nhận ra một thiên tài thì sao?
- Thì chúng mình đã cùng đọc cả rồi đấy thôi.
- Anh đâu có chuyên môn. Anh chỉ là một người đọc tài tử vậy thôi!
- Thế anh có giở qua những lời nhận xét đầy khoa trương trước đó của khá nhiều bậc phê bình có tên tuổi trong nghề không?
- Anh có đọc cả. Nhưng đừng nhìn vấn đề ở phía đó! Những ông bầu này còn cao đàm khoát luận chán, cả ở trên báo chí nữa ấy chứ! Còn quyển sách thí có thể đem đến cửa hàng thu mua giấy vụn. Đấy mới là một nửa tai hoạ. Còn tai hoạ thật sự là sự hạ giá của chân lý văn học, cái này mới đáng báo động.
- Chà, cứ riêng cái kết luận ấy của anh, trong giới bọn em, người ta đã có thể cho là “lăng mạ” được rồi đấy!
- Hẳn thế. Nhưng anh nghĩ, đừng biến văn học thành phe cánh trong nghị trường: anh hẩu với tôi thì tôi hẩu lại, ta kết liên với nhau cho mạnh cánh!... Thế thôi nhé – Ông mỉm cười – Cám ơn em, anh đi để chịu thua trận đấu vợt với Xla-vin đây.
*
* *
Xla-vin đến muộn năm phút. Còn Côn-xtan-ti-nốp nhận xét:
- Tính chính xác là tính lịch sử của các bậc đế vương đấy, Vi-ta-li ạ!
- Anh Côn-xtan-ti-nốp I-va-nô-vích, nhưng tôi lại mới chỉ lên đến cấp tá chứ chưa phải được làm vua đâu ạ… Tôi bị tắc xe ở đại lộ Cu-tu-dep.
Khi họ đổi chỗ cho nhau trên sân quần vợt, Xla-vin nói, vẻ ngẫm nghĩ:
- Anh có biết, cú tắc xe vừa rồi gợi cho tôi những ý nghĩ gì không?
- Anh đánh đố tôi, để rút cục anh muốn sẽ được cuộc chứ gì?
- Đúng thế. Thực ra là tôi đang nghĩ đến chuyện tâm lý con người hiện đại đang bị tốc độ của thế kỷ làm thay đổi. Trước đây chẳng hạn, cơ quan phụ trách giao thông sẽ phản ứng ngay lập tức với mỗi hành động tăng tốc độ quá mức, hăng hái như các hiệp sĩ đấu bò tót ấy. Còn bây giờ, các vị chỉ muốn xua lái xe “Đi đi!”, cho chạy thả cửa, chỉ mong sao khỏi nghẽn đường, mất thời gian chung. Tôi rất thích biểu hiện mới ấy. Còn anh?
- Chỉ ở giờ cao điểm người ta mới xua đi thế, chứ chứ thử tăng tốc độ quá trớn vào ban trưa xem nào, lúc ấy, cánh tay sắt của các hiệp sĩ đấu bò tót vẫn tóm chặt anh như trước đây. Còn sự thay đổi tâm lý mà anh nói ấy à, còn phải bắn đại bác cũng chưa tới đâu. Nào, anh giao bóng đi!
*
* *
- Này nhé, tôi tổng kết đây… - Côn-xtan-ti-nốp cất kính vào túi và sau khi đã ngả người ra ghế tựa, ông nhìn khắp lượt các cán bộ phản gián được triệu tập đến họp.
- Công tác truy tìm tên gián điệp, ta sẽ tiến hành trên các hướng sau đây: Một là bộ phận của Prô-xcu-rin phải lập danh sách tất cả các cơ quan có liên quan đếnv iệc cung cấp thuốc men, thiết bị điện và kỹ thuật cho Na-gô-ni-a. Hai là bộ phận của Cô-nô-va-lốp theo dõi chặt các nhân viên tình báo CIA mà ta đã biết ở sứ quán Mỹ, nắm tất cả các mối tiếp xúc của chúng, và ta sẽ phân tích các hoạt động ấy, phối hợp cùng các số liệu mà ta sẽ nhận, sau bước đầu triển khai. Ba là Vi-ta-li Xla-vin hãy bàn giao ban mình phụ trách cho Gmư-ri-a, và bay đi Luy-xbua. Đồng chí Xla-vin có nhiệm vụ điều tra tình hình xác thực vùng biên giới Na-gô-ni-a, lực lượng của Ô-ga-nô, và xác định xem tác giả bức thư nặc danh gửi cho chúng ta là ai. Sau đó…
- Nếu như hoàn thành được việc trên… - Xla-vin nói thêm.
- Sau đó, - làm như không nghe thấy anh nói, Côn-xtan-ti-nốp tiếp tục, - trong trường hợp mà Xla-vin tin chắc được rằng người viết không phải là giả mạo, và là người trung thực, thì có thể gặp và nhờ ông ta nhận diện qua ảnh, các thành viên của các phái đoàn Xô-viết đã tới đó. Có bảy mươi hai người cả thảy, kể cả thường vụ, thuỷ thủ và nhân viên hãng hàng không A-ê-rô-phlốt.
- Buồng thuê ở khách sạn “Hin-tơn” giá bốn mươi đô-la, - Xla-vin nói – mà người cộng tác viên chưa quen của chúng ta hẳn là phải sống thường xuyên ở đó. Tôi nghĩ, nếu đây không phải là một trò chơi, thì có nhiều khả năng là anh ta làm việc ngay ở “Hin-tơn”, ở quán cà phê hay tiệm ăn chẳng hạn.
- Suy diễn khá đấy! – Côn-xtan-ti-nốp nói đệm vào.
- Phòng thí nghiệm của chúng ta cũng mắc chứng suy diễn ấy đấy – Xla-vin nói – vì họ đã gửi cho tôi kết luận về bức thư. Có những vết bơ và có mùi phó mát…
- Thế nếu bức thư được sáng tác ngay trên bàn ăn sáng? – Côn-xtan-ti-nốp vặn thêm.
- Thế thì nó phải còn có mùi mứt dâu! – Xla-vin mỉm cười đắc thắng, - Phó mát ở đó ít khi được dùng vào bữa sáng lắm, còn nếu như do bọn CIA bày trò, thì bọn họ đã phải gọi “thịt giăm bông và trứng” (1).
Côn-xtan-ti-nốp và Xla-vin đến sân bay Sê-rê-mê-chi-ê-vô vào lúc đã khuya. Thoáng có mùi ngải cứu bốc lên. Và có lẽ những chú ve sầu đang sắp cất tiếng.
- Ta làm cốc cà phê chứ? – Côn-xtan-ti-nốp hỏi.
- Rất sẵn lòng.
Họ ngồi vào bàn. Người không đông lắm, hai cô phục vụ trẻ đang trò chuyện: “Lúc này đi nghỉ ven biển ở Ri-ga còn sớm quá, vì trời còn mưa, biển lạnh, tuy cát sau một ngày cũng có ấm lên, thích nhất là cát ấy mềm mại, ve vuốt, ở đó mà đi chơi quanh bãi tắm, hít thở mùi thông ngai ngái thì thật tuyệt; mà ở đó bắt nắng nhanh hơn ở miền Nam, và giữ được lâu hơn…”
Côn-xtan-ti-nốp nhìn sang Xla-vin, mỉm cười.
Cô phục vụ đặt cà phê trước mặt họ và hỏi:
- Các anh bảo nên bay đi đâu nhỉ?
- Đi Bun-ga-ri – Xla-vin đáp - Ở đấy biển đã ấm rồi!
- Nhưng mà lại không có cát, cô phục vụ nói – Cát ấm còn quan trọng hơn biển, nó làm ấm cả mùa đông, giữ nhiệt lâu… Năm ngoái bọn em đi nghỉ ở Ru-ma-ni, cũng tốt đấy, chỉ thiếu cát, biển toàn là đá…
Côn-xtan-ti-nốp nhìn theo cô, lắc đầu tư lự nói:
- Dầu sao, thời gian cũng là một phạm trù hết sức lạ, Vi-ta-li ạ. Anh có cảm thấy cái chất thanh bình này không?
- Cát ấm trên bãi tắm và mùi nhựa thông, - Xla-vin nói, - Đẹp thật, nhưng vì sao lại là phạm trù thời gian. Tôi không thấy có sự liên hệ nào cả.
- Anh sẽ thấy… Nếu anh muốn, tôi có thể diễn giải.
- Vâng, xin mời anh.
- Thì đấy! Sáu mươi năm trước, không thể được hai cái này đồng thời… Thậm chí, ba mươi năm trước thôi, cũng chưa thể có được: cô phục vụ đi nghỉ mát ở nước ngoài và Trê-ka (2) làm công cụ hoà dịu quốc tế.
- Anh muốn nói là ba mươi năm truớc , chúng ta còn chưa rảnh tay với những bọn phá hoại và bọn phỉ?
- Đúng thế. Còn bây giờ thì Xla-vin lại đi ra tận nước ngoài để tóm bắt một tên mật vụ đang âm mưu gây rối loạn, làm mất sự yên tĩnh. Ở đấy, nghe nói có cát nóng, duy chỉ có điều không có thông, mà là cọ và dừa thôi… Tôi luôn luôn cảm thấy tự hào, Vi-ta-li ạ. Ta bắt đầu từ số 0, ấy vậy mà ngày nay, khi bảo vệ được an ninh của mình, ta còn giúp đỡ được tới tận nước Na-gô-ni-a nhỏ bé xa xôi kia. Nếu âm mưu phản loạn ở đấy bị đập tan, thì lại sẽ tồn tại cái yên tĩnh thanh bình tưởng như có tự muôn đời kia, biển và cát, sự hài hoà…
Giọng cô phát thanh viên ngái ngủ, có pha chút mệt mỏi:
- Xin mời quý vị hành khách đi tuyến bay Luy-xbua ra ô cửa số 6. Xin chú ý! Chú ý!
- Cái cô tóc vàng, hai mươi bảy tuổi, mắt xanh bồ cây, có nốt ruồi trên má đang nói đấy! – Xla-vin nói và đứng dậy.
- Trong giọng nói, cô ta vẫn chứa chất đầy vẻ thanh bình - Côn-xtan-ti-nốp kết luận, - đúng là cô có nốt ruồi dưới cằm, nhưng mắt lại màu xanh lá cây mới đúng…

XLA-VIN

Đồng nghiệp của Xla-vin ở Luy-xbua còn trẻ, chỉ mới ba mươi lăm tuổi, tên là I-go Đu-lốp. Anh ta phát âm tên họ của mình thật tròn trặn, vẻ ngon lành như ngậm kẹo.
-Nói chung, tới giờ chưa thấy ai cần đến tôi giúp đỡ cả. Đu-lốp nói, giọng du dương, thỉnh thoảng lại quay sang nhìn cái chỏm tóc để nhọn của Xla-vin. Hai người đi ven bờ đại dương mặt trời nóng bỏng, sáng lóa, vừa chói mắt vừa thiêu đốt. Chỉ có một lần, vợ ông quản lý bất động sản đến tìm, bà ta bảo tôi là bà ta bị theo dõi.
- Cứ bảo bà ta làm dấu thánh đi, ai theo dõi bà ấy làm gì.
- Tuy nhiên, chúng tôi vẫn phải kiểm tra rồi.
- Tôi hiểu. Còn Đa-lét, tôi nghĩ, chắc không theo dõi bà ta đấy chứ?
Đu-lốp nhăn trán, hỏi lại: - Đa-lét?
- Phải, A-len Đa-lét ấy! (3)
Đu-lốp hiểu ra, phá lên cười giòn tan, ngoẹo đầu về bên trái, hệt như con chim kim oanh trước khi hót. Mắt anh cũng giống mắt chim, nhỏ và đen thăm thẳm, hơi lồi lên. Và Đu-lốp nói tiếp: - Về mọi chuyện Pa-ra-mô-nốp thì sau khi anh ta về nước, mọi chuyện đã vỡ lở ra rồi đấy. Có trát đòi đến toà, nhưng dấu vết anh ta đã nguội rồi còn gì!
- Đồng chí đã đến toà hỏi chưa?
- Rồi. Các vị này lại đẩy sang bên thanh tra giao thông địa phương. Sang đó thì người ta lại lặng thinh: Chúng tôi chẳng biết gì, chẳng nhớ gì về anh ta.
- Thế Pa-ra-mô-nốp không nói gì về chuyện này à?
- Không hé một lời!
- Anh ta làm gì?
- Thợ cơ khí ở ga-ra ô-tô. Phải nói là một tay thợ cừ. Anh ta lắp vào chiếc xe “Von-ga” của Dô-tốp bộ chế hoà khí của chiếc “Fi-át”, bây giờ nó bay veo veo như vệ tinh ấy, cứ “rù rù” mà chạy tới 150km giờ.
- Thế nào? – Xla-vin ngạc nhiên - Thế mà là “rù rù” à?
- “Rù rù” tức là cứ êm ru thế thôi, không phải găng sức lọc cọc lạch cạch tí nào!
- Hay đấy, - Xla-vin tán thưởng - Cậu có cách nói truyền đạt thật chính xác cái tổ hợp vận tốc êm ru ấy đấy! Rõ rồi. Bây giờ về các nhân vật CIA ở đây, cậu có biết thêm điều gì nữa không? Bọn chúng có bí mật giao du với người nào đó, trong số cán bộ ta không?
- Ở đây có một nhân vật khá lý thú, Giôn Glép, thương gia, hoặc có thể coi như thế. Thường thường, Dô-tốp vẫn hay đi lại với hắn.
- Anh ấy làm gì?
- An-đrây Dô-tốp, kỹ sư hàng hải, tôi đã nói với đồng chí rồi đấy. Tôi có bảo Dô-tốp là Glép có khả năng dính dáng đến các cơ quan tình báo, nhưng anh ấy chỉ cười: “Công việc của cậu là thế, cứ nhìn đâu cũng thấy gián điệp!”
- Anh ấy cười chúng ta cũng đúng thôi. Nhưng anh ấy là người thế nào? Đồng chí có thấy cấn đề gì với anh ấy không?
- Không. Anh ấy có hơi xốc nổi, hay chửi, nhưng tôi tin là anh chính trực.
- Anh ấy hay chửi chuyện gì?
- Những chuyện tất cả chúng ta vẫn thường chửi bới đấy, chỉ có điều với mức độ to tiếng khác nhau mà thôi: thói làm ẩu, đẩy trách nhiệm cho người khác, thói lười biếng… mà ta vẫn gặp ấy mà.
- Nhưng khi chửi, anh ấy tôn trọng sự thực chứ? Xla-vin sực nhớ đến Đmi-tơ-ri Xtê-pa-nốp, mỉm cười.
- Đồng chí đặt vào từ ấy ý nghĩa tiêu cực phải không? …
- Có thể thế được sao? – Xla-vin ngạc nhiên- À, mà thôi, ai chịu trách nhiệm về thời hạn cung cấp hàng cho Na-gô-ni-a ?
- Chính là Dô-tốp. Ở Luy-xbua này, tàu của ta chạy tuyến Na-gô-ni-a, phải dự trữ cho cả chuyến đi mọi thứ. Vì bên đó chẳng có thứ gì cả. Cảng hầu như bị bọn thực dân tháo dỡ đi hết rồi.
- Thế Dô-tốp ở đây đã lâu chưa?
- Năm thứ ba rồi. Anh ấy mới về nước tuần trước, về thăm vợ ở Mát-xcơ-va.
- Cô ấy làm sao, không ở đây vì không chịu được khí hậu à?
- Không phải… Hình như giữa họ có chuyện đổ vỡ gì đó. Và cô ấy xin về nước đã được một năm rồi. Nghe nói cô ta cặp bồ với Đu-bốp, anh này là bạn Dô-tốp, cũng là nhà kinh tế, phó tiến sĩ…
- Làm sao xác định được Dô-tốp về nước chuyến nào?
- Không có gì đơn giản hơn. Có hai chuyến một tuần, thứ sáu và thứ ba…
- Sao lại không nói thứ ba và thứ sáu? – Xla-vin lưu ý. Anh thích thử nghiệm để có thể hiểu rõ hơn phản ứng của người đối thoại. Đối với người khác, có khi cần diễn giải hàng giờ, còn anh chỉ cần quan sát thoáng qua, qua ánh mắt, anh đã có thể nắm vững.
- Bởi vì, lấy thứ sáu làm điểm chuẩn thì dễ tính toán hơn – Đu-lốp trả lời – Sau đó là hai ngày được nghỉ cả.
- Chỗ các cậu có sân quần vợt không nhỉ?
- Ở khách sạn “Hin-tơn” có đấy!
- Cậu có khi nào chơi không?
- Tôi chỉ cổ vũ thôi.
- Cổ vũ cho ai?
- Hiện giờ thì cho đồng chí lãnh sự Ba Lan, còn trước kia thì tôi ủng hộ cho vợ của Dô-tốp, cô ấy đánh khá lắm.
- Này, thế cậu có biết Dô-tốp đã đi lại chơi với Glép lâu chưa ấy nhỉ?
- Lâu rồi. Họ quen nhau khoảng ba tháng, sau khi Dô-tốp tới đây. Có dễ đến hai năm rưỡi rồi đấy, không ít hơn đâu. Glép không bỏ một buổi tiếp tân nào của chúng ta. Phía ta, nhiều người biết Glép lắm.
- Dô-tốp có nói được tiếng Anh không?
- Có, cả tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha nữa. Một tay học thức ra trò đấy!
- Cậu có vẻ thích anh ấy, - Xla-vin nửa nhận xét, nửa như khẳng định.
Đu-lốp đã hiểu là chuyện Dô-tốp không phải bỗng nhiên được gợi lên, tuy nhiên, anh vẫn ngửa đầu như con chim kim oanh, hướng cặp mắt nhìn thẳng vào Xla-vin và đáp:
- Vâng, tôi thích anh ấy!
- Cậu không nói “Đối với anh ấy, tôi không thấy có vấn đề gì cả”, thế là tốt. Dô-tốp có uống rượu không?
- Không, nhưng anh ấy biết uống.
- Tức là có uống? – Xla-vin hỏi lại.
- Không. Anh ấy biết uống! – Đu-lốp kiên quyết nhắc lại – Anh ấy có thể uống nhiều nhưng chưa bao giờ say cả. Tất nhiên, cũng không phải loại giữ gìn co rúm lại, tôi chỉ xét đoán thế, theo cách anh ấy uống trong các buổi tiếp tân.
- Anh ta không bắt nhân tình với ai, sau khi vợ về nước chứ?
- Tôi nghĩ, có lẽ người ta đã thông báo tin tức sai lạc về anh ấy cho đồng chí, Vi-ta-li ạ!
- Mới chỉ có đồng chí thông báo tin tức về anh ấy cho tôi thôi, I-go ạ! Trước kia tôi không hề biết gì về anh ấy hết. Thế anh ấy dùng thì giờ rảnh rỗi làm gì?
- Đi thăm thú đất này. Anh ấy đã thu thập được cả một tủ sách rất thú vị.
- Có ai trong số cán bộ ta gặp những người Nga lưu vong ở “Hin-tơn” không? Chẳng hạn do vốt-ca, vật kỷ niệm, đĩa hát,… có thể gặp lắm chứ?
- Ở “Hin-tơn” có tất cả sáu người da trắng làm việc, Vi-ta-li ạ, còn lại là người Phi cả. Quản lý “ba” thì tôi biết, là người Pháp, tên là Gia-cốp, thằng chó đẻ, làm mật thám phục vụ cho mọi thứ chủ, một thằng có sức hút vô chừng. Còn lão chủ khách sạn cũng là người da trắng, tên là Lin-đơn Uy-li-am…
- Đồng chí vẫn thăm hỏi Glép mỗi khi có cuộc tiếp tân đấy chứ?
- Dĩ nhiên.
- Khi nào lại có cuộc chạm cốc mời khách nữa?
- Ngày kia.
- Đồng chí lo liệu sao để Glép sẽ được mời nhé, được chứ? Và hãy giới thiệu tôi với lão ta.
- Nhưng lão ấy biết tôi là ai rồi.
- Thì có sao? Tuyệt lắm.
- Tuyệt thì vẫn tuyệt, nhưng chắc lão có thể đoán cả ra nhiệm vụ hiện nay của đồng chí. Bọn chúng sẽ réo tên lên trên mặt báo ấy!...
Xla-vin trả lời rắn rỏi:
- Thế thì chỉ có cách là chúng đừng có động vào chúng ta, dù ở nhà hay ở đâu. Lúc ấy tôi chẳng có việc gì cần phải sang đây. Chúng đã gây ra trước tất cả mọi chuyện. Cả ở bên ta, cả ở đây, chúng đều lén lút thò vào những vấn đề an ninh quốc gia của chúng ta. Nếu chúng không động chạm vào, thì chúng ta có thể ngồi yên ở Mát-xcơ-va, hoặc đi du lịch cả Xan Phran-xít-xcô nữa kia, có sao đâu, tôi cũng thích dân tộc Mỹ, một dân tộc vẻ vang lắm chứ!
- Cứ thẳng như thế mà giải thích ư?
- Thì sao? Việc gì phải che giấu. Trong hoạt động bí mật cũng có luật chơi của nó chứ, có cả mức độ nữa.
- Được, chúng ta sẽ thử xem.
- À, mà Pa-ra-mô-nốp không dự các buổi tiếp bao giờ nhỉ?
- Không, vì anh ta không phải nhà ngoại giao Vi-ta-li ạ.
- Yếu tố ngẫu nhiên thì sao?
- Không có yếu tố ngẫu nhiên đó đâu, - Đu-lốp tự tin trả lời.
Những câu hỏi của Xla-vin không làm Đu-lốp hài lòng: Sao mà nó quá trực diện, không tỏ vẻ quanh co, tựa như theo công thức vậy.
Nhưng những câu trả lời của Đu-lốp, trái lại, làm Xla-vin hết sức vừa ý: Anh ưa thích những người biết bảo vệ quan điểm riêng, dù rằng – cái này phụ thuộc nhiều vào ngữ điệu mỗi người, - nếu biết lựa lời với người mới đến thì tốt hơn, nhất là người đó mang cấp bậc và trình độ cao hơn mình.
*
* *
“Điện gửi Trung tâm:
Xin cho biết về Pa-ra-mô-nốp. Anh ta có nói với ai về sự việc anh ta bị cảnh sát giữ không? Nếu có nói, thì anh ta giải thích là vì cái gì? Ở Trung tâm có tài liệu gì về những người Nga lưu vong ở Luy-xbua không?
Xla-vin”
*
* *
“Gửi Xla-vin:
Tài liệu về những người Nga lưu vong rất ít ỏi, vì ở Luy-xbua không có câu lạc bộ tậo hợp những người lưu vong. Theo những tài liệu chưa được xác minh, chỉ biết rằng ở Luy-xbua có một người tên là Khơ-rê-nốp Vích-to Cu-dơ-mích (hoặc Khơ-ri-xan-phô-vích), lính cũ của bọn phản bội Vla-xốp đã tham gia trận đánh Vrô-xláp. Không rõ nơi cư trú chính xác. Theo nguồn tin từ ba năm trước đây, anh ta thuê một buồng ở khách sạn gần ga. Có một thời gian, anh ta sống ở Ki-lơ bằng nghề đánh bi-da, có biệt hiệu là tay “đánh thọc sườn”. Do không nắm được chính xác là anh ta tự nguyện gia nhập quân Vla-xốp hay bị cưỡng bức, nên hãy hết sức cẩn thận nếu có ý định gặp anh ta. Không nắm được gì về việc anh ta có liên hệ với các cơ quan tình báo nào hay không, nhưng chỉ biết rằng ở Ki-lơ, anh ta có tham gia vào các vụ cướp, và có dính líu với một phần tử phạm tội hình sự.
Trung tâm”

CÔN-XTAN-TI-NỐP

Prô-xcu-rin trải ra trên bàn họp to, màu hạt dẻ sẫm, trước mặt Côn-xtan-ti-nốp, mười tờ giấy, có in tên các Bộ và cơ quan có liên quan đến việc chở hàng cho Na-gô-ni-a. Côn-xtan-ti-nốp lướt qua tài liệu và nói có phần bực dọc:
- Thế nếu cần cụ thể hơn có được không?
Prô-xcu-rin nhún vai:
- Kể cũng khó đấy.
- Tôi biết là khó rồi!
- Tôi đã loại trừ, ước tính, để vòng tròn thu dần lại. Bây giờ chỉ còn ở trong khoảng một nhóm người.
- Vậy bao nhiêu người trong số họ có khả năng nắm được các tài liệu mật?
- Chỉ mười hai người.
- Các hồ sơ, dữ liệu… đã chuẩn bị rồi chứ?
- Xong cả.
- Có cái gì trong đó thấy cần cảnh giác nhất?
- Tôi không thấy có nghi vấn gì thêm đối với mỗi người trong số này.
- Nghi vấn à? – Côn-xtan-ti-nốp hỏi lại – Cơ quan an ninh không nên đặt nghi vấn gì ra trước đối với những người Xô-viết. Hoặc là đưa ra chứng cớ, hoặc là không có gì cả.
- Thưa thiếu tướng, tôi cũng xuất phát từ những tiêu chuẩn đúng như thế đấy ạ.
- Tiêu chuẩn, bao giờ nó cũng bất biến, phải thế!... Còn các tài liệu về những người này, có đây không?
- Tơ-ru-khin đang đánh máy lại.
- Khi nào đồng chí ấy xong?
- Tôi nghĩ là vào quãng ăn trưa.
Côn-xtan-ti-nốp hỏi lại:
- Tôi cần hỏi là khi nào đồng chí ấy xong?
- Đúng 14 giờ, không - không (14h00).
- Cám ơn đồng chí.
Một trong số bảy máy điện thoại reo lên và Côn-xtan-ti-nốp nhắc ngay một ống nghe lên, không hề nhầm lẫn:
- Tôi nghe đây. Vâng. Chào đồng chí! Thế nào rồi? Đồng chí đến đây ngay nhé!
Đặt ống nghe xuống, Côn-xtan-ti-nốp trầm ngâm nhìn dây điện thoại, rồi quay người về phía Prô-xcu-rin…
- Pa-ra-mô-nốp có bị liệt vào danh sách vừa lập không?
- Có chứ.
- Nhưng tới vòng tròn thu hẹp, anh ta không có mặt chứ?
- Không ạ. Đồng chí đã định rõ là, tên gián điệp phải được hỏi về những tin tức mang tính chất chính trị.
- Đúng. Tuy nhiên, Pa-ra-mô-nốp có thể là người truyền tin. Anh ta bây giờ là việc ở đâu nhỉ?
- Anh ta phụ trách cơ sở ô-tô ở Công ty sửa chữa tàu biển viễn dương.
- Công ty này chuyên trách về tàu gì, hoặc khu vựa nào?
- Cái đó tôi chưa kịp tìm hiểu kỹ.
- Có thể cho một câu trả lời đại thể được không?
Prô-xcu-rin nhún vai:
- Tôi không dám, bởi vì tôi rất biết thái độ của đồng chí đối với những câu trả lời đại thể rồi!
- Vâng, đúng vậy. Đồng chí hãy làm sáng tỏ vấn đề này cấp tốc lên nhé, vì việc quan sát bên ngoài sau bức mật mã của Xla-vin đã cho thấy nhiều tín hiệu lo ngại về Pa-ra-mô-nốp.
… Hồ sơ được lập ngay, khô khan, không một xúc cảm, chỉ có sự việc, như người ta vẫn thường làm.
Theo hồ sơ này, Mi-kha-in Mi-khai-lô-vích Pa-ra-mô-nốp, sinh năm 1929, dân tộc Nga, có vợ, không có người thân thích ở nước ngoài , vào hồi 12h47 từ Công ty sửa chữa tàu viễn dương đi ra, nhìn ngó chung quanh rất kỹ lưỡng ở gần bến ô-tô buýt, làm ra vẻ buộc dây giày, tuy dây giày không hề tuột. Đợi khi mọi hành khách đã lên xe, anh ta mới nhảy lên cuối cùng, trước lúc cửa xe đóng lại. Đi hai bến, anh ta xuống, lại quan sát chung quanh, và sau khi dừng bên tủ kính cửa hàng “Nước khoáng”, thì chạy vào đó trước khi người bán hàng treo biển “Nghỉ ăn trưa” một phút. Không tiếp xúc với ai, trừ người bán hàng, không mua chai nước khoáng nào, chỉ uống một cốc nước nhãn hiệu “Na-rơ-dan”. Ngồi lên ô-tô buýt, rồi Pa-ra-mô-nốp quay về Công ty và ở ga-ra đến hết giờ làm việc, sơn chiếc xe “Gi-gu-li” thành màu bạc, xe có số đăng ký 72 – 21.
Côn-xtan-ti-nốp ngước mắt nhìn đại tá Cô-nô-va-lốp. Đồng chí này dường như đợi sẵn cái nhìn ấy, lấy ngay từ trong cặp ra tờ giấy đánh máy kín gần như không có lề và im lặng chìa cho thiếu tướng.
Côn-xtan-ti-nốp lấy một điếu xì gà, từ từ xé lớp giấy bóng kính bọc ngoài, ông vừa hút thuốc vừa chăm chú đọc: “Người bán hàng ở cửa hàng “Nước khoáng”, thuộc Phòng thương nghiệp quận Xvéc-lốp, tên là Xi-din Gri-gô-ri Gri-gô-ri-ê-vích, sinh năm 1935, dân tộc Nga, ở ngoài Đảng, có vợ, có người thân thích bên họ mẹ ở nước ngoài, đã bị ra toà vì tội vô trách nhiệm, bị cải tạo lao động một năm ở nơi làm việc”.
- Họ hàng của anh ta ở đâu vậy? – Côn-xtan-ti-nốp hỏi, nhưng ông nghĩ Cô-nô-va-lốp chưa thể trả lời được. Thời hạn ngắn quá, ông chỉ hỏi vậy để nhắc nhở thôi, mà nếu nhắc nhở như vậy là chính đáng, thì không gây bực mình. Ấy thế, nhưng Cô-nô-va-lốp, tóc bạc, người mập tròn, hơi rướn về phía trước, bằng cử chỉ nhanh nhẹn, anh lôi tiếp một tờ giấy nữa ra và đọc:
- Người chú Xi-din là Mác Phê-dô-rô-vích sống ở Ốt-ta-oa (4), làm công nhân vận chuyển ở lò sát sinh, còn người thím. Xi-di-na Mác-ta Ghen-ri-khốp-na, quét dọn ở khách sạn.
- Làm sao họ lại đến tận đấy?
- Thưa đồng chí thiếu tướng, sau chiến tranh, bọn Đức đã xua họ đi.
“Từ ngữ hay dùng của người đã tham gia chiến tranh – Côn-xtan-ti-nốp nhận thấy ngay – Bây giờ người ta thường nói khác hơn: bọn phát-xít đã xua họ đi”.
- Còn một tài liệu nữa, thưa đồng chí thiếu tướng.
- Đồng chí làm bao giờ mà nhanh thế? Thời gian eo hẹp thế kia mà?
- Ôi chao, thưa đồng chí, cũng vì cái tính ấy mà người ta đang muốn tôi về hưu đấy, họ bảo tôi dồn thúc cánh trẻ dữ quá!
- Để chờ, tôi với đồng chí sẽ cùng về hưu! – Côn-xtan-ti-nốp nói và bập ngay vào câu đầu của tài liệu: Chiếc “Gi-gu-li” số hiệu 72 – 21 thuộc về nữ công nhân Vin-te Ôn-ga Vích-to-rốp-na sinh năm 1942, dân tộc Do Thái, ngoài Đảng, không có con, chồng là Dô-tốp An-đrây An-đrê-ê-vích, đang làm việc ở Luy-xbua”.
Côn-xtan-ti-nốp nhanh chóng soạn lại những tờ giấy do Prô-xcu-rin đã để lại, đặt một tờ riêng ra, cúi xuống đọc, phả khói ống xì gà vừa tắt, rồi lại châm nó, rít một hơi, hỏi thêm Cô-nô-va-lốp:
- Về cô Vin-te, đồng chí không còn tư liệu gì nữa?
- Không ạ.
- Xin cám ơn đồng chí Tơ-rô-phin Páp-lô-vích.
- Xin phép đồng chí, tôi đi.
- Vâng. Xin đồng chí lưu ý đến Vin-te giùm nhé!
… Đã có cơ sở để tìm hiểu thêm: Ôn-ga Vích-to-rốp-na Vin-te được phép sử dụng các tài liệu mật, nói riêng, là các tài liệu có liên quan đến Na-gô-ni-a, do đề tài của luận án phó tiến sĩ mà chị đang làm, là nghiên cứu vấn đề thâm nhập vào lục địa châu Phi của bọn tư bản độc quyền nhiều nước.
- Nếu không khó khăn lắnvới đồng chí, - Côn-xtan-ti-nốp yêu cầu, thì đồng chí gắng kiếm cho tôi bản luận án của Vin-te.
.. Nửa giờ sau, Prô-xcu-rin trở lại.
Côn-xtan-ti-nốp đưa mắt nhìn anh qua mục kỉnh.
- Thưa đồng chí Côn-xtan-ti I-va-nô-vích, Công ty sửa chữa tàu viễn dương chuyên đứng ra thương lượng việc sửa chữa các tàu biển thương mại của ta trên các tuyến quốc tế. Nó còn duy trì quan hệ làm ăn với Cộng hoà dân chủ Đức, Anh, Công hoà liên bang Đức, Nam Tư, Pháp. Giám đốc phòng giao dịch là Ê-rô-khin không có xe riêng, nhưnb phó giám đốc phụ trách tuyến châu Phi là Sác-ghin Ep-ghê-nhi Ni-ki-pho-rô-vích, sinh năm 1947 thì có xe “Von-ga” riêng, Pa-ra-mô-nốp đích thân bảo dưỡng chiếc xe này, kiếm những mặt mui mới, hình nổi như mặt gai ấy.
- Hết chưa?
- Chưa đâu ạ. Sác-ghin dẫu không nắm những tin tức mật – vì tài liệu mật không qua phòng họ, họ chỉ là dân giao dịch làm ăn, buôn bán – nhưng Sác-ghin thường có mặt ở Bộ Ngoại thương - Người anh của anh ta là Lê-ô-pôn Ni-ki-pho-rô-vích Sác-ghin, được phép sử dụng tài liệu mật, phụ trách, mua bán kỹ thuật, đã đi nước ngoài nhiều lần, đến Luy-xbua ba lần. Trong số các bạn hàng đàm phán có Giôn Glép, mà đồng chí đang quan tâm.
- Chúng ta chứ - Côn-xtan-ti-nốp sửa lại – chúng ta cùng đang quan tâm đến tên này. Trong số đó có cả đồng chí nữa. Tôi nghĩ cần theo dõi kỹ hơn về Pa-ra-mô-nốp. Cần phân tích về Xi-din cho chi tiết hơn. Ai có thể làm việc này được nhỉ?
- Theo tôi thì Grê-sa-ép làm được.
- Sao vậy?
- Đồng chí ấy đã tốt nghiệp trường Plê-kha-nốp (5), đã từng làm việc bên thương nghiệp.
Côn-xtan-ti-nốp cười tủm:
- Đồng chí cho rằng người cùng nghề thì dễ nhận ra nhau chứ gì?
- Đồng chí có ý kiến phản bác việc đề cử Grê-sa-ép?
- Không. Nhưng hãy để đồng chí ấy tự xem xét lấy. Tất nhiên, mọi việc đều phải cẩn thận ở mức cao nhất.
- Đúng thế.
- Ôn-ga Vin-te có ở trong vòng tròn đã thu hẹp của đồng chí không?
- Có. Nhưng tôi đang định loại ra, thưa đồng chí Côn-xtan-ti I-va-nô-vích. Một phụ nữ lắm lời, hay nói bẳn. Tuy nhiên, theo nhận xét của tất cả những ai biết chị, thì chị ấy cự kỳ tốt.
- Nhưng đồng chí có biết không, chồng chị ta là Dô-tốp. Đang làm ở Luy-xbua ấy. Và phụ trách vấn đề chở hàng hoá cho Na-gô-ni-a.
- Thì ra thế đấy… Vậy là một mạng lưới? Dô-tốp – Vin-te – Pa-ra-mô-nốp?
- Dô-tốp nắm tin tức sơ bộ; Vin-te được phép đọc các tài liệu mật, sẽ kiểm tra lại ở đây, còn Pa-ra-mô-nốp truyền tin. Đồng chí có nghĩ đến một mạng lưới như thế hay không? – Côn-xtan-ti-nốp hỏi.
- Về lý thuyết, một mạng lưới như thế hoàn toàn có thể có… Còn rất tinh nhạy là khác!... Nhưng Xtơ-ren-xốp đã để ý đến Vin-te, đã hỏi chuyện những người quen chi ấy, mọi người đều nhất loạt khẳng định: một con người tốt. Lẽ nào chị ta ngụy trang được khéo léo đến mức ấy? Vả lại, nếu mạng lưới là có thật, thì chị ta phải thủ vai, nói đúng hơn là có nhiệm vụ phải đóng kịch chứ…
Côn-xtan-ti-nốp đăm chiêu nghe Prô-xcu-rin nói, ông xoay xoay cây bút chì trong tay, rồi hỏi:
- Vin-te vẫn chơi ten-nít như trước kia chứ? Xla-vin báo rằng ở Luy-xbua, chị ta chơi ten-nít tài nghệ lắm đấy. Sân chơi lại là một chỗ tuyệt vời để gặp gỡ đủ loại người…
- Về ten-nít thì chúng tôi chưa xác định được.
- Xác định điều này, đồng chí không coi là vất vả chứ? Và thêm một điểm nữa, là chị ta thường chơi ở đâu? Trong hội nào? “Xpác-tác”, Câu lạc bộ trung ương quân đội hay “Đi-na-mô”? Và hay chơi với ai?
*
* *
Hai giờ sau, Prô-xcu-rin báo cáo là Ôn-ga Vin-te chơi trên sân của Câu lạc bộ trung ương quân đội. Trong các bạn chơi, có một vụ phó Bộ Ngoại giao, một tướng ở Cục công binh, một cán bộ có trọng trách ở Ủy ban kế hoạch Nhà nước và Lê-ô-pôn Sắc-ghin ở Bộ Ngoại thương.

“Điện gửi Xla-vin.
Hãy báo ngay tất cả những gì đồng chí có về Ôn-ga Vin-te, vợ Dô-tốp: những cuộc tiếp xúc, các mối quan tâm, sở thích, diện mạo tinh thần, đạo đức. Xác định những người chơi ten-nít với chị ta ở những đâu? Có bạn chơi thường xuyên không? Nếu có thì là ai? Và những ai giúp Ôn-ga thu thập tài liệu làm luận án?
Trung tâm”

“Gửi Trung tâm.
… Theo nhận xét của nhiều người biết Ôn-ga thì chị ta rất quan tâm đến sự thâm nhập của Mỹ vào lục địa châu Phi. Tài liệu cho luận án, Ôn-ga thu thập trong thư viện của Nghị viện và ở cả trung tâm báo chí của sứ quán Mỹ. Ai giúp chị ta ở đó, hiện giờ chưa xác định được. Về ten-nít, chị ta không có bạn chơi thường xuyên. Có vài lần, chị chơi ở sân khách sạn “Hin-tơn” với lãnh sự Anh Ca-rô-lai-nơ Ti-dơn, khoảng 30 tuổi, con gái của tướng Hêm-lo, phụ trách liên lạc giữa MI-6 (6) và CIA trong những năm 1949-51; Ôn-ga cũng còn chơi với Rô-bớt Lô-ren-xơ, đại diện Công ty “Điện thoại quốc tế”.
Xla-vin”

“Điện gửi Xla-vin.
Hãy xác định đầy đủ về Rô-bớt Lô-ren-xơ, tuổi, nhận dạng.
Trung tâm”

“Gửi Trung tâm.
Rô-bớt Lô-ren-xơ hay chơi trên sân quần vợt khách sạn “Hin-tơn” với Ôn-ga Vin-te. Sinh năm 1920 đến Luy-xbua sau khi chế độ thực dân bị lật đổ ở Na-gô-ni-a một tháng, đã làm việc ở Chi-lê; cũng với tư cách là đại diện hãng “Điện thoại quốc tế”.
Xla-vin”

“Gửi Xla-vin.
Theo tin tức ở nhà, Rô-bớt Uy-li-am Pôn Lô-ren-xơ, al5i sinh năm 1922,c ó vợ và hai con sống ở Niu-Yoóc, dự đoán là nhân viên CIA ở Luy-xbua. Hãy xác định rõ các mối liên hệ của hắn? Có ai trong số cán bộ ta có mặt ở sân trong khi hắn chơi? Nếu có xác định xem họ nói về những vấn đề gì, có ai chứng kiến được không? Hắn có quan hệ gì nữa với họ không?
Trung tâm”

XLA-VIN

Bác làm vườn sứ quán Liên Xô ở Luy-xbua là Ác-khíp-kin thường dậy sớm, quãng 5 giờ sáng. Đã gần tới ngày về hưu, bác phục vụ nốt những tháng cuối cùng ở Luy-xbua và đếm từng ngày để về Tổ quốc.
Bác ra vườn khi chưa một cán bộ nào đến cả. Còn đại sứ và đại biện, tuy ở trong sứ quán nhưng vẫn còn ngủ. Công viên yên tĩnh, ánh mặt trời rọi qua lớp lá lạ kỳ hình mũi tên, trong suốt như không màu. Chỉ có cỏ hiện lên rõ hơn màu sắc thực của mình, màu riêng biệt, tưởng chừng chỉ có ở châu Phi này mà thôi.
Bác Ác-khíp-kin biết rằng đúng 6 giờ, cảnh sát trực ở cửa sứ quán sẽ thay ca, lúc ấy họ trò chuyện rề rà một lát lâu, có khi còn hát khẽ, nhất là vào những ngày hứa hẹn sẽ thoáng gió, không oi ả, tưởng như họ cảm nhận được thời tiết không cần phong vũ biểu. Kìa chiếc xe gíp cảnh sát đã tiến đến, từ trong nhảy ra ba viên cảnh sát, họ sửa lại khẩu súng tự động, bật cười chuyện gì đó, bắt đầu chuyện trò nho nhỏ. Đúng lúc ấy, bác Ác-khíp-kin nghe thấy một giọng nói ở đâu đó, hổn hển, rất gần:
- Ông gì ơi, giúp tôi với!
Cái cách xưng hô lạ lùng, cái giọng nói tiếng Nga lơ lớ làm bác Ác-khíp-kin sợ hãi, bác hơi cúi thụp xuống cạnh hàng rào, nhìn kỹ, bác thoáng thấy một người đàn ông đang rướn người lên để đu tới đỉnh thanh rào nhọn – hàng rào làm bằng những thanh sắt nhọn khá cao ở dưới bịt kín bằng sắt tấm, kiểu hàng rào thực dân do người Tây Ban Nha để lại – trên đầu thanh rào sắt thấy ló lên một gói giấy nhỏ, có buộc một hòn cuội cho đủ sức nặng để có thể lăng đi.
- Ông khều vào giúp tôi! - Người đó nhắc lại giọng hơi run, gấp gáp, liếc về phía đám cảnh sát.
Đám cảnh sát hình như đã nhìn thấy người đàn ông.
Bác Ác-khíp-kin nghe thấy họ quát gì đó với người đàn ông bên hàng rào, rồi bắt đầu chạy lại. Chiếc xe gíp cũng nổ máy. Bác Ác-khíp-kin vội lấy cái bừa cỏ khều luôn cái gói, hất nó vào trong vườn, trong ranh giới sứ quán. Người đàn ông kia mỉm cười tỏ ý cảm ơn và chạy bổ ngay sang một ngõ hẹp. Chiếc xe gíp đuổi theo, nhưng phải phanh kít lại. Cái phố con hẹp quá, hai xe đạp cũng còn khó tránh nhau nữa là!
Một phát súng chỉ thiên. Bác Ác-khíp-kin mặc họ, tóm lấy cái gói đi vào. Khẩu súng trường tự động còn nhả thêm một viên đạn nữa, rồi bốn bề lại yên lặng…
*
* *
Xla-vin đọc lại một lần nữa tờ giấy cuộn trong gói giấy thả vào sứ quán: “Tôi đã gửi cho các ông lá thư trước, về chuyện bọn Mỹ đã mộ được một tên súc sinh ở khách sạm “Hin-tơn”. Thư gửi theo bưu điện. Không biết có đến nơi không? Những người Mỹ kia, tôi vẫn gặp ở “Hin-tơn”, còn tên súc sinh kia thì không thấy đâu nữa. Tôi đã già, chiến tranh đã làm tôi sứt mẻ, sau đấy, đã phải nếm trải nhiều cay đắng, đã lê gót phiêu bạt nhiều nơi, đã nhiều đêm khóc trên gối trọ ở các Ô-ten. Còn tên kia? hắn trẻ trung, bộ mặt rất no đủ! Nếu bức thư kia của tôi không đến tay các ông, xin các ông hãy lưu ý một lần nữa: Bọn Mỹ đã lôi kéo được người của các ông đấy!”
- Sau chiến tranh, người này đã làm việc ở Đức – Xla-vin nhận xét - Những ai ở đó lâu ngày, đều quen viết “khách sạn” là “Ô-ten”.
- Cả người U-krai-na cũng vẫn nói “Ô-ten” – I-go Đu-lốp phản đối.
- Đúng. Nhưng đây là người Nga. Mà người Nga sống ở Đức thì trăm người như một, đều quen nói như vậy. Tôi đã làm việc nhiều với những người di cư hồi cuối chiến tranh mà. Này, thế còn bác làm vườn đâu nhỉ?
*
* *
Bác Ác-khíp-kin dừng lại ở vườn hoa, ngay chỗ người lạ đã định ném cái gói giấy, bác hất đầu về phía hàng rào”
- Ông ta đã đu người lên chỗ kia kìa.
Xla-vin tiến lại hàng rào, trông thấy cái ngõ hẹp men dưới đồi. Anh hỏi:
- Khi bọn cảnh sát nổ súng, ông ta chạy vòng vèo chứ?
- Không, ông ta chỉ lượn vòng vèo khi đã nhảy lên xe đạp.
- Bác chắc là bọn chúng không giết mất người đó chứ? Đu-lốp hỏi xen vào.
- Tôi nhảy từ trong phòng ra ban công, trông rất rõ… Ông ta đi thoát, vì bọn cảnh sát chạy loanh quanh trong ngõ, mà trước mặt chẳng thấy ai cả. Khi bọn cảnh sát chạy tới cuối ngõ, chúng không bắn nữa. Có lẽ người kia đã lẩn vào các sân ngang lối tắt nào rồi, ở đó nhiều lắm…
- Tóc ông ta đã bạc chưa? – Xla-vin hỏi.
- Cũng chả rõ nữa… Lốm đốm thì phải – bác Ác-khíp-kin đáp – Cũng có thể tóc vàng, hoặc nhạt màu…
- Ông ta ăn vận ra sao?
- Ra sao à… Thì cũng một bộ âu phục bình thường.
- Tôi hiểu rồi… Nhưng màu gì? Cũ hay mới? Có đeo cra-vát hay không?
- Chà, tôi bị dồn ép rồi đấy – bác Ác-khíp-kin thở dài - Trời đất ơi, đầu óc già gây giờ mụ mẫm quá!
- Bác có thấy sẹo trên mặt không?
- Không có sẹo. Có điều, tay người đó thiếu ngón. Thiếu một hai ngón tay gì đấy. Tôi có để ý thấy lúc ông ta trèo lên.
- Cái này quan trọng đây! Thế còn ông ta có nói gì với bác?
- Không nói gì. Chỉ lúc đầu gọi thì thào: Ông gì ơi giúp với…
- Thế giọng thế nào hả bác?
- Giọng khàn khàn, cái này thì chính xác khàn khàn…
- Bác còn nhớ được dấu tích gì đặc biệt nữa không?
- Ôi chao làm sao mà nhớ được, mà nếu nhớ nhang nhác thì không nên nói liều, sợ rồi các đồng chí sẽ nhầm lẫn…
… Xla-vin quay về phòng Đu-lốp, lục lọi, xếp đầy các sách tra cứu xung quanh mình. Anh tìm những quán “ba” nào có đánh bi-da, nhất là ở khu vực ga. Có bốn quán tất cả: “Những chú dê vô tư lự”, “Na-plơ”, “Ca-da-blăng-ca” và “Lát Vê-gát”.
Anh lại mời bác Ác-khíp-kin đến.
- Bác Ô-lếch Các-pô-vích này – Xla-vin nói, - bác có biết chơi bi-a không?
- Tôi chơi kém lắm. Cũng đôi lúc khua múa với anh em lái xe cho vui thôi mà.
- Bác sẽ phải chơi với tôi đấy!
- Ở đây ta làm gì có bàn, mà buồn cười chết!
- Không phải đến sứ quán chơi đâu. Vào thành phố kia.
- Trong thành phố thì chỉ có trò bi-a ở các ổ bất lương thôi, người ta đã bảo trước thế rồi…
Xla-vin nhìn Đu-lốp, thấy anh cười tủm:
- Quả có thế!
- Nhưng hai người thì không sợ đâu, - Xla-vin nói, nháy mắt với bác Ác-khíp-kin - Thế nào, bác Ô-lếch Các-pô-vích?
- Nếu cần phải thế thì phải làm chứ sao, - bác trả lời từ từ.
- Bây giờ thế này nhé – Xla-vin tiếp tục, - tôi với bác sẽ đi tìm ông bạn thiếu ngón. Nhưng cũng có thể ta lại gặp một người Nga khác, tôi sẽ chỉ cho bác, và bác sẽ cũng cứ bắt chuyện, được không?
- Không phải người Xô-viết chúng ta à? – bác hỏi sau khi nhìn sang phía Đu-lốp.
- Không. Người lưu vong kia. Quân cũ của Vla-xốp, - Xla-vin trả lời.
- Tôi không nói chuyện với một tên chó má như vây đâu. Có mà bóp chết nó đi! Tôi đã từng đánh nhau với chúng ở Bre-xlan đấy, bọn chúng đâu phải là người, thật rặt đồ thú dữ…
*
* *
Quán “Những chú dê vô tư lự” ồn ào và đầy người. Ở đây trình độ chơi kém, người ta cãi cọ thô bỉ với nhau thì nhiều hơn. Đặt cọc rất thấp – có 3 đô-la. Không thấy người thiếu ngón. Ác-khíp-kin thua Xla-vin ba ván, tay bác run run rõ rệt khi đẩy các quả bi-a, bác thường đánh trượt, mắt nhìn mọi phía vẻ dè chừng.
Khi anh hầu bàn láu lỉnh, bưng khay chạy giữa các bàn mang bia đến, Xla-vin hỏi:
- Khơ-rê-nốp khi nào thường đến?
- Ông ấy bây giờ không chơi ở chỗ chúng tôi nữa, thưa ông. Ông ấy chơi ở “Lát Vê-gát” hay ở quán “Hồng Kông”. Thường hay ở “Hồng Kông” hơn. Người Trung Quốc chở đến đấy những bàn chơi thật tuyệt mỹ, ở đấy tụ tập những đấu thủ cừ khôi nhất. Đặt cọc tới 100 đô-la.
Ở “Lát Vê-gát”, sau khi đã chen vai thích cánh bên bàn chơi – các đấu thủ đều là tay có hạng cả, tới lúc nghỉ, trong phòng yên ắng lại, Xla-vin mời Ác-khíp-kin đến bên quầy đứng đặt mua rượu uyt-ki pha xô-đa (7). Tay bác Ác-khíp-kin vẫn run run như trước, bác uống rượu cốc-tây với vẻ ghê ghê dò dẫm, chốc chốc lại nhìn quanh. Xla-vin mỉm cười:
- Bác còn can đảm chán. Cánh tay hãy còn vững gân vững cốt al18m đấy chứ. Thế thì việc gì bác phải sợ?
- Không quen, thế nào ấy, - bác trả lời, tôi không thích cái trò này, tôi vốn dân quê mà, những trò này tôi thấy khó chịu lắm.
- Việc phải làm mà bác?
- Tôi hiểu thế, nhưng vẫn thấy không thoải mái!
Xla-vin hướng về phía chủ quán:
- Khi nào thì những đấu thủ giỏi sẽ đến hả ông?
- Thưa ông, ở đây chỉ có một người chơi thật giỏi, đó là ông Khơ-rê-nốp, một tau bi-a có hạng, thường “từ hai sườn đánh thọc vào”. Tuy nhiên, gần đây ông ta hay đến chơi bên quán “Hồng Kông”.
- Ở đấy bàn bi-a tốt hơn chăng?
- Không, thưa ông, ở đấy ăn uống rẻ hơn. Người Hoa bán thức ăn rẻ như cho không, vì bọn họ được Bắc Kinh bao thầu, chuyên chở đến tất cả mọi thứ. Chúng tôi làm gì nổi họ? Còn họ thì cố ý làm chúng tôi phải phá sản đấy. Chỉ có rượu bên họ, do người Bỉ cung cấp, thì cũng ngang giá. Chúng tôi bèn phải bán cốc-tây, đành thế thì mới hòng giữ được khách…
… Trong quán “Hồng Kông”, chủ quán chỉ ngay Khơ-rê-nốp cho Xla-vin. Gã này chơi tài thật, chơi rất từ tốn, ống tay áo xắn lên, vừa chơi vừa vờn đùa với kẻ cùng chơi, rất thiện nghệ. Gã phát âm tiếng Anh sai be bét:
- Ngắm đi, ngắm trúng vào! Đừng có lắc tay, không thì tao lại thắng bây giờ! Tiền đã có sẵn chưa, hay là phải chạy về xin vợ?
Xla-vin ngồi bên quầy, anh trông rõ Khơ-rê-nốp trong gương. Anh nói nhỏ với bác Ác-khíp-kin:
- Bác quan sát đi. Rồi bác lại rủ hắn chơi nhá!
- Ôi trời đất ơi – Bác Ác-khíp-kin thờ dài sườn sượt – trong người như có ai gõ trống lùng bùng lên đây! – Hay là ta làm một ngụm cho can đảm hơn?
Xla-vin gọi uyt-ki. Bác Ác-khíp-kin uống hết, nhấm một hạt dẻ, khà một tiếng, rồi trườn từ chiếc ghế cao xuống và tiến lại bàn, nơi gã chơi bi-a thiện nghệ “đánh từ hai sườn thọc vào” đang mê mải chơi ăn tiền.
- Này ông bạn – bác Ác-khíp-kin nói tiếng Nga – ta chơi thử nào. Năm đồng cọc… à, năm đô-la.
Khơ-rê-nốp quay ngoắt lại, lùi một bước, thò tay rút điếu thuốc lá.
- Lão làm gì ở đây? - Hắn hỏi khàn khàn.
- Thợ làm vườn.
- Ở đâu vậy?
- Ở sứ quán…
- À, dân đỏ đấy!
- Thì còn dân nào ở đấy nữa… Dĩ nhiên là đỏ!
- Sao bác lại biết tôi?
- Tôi biết thế nào được… ông chủ quán bão: Anh là người Nga đấy, thế là tôi lại làm quen. Tôi không giao dịch được với bọn họ mà, khó khăn lắm mới hiểu được họ…
- Bác hãy gượm, để tôi làm gọn ván này đã nhé!
Khơ-rê-nốp quay vào bàn và bằng 5 cú đánh đã kết thúc ván. Gã chơi với tài nghệ chuyên nghiệp và Xla-vin hiểu là trước đó gã chỉ bày trò để dử đối thủ, thả cho đối thủ có cơ hội gỡ vặt để say đòn. Ván đánh được 25 đô-la, gã nhét vào túi áo sơ mi.
- Này thế lão chơi có khá không? Hay là ta nói chuyện một lát vậy. Lần đầu tiên tôi nói chuyện với dân đỏ đấy, sau chiến tranh đến giờ chưa gặp lần nào.
- Chắc anh hay gây sự, nên người ta cũng tránh anh.
- Trước quả có thế, - Khơ-rê-nốp đáp, vừa nói vừa thăm dò bằng cái nhìn như dính vào mặt bác Ác-khíp-kin. Ta ra bàn ngồi đã nào, tôi đủ tiền khao lão.
Họ tiến về phía cửa, ngồi vào một góc hơi khuất và Xla-vin buộc phải chuyển sang ngồi một cái ghế khác để trông thấy họ.
Khơ-rê-nốp gọi hai cốc vốt-ca - mỗi cốc 40 gram, ở đây người ta vẫn rót như thế.
- Này, thế cậu có biết… - Bác Ác-khíp-kin ề à…
- Ai cơ?
- Lão cũng không biết tên…
- Thằng Kôn-ka mắt lác chăng?
- Không phải, - bác Ác-khíp-kin chỉ chỉ vào ngón tay làm hiệu định nói.
- À, thằng cha cụt ngón chứ gì?
- Đúng đấy!
- Hắn làm ở khách sạn ấy, chứ đâu. Nhưng lão cần tìm hắn làm gì?
- Tôi nghe có thông báo ở trên đài tìm hắn đấy.
- Tìm kiếm một tên thổ phỉ cũ, một tên Vla-xốp à? Tầm nã chắc?
- Không đâu, bà chị nó đăng tin tìm thân nhân… Khơ-rê-nốp bỗng hỏi:
- Này, thế nếu như hối lỗi trở về, thì người anh em cảu ta sẽ phải bị cầm cố bao nhiêu năm?
- Người ta còn xem, tùy ở tội gì chứ…
Khơ-rê-nốp thở dài:
- Tôi với hắn ta thì bị rút phép thông công rồi, lão ạ.
- Rút phép thông công là sao?
- Tuyệt đường rồi. Chúng nó lôi bọn tôi ra khỏi trại, bụng đói meo, dù có phải đi với quỷ cũng ừ. Chúng nó đưa vào làng, lôi các vị chính ủy ra. Mỗi đứa chúng tôi, được nhét một khẩu súng vào tay, còn thằng sĩ quan Han-xơ thì áp sát từng người, gí khẩu Pa-ra-ben-lom vào gáy và nói: “Bắn đi! Hoặc là mày bắn, hoặc là mày bị ăn đạn!”. Khi nào anh buộc phải bóp cò, hất xoài người chính ủy ra đất rồi, thì chúng mới thu lại khẩu súng trường và thả anh ra. “Cho mày bây giờ muốn đi đâu thì đi cũng được!”. Bọn chúng đã làm phép tẩy lễ cho chúng tôi bằng máu người đấy, còn về đâu cho thoát được… Thế rồi cứ vậy mà đi mãi, lão ạ.
- Này, thế anh có biết địa chỉ của thằng cha cụt ngón không? Làm sao tìm được hắn?
- Tôi biết tất, lão ạ. Nhưng tôi không dễ gì mà xì ra cho lão tất cả mọi thứ đâu. Chúng ta bây giờ đều biết đời cả rồi! Có thể chả làm gì có chị em nào hết, chẳng qua là Bộ Nội vụ lại cử lão tới thôi.
- Bộ Nội vụ cần gì đến ngữ nó.
- Họ cần hết cả đấy, lão thợ vườn ạ, lão đừng có lấy vải thưa che mắt thánh. Này, thế lão quê ở đâu?
- Vùng I-va-nốp-xki.
- Cũng là láng giềng đấy. Tôi ở Vô-lô-gơ-đa.
- Dân thành phố à?
- Không. Ở làng Pri-a-ni-ki. Mương sỏi bao bọc xung quanh, cha cha! Một khoảng xanh tít tắp, nước róc rách ngày đêm. Sáng sớm ra khỏi căn nhà gỗ, tĩnh lặng không tưởng tượng được. Rồi chim gõ kiến “tóc tóc”! Chứ có đâu như ở đây, rặt giống chim ác là, kiếm đâu ra thứ chim gõ kiến ấy, mẹ nó chứ!... Lão tên gì nhỉ?
- Ô-lếch Các-pô-vích… Còn anh?
- Vích-to Khơ-ri-xan-phô-vích. Tiền ở đây tiêu cũng rủng rỉnh, phòng ở cũng khá vậy mà lòng dạ cứ nao nao, lão Các-pức ạ, tôi ước được về quê quá… Nhưng ai cần đến thằng già này. Mà lại nhục nhã cho gia đình, tôi còn anh chị em nữa, chắc vẫn sống ở Pri-a-ni-ki. Cứ thế này, thì được coi là mất tích, còn về ấy à, sẽ bị tống đi Xi-bi-ri ấy. Anh chị tôi thì tội tình gì? Tội mình tôi, tôi chịu, nên mới phải lê la tháng ngày ở bàn bi-a thế này, với bọn du thử du thực ấy.
- Này, thế anh nói cho tôi biết họ của cậu thiếu ngón ấy đi.
- Lão đừng có gặng tôi. Tôi chưa hỏi lại xem hắn có đồng ý không thì tôi không hở ra đâu. Ngay cả cái tên làng Pri-a-ni-ki, lão tưởng thật đấy hẳn? (8). Chẳng qua là tôi gọi ra thế cho có tên làng đấy thôi… Lão Các-pức ạ, đời nó dạy không cho mình, dễ gì tin ai, đến ngay cả bản thân mình cũng không dễ gì tin được nữa là… Một tuần nữa, lão cứ lại đây, nếu hắn đồng ý thì xong thôi… Ở xứ này, chúng tôi chỉ vẻn vẹn có vài người, phải đùm bọc lẫn nhau chứ, mà có chuyện gì cũng chẳng giấu được nhau…
*
* *
Giám đốc Nha cảnh sát hình sự, tướng Xtau nhận được băng ghi âm cuộc nói chuyện của những người nước ngoài tại quán “Hồng Kông”, do ông chủ quán Hoa Kiều Chu Nỗ gửi đến. Đây là biện pháp phòng ngừa thường xuyên, vì ở đời này còn thiếu chuyện gì mà ma quỉ không bày đặt ra, nên phải trang bị kỹ thuật cho các ổ tứ chiếng này! Xtau bèn gọi điện ngay cho Giôn Glép:
- Giôn, anh có chú ý đến gã người Nga làm việc ở khách sạn không?
- Giá hắn làm ở Bộ Ngoại giao thì tôi sẽ chú ý đấy – Glép trả lời - Chứ còn ở đấy, bọn chúng là lũ đầy tớ làm thuê, còn ngoi đi đâu, và chẳng được tích sự gì mà phải để tâm lắm! Thế họ hắn là gì?
- Tôi cũng chưa xác định. Có đặc điểm là ngón tay cụt, ngoài ra không biết gì thêm. Hắn làm việc ở “Hin-tơn”.
- Thôi được. Mai ta sẽ gặp nhau và suy nghĩ thêm. Lão làm vườn của sứ quán Nga lại quan tâm đến hắn đấy!
- À, nếu thế thì lại lý thú đây. Về chuyện gì vậy?
- Lão bảo người chị hắn đang tìm kiếm hắn, trong mục thông báo trên đài phát thanh.
- Rất có thể. Họ vẫn có buổi phát thanh như thế.
- Cùng với lão này còn có một tay tên là Xla-vin đến chỗ quán Hoa Kiều của ta. Tôi đã cho xác định rõ để phòng ngừa. Hắn ở khách sạn”Hin-tơn”.
- Ở “Hin-tơn” à? – Sau một phút, Glép hỏi lại - Được, cám ơn anh Xtau. Tôi sẽ liên lạc với anh, ta hẹn ngày nhé.
*
* *
Sau khi đã ngụp người vào bầu không khí có máy điều hoà nhiệt độ ở tiền sảnh khách sạn “Hin-tơn”, Xla-vin vẫn còn cảm thấy mồ hôi tháo ra như tắm. Áo sơ mi ướt hết, mặt rám nắng, sau những cuộc đi dạo ngoài bãi tắm, kem bôi mặt cũng không cứu nổi.
Anh tiến lại phía người gác cổng, hỏi chìa khoá phòng, rồi mua hết các báo có bán ở đó. Khi đi lại cửa thang máy thì có người gọi tên anh.Anh quay lại. Gần quán bán ba là một người đàn ông ăn mặc luộm thuộm nhưng đẫy đà, bên cạnh ông ta là Giôn Glép, người gân guốc, tóc bạc, nhưng vô cùng đẹp mã, đang mỉm cười vẻ làm thân.
- Hê-lô, I-van! - Người đàn ông lại kêu lên, áo sơ mi bằng ka-ki đầy những vệt bia - chả lẽ ông bạn không nhận ra tôi ư, ông bạn cũ?

CÔN-XTAN-TI-NỐP

“Tuyệt mật.
Gửi thiếu tướng C.I. Côn-xtan-ti-nốp.
Theo yêu cầu của đồng chí, chúng tôi xin báo cáo là các buổi truyền của trung tâm tình báo CIA ở A-ten chỉ có thể thu được trên các máy thu thanh cực mạnh, nhãn hiệu “Phi-líp”, “Pa-ra-mô-nốp-na-xô-níc”, “Xô-ny”. Trong mỗi trường hợp cụ thể, chúng tôi chỉ có thể giải đáp dứt khoát, sau khi tiếp xúc với máy hoặc với sơ đồ chi tiết.
Đại úy Sa-ri-pốp”

“Tuyệt mật.
Gửi thiếu tướng C.I. Côn-xtan-ti-nốp.
Đã xác nhận được, thông qua những người quen biết Vin-te và Sác-ghin, là trong nhà họ có những máy thu thanh cực mạnh, nhãn hiệu “Pa-na-xô-níc đơ luých”, chế tạo năm 1976.
Đại úy Grê-sa-ép”

… Cho đến chiều, đơn vị của Cô-nô-va-lốp phụ trách theo dõi các nhân viên CIA mà cơ quan phản gián đã phát hiện được, đã xác định rằng đêm qua, bí thư thứ hai của sứ quán Mỹ Lun-xơ đã từ nhà ở đại lộ Lê-nin phóng xe đi, sau khi làm mất dấu các đồng chí công an theo dõi, đã ngoặt từ đường Mô-giai-xki vào công viên Thắng Lợi vào lúc 23 giờ 40. Trong công viên, Lun-xơ lại rơi vào phạm vi quan sát, hắn đi dọc một con đường hẹp, dừng lại vài giây, ra khỏi xe, lấy chân gõ vào bầu đèn, hai lần cúi gập người xuống, hút thuốc, rồi lại lên xe đi. Từ đó ra, Lun-xơ về sứ quán với tộc độ rất cao, ở sứ quán tới 3 giờ sáng rồi quay về nhà. Lúc qua công viên Thắng Lợi hắn không dừng xe lại nữa. Tuy vậy lần này có một người đàn ông, đã ngồi dưới mưa khá lâu trên một cái ghế dài, dọc tuyến hành trình của Lun-xơ, đi ra khỏi công viên. Vì giờ đó, xe ô-tô buýt và trô-lây-buýt không chạy nữa, ông ta đi bộ, về nhà. Ông sống ở phố “Năm 1812” tên là Sê-bê-cô Rô-man Gri-gô-ri-ê-vích, trung tướng về hưu…
*
* *
“Gửi Trung tâm.
Có tài liệu gì về một người lưu vong khoảng 50 tuổi, mất hai ngón tay ở bàn tay trái, tóc vàng, theo giả định của tôi thì đã sống khá lâu ở Đức. Có thể là người U-krai-na. Đề nghị kiểm tra những mối giao tiếp của Khơ-rê-nốp ở nơi cư trú năm ngoái, có thể anh chàng Thiếu ngón này có ở đấy chăng?
Xla-vin”

“Gửi Xla-vin.
Trong số các đầu mối giao tiếp của Khơ-rê-nốp ở Ki-lơ, không xác định được có Thiếu ngón hay không.
Trung tâm”

… Tướng Phê-đô-rốp, Cục trưởng phản gián, sau khi nghe báo cáo của Côn-xtan-ti-nốp xong, nói:
- Khởi đầu chiến dịch làm tôi nghĩ đến việc sửa nhà. Mọi cái đâu vào đấy, chỉ thấy một số chỗ nứt rạn, tưởng như chỉ quét vôi lại là xong. Ấy vậy mà khi thợ khuân vật liệu đến, phủ đồ đạc và sàn bằng báo và rồi vào việc, là bắt đầu gây đổ vỡ, làm lộn xộn mọi thứ, thế là vĩnh biệt sự tĩnh tại vốn có…
- Người ta còn lấy báo rải sàn là tốt đấy! – Côn-xtan-ti-nốp nhận xét – Chắc đó là những thợ sửa nhà tiên tiến, chứ ở chỗ tôi ấy à, chỉ thiếu nước là họ đi giày đinh nhọn lên trên sàn gỗ thôi…
- Cũng dễ hiểu thôi, - Phê-đô-rốp trả lời - Họ là lớp người mất thói quen nghề nghiệp – Tôi cho vì các bà mẹ chúng ta đã phải hứng chịu chiến tranh, họ ăn ngủ bên máy, bất hạnh lắm, lại còn những cậu bé lau nhau cỡ 13 – 14 tuổi học nghề nữa…
- Chúng ta cũng đã từng ngủ giữa đám máy móc – Côn-xtan-ti-nốp mỉm cười – không lết nổi về nhà vì yếu quá, lại còn những trận oanh tạc…
- Chính thế, - sau giây lát Phê-đô-rốp nói – Hai mươi triệu sinh mạng bị mất đi, cùng với họ, bao nhiêu là tay nghề cao bị chết? Mà tính chuyên nghiệp là gì? Trước tiên, đó là sự chu đáo đã ăn nhập vào đầu óc, sự cẩn thận cao. Cho nên, nếu xoáy vào bản chất vấn đề, có thể hiểu được, và có thể giải thích được, những thứ đinh nhọn trên giày mà anh em ta giẫm trên sàn gỗ kia: bi đát đấy, nhưng rõ ràng là nó có nguyên nhân của nó! Anh uống trà nhé? Hay cà phê?
- Cho tôi cà phê.
- Không sợ vỡ tim chứ?
- Theo tôi, có lẽ một biến cố thất thường nào đó, dù vặt vãnh nhất, xét trên quan điểm căng thẳng của thần kinh, còn đáng sợ hơn cả tấn cà phê, anh Pi-ốt Ghê-oóc-ghi-ê-vích ạ!
- Cũng đúng – Phê-đô-rốp đồng ý, - nhưng một lập trường kiểu ấy làm ta muốn buông xuôi mất, anh có thấy thế không?
- Lúc nào cũng đứng dưới miệng súng, căng thẳng thần kinh quá mức, thì sự buông xuôi đôi chút cũng là được giãn ra chứ.
- Có thể liệt anh vào các nhà cãi vã kinh viện đấy, anh láu không tưởng tượng được, gần như Xla-vin vậy!
- Không ai trên đời này láu hơn Xla-vin được – Côn-xtan-ti-nốp phản đối một cách tự tin.
Khi anh thư ký mang hai tách cà phê và bánh mì khô đến, Phê-đô-rốp lấy ra một tờ giấy lớn và bắt đầu vẽ một sơ đồ rất nhanh và chính xác.
- Anh nhìn rõ không? – Ông hỏi.
- Rõ ạ.
- Chỗ nào tôi nhầm, anh sửa giùm nhé!
- Không. Anh không nhầm chỗ nào đâu.
- Thôi, thôi, đừng phỉnh tôi làm gì. Như vậy là trong phạm vi anh quan tâm, nhất là sau bức điện của Xla-vin, phải là Pa-ra-mô-nốp, đúng thế không nào?
- Đúng vậy đấy.
- Sau khi quan sát anh ta, lại nảy ra thêm nhân vật Ôn-ga Vin-te. Cô này lại là vợ Dô-tốp. Đúng thế không nào?
- Đúng thế.
- Tôi đã hỏi Xla-vin xem ý kiến đồng chí ấy thế nào về việc cho gọi Dô-tốp từ Luy-xbua về. Đồng chí ấy im lặng. Tôi cho là Xla-vin hiện chưa có cơ sở để quyết định việc đó. Người ta sẽ không hiểu chúng ta, nếu chúng ta đề xuất việc này, vì ta không đủ chứng cớ.
- Thế mối quan hệ thân mật của Dô-tốp với Glép?
- Thì đã sao? Đến đại sứ của ta cũng vẫn khoác tay Glép trong các buổi tiếp tân nữa ấy chứ. Glép chưa bị vạch mặt ra là CIA, chỉ mới có những giả định, ngoài ra, ông ta là một thương gia có thái độ thân thiện với ta… Rồi nữa! Có thể có những mối phối hợp nào? Pa-ra-mô-nốp khi bị giữ ở đồn cảnh sát có thể bị mua chuộc làm việc gì đó. Việc gì? Xla-vin chưa nêu được trọn vẹn giả thuyết này, và chúng ta đành phải đoán mò thôi. Thế nhưng, tuyển Pa-ra-mô-nốp đem lại lợi ích gì cho các đối thủ của ta? Anh ta có nắm được những thông tin có tính chất chính trị đâu? Vậy dùng anh ta làm gì? CIA không cần những loại ấy.
- Có thể làm một bước trung chuyển.
- Giả sử như vậy. Giữa những ai mới được chứ?
- Có thể hình dung được một thế phối hợp như thế này: Dô-tốp ở Luy-xbua dò ra vấn đề, Vin-te triển khai ở đây - những tài liệu mật qua tay cô ta, cô ta biết nhiều, còn Pa-ra-mô-nốp là người truyền đạt mọi thông tin.
- Còn nếu sửa đổi chút ít? Dô-tốp là người dò; Sác-ghin – nguồn thông tin cơ động chính, Vin-te chỉnh lý các tài liệu của Sác-ghin, vì tư liệu của hầu hết các Bộ đều tụ về Viện của cô ta; Pa-ra-mô-nốp thì tôi cũng tạm đồng ý là cấp trung chuyển. Có khả năng như vậy chứ?
- Vâng, và cũng có cả phương án thứ ba: Vin-te có vô số người quen ở sân quần vợt. Các bạn chơi ten-nít của cô ta là những người có nhiều thông tin. Ở trên sân quần vợt ấy, cô ta nắm bắt lấy những vấn đề chính trị rắc rối nhất, còn Sác-ghin làm cái việc chỉnh lý, chính xác hoá các vấn đề đã khơi ra, còn Pa-ra-mô-nốp chuyển thông tin.
- Nhưng chuyển thế nào nhỉ? Ở đâu? Cho ai? Không phải cho tướng về hưu Sê-bê-cô chứ?
- Ông ấy đang viết hồi ký, cũng không đạt lắm… - Côn-xtan-ti-nốp mỉm cười - Nhiều người ngây thơ cho rằng làm văn học dễ dàng lắm… Ông già đang bị mất ngủ, chúng tôi đã kiểm tra… Tối nào ông cũng đi dạo trong công viên Thắng Lợi.
- Còn Pa-ra-mô-nốp ở đâu, khi Lun-xơ tới đó?
- Ở nhà.
- Thế Vin-te?
- Không xác định được!
- Sác-ghin?
- Ngồi ở tiệm ăn với người em.
- Thế tất cả bọn họ ở đâu trong thời gian truyền tín hiệu gần đây nhất của trung tâm tình báo địch?
- Sác-ghin ở chỗ làm việc, vậy là không thể nhận tín hiệu được. Pa-ra-mô-nốp ở nhà, Vin-te cũng thế.
- Phải lập kỹ đồ biểu, xem ai ở đâu, trong thời gian truyền tín hiệu. Tôi đã từng áp dụng phương pháp này, kết quả tốt lắm… Vin-te có máy thu gì nhỉ?
- Máy “Pa-na-xô-níc”.
- Còn Sác-ghin?
- Chưa xác định được.
- Anh cho xác định ngay đi!
- Rõ, thưa đồng chí Pi-ốt Ghê-oóc-ghi-ê-vích.
- Anh hỏi cả Xla-vin nhé, ai đã mua những chiếc “Pa-na-xô-níc” này, mua của ai, với giá nào, có thể họ lấy từ một cửa hàng, còn nếu từ các cửa hàng khác nhau thì còn thú vị hơn nữa.
- Chúng tôi sẽ nghiên cứu việc này ngay tức khắc.
- Có bao nhiêu người trong vòng hẹp thuộc đối tượng chúng ta chú ý? – Phê-đô-rốp hỏi.
- Chiều nay bớt đi được 5 người nữa. Họ đều đã lên đường đi xa cả. Hai người đi làm luận án tiến sĩ. Số còn lại thì đã có thể nhìn rõ như từng tinh thể ấy, tinh thể trong suốt với mọi ý nghĩa của từ ấy.
- Anh làm văn đấy à?
- Không, kết quả điều tra đấy!
Phê-đô-rốp đẩy cái tách không sang một bên, và trong cái đẩy ấy, Côn-xtan-ti-nốp đoán ra vẻ bực dọc.
Ông không lầm.
- Vì sao Xla-vin chậm trễ làm vậy với cái phương án đã đề xuất của mình? Sao đồng chí ấy không thông báo gì thêm?
- Tất nhiên, đồng chí ấy cũng như đang ngồi trên đống gai,có điều, đồng chí ấy không thể hấp tấp, tính đồng chí ấy thế! Đồng chí ấy hiểu là chỉ cần đưa bức ảnh ra cho người đã viết thư, thì mọi phán đoán của chúng ta đã kết thúc. Đồng chí ấy cũng hiểu rất rõ là chúng ta chờ đợi chính cái tin này, Pi-ốt Ghê-oóc-ghi-ê-vích ạ.
Đồng chí trợ lý thò đầu vào:
- Báo cáo đồng chí trung tướng, Pa-nốp ở ban giải mã có tin khẩn.
- Đồng chí ấy gọi điện à?
- Không, Vì đồng chí ra lệnh không dùng điện thoại nên Pa-nốp đã đến đây.
- Mời đồng chí ấy vào ngay.
Pa-nốp đặt lên bàn sáu tài liệu.
- Có ba cái liền, thưa đồng chí trung tướng. Chưa từng thấy như thế bao giờ (9).
- Chà, vậy kia à? – Phê-đô-rốp nói – Có lẽ đã đến lúc xin các anh một điếu xì gà rối đây. Cường độ công việc đến mức này chỉ có thể có trước những sự kiện, biến cố.
… Trung tướng Phê-đô-rốp trở thành chiến sĩ phản gián khi mới hai mươi mốt tuổi. Là một kỹ sư vô tuyến trẻ tuổi, tình nguyện sang Tây Ban Nha, đã làm việc ở đó với các chiến sĩ phản gián xuất chúng của Dgiéc-din-xky, đã học nghề chuyên môn ở Gri-gô-ri Xư-rô-e-giơ-kin, và khi chiến tranh bắt đầu, đồng chí trở thành Át chủ bài trong các cuộc đấu vô tuyến chống bọn tình báo Đức Áp-ve va Ghét-xta-pô. Hàng trăm tên gián điệp Hít-le đã bị tóm hoặc bị vô hiệu hoá, nhờ công tác của cơ quan mà Phê-đô-rốp đứng đầu. Tiếp đó, là cuộc đấu tranh với bọn tư sản theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, đánh bại bọn phản động Ban-đê-rốp, tìm ra những tên tay sai thời Hít-le còn ẩn náu; và cuộc chiến đấu với các nước đồng minh đòi trao trả bọn đao phủ phát xít đã chạy sang bên kia đại dương tìm chủ mới. Đến cuối những năm bốn mươi, đồng chí bắt đầu công tác chống gián điệp do các cơ quan tình báo Mỹ phái sang. Tư duy sắc bén, nhanh nhạy, nhưng lại rất điềm đạm (cặp mắt xanh lơ như tươi cười là điều bất biến ở đồng chí). Phê-đô-rốp hỏi, trầm ngâm:
- Đồng chí Côn-xtan-ti-nốp, đồng chí còn chơi ten-nít chứ?
- Khi nào có thì giờ.
- Đồng chí cố gắng thu xếp nhé! Đồng chí hãy gặp Vin-te một cái xem, đồng chí thừa biết đấy, giấy tờ dù sao vẫn là giấy tờ, còn con người mới đích thực là con người. Hãy ngó qua cô ta chút đã, Côn-xtan-ti I-va-nô-vích ạ. Còn điều này nữa, có thể nói, công việc phức tạp, cực kỳ phức tạp. Cho nên, tôi nghĩ, các đồng chí nên lưu ý, thật sự tỉ mỉ, cả những chi tiết vặt vãnh, hoặc có vẻ như vặt vãnh. Dù thế nào, việc tìm kiếm tên gián điệp vẫn thường xuyên nhận được những mã số kia là một hành động có tính đối ngoại, chỗ này phải tỏ ra tinh nhạy đặc biệt. Vì đây đang có dấu hiệu về sự lôi kéo vào một cuộc xung đột có tính thế giới, tôi phải dùng cái từ đó mới đúng, nếu như sự nhạy cảm đã không đánh lừa tôi.

(1) Tiếng Anh trong nguyên bản: “Ham and eggs”. (ND)
(2) Tên tắt của “Ủy ban đặc biệt”: cơ quan an ninh của Liên Xô trước đây. (ND)
(3) A-len Đa-lét: trùm tình báo Mỹ, từng làm giám đốc CIA một thời gian dài. (ND)
(4) Thủ đô Ca-na-đa. (ND)
(5) Trường đại học kinh tế Mát-xcơ-va. (ND)
(6)MI-6: viết tắt của chữ Military Intelligence – Tình báo quân sự, là cơ quan tình báo Anh. (ND)
(7) Nguyên bản phiên âm tiếng Anh: Highball. (ND)
(8) Pri-a-ni-ki: Tên Khơ-rê-nốp bịa ra, có nghĩa là “Bánh bang”. (DN)
(9) Các bức điện trong buổi truyền này, lúc đó chưa giải mã được, truyền từ trung tâm tình báo CIA sang Châu Âu. Sau này, mới biết nội dung như sau: “Bạn thân mến, tin tức bạn truyền đạt đã có đóng góp quan trọng vào cuộc đấu tranh. Người có trách nhiệm cao nhất đã được biết những ý kiến và tài liệu của bạn cung cấp. Chúng tôi sẽ thực hiện yêu cầu của bạn và gửi tức khắc những gì bạn yêu cầu trong hoạt động bí mật thường kỳ. Địa điểm gặp như trước. Rất yêu cầu tăng nhịp độ chụp ảnh mọi văn kiện về khả năng tăng viện trợ của Nga cho Na-gô-ni-a nếu ở đó xảy ra những sự kiện khủng hoảng. Ý kiến của bạn và các dự đoán của những người quen, có trình dộ phù hợp, sẽ hết sức quý giá đối với chúng tôi. Các bạn của bạn G. và L. (Tác giả chú thích)

Đã mang vào đến phần 5 - 10
📎 6|7|8|9|10
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-09-24 19:21:13ct.ly>
Phần 11 - 15
PHẦN 11

Hoa Tulip đen gõ

XLA-VIN

- Không, I-van ạ, trăm lần không, - cái anh chàng béo lôi thôi, lếch thếch trong bộ ka-ki, kẻ đã réo gọi Xla-vin, đã nhắc lại một cách ương ngạnh, cái ương ngạnh của những người thường say rượu – Các ông đã diệt sạch mọi thứ bằng bàn tay của mình, các ông và cả Xta-lin của các ông, chính ông ấy vẫn thường đe dọa xâm lược Châu Âu đấy. Chúng tôi còn cách nào khác?
- Ông lặp đi lặp lại như học thuộc lòng vậy, - Xla-vin hớp một ngụm bia, nhìn sang Glép, nhu muốn chờ lão ủng hộ mình.
- Ông Xla-vin nói đúng – Glép tán thành ngay – Tơ-ru-man là một tay xoàng, Pôn ạ. Và ông ta lại không ưa cộng sản, việc ấy thì có gì mà phải che giấu?
Pôn không nhìn Glép, gọi thêm một vại bia nữa, đặt tay lên vai Xla-vin, và cả hai mắt nhấp nháy một cách lạ lùng, như thể gã đang muốn nói chuyện đồng thời với cả hai người, mà với người nào cũng giở ngón tinh ranh ra cả. Gã nói rất chậm, ra bộ đau đớn:
- I-van, I-van, ông còn nhớ hồi tháng Năm 1945 chúng ta đã đi suốt đêm, khắp Đre-xđen và nghĩ về tương lai, sau đó, chúng ta đã hân hoan ở Nuy-rem-be, khi lôi bọn bợm ấy lên ghế bị cáo. Ông nhớ chứ?
- Tôi nhớ lắm. Ông khi đó không những nhấp nháy mắt mà cái cổ còn hay giật giật, ngúc ngắc vì bị thương. Ông cười nhạo bản thân hết sức cay độc, để cho người khác không thể còn cười trước vào đâu được nữa, và ông không chịu uống gì kể cả bia, nhưng lại say mê một cô gái Đức có cái quá khứ quốc xã nữa chứ!
- Vết đập ở cổ khỏi rồi, còn tôi, một kẻ không thành đạt thì ai chả cười được, tôi chỉ biết bực mình thôi. Cũng như mọi kẻ bị thiệt thòi, tôi hay bực, ông ạ, bực nhiều lúc quặn cả tim lại ấy chứ! Còn thói quen tự giễu mình, tôi bỏ rồi, đó là đặc quyền của kẻ mạnh kia. Tôi bây giờ chỉ uống rượu từ sáng sớm và coi đó là niềm vui sướng tối cao. Còn cô ả người Đức với cái quá khứ quốc xã, ông không ưa nó không phải là vô cớ, nó đẻ một thằng con cho tôi, rời bỏ tôi, lại đi lấy một thằng từ trại tập trung Đa-khau ra. Bây giờ cô ta tự tô vẽ mình là nạn nhân chủ nghĩa phát xít, nhận trợ cấp và vào ban lãnh đạo của một cái ủy hội nhân đạo với súc vật, ở Đuy-xen-đoóc. Mà cô ả lập ra uỷ ban ấy sau khi các ông phóng con chó Lai-ca lên vũ trụ đấy! Đấy, tôi đã tường trình đủ về mình rồi đấy. Còn ông? Ông đã làm gì sau thời kỳ ở Nuy-rem-be?
- Tôi sống thôi, Pôn ạ, phải sống chứ. Ông có muốn đến chỗ tôi chơi không? Có vốt-ca Nga chính hiệu, có bánh mì khô với muối, có cá vô-bla nữa.
- Rất vui lòng, - Glép lên tiếng đáp ngay – không có gì tuyệt diệu hơn là vốt-ca Nga. Uýt-xki của chúng tôi còn là vét đĩa so với nó.
- Tất cả các quan chức hành chính đều thích chửi cái gì của mình – Anh chàng Pôn Đích say rượu nói tiếp. Pôn vốn là phóng viên của bảy tờ báo tỉnh lẻ, người đã từng đoạt giải thưởng Pu-lít-de (1), một siêu phóng viên có lòng can đảm đến liều mạng, hai mươi ba năm trườc còn là một chàng trai béo khoẻ tuấn tú, một vận động viên. Còn bây giờ như một người đã tắt hết tinh anh, nồng mùi rượu, về già.
Khi đã ở trong thang máy, vừa lững lờ nghe Glép kể cho Xla-vin về cái nhà chứa kinh khủng đang ngự trị ở Luy-xbua, về sự càn rỡ của bọn tư bản độc quyền đang len lỏi vào tất cả ngóc ngách của xứ này, Pôn cau mày, tiếp tục câu chuyện của mình:
- Tất cả các quan chức hành chính, nếu không làm nghề nghe trộm, thì đều đi chửi bới nước mình, để làm vừa lòng khách ngoại quốc. Một trò rẻ tiền, thô bỉ.
- Ông ấy sẽ lại sắp nói tôi là đảng viên bí mật của Đảng cộng sản đấy – Glép thờ phì ra, - đồng thời lại là nhân viên CIA và trùm “Ma-phi-a” (2) ở đây nữa đấy!
- Về cái khoản trùm “Ma-phi-a” của ông bạn ở đây thì tôi không dám khẳng định, vì không có chứng cớ. Nhưng ông bạn đã từng ở Hồng Kông thì có chứ. Ông bạn cũng không phải CIA, vì Đa-lét chỉ ưa chọn lựa bọn trẻ tuổi, thông minh, lại có tý quá khứ tả khuynh như kiểu Mác-cuy-dơ thì mới đạt. Còn Đảng cộng sản thì ông bạn có chân thế nào được, vì ông bạn đâu có cảm tình với nó, lại nữa, ông bạn đã từng đánh nhau ở Việt Nam kia!
Glép để Xla-vin và Pôn Đích đi ra trước, lấy tay che tia sáng nhỏ ở cửa thang máy để nó khỏi tự động đóng sập lại, những cái thang máy ở đây bất kham lắm. Khi đã bước ra hành lang yên tĩnh, phủ thảm xanh và được điều hoà không khí mát mẻ, Glép mới nói:
- Tôi thích một điều là chúng ta nói năng thả cửa một cách độc miệng và không sợ cái gì cả. Đó là diễm phúc tối cao của tự do.
- Chính xác – Xla-vin đồng ý – Tôi tán thành.
- Lời nói, đâu phải tự do – Pôn nói – Các ông đã bóp chết tất cả I-van ạ, và những cuộc gặp gỡ thế này chỉ là ngoại lệ. Còn nếu như nó đúng quy tắc thì tôi rất bực mình, bực hết sức, ông hiểu không?
Xla-vin đẩy cửa vào phòng và nhận xét:
- Ông bảo chúng tôi bóp chết à? Thế khi Sớc-sin (3) đọc diễn văn ở Phun-tơn thì sao? Thế khi phương Tây hợp sức lại để chống nước Nga? Cỏ còn chưa kịp mọc trên những hố bom đạn kia kìa…
- Sớc-sin thì còn biết làm gì hơn? Phun-tơn đối với ông ta chỉ là cố gắng cuối cùng để cứu vãn uy tín đế quốc Anh, sau khi khích bác cho chúng tôi và các ông cãi nhau. Ông ta mơ đến vai trò trọng tài mà – các vai trò trung gian thường có với nước Anh. Khi bọn ngu xuẩn ở nước chúng tôi đã làm vô số việc ngốc nghếch và trên thế giới đã sặc mùi thuốc súng, thì tại chính cái lão Sớc-sin ấy đi kêu gọi các nước đồng minh cũ ngồi vào bàn thương lượng, lại vẫn cái vai trọng tài mà, thích thắng lợi của uy tín…
- Nhưng còn các ông thì sao, các ông có giúp chúng tôi hiểu Sớc-sin không? – Xla-vin trả lời, anh với tay lấy chai vốt-ca, cá vô-bla và hộp trứng cá từ trong tủ lạnh ra – Khi ấy chúng tôi còn trẻ trên đường chính trị, Pôn ạ. Năm 17 tuổi, khi Sớc-sin phát biểu ở Phun-tơn, nước chúng tôi mới tròn 30 tuổi. Các ông có cho chúng tôi hiểu được gì ở ông ta không? Hay ch1inh các ông chỉ xua xua: “Eo ôi! Bọn đỏ!”.
Pôn Đích nhún vai:
- Các ông đã vi phạm hiệp ước Pốt-xđam! (4)
- Về cái gì? – Xla-vin đột ngột hỏi sẵng – Ông cho chứng cớ?
- Chứng cớ mà làm gì, I-van? Trông xu thế là đủ rõ. Các ông đã có thể nhảy vào Pa-ri và Rô-ma được rồi. Tô-rê và Tô-gli-at-ti đang đợi các ông ở đó (5).
- Có thể? Hay là đã nhảy vào?
- Tôi rất hãnh diện là đã được kết bạn với nhiều người Nga – Glép ngắt lời - những chàng trai rất thông minh, nhưng hễ cứ động đến các vấn đề tranh cãi thì họ lại nói hệt như báo “Sự thật”.
- Họ làm như vậy là đúng. Thôi, xin chúc sức khoẻ ông Pôn. Rất vui được gặp lại ông. Một khi ông đã sang đây, có nghĩa là sẽ có những sự kiện mới đấy.
- Sắp tới chúng ta sẽ sang Na-gô-ni-a chào mừng sự lật đổ Gri-xô – Pôn trả lời và dốc ực cốc vốt-ca vào họng, không cần tợp, không hớp ngụm nào, cái mồm mà Xla-vin nhìn thấy như cái bếp lò, sao nó đỏ hực như bốc lửa.
- Đừng có đem ý muốn ra mà tưởng thật – Glép nói – Dù muốn lật đổ Gri-xô thì cũng phải có người và có tiền, mà cái đó thì đối thủ của Gri-xô hiện chưa thể có.
- Đừng có giả dối – Pôn phẩy tay – Có tiền, có người chứ!
- Vậy là ông biết nhiều hơn tôi – Glép nhún vai và đưa mắt nhìn chai rượu.
“Hắn muốn Pôn chóng uống say chốc nữa và đâm ra nói năng lảm nhảm, khi ấy người đối thoại sẽ cho rằng mọi lời nói của Pôn đều là lẩn thẩn”. – Xla-vin hiểu ý.
Xla-vin vẫn rót thêm rượu ra.
- Xin chúc mừng các chàng trai Nga tuyệt diệu – Glép đề xướng – Chúc cho chúng ta học được cách hiểu nhau và tin nhau! Rốt cuộc, chúng ta đều phải sống trong một thế giới này, ở trên chỉ có một bầu trời, ngăn cách chúng ta chỉ có một đại dương, mà có thể và cần thiết phải bắc một cây cầu qua chứ.
- Rất tán thành – Xla-vin chạm cốc với Glép. Anh uống cạn, đứng dậy rồi bước tới chỗ đặt điện thoại hỏi - số nào là số gọi người phục vụ nhỉ?
- Ông cứ quay số 15 – Glép đáp - Lạc rang của họ thì tuyệt tác, họ rang với muối rất ngon và rẻ, một món nhắm ra trò đấy.
- Thế nếu tôi muốn thết khách đàng hoàng hơn?
- Ông gọi số 22. Đó là số điện tiệm ăn ở trong khách sạn, nấu nướng tốt lắm, nhưng khá đắt.
- A lô, đây là phòng 607, chào các ông. Các ông có thể thu xếp một thực đơn bữa tối cho chúng tôi được không. Chúng tôi có ba người. Trứng cá à? Cám ơn, chúng tôi có trứng cá Nga rồi. Cá à? Cá gì? Cá a-xau?
Glép nhìn Xla-vin, lắc đầu nói nhỏ:
- Thứ ấy đắt lắm, không nên, ông hãy yêu cầu cho món cá vược đi, giá phải chăng mà lại rất ngon.
- Cho cá vược đi nhé, xà-lách và cà phê. Vâng cảm ơn. Kem à? – Xla-vin lấy tay che ông nghe quay lại – Kem của họ cũng rất đắt phải không?
- Rất rẻ, như bên các ông ấy, - Glép phá lên cười – nhưng không ngon bằng.
- Thôi được, ba xuất kem nhé. Vâng, kem hoa quả. Cám ơn. Chúng tôi chờ.
Pôn rót vốt-ca cho mình, lại dốc cạn, rồi tỉnh táo nhìn Glép. Anh ta nói:
- Các ông có biết tôi mơ gì không? Tôi mơ được mắc bệnh ung thư. Mọi chẩn đoán phải đi đến kết luận là bị ung thư thật sự. Nhưng không được đau đớn. Sao cho đừng phải chịu đau là điều rất quan trọng đấy. Thế là tôi sẽ đi chơi thoả chí. Chơi cho đến chừng nào chưa bị quỵ thì thôi, chơi thoải mái như chưa bao giờ tôi tự cho mình được chơi thoải mái thế, vì lúc nào cũng công với việc chết tiệt cả, chơi đến mức ai cũng phải thèm muốn. Không bao giờ còn thèm sợ hãi cho cơn say sưa ngày mai nữa. Đó mới thực là sống kiểu hội hè thật sự, một cách giải thoát hoàn toàn.
- Thây kệ ông, - Xla-vin nói và lại rót sóng sánh cả vốt-ca ra các ly rượu – Ông vẽ nên một viễn cảnh kinh thật chứ, tôi thì muốn uống thật say để quên những lời ấy đi. Kìa sao ông không uống, ông Glép.
- Uống chứ! Ông xem, tôi uống như ngựa đấy thôi!
“Ngựa thông minh lắm đấy, - Xla-vin nghĩ – nhưng ngựa sẽ chẳng thể soi mói quan sát người uống rượu thế kia! Chẳng hau háu nắm bắt từng dấu hiệu quá chén thế kia! Ta cứ giả đò quá chén đi, còn ngươi đừng vội xoay sở lợi dụng. Lẽ ra ngươi không nên vội vã thế, tuy thì giờ là vàng bạc, bởi vì ngươi sẽ thua cuộc do cái tính vội vã vụ lợi của ngươi. Glép ạ, mi sẽ phải say, say trước tiên, sẽ thiếp đi trên ghế. Khi ấy mọi sự sẽ tỏ tường, và ta mới có thể tin là quả thực mi chỉ đến bán máy móc và phụ tùng ra-đi-ô ở đây thôi. Còn cái gì đó nữa, hình như Pôn có nói, bán rẻ cả Tổ quốc, rồi công việc dính líu với bọn “Ma-phi-a”; chắc là buôn bạch phiến…”
Nặng nề mở hai mắt – những mi mắt hùm hụp như bằng chì, Pôn rướn người như bơi về phía Xla-vin:
- I-van ạ, ngay bây giờ nữa, các ông cũng có lỗi. Ở đây, ở châu Phi này, các ông có lỗi trong mọi việc. Chúng tôi phải mò đến đây cũng chỉ là để ngăn chặn các ông lại.
Xla-vin lại rót rượu cho mình và cho Glép, làm sóng vốt-ca ra cả quần Glép, anh không xin lỗi gì cả, say thực sự rồi, trong không khí nóng bức thế này, người ta càng chóng say lắm chứ. Anh nói lè nhè:
- Chắc các ông vừa lòng nếu có người của Mao dính vào đây nhé? Và các ông cũng rất ưng ý để cho người ta dí súng lục vào bụng bà già châu Âu tội nghiệp chứ? Bà ta sẽ trở nên lắm điều đấy, cái mụ già mĩ miều ấy… Hay là các ông hiểu rõ mối đe dọa này rồi, và quyết định điểm huyệt châu Âu…
- Người Trung Quốc là lũ sâu kiến, I-van ạ. Giặc châu chấu! Bọn họ bất lực, bọn họ làm sao xua nổi chúng tôi và các ông…
- Không được nói như ậy về một dân tộc vĩ đại – Xla-vin cắt ngang - Thật không trung thực chút nào. Người Trung Quốc là những người tuyệt vời, thông minh, tốt bụng…
- Tốt hơn hết là nên uống mừng đàn bà – Glép nói - Vứt quách đi các chuyện chính trị của các ông.
“Hẳn bây giờ hắn sẽ đề nghị gọi đàn bà đến – Xla-vin nghĩ. Hắn sẽ cho gọi uýt-ki và một con bạn gái. Hoặc sẽ khuyên đi xem thoát y vũ ở đây”.
- Tôi ủng hộ ý kiến ấy đấy – Xla-vin nói – vào cái thời sống ào ạt này, chỉ còn có đàn bà là tượng trưng cho sự đáng tin cậy, tức là cái đẹp.
- Được đấy – Pôn cười khẩy – Bàn đi, I-van. Vẻ đẹp là tượng trưng cho sự đáng tin cậy. Đáng 10 đô-la đấy! Thậm chí 15 đô-la. Tôi sẽ bắt đầu bài phóng sự cho cái bọn chăn lợn của chúng tôi rằng: “Vẻ đẹp là tượng trưng cho sự đáng tin cậy; tôi nghĩ thế khi chiếc trực thăng đang đưa tôi vào rừng sâu, đến bên bờ đại dương, đến với ngài Ô-ga-nô cao quý, một nhà hùng biện và một chiến sĩ, người đang hứa hẹn sẽ trả về cho nhân dân Na-gô-ni-a tự do, mà tên bù nhìn Gri-xô của điện Krem-li đã chà đạp lên…” - Được đấy chứ, hả?
- Cho là thế. Còn bây giờ, ông đưa lại tôi 15 đô-la hay cho tôi theo đến với Ô-ga-nô nào?
- KGB (6) sẽ bỏ tù ông, - Pôn trả lời – Ô-ga-nô là kẻ thù của phía các ông, làm sao ông có quyền tiếp xúc với ông ta cơ chứ, I-van? Tôi gài rồi, những việc bên các ông, tôi đều đã biết tỏng hết…
- Các ông huyên thuyên thế đủ rồi – Glép nói – hình như họ đang đem đồ ăn đến, các ông có nghe thấy không, có tiếng động ngoài hành lang.
- Chẳng có tiếng gì cả, - Xla-vin phản đối - đấy là ông ù tai.
Nhưng ngay lúc ấy có tiếng gõ cửa.
- Xin mời vào - cả ba cùng đáp, hai người tiếng Mỹ, một người tiếng Nga.
Trên ngưỡng cửa hiện ra một anh da đen đẩy cái xe, trên có những đĩa cá. Trong đầu Xla-vin loé lên một ý nghĩ tinh quái, là nhất quyết người hầu bàn gốc Nga sẽ đến đây. Nhưng không, té ra cũng chỉ là một ý nghĩ đồng bóng mà thôi!
… Pôn Đích lấy dĩa xỉa cá vược, nếm thử rồi nhăn mặt.
- Người Phi không biết nấu nướng. Rời bỏ người Pháp và người Bỉ, những kẻ sành ăn trên thế giới, họ chỉ còn biết rơi vào vòng nô lệ của các hãng “Mắc Đô-nan” của chúng ta mà thôi! Nào xúc xích, bánh mì kẹp pho mát, cà phê, tiện và rẻ, được cái là vừa túi tiền mọi người.
- Bánh mì kẹp pho mát rất rẻ - Xla-vin nhủ thầm – Các quán ăn của hãng Mắc Đô-nan… Còn gã thiếu ngón thì làm nghề gì ở “Hin-tơn”? Ở tiệm ăn? Cái lệ ở đây, họ không cho hầu bàn được nuôi ăn ở tiệm của mình làm, ở đây chứ có phải ở Nga đâu! Ông ta vì sao không đến ăn ở tiệm của hãng “Mắc Đô-nan” cho rẻ nhỉ?
- Thế ra là hãng “Mắc Đô-nan” cũng đã vào cả đây rồi – Anh hỏi, tay đẩy món xà-lách cho Glép – Ăn khách sạn ở đây thì chỉ có nhẵn túi, chạy vội ra cửa hàng bán rẻ ở ngoài, ban ngày, kể cũng tiện đấy chứ?
- Làm sao mà bọn “Mắc Đô-nan” lại không mò vào đây cho được – Glép trả lời, sau khi nuối tiếc nhìn chai vốt-ca đã cạn. Có điều người ta chưa cho phép họ len vào được trung tâm. Họ len lỏi về phía dinh tổng thống từ các khu ngoại vi nghèo khổ. Mà bọn họ cừ thật, đã xây thêm đủ các phòng đánh bi-a ở các quán bán ba làm bọn da đen tiêu hết thì giờ rỗi vào đó, bi-a chả rẻ hơn xi-nê đến 7 lần kia mà…
- Thế còn máy thu hình của họ?
- Ông điên sao? Dân ở đây, ai có thể mua nổi máy thu hình? – Glép lại nhìn cái chai rỗng. Pôn rút cục cũng nhận thấy cái nhìn của Glép, anh ta đứng dậy, bước lại máy điện thoại, quay số 15 (“Gã say, say lắm rồi, mà trí nhớ vẫn tốt thật, - Xla-vin nhận xét - nhất là khi dính đến chuyện mua rượu!”) và yêu cầu:
- Hai chai uýt-ki cho phòng…
- 607, Glép nhắc.
- Cho phòng 607, nhưng tính tiền trả ở phòng 905 của Pôn Đích. Nhanh lên nhé!
“Khoe trí nhớ thế để làm gì? – Xla-vin chậm rãi nghĩ, đầu vẫn gật gù phụ họa với Glép đang kể chuyện tiếp về công ty Mắc Đô-nan làm được một vụ áp-phe lãi to về cà phê, thông lưng với chi nhánh của hãng sữa “Ne-xtơ-lê” - người bình thường không nhớ kỹ con số phòng tỉ mẩn như khắc sâu vào óc đến thế, cũng không chăm chăm nghe đồng thời cả mấy người tiếp chuyện một lúc như vậy, cả mình, cả Pôn. Còn anh chàng Thiếu ngón, theo lời Khơ-rê-nốp thì phải trực 12 tiếng một ngày. Phải xác định rõ xem những người hầu bàn làm bao nhiêu tiếng một ngày. Sao mình quá lưu tâm đến tay hầu bàn ấy thế? Và sao Glép cũng chằm chằm để ý đến mình thế; chỉ biết là hắn cứ soi mói rình rập mình. Hắn chưa thể biết việc mình gặp Khơ-rê-nốp được, hãy còn sớm, dù cứ cho rằng hắn là người của CIA đi nữa và đã thu xếp ổn thoả, mối liên hệ với cảnh sát địa phương; không, mình tự doạ mình thế thôi, người ta chưa thể kịp báo cho hắn được”.
- Ông Xla-vin, ông định viết về tình hình Luy-xbua phải không? – Glép hỏi.
- Phải nói là tôi rất quan tâm đến Na-gô-ni-a hơn.
- Thế sao ông lại không tới đó đi? Hay là ông ủng hộ giả thuyết chính thhức của các ông là trụ sở bọn âm mưu đảo chính nằm tại Luy-xbua?
- Dĩ nhiên là tôi ủng hộ, vì tôi không tách mình với Mát-xcơ-va, và còn một lý do khác là ở đây đã có một đồng nghiệp của tôi rồi.
- Ông Xtê-pa-nốp phải không? Chúng tôi có đọc cả sách của ông ấy nữa, chứ không chỉ đọc các bài báo của ông ta thôi đâu. Ở đây nhiều người cáu ông ấy vì ông ấy quá gay gắt.
- Sao các ông không phản bác đi. Nếu ông ấy nói sai, các ông cứ việc bác bỏ, chứ cáu kỉnh mà làm gì, lại không dân chủ.
- Xtê-pa-nốp viết hay, dù có nói láo chăng nữa – Pôn nói và rót rượu, chai đã cạn, chỉ còn rỉ giọt – 31 giọt, không hơn, Xla-vin nhận xét – Thì các ông thấy đấy, nghề báo, nghề văn là gì nếu không phải nói láo. Càng giống thật bao nhiêu càng tài bấy nhiêu. Nói láo mà y như thật cũng là một nghệ thuật đấy. Hãy tả lại đời mình, tưởng tượng thêm, để không tẻ nhạt như cuộc đời người ta vẫn sống; khi ấy ông đã trở thành Tôn-xtôi hay Hê-ming-uê rồi.
- Ai? – Glép hỏi – Hê-ming-uê à? Ông ta chết rồi kia mà…
Pôn bực dọc nổi khùng:
- Phải… Còn Tôn-xtôi thì mới chuyển từ bang Mi-nê-xô-ta xuống sống ở Mai-a-mi (7), và giờ đang câu cá trong vịnh đấy! Rồi anh ta quay sang Xla-vin – Hê-ming-uê giờ đây quả thực đã bị quên lãng ở bên tôi. Nếu ông ta sinh ra từ thế kỷ trước, thì đó lại là chuyện khác, còn như thế này thì vẫn là người đương đại với chúng ta. Chúng ta đã nhìn thấy ông ta, đã ăn uống với ông ta. Làm sao có được các nhà cổ điển của thế kỷ 20, khi các phương tiện thông tin đại chúng đã đến độ tràn lan. Vào thời Tôn-xtôi, người ta còn sống với những lời đồn thổi, những chuyện truyền khẩu, còn bây giờ, mọi cái được lên khung trên các cột báo với những hàng tít phụ chú đập ngay vào mắt. Thử đi mà tạo uy tín xem, thử đi mà bỏ qua mọi chuyện ba lăng nhăng in trên báo xem… Rồi lại còn điện thoại… sự giao tiếp giữa con người đã đơn giản hoá đến mức tệ hại. Ngày trước ông cứ thử đi mà gọi dây nói đến I-a-xnai-a Pô-li-a-na (8) mà lấy phỏng vấn - mẹ kiếp! Phải đến tận nơi, phải được phép chứ! Mà cái đó sẽ tạo nên trách nhiệm, nó vạch một vạch ngăn giữa nhà văn và chúng ta… Còn bây giờ, chỉ việc cầm ống điện thoại lên: “A-lô, thưa bá tước, xin ngài hãy bình luận giúp về “Chiến tranh và hoà bình!”…
- Đúng – Xla-vin tán đồng – Ông nói đúng Pôn ạ. Rất tàn nhẫn, nhưng đúng. Hoá ra là chính chúng ta đã tự làm mất đi những nhà cổ điển? Thế kỷ 20 muốn đi vào hư vô không có các nhà cổ điển ư? Chúng ta không biết chúng ta đang làm trò gì.
- Sao lại không? Biết chứ!
- Hay vì trình độ văn hoá quá cao? Ai cũng hiểu mọi điều? Cho nên có quá nhiều thị hiếu? Nhiều cảm tình khác nhau?
- Nói rằng có quá nhiều mối ác cảm thì đúng hơn. Còn về trình độ văn hoá, ông chỉ nói đúng một phần. Ông đem phóng ta nước Nga lên phạm vi toàn thế giới là sai lầm.
- Các bạn ơi, chưa đến lúc chúng ta nghĩ đến đàn bà sao? – Glép nói – Tôi tất nhiên cũng rất hiểu trí thức, văn hoá, vân vân, nhưng các ông đâu phải là người không có giới tính, tôi nghĩ thế. Hay là ông Xla-vin sợ hậu quả? Theo như tôi được biết, bên phía các ông cấm các lối giao du kiểu ấy…
“Đã dứ rồi đấy – Xla-vin nghĩ – theo đúng kế hoạch mà! Cái trò cũ rích, nhưng vẫn cứ tác động quỷ tha ma bắt chúng mày. Được, cứ để xem sao đã”, và Xla-vin nói:
- Bên các ông, tôi nghe nói cũng không khuyến khích lối giao du kiểu ấy.
Glép nhìn vào mắt Xla-vin, thậm chí vào cả đâu đó trên lông mày, mặt hắn giây lát trở nên nặng nề, không có sinh khí, nhưng chỉ trong khoảnh khắc thôi, rồi hắn tiến lại điện thoại, ngả người nhẹ xuống ghế bành, rút từ túi quần sau ra quyển sổ ghi chép đã nhàu, giở ra như đã thuộc lòng, nhìn Xla-vin, lại gấp sổ lại, rồi bắt đầu loay hoay nghĩ ngợi, lấy vẻ mặt một ông già Nô-en đang bày một trò chơi vui vẻ để sẽ kết thúc bằng một món quà trác tuyệt.
- Ông thích loại nào, tóc vàng hay tóc đen? - Hắn hỏi, tay lật lật quyển sổ.
- Tôi bị bệnh mù màu sắc – Xla-vin trả lời.
Pôn phá ra cười ha hả.
- Ồ, ông Xla-vin mới ranh ma chứ! – Glép nói – Ông lúc nào cũng né tránh các câu trả lời chính xác.
- Chỉ có toà án mới phải đòi có câu trả lời chính xác.
- Ông biết rõ công việc của toà thế cơ à?
- Dĩ nhiên.
- Còn hơn ông ấy, Giôn ạ - Pôn nói – Ông ấy đã ngồi cùng với tôi suốt vụ án Nuy-rem-be từ lúc chuông vào đến lúc chuông ra đấy.
- Đấy là chuyện chính trị, Pôn ạ, còn bây giờ Xla-vin trả lời tôi về chuyện đàn bà, mà như một nhà vạch mưu lược có kinh nghiệm: chẳng ừ cũng chẳng không, và trong mọi trường hợp, ông đều trong sạch trước mọi chỉ thị.
- Chỉ thị nào đấy? – Xla-vin hỏi – Ông nhắc đến chỉ thị nào?
Sự xuất hiện của người hầu bàn mang các chai uýt-xki và cốc có đá vào đã giải cứu cho Glép; Xla-vin hiểu rằng Glép sẽ không thể gỡ ra được - thực vậy, một thương gia làm sao có thể giải thích được việc mình quen làm việc với các chỉ thị?
Pôn lại uống ngay và rót vào ly cho Xla-vin và Glép.
- Chờ tý nhé – Glép lên tiếng, tay quay số điện – một phút nữa thôi Pôn ạ - Hắn lắng nghe tiếng “tút tút” trong máy một lúc, thở phì ra, ngắt máy và lại quay số khác.
- Lũ gái trẻ của ông đã chui vào phòng tắm ở những phòng khác rồi – Pôn nói – Thôi, mặc thây chúng nó, đồ bỏ.
- Xì, bỉ ổi chưa – Glép nói – Cậu đừng nói những câu vô sỉ như vậy, Pôn. Chẳng qua là vì chưa có những người bạn gái xứng đáng lọt vào tầm mắt cậu đấy, cậu chỉ có rặt một bọn gái giang hồ thôi chứ gì!
- Người bạn gái hay nhất là một ả giang hồ không ưa xấu hổ, với loại ấy, không cần phải giảng giải về Bram-xơ (9) cũng không phải giả vờ làm bộ am hiểu Xtơ-ra-vin-xky (10) làm gì – Pôn làu nhàu.
- A-lô, Pi-la đấy à – Glép hỏi và nháy mắt với Xla-vin – Tôi đang ngồi cùng hội với những người bạn thông minh nhất đời. Cô có muốn nhập hội với chúng tôi không? Sao vậy? Cô làm tôi buồn đấy, Pi-la ạ… Nào, cố gắng nhé… Tôi rất mong cô đấy!... Ừ, có thế chứ, cừ lắm! Phòng 607 ấy, Pi-la ạ, chúng tôi đang ở đây cả. Chúng tôi đợi nhé!
“Phòng 607 ở địa điểm nào? – Xla-vin nhận định ngay – Trong thành phố còn những 15 khách sạn nữa, hình như trụ sở CIA đóng ở ngay đây. Thêm nữa, cô ta đồng ý thay đổi ý kiến quá nhanh nhảu… lúc đầu cô ta từ chối, mà hắn có đưa ra lý lẽ gì xác đáng hơn để mời cô ta đâu… Có lẽ, không phải là từ chối thật, chẳng qua do hắn bày trò, làm ra cái vẻ “đoan trang” của quý bà…”
Pi-la quả thực rất xinh: một cô gái Tây Ban Nha cao dong dỏng, mảnh dẻ, có đôi mắt to, nụ cười thực quyến rũ. Cô ta chào Pôn và Xla-vin rất điệu rồi hôn Glép một cách thân tình nhưng không xuồng xã – hôn vào bên thái dương, rồi ra bật đài, ra dáng chủ nhân; lúc ấy ở “Hin-tơn” đang truyền chương trình nhạc gia-đơ và cô ta cắm đúng nút ngay không nhầm lẫn. Cô đỡ ly rượu uýt-xki từ tay Xla-vin, hơi nhấp môi, rồi sau khi nhận thấy cái nhìn của anh, vội giải thích:
- Ông đừng giận, tôi vốn người Tây Ban Nha, chúng tôi thích uống bia cơ, tuy nhiên thường không say vì bia, mà lại vì những người đối thoại thông minh.
“Được, bây giờ mình sẽ dành cho cô ta một dịp trò chuyện với một người đối thoại không phải là không biết dắt chuyện đâu” – Hơi lạnh người một chút vì hồi hộp, Xla-vin vụt nghĩ vậy.
Kể từ buổi nói chuyện đầu tiên trong phòng Côn-xtan-ti-nốp, ngày đêm không phút nào anh không sống với giả thiết: bác người Nga đã gửi lá thư kia chắc là một trong những người lưu vong có số phận hẩm hiu, đang kéo lê thân phận cay đắng làm một thứ nô lệ phục vụ cho kẻ khác. Tất nhiên, người ta trả công, ở “Hin-tơn” trả công cũng hậu lắm…, nhưng trong cả buổi nói chuyện dài dòng này Xla-vin chưa tưởng tượng ra được rằng sẽ đến lúc anh có một quyết định linh hoạt rất bất thần. Có lẽ, các quy luật vĩnh cửu về lượng biến thành chất (trong trường hợp này là những tư duy, ước đoán, tìm kiếm lời giải tối ưu…) đã đưa Xla-vin tới một hành động thoạt tiên có vẻ lạ lùng. Nhưng trên thực chất, lại là duy nhất khôn ngoan trong tình huống này. Anh đứng dậy và nói với mọi người:
- Các vị chờ tôi một phút nhé, tôi sẽ trở lại ngay.
Anh đi xuống tiệm ăn của khách sạn, người hơi có vẻ lảo đảo, tiến lại chỗ ông quản lý khách sạn và hỏi thẳng thắn:
- Thưa ông, chỗ các ông có người hầu bàn nào gốc Đức hoặc Anh không? Mà tốt nhất là Nga, nhưng có lẽ với yêu cầu như thế, thì đào đâu ra phải không ông?
- Nhưng có việc gì vậy thưa ông? Người phục vụ gốc Pháp ấy không thể làm ông vừa lòng sao?
- Đấy là trường hợp bất đắc dĩ… chúng tôi đang định thết đãi một bà quý phái, bà này không uống uýt-xki, chỉ muốn uống rượu cốc-tây, cốc-tây Nga thôi…
- Gượm chút đã nhé, ở dưới nhà hầm chúng tôi có lão Bê-liu làm việc, hình như lão này gốc người Đông Âu đấy… Khi những tên hầu phòng da đen bãi công, chúng tôi đã lấy lão lên phục vụ các phòng, nhưng sau rồi lại thôi, vì lão ta cụt mấy ngón tay, làm việc lóng ngóng, không đạt yêu cầu lắm… Ông chờ chút xíu nhé, thưa ông.
Quản lý khách sạn nhấc ống điện thoại, quay số 3, hỏi:
- Này anh Lu-ít, lão Bê-liu đã xong việc chưa nhỉ? Có vị khách muốn yêu cầu lão lên phòng…
- 607 – Xla-vin nhắc, cố giãn hết gân cốt ra để khỏi lộ sự tập trung căng thẳng ở anh.
- Phòng 607. Chà, thế à, thôi được Lu-ít ạ. Thế khi nào lão đến thay ca? Tám giờ kia à! Cảm ơn…
Ông ta đặt ống nói xuống:
- Bê-liu ngày mai, tám giờ sáng mới tới làm việc… Thưa ông, tôi rất tiếc…
“Bây giờ thì phải tìm cớ để ra khỏi khách sạn, - Xla-vin suy tính nhanh chóng khi trở lên phòng – Mình phải tán Pi-la và sẽ đưa cô ta về nhà. Rồi sẽ đến sứ quán lấy ảnh. Và 8 giờ sáng mình sẽ gặp Bê-liu. Và ngay ngày mai, mình sẽ bay về nhà, vì lúc ấy Bê-liu đã kịp chỉ tay vào đúng mặt kẻ nào đã bị CIA tuyển mộ”.

(1) Giải thưởng báo chí đặt ra từ 1917 ở Mỹ, lấy tên nhà báo nổi tiếng người Mỹ gốc Hung-ga-ri là Pu-lít-de (1847 – 1911). (ND)
(2) Ma-phi-a: Tổ chức chuyên hành nghề phạm pháp như buôn ma-túy, ám sát, giết người, tống tiền… Vốn xuất phát từ đảo Xi-xin (I-ta-li-a) hiện nay tổ chức này có tính chất quốc tế. (ND)
(3) Uyn-xtơn Sớc-sin (1874 – 1965): Chính khách nổi tiếng, làm thủ tướng Anh một thời gian dài (từ 1940 đến 1945 và từ 1951 đến 1953). (ND)
(4) Hiệp ước Pốt-xđam ký tháng 8-1945 giữa các nước phe Đồng minh, sau khi thắng phát xít, về việc phân chia các khu vực chiếm đóng, bồi thường chiến tranh… (ND)
(5) Mô-ri-xơ Tô-rê (1900 – 1964), Pan-mi-rô Tô-gli-at-ti (1893 – 1964) các nhà lãnh đạo Đảng cộng sản Pháp, I-ta-li-a. (ND)
(6) KGB: Tên tắt của Ủy ban An ninh quốc gia Liên Xô. (ND)
(7) Mi-nê-xô-ta: Một bang ở Bắc nước Mỹ, Mai-a-mi: thành phố nghỉ mát bên bờ đại Tây Dương. Đây là cách nói phản ứng của Pôn trước cái dốt nát của Glép. (ND)
(8) Nơi ở của Tôn-xtôi. (ND)
(9) Bram-xơ (1833 – 1897) Nhạc sĩ cổ điển Đức nổi tiếng. (ND)
(10) Xtơ-ra-vin-xky (1882 – 1971) Nhạc sĩ Nga sống ở Pháp, một đại diện tiêu biểu của trường phái nhạc mô-đéc. (ND)
📎 11|12|13|14|15
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-25 17:39:57ct.ly>
Phần 16 - 20

PHẦN 17

TÌM KIẾM – II. GIƠ-VA-NỐP, GMƯ-RI-A PA-RA-MÔ-NỐP

Thiếu uý Giơ-va-nốp “đón đợi” Pa-ra-mô-nốp. Pa-ra-mô-nốp đã cẩn thận ngó quanh, nhìn vào tủ kính cửa hàng thực phẩm xem có ai thấy mình không. Rồi lẩn ngay vào cửa hàng “Nước khoáng” của Xi-din.
Sau khi theo dõi từ những ngày trước đó, Giơ-va-nốp biết là Pa-ra-mô-nốp không nán lâu ở quầy “Nước khoáng” nên anh đi theo ngay vào và nhận thấy Xi-din đang rót vào cốc từ chai “Vi-tau-tát”, nhưng khi rót xong không để lại ngay cạnh mình mà nhét luôn vào tủ lạnh. Pa-ra-mô-nốp uống hết một hơi, mắt đờ đẫn giây lát rồi đỏ lựng lên, và sau khi đã đặt lên mặt đĩa 5 cô-pếch, anh ta đi ra khỏi cửa hàng.
Giơ-va-nốp kịp tiến lại, vớ ngay lấy cái cốc mặc dù Xi-din muốn cất đi trước tiên. Anh đưa lên, cốc bốc mùi vốt-ca thô nặng, loại nấu lấy.
- Đưa cái chai kia nào, - Giơ-va-nốp nói.
Xi-din vội rút trong túi ra 50 rúp, chìa ngay cho Giơ-va-nốp:
- Đừng tố giác ra, hỏng bét cả. Này đây, đồ khốn!...
- Giúi cái gì thế hử, định mua chuộc hử? – Giơ-va-nốp giả giọng lè nhè rít lên – Rót vào đây, thằng đểu, mày coi tao là cái đồ gì vậy?
- Ấy gượm đã; đừng có rống lên vậy. – Xi-din chuyển sang nói thì thào. – Tôi tưởng anh từ chỗ ấy lại… Chứ còn không thì tôi rót ngay đấy, thực bụng mà, cha bợm rượu ạ!...
Và anh ta lấy ngay cái chai lúc nãy trong tủ lạnh ra, nhưng khi mở nút, cái chai tuột khỏi tay, vỡ tan; Anh ta vớ nốt một chai còn lại trong tủ, cố tình đập nó vỡ nốt ở chỗ vòi nước rửa tay, rồi trở mặt tấn công ngay:
- Mày cần gì, hử? Đòi rót cái gì? À, mày định đổ cho tao tiêu thụ rượu lậu trái phép hả? Đi mà tìm chứng cớ đi! Cứ mà đi vu cáo, tao sẽ cho mày nhừ xương!
Xi-din tiếp tục lu loa, gào lên trong khi có ba bà già bước vào cửa hàng. Anh ta quay sang phân bua, giọng như mếu:
- Nó định tống tiền tôi đây1 Nó bảo rót rượu “nấu thô” cho nó, mà tôi lấy đâu ra cái của ấy! Đừng hòng khiêu khích tôi, đi mà báo công an! Theo Hiến Pháp mới, người ta đem chuyện này ra toà đấy, chứ chẳng chơi! Úi chào, ăn mặc thì bảnh choẹ thế kia, lại còn để râu cằm, tưởng người tử tế, hoá ra đồ đểu!
*
* *
Đại tá Gmư-ri-a đến gặp vợ Pa-ra-mô-nốp. Khi lắng nghe câu hỏi của anh, chị thở dài và đáp khẽ, khó khăn lắm mới nghe được:
- Tôi chưa hoàn toàn hiểu anh. Có chuyện gì xảy ra với chồng tôi vậy?
- Không, chưa có chuyện gì đâu, nhưng nếu chị vui lòng kể hết sự thật, thì sẽ tốt hơn cho cả anh ấy và cả chị.
- Vâng, anh ấy đôi khi cũng có uống một ly, - người phụ nữ trả lời còn nhỏ hơn nữa, khuôn mặt hơi bệu có vẻ ốm yếu của chị bỗng nhăn nhó lạ lùng, - vào dịp lễ tết, sinh nhật.
Gmư-ri-a ngả người ra lưng ghế, nhìn một lượt gian phòng, phòng sạch sẽ có vẻ chay tịnh, cái bàn mòn bóng, giường kiểu đi văng, trải tấm vải phủ màu trắng, một cây thiên-trúc-quỳ cong queo trồng trên bệ cửa sổ. Anh khẽ thở dài, trong tâm tư có gì hơi ngao ngán, và kết luận:
- Chị thứ lỗi cho tôi, có điều chị đã tỏ ra không thành thật với tôi. - Thật vô ích. Bởi vì anh ấy nghiện rượu. Không phải loại chỉ sa đà đôi lần, lăn ra ngủ ở ghế đá công viên, mà là loại cứ đều đặn làm một cốc đầy vốt-ca trước bữa trưa và tối. Rồi đến cả trước bữa sáng cũng vậy. Và chị, người phụ nữ bất hạnh, nhất là phải làm việc ở nước ngoài, cứ phải chịu đựng, làm lụng cố sống cố chết nuôi cả nhà đạm bạc, bằng mì ống thôi, cốt sao đừng để ai biết, đừng có xảy ra tai tiếng gì ồn ỹ! Cái giàn “Xô-ny” mà anh chị đem về đâu? Anh ta đã bán nó lấy hai nghìn rúp, vì không đủ tiền mua rượu. Máy ảnh đâu rồi? Cũng chui vào cửa hàng đồ cũ, tiêu tan vào be rượu, đúng không? Còn tiền dành dụm định mua xe “Gi-gu-li”? Cũng do anh ta nốc, bốc hơi rượu hết, giấu giếm để khỏi bị tai tiếng, đi uống thành bữa như ở nhà - một ngày nửa lít, vậy là 5 rúp rồi, thứ bảy và chủ nhật thì 10 rúp, mà tiền lương chỉ có 180 rúp, vợ lại bị thương tật, bệnh tim, không làm việc được, con gái cũng phải lo cho một xuất ăn, phải thế không nào?
Người phụ nữ khóc nấc lên. Chị khóc không thành tiếng, vẻ ảo não. Có một vẻ gì thật không phù hợp giữa thân hình nặng nề, thiếu gọn ghẽ của chị với những giọt nước mắt trẻ thơ không thể an ủi được kia, những giọt nước mắt chị cũng không buồn lau nữa, vì đối với chị, khóc như vậy đã thành lệ rồi. Chị vừa khóc vừa lẩm bẩm:
- Cái lão ăn tàn phá hại ấy, mắt cứ tối lại vì bét nhè, sao mà lại không chết chìm đi dưới cái vại vốt-ca nhà lão kia chứ! Ngày nào cũng vậy… Giá như chỉ có 5 rúp thì đã phúc! Thì chúng tôi đã tậu được ô-tô rồi, chúng tôi mơ ước cả nhà đi nghỉ ở miền Nam biết bao, khi ấy con bé Ma-ri-not-ska còn ở với chúng tôi, bây giờ nó đi lấy chồng rồi, khổ con bé chả được đi đến đâu; hãy còn trẻ con lắm, mà giờ thì đã vất vả ở nhà người ta rồi. Ban ngày lão ta uống hết 5 rúp, tối đến lại chừng ấy nữa, còn thứ bảy, chủ nhật nếu không đi làm gì linh tinh thì hết 20 rúp, uống từ sáng sớm, còn tối thì cứ phải ngậm đắng nuốt cay. Tôi đã bảo lão ta, cái lão không biết thương xót ai ấy, rằng thế nào rồi người ta cũng biết, chẳng hay hớm gì cái trò nát rượu đâu, rồi sẽ không còn được vác mặt đi đâu hết… Bây giờ lại còn chuyện gì xảy ra nữa?
- Hiện giờ thì chưa có gì! Chị có nhớ chị đã cùng đi với anh ấy, khi anh ta bị cảnh sát bắt giữ không?
Người phụ nữ ngạc nhiên giơ cả hai tay lên:
- Ở đâu? Lại còn dính đến cả cảnh sát nữa?
- Ở Luy-xbua, trước khi về nước không lâu lắm…
- Có phải là cái hôm anh ấy không về nhà suốt đêm không? Rồi chạy lồng đi vay tiền, hử?...
- Vay tiền của ai?
- Lão ấy đến vay tiền ở nhà Prô-clốp; rồi của ai đó nữa, lão nói, cần tiền để mua quà biếu, mua đồ kỷ niệm, vì những của vô bổ ấy, lão đã phải bán rẻ nửa tiền cái máy ghi âm, vậy mà còn trợn mắt lên với tôi, nếu tôi có đi chợ mua đôi ba thứ rau cỏ, chỉ cho ăn cháo với mì ống mà sống thôi…
- Anh ta làm quen với Sác-ghin ở Luy-xbua?
- Cái ông tóc xoăn ấy à? Lúc nào cũng rảy nước hoa lên người ấy chứ gì? Quen nhau ở đấy đấy! Lão nhà tôi luôn đưa ông ta đến các hãng đại lý hàng, ra bãi tắm. Trông như một chú ngỗng tốt mã, trước mặt với ai cũng vui tính “tơ-la-la-la”, chỉ cần quay lưng đi, là hắn có thể hắt nước bẩn vào người ấy…
- Chị Cláp-đi-a, chị cho tôi xem cái máy ảnh với…
- Lão ấy cũng đã đem giúi vào cửa hàng đổ cũ rồi còn đâu, cái máy thật tiện quá! Chụp màu, ra ảnh ngay, tha hồ mà ngắm…
- Thế còn cái máy ảnh con bỏ túi?
- Loại “Mi-nốc” ấy à? Không, chúng tôi không mua, vì ở ta không có loại phim cỡ ấy.
- Chị có nhớ anh ấy bắt đầu uống rượu từ bao giờ không?
- Khi lên phụ trách ga-ra - người phụ nữ trả lời chắc chắn. Trước kia, khi còn là thợ máy, còn phải chạy đây chạy đó nên lão không uống, chỉ từ khi thay bộ quần áo lao động sang quần áo xanh khoác ngoài, ra vẻ người phụ trách, ra giao dịch với khách hàng, thế là mới có dịp rượu chè. Khi thì với người này, khi thì với người khác. Nhưng tuy vậy lão cũng vẫn phân minh, sòng phẳng, anh đừng nghĩ có chuyện tư túi gì ở lão, được cái là lão ấy không chịu nhận thừa của ai cái gì, thà lão chịu thiệt phần mình còn hơn là phải làm hại đến người khác.
- Thế mắt anh ấy bị hỏng từ bao giờ vậy?
- Chính cũng từ rượu quá, hoá đâm mờ mắt. Lão uống suông không đồ nhắm. Mà cái rượu cồn chết tiệt ấy, nó đốt ruột bào gan ra ấy chứ: người này thì bị loét dạ dày, người khác thì bị huyết áp cao, nên cái lão ngốc nhà tôi mới bị mắt mũi cập kèm. Lão giấu ghê lắm! Lão bảo, nếu để người ta biết thì rồi đời, ai người ta còn cho làm việc này nữa, hết cả nghề ngỗng chuyên môn, vả lại ai còn cho thằng mù dở ra nước ngoài làm gì. Cuối cùng xoay xở mãi, lão mới cầu kỳ đi đặt được hai màng thấu kính, lắp thẳng vào mắt, bây giờ không còn lo sợ trước ủy ban kiểm tra sức khoẻ nữa, thế là qua được… Vậy là cứ chứng nào tật ấy.
- Chị đã thử gọi bác sĩ chữa cho anh ấy chưa?
- Tôi gọi bác sĩ ở đâu được? - Người phụ nữ bỗng nổi khùng lên - ở sứ quán chắc? Bảo là chồng tôi mắt mờ vì say rượu bét nhè chắc? Thế thì người ta tống lên máy bay mà về nước cho rồi. Rồi còn viết giấy đến báo ở cơ quan, rửa được tai tiếng còn là nhục. Chứ giá chỉ êm ả, nhẹ nhàng mà thoát được nạn rượu, thì tôi đã làm toáng lên rồi, đằng này đành phải ngậm tăm mà nuôi hy vọng…
- Hy vọng gì nữa kia?
- Mong cho bệnh loét dạ dày nó hành lão, để lão tỉnh ra. Hay là thận chẳng hạn. Ấy đấy cái anh chàng Xi-đô-rốp uống rượu đến nỗi phải đi cắt thận đấy, bây giờ cạch rồi, thế là gia đình lại đâm ra hạnh phúc trở lại! Không giọt nào dốc vào mồm nữa, là lại có cả một mảnh vườn, sắm cho vợ được cả áo choàng lông thú , lại mua được cả một căn nhà ba buồng ở Chéc-ta-nốp… Ôi chao, còn biết nói thế nào cho được, chẳng qua bây giờ cũng đã an cư lạc nghiệp, người ta mới rượu chè đổ đốn ra thế. No cơm ấm cật rồi mà, lương thì không thể dưới 150 rúp, muốn làm gì htì làm… Chứ cai hồi xưa ấy à…
- Cai hồi ấy thì có khác. – Gmư-ri-a đồng ý, - Còn cái máy thu thanh nhà chị? Anh ấy còn mua được cả máy thu thanh cực kỳ tốt kia mà?
- Bán rồi! Chà, cái đài ấy cái gì cũng bắt được; mua rẻ chỉ bằng nửa giá ngoài tiệm. Lão nhà tôi chả lắp hộ bộ chế hoà khí cho một ông ở hãng buôn nào ấy mà, lại còn sửa thêm cái này cái kia, tiết kiệm hẳn chỉ số hao xăng, ông kia thích quá, mới để rẻ cho, gớm, cái đài tốt đến thế, thật đài ra đài…
- Anh ấy còn sửa chế hoà khí đại loại kiểu ấy cho ai nữa không, chị Cláp-đi-a? Chẳng hạn, sao không sửa hẳn cho một ông chủ nào người Mỹ?
- Không, cho dù họ có yêu cầu thì lão nhà tôi cũng tránh xa người Mỹ, chúng tôi cũng đã nghe phổ biến nhiều, biết tâm địa họ, lũ hiếu chiến ấy, khiêu khích ở khắp nơi trên thế giới, chúng tôi lại còn không biết ư, mà cái đó còn đáng sợ bằng mấy vốt-ca ấy chứ!...
Nhưng Gmư-ri-a vừa đứng dậy vừa nói:
- Trong trường hợp này thì vốt-ca đáng sợ hơn đấy, đáng sợ hơn nhiều kia, chị ạ!
*
* *
- Chào anh, tôi xin tự giới thiệu, tôi là Mi-kha-in I-va-nô-vích Prô-xcu-rin, cấp bậc trung tá. Tôi muốn nói chuyện với anh về quãng thời gian anh làm việc ở Luy-xbua.
- Xin cứ việc, đồng chí I-van Mi-khai-lô-vích ạ - Pa-ra-mô-nốp xun xoe trả lời.
- Đúng hơn là Mi-kha-in I-va-nô-vích. Còn nếu anh thích tâng bốc tôi lên bằng cách ấy, thì cũng chả đáng giận anh, phải không? (1)
- Ấy chết, xin lỗi đồng chí, tôi hay lẫn tên lắm.
- Đấy cũng chưa phải tai hoạ lớn nhất đâu… Anh nói hộ nhé, anh đã gặp nhà kinh doanh mỹ Glép ở bên đó phải không?
- Đồng chí nghi ngờ tôi? Đây là cuộc hỏi cung sao?
- Không phải. Tôi chưa có quyền hỏi cung anh, vì anh chưa bị kết vào tội gì và cũng chưa bị bắt đến làm chứng. Đây chỉ mới là cuộc mạn đàm, anh cũng vẫn có quyền từ chối, nếu không thích trả lời những câu hỏi của tôi…
- Thế thì, thề có Chúa soi xét, tôi không nhớ gì về Glép, quả là tôi không nhớ.
- Đây là tấm ảnh ông ta.
Pa-ra-mô-nốp cầm lấy tấm ảnh nhỏ, đưa lại gần mắt, và hai mắt lại càng nheo lại hơn.
- Ảnh bé tí tẹo thế này thì nhìn làm sao cho rõ?
- Chết, thế anh vẫn lái xe ra làm sao?
Pa-ra-mô-nốp ngửng đầu lên, tái mặt đi:
- Khi lái xe, tôi vẫn phải lắp thấu kính vào mắt, thưa đồng chí Phê-đo I-va-nô-vích…
Prô-xcu-rin bật cười:
- Đấy là tên một Sa hoàng ngày trước đấy. Thôi được, mặc kệ Sa hoàng… Tôi chỉ muốn biết là sau khi anh bị cảnh sát bắt giữ ở bên đó, có ai đến bót cứu anh không?
- Không! Tôi có tội tình gì đâu! Tôi có say đâu! Chẳng ai việc gì phải cứu tôi cả!
- Quả thực hôm ấy anh không uống rượu?
- Không có lấy một giọt.
- Thế còn hôm trước đó?
- Cũng không mà.
- Chà, thật đúng như vậy chứ?
- Tôi thề đấy, không nhấp lấy một giọt! Tôi ít uống lắm! Qua cái cung cách mà Pa-ra-mô-nốp nói dối một cách đầy sợ hãi, giấu đầu hở đuôi, Prô-xcu-rin đã đoán định là anh ta không phải con người mình cần tìm. Đây chỉ là một kẻ bạc nhược, gian dối, say rượu đến mức phải lén lút, nhưng phần chắc là không phải tay sai CIA…
- Tôi đã phải nộp tiền cho họ thả - cuối cùng Pa-ra-mô-nốp nói khẽ với vẻ đau xót, - bọn chúng ở đấy tất cả đều là lũ ăn của đút và tống tiền, chúng bảo: không có kính là phải nộp bằng…
- Vậy anh phải xì ra cho họ bao nhiêu?
- Một trăm bảy lăm đô-la. Tôi chỉ có cả thảy 50, tôi phải lồng lên đi vay khắp nơi, lúc ấy viên cảnh sát mới chịu xé toạc tờ biên bản xét nghiệm.
- Anh có nhớ viên bác sĩ không?
- Hơi sức đâu mà nhớ chứ? Một phụ nữ Phi đẹp, à mà cũng có đeo kính…
- Có thấy còn người nước ngoài nào đến giúp việc ở đó không?
- Nếu có thì tôi đã xin nói ngay, thưa đồng chí… Va-xi-li I-va-nô-vích.
- Thôi, anh cứ gọi tôi đơn giản là Pết-ca , thế nhé! Va-xi-li I-va-nô-vích là tên của Tra-pa-ép đấy (2)! Anh cứ gọi tôi là Pết-ca cho tiện đi!
- Xin đồng chí hiểu cho tình cảnh tôi! Pa-ra-mô-nốp van nài - Mất cái bằng ấy ở Châu Phi thì thật đi đứt cả công danh!
- Đi đứt cái gì?
- Công việc ấy ạ, - Pa-ra-mô-nốp vội chữa lại - sẽ chẳng còn đi được tới đâu. Nóng lắm, ai mà đi bộ tới sở thuế quan được? Mà xếp hàng dài khủng khiếp! Tôi sẽ lỡ việc của tập thể! Mà anh em chỉ trông vào sự cơ động của tôi: chạy giúp đi đằng này, phóng giúp ra chỗ kia…
- Chắc họ còn chờ đợi hơn hết ở anh sự chân thật nữa. Chúng tôi đã hỏi và đã xác minh được sự việc. Nếu anh đã kể mọi điều thành thật, thì các luật gia của ta sẽ chứng minh cho nhà chức trách ở Luy-xbua biết rằng anh đã được Ủy ban kiểm tra sức khoẻ - có chân trong một công ước quốc tế - cho phép anh vẫn được lái xe và công tác bình thường, do đó sẽ không ai có quyền đòi hỏi gì ở anh và vô cớ buộc tội anh như vậy nữa. Được chứ?

(1) Nếu gọi Mi-kha-in I-va-nô-vích thì tên thật là Mi-kha-in, tên bố là I-van (do đó có đệm là I-va-nô-vích). Còn nếu gọi tên ngược lại, thì vô hình chung là gọi tên bố ra.
(2) Anh hùng thời Nội chiến ở Liên Xô. Nhân vật chính trong tiểu thuyết của Phuốc-ma-nốp (ND).
📎 16|17|18|19|20
Đăng nhập để trả lời
0
Phần 21 - 25
📎 21|22|23|24|25
Đăng nhập để trả lời
0
Không biết có ai đăng ký chưa nhỉ? HTLĐ đăng ký gõ phần 1-5 trước nha!
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
Thái Nhi ơi! Hình như Phần 5 có trục trặc gì đó rồi thì phải? HTLĐ định download về nhưng báo lỗi hoài.
Nhờ Thái Nhi kiểm tra lại dùm HTLĐ nhé!
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
hihihi

Vậy thì TuLip đen gõ tiếp chương sau đi nhen

Có gì Thái Nhi sẽ xem lại, rồi Tulip đen gõ tiếp nhé

Chúc Tulip đen luôn vui
Đăng nhập để trả lời
0
Không thấy Thái Nhi trả lời, thôi đành bỏ qua Phần 21 vậy!!![X(]

PHẦN 22

XLA-VIN

Tại bữa chiêu đãi ở sứ quán Liên Xô, Glép kéo Dô-tốp ra một chỗ, chìa cho anh cuốn sách nhỏ bìa cứng, đã sờn, giải thích:
- Hoá ra cái này khó tìm quá đỗi: phải nhờ tận Oa-sinh-tơn, và nhà xuất bản sách Nga Cam-kin đã giúp đỡ.
- Rất cám ơn. Ông cho mượn được bao lâu?
- Cho mượn mãi mãi.
- Không cần đến thế, cảm tạ ông. Một tuần nhé?
- Được lắm, ông có muốn chụp phô-tô co-py lại trên máy Xê-rốt (1) không?
- Chỗ tôi cũng óc một cái máy Xê-rốt, tuy ọc ạch, nhưng tôi cũng sẽ cố gắng tự sao chụp lại.
Dô-tốp, vốn dân mọt sách, không kìm được mình, vội liếc ngay năm xuất bản của cuốn sách, viết về dân ca châu Phi: 1897.
- Cám ơn ông Giôn – anh nhắc lại, - tôi thật hết sức hàm ơn ông.
- Chính tôi phải cảm tạ ông mới phải, En-driu (2) ạ!
- Cảm tạ tôi? Về cái gì?
- Về tình bạn ông đối với chúng tôi.
- Tình bạn loại trừ khái niệm “tạ ơn”, ông Giôn ạ, ít ra thì cũng là người Nga chúng tôi nghĩ thế. “Tạ ơn”, có gì đó gắn vào với chuyện kinh doanh.
- À, thế nhân chuyện kinh doanh, ông có thể giúp tôi được không?
- Việc gì vậy?
- Tôi rất muốn gặp đại diện thương mại của các ông.
- Không có vấn đề gì khó, để tôi sẽ thu xếp. Nhưng về đề tài gặp gỡ?
- Về Na-gô-ni-a ấy mà.
- Ông có can hệ gì đến Na-gô-ni-a?
- Cũng như các ông thôi, tôi nghĩ đến tương lai của nước này. Chính phủ nước tôi bày tỏ sự quan tâm sâu sắc về việc các ông cung cấp thiết bị kỹ thuật. Mà tôi sở dĩ biết chuyện này vì hãng tôi đang nghiên cứu làm thế nào cho các thiết bị của các ông chóng hỏng!
- Các ông giở trò vô ích thôi, Giôn ạ, chả lẽ các ông muốn có thêm một Việt Nam thứ hai?
- Chúng tôi thì không. Nhưng chính các ông muốn có đấy, En-đriu ạ! Đừng nghĩ rằng tôi ủng hộ Chính phủ tôi, ở đó cũng không có nhiều những đầu óc thông minh lắm đâu, tuy nhiên, cũng gọi là có dăm ba kẻ có nếp nhăn ở vỏ não. Chúng tôi đã không nhúng vào Na-gô-ni-a, chính là các ông đã thò tay vào đó. Các ông đã ký hiệp định với Gri-xô, vậy là nếu có chuyện gì, thì các ông sẽ viện trợ quân sự cho ông ta chứ gì.
- Ở vào địa vị tôi thì tôi sẽ chi viện.
- “Ở vào địa vị tôi”! Ông đâu phải là Chính phủ. Nói chung, dân chúng các ông ủng hộ một hành động như thế không?
- Dứt khoát là ủng hộ rồi.
- Chà, đấy mới đúng là cách trả lời của đàn ông…
- Khi nào ông có thể nói lại với xếp của ông?
- Ông hãy gọi điện vào khoảng 3 giờ chiều mai, ô-kê?
- Thoả thuận thế nhé. Nhờ ông chuyển lời hỏi thăm của tôi đến bà vợ kiều diễm của ông, En-đriu ạ.
- Cảm ơn ông.
- Khi nào ông đón bà ấy quay trở lại đây?
- Khi nhà tôi xong công việc ở Mát-xcơ-va.
Họ bắt tay nhau rổi chia tay. Cũng như mọi buổi tiếp tân, buổi này được tổ chức chào mừng dàn nhạc Xô-viết đến Luy-xbua, cũng là một hình thức của công tác ngoại giao: ở đó người ta hẹn nhau gặp gỡ, đề cập đến những vấn đề đáng quan tâm, tuy không phải bao giờ cũng đáng quan tâm cho cả hai phía, trao đổi những thông tin đã được hiệu chỉnh chính xác và với liều lượng chính xác.
Còn Glép, sau khi rời khỏi chỗ Dô-tốp, đến trao đổi mấy câu xã giao lịch thiệp với tham tán về văn hoá của sứ quán, tỏ bày sự hào hứng của mình với nhạc trưởng dàn nhạc, ôm lấy anh một cách thân thiện và nói đùa:
- Khi quả núi không chịu đến với Ma-hô-mét, thì đã có Đức Phật triệu tập hội nghị các nước không liên kết lại với nhau (3). Chào Vít thân mến, ông biến đi đâu thế?
- Chỉ có ông biến đi mất, chứ tôi vẫn đang gắng làm việc đấy thôi.
- Ái chà chà, cái công việc quỷ quái ấy chứ gì!
- Cũng không đến nỗi quỷ quái lắm đâu!
- Tôi muốn nói gánh nặng của công việc, chứ không đề cập đến mục tiêu, Vít ạ!
- Tôi cũng đang nói về vấn đề ấy đấy, có điều gánh nặng của công việc không ai gọi là quỷ quái bao giờ! Còn nếu nói về gánh nặng mà chiếc xe “Fi-át” nhỏ bé của tôi thì lại là chuyện khác: Hãy thử mà bứt ra khỏi những con mắt tò mò, đi. Ở đây người ta quá tò mò phải thế không ông?
- Người ta theo dõi ông không rời chứ gì? – Glép thở dài – Làm thế nào được, phải quen đi thôi. Bọn họ còn theo dõi tôi cả ở trong cầu tiêu nữa ấy!... Thôi, hôm nay Pi-la đang đợi chúng ta để thết món Xpa-ghét-ti (4) đấy. Ông có thích ăn Xpa-ghét-ti không?
- Tôi thích, nếu có nhiều. Một nữ diễn viên Pháp thông minh đã nói thật chính xác về sự khác nhau giữa bàn ăn Mát-xcơ-va và bàn ăn phương Tây. Cô ta bảo: “các tủ kính bày hàng ở Mát-xcơ-va thì thật sơ sài, trông chẳng có gì hấp dẫn, nhưng nếu bạn đến chơi bất kỳ nhà ai thì nào cá hồng khô, nào giăm bông, nào phó-mát, chẳng thiếu gì! Còn bên chúng tôi thì các tủ kính bày cứ hoa cả mắt, thế nhưng đến chơi thì người ta chỉ mời bánh quy với cốc nước chè thôi!”. Nhận xét vui đấy chứ?
Glép phì cười:
- Được quá! Ác khẩu. Nhưng đúng! Sẽ có Xpa-ghét-ti, không những có cả phó-mát, mà tôi sẽ bảo để Pi-la chuẩn bị có cả thịt nữa, dù phải phá sản cũng cam… và ông sẽ tự đến, hay là tôi phải tìm cách nẫng ông ra khỏi lưới giám sát của các tay pin-kéc-tơn (5) địa phương?
- Thế thì để ông đánh tháo cho tôi hơn… Như thế về phía ông thật đĩnh đạt hết chỗ nói.
- Được, trước tiên để tôi đi kéo người thân của ông trước, sau rồi sẽ lên chỗ ông.
- Người thân của tôi, cô ấy lại ở Mát-xcơ-va kia, Giôn ạ!
- Tôi nói Pôn đấy!
- Ái chà, ông ấy đã là người thân của tôi ư? Ông phải chúc mừng tôi mới phải, có Pôn Đích là người của mình thật hết sức vinh dự.
- Ông ta đã đem câu chuyện về lão Nga xấu số ra để căn vặn tôi suốt.
- Lão Nga nào?
- Cái lão đã chữa cái ra-két cho ông ấy.
- Ác-khíp-kin, Bê-liu. Thế lão ta đúng thật là người Nga à?
- Hẳn rồi. Và người ta đã gọi lão hệt như Pôn đã gọi ông: I-van, Ai-ven.
- Tin ông lão chết đã đăng trên báo chưa?
- Có lẽ hiện giờ thì chưa. Tôi có các bạn làm việc ở FBI (Cục điều tra liên bang) nhưng đóng ở đây, họ cho rằng đăng tin này hãy còn sớm, ít số liệu. Họ cho rằng vụ này còn rất hay, chưa thể bình luận ngay được.
- Nếu ông biết thêm điều gì mới thì nói cho tôi hay với nhé.
- Ông định viết về số phận tên di cư xấu số ấy chăng?
- Nếu đó là một số phận ly kỳ thì sao lại không viết? Tôi sẽ viết đấy, nhất định thế!
- À, ông đã đọc tuyên bố của ông Ô-ga-nô chưa?
- Ông ta luôn có nhiều tuyên bố lắm, ông định nói về cái tuyên bố nào?
- Tuyên bố hôm nay. Các gã ký giả bên phía chúng tôi đã lọt vào gặp được ông ta, - ông ta vốn hay xua đuổi họ - báo chí đế quốc mà lại…
Xla-vin bật cười.
- Ông ta không chơi bóng bàn đấy chứ?
Glép chưa hiểu ra ngay, vươn người về phía người đối thoại – theo thói quen – và hỏi:
- Bóng bàn? Sao vậy? Ông định ngụ ý gì?
- Tôi ngụ ý đến một nền ngoại giao – Xla-vin đáp – Ông có nhớ đã từng có một kiểu ngoại giao như thế rồi không?
- À, đó là những trò chơi của tiến sĩ Kít-xinh-giơ. Nói chuyện với ông khó quá, ông quá am hiểu so với một ký giả, Vít ạ!
- Một ký giả không am hiểu thì thật là điều phi lý! Ông ạ, vậy ông Ô-ga-nô gần đây nhất đã tuyên bố những gì?
- Ông ta nói rằng cả các cố vấn của các ông, cả hàng hoá vẫn cung cấp cho Na-gô-ni-a, cũng không cứu vãn được cho Gri-xô khỏi sụp đổ. Ông ta bảo, đó chỉ là vấn đề của ba bốn tháng tới.
- Tôi nhớ, trước đây ông ta cũng đã tuyên bố thế rồi!
- Phải, chỉ có điều ông ta chưa nêu được thời hạn như bây giờ.
“Vậy là, bọn chúng đã có một thời hạn xác định – Xla-vin nghĩ – Tên kia dám để lộ thời hạn ba, bốn tháng là tối đa, cũng không phải thừa - Bọn chúng phải bắt đầu sớm hơn thế nhiều”.
Về nhà, Glép vào ngay phòng làm việc, hạ cửa sổ xếp nếp xuống cho kín, vặn nhạc to lên, lấy máy ghi âm nhỏ từ trong túi ra. Mi-crô được lắp trong một cái đồng hồ, rất tiện; hắn nối nó vào một hệ thống máy đặc biệt và bắt đầu chăm chú nghe. Các câu nói của Dô-tốp: “Chỗ tôi cũng có một cái máy Xê-rôx tuy ọc ạch nhưng tôi sẽ cố gắng tự sao chụp lại”, “Cám ơn ông Giôn, tôi thật hết sức hàm ơn ông”, “không có vấn đề gì khó để tôi sẽ thu xếp”, “ở vào địa vị tôi thì tôi sẽ chi viện”, “dứt khoát là ủng hộ rồi”, “ông hãy gọi điện vào khoảng ba giờ chiều mai, ô-kê!” hắn ghi sang băng có độ nhậy cao và cất nó vào két.
Thay quần áo xong xuôi, hắn đến chỗ Pi-la, chuyển cho ả cái máy ghi âm bé xíu thứ hai và nói:
- Tiểu thư xinh đẹp ơi, em sẽ phải hôn Dô-tốp, nói với hắn “Anh yêu quý” và trò chuyện sao cho hắn nói với em những lời sau đây: “Mệt quá, không thể làm hơn được nữa”, “Thôi kệ mọi thứ!”. Em có ba tiếng để hoàn tất kịch bản, kịp chứ? – Em hãy ngẫm nghĩ cho khéo, vì trong băng ghi âm chỉ ghi đủ có bốn mươi phút thôi, rõ chưa? Em nhớ bảo A-li-xa làm thêm thịt vào món Xpa-ghét-ti nhé. Tay Xla-vin này biết đòi hỏi những gì hắn muốn đấy. Hiện giờ ta hãy chịu khó chiều hắn một chút, được chứ?

(1) Xerox: Các máy sao chụp chính xác và nhanh chóng do hãng Rank – Xerox của Mỹ chế tạo (ND).
(2) Tên An-đrây đọc theo âm tiếng Anh (ND).
(3) Ngạn ngữ các nước Hồi giáo: khi nào quả núi không đến với Ma-hô-mét thì Ma-hô-mét sẽ tự mình đến với quả núi (ND).
(4) Món mì sợi Ý rất mềm và ngon (Spaghetti).
(5) Pin-kéc-tơn (Pinkecton): tên một hãng thám tử tư có tiếng ở Mỹ về sau trở thành danh từ chung để chỉ các thám thử (ND).


Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN 21

NHỊP ĐỘ

“Bạn thân mến, chúng tôi sung sướng chuyển đến bạn lời chào của P. kiều diễm. Theo đề nghị của P. chúng tôi xin thông báo là công việc của bạn tiến triển rất tốt, và những cổ phần mà cô ấy kiếm được từ tiền thưởng của bạn đã được bỏ vào một công việc đáng tin cậy, có thể trông đợi 12 đến 13 phần trăm lãi cho mỗi khoản vốn. Xin báo là tiền thưởng của bạn gồm 32.772 đô-la 12 xu. Tuy nhiên, do bạn đã yêu cầu gửi thuốc men, những đồ vàng bạc, nên chúng tôi đã chi đi 641 đô-la 3 xu, do vậy, số tiền còn lại là 32.131 đô-la 09 xu. Theo đánh giá của người chỉ huy chúng tôi, bạn sẽ đóng góp một phần lớn lao vào sự nghiệp giải phóng Na-gô-ni-a khỏi chế độ cộng sản. Yêu cầu bạn tiếp tục thông tin thường xuyên. Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề chúng tôi quan tâm hơn hết là: Ở Mát-xcơ-va có biết gì về sự giúp đỡ của chúng ta cho các nhóm đối lập chánh phủ và nếu biết thì cụ thể biết những gì? Sẽ có sự mở rộng viện trợ cho chế độ Gri-xô không? Chúng tôi rất quý các tin báo kịp thời của bạn về thời gian và nơi xuất phát các đoàn tàu thuỷ. Nay mai, chúng tôi sẽ gửi cho bạn những hướng dẫn mới và tất cả những gì lần trước bạn yêu cầu. Chúng tôi rất vui mừng vì mọi lo ngại của bạn giờ đã có thể loại bỏ. Sắp tới có lẽ chúng tôi đề nghị tạm nghỉ liên lạc bằng vô tuyến một thời gian để bảo mật, và sẽ thảo luận những hình thức làm việc mới cho giai đoạn tiếp. Xin chân thành chúc mừng bạn. Các bạn L và G của bạn”.
*
* *
“Gửi Cục tình báo Trung ương Hoa Kỳ. Tối mật. Bộ phận vạch kế hoạch chiến lược.
Chiến dịch “Ngọn đuốc” đã bước vào giai đoạn cuối. Mọi việc chuẩn bị đã hoàn tất. Cần liên lạc với lầu Năm góc về vấn đề cung cấp máy bay lên thẳng cho Ô-ga-nô vào thời gian gần nhất.
Các giai đoạn của kế hoạch:
Vào ngày N. (thứ bảy hoặc chủ nhật, rất…

thiếu trang 179,180,181,182

- Họ có đánh điện cho Dô-tốp không?
- Theo chỗ tôi biết thì không.
- Sao vậy?
- Trên thực tế, hai người đã ly dị rồi, họ sống mỗi người một nơi.
- Chị ta ốm khi nào?
- Ông già láng giềng của Đu-bốp kể là chị ấy bị quỵ từ buổi chiều. Đu-bốp xoa mù-tạt cho chị ấy, cho xông bằng mù-tạt, vỗ vỗ chân cho ra mồ hôi, anh ta lóng nga lóng ngóng, ông già nói thế, nhưng đã làm đủ mọi cách. Sáng ra anh ấy gọi xe cấp cứu, nhưng đã muộn.
- Tôi chẳng hiểu gì cả - Côn-xtan-ti-nốp nhắc lại - Chẳng thể hiểu cái quái gì cả!
Và ông gọi điện cho ban giải mã.
Pa-nốp báo cáo là đã ba ngày trở lại đây - tức là sau cái chết của Vin-te, không thấy có các bức điện vô tuyến đánh từ trung tâm tình báo CIA nữa.
- Vậy là chính chị ta đã thu những bức điện kia? – Côn-xtan-ti-nốp đăm chiêu hỏi, mắt nhìn sang Prô-xcu-rin.
- Chẳng thế, còn ai vào đây nữa!
- Ôi chao – Côn-xtan-ti-nốp lắc đầu, lấy điếu xì-gà ra, từ từ bóc lớp giấy bóng kính – Cho mọi người tập hợp, ta sẽ bàn bạc tình hình.
*
* *
Tuy nhiên, đến sáng hôm sau, vào hồi 7h15, như trước kia, trung tâm tình báo ở A-ten của CIA đã đánh cho tên gián điệp ở Mát-xcơ-va bức điện ngắn (1).
- Vậy là không phải Vin-te? – Côn-xtan-ti-nốp mời Prô-xcu-rin và Pa-nốp lên và hỏi.
- Cũng rất có thể là bọn chúng chưa kịp hay biết gì về việc chị ta chết đột ngột – Prô-xcu-rin không đồng ý!
- Cũng có thể… Thế Vin-te làm gì vào những ngày cuối cùng? Gặp gỡ với ai? Nói những chuyện gì?
- Rai-xa Ni-a-mê-tô-va nói là Vin-te đã ở chỗ chị ấy trước hôm chết, một cuộc gặp gỡ bình thường của các bạn gái, không có gì quan trọng cả, vui vẻ nữa, thế thôi.
- Đồng chí có hiểu tí gì không? Côn-xtan-ti-nốp hỏi Pa-nốp – Tôi thật không hiểu ra làm sao nữa. – Ông quay sang Prô-xcu-rin - để tôi sẽ đến gặp Rai-xa Ni-a-mê-tô-va nhé, dẫu sao tôi cũng có biết Vin-te, câu chuyện có thể có giá trị hơn. Anh báo trước cho chị ấy nhé, càng sớm càng tốt…
Tuy nhiên, ông phải hoãn lại cuộc đến thăm Rai-xa: Trung tướng Phê-đô-rốp đột ngột gọi Côn-xtan-ti-nốp, Prô-xcu-rin và Cô-nô-va-lốp lên. Mặt ông nhợt nhạt, nhợt nhạt đến mức xanh xao. Ông ngồi sau bàn, tay đặt lên phía trước và có thể trông rõ các ngón tay của ông đang nắm chặt hộp bút chì màu, các móng tay tím nhợt hẳn ra.
- Điều này cũng không là khám phá mới mẻ gì với các đồng chí – Ông nói - nếu như tôi khẳng định là trong tình báo, không ai tiến hành cuộc độc thoại bằng vô tuyến suốt trong một năm. Phải có hồi âm – đó là kẻ mà ta chưa có một khái niệm nào. Đây là một cuộc đối thoại mà sự sôi nổi của nó – như ta đã có dịp chứng minh - phụ thuộc vào tình hình căng thẳng đang dần tăng lên hiện nay trên lục địa châu Phi, cụ thể là Na-gô-ni-a. Kết luận thật rõ ràng: nguồn đưa tin là một kẻ rất am hiểu, hắn thông báo cho các ông chủ của hắn một loạt lĩnh vực rộng lớn của các vấn đề. Như thế là mỗi cuộc đối thoại đều làm thiệt hại cho chúng ta. Xác định mức độ thiệt hại này, hiện chưa thể làm được. Chúng ta sẽ xác định nó, nhưng càng làm muộn bao nhiêu càng phải trả giá đắt bấy nhiêu. Còn bây giờ các đồng chí hãy xem thông báo đặc biệt khẩn mà tôi vừa nhận được…
Phê-đô-rốp mở cặp giấy đỏ, dặng hắng và đọc chầm chậm như đánh vần từng chữ:
“Hôm nay vào hồi 5 giờ sáng, chiếc tàu vận tải U-xpen-xky, đăng ký tại cảng Ô-đét-xa, đã bị nổ khi đi vào cảng Luy-xbua với toàn bộ số hàng gửi cho Na-gô-ni-a. Chiếc tàu từ cảng Muốc-man-xcơ, chở máy móc nông nghiệp, xe vận tải và thuốc men. Ba nhân viên trong đội tàu đã hy sinh”.
Phê-đô-rốp chậm rãi nhìn các cán bộ công an một lượt rồi lại nắm tay vào và chuỗi tay ra, như thể cố làm cho nó ấm lên:
- Tôi cho rằng hành động này là trò phiêu lưu tự biên tự diễn của CIA; chính phủ chúng chưa thể chuẩn y cho một hành động trâng tráo như thế. Rốt cuộc là bọn chúng đã hiểu, tình hình phải làm như vậy và không thể giấu được hành tung của chúng nữa.
Phê-đô-rốp im lặng một lúc, rồi ông nói không kìm được nữa:
- Tôi nghĩ rằng sau khi nghe được tin báo về tai nạn của chiếc tàu chúng ta như thế, thì đến ngay cả Phê-lích Ét-mun-đô-vích (2) cũng sẽ xin từ chức. Rõ chưa? Xla-vin thì ngồi ngâm cứu ở Luy-xbua, các anh ngồi đây mà vạch kế hoạch, trong khi chúng giết người, phá hoại phương tiện kỹ thuật!... Các anh không tìm ra được thì cứ nói, để tôi còn thu xếp, cắt cử người khác!
Côn-xtan-ti-nốp nói nhỏ:
- Xla-vin đang thực hiện nhiệm vụ của mình một cách xứng đáng, chỉ có tôi, tôi xin sẵn sàng từ chức ngay.
Phê-đô-rốp rút tay khỏi bàn.
- Về việc anh từ chức thì hãy gượm: trước tiên anh hãy làm cho xong việc đáng phải làm đã. Có vậy thôi. Mời các anh về nghỉ.

(1) Nội dung bức điện lúc đó vẫn chưa giải mã được như sau: “Hôm nay, chúng tôi đã đọc tín hiệu kiểm tra của bạn. Cuộc gặp gỡ sẽ diễn ra ở chỗ đã hẹn vào thời gian thường lệ. G và L của bạn” (tác giả chú thích).
(2) Tức P.E Dgéc-din-xky, nhà hoạt động phản gián Xô-viết nổi tiếng, đứng đầu cơ quan an ninh Liên Xô hồi đầu Cách mạng tháng Mười (ND).



PHẦN 23

TÌM KIẾM – IV

Sau khi nói chuyện với Côn-xtan-ti-nốp qua hệ thống liên lạc cao tần từ Sở Công an Ô-đét-xa, Gmư-ri-a vào quầy bán vé của hãng A-rê-rô-flốt và mua vé bay chuyến tối.
“Dù thịt một con cừu ghẻ cũng còn được một nắm lông, anh vừa nghĩ vừa rút chiếc quần bơi trong cặp ra. Bay đến tận Ô-đét-xa, mà không được tắm biển cho đã, thì thật ngốc! Hơn nữa, Sác-ghin, theo lập luận, thì đã ra khỏi danh sách. Chẳng còn bận bịu gì nữa, một cú nghỉ hè thật bất ngờ, anh hay gọi là “va-căng-xơ”! Anh rất thích cái từ gốc tiếng Pháp này, đến cả các chuyến nghỉ đi săn anh cũng gọi là “va-căng-xơ”. Vả lại, trong suốt những năm làm việc trong ngành pảhn gián – anh đã làm ở đó hai mươi nhăm năm cả thảy, trong tổng số bốn mươi bảy năm của đời mình, mà anh chưa có được một kỳ “va-căng-xơ” thật sự nào. Mùa hè không lôi cuốn anh lắm, và anh tránh xa việc xin vé đi nghỉ - chuyện vé này thật khó khăn, ngao ngán. Anh dành một tuần để mở màn đi săn vịt trời vào cuối tháng tám, hai tuần để săn lợn lòi vào tháng mười một, và nếu được phép săn bắn mùa xuân thì anh về A-khơ-tư-ri cuối tháng tư, lúc ấy vừa vặn vào mùa săn ngỗng phương Bắc.
Gmư-ri-a biết tính toán thời gian, việc săn bắn rèn luyện cho anh sự chính xác tuyệt đối về thời gian, nên nói chuyện với Mát-xcơ-va xong, anh vào quầy căng tin ngay - một miếng phó-mát mềm, một cốc sữa, một tách cà-phê thế là đủ, rồi ra bến ô-tô lấy vé đi ra bãi tắm, tiện thể hỏi xem tuyến xe nào đi ra sân bay “việc gì còn phải phiền đến anh em trong sở, lại cảm thấy bị lệ thuộc vào người khác, tự do muôn năm!”, rồi gửi cặp và đồ đạc vào phòng giữ đồ, bơi lội thoả thuê để về Mát-xcơ-va với nước da rám nắng!
Gmư-ri-a ghé vào quán ăn và chạm trán với Sác-ghin. Sác-ghin lơ đãng nhường bước Gmư-ri-a đi trước, tiếp đó là Van Dê-gơ của hãng “Tờ-rết Co-pô-rây-sần”, sau rốt, chính là Sác-ghin.
Trong quán vắng vẻ, khách ở khách sạn có việc đi tắm mát, những người đi nghỉ thì đang ở ngoài bãi phơi nắng, Sác-ghin ngồi với Van Dê-gơ bên cửa sổ, cạnh một cây cọ, cái cây dường như để trả thù việc người ta chở nó từ châu Phi đến, cứ mọc cao ngồng lên – còn nửa mét nữa thì sẽ chạm trần. “Sao Van Dê-gơ lại ở đây nhỉ? – Gmư-ri-a nghĩ – Sác-ghin bay đi có một mình cơ mà!”
Giữa lúc đó ở bàn bên họ đang nói chuyện rất nhỏ bằng tiếng Anh. Sác-ghin thì thào:
- Thật không đúng đắn chút nào, ông đã “dẫn tôi vào tận tu viện” mất rồi.
- “Dẫn vào tu viện” nghĩa là thế nào? – Dê-gơ không hiểu. (Sác-ghin nói với những thành ngữ quá chuẩn, theo đúng các quy tắc ngữ pháp, khiến cho thứ tiếng Anh hàn lâm viện của anh ta quả là khó hiểu!)
- Nghĩa là từ nay về sau, tôi sẽ không thể giúp ông như đã làm trước đây được nữa.
- Rất không hay, Lê-ô ạ. Không hay đối với cả ông và cả tôi.
- Thế thì ông hãy thực hiện những lời hứa của mình đi.
- Ông nghĩ rằng cái đó chỉ phụ thuộc vào một mình tôi hay sao?
- Nhưng ở đây ông đại diện cho quyền lợi của hãng phải thế không?
- Tôi cố gắng làm việc đó, Lê-ô ạ. Nhưng đâu phải mọi thứ đều tùy thuộc ở tôi? Tôi không phải có toàn quyền như cảm tưởng ban đầu dễ lầm. Việc bảo vệ uy tín là điều lừa gạt thôi. Tình hình càng nát trong giới chóp bu của công ty tôi, người ta càng gửi cho tôi mác ô-tô thật sang trọng, càng cho tôi chi nhiều tiền, để tôi có đủ phương tiện làm phách và thết đãi các bên ký kết của tôi, thế thôi!
- Ông thết đãi ai là việc của ông, nhưng tôi cần nhìn vào sự thông minh tối thiểu ở các ông chủ của ông. Nếu họ vung tuyên bố của họ ra, thì đối với tôi, như vậy coi như kết thúc, ông thấy không? Tôi hoàn toàn tỉnh táo khi tôi nói đây, ông Dê-gơ ạ!
Rồi Sác-ghin quay lại, lấy tiền, tiến đến chỗ cô thu tiền ở quầy hàng thanh toán. Nhưng Van Dê-gơ vẫn chưa đứng dậy.
- Ta đi thôi – Sác-ghin nói – cùng đi nhé, phải làm cái gì chứ.
Gmư-ri-a gọi tắc-xi đến cơ quan an ninh, lại gọi cho Côn-xtan-ti-nốp và khi đã truyền đạt gần như nguyên văn cuộc đối thoại lạ lùng kia, mà anh là người chứng kiến ngẫu nhiên, anh yêu cầu cho phép anh được hành động tiếp tục.

“Gửi Trung tâm.
Suốt đêm Sác-ghin và Van Dê-gơ không ra khỏi phòng của Sác-ghin, cùng soạn thảo một bản tóm tắt báo cáo nào đó. Ba lần, họ xin đăng ký điện thoại gọi đi Luân-đôn, Mác-xây và La Hay, nhưng không gọi được vì đường dây bận.
Gmư-ri-a”

“Gửi Gmư-ri-a.
Hãy về Mát-xcơ-va. Về Sác-ghin yên tâm, đâu vào đấy cả!
Trung tâm”
*
* *
(Bản tóm tắt báo cáo mà Sác-ghin soạn trong căn phòng khách sạn ở Ô-đét-xa đã ghi nhận rằng, sau khi Van Dê-gơ nghe được lời đồng ý sơ bộ là sẽ bán dầu thô cho công ty anh ta - sự đồng ý có tính thân hữu, và chưa chính thức – đã đánh tê-lếch ngay cho ban giám đốc hãng, và họ đã đăng ngay lên báo chí tin đó; chỉ có điều đã tự ý nêu ra một cái giá hoàn toàn không thể chấp nhận được đối với Liên hiệp xuất nhập khẩu Liên Xô, mà người phải chịu trách nhiệm về việc định giá chính là Sác-ghin. Về phần Sác-ghin thì anh đã được đích thân Phó giám đốc Liên hiệp xuất nhập khẩu trao nhiệm vụ báo tin sơ bộ trên cho Van Dê-gơ, vì thế, trong câu chuyện ở quán ăn mà Gmư-ri-a đã chứng kiến, Sác-ghin đã bực dọc không vì cái gì khác, mà chính là do mánh lới vặt, không đứng đắn trong cam kết của anh bạn hàng phương Tây của mình).

Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
Để xem....

Thái Nhi chuyển lên từ phần 1-&gt;46.

- Hoa Tulip đen làm từ 1-&gt;5, và 11-&gt;23
- ConBo: từ 25-&gt;28
- Tre Xanh: 44

Vậy, Đình chậm chạp xí phần 41-43

Như vậy, đến bây giờ chỉ còn:

6-10, 24, 29-40, 45, 46

Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: Nguyễn Đình


Vậy, Đình chậm chạp xí phần 41-43

Như vậy, đến bây giờ chỉ còn:

6-10, 24, 29-40, 45, 46

Tre xanh đã đưa phần 45 lên lâu rùi, cha Đình già cả lẩm cẩm á.[&amp;:]
Nói với người mình không nên nói, mất lời
Không nói với người mình nên nói, mất người
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-27 14:36:40Hoa Tulip đen>
Hihi, NguyễnĐình ơi, không biết NĐ có già như Tre xanh nói không, chứ lẩm cẩm thì đúng rồi đó. HTLĐ xin tóm tắt lại như sau:

- HTLĐ đã đánh máy xong từ phần 1 -&gt; 24, phần 29
- Conbo2 đã đánh máy xong từ phần 25 -&gt; 28
- Tre xanh đã type xong phần 4445
- NguyễnĐình đã type xong phần 41 -&gt; 43

Vậy chỉ còn các phần sau chưa có người đăng ký type: 30 -&gt; 40 46.

Mong là các bạn cùng giúp sức để bộ truyện này sớm hoàn tất.
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
Tass được quyền tuyên bố (phần 41-43)

Phần 41 : GLÉP

Máy bay đưa Glép vào rừng thẳm phía biên giới. Lúc ấy là mười giờ đêm, trời đã tối hẳn, không còn nhìn gì rõ. Tuy thế khi đến gần sân bay quân sự, Glép lấy trong cặp ra bộ râu và ria mép giả, đính vào cằm, khuôn mặt hắn thay đổi đến mức không còn nhận ra được nữa.

Bốn mươi phút sau, chiếc trực thăng hạ cánh xuống vùng biển. Ô-ga-nô đứng cạnh đường, để lộ hai hàm răng trắng. Lòng trắng của hai con mắt hắn úa vàng, buồn bã - chắc do hắn uống quá nhiều rượu.
- Tôi rất vui mừng được gặp ông, ông Giôn ạ - Hắn vừa nói vừa nắm chặt bàn tay giá lạnh của Glép trong bàn tay to và mềm của mình - Ông định ở đây bao lâu? Hai giờ, hay hơn?
- Có thể ít hơn thế, ông Ma-ri-ô ạ?
- Thôi ta đi. Hôm nay tôi sẽ đãi món vây cá mập và ta sẽ nói chuyện tiếp với nhau trong khi ăn.
- Đã lâu tôi không ăn thịt cá mập - Glép thở dài, nói - Tôi mê món đó lắm. Ai nấu? Văn, cậu đầu bếp của tôi à?
- Văn quả là một tay đầu bếp cừ khôi. Cảm ơn ông đã giới thiệu cho tôi một người như thế
- Tôi không giới thiệu người xấu với ai bao giờ, ở Hồng Kông, Văn là người biết chiều tôi nhất.

Bữa ăn được dọn trên một chiếc giá gỗ dưới gốc dừa. Cạnh ba chiếc ghế có lưng tựa là những chiếc đuốc đang cháy, soi rõ bóng những tên gác trong bóng tối, tay bồng những khẩu tiểu liên do I-xra-en sản xuất, bé nhỏ như những khẩu súng gỗ trẻ con
- Ông Lưu đâu?
- Tôi ở đây - Có tiếng của Lưu từ trong bóng tối vọng lại - Tôi vốn thích sống ở nơi không ai trông thấy.
Glép quay người lại. Lưu, cố vấn quân sự, nguyên là người của Bắc Kinh cử đến Hồng Kông, từ bóng tối bước ra. Mặt lão có vẻ tái nhợt. Từ ngày được ngồi dưới “mái che” của Ngân hàng ông Lâm, lão gầy hẳn đi, già thêm, trán chi chít các nếp nhăn sâu.
- Sao, khó ở à? - Glép vừa hỏi, vừa bắt tay - Hay hồi hộp trước khi vào cuộc?
- Cả hai trường hợp tôi đều không có quyền.
- Vì theo lệnh bắt buộc hay vì ông tin vào thắng lợi?
- Vì cả hai.
Glép quay người về phía bàn:
- Ở đây quá nhiều người không cần thiết, ông Ma-ri-ô. Buổi nói chuyện hôm nay sẽ rất quan trọng.
- Lính bảo vệ của tôi không biết tiếng Anh, nên sẽ không hiểu một tý gì hết. Chúng chỉ là những thằng to xác đáng tin cậy.
- Theo tôi, ông Giôn lo thế là đúng - Lưu nói - T nên dạo quanh bờ biển một lát rồi chốc nữa mới vào bàn ăn món cá mập.
Lão khoát tay Glép bước đi:
- Điều tôi sợ nhất là Len-gli vẫn cứ gởi tới đây một điệp viên mới
- Mười ngày trước chiến dịch “Ngọn đuốc” bắt đầu? Có là ngốc mới làm thế - Glép nhếch mép cười khinh bỉ.
- Thế ông tưởng họ là những người thông minh cả hay sao? Tất nhiên đó sẽ là một điều ngu ngốc, nhưng dù sao tôi vẫn rất sợ.
- Hay là tôi nên gửi một bức điện cho đô đốc? O-ga-nô hỏi.
- Bằng mật mã của tôi?
Lưu cười, vẻ ngờ vực.
- Đại khái nội dung thế nào?
“Tôi đã đạt được những mối liên hệ rất thuận lợi với ông Glép, yêu cầu...”
Lưu giận dữ nhún vai, tiếp lời Ô-ga-nô:
- “Không gửi thêm điệp viên mới đến đây!”. Thậm chí, ông cứ viết thêm như thế này nữa: “Nếu không, người của tôi sẽ buộc phải bắn cả người lạ mới đến”. Như thế chứ gì?
- Cần phải hy sinh một hoặc hai người trong nhóm của ông - Glép nói - Vứt xác, rồi đưa tin lên báo chí: - Trong khi bắn nhau, một số tên khủng bố thuộc “Đội quân đỏ” đã bị trúng đạn...
- Không, hoàn toàn không được làm thế! - Lưu vội phản ứng ngay - Tôi ngạc nhiên vì ông đây, ông Giôn ạ, “Đội quân đỏ” có quan hệ với chúng ta. Còn việc Lô-ren-xơ bị giết, như tôi và ông phán đoán, chỉ là do bọn cánh tả. Bọn Nga hoặc bọn Cu-ba. Người của tôi đang cố gắn cái chết của Lô-ren-xơ với Na-gô-ni-a, và kết quả không đến nỗi tồi. Cần phải gọt giũa thêm chút ít để sau đấy ông có thể cho lên mặt báo. Nhưng hôm nay tôi mời ông lại đây, ông Giôn, không chỉ vì những việc đó. Ông thấy đấy, tất cả các yêu cầu của các ông, chúng tôi thực hiện ngay, thế mà các ông lại làm nhỡ chúng tôi đấy.
- Nhỡ việc gì?
- Hai tuần trước, ông hứa chuyển cho chúng tôi một số máy bay trực thăng nữa. Chúng đâu?
- Ông tưởng thu xếp mọi việc với Lầu năm góc dễ thế à?
- Nhưng tôi có kêu ca gì về việc liên hệ với Bộ Quốc phòng Trung Quốc khó khăn thế nào đâu! Ông vừa đánh một bức điện báo động thì một giờ sau, người của tôi tẩy chay Be-liu. Ông yêu cầu tách biệt Lô-ren-xơ ra - hai giờ sau chúng tôi đã bố trí dàn dựng xong mọi chuyện. Còn tôi có liên lạc với Bắc Kinh hay không, là việc của tôi, ông không quan tâm tới điều đó, có đúng thế không? Thế thì tại sao tôi phải biết quan hệ giữa ông và Lầu năm góc?
- Sẽ có máy bay trực thăng - Glép nói - tôi xin hứa chắc chắn như thế.
- Bao giờ?
- Tôi cần phải mang theo mình kế hoạch chiến dịch mà các ông đã chữa lại, theo những nhận xét và đề nghị mà tôi gửi đến. Tôi cũng yêu cầu để họ chuyển máy bay lên thẳng từ hạm đội đến đây ngay lập tức.
- Tốt lắm. Xin cảm ơn. Chúng tôi rất hy vọng vào ông, ông Giôn ạ. Còn đây là việc thứ hai. Ông hứa sẽ làm bọn Nga giảm việc cung cấp hàng hoá sang Na-gô-ni-a, sao thực tế lại hoàn toàn ngược lại?
- Tôi nghĩ, nếu các ông chuẩn bị tốt các tài liệu về cái chết của Lô-ren-xơ, chúng tôi sẽ dồn được bọn Nga vào chân tường. Báo chí sẽ yêu cầu nhà chức trách đóng cửa các cảng, không cho tàu của chúng vào. Tôi rất chờ tài liệu của các ông đấy.
- Ông có tin Xtau hoàn toàn không?
- Có.
- Ông trả tiền cho hắn à? - Ô-ga-nô hỏi.
- Chúng tôi là bạn với nhau - Glép mỉm cười - tôi tin con người đó.
- Ai sẽ lo việc những tên Nga mà ông định dính vào vụ Lô-ren-xơ?
- Xtau. Ông ta cần có xác chết. Và bí mật sẽ được tiếc lộ ra là : Xla-vin, người Nga, có liên hệ và trợ cấp tài chính cho “Đội quân đỏ”, một tổ chức đã giết vị thương gia Mỹ một cách dã man.
Lưu nhăn mày lại:
- Theo tôi, làm thế là nhiều mùi mẫn quá, ông Giôn ạ. Ngay từ Hông Kông tôi đã nhận thấy ông thiên về mặt tình cảm. Đừng nhắc đến “Đội quân đỏ” không cần phóng đại nhiều quá.
- Phóng đại là sự giả dối của người lương thiện - Glép thở dài, đáp.
Lưu lại khoát tay Glép, đi về phía bàn ăn.
- Ông Giôn, ông không có cảm giác là ở Oa-sinh-tơn đang có người chống việc giúp đỡ chúng tôi một cách thật sự à?
- Có. Đó là “Những nhà chính trị có đầu óc hiện thực”, một lũ ăn hại, những nhà bảo vệ hoà bình. Hình ảnh của Ken-nơ-đi đã không để chúng yên, vâng Ken-nơ-đi, và nhất là Ru-dơ-ven.
- Nhưng đô đốc là người cứng rắn chứ? Và ông ta sẽ không chịu nhún các “nhà hiện thực” kia?
- Không, tôi tin là không. Mong sao chóng bắt đầu, ông Lưu ạ. Khi Ma-ri-ô hành động, khi đội quân của ông ta nhảy vào Na-gô-ni-a, tất cả chúng ta sẽ phải vào cuộc một cách thực sự, phải cho ngay máy bay tới đây, phải gởi quân đổ bộ đến... Mong sao bắt đầu.
- Ông nghĩ thế nào, nếu chúng ta bắt đầu ba ngày trước thời hạn dự định?
- Bây giờ thì tôi chưa thể trả lời được... Chúng tôi đang chờ những tin tức cuối cùng...
- Từ đâu?
- Từ một người đáng tin cậy của chúng tôi.
- Nhưng thường thì tin tức lại do những người không đáng tin cậy cung cấp, ông Giôn ạ.
- Trong mọi cái thường lệ ông nói , vẫn có những trường hợp ngoại lệ.
- Người ấy sẽ cung cấp cho các ông loại tin gì?
- Chúng tôi chỉ chờ ông ta cho biết: bọn Nga sẽ phản ứng thế nào khi biết Ma-ri-ô nhảy vào Na-gô-ni-a?
- Lúc ấy sẽ muộn mất, thưa ông Giôn - Ô-ga-nô lên tiếng - chỉ cần ba giờ sau khi chúng tôi ra tay hành động. Bọn Nga đã phải khoanh tay ngồi im và buột lòng phải công nhận chính phủ của tôi. Nhưng thôi, xin mời các bạn ngồi xuống. Cái món cá mập này, cần phải ăn ngay, nếu không, sẽ không còn hương vị của nó.
- Kế hoạch hành động của ông đâu, Ma-ri-ô? - Glép hỏi - ý toi muốn nói về kế hoạch đã được ông Lưu bổ sung.
- Nó ở đây - Ô-ga-nô đáp, chỉ ngón tay vào túi áo khoát.
- Ma-ri-ô không bao giờ báo tin gì với Len-gli bằng mật mã của mình chứ?
- Để làm gì? - Lưu nhún vai - Chúng tôi chỉ quan tâm tới việc rằng chính ông sẽ là đại diện CIA ở đây, sao chúng tôi phải vượt qua mặt các ông làm gì? Chúng ta vạch ra kế hoạch, và chúng ta sẽ hành động theo kế hoạch đó, ông Giôn ạ. Còn đây là điều cuối cùng: ông có thể giúp chúng tôi bằng các khả nang của ông ở Mát-xcơ-va được không?
Glép trải chiếc khăn ăn lên đầu gối, mân mê chiếc cốc nhỏ trên tay rồi nhìn Ô-ga-nô
- Ông muốn uống uýt-xki hay rượu Gin? - Ô-ga-nô hỏi.
- Rượu vốt-ca Nga.
- Tôi đang chờ câu trả lời của ông, ông Giôn.
- Ông sẽ không bao giờ nhận được câu trả lời đó.
- Ông Giôn, chúng ta đã là bạn với nhau đã mười năm. Tôi đã lôi ông ra khỏi đống rác Hồng Kông, còn ở đây, sau khi đẩy Lô-ren-xơ ra xa, tôi chính là người vực ông dậy. Mong ông đừng cản trở con đường đi lên của chính ông.
- Tôi sẽ trả lời ông Lưu khi nào Ma-ri-ô nắm được quyền ở Na-gô-ni-a, được chứ?
Lưu lắc đầu:
- Đừng cản trở con đường leo thang lên cao, ông Giôn. Tôi không cần tên và biệt danh các điệp viên của ông. Nhưng cứ theo những việc ông đã làm cũng là khá thành công, thì có thể nghĩ rằng ông đang có người ở Mát-xcơ-va. Tôi sẵn sàng đánh đổi tin tức của ông từ Mát-xcơ-va để lấy sự giúp đỡ an toàn cho họ. Các điệp viên của ông được che giấu cẩn thận chứ? Ông có tin là họ sẽ không bị đe doạ, và lộ tẩy không?
Glép uống hết cốc vốt-ca mà Ô-ga-nô vừa rót, rồi thở dài, đáp:
- Ông khỏi phải lo cho số phận các nhân viên của tôi, ông Lưu. Họ được che giấu tốt đến mức có thể nói là an toàn tuyệt đối ít nhất cũng trong vong nửa năm sắp tới.
- Tuỳ ông. Với tư cách một người bạn, tôi cho mình có nhiệm vụ và pảhi nói với ông những lo lắng của mình. Ông biết đấy, người Đức đã thất bại, vì họ quá kính trọng mình mà không đánh giá đúng mức đối phương. đừng lặp lại khuyết điểm những người anh em của các ông, cái giá để trả cho điều đó là đầu của các ông đấy. Tôi không tin là ông sẽ đạt được một điều gì đấy ở Đô-tốp: tính hai mặt không phải là một phương pháp tốt trong chính trị, mà ông thì rõ ràng đang muốn chuyển từ giới kinh doanh sang giới chính trị. Đúng là ông đang muốn điều ấy, phải không ông Giôn?
- Thưa ông Lưu thân mến, tôi đánh giá cao tình bạn của ông, thật vậy. Nhưng quả là ông hơi quá cứng nhắc trong các nhận xét của mình. Dô-tốp sẽ phải được khôi phục danh dự ông hiểu chứ? Anh ta sẽ tỏ ra mình là người chân thật như thế nào. Nhưng làm được điều đó, phải mất nhiều tháng mới xong, trong khi tôi với ông thừa biết là một điệp viên không thể làm việc hiệu quả lâu quá một năm. Ít ra là tôi cũng nghĩ như thế và không bao giờ mong hơn. Tôi cần làm sao để những người đáng tin cậy của tôi ở Mát-xcơ-va được bảo đảm an toàn trong vòng một năm. Còn sau đấy, thì trời có sụp, tôi cũng kệ. Vả lại, tôi nghĩ, sau này Ma-ri-ô sẽ mời tôi làm cố vấn kinh tế và tài chính cho ông ta. Thế là đủ, tôi không có tham vọng gì khác. Nào ông Ma-ri-ô, tôi xem bản kế hoạch đã được sửa chữa lại...

*
* *

“Cục trình báo trung ương Mỹ
Bản dự thảo kế hoạch chiến lược
Tối mật.
Với sự góp ý của giám đốc CIA, kế hoạch của giai đoạn chót chiến dịch “Ngọn đuốc” đã được điều chỉnh và hoàn thành như sau:
1. Ngày N - thứ bảy, bảy giờ sáng.
2. Dinh tổng thống sẽ được chiếm không chỉ bằng lực lượng đổ bộ có thiết giám yểm trợ, mà còn bằng cả quân nhảy dù - ngày kia sẽ có hai mươi máy bay trực thăng được đưa tới điểm O.
3. Gioóc-giơ Gri-xô sẽ được yêu cầu thông báo cho toàn quốc biết việc ông ta tự nguyện trao chính quyền cho tướng Ô-ga-mô
4. Trong trường hợp chống lại, ông ta sẽ phải tự tử.
5. Việc chôn cất Goóc-giơ Gri-xô sẽ do chính phủ Ô-ga-nô đảm nhận, sau khi tuyên bố quốc tang.
6. Ô-ga-nô sẽ yêu cầu không phải ta, mà Bắc Kinh giúp đỡ họ; hơn thế nữa trong lời kêu gọi của mình (xem nguyên văn kèm theo đây), ông ta sẽ còn lên án sự xâm nhập trái phép của lính thuỷ đánh bộ Mỹ.
Điệp viên của CIA
Giôn Glép”

Toàn văn lời kêu gọi của tướng Ô-ga-nô gửi nhân dân Na-gô-ni-a:

“Thưa đồng bào thân mến,
Xin đồng bào hãy nhận những lời chúc mừng chân thành nhất của tôi, nhân ngày đất nước được giải phóng. Cuộc nổi dậy chống ách đô hộ nước ngoài của chúng ta đã kết thúc thắng lợi. Đồng bào đã tín nhiệm yêu cầu tôi, và tôi đã đến với đồng bào để gánh lấy trách nhiệm phụng sự Tổ quốc.
Chúng ta vô cùng đau xót trước cái chết bi thảm của Gioóc-giơ Gri-xô, là người như chúng ta đã thấy, chưa được chuẩn bị thật đầy đủ để đảm nhiệm nổi nhiệm vụ nặng nề đã được giao phó. Điều đó không phải lỗi tại ông, mà là bất hạnh của cả dân tộc chúng ta, một dân tộc vừa mới cởi tung xiềng xích của chủ nghĩa thực dân nô lệ.
Tôi nghĩ rằng phong trào giải phóng dân tộc đã mang lại thắng lợi cho chúng ta, sẽ được bạn bè khắp thế giới nhiệt liệt hoan nghênh.
Tôi cần phải nói rằng, Bắc Kinh đã giang tay ra giúp đỡ chúng ta thật hào hiệp, trên tình anh em.
Và tôi cũng cho mình có nhiệm vụ phải lên án mạnh mẽ nhất cuộc đổ bộ của lính thuỷ đánh bộ Mỹ vào đất nước ta.
tôi muốn nhắc lại một lần nữa, rằng tôi sẽ phục vụ đến cùng sự nghiệp cách mạng dân tộc của chúng ta.
Chúa Trời và thắng lợi luôn luôn ở bên cạnh nhân dân ta”


Phần 42: CÔN-XTAN-TI-NỐP

Đạo diễn U-khốp ngày nào cũng gọi điện cho Côn-xtan-ti-nốp, vì các buổi tập của diễn viên đã hoàn thành mà cố vấn về nội dung cho đến nay vẫn chưa thấy đâu, còn hội đồng nghệ thuật lại không muốn quyết định một điều gì, một khi chưa nghe được ý kiến của nhà chuyên môn
- Thôi được, tôi sẽ tới chỗ các anh vào khoảng mười giờ - Côn-xtan-ti-nốp nói - Được không?
- Vâng, vâng, mười hai giờ cũng được - U-khốp reo lên - chỉ có ba người, là anh, đạo diễn Giê-nhi-a Các-lốp - Anh ta nói là anh ta biết anh - và tôi. Hoàn toàn không có vấn đề gì hết. Một giờ đêm cũng chẳng sao.
- Tôi có thể mời vợ tôi đi cùng được không? - Côn-xtan-ti-nốp hỏi - Để có dịp gặp bà ấy thư thả một tý!
- Xin mời, xin mời! tôi sẽ rất vui mừng… Dạo này anh bận lắm ạ?
- Không, kể cũng thường thôi.
… Côn-xtan-ti-nốp để lại cho người giúp việc số điện thoại của bộ phận quay và dàn cảnh, rồi gọi điện cho Li-đa, bảo bà chờ ông ở hành lang, đúng chín giờ năm mươi lăm phút.
- Anh không thể nói là mười giờ kém năm à? - Li-đa mỉm cười hỏi lại.
- Tất nhiên là có thể, nhưng nói thế, anh cảm thấy có một cái gì đấy yếu hẳn đi, có lẻ vì anh không thích chữ “kém”. Nghe nó thiếu hụt thế nào ấy - Côn-xtan-ti-nốp đáp.
… Trong phòng chiếu thử, ngột ngạt, hệ thống quạt không làm việc. Li-đa thận trọng ngắm nhìn khuôn mặt chồng - trông ông ấy gầy hẳn đi. Những ngày gần đây ông ngủ luôn ở Uỷ ban an ninh quốc gia, mỗi ngày chỉ ngủ ba tiếng.
Bộ phim nói về các chiến sĩ an ninh. Ngay từ khi công việc mới bắt đầu, Côn-xtan-ti-nốp đã phải ngồi suốt gần hai tuần để xem lại kịch bản; trang nào cũng đầy các dấu, chữ của ông; khi U-Khốp trông thấy, ông ta phải kêu lên, giọng rên rỉ:
- Ôi, Côn-xtan-ti-nốp I-va-nô-vích, xin ông đừng quên là kịch bản đã được duyệt.
- Nếu thế thì tôi còn cần gì cho các anh nữa?
- Sao lại không? - Anh phải xem hộ kịch bản đúng hay không, với tư cách một nhà chuyên môn.
- Thì tôi cũng chỉ làm việc đó thôi. Nhưng nếu tác giả viết thế này thì làm sao tôi không chữa được!
- Thế thì tôi phải làm gì với kịch bản của tôi bây giờ - U-Khốp thở dài, nói - Cũng phải vất vả lắm mới được thế, anh hiểu cho.
- Anh hãy mời tác giả của đoạn độc thoại này lại đây - Côn-xtan-ti-nốp nói. Ở phương Tây trong lĩnh vực điện ảnh có nhiều người thông minh làm việc. Anh hãy nhớ cho là họ thường hay mời các nhà văn, nhà văn khá hẳn hoi, đến xưởng để viết các đoạn độc thoại…
- Nhà văn khá và cũng được trả khá - U-Khốp lúng túng
- Và còn điều này nữa. Mặc dù bề ngoài diễn viên đóng vai gián điệp của anh không có gì đáng trách, nhưng dẫu sao vẫn thiếu sức thu hút, quả đúng thế.
U-Khốp quay người về phía cô Ma-sa đang đứng cạnh:
- Cô cho chúng tôi xem nh của các diễn viên khác. Anh này về bề ngoài, rất giống A-véc-kin. Ta sử dụng cả ảnh thật của anh ta trong phim chứ?
- Có đấy.
- Quả đúng như hai giọt nước. thật khó lòng mà phân biệt nổi ai thật, ai giả. Có điều, động tác không thật giống lắm - U-Khốp nói.
Tiếng máy chạy xè xè, Côn-xtan-ti-nốp thậm chí nheo mắt lại vì ngạc nhiên; người diễn viên thay thế mà người ta vừa giới thiệu gặp ông, quả giống, rất giống anh chàng đã đóng vai tên điệp viên kia trên phim.
- Sao, các anh hoá trang cho anh ta đấy à? - Ông hỏi.
- Vâng, Rim-ma của chúng tôi quả là thiên tại - Giê-nhi-a Các-lốp lên tiếng - cô ta có thể hoá trang đạt đến mức giống tuyệt đối.
- Thật không ngờ - Côn-xtan-ti-nốp nói, cảm thấy một thoáng hồi hộp lạ lùng, không cắt nghĩa nổi - Hoàn toàn thật không ngờ.
- Điện ảnh là nghệ thuật tổng hợp của những cái không ngờ - Các-lốp bổng phá lên cười to - Vừa rồi, tôi có một diễn viên đang đóng giở phim thì chết. Anh ta đóng vai chính, và để lại ba cảnh chưa quanh các anh hiểu chứ? Quay lại từ đầu à? Không được! Không ai người ta chi tiền để làm điều đó. Tôi bèn chọn một người thay thế anh ta và quay tiếp ba cảnh còn lại. Quay từ sau lưng, có lúc quay nghiêng - thế mà không một ai, kể cả những người chuyên nghiệp, nhận ra cái trò láu đấy của tôi.
Côn-xtan-ti-nốp đứng bật dậy. Khoát áo lên người rồi ngẩn ngơ đưa tay lên tìm điếu xì-gà:
- Này các bạn, xin lỗi, tôi phải về bây giờ.
Trở lại cơ quan, Côn-xtan-ti-nốp cho gọi Gmư-ri-a và Prô-xcu-rin tới:
- Cần một người đóng giả Du-bốp. Ngay hôm nay. Ngày mai anh ta sẽ ngồi lên xe của Đu-bốp. Chúng ta cần phải tìm được một người như thế. Và mỗi buổi sáng, anh ta sẽ phải lái xe của Đu-bốp ra khỏi nhà, đi từ bờ sông về phía trường đại học, đến trường, sẽ vào cổng chính, ra cổng hậu, cổng nhỏ, rồi trở về đây. Sau đấy đúng sáu giờ, lại lên xe, cho Ôn-ga cùng ngồi rồi trở về nhà Đu-bốp . Chỉ thế thôi. Chúng ta sẽ báo cho Ôn-ga biết mọi chuyện, chừng nào tìm được người đóng giả Đu-bốp.
- Cô ta sẽ không làm theo lời của ta đâu - Prô-xcu-rin nói. Cô ta đang yêu mà.
- Tôi sẽ cố tìm cách thuyết phục cô ta - Côn-xtan-ti-nốp đáp - Trước hết cần phải tìm người đóng giả. Không hiểu sao tôi có cảm giác là bằng cách này, chúng ta có thể nhử CIA nối lại mối quan hệ, có lẽ chúng im lặng là vì không thấy Đu-bốp. Chính Đu-bốp đã chẳng nói rằng hắn luôn được chúng quan sát là gì…?
- Nhưng chúng có thể nhận ra người đóng giả - Gmư-ri-a nói - và thế là chúng ta sẽ thất bại hoàn toàn, không một thằng nào chịu ló mặt ra nữa.
- Điều ấy còn phụ thuộc vào người đóng giả làm việc thế nào - Côn-xtan-ti-nốp nói - Chúng ta sẽ tìm cho anh ta đủ mọi thứ cần thiết, sẽ dạy cách đi lại, cư xử… Còn bây giờ thì thế này… Tôi đã kiểm tra những chỗ phát tín hiệu mà CIA đã báo cho Đu-bốp biết. Kết quả như sau: Chúng thường hẹn hắn đi theo những đường dưới đây để gặp. Một là: đường vòng Xa-đô-vai-a, công viên Văn hoá, đại lộ Lê-nin. Hai là: qua cầu Đô-rô-gô-mi-lốp; chạy dọc bờ sông, qua “Mốt-xphim”, đến trường đại học Tổng hợp rồi rẽ ra Đại lộ Lê-nin. Đúng không? Ba là: Đại lộ Mô-giai-xkơ, rẽ sang đường vòng nhỏ, đi ngang công viên Thắng Lợi, vượt ngang đại lộ Véc-nat-xki và đại lộ Lê-nin
- Đúng thế - Gmư-ri-a nói thật trầm.
- Ôn-ga có cho tôi biết chúng thường dừng lại cạnh một công viên nhỏ trên đại lộ trường đại học, sau đó ở cổng ra vào công viên Văn hoá Goóc-ky; Đu-bốp bao giờ cũng cho cô ta lên xe ở một địa điểm không hề thay đổi, đó là cạnh trường đại học, nơi mà chúng ta tạm dự đoán là “tín hiệu Park” (Công viên) chúng đi đến hai địa điểm kia vào cùng một thời gian: từ sáu giờ ba mươi đến bảy giờ. Xe của điệp viên CIA sẽ đi ngang đúng vào chổ ấy.
Gmư-ri-a và Prô-xcu-rin chú ý theo dõi ý kiến của Côn-xtan-ti-nốp
Ôn-ga còn nhớ lại, là hàng tuần, vào thứ ba họ tới cổng công viên Goóc-ky, và vào thứ năm thì tới vườn hoa trên đại lộ trường đại học Tổng hợp. Hôm nay đã là thứ hai…
- Nhưng biết lấy ai cho ngồi sau tay lái ô-tô bây giờ? - Prô-xcu-rin thở dài, nói - Không có người đóng giả Đu-bốp, làm thế nào được, Côn-xtan-ti-nốp I-va-nô-vích?
Prô-xcu-rin nhìn điếu xì-gà của Côn-xtan-ti-nốp một cách thèm muốn, thầm nghĩ khi ông bắt đầu nhả làn khói xanh, anh cũng hút ngay.
- Vâng, anh cứ hút đi - đoán được ý Prô-xcu-rin, Côn-xtan-ti-nốp nói - Không được hút thuốc, chắc anh khó chịu lắm! Này, mà cậu Ga-vri-kốp bây giờ ở đâu nhỉ?
Prô-xcu-rin và Gmư-ri-a đưa mắt nhìn nhau.
- Chết thật - Gmư-ri-a rất trầm giọng - Ga-vri-kốp quả có trông giống Đu-bốp đấy. Có điều anh ta quá nhanh nhẹn, hoạt bát, còn Đu-bốp thì làm ra vẻ bệ vệ, quan trọng: chả là hắn biết cấp trên bao giờ cũng thích, khi thấy cấp dưới của mình đường hoàng tự tin trong cả lời nói và việc làm.
- Và tôi, - Prô-xcu-rin nói xen vào, - tôi cũng thích các nhân viên cấp dưới có dáng đường hoàng nhưng điều đó không có nghĩa: Ai như thế cũng đều là gián điệp cả.
- Và ngược lại, sự nhanh nhẹn và tính hoạt bát không phải là đặc điểm cơ bản nhất của một người nói luôn miệng - Gmư-ri-a đáp lại - Ừ, Ga-vri-kốp quả giống Đu-bốp thật. Bây giờ anh ta đang chăm sóc ông bố ở bệnh viện.
…Một giờ sau, Côn-xtan-ti-nốp đã đưa Ga-vri-kốp từ bệnh việc về xưởng “Mốt-xphim”, vào phòng hoá trang. Gmư-ri-a đã chờ họ ở đây bốn mươi phút, trong va-ly của anh có hai bộ com-lê của Đu-bốp, cùng một số áo sơ-mi, cà-vạt của hắn.
Đạo diễn Các-lốp làm quen Ga-vri-kốp với nữ hoạ sĩ hoá trang Rim-ma Nhê-u-tơ-ê-va.
- Ri-mô-sca - ông nói, cô hãy làm cho anh chàng đẹp trai này trở thành một người khác hẳn. Thế nào, Đi-ma, chưa bao giờ đóng phim à? Và sợ các bà ở phòng hoá trang? Họ sẽ làm cho cậu chóng mặt lên đấy. Ảnh đâu?
Gmư-ri-a rút ra bứt ảnh của Đu-bốp từ ví ra.
- À, tôi mới nghỉ với ông này ở Pi-xun-đa - Rim-ma thở dài nói - Một người đàn ông lịch sự tôi quen, không biết tên là gì.
- I-go, Gmư-ri-a nhắc, hốt hoảng nhìn Côn-xtan-ti-nốp vì lo mọi bí mật sẽ bị lộ ra hết - I-go Pap-lô-vích.
- Không, chị hoạ sĩ đáp - Không phải I-go. Tôi nhớ là thế. Tôi hay quên tên, chứ họ thì tôi nhớ dễ hơn. Hình như là Đu-bốp.
- Chị nhầm rồi - Côn-xtan-ti-nốp nói - Chắc là chị nhầm. Họ của người này là Lê-xnhi-cốp. I-ga Lê-xnhi-cốp.
- Thế thì lạ thật - Rim-ma lẩm bẩm rồi nhẹ nhàng đẩy đầu Ga-vri-kốp lên lưng ghế - Thôi, kệ xác ông ta… Xin anh cứ tự nhiên, thế, thế… Nhắm mắt lại. Ấy, không được căng thẳng như thế…

*
* *

Sáng hôm ấy, Prô-xcu-rin gọi điện đến nhà an dưỡng, và trung tá về hưu Xi-đô-ren-kô trở về Mát-xcơ-va, sau thời gian đi nghỉ. Ông già mở cửa và nhìn thấy Ga-vri-kốp mặc quần áo Đu-bốp, có cả Côn-xtan-ti-nốp và Gmư-ri-a.
- Chào anh Xê-ri-ô-gia - ông nói.
- Không phải Xê-ri-ô-gia, hàng xóm của đồng chí đâu - Côn-xtan-ti-nốp nói - Đồng chí đã về trước hạn, xin cám ơn lão đồng chí. Còn đây không phải Đu-bốp - ông nhắc lại trước sự kinh ngạc của Xi-đô-ren-kô - đây là một cán bộ của chúng tôi, đồng chí hãy làm quen đi.
Ga-vri-kốp nhìn Côn-xtan-ti-nốp có vẻ dò hỏi. Có nên tự nói tên thật mình ra không? Và Gmư-ri-a nói hộ anh:
- Đại uý Ga-vri-kốp trong cơ quan của chúng tôi
- Chúng tôi rất muốn đồng chí giúp đỡ cho Ga-vri-kốp của chúng tôi - Côn-xtan-ti-nốp nói - Đồng chí hãy nhắc hộ xem cách thức Đu-bốp đi lại, đứng ngồi hút thuốc ra sao, có thể, đồng chí nhớ những nét gì đặc trưng của anh ta…
- Có điều, Đu-bốp hơi đẫy người hơn một chút. Phải cho anh này ăn khoẻ vào thì mới dễ ra dáng Đu-bốp. Xi-đô-ren-kô nói - Dẫu sao mặt mũi thì rất giống.
Ga-vri-kốp ngồi lên mép ghế bành và nói:
- Đồng chí thiếu tướng. Cho phép tôi hút thuốc?
- Xin mời đồng chí.
- Tôi sẽ bắt đầu đi lại, đứng lên, ngồi xuống, hút thuốc, còn đồng chí sửa cho tôi nhé - Ga-vri-kốp nói với Xi-đô-ren-kô.
- Xê-ri-ô-gia… À, Đu-bốp hút thuốc rất ngộ, - Xi-đô-ren-kô nói. Anh ta lấy điếu thuốc từ hộp ra thật đúng kiểu tay chơi, cặp bằng một ngón tay cho vào miệng, nhất thiết là ở phía bên trái miệng, rồi châm lửa, hút một hơi thật sâu.
- Giống những tay quan chức nhà đoan ở Anh, ở Iếc-lăng ấy - Ga-vri-kốp nói - Ngày còn đi học, xem trên phim, chúng tôi cũng bắt chước chơi trò hút thuốc theo kiểu ấy đấy. Và chắc hẳn, khi từ chiếc ghế bành đứng dậy, anh ta còn phải làm bộ chống hai tay vào đầu gối đã chứ…
- Đúng rồi, đúng thế đấy - Xi-đô-ren-kô nói - Anh thật thuộc tính nết của Đu-bốp quá!

*
* *

Ôn-ga, chào cô - Côn-xtan-ti-nốp nói, khi cô gái bước vào phòng ông - Hai người làm quen nhau đi! Cô gái nhìn Ga-vri-kốp kinh ngạc.
Xê-ri-ô-gia? - Cô nói với vẻ khác lạ - Không, không phải - Anh ta là anh em sinh đôi với Xê-ri-ô-gia à?
- Anh ta không có anh em sinh đôi, Ôn-ga ạ.
- Thế Xê-ri-ô-gia đâu?
- Chúng tôi bắt rồi.
- Sao? - Cô gái nhắm mắt lại như bị quáng, hai tay ôm lấy thái dương.
- Anh ta làm gián điệp, anh Xê-ri-ô-gia của cô ấy!
- Không thể như thế!
- Anh ta có nói gì với cô về Ôn-ga Vin-te không?
- Ai cơ? Chị ấy là ai?
- Đó là người phụ nữ bị anh ta giết, khi anh ta bị lộ mặt nạ. Và chỉ một ngày sau khi chôn cất cô ta, Xê-ri-ô-gia đã mời cô ta đi nhảy. Vâng, chính thế đấy, ở Pi-xun-đa ấy. Tôi nghĩ rằng, cô sẽ hiểu, những lời như thế, chúng tôi không nói vô trách nhiệm
- Vâng, rất tốt là các đồng chí tin tôi, tôi xin cảm ơn các đồng chí vì lòng tin đó - cô gái nói một cách khô khan, đôi mắt nheo lại và trở nên lạnh lùng - nhưng còn tôi, tôi không thể tin các đồng chí được
Côn-xtan-ti-nốp nhìn đồng hồ, chỉ còn một tiếng nữa phải ra trước công viên mà Ga-vri-kốp cũng chưa kịp thử lại xe của Đu-bốp cho quen tay.
- Có cái gì có thể làm cho cô tin được? - Ga-vri-kốp hỏi khẽ.
- Hãy cho tôi gặp Đu-bốp. Để tôi tự đặt câu hỏi cho anh ta, và anh ta mặt đối mặt trả lời tôi. Và sau đó, tôi sẽ xin hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
- Ta ra xe - Ga-vri-kốp nói - Rồi cô sẽ thấy rõ rằng mọi người nói với cô sự thật. Chỉ sau một giờ nữa thôi. Cô sẽ có bằng chứng.
- Sao, có người sẽ dẫn Xê-ri-ô-gia đến trước xe ư? Bị xiềng chứ? - Ôn-ga hỏi, và một nụ cười có nét gì độc địa thoáng qua trên môi cô.
- Không phải thế. Nhưng cô sẽ thấy là Đu-bốp chở cô trên xe ra chỗ hẹn ấy để làm gì - Ga-vri-kốp nói.
- Để làm gì?
- Sau một tiếng nữa cô khắc biết. Sẽ có một chiếc xe mang biển số ngoại giao chầm chậm lướt qua cô, từ khoảng 18 giờ 30 đến 19 giờ.
- Thiếu gì xe mang biển số ngoại giao ở Mát-xcơ-va này.
- Nhưng tôi nói rõ thời gian và địa điểm của chiếc xe sẽ đi ngang qua mặt cô kia mà. Đấy không phải chuyện ngẫu nhiên, đấy là một quy ước có tổ chức. Và cô chỉ là một con rối để Đu-bốp giật dây.
- Tôi không phải là con rối của ai cả.
- Ôn-ga - Côn-xtan-ti-nốp nói xen vào, khi rút ra một điếu xì-gà mới - cô sẽ rất xấu hổ, nếu cô quyết chí từ chối lời yêu cầu của chúng tôi: cô lên xe đi tới chỗ cửa công viên, rồi lại quay trở về. Chỉ có thế, chúng tôi không yêu cầu cô thêm một điều gì khác.
- Tôi không đi.
- Cô muốn hỏi Đu-bốp một câu như thế nào?
- Tôi sẽ chỉ nhìn thẳng vào mặt Đu-bốp và nói: “Đấy là sự thật ư, Xê-ri-ô-gia ?”. Chỉ có thế. Và anh ta chắc chắn sẽ trả lời, rằng đó là chuyện bịa…
- Và cô chỉ tin vào lời anh ta chứ không chịu tin vào bất cứ tang chứng gì của chúng tôi chăng?
- Phải xem, đó là những tang chứng gì đã chứ
- Những chỉ thị từ trung tâm tình báo địch chẳng hạn.
- Tôi chưa được xem.
Côn-xtan-ti-nốp lấy ra một cặp giấy, tìm trong đó tờ chỉ thị yêu cầu Đu-bốp phải tường trình lý lịch của Ôn-ga, ông chìa ra cho cô tờ giấy và nói:
- Trong này có nói về cô đấy. Không phải tôi hỏi cô đầu tiên về tên, họ mẹ và tên họ bà nội cô để làm gì đâu. Chính là Đu-bốp đã hỏi. Có điều, anh ta đã hợp lý hoá nó bằng cách tế nhị hơn, là anh ta đưa cô ra phòng đăng ký kết hôn để khai lý lịch…

Vào 18 giờ 30, Lun-xơ đã cho xe chạy ngang qua “Đu-bốp” giả, lúc ấy, anh chàng đang loay hoay sửa máy chiếc xe “Vôn-ga” đang gần hàng cột ngoài cổng công viên Văn hoá Goóc-ky. Ôn-ga chậm rãi nhìn đồng hồ, nhìn biển xe, số xe. Cô đứng lặng, khuôn mặt đờ ra, chỉ có từ trong mắt, những giọt nước mắt sau đó cứ ròng ròng chảy không cưỡng được, những giọt nước mắt to, tròn như nước mắt trẻ con.
Sáng thứ ba, vào lúc 7 giờ 15, CIA đã quyết định bắt lại liên lạc với Đu-bốp. Bức điện mật được gửi cho điệp viên Tỉnh Táo có nội dung như sau: “Bạn thân mến, chúng tôi vui mừng thấy bạn lại xuất hiện ở chổ đã hẹn, nghĩa là mọi chuyện vẫn tốt đẹp. Sở dĩ vừa qua chúng tôi không đến địa điểm vì không thấy bạn trong chiếc xe đậu ở “Park”, vả lại, chúng tôi có cảm giác rằng trong công viên có nhiều người. Việc trao đổi tài liệu, tôi dự định sẽ tiến hành vào ngày thứ năm theo giờ đã định ở địa điểm “cầu”. Chúng tôi muốn biết được tín hiệu của bạn về việc bạn có thể gặp chúng tôi hay không - một vạch nhỏ bằng son bôi môi lên cột điện cạnh địa điểm “Trẻ con”, từ 18 giờ 30 đến 19 giờ 00
Bạn của bạn G.”

Côn-xtan-ti-nốp ngước lên nhìn Gmư-ri-a:
- Chúng ta đã dụ được chúng ra khỏi hang, nhưng giờ biết làm thế nào để tìm lại được cái địa điểm “Trẻ con” quỷ quái ấy?
- Ôn-ga Vro-xkai-a cũng không giúp gì được trong việc này, dù Ga-vri-kốp đã đưa cô đi khắp ngả Mát-xcơ-va.
- Nếu đêm nay và ngày mai chúng ta không tìm ra được địa điểm “Trẻ con” này - Côn-xtan-ti-nốp nói, khi đã triệu tập các cán bộ của mình vào lúc nửa đêm - thì nghĩa là chúng ta sẽ thất bại. Chúng ta sẽ làm hại Dô-tốp, còn Xla-vin thì khỏi nói...


PHẦN 43: XLA-VIN

“Đã sáu mươi giờ trôi qua, - vừa nằm trên chiếc gường hẹp ở một phòng giam tối, anh vừa ngẫm nghĩ: Nghĩa là độ mười hai giờ nữa, cách này hoặc cách khác, chúng sẽ đưa mình lên hỏi cung. Chúng không thể giữ mình lâu hơn, dù sao đây cũng là vụ ồn ào.

Anh khẽ cử động mấy ngón tay - tạm thời chúng vẫn chưa bị tê cứng, dù chiếc còng tay khá nhỏ, chặt, như cắm sâu vào da.
“Glép đã lấn sâu rồi - Xla-vin thong thả nghĩ - mà định liều chơi trội những hai lần với Dô-tốp, khi hắn nhét voà nhà anh chiếc máy điện đài và tờ mật mã, và với mình, khi gắn mình với cái chết của Lô-ren-xơ. Nhưng không lẽ Pôn Đích đồng loã với hắn? Có thể, có thể lắm. Hắn là một tay nát rượu, mà những kẻ nát rượu thường hay không phân biệt được ranh giới giữa cái cao cả và cái thấp hèn. Trong việc này, chỉ có thiên tài mới đứng vững nổi, mà Pôn lại không phải là thiên tài. Hay chúng sử dụng anh ta để đánh lạc hướng? Thôi, kệ, chỉ mong sao trót lọt cả ở Mát-xcơ-va, lúc ấy mọi việc sẽ đâu vào đấy hết, và chúng sẽ phải chịu hậu quả của kẻ gieo gió gặt bão. Lô-ren-xơ thì Glép đã khử rồi. Hắn muốn giành mọi vòng nguyệt quế về mình. Rồi sau đó, thì bỏ mặc Đu-bốp. Hắn quả là một tay điệp viên nhà nghề táo tợn, làm việc đâu ra đấy và rất hăng, nhưng lộ liễu quá, và lấn tới quá. Y như kiểu quản cáo tư bản vậy, làm lấy được, không nể ai! Dù sao cũng vẫn có tác dụng. Họ vẫn cứ quen tồn tại như thế hàng trăm năm rồi kia mà. Không biết họ sẽ nói gì với mình? Tất nhiên phải có đề nghị gì đây? Muốn mình làm việc cho họ chăng? Ngây thơ quá! Tìm chứng cớ về vụ giết Lô-ren-xơ. Làm gì có? Mình đã lên tới cửa phòng? Đúng! Mình gõ cửa? Đúng! Nhưng làm gì có dấu tay của mình ở nắm đấm cửa, hoặc ở đâu khác nữa? Hoặc một tang vật gì?

*
* *

Chúng không gọi anh lên hỏi cung mà tướng Xtau tự tới buồng giam.
- Thưa ông Xla-vin, buổi nói chuyện của chúng ta hôm nay sẽ mang tính chất nghề nghiệp thuần tuý.
- Tôi phải hiểu lời ông như thế nào?
- Nghĩa là ông, hơn bất cứ người nào khác, thừa hiểu rằng ván bài đã thất bại.
- Cụ thể ai thất bại?
- Các ông.
- Ông biết không, tôi sẽ không nói chuyện với ông đâu. Tôi chỉ giải thích mọi điều với ông khi có mặt lãnh sự của tôi.
- Và ông tin ràng ông hành động đúng?
- Vâng.
- Thôi được, ngài lãnh sự đang ngồi chờ ở phòng đợi. Nào, ta đi. Tôi xin hỏi ông lần cuối cùng - ông không có ý định nhờ tôi giúp đỡ gì à? Tôi bảo đảm sẽ thực hiện tất cả mọi yêu cầu của ông, bởi vì bạn bè của tôi xem ông là một người rất nghiêm túc, mà những người như thế đáng được kính trọng, đúng thế không?
- Đúng vậy. Ta đi thôi.
Hành lang nhà tù được chiếu sáng đến nỗi sau hai tuần bị giam trong một buồng giam mờ tối, đôi mắt của anh loá lên, khó chịu.
- Việc ông bị bắt sẽ đặt một dấu chấm hết trên con đường công dah của ông, Xtay nói - chắc ông cũng biết điều đó.
- Tại sao? Nhà tù cũng là một nơi không đến nỗi quá tồi cho một người làm nghề sáng tác. Sau này, khi được tự do, sẽ có cái để mà nghiền ngẫm.
- Ông Xla-vin, con đường công danh của ông, với tư cách là một điệp viên đã kết thúc. Chúng tôi biết cơ quan an ninh của các ông sẽ đối xử với những người đã bị chúng tôi bắt rồi tha như thế nào.
- Thế thì theo ông, họ bị đối xử như thế nào?
- Tôi rất khâm phục cách cư xử của ông, vì vậy mà một lần nữa, tôi đề nghị ông không gặp ngài lãnh sự, mà gặp một người nào đó trong số bạn bè thông minh và tài năng của ông.
- Họ sẽ trả cho tôi bao nhiêu?
- Xin lỗi?
- Tôi sẽ được nhận bao nhiêu tiền, sau khi tuyên bố những gì họ muốn?
- Trước hết, ông còn chưa biết cụ thể họ muốn ông nói gì. Các bằng chứng rất nghiêm trọng, thưa ông Xla-vin? Vì vậy, ông im lặng sẽ có lợi cho chúng tôi hơn. Ông hiểu chứ? Ông càng im lặng, chúng tôi càng dễ thực hiện những gì chúng tôi định thực hiện. Đưa ông ra khỏi trò này là một việc rất khó. Ông sẽ phải trả giá bằng cách xoá hẳn trí nhớ của ông đấy, thưa ông Xla-vin! Và lúc ấy người ta sẽ đưa ông đi khỏi nơi đây và trao cho ông, như ông vừa nói, đúng bằng số tiền người ta đền ơn cho một người đã giúp đỡ người khác một việc quan trọng.
- Ước chừng bao nhiêu? Mười vạn?
- Tôi có thể chuyển những lời này của ông như một điều kiện ông đặt ra, được không?
- Thưa ông Xtau, thậm chí nếu ông đã ghi những lời này của tôi, thì cũng xin ông đừng vội nói lại với họ như là điều kiện của tôi, ông có thể bị nguy đấy?
- Nghĩa là thế nào?
- Tôi chỉ nói được những gì tôi có thể nói.
Trong phòng đợi không chỉ có một mình lãnh sự Liên Xô, mà ngoài ông ra còn có đại diện của Viện công tố và một quan chức của Bộ ngoại giao Luy-xbua.
- Chào anh, Vi-ta-li Vxê-vô-lô-đô-vích - Lãnh sự nói - Chúng tôi đã gửi kháng nghị phản đối việc bắt giữ anh một cách trái phép. Bộ ngoại giao nước sở tại cho chúng ta gặp nhau, nhưng với sự có mặt của đại diện Viện công tố của họ. Anh có thể nói gì về những việc đã xảy ra?
- Tạm thời tôi chưa có gì cần nói cả.
- Thế nghĩa là thế nào? - Ông lãnh sự ngạc nhiên hỏi.
“Đừng vội, anh đừng vội, - Xla-vin thầm bảo ông ta - Hãy cứ giận tôi đi. Nhưng đừng nghĩ thế này thế nọ vội. Anh hãy cố nhớ những lời tôi nói, lúc ấy việc của chúng ta mới thành được”
- Tôi không đồng ý với việc bắt giữ tôi - Xla-vin chậm rãi đáp.
- Một số tờ báo ở đây, nhất là tờ “Tin điện” có đăng một loạt bài về việc cảnh sát hiện có đủ chứng cớ kết tội ông tham gia một nhóm tình báo Xô-viết nào đó. Ông có thể nói gì về việc này?
- Thì cứ để họ chứng minh điều ấy đã.
Công tố viên nhìn quan chức Bộ ngoại giao, lấy thuốc ra hút, duỗi thẳng chân, rồi hỏi:
- Ông có tuyên bố phản đối việc bắt giữ ông?
- Không ai cho tôi xem lệnh bắt tôi. Chỉ có lệnh tạm giữ. Theo tôi, hai việc này khác nhau. Các ông có chứng cớ, nhân chứng không? Hay có thể, với tư cách là nhân chứng, các ông đã hỏi cung Pôn Đích, công dân Hoa Kỳ? Hay Giôn-Glép?
- Chúng tôi không đi sâu phân tích vụ của ông - công tố viên ngắt lời anh - Ông bị buộc tội vì phạm pháp luật của nước chúng tôi, hoạt động gián điệp và nhiều tội khác. Như thế là đủ.
- Phải xem là đủ cái gì! tôi không thật hiểu là qua vụ này, cảnh sát các ông muốn gì. Theo tôi, việc làm của họ, trong trường hợp này, không phù hợp với lợi ích của các cơ quan khác trong chính phủ - Bộ ngoại giao chẳng hạn.
- Chúng ta đang đi xa đề tài - công tố viên lại ngắt lời - ngài lãnh sự của ông muốn gặp ông, và các ông đã được gặp nhau. Ông không bị đánh đập, người ta đã đối xử với ông một cách nhân đạo chứ?
- Nếu không kể xiềng xích - Ông lãnh sự nói xen vào.
- Đó chỉ là chiếc khoá tay - Xtau chữa lại.
- Theo tôi, có lẽ hôm nay chúng ta sẽ dừng lại ở đây - Công tố viên nói - Lời buộc tội đối với ông sẽ được công bố trong vòng năm ngày tới.
“Phải sớm hơn - Xla-vin nghĩ bụng - Tại sao chúng lại gác lại năm ngày nữa? Nếu chúng muốn gây một vụ lớn, chúng phải buộc tội mình càng sớm càng tốt, để đuổi người Nga về nước. Các ngài muốn gì đây, thưa các ngài? Hay trong chính phủ có một người nào đó muốn chờ đến lúc Ô-ga-nô hành động?”
- Thưa ông công tố viên - Xla-vin nói, đứng dậy khỏi chiếc ghế nhỏ được đính chặt vào giữa phòng đợi - khi nào thì tôi được trao cho ông các bằng chứng của tôi? Tôi có đủ các bằng chứng và chúng hiện đang được giữ ở một nơi an toàn. Các bằng chứng của tôi sẽ làm thay đổi tính chất của tất cả những việc này. Mọi cái cần phải được đưa đến tận cùng, thưa ông, thậm chí cả sự vu khống cũng vậy. Thế mà các ngài cố vấn nước ngoài và bạn bè của ông còn bỏ qua nhiều việc chưa làm quá. Và, bởi lẽ vụ của tôi liên quan mật thiết với vụ của Dô-tốp, tôi muốn tất cả vấn đề phải được xét dưới dạng toàn cục, từ nhiều phía, chứ bây giờ ông không thấy là mọi cái có vẻ gán ép, thẳng đuột thế thôi. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói thêm với ông…
“Cứ mặc chúng chạy cuồng lên - Xla-vin nghĩ bụng, khi cánh cửa buồng giam được khép chặt sau lưng anh - tha hồ chúng ngồi mà suy nghĩ về những lời kia của mình, chúng ta sẽ có thêm được thời gian. Tha hồ Bộ ngoại giao của chúng lo nghĩ, vì muốn hay không, chúng cũng phải tuyên bố cái quyết định mà Glép đã chuẩn bị cho chúng. Không phải ai cũng muốn làm khỉ để thò tay nhặt hạt dẻ từ lò lửa ra. Thế, cứ thế! May mà sứ quán đòi được một cuộc gặp gỡ thế này. Tất cả sẽ được quyết định ở Mát-xcơ-va, mong sao chong chóng lên một tí…”

*
* *

Buổi chiều, tờ “Tin điện” có đăng một bài báo với nội dung như sau: “Chúng ta sẽ còn phải chịu đựng các hoạt động tình báo mang tính chất toàn cục của người Nga bao lần nữa? Đến bao giờ các điệp viên của Nga mới thôi rình rập người kỹ sư bị thương Dô-tốp? Tại sao tới bây giờ báo chí vẫn chưa cho đăng công khái các chi tiết cụ thể của vụ Xla-vin, người được xem là một trong những kẻ tổ chức ám hại thương gia Mỹ Lô-ren-xơ? Ai sẽ trải lời tất cả những câu hỏi này? Tại sao chính phủ không tuyên bố thẳng, hoàn toàn không úp mở, hoặc phải tôn trọng tuyệt đối luật pháp nước ta hoặc Krem-li phải triệu hồi về nước các nhân viên của mình. Chúng tôi không muốn chưa chấp những người coi thường chủ quyền nước khác”

Buổi tối Pôn Đích đã phát biểu qua vô tuyến truyền hình. Mặt anh ta nhợt nhạt, giọng ngắt quãng:
- Tôi vừa mới biết tin về lời buộc tội nhảm nhí nhằm chống lại ông Vi-ta-li Xla-vin.
Tôi muốn mọi người biết rõ một sự thật là chính tôi là người yêu cầu ông Xla-vin tới gặp Lô-ren-xơ. Chính tôi là người gọi dây nói cho Lô-ren-xơ. Và cũng chính tôi là người phải đi với ông ấy tới đó, khi ông Lô-ren-xơ đã chết.
Một cậu bồi đã gọi tôi lại máy tê-lê-típ - cậu bồi này tôi khó có thể tìm thấy ở đâu bây giờ - và người trực máy trao cho tôi một bức điện từ đại sứ quán gửi đến: “Đại sứ cần gặp ông gấp, có việc rất quan trọng”
Tôi liền phóng đến đại sứ quán. Nhựng té ra đại sứ chẳng hệ cho gọi tôi, và tất nhiên, cũng chẳng có việc gì quan trọng cả.
Tôi xin khẳng định rằng Xla-vin không hề dính líu đến những gì người ta đã buộc tội ông ta.
Tôi không tán thành quan điểm chính trị của ông Xla-vin, và tôi luôn luôn là đố thủ của ông ta - dùng chữ luôn luôn, tôi muốn nói đến những năm sau chiến tranh gần đây, chứ năm 1945, chúng tôi là bạn chiến đấu với nhau - nhưng tôi muốn, dù có những mâu thuẫn như vậy, giữa chúng tôi, mọi cái phải sòng phẳng, công bằng, không thể khác. Tôi, Pôn Đích, phóng viên Hoa Kỳ, tuyên bố rõ như thế, và tôi bao giờ cũng sẵn sàng nhắc lại những điều trên, dù có phải lấy lương tâm ra thề.

Sáng sớm hôm sau, Glép bước vào phòng Pôn Đích:
- Pôn, đừng có điên lên như vậy - Glép nói, thậm chí không chào - Trong khi bắn nhau, hai thanh niên từ Na-gô-ni-a đến đã bị chết. Chúng là điệp viên của Xla-vin, đang tìm cách mang các tài liệu mật cho hắn. Về các chi tiết cụ thể, tạm thời tôi chưa biết, nhưng hình như chúng định báo cáo lại với hắn về những tài liệu lấy được ở Lô-ren-xơ. Anh cứ nói lên những gì thích nói, tự do ngôn luận và mọi cái tương tự, vân vân, nhưng phải dẫn chứng và thề thốt ra đây làm gì?

Đăng nhập để trả lời
0
Ừ nhỉ, chết, quên thật, phần 28 mới gõ xong một nửa, sau đó mải với mấy cái truyện ngắn nên quên bẵng đi, hôm nay vào lại mới thấy mọi người đang kêu réo mình thiếu bài, để khoảng 2 3 hôm nữa sẽ đưa phần 28 lên (ụp dạo này buzi quá)
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Phần 28


TÌM KIẾM - VII

“Điện gửi Xla-vin.
Tìm kiếm mọi chi tiết liên quan đến Đu-bốp. Tính chất quan hệ của anh ta với Vin-te? Có xác định được việc anh ta từng gặp Lô-ren-xơ hay Glép không, dù là gặp một cách tình cờ?
Trung tâm”.

*
* *

“Tối mật.
Kính gửi thiếu tướng Côn-xtan-ti-nốp.
Xin thông báo theo yêu cầu lần thứ hai của đồng chí, rằng hành khách Xéc-gây Đmi-tơ-ri-ê-vích Đu-bốp hôm qua đã bay đi Át-le trên chuyến bay số 852.
Trung tá Dư-cốp”.

*
* *

“Những tư liệu quan sát “Áo Trắng” (mật danh do các nhân viên an ninh ở Áp-kha-di-a đặt cho Đu-bốp vì Đu-bốp bay đến nghỉ ở đây trong bộ com-lê trắng, áo sơ-mi cũng trắng, thắt nơ trắng, chỉ có đôi giày là đen, nặng và đầu tù, giày cũ kiểu Mỹ).
Đến ở khu nhà nghỉ “Hải đăng” phòng 212. Áo Trắng bắt đầu đi ăn sáng lúc 8h47. Anh ta ngồi vào bàn ăn có hai người đàn bà, một người da ngăm ngăm, khoảng hai mươi ba tuổi, đi cùng với anh ta ra khỏi tiệm ăn vào 9h17.
Anh ta đề nghị cô da ngăm đến phòng anh ta, và cô kia đã nhận lời. Trong phòng Áo Trắng, họ ở lại 52 phút, khi ra đã thay quần áo tắm và bước ra bãi tắm. Họ cùng tắm và phơi nắng ngoài bãi đến 12h49, sau đó cùng đi ăn trưa ở tiệm ăn ban sáng. Ăn ở bàn từ 13h05 đến 13h51. Sau đó lại về phòng Áo Trắng, ở tịt đó đến 16h10, rồi lại ra bãi tắm. Họ trở về vào 18h26, đi ăn tối, lại ngồi vào bàn ăn lúc sáng. Áo Trắng gọi một chai rượu vang có mác “Ti-ba-ni”. Sau đó, anh ta mời cô da ngăm đi dạo. Không gặp gỡ trò chuyện với ai, họ ra khỏi địa phận khu nghỉ mát “Pin-xun-đa”. Ở gần nha bưu điện, Áo Trắng bảo cô da ngăm chờ mình, rồi cầm đồng 3 rúp đổi lấy loại tiền xu 15 kô-pếch, sau đó gọi điện về Mát-xcơ-va theo số điện 341-97-88. Trong lúc nói chuyện với một người nào đó, có tên là Vích-to Lvô-vích, anh ta nói rằng “cần phải biết kiềm chế, rằng anh ta cũng rất muốn nhìn thấy cô ta, song mỗi người phải hoàn thành nhiệm vụ của mình trước mọi người”. Anh ta cũng yêu cầu “Vích-to Lvô-vích đừng lên chỗ anh ta mấy ngày tới nữa, vì rằng sau một tuần, anh ta “mới đi công tác về”. Nói chuyện xong, Áo Trắng mời cô da ngăm vào “ba”, ở đó họ nhảy với nhau đến 12 giờ đêm. Sau đó hai người trở về phòng anh ta và ngủ lại đấy. Báo cáo của Ga-bu-nhi-a”.
Số điện 341-97-88 là của Vích-to Lvô-vích Vin-te, bác sĩ trưởng bệnh viện phụ khoa số ba Mát-xcơ-va. Còn cô “da ngăm đen” được xác định là Ôn-ga Vrôn-xkai-a, hai mươi hai tuổi, ở Mát-xcơ-va, thư kí văn phòng, đoàn viên Côm-xô-môn, chưa chồng, người gốc U-krai-na.

*
* *


Bác sĩ của bệnh viện số 52 trong thành phố nhìn Côn-xtan-ti-nốp một cách ngạc nhiên:
- Tôi đã giải thích tất cả rồi, thưa đồng chí.
- Giải thích với ai?
- Hôm qua có mấy người từ Viện của chị ấy đến, và tất nhiên, cả ông cụ của chị ấy, niềm tự hào của chúng tôi đấy, tôi đã phải giải thích cả cho ông cụ nữa…
- Nhưng tôi là bạn của chồng chị ấy.
- À ông chồng đang ở nước ngoài ấy ư?
- Vâng.
- Hiểu rồi… Anh ta chưa biết gì hay sao?
- Chưa.
- Vậy đồng chí hãy viết cho anh ta rằng chị ấy không đau đớn gì - đột nhiên bị mất hoàn toàn nhận thức… Một cái chết kì cục, tệ hại quá… Anh bạn của chị ấy kể rằng từ chập tối, chị ấy lên cơn rét, anh ta cho uống át-xpi-rin, chị ấy ngủ thiếp đi, nhưng sốt cao… Anh ta nhớ lại, là đã một tuần rồi, chị ấy bị ho, nhưng dù vậy, vẫn đi ra sân vợt chơi ten-nít, tất nhiên, thế là quá bất cẩn rồi. Đến sáng thì anh ta gọi xe cấp cứu… Chúng tôi đã làm mọi cách có thể làm được, nhưng, hình như phổi đã bị phù, và thế là chúng tôi bất lực.
- Nhưng sao lại “hình như”?
Bác sĩ không hiểu, nhìn Côn-xtan-ti-nốp như để hỏi lại. Côn-xtan-ti-nốp nói rõ hơn:
- Nếu mổ tử thi, thì không thể không rõ hơn nguyên nhân chính xác: nguyên nhân gì đã dẫn đến cái chết thê thảm của một phụ nữ còn trẻ và khoẻ mạnh.
- Đúng thế, nhưng chúng tôi đã không mổ… Xin lỗi, tên đồng chí là gì nhỉ?
- Côn-xtan-tin I-va-nô-vích.
- Rất hân hạnh. Còn tôi là Ác-sin Ghê-oóc-ghi-ê-vích. Vâng, vấn đề là chính Vích-to Lvô-vích, bố đẻ chị ấy đã đề nghị không mổ tử thi, lờ nói của ông đối với chúng tôi giống như pháp lệnh, ông cụ là một nhà phẫu thuật đại tài, ai cũng nể, các phụ nữ ở Mát-xcơ-va - vẫn coi ông cụ như thần tượng đấy…
- Ác-sin Ghê-oóc-ghi-ê-vích, đồng chí có thể kể giúp thật chi tiết hơn, được không ạ?
- Ờ, chuyện thế này. Hôm ấy tôi trực. Buổi sáng, quãng tám giờ, có một người đàn ông gọi điện thoại…
- Anh bạn của chị ấy?
- Không, anh ta đến sau, cùng với tôi trên chiếc xe cấp cứu hồi sinh. Đây là người hàng xóm, tôi quên tên, một ông già, vốn là quân nhân… Ông ta báo rằng có một phụ nữ bất tỉnh nhân sự, để nghị chúng tôi đến ngay. Chúng tôi lên xe đi liền. Ôn-ga khi ấy không những bất tỉnh, mà tôi còn cảm thấy là giờ hấp hối đã điểm, mạch chìm, mi mắt xanh nhợt, đồng tử hầu như không phản ứng. Ở trong xe, chúng tôi dùng bình ô-xy chống choáng cho chị ấy; và khi tới đây, chúng tôi lập tức mời giáo sư Ép-lam-pi-ép, tiếp máu cho chị ấy. Nói tóm lại trong vòng bốn giờ đồng hồ chúng tôi cố gắng hết sức để cứu sống chị ấy. Dù rằng, nói một cách thực bụng ra, tôi tin rằng sẽ không có kết quả…
- Thế tại sao lại không mổ?
- Thì tôi đã nói rồi.
- Không, tôi chưa hiểu lí do.
- Vích-to Lvô-vích đã đề nghị…
- Đấy đâu phải lí do. Chiều hôm trước, chị ta còn mạnh khoẻ, sớm hôm sau đã chết. Vậy mà bệnh viện lại không mổ khám nghiệm. Thế ngộ nhỡ là một bệnh dịch lây lan?
- Không, đây không phải là dịch bệnh. Theo dấu vết khám nghiệm thì là phù phổi bất thần, một cơn phù như gió lốc.
- Bệnh ấy có hay xảy ra không?
- Bản thân tôi thì chưa thấy… Cũng có thấy, nhưng phải qua ngày thứ ba, ngày thứ sáu, quá trình suy sụp làm phổi giảm sút dần dần…
- Thế người bạn của chị ấy… Anh ta là gì nhỉ?
- Xéc-gây Đmi-tơ-ri-ê-vích. Chính anh ta đã kể lại là chị ấy bị ho từ lâu, không được khoẻ…
- Vậy dứt khoát không phải là một bệnh dịch hay lây rồi.
- Nhưng quá trình đột biến như gió lốc này kể ra cũng có trong y học. Đồng chí có nhớ sự việc một cảnh sát Mỹ chết bất thần vì ung thư phổi cũng như kiểu gió lốc này không? Anh ta đang để nghị được khai thêm những chứng cớ mới, người ta đang thẩm vấn anh ta, thế rồi, hai ngày sau anh ta chết.
Côn-xtan-ti-nốp đứng dậy đánh thót một cái, đôi mắt ông thường vẫn tươi cười, xanh biếc, bỗng trở nên xám đục như hai lỗ khoan nhỏ.
- Xin cảm ơn đồng chí Ác-sin Ghê-oóc-ghi-ê-vích… Hôm đó là…
- Đúng hôm tôi trực, như tôi đã trình bày.
- Vậy là bốn ngày trước đây?
- Đúng thế.
- Tôi có thể xin đồng chí sao lại cho một bản kết luận về trường hợp cái chết của chị ấy không? Tôi cần gửi cho chồng chị ấy, như vậy phải hơn. Sẽ có biên bản chính xác, không phải chỉ là miêu tả bằng cảm tính, đúng không? Hơn nữa, lại có bạn của chị ấy hộ tống đến bệnh viện nữa… Anh ta chắc cũng khổ tâm lắm?
- Phải, chúng tôi phải tiêm cho anh ta đấy… Anh ta sững người ra như đá, không khóc được. Nhưng là một người có nghị lực. Ông cụ đến - cụ Vích-to đang họp hội nghị ở Đúp-na, người ta điện cho cụ về, tất nhiên cụ bị choáng rồi và chính là Xéc-gây Đmi-tơ-ri-ê-vích lại trấn tĩnh, đưa cụ về nhà, lo tổ chức ma chay trong có một ngày, anh ta biết kiềm chế mình rất giỏi.

*
* *


Viện sĩ y học, Xéc-gây Xéc-gây-ê-vích Vô-gu-lép đã quen biết với Côn-xtan-ti-nốp trong lúc đi săn. Hai người cùng đi máy bay đến Ca-bác-đi-nô Ban-ka-ria, vào tận vùng Kha-si-xmen Xan-sô-kốp, rồi vào A-khơ-tư-ri cùng với Gmư-ri-a, và hai lần đi A-xtơ-ra-khan nữa.
Khác với Gmư-ri-a, viện sĩ là một nhà đi săn để chiêm ngưỡng, mang theo cả máy ảnh, làm Côn-xtan-ti-nốp cũng lây cái tính thích chụp ảnh khi săn, dù rằng Côn-xtan-ti-nốp thường say sưa hạ “tại chỗ” con mồi săn hơn hết, và điều duy nhất ông ghen tị trong cuộc sống là khẩu súng săn cực tốt trong tay một người bạn săn khác.
Vô-gu-lép thì lại dửng dưng với những thứ săn được. Ông sẵn sàng tặng bạn những nanh lợn lòi săn được, ông yêu thích những bữa ăn quây quần khi đi săn, ông thường bảo rằng trong thế kỉ chúng ta, không một an dưỡng đường nào làm giãn ra được sự căng thẳng thần kinh, chỉ có phương thuốc hiệu nghiệm nhất là đi săn lợn lòi hoặc săn gấu.
- Tất cả những phương pháp trị bệnh, - ông thường nói - dù là dùng các thứ thuốc mớ, châm cứu, cho ngủ tĩnh dưỡng, nhịn đói đều là vớ vẩn hết. Phải đi săn! Cùng lắm thì mới phải mổ, dầu sao thì tôi cũng còn tin vào công việc của tôi. Nhưng đấy chỉ là trường hợp không đừng được, chẳng hạn khi chỗ ung thư đã tấy lên. Còn những chứng bệnh nhồi máu, chứng loét dạ dày, chứng xơ cứng mạch máu… chẳng hạn, thì cứ gọi là phải chữa ở đây, trong rừng núi, bằng cách đi săn. Ở đây toả lên mùi dẻ tươi, mùi cỏ tươi và đủ thứ cây quả rừng, khoẻ người lắm…
Côn-xtan-ti-nốp đã gọi điện cho ông, sau một lát suy nghĩ. Trong tình huống như hiện nay, ông không lấy xe riêng mà thường đi chiếc “Von-ga” của cơ quan có sẵn điện đài để dễ liên lạc thường xuyên với các phòng, ban của mình. Cô-nô-va-lốp, Pa-nốp, Prô-xcu-rin, Gmư-ri-a - tất cả các anh hiện nay đang ở tình trạng “cấm trại”. Họ hầu như không được phép về nhà, nhận được thông tin gì là họ tách biệt ra thành nhiều câu hỏi nhỏ, vì họ suy luận rất đúng rằng, càng nghiên cứu tỉ mỉ mỗi chi tiết nhỏ bao nhiêu thì càng có điều kiện đáng tin cậy bấy nhiêu để rút ra kết luận tổng quát.
- Xéc-gây Xéc-gây-ê-vích, tôi sẽ đến thăm anh, nếu được anh cho phép - Côn-xtan-ti-nốp nói - Ngay bây giờ.
- Hoặc là anh đến trong mười lăm phút nữa thôi, hoặc là phải đến chiều tối, Côn-xtan-tin I-va-nô-vích ạ - Viện sĩ nói.
- Anh chuẩn bị mổ à?
- Còn khổ hơn ấy. Phải đến họp ở Viện Hàn lâm.
- Không đi được không?
- Có chuyện gì xảy ra vậy?
- Có đấy.
Vô-gu-lép nghe Côn-xtan-ti-nốp nói xong, tắt máy và vội quay ngay số khác:
- I-ri-na Pha-đê-ép-na, - ông nói, - tôi buộc phải đến muộn độ một tiếng. Chị làm cách nào thì tuỳ. Nhưng để các luận án tiến sĩ của Ga-vri-lin, Đa-ri-a-lô-va và Mác-ti-rô-xi-an lùi lại một chút, đừng thảo luận không có tôi nhé, vì những người có thiện chí có thể bị đổ mất. Sao? À, cứ nói với họ là tôi bị chậm, do một cuộc mổ gấp gáp. Cảm ơn chị.
Ông đặt máy xuống, bàn tay còn cứng cáp bóp bóp lên khuôn mặt đã nhăn nhưng còn đầy đặn, và đứng dậy…

*
* *


- Ta đi thôi. Tôi sẽ không gọi điện trước cho bố Ôn-ga đâu. Gọi thế chẳng khác gì lại phải hỏi đến cái chết hai lần, anh đợi trong xe nhé!
- Được rồi, chỉ có điều tôi xin anh lưu ý: không nên để Vích-to Lvô-vích biết, là anh quan tâm đến chính điều gì, xin anh luôn luôn nhớ hộ điều đó nhé…
- Tôi và ông ta đã cùng làm việc trong một quân y viện, Côn-xtan-tin I-va-nô-vích ạ. Chúng tôi đã từng đắp chung nhau một vạt áo va-rơi mà!...
- Anh chưa hiểu đúng ý tôi, Xéc-gây Xéc-gây-ê-vích ạ. Tôi không hề có một chút nghi ngờ nào về lòng trung thực của ông già.
Khi đã ngồi trong xe, Vô-gu-lép hút một hơi thuốc và càng lặng lẽ hơn.
- Trong đống giấy tờ cũ của tôi, còn có một tấm ảnh cô con gái của ông ta, cô bé lúc ấy mới được ba tháng… Chúng tôi bị rơi vào vòng vây ở gần Rơ-giép, ông ta đưa tấm ảnh, ghi địa chỉ và yêu cầu, nếu tôi thoát được vòng vây, tôi sẽ đi tìm con bé Ô-li-a. Tôi nhớ khi đi, tôi đã tỏ ra giận dữ ông ta, thậm chí còn văng tục. Ông ta bảo tôi, ông ta là người Do Thái, bọn phát-xít sẽ bắn ngay nếu tóm được ông, còn tôi, may ra, có cơ thoát được. Nhưng tôi càng cáu, tôi bảo, tôi là người Bôn-sê-vích, nếu chúng bắn thì sẽ đồng thời bắn cả hai, chưa kể là chúng còn bắn tôi trước nữa. Tuy nhiên, hồi đó sức khoẻ ông ta quá ọp ẹp, ho khù khụ luôn, nên tôi cũng thoả thuận giữ lại tấm ảnh - dù sao những lời gửi gắm ấy cũng thật thiêng liêng, trong hoàn cảnh thật đặc biệt, khi đứa bé mới sinh được có ba tháng trời…
- Có thể ông ta sẽ hỏi, vì sao anh biết được nỗi khổ tâm của ông ta…
- Tôi sẽ nói, tôi đọc thấy tin buồn đăng trên báo…
- Nhưng trên báo có đăng tin buồn gì đâu…
- Ừ thì tôi bảo, do những người quen báo tin.
- Những người quen là ai mới được chứ?
Vô-gu-lép nhìn Côn-xtan-ti-nốp:
- Anh có gì úp mở chưa nói hết với tôi thì phải?
- Đúng thế.
- Sao vậy?
- Vì nếu anh nghe một cô y tá tỏ ý nghi ngờ chuyện gì thì chuyện ấy cũng không có ảnh hưởng nghiêm trọng tới ai. Còn tôi ở Uỷ ban An ninh quốc gia, tôi không thể chia sẻ những ý kiến với anh nghi ngờ của tôi trong bất cứ một chuyện gì, tôi chỉ có thể dựa vào sự kiện để kết luận.

*
* *


Ông già Vin-te nằm trên đi-văng, gối đầu trên cái áo khoác đã gập lại, tấm mền phủ kín đến tận cằm.
- A, Xê-ri-ô-gia (1) - ông nói nhỏ, và trên má bất giác chảy xuống những giọt nước mắt già nua - Anh đến thăm tôi là quý lắm rồi… Anh có muốn uống một ngụm rượu không?
- Tôi phải đến Viện họp, Vi-chi-a (1) ạ, ở đấy, đến người tỉnh táo cũng đã căng rồi, nếu lại uống chút rượu, cộng với tính khí của tôi nữa…
- Còn tôi, anh biết không, tôi cứ phải uống cho căng mình ra! Không thể khác được - chỉ cần tôi nhắm mắt lại thì lập tức lại nhìn thấy con bé…
- Phải, một tai hoạ kinh khủng. Vi-chi-a, đến nỗi tôi cũng không biết nói thế nào với anh bây giờ. Sao lại không là chúng ta? Sao lại là chúng nó đi trước, đám trẻ ấy!
- Rót cho tôi một chút đi anh!
- Chất cay à? - Vô-gu-lép hỏi, và rót vào chiếc cốc chia độ.
- Phải. Anh nhớ là anh đã từng dạy tôi uống rượu không?
- Ấy là khi anh ngã giúi giụi trong đầm lầy phải không?
- Đúng.
- Năm ngoái, tôi trở lại chỗ đó để đi săn. Ngốc thật! Tôi vẫn tưởng nơi đó là một xó hẻo lánh như năm 1843, ai ngờ người ta đã xây lên một nhà máy sứ, đường sá làm lại cả, ở các làng xung quanh đã đầy những dây ăng-ten.
- Anh gặp Ô-li-a lần cuối là vào lúc nào?
- Tôi có gặp được con bé lần nào đâu, Vi-chi-a. Sau chiến tranh, ai cũng trở nên sung túc, yên ổn cả, đâm ra ít gặp nhau. Chỉ khi hoạn nạn người ta mới lại tìm đến nhau… Thế là tôi không gặp con bé lần nào…
- Ai báo tin này cho anh biết?
- Gơ-nhi-đúc.
- À, phải rồi, Mi-kô-la. Anh ấy có gọi điện cho tôi… Ông già Vin-te uống ngụm rượu, kéo tấm mền phủ lên kín hết cả cằm, người co lại như ớn lạnh.
- Tôi cũng muốn đi theo nó, Xê-ri-ô-gia ạ.
- Vi-chi-a, anh còn bao nhiêu công việc phải làm.
- Làm gi nữa? Có ai cần nữa? Anh mới còn khả năng làm được một điều gì đó, anh biết nhìn thẳng vào bản chất của vấn đề, còn tôi bây giờ thi tay chân lẩy bẩy, có nhấc nổi cái gì lên tay đâu… Mà chỉ biết nói suông thì tôi với anh không bao giờ chịu thế.
- Sao anh không gọi điện cho tôi, khi người ta mang Ôn-ga đến bệnh viện, Vi-chi-a?
- Tôi cũng được gọi về từ Đúp-na, về đến nơi thì mọi việc đã không cứu vãn được nữa rồi.
- Việc mổ khám nghiệm cho phép kết luận về bệnh gì?
- Tôi không cho mổ.
- Sao vậy?
- Theo các dấu hiệu bên ngoài thì là phù phổi nặng. Vì sao lại nhanh thế?... Tôi cũng chẳng nhớ có trường hợp nào tương tự, Xê-ri-ô-gia ạ… Nhưng tôi không thể cho phép mổ tử thi, anh hiểu không. Vì đâu có phải chỉ chôn đi một mình nó, nó còn mang theo mình cả một cái thai nữa…
- Thật thế ư?
Ông Vin-te nấc lên, vươn người ra, những ngón tay khô, bệt và mảnh dẻ với lấy cái cốc.
- Thôi, Vi-chi-a, không nên uống nữa, anh trắng bệch ra rồi kìa.
- Không, đừng ngăn tôi, anh cứ để tôi! Rót thêm cho tôi. - Ông lại uống, rồi đặt những ngón tay tê giá lên tay Vô-gu-lép.
- Anh có cháu gọi bằng ông rồi chứ?
- Một cháu gái.
- Cháu gái - Ông Vin-te nhắc lại - tuyệt thật, con gái thì nó lại dịu dàng hơn. Tôi cũng mơ ước có một đứa cháu gái, Xê-ri-ô-gia ạ. Trời ơi, tôi mơ ước được kéo dài chút hạnh phúc cuộc sống, được nhìn thấy một đứa trẻ trong nhà.
- Anh chắc chắn rằng, con bé định sẽ có một đứa con?
- Tôi cũng không biết chắc gì về chuyện ấy, đấy là do thằng Xê-ri-ô-gia nói lại với tôi.
- Con rể anh?
- Thôi, bạn già ạ, đừng hỏi tôi tỉ mỉ làm gì chuyện ấy! Chồng nó đang ở nước ngoài kia, Xê-ri-ô-gia chỉ là người yêu của nó. Không phải ngoại tình đâu, nó đã chia tay chồng nó rồi, nó không phải đứa hư hỏng, con tôi thì tôi biết chứ, nó không dám thể đâu… Nhưng chuyện đời mà… Nó chưa thực sự li hôn trên pháp lí, còn thằng kia thì làm việc ở Viện nghiên cứu mật nào đấy, sự thể như thế, lẽ nào ta lại đi vùi dập uy tín của thằng kia, một chàng thanh niên tốt nết, anh biết quá chứ, ở nước chúng ta, người ta đâu có bỏ qua những chuyện riêng tư… Làm hỏng đời thằng bé ấy làm gì? Ô-li-a thì đã mất rồi, nó thì yêu con bé, ta đừng để nó lại phải khổ hơn vì chuyện vỡ lở ra… Anh rót thêm cho tôi một ngụm nữa đi…
- Vi-chi-a, anh dọn tạm sang ở với tôi, được chứ? Dù tạm một thời gian cũng được. Bà Ca-chi-a nhà tôi sẽ rất vui khi tiếp đãi anh, còn cháu gái nó sẽ quấn lấy anh. Thôi, anh đừng khóc nữa, đừng tự xé tâm can mình làm gì.
- Cảm ơn anh. Nhưng tôi sẽ chẳng đi đâu khác hơn được nữa. Rồi Xê-ri-ô-gia sẽ đến ở với tôi, và cả hai chúng tôi sẽ luôn luôn cảm thấy như con con gái tôi bên cạnh.
- Vi-chi-a, tôi hết sức yêu cầu anh, trong khi anh chàng Xê-ri-ô-gia kia chưa đến, anh hãy cho phép tôi đưa anh về nhà tôi đã!
Ông Vin-te lắc đầu nhìn Vô-gu-lép bằng đôi mắt đen mở to, đầy nước mắt, rồi trả lời:
- Xê-ri-ô-gia, khi nào tôi chết, tôi nhờ anh chôn tôi ngay cạnh mộ con gái tôi, được chứ?
Trở về cơ quan, Côn-xtan-ti-nốp tập hợp các trưởng nhóm điều tra lại:
- Chúng ta bắt đầu phân tích trường hợp Đu-bốp. Để cho tiện, chúng ta hãy đặt mật danh cho anh ta là Gác Rừng (2). Có lẽ, phải duy trì được mối liên lạc thường xuyên bằng điện thoại, đặt cả đồng hồ đo điện nữa, mọi việc bây giờ phải giải quyết từng giờ một, dù rằng, (không rõ vì sao, ông lại rất chú ý nhìn vào Prô-xcu-rin) - đặc biệt lúc này, tất cả mọi sự hấp tấp và suy nghĩ theo một chiều sẽ có thể làm hỏng cả việc. Trong vòng mấy ngày tới, chúng ta phải tái lập được - phải tranh thủ đến từng phút - tất cả những gì liên quan đến những giờ phút cuối cùng của Ôn-ga Vin-te. Chúng ta lại không được phép hỏi cung bất cứ ai, điều đó là rõ rồi, chúng ta cũng không có một tang chứng gì để buộc tội Đu-bốp, vì thế phải làm rất khéo tay. Đó là việc thứ nhất. Tiếp đó, phải kiểm tra xem ai, ngoài Đu-bốp, có mặt trong cuộc hội đàm, khi bộ trưởng kinh tế trong phái đoàn chính phủ Na-gô-ni-a sang ta kí kết hiệp nghị.
- Còn có cả bộ trưởng quốc phòng nữa, - Gmư-ri-a nhận xét.
- Đúng thế, những vấn đề cung ứng vật tư chỉ liên quan đến cuộc hội đàm với bộ trưởng kinh tế. Điểm thứ ba, là phải chứng minh cho kiểm sát viên điều này, có lẽ bản thân tôi phải làm để thuyết phục ông ta cho khai quật tử thi và tiến hành giám định y khoa về cái chết của Ôn-ga Vin-te. Nhưng nếu tốt ra, thì phải đến chỗ ông ta với nhiều lí lẽ có sức nặng, hơn là những gì chúng ta đang nắm được.
- Tất nhiên, có nhiều hơn thế này chứ - Prô-xcu-rin nói.
- Đối với chúng ta thì đúng thế, nhưng trước pháp luật thì chỉ căn cứ trên hành động phạm pháp. Nếu kiểm sát viên hỏi, chúng ta có những tang chứng gì để buộc tội Đu-bốp, thì chúng ta sẽ trả lời sao?
- Trả lời, chẳng hạn, không phải ngẫu nhiên mà Lun-xơ lại ở cạnh Đu-bốp ở nhà nghỉ Pi-xun-đa.
- Đó không phải là câu trả lời. Anh chưa chứng minh cho kiểm sát viên rằng Lun-xơ là nhân viên CIA. Chúng ta đặt Lun-xơ vào chiến dịch chống phản gián, đó là việc của chúng ta. Còn đối với mọi người Lun-xơ là nhà ngoại giao, đang vun xới cho quan hệ văn hoá, anh thử đi mà chứng minh ngược lại xem. Bản thân tôi sẽ không làm việc đó. Tất cả tin tức mới - tôi nhấn mạnh là tất cả - phải có ở bàn làm việc của tôi, nếu được hai bản thì tốt, một bản sẽ chuyển cho Pi-ốt Ghê-oóc-ghi-ê-vích Phê-đô-rốp, ngay sau khi tôi nhận được.
*
* *


- Đến đâu rồi, - tướng Phê-đô-rốp nói - Ta hãy thử tổng hợp nào. Các anh làm việc ấy, hay là cho phép tôi thử làm?
- Xin mời đồng chí - Côn-xtan-ti-nốp mỉm cười.
- Xin cảm ơn, vì các đồng chí tin cậy tôi. Ta bắt đầu từ một góc sự việc. Vậy là, Côn-xtan-ti-nốp đã táo bạo đề ra giả thuyết mà kết quả của sự táo bạo ấy thì lại là hợp lí, nghĩa là nó không xáo trộn gì, trên bình diện xã hội, nhưng lại cho phép chúng ta tiếp cận đến được khu vực quan tâm đặc biệt của CIA. Điều đó đã được chứng minh, đúng hơn, là đang được chứng minh, rằng chẳng bao lâu nữa, ở Na-gô-ni-a sẽ xảy ra đổ máu, và CIA đang cần đến mọi số liệu thường xuyên để biết rằng chúng ta đang nắm được gì về những kế hoạch của chúng. Chúng ta có biết một số sự việc, nhưng chỉ thế, không hơn… Chúng ta, cho đến nay, chưa biết được cả tên nhân viên CIA nào đang hoạt động ở Mát-xcơ-va, chưa biết cả nhân viên sứ quán nào đang liên lạc với hắn. Vậy là: chỉ có những buổi truyền phát điện đài thổ tả kia là chúng ta bắt được, nhưng chúng ta cảm thấy bất lực. Chúng đã bắt chúng ta (mất một chữ) đi tìm kiếm khắp nơi, hăm hở hết sức. Chúng ta đã tìm hiểu Dô-tốp, Vin-te, Pa-ra-mô-nốp và Sác-ghim. Hai lần với Sác-ghim và Pa-ra-mô-nốp. Chúng ta đã đứng trước những dấu vết sai. Pa-ra-mô-nốp đã bị loại ra khỏi vòng, có thể nói là một trăm phần trăm. Các anh gọi hắn ta là gì nhỉ, thằng cha Mì ống bét nhè à? Bét nhè thì rõ rồi, nhưng tại sao lại có cả mì ống nhỉ?
- Vì hắn chỉ đưa tiền đủ cho vợ mua mì ống để sống. Hắn phải nuôi vợ đến cả tạ mì ống ấy chứ chẳng chơi, rồi sau thì lại chạy theo mà nhởn với các cô gái khác!
- Đói quá thì bà ta thỉnh thoảng cũng phải mua thêm ít mật mà uống với nước chứ?
- Mật bây giờ ở ngoài chợ cũng đắt lắm, với số tiền mà hắn đưa, thì không chết đói đã là may, đồng chí Pi-ốt Ghê-oóc-ghi-ê-vích ạ.
- À… ra thế… Tóm lại, Pa-ra-mô-nốp, loại ra. Sác-ghim, loại ra. Cũng một trăm phần trăm. Cuối cùng là Vin-te. Một cái chết kì lạ. Phù phổi cấp à, các anh bảo thế chứ gì?
- Xét trên sự việc là việc mổ tử thi chưa được tiến hành, xét trên sự việc là Đu-bốp đã có tác động đến ông già Vin-te, thì ở đây, cũng có cái gì đó là lạ, đồng chí Pi-ốt Ghê-oóc-ghi-ê-vích ạ.
- Đồng chí sẽ khởi đầu bằng việc trình bày các buổi truyền tin qua điện đài, từ đó có thể khởi tố một vụ hình sự, vậy là có cơ sở để khai quật tử thi một cách hợp pháp… Chỉ có điều là cha của Ôn-ga lại không muốn cho mổ tử thi. Về đạo đức có vấn đề gì nếu ta đòi mổ?
- Gay cấn đấy, nhưng tôi nghĩ, vẫn hợp với đạo đức, Pi-ốt Ghê-oóc-ghi-ê-vích ạ.
- Các anh sẽ đưa ra những lí do gì?
- Tên nhân viên CIA muốn tránh khỏi bị tố cáo, đã giết Ôn-ga.
- Tên CIA ấy sợ bị tố cáo vì cái gì? Hắn là ai? Tang chứng đâu? Tại sao Vin-te có thể tố cáo hắn? Thế ngộ nhỡ cô ta cũng là đồng bọn? Hoặc nói chung, có thể xảy ra một chuyện không may mà chết đột ngột.
- Khả năng ấy đã bị loại trừ.
- Chứng cớ?
- Người đàn ông vẫn rêu rao với mọi người là yêu cô ta, là Đu-bốp, đã vội vã chôn cất “người yêu” ngay, rồi đi nghỉ mát. Ngay ngày đầu tiên, anh ta đã lôi một cô gái khác đến giường mình, đến tiệm ăn và nhảy! Pi-ốt Ghê-oóc-ghi-ê-vích, đồng chí tưởng tượng xem, hắn đi nhảy đấy.
- Nhảy? Thằng đểu thật! Nhưng… Nhảy thì kệ hắn. Đấy đâu phải là tang chứng?
- Còn tang chứng thể nào nữa?
- Than ôi, đấy vẫn không thể là tang chứng, các đồng chí ạ. Tôi và các đồng chí đều chưa có tang chứng gì. Nhưng tôi muốn hỏi: các đồng chí và Xla-vin đã có đủ tài liệu để nói chung loại được hẳn Dô-tốp ra khỏi danh sách những người đáng nghi ngờ chưa?
- Tôi có thói quen là rất tin Xla-vin - Côn-xtan-ti-nốp nói.
- Tôi cũng vậy, nhưng dù sao, đấy vẫn không phải là câu trả lời.
- Nếu Xla-vin khẳng định được tính cách trung thực của Dô-tốp, thì tôi không thể không tin.
- Tôi cũng không cần sự khẳng định về tính cách trung thực của Dô-tốp. Tôi cần sự khẳng định là anh ta vô can trong việc này. Côn-xtan-tin I-va-nô-vích ạ.
- Tôi sẽ gửi ngay cho Xla-vin bức điện. Dẫu rằng tôi đang định gửi một bức điện khác - mời anh ta trở về đây bình an vô sự.
- Vậy đồng chí phải viết lại đi - Nói rồi Phê-đô-rốp nhấc máy riêng - đường dây này thuộc hệ thống điện thoại của Hội đồng bộ trưởng, - và ông quay số - A lô, khi nào đồng chí có thể gặp Va-xi-li Lu-ki-a-nứt? À, ông ta bay đi rồi à… Vậy ai đang nắm công việc? Được rồi, xin cảm ơn - Ông lại quay số - Ni-cô-lai Gri-gô-ri-ê-vích, chào anh, Phê-đô-rốp ở Uỷ ban An ninh quốc gia đây. Tôi muốn được hỏi anh: Anh có tham gia vào cuộc hội đàm với Na-gô-ni-a không? Đúng, lần ấy đấy. Vậy ai đã chuẩn bị tư liệu? Không, không, tôi muốn hỏi về phía các chuyên viên kia, về chuyện cung ứng hàng chẳng hạn. Vậy à, rõ rồi. Anh ta ở phòng hay ban nào? Đu-bốp à? Anh thu xếp thời gian giùm, phụ tá của tôi là tướng Côn-xtan-ti-nốp sẽ đến anh đấy! À, thì cũng có chuyện rầy rà mà, thế thôi. Xin cảm ơn anh. Tạm biệt.
Phê-đô-rốp gác máy, bỏ kính ra và cất vào bao.
- Thế đấy - ông nói - Về các vấn đề kinh tế thì Đu-bốp chuẩn bị. Tôi xin chúc mứng anh, anh đã để Prô-xcu-rin theo dõi anh ta, anh làm việc đâu ra đấy thật, rất mạch lạc. Bây giờ anh chuẩn bị làm quyết định đi, liên lạc ngay với Viện kiểm sát, chúng ta sẽ phải khai quật tử thi.

*
* *


(Trích kết luận của các giám định viên tham gia vào việc khai quật và mổ tử thi Ôn-ga Vin-te:
Chứng phù hai bên phổi gây nên do tác động của một thứ thuốc (có mùi khó chịu), không hề thấy có trong danh mục các thứ thuốc được bào chế trong nước. Nghiên cứu chất thuốc còn đọng lại chưa tiêu hết, thì thấy khả năng bị mất nhận thức có thể xảy ra sau ba mươi, bốn mươi giây kể từ lúc uống thuốc, tuy nhiên thời gian chết hẳn thì xảy ra chậm hơn nhiều. Vì chúng tôi thấy không xác định được thuốc, nên hành động của những bác sĩ đã cấp cứu Ôn-ga Vin-te sau khi bất tỉnh, theo chúng tôi, là không có gì sai sót. Chính chúng tôi cũng không thể định đoạt được, là có thể dùng loại thuốc gì để có tác dụng đối kháng lại thứ thuốc kia và cứu được nạn nhân ra khỏi tình trạng trên. Còn về câu hỏi đặt ra, là xem nạn nhân có ở trong tình trạng mang thai không, chúng tôi xin xác định dứt khoát là không. Chúng tôi cũng phủ nhận khả năng nạn nhân có bất cứ một di chứng nào kinh niên về bệnh phổi. Phải xác nhận rằng trước khi uống thứ thuốc không xác định được kia, nạn nhân còn hoàn toàn khoẻ mạnh).

*
* *


“Gửi Xla-vin,
Gửi gấp câu trả lời về đại lí của hãng “Cúc và các con”. Những gì đang liên quan đến Đu-bốp, hoàn toàn giữ kín.
Trung tâm”.


“Gửi Trung tâm.
Đại lí của hãng “Cúc và các con” ở Luy-xbua không có.
Phòng loại sang, đắt tiền, số 1096, có hai buồng con ở trong, được dành cho Đu-bốp thuê tất cả 12 lần, từ tháng Ba 1976 đến hết tháng Bảy 1976. Giá thuê phòng 95 đôla một ngày. Lương của Đu-bốp từ tháng Ba đến tháng Bảy năm ấy, được 500 đôla mỗi tháng.
Xla-vin”.



Chú thích
(1) Xê-ri-ô-gia và Vi-chi-a là tên gọi thân mật từ tên chính Xéc-gây và Vích-to
(2) Tên Đu-bốp có gốc chữ là “đúp” nghĩa là cây sồi. Vì cây sồi là một cây cao to, xum xuê trong rừng Nga, nên Côn-xtan-ti-nốp mới đề nghị đặt mật danh là Gác Rừng.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Mọi người đâu rùi; vào hoàn thành nốt truyện đi chứ [:D] Ông Đình vừa lên mod vào đây góp sức để xong truyện đi
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Hi các bạn!
Dạo này HTLĐ đang phải tập trung làm luận văn, mặc dù rất muốn cùng các bạn hoàn thành tác phẩm này, nhưng quả thật thời gian không cho phép. Rất mong các bạn thông cảm cho HTLĐ nhé! Hẹn mọi người 1 thời gian nữa, khi đó HTLĐ sẽ type bù lại, được không?
[:D]
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi 39


Côn-Xtan-ti-nốp.

Đúng ba giờ chiều,Côn-xtan-ti-nốp xuống phòng họp,nơi tập hợp tất cả những ai sẽ tham gia chiến dịch sắp tới. Ở giữa phòng,trên chiếc bàn lớn, Gmư -ri-a đã đặt sẵn mô hình công viên Thắng Lợi.
-Các đồng chí- Côn-xtan-ti-nốp nói - chiến dịch chúng ta sắp tiến hành rất đặc biệt.Không những số phận của Dô-tốp,một công dân Xô -Viết chân chính đang ở trong tình trạng nguy ngập ,mà lớn hơn nhiều,số phận của cả một đất nước bạn bè của chúng ta đang bị đe dọa ,cũng trông chờ vào kết quả của chiến dịch này.Tôi yêu cầu các đồng chí luôn ghi nhớ điểm đó.
Gmư-ri-a đứng dậy.
-Xin các đồng chí hãy nhìn vào mô hình.Chúng tôi cho rằng tên gián điệp Mỹ sẽ đi từ đại lộ Lê-nin ,xuất phát từ ngôi nhà sứ quán,qua trường đại học,trước khi ra đến đại lộ Mô-giai-xkơ,sẽ rẽ ngoặc sang phải,đi vào một con đường hẹp dẫn tới công viên.Gần chỗ trống dành để xây tượng đài ,hắn sẽ phanh lại chỉ trong một phút thôi,đủ vứt ra,cũng có thể đặt vào đâu đó nhẹ nhàng,thì càng hay,một hộp thư bí mật,được làm giả hình một cành cây. Chúng ta phải tóm được hắn ở ngoài phố.Vì vậy , phải tuân thủ sự cảnh giác cao độ ,chúng ta sẽ không dùng điện đài,vì hoàn toàn có khả năng là chiếc xe thứ hai của chúng là xe bảo hiểm ,được trang bị bằng máy móc nghe trộm bằng điện tử.Sau một tiếng nữa chúng ta sẽ phải vây bọc cả khu vực.Khoảng cách giữa mỗi người không được quá hai mươi mét ,trong công viên rất tối ,đèn đường chỉ treo dọc các lối đi,vì thế phải luôn luôn chú ý hết sức......
-Vấn đề là ở chỗ - Côn-xtan-ti-nốp nói -Chúng ta chưa xác định được địa điểm trao đổi hộp thư bí mật.Chúng ta đang có hai giả thiết tồn tại song song ,mỗi giả thiết đều có lô-gích của nó : cái "cành cây" rất thuận tiện vứt ra ở chỗ rẽ từ con đường hẹp ra đại lộ ,ở đó chiếc xe của CIA khó quan sát được trong giây lát.Nhưng cũng lại có thể phanh lại một khoảnh khắc gần đài tưởng niệm,rất có lý,vì người lái còn mượn cớ ngó nhìn ra hướng mấy khu công trường mới xây dựng.Do đó,chúng ta phải bao vây một khu vực rộng lớn,và để không có tình huống nào ngẫu nhiên,đại tá Gmư-ri-a ,phải kêu gọi các đồng chí chú ý tới mức cao nhất. Các đồng chí còn hỏi gì không?
-Đồng chí thiếu tướng,có phải đêm nay cũng là dịp may duy nhất mà chúng ta khai thác được không? -Nữ thiếu úy Giô-khô-va hỏi. Côn-xtan-ti-nốp cầm điếu xì gà,trả lời một cách nặng nề :
-Phải,theo như tôi biết,thì là dịp may cuối cùng.
*
**
Sáu giờ sáng,Cô-nô-va-lốp liên lạc :
-Đồng chí I-va-nốp ,từ sứ quán có năm xe đi ra ,không thấy Lun-xơ trong đó ,đi dọc theo phố Xa-đô-vai-a về hướng cầu Krưm.
-Có ai trong đám CIA?
-Giê-cốp và Các-pô-vích.
-Thái độ và cử chỉ ra sao?
-Có vẻ bình thản...À,Giê-cốp đi lánh sang bên trái một cách khác thường,có lẽ muốn nhận tín hiệu ở chiếc "Vôn-ga".
-Các-pô-vích đi bảo hiểm sau hắn chứ?
-Không,tên này đi bình thường ở hàng thứ ba...Cũng chẳng thấy hắn ngó nhìn sang hai bên nữa....Giê-cốp nhìn tín hiệu rồi bẻ ngoặc ngay sang phải ,xoay vòng xe và chui tuột xuống đường bờ sông.Rồi cho xe chạy sang nhà Đu-bốp.Nhìn vào chỗ để xe mọi khi của Đu-bốp.
-Thế ngộ nhỡ,tín hiệu "PARK" (Công Viên)-lại là chỗ đỗ xe ngay ở nhà hắn thì sao? -Côn-xtan-ti-nốp trầm ngâm hỏi lại Gmư-ri-a và Prô-xcu-rin ngồi cạnh -Tại sao hắn lại cho xe rẽ qua nhà Đu-bốp nhỉ?
-Hắn đã vòng trở lên,theo một phố nhỏ,dốc -Cô-va-lốp tiếp tục báo cáo -Đã về lại sứ quán...Không đóng cửa xe,chạy vào sân ngay...Lại ra...Tay cầm một tờ báo ,tạp chí.Lên xe lại... Đi ra đường vòng...Hắn đi ở hàng thứ hai...Mười tám giờ,hai mươi lắm phút...Hắn đột ngột quặt hẳn sang trái ,dừng lại kiểm tra xe.
-Hắn không thấy anh chắc?
-Tôi không biết.
-Bỏ vị trí quan sát ngay.-Côn-xtan-ti-nốp nói.
-Hắn lại đi sang hàng hai,hướng thẳng về cầu Krưm.
-Anh theo dõi hắn từ xe thứ hai à?
-Không,từ xe thứ nhất,hắn hãy còn ở trong tầm quan sát.
-Hãy đuổi theo để gặp hắn ở phố Đu-bốp-xkai-a.
-Rõ.
Vào lúc sáu giờ bốn lăm,Giê-cốp đỗ xe ở gần nhà,nơi các nhân viên sứ quán ở,và về phòng mình.
Vào một giờ đêm,nhóm của Cô-nô-va-lốp được lệnh rút nốt ,tất cả mọi người đều ướt như chuột lột,không thấy bọn CIA đến chỗ hẹn.Hỏng rồi!



Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: conbo2
Mọi người đâu rùi; vào hoàn thành nốt truyện đi chứ [:D] Ông Đình vừa lên mod vào đây góp sức để xong truyện đi

Ông en híp tui hơi bị nhiều đấy. Lúc nào tui phản công lại à [:@]



Trích đoạn: Hoa Tulip đen
Dạo này HTLĐ đang phải tập trung làm luận văn, mặc dù rất muốn cùng các bạn hoàn thành tác phẩm này, nhưng quả thật thời gian không cho phép. Rất mong các bạn thông cảm cho HTLĐ nhé! Hẹn mọi người 1 thời gian nữa, khi đó HTLĐ sẽ type bù lại, được không?

Được!
Nhưng làm luận văn cho tốt
Nếu làm không tốt là................. không cho type truyện đâu [8D]


Hi!
Các bạn đứng yên tại chổ nha
Chờ........

Đình hiệu đính cái truyện này thẳng thớm lại cho dễ đọc nhé [:D]



Đăng nhập để trả lời
0

Hiện nay còn thiếu:
- Phần 30-40, phần 46
- Phần 22 thiếu trang 179,180,181,182
- Phần 29 thiếu trang 276,277


Đình xí trước 30-35 nha

Còn lại các bạn từ từ đăng ký
Đăng nhập để trả lời
0
Tre chỉ xin lãnh phần 46 và phần 22,29 còn dang dở thôi.
Còn phần 30 tới 40 nè, mại dzô, mại dzô, bà con ơi
ai nhanh tay thì còn, chậm thì hết....ráng chịu nghen[8D]
Nói với người mình không nên nói, mất lời
Không nói với người mình nên nói, mất người
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-25 17:41:26ct.ly>
PHẦN 17

TÌM KIẾM – II. GIƠ-VA-NỐP, GMƯ-RI-A PA-RA-MÔ-NỐP

Thiếu uý Giơ-va-nốp “đón đợi” Pa-ra-mô-nốp. Pa-ra-mô-nốp đã cẩn thận ngó quanh, nhìn



Đã mang đến chương 17
Vào thư viện

Thân ái
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN 18

XLA-VIN

- Chào anh An-đrây An-đrây-ê-vích (1).
- Chào anh.
- Tôi có ý muốn nhờ anh giúp tôi nắm được tình hình ở đây, tôi là Xla-vin Vi-ta-li Vxê-vô-lô-đô-vích.
- Thế thì không phải nhiệm vụ của tôi rồi.
- Mọi người đều bảo anh cảm nhận tình hình ở đây tốt hơn cả, nhất là tình hình Na-gô-ni-a, việc cung cấp hàng của ta, chu kỳ cung cấp…
- Ấy cái ấy anh đều có thể đọc trong báo cáo. Chỉ có ý nghĩa của nó… Viết gì thì viết, nhưng hàng hoá vị tất đã chạy.
- Sao vậy?
- Tại chúng ta còn khờ quá.
- Cũng có thể thế - Xla-vin đồng ý – có điều, trong trường hợp này, nắm được cái mắt xích chính thì tốt. Ta còn khờ ở chỗ nào? Làm sao loại bỏ cái khờ ấy? Tình hình Na-gô-ni-a thì lại rất đ áng phải quan tâm.
- Loại bỏ được cũng rất đơn giản thôi. Các cơ quan phục vụ ở cảng này nợ chúng ta 5 triệu đồng. Dĩ nhiên cũng chả đáng gì so với những cái đã bay theo gió, nhưng với quy mô ở đây thì cũng là một món tiền khá, mà ta cứ đằng thắng đòi, thì nếu họ chưa trả nổi, ít nhất họ cũng phải giữ phép lịch sự phục vụ chu đáo cho các chuyến tàu của ta đi Na-gô-ni-a, giải phóng chúng, ưu tiên, đừng có giữ lại mỗi tàu trung bình ba ngày đêm trên bến. Ta thì cứ mềm mỏng, sợ họ hiểu lầm, họ bực bội, trong khi trên tất cả các báo chí, bọn họ chửi ta thả cửa…
- Nhưng cách mềm mỏng ấy cũng là chứng minh của sức mạnh, An-đrây ạ, đúng thế không?
- Đồng ý. Rất đúng. Nhưng ta sẽ còn mặt mũi nào nhìn nhau nữa, nếu để cho bọn chúng bóp chết Na-gô-ni-a? Chỉ riêng cái chuyện để hàng cung cấp chậm trễ, đã có bao kẻ lợi dụng để phao tin: “Người Nga hứa nhiều, nhưng không giữ lời hứa”, thời gian cứ bay vèo vèo, và ta thì chết cháy vì họ. Anh bảo sao nào?
- Tệ thật. Và sẽ còn tệ hơn nhiều nữa.
- Ở đây người ta thấy tôi nói vậy thì lại bảo rằng tại tôi hay bẳn tính và tẻ lạnh, khó chơi. Đâu phải thế, chẳng qua tôi ra cảng nhiều hơn anh em, tôi đã gặp nhiều loại người, qua đó, tôi hiểu rõ là họ đang nghĩ gì ta, họ bảo: “Bọn ấy thì có thể cứ cưỡi bừa lên cổ chúng cũng nhịn”.
- Thôi đượ, anh hãy gà cho tôi để tôi làm bài báo nhé, làm sao viết cho khéo hơn một chút là được. Hai giờ chiều nay, tôi ăn cơm với một người bạn đồng nghiệp người Mỹ, từ hồi vụ án Nuy-rem-be đến giờ mới gặp nhau…
- Pôn Đích à?
- Đúng thế. Anh cũng quen?
- Anh ấy chơi với một người bạn của tôi. Theo tôi, đó là một nhà báo có suy nghĩ, tuy bực một nỗi là uống rượu bét nhè.
- Bốn giờ, tôi sẽ gặp anh nhé?
- Không, bốn giờ tôi bận. Thôi ta hẹn vào quãng 9 giờ tối.
- Ở chỗ tôi nhé?
- Anh ở đâu nhỉ?
- Ở “Hin-tơn” phòng 607. Tầng 6. Hành lang bên phải.
- Tôi biết. Được rồi, tôi sẽ đến anh vào lúc 9 giờ.
*
* *
Pôn Đích ngồi xuống cạnh Xla-vin, chửi làu bàu:
- Anh đã bẫy tôi vào cái chuyện thổ tả này, I-van ạ. Bây giờ ta đến tiệm “Mắc Đô-nan” nào đây?
- Có cái hiệu ở cạnh toà nhà nơi lão Bê-liu đã sống ấy.
- Lão đã sống ở khu ổ chuột, tiệm”Mắc Đô-nan” ở đấy hôi như nước ráo ấy, tôi đã nhìn hết lượt rồi.
- Còn tôi lại muốn ngó qua một tý, xem nó thế nào?
- Thôi, anh đừng úp mở, I-van. Anh biết gì về bản thân lão Bê-liu ấy? – Pôn Đích chia ra 8 đô-la cho Xla-vin – Anh cầm lấy, để anh mua nhé, không thì tôi lại uống sạch hết.
- Tiền gì thế này?
- Đừng có làm bộ ngốc, tôi đã thua cuộc anh rồi mà. Anh đã linh cảm về Giôn thính hơn tôi, ông ta quả thực đã hỏi tôi về anh đúng như câu anh đã đoán. Anh giải thích rõ xem nào, anh đã biết được những gì trong vụ này?
- Chẳng biết gì cả. Tôi chỉ có thể dự đoán. Tôi nghe nói, Bê-liu ở thuê trong một căn phòng đâu đó gần ga.
- Gần cảng. Nhưng ầm ỹ lắm, cần trục làm việc suốt ngày đêm ngay dưới cửa sổ. Rồi sao nữa?
- Nghe nói trong phòng lão ta có cả sách tiếng Nga.
- Sách U-krai-na. Và bưu ảnh nữa, nhiều bưu ảnh cũ…
- Có phó-mát khô và nửa cái bánh mì trên bàn nữa, đúng không?
- Phó-mát ôi ấy mà, còn bánh mì thì không có, mà là thứ bánh bột đã khô queo. Vậy ra anh cũng ở trong phòng lão ta rồi à?
- Pôn ạ, giá tôi mà đặt chân tới đó thì người ta đã đem tôi đi thẩm vấn rồi… Thế Bê-liu bị giết bằng cách nào? Súng lục không kêu chăng?
- Không. Bị bắn lén bằng súng bắn tỉa, đặt từ một cái cần cẩu ở cảng chĩa sang cửa sổ. Lão đang tập thêu ren gì đó, xung quanh đầy khăn rải bàn, khăn ăn, những đường riềm. Rồi hình gà sống, gà mái… Nhưng này, anh biết những gì về lão ta? Lẽ nào các anh lại tự dưng đi tìm lão, hả I-van?
- Pôn ạ, anh hãy cho tôi biết, lão ta có những sách gì?
- Tôi quên rồi… Tôi có ghi đây, nhưng sổ đã để ở phòng. Thơ, chủ yếu là thơ thôi.
- Một cái buồng con, cần trục dưới cửa sổ, khăn rải bàn và khăn ăn có hình gà qué, và thơ…
- Bợm thật, anh phân loại các sự kiện rành rẽ lắm. Trước kia, chưa nhạy thế đâu, anh chỉ dồn dập tích thật nhiều sự kiện, thông tin đơn thuần từ Nuy-rem-be thôi. Thời gian trôi qua, bây giờ trong anh đã thấy rõ tính độc lập suy nghĩ. Thật tuyệt, anh biết tổ chức một cách táo bạo các sự kiện rời rạc thành luồng ý nghĩ.
- Anh làm tôi phổng mũi đấy! Thế cảnh sát có nhiều không? Giới báo chí?
- Sau khi khám xét xong, họ mới được vào.
- Họ cần tìm cái gì?
- Có quỷ mà biết. Người ta nói ám chỉ rằng lão ta là gián điệp của các anh.
- Ám chỉ à, thì một con bé con cũng biết cạnh khoé được, những việc như thế này phải có chứng cớ hẳn hoi chứ!
- Chứng cớ, thì người ta nặn ra. Khắc được!
- Có nghĩa lý gì không chứ!
- Nghĩa lý à, thì đấy: lão ta sống gần cảng này, ở đó tàu bè của các anh đi Na-gô-ni-a; bây giờ ở đấy đang dấy lên chiến dịch chống việc viện trợ ấy, thế còn Bê-liu thì đơn giản quá: soi ống nhòm và để tín hiệu.
Xla-vin bụm miệng cười to.
- Thì sao? – Pôn tiếp tục – Quan trọng là quẳng được đi một con mèo già không nuôi được nữa, ai muốn vơ thì cứ vơ lấy. Và kẻ bị hắt phân vào người sẽ là kẻ có lỗi, dù cho rằng cuối cùng có rửa sạch đi được chăng nữa.
Trong quán “Mắc Đô-nan” cạnh cảng, cách cái nhà trọ hạng ba mà Bê-liu đã sống khoảng hai khối nhà, không khí rất ngột. Xla-vin sửng sốt thấy ruồi nhặng nhiều vô kể, bụng vằn xanh béo mập, chúng bay chậm chạp như những chiếc “Gioong-ke” quá tải, và phát ra những tiếng vo ve phát ớn.
- Ta uống cà-phê nhé – Xla-vin đề nghị - còn ăn trưa ta sẽ đi ăn ở đâu đó ngoài trời, được chứ?
- Này, nhưng có phần chắc là anh biết về lão Bê-liu này, hắn là nhân viên của các anh, hẳn thế, I-van ạ!
- Anh bạn già ơi, chúng tôi cần gì phải để một tay gián điệp như vậy ở chỗ này, tôi nói nghiêm túc đấy. Chúng tôi đã công khai nói rằng nếu xảy ra xâm lược vào Na-gô-ni-a thì chúng tôi sẽ giữ Gri-xô. Các con bài đều ngửa, chẳng có gì phải bí mật nữa. Nói chung trên thế giới bây giờ ít điều bí mật lắm, mọi cái đều có thể tính ra, chỉ cần có cái đầu làm việc.
Người da đen đang rót cà-phê vào các cốc giấy nói với Pôn:
- Hôm nay tôi đã được vinh dự thấy ông, thưa ông.
- Còn tao thì chưa thấy mày.
- Thưa ông, chính ông cũng đã trông thấy tôi. Ông đã đi từ căn phòng của tên I-van bị giết ra.
- Ai?! Pôn sửng sốt, - I-van?
- Bê-liu ấy. Tên thật lão chính là I-van, gọi theo kiểu Anh là Ai-ven. Lão là người Nga đấy.
- Tôi cũng là người Nga đây – Xla-vin nói.
- Ồ, xin lỗi ông, thưa ông, tôi không thể nào đoán ra ông là người Nga, tôi nghĩ ông là người Anh.
Xla-vin lấy ra bao thuốc “Ya-va” (2), rút điếu thuốc ra nhưng không hút, anh nói chung không hút, chỉ đôi khi ngậm điếu thuốc vào miệng, nhấm nhấm.
- Thế tại sao lão ta lại sống ở đây, hả anh bồi? Sao lại có người Nga ở Luy-xbua? Lão có nói gì với các anh về chuyện ấy không? – Xla-vin hỏi.
- Không ạ. Lão chỉ hát khi nào đã uống rượu say mèm thôi.
- Lão thường xuyên say mèm thế à?
- Lão chỉ bắt đầu uống rượu nhiều từ khi thấy những chuyến tàu Nga ghé bến này, thuỷ thủ các ông thường hay uống bia ở chỗ tôi. Bê-liu luôn ngồi trong cái góc kia kìa, chỗ tối tối ấy, để nhìn họ. Khi họ đi rồi thì mới uống, uống chán lại hát những bài hát quê hương. Nhưng không ai đánh đập gì lão, người ta vẫn để cho lão ngồi như thế và hát, chỉ đuổi lão đi khi nào lão bắt đầu nói lảm nhảm…
- Người ta còn để cho lão hát, thế là rất nhân đạo rồi – Pôn Đích nói – còn cho phép lão được hát sau này ở trên trời, đến ngày phán xử, các người cũng còn được tính công nữa đấy! Nào đưa tiếp cho ta một cốc uýt-xky có đá nữa.
- Chúng tôi chỉ còn uýt-xky Tây Ban Nha thôi. Thưa ông, uýt-xky nhãn hiệu “Đích” người bên các ông không uống thứ đó.
- Chúng nó là một lũ đần độn, để ý đến bọn ấy làm gì. Nếu anh không nói với họ rằng đây là rượu “Đích”, cứ rót mạnh tay vào và đặt ngay dưới mũi họ ấy, gõ nhẹ vào đáy cốc cho bọt uýt-xky nó sóng sánh một chút, thế là ổn mà…
- Cám ơn ông đã chỉ bảo, tôi sẽ thử làm. Ông có thích chơi bi-a không ạ? Chúng tôi có cái bàn bi-a đáng mặt lắm, các viên bi-a cũng nặng.
- Anh này – Xla-vin hỏi - thế có lần nào Bê-liu hát khi có mặt các thuỷ thủ Nga không?
- Vâng, thưa ông, cũng có một lần, và lão vừa hát vừa khóc ròng, thế là các thuỷ thủ đem tặng lão phong bì có in hoa và bưu ảnh…
- Hồi nào vậy?
- Tôi nhớ là vào tháng Chạp, thưa ông, nhưng không biết có thật đúng không. Sau đó, tôi thấy là lão có vẻ sợ sệt thế nào ấy, như lúc nào cũng có ý chờ đợi cái gì đó, - Xla-vin bèn đặt các tấm bưu ảnh trước người phục vụ tiệm ăn.
- Anh lấy làm kỷ niệm, nhưng chớ để người ta lấy súng bắn tỉa mà giết oan đấy nhé?
- Cám ơn ông tặng quà, nhưng thưa ông, bây giờ tôi xin phép từ chối thì tốt hơn: Cảnh sát đang đi lùng hỏi tất cả những ai quen biết Bê-liu, các nhân viên bưu điện bị đưa vào đồn, người ta kiểm tra thư từ, điện tín. Mọi sự đều có thể xảy ra, nên tôi xin đa tạ ông, chúng tôi đã quen sợ đến cả cái bóng của mình nữa.
“Tháng Chạp, các tàu đầu tiên đã đến đây – Xla-vin nghĩ – Và ông lão I-van của chúng ta lần đầu tiên lại được thấy những người Nga thực sự và viết lá thư cho ta. Loay hoay mãi, nhưng không dám gửi. Mọi sự đều đơn giản nhưng rõ ràng. Rồi thì có lẽ cảnh sát đã báo cho chúng việc Bê-liu đã đến gần sứ quán của ta. Glép đã tính toán cũng gần như mình đã tính, và đã khử Bê-liu. Bây giờ thì chỉ còn có một mình hắn, Giôn Glép, là có thể nhận diện đúng bức ảnh nào là kẻ mà chúng đã mộ được!”
…Khi Xla-vin dừng chiếc “Fi-át” cạnh tiệm ăn nhỏ kiểu Pô-li-nê-di – bàn ăn được đặt bên bờ biển, dưới những dãy ô dệt to rộng, tạo thành bóng râm – thì Pôn Đích vật người ra trước tiên, người đẫm mồ hôi.
-Gượm đã – Xla-vin nói – anh hãy quay lại mà ngắm chiếc “Méc-xê-đét” đang săn tôi kia kìa. Anh nhớ lấy số xe nhé, độc nhất vô nhị đấy; cái số ấy không có trong bảnh danh mục của cơ quan thanh tra ô-tô sở tại đâu.
- Chấm hết chuyện chán ngắt ấy đi thôi, Vít (3) ạ! – Pôn Đích rút cục đã gọi Xla-vin bằng tên thân mật - Chẳng nên quá nghi ngờ như thế.
- Thì đấy, chiếc “Pho” sẽ theo ta vào thành phố, và anh đừng cãi với tôi nữa, lần này tiền đánh cuộc sẽ gấp đôi số tiền tôi được cuộc ban sáng đấy.
- Thế ra là Giôn đích thị từ chỗ đó đến thực à? Pôn thở dài chán ngán.
- Tôi có bảo anh thế đâu?
- Anh đừng có coi tôi là thằng già ngu ngốc, hiểu chưa?

(1) Tức Dô-tốp (ND).
(2) “Ya-va”: loại thuốc lá thơm phổ biến và có tiếng ở Liên Xô.
(3) Tên Xla-vin gọi theo kiểu Anh, Mỹ cho có vẻ thân mật (cả tên là Vi-ta-li) (ND).

Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN 19

CÔN-XTAN-TI-NỐP

Tướng Phê-đô-rốp chuyển cái cặp tài liệu cho Côn-xtan-ti-nốp. Côn-xtan-ti-nốp chăm chú nhìn những cột chữ số và trầm ngâm nói:
- Chỗ chúng tôi cũng bị rì rì. Chẳng có gì đặc biệt hơn, may chăng chỉ có chuyện cô Vin-te đột ngột sửa soạn đi Pi-xun-đa nghỉ một tuần.
- Nghỉ phép thường kỳ?
- Không. Đi bằng tiền riêng của cô ta.
- Ở Viện họ, có cái lệ như thế à?
- Chúng tôi sẽ xác minh.
- Xác minh ngay được không?
- Nếu đồng chí cho phép tôi gọi điện cho Prô-xcu-rin ngay.
- Để tôi gọi được không? – Pi-ốt Phê-đô-rốp mỉm cười – Hay là đồng chí ấy chỉ thi hành mệnh lệnh của htủ trưởng trực tiếp thôi?
Sau mười phút, Prô-xcu-rin báo là ở Viện nơi Vin-te làm việc, người ta thường cho các cộng tác viên khoa học bậc cao đi nghỉ phép theo kiểu tiền của mình. Anh còn thông báo là Sác-ghin đã bay đi Ô-đét-xa hôm nay, không phải đi nghỉ mà đi công tác, đi kiểm tra tại chỗ việc bốc xếp hàng cho các tàu sắp đi Na-gô-ni-a.
- Thôi nào – Phê-đô-rốp nói – ta hãy tạm kết luận: Thứ nhất Pa-ra-mô-nốp bị loại ra, anh ta không dính vào đây; chỉ là một anh chàng nghiện rượu bất hạnh.
- Giá tôi, thì tôi gọi đó là người bất hạnh số 2, anh Pi-ốt Ghê-oóc-ghi-ê-vích ạ. Số một là I-van Bê-lốp, cũng chính là Ai-ven Bê-liu. Tôi đã nhờ anh em ở Sở công an Nô-vô-rốt-xcơ hỏi chuyện các thuỷ thủ thánh Chạp năm ngoái chủ yếu là thuỷ thủ Nô-vô-rốt-xcơ đã đến Luy-xbua. Hai người trong số được hỏi đã ở tiệm “Mắc Đô-nan” hồi tháng Chạp ấy, và đã nhớ rằng Bê-liu đã hát cho họ nghe bài “Gió cuốn” và “Ơi, cánh đồng, cánh đồng” (1). Lão hỏi, có thể được ra tàu họ chơi là leo lên thanh chống bão không, giá ra được, thì như lão nói, lão “có thể phớt hết sự đời, mặc cho bọn chúng kết tội hoặc bỏ tù…”
- Trong thời gian chiến tranh, Bê-liu bao nhiêu tuổi?
- Mười tám. Rời khỏi đất nước cùng với bọn Đức. Xla-vin báo là lão đã bị “làm phép tẩy lễ” mất hy vọng trở về rồi.
- Còn tên gián điệp thì thực sự đang làm việc ở Mát-xcơ-va. Mọi hy vọng của ta, rằng đây chỉ là một trò nghi binh khiêu khích, một trò chơi trên làn sóng điện, đã tan biến hoàn toàn.
- Đáng tiếc, đúng như vậy! (2)
- Thế đó là Sác-ghin hay Vin-te?
- Những người còn lại đều nằm trong sơ đồ nghi vấn cả.
- Có bao nhiêu người còn lại?
- Tất cả những ai dính dáng đến cái mối Na-gô-ni-a. Tức là sáu người cả thảy.
- Và đồng chí muốn được phê chuẩn việc kiểm tra họ?
- Chưa có đủ cơ sở để xin một sự phê chuẩn như vậy. Đồng chí lại là người đầu tiên không hiểu tôi rồi!
- Cái cách nói mập mờ hay nhất bao giờ chả nằm trong cái câu “thiên hạ không hiểu mình”, đúng không?
- Dẫu sao, tôi cũng có thể đề nghị anh cho phê chuẩn công việc về Vin-te và Sác-ghin được rồi, còn về Dô-tốp thì Xla-vin ngay hôm nay phải đánh điện về, tôi sẽ đợi, có thể đến nửa đêm thì điện sẽ tới.
- Anh cứ đợi ở nhà nhé.
- Tôi vừa đợi vừa kết hợp làm việc. Anh em mới tìm được cho tôi một số tư liệu về vụ tai tiếng có Glép tham dự, tôi nghĩ, đó cũng là một đầu mối có thể tóm được để rồi giật giật tung chỗ nút thắt ra.
- Được rồi. Tôi sẽ thức đến một giờ sáng. Anh cứ gọi điện nếu có gì quan trọng.
- Gmư-ri-a sẽ bay đến chỗ Sác-ghin, cứ để đồng chí ấy nắm Sác-ghin tại chỗ. Còn tôi, nếu anh đồng ý, thì ngày kia sẽ bay đi Pi-xun-đa, tới chỗ Vin-te.
- Anh đi Pi-xun-đa à? – Phê-đô-rốp cau mày, ngồi lặng thinh giây lát, rồi cầm lấy một cặp giấy trong chồng cặp xếp cẩn thận trên bàn, xem các giấy tờ, lấy ra một tờ và chìa cho Côn-xtan-ti-nốp – May quá, anh làm tôi nhớ ra. Trong tờ tài liệu này có báo là tuỳ viên báo chí của sứ quán Mỹ Lun-xơ, mà cơ quan phản gián ta đã xác định được là nhân viên CIA, đã bay đi Pi-xun-đa, cũng ngày ấy và chuyến ấy với Ôn-ga Vin-te.
Vé đã đề tên Ôn-ga Vin-te quả thực đã được mua cho chuyến máy bay mà Lun-xơ đã bay. Nhưng chị ta lại không có trong máy bay, không thấy xuất hiện ở Pi-xun-đa ngày hôm sau và suốt thời gian tiếp đó, mà cũng không thấy trả lại vé. Còn ở nhà chị ta thì gọi điện đến không có ai trả lời, tuỳ cứ khoảng hai giờ một lần, người ta liên tiếp gọi cho chị.
Côn-xtan-ti-nốp hỏi Prô-xcu-rin:
- Đồng chí đã gọi điện đến chỗ chị ta làm việc chưa?
- Chúng tôi không muốn đánh động bằng những cây hỏi thừa. Chị ta là người giao thiệp rộng, duy trì quan hệ tốt với mọi người, có thể có người sẽ báo cho chị ta biết, rằng chị ta đang bị để ý chăng?
- Thế ở chỗ ông bố chị ta?
- Cũng không thấy – Prô-xcu-rin nhăn mặt – Các chiến sĩ nói rằng “không ghi nhận được sự hiện diện thực tế”.
- Đã xem khu nhà chị ta ở, đã dò hỏi gì chưa?
- Chẳng ai biết gì cả. Căn hộ khoá chặt.
- Tóm lại, các đồng chí đã mất dấu Vin-te.
- Vâng. Có thể nói như vậy.
- Đồng chí có thể nói gì khác hơn không?
- Thực tình, không thể nói gì khác được nữa.
- Hảy huy động người của đồng chí tìm kiếm Vin-te hết sức kỹ lưỡng. Đồng chí nói đúng, không nên đánh động bằng sự chý ý quá đáng, nhưng phải nhanh chóng tìm ra chị ta bằng bất cứ cách nào. Ta hãy lần theo tất cả các mối liên hệ của chị ta. Đồng chí có nói là trong “tổng số các dấu hiệu” của Vin-te, đặc biệt nổi bật tính quảng giao… Có thể ta tin cậy được ai nhất, trong tất cả những người chị ta quen biết?
- Tin cậy với ý nghĩa nào?
- Đồng chí hỏi vậy là tốt đấy – Côn-xtan-ti-nốp hài lòng nhận xét – Chúng ta vẫn phải nhất thiết tin tất cả mọi người trước khi có gì khác. Tôi chỉ muốn hỏi là: Ai sẽ không tiết lộ một lời nào về cuộc nói chuyện với chúng ta?
- Người bạn gần gũi nhất của Vin-te là nữ tiến sĩ Rai-xa Ni-a-mê-tô-va, nhưng nhà Rai-xa không có điện thoại và cũng không đi làm, vì đang nghỉ ốm, chúng tôi đã hỏi rồi.

(1) Hai bài dân ca U-krai-na (ND).
(2) Côn-xtan-ti-nốp nói như vậy vì ngay trong cặp của ông còn một bức điện bằng chữ số chưa đọc được. Nội dung bức điện - về sau mới giải mã được – như sau:
“Bạn thân mến! Cám ơn vì tin của bạn cực kỳ hay. Chúng tôi không chỉ đệ trình lên lãnh đạo của chúng tôi, mà cả lên Chính phủ chúng tôi. Chúng tôi muốn biết, hành động ngoại giao nào sẽ có thể ngăn chặn được Mát-xcơ-va giúp đỡ quân sự cho Na-gô-ni-a, nếu ở nước này xảy ra biến động. Đáng lo, là bạn và những người quen của bạn đã bắt đầu bị theo dõi, chúng tôi nghĩ rằng đó là hậu quả của sự mệt mỏi. Xin khuyên bạn đi nghỉ vài ngày ra biển. Trong lần liên lạc sau hãy gửi cho chúng tôi những phân tích của bạn… Chúng tôi vẫn đang nghĩ tới vấn đề bạn nêu về chiến dịch nghi binh. Có nên thực hiện chậm hơn đề nghị của bạn? Hay bạn cương quyết đòi tung ra trò chơi này để bịt đầu mối ngay? Chuyển lời chào từ người bạn P. của bạn. Xin báo là một phần tiền thưởng đã được P. gộp vào cổ phần các hãng “Iu-nai-tít Frút” và “Tơ-rết Co-pô-rây-sần” G. và L. của bạn (chú thích của tác giả).

Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN 12

CÔN-XTAN-TI-NỐP

Việc hẹn gặp vụ trưởng Ê-rê-min ở Bộ Ngoại giao vào buổi trưa, ở tiệm ăn đường Ác-bat Mới, đã thu xếp xong, Côn-xtan-ti-nốp đã có thời làm phản biện cho I-van I-a-cốp-lê-vích Ê-rê-min khi ông này bảo vệ luận án phó tiến sĩ về đề tài “Phong trào giải phóng dân tộc ở lục địa Phi châu và hành động của các nước khối NATO”. Là luật gia về luật quốc tế, Côn-xtan-ti-nốp đã đặt ra cho Ê-rê-min 47 câu hỏi với sự tỉ mỉ thuộc về bản chất của ông: Ông quen đòi hỏi sự chính xác ở cả mình, ở cả những người xung quanh về mọi vấn đề, đối với ông không có chuyện gì là vặt vãnh. Vì thế mà hai người thành ra quen nhau. Ê-rê-min hoãn việc bảo vệ luận án lại một tháng, nhưng đã thành công mỹ mãn, không còn lại một lỗ hổng nào.
.. Côn-xtan-ti-nốp đến tiệm ăn sớm hơn 10 phút so với giờ hẹn, cho gọi hai đĩa xúp ô-crô-sca, hỏi xem món thịt côt-lét nấu kiểu Ki-ép hôm nay có ngon không, đề nghị cho ít đá rồi bảo pha đúp cho mỗi người hai cốc cà phê.
- Còn rượu? – Anh phục vụ bàn hỏi – Các vị uống cô-nhắc? Hay vốt-ca? Có vốt-ca “Pô-xôn-xkai-a” đấy.
- Chúng tôi sẽ uống loại nước khoáng rất nhẹ “Boóc-giô-mi” – Côn-xtan-ti-nốp trả lời.
Anh phục vụ tự ái nhún vai sửa lại cái khăn bàn cho ngay ngắn, nhưng giật mạnh đến nỗi Côn-xtan-ti-nốp phải vội giữ tay vào cái cốc, không thì chắc đã vỡ tan.
Ê-rê-min đến chậm mất 5 phút.
- Xin lỗi, Côn-xtan-tin I-va-nô-vích, tôi đã không tính toán thời gian, do định dung hoà cái dễ chịu với cái bổ ích, thế là đã đi bộ đến.
- Theo nghi lễ ngoại giao thì chậm 5 phút có thể cho qua, - Côn-xtan-ti-nốp mỉm cười – và tôi nghĩ ta có thể gói gọn câu chuyện và bữa ăn trong vòng 40 phút. Tôi đã đặt món xúp ô-crô-sca.
- Anh thật tài ba đấy – Ê-rê-min nói - một thiên tài tốt bụng! Nào, anh kể xem có gì đang động não?
- Chẳng có quái gì cả. Chẳng qua tôi muốn đến ngồi với anh một tý, vì nói chuyện qua điện thoại thì chẳng thấy mặt mũi gì của nhau ráo, mà tôi thì lại cứ muốn nhìn vào mặt anh cơ, bởi lẽ anh cũng như Xla-vin đều là loại tinh khôn vô chừng, khi các anh im lặng là lúc tôi sẽ hiểu rõ các anh hơn.
- Đấy là một lời khen chăng?
- Khỏi phải bàn. Sự tinh khôn là yếu tố cần thiết của trí tuệ để chống lại thói xảo quyệt và gian giảo. Anh biết không, tôi đã chuyên chú bỏ công ra đọc kỹ chương “Về nghệ thuật láu cá trong quân sự” ở một quyển sách hay từ thế kỷ trước cơ đấy!
Ê-rê-min mỉm cười:
- Có một cuốn sách hay tương tự, xuất bản ở Pa-ri vào năm 1839, nhan đề là “Vẻ mỹ lệ của sự láu cá ngoại giao”!
- Có thể coi đấy cũng là một lời khen chứ?
- Đích là thế. Nào, thôi bây giờ anh vào việc đi, anh cần tôi có việc gì thế?
- Anh I-van I-a-cốp-lê-vích này, số là theo những tài liệu gần đây nhất của chúng tôi, thì ở Na-gô-ni-a sắp sửa có đổ máu.
- Cũng theo các tài liệu ấy của anh, việc chúng gây sức ép sẽ không đơn thuần là trò diễu võ dương oai, hoặc mới chỉ để thử sức thôi chứ?
- Theo các tài liệu của tôi thí chúng đang chuẩn bị hẳn hoi một cuộc bạo loạn. Thế còn theo ý anh?
- Chúng tôi có cảm giác là chúng chưa dám xâm lược công khai. Đồng ý rằng bọn cầm quyền Mỹ đã chọn châu Phi làm đấu trường mới, có tính đối đầu, nhưng chúng chưa sẵn sàng để đánh nhau thực sự, hồi ức về Việt Nam hãy còn quá nóng hổi. Có lẽ, sự việc chỉ giới hạn ở một chiến dịch làm rùm beng để tuyên truyền, chúng cào xới ở bề nổi, muốn mặc cả trong cuộc đàm phán về giải trừ quân bị, vì thế cố tình lôi kéo chúng ta đến bờ vực của cuộc khủng hoảng, nhưng chỉ đến đúng bên mép bờ vực đó thôi.
- Tôi cho rằng anh nghĩ lầm.
- Đó là ý kiến riêng của anh?
- Phải, nhưng dựa trên các sự kiện.
Ê-rê-min bỏ một viên đá vào món ô-crô-sca, mắt lim dim:
- Không thấy có vị cơ-vat trong xúp nhỉ. Giá thêm tí ti muối nữa.
- Tất cả những ai ăn mặn đều mắc bệnh huyết áp cao.
- Đúng, tôi mắc bệnh ấy đấy – Ê-rê-min đáp - huyết áp cứ nhảy vọt lên thường xuyên… Xúp ô-crô-sca ngon thật, khá lắm, đầu bếp rất cừ… Nói chung cũng lạ, là tại sao anh lại cố giữ cái giả thuyết có xâm lược. Hãy cân nhắc đã nào. Luy-xbua mà Ô-ga-nô vẫn khoe mẽ về quan hệ hữu hảo, thực ra, không phải một khối thống nhất như người ta tưởng. Tuy các xu hướng thân Mỹ ở đó mạnh, nhưng trong chính phủ không thật sự nhất trí. Do vậy, không phải tất cả các thành viên nội các đồng tình với ý tưởng ủng hộ Ô-ga-nô vô điều kiện. Tên này đáng phỉ báng quá. Sau nữa, do ý thức dân tộc đang thức tỉnh, người ta không muốn bị biến thành những con tốt đen trong tay các chính khách – đám này đã gây nhiều tác hại, làm lắm trò xuẩn ngốc, bày đặt lắm chuyện buôn bán rùm beng, tai tiếng. Trong khi đó, thế giới đã bước vào một thời kỳ có thái độ đặc biệt khác hẳn đối với khái niệm phẩm giá.
- Bộ trưởng quốc phòng Luy-xbua vẫn tuyên bố có cảm tình với Ô-ga-nô…
- Vâng, nhưng đồng thời cũng lại từ chối không chuyển giao cho Ô-ga-nô lô hàng toàn súng tự động mua ở I-xra-en.
- Ô-ga-nô cần gì lô hàng ấy. Hắn nhận thẳng từ Mỹ và Bắc Kinh chứ.
- Thế còn sự ràng buộc? Hắn yêu cầu Luy-xbua vũ khí là để ràng buộc các vị láng giềng vào với hắn hơn thôi. Vậy mà hắn bị từ chối. Đó là một dấu hiệu. Theo tôi, hình như tổng thống Luy-xbua hiểu được tính phức tạp của tình hình, nên ông ta đã đề nghị với cả Gri-xô và Ô-ga-nô một biện pháp làm vai trò hoà giải trung gian.
- Và rồi sao nữa?
- Hiện giờ, Ô-ga-nô từ chối, nhưng tôi cho là đến phút cuối cùng, hắn sẽ phải đồng ý đối thoại.
- Với cương lĩnh nào? Hắn lấy đâu ra một cương lĩnh có tính xây dựng? Hắn đang khát máu kia…
- Rồi sẽ co vòi chứ, Côn-xtan-tin I-va-nô-vích ạ, phải co vòi thôi.
- Do lệnh các ông chủ chứ?
- Bắc Kinh thì đương nhiên là khăng khăng chống lại thương lượng với Gri-xô rồi, vì sự đụng độ công khai có lợi cho Bắc Kinh. Còn Oa-sinh-tơn, tôi cho rằng, đang lúng túng. Bọn tư bản độc quyền thì ép đẩy, chúng bị mất thị trường mà, điều ấy đã rõ, nhưng ngày hôm nay, lao vào một cuộc ẩu đả như thế cũng rất phức tạp. Hơn nữa, lập trường chúng ta lại hoàn toàn rõ ràng: chúng ta sẽ giúp Na-gô-ni-a với tư cách là một nước đã lý hiệp ước liên kết với chúng ta.
- Sáng nay, tôi đã xem phát biểu của đại sứ đặc nhiệm Mỹ.
- Anh có thể đòi hỏi gì ở hắn, Côn-xtan-tin I-va-nô-vích? Hắn là người của Nen-xơn Grin, hắn buộc phải nói điều gì mà lão kia nghĩ. Nhưng ở trên hắn, còn cả hệ thống quản lý và chính quyền, mà ở đấy, thì đâu phải tất cả đều nhất trí như người ta tưởng.
- Trong trường hợp ấy, tôi có thể áp dụng những trường hợp tương tự theo kiểu pháp luật Anh vậy… Trước khi chiến tranh Việt Nam bắt đầu, các phát biểu của ngành ngoại giao Mỹ cũng như vậy. Kịch bản gây sức ép được soạn thảo chính xác, có thể nói là một kịch bản rất lịch lãm. Và nên lưu ý điều này nữa, I-van I-a-cốp-lê-vích ạ, trong vấn đề châu Phi này, bọn diều hâu đang thúc ép châu Âu, chúng rất hy vọng lôi kéo cả các đồng minh khối NATO vào đó.
- Bọn chúng làm căng quá lộ liễu, Côn-xtan-tin I-va-nô-vích ạ. Châu Âu đã khôn lên hơn nhiều, các chính khách ở đây hiểu rõ là không nên gây ẩu đả, ngay trong căn nhà mình, mà ngọn lửa chiến tranh đã bùng lên, thì không thể lấy nước sông Dương Tử mà tưới vào đó được. Sông Mi-xi-xi-pi thì lại hơi xa!
- Các bạn cùng cơ quan anh coi ai trong số các nhà kinh doanh cỡ bự là những người làm ăn nghiêm chỉnh ở Luy-xbua? Tôi ngụ ý nói các thương gia phương Tây.
- Bọn Đức làm ăn khôn khéo, cừ lắm. Han-đen rất chắc tay, đó là về đường sắt, Kiếc-hốp và Bôn-xơ về dệt, ô-tô, xi-măng. Trong số bọn Mỹ, có lẽ, am tường hơn cả là Chic-kơ, Len-đơm và Xao-xơ - bọn này đại diện cho Rốc-pheo-lơ, thực tế là bao trùm tất cả.
- Còn Lô-ren-xơ?
- Cái tên này sao tôi lại không nhớ đến?
- Công ty “Điện thoại quốc tế” – Côn-xtan-ti-nốp nhắc.
- À, có nghe đến rồi. Nhưng ít nghe ai nói về hắn, đằng sau hắn hình như còn một thế lực nào đó. Một cái vạt áo khá dài lôi theo.
- Thế còn Glép? Anh có nhớ cái tên nào như thế không?
- Hắn bị nghi là có dính dáng đến CIA… Buôn bán chỉ là vỏ ngoài che đậy.
- Cũng có thể ngược lại thì sao? – Côn-xtan-ti-nốp cười.
- Đúng. Cũng có thể như thế lắm chứ.
- I-van I-a-cốp-lê-vích này, anh thử nghĩ xem, việc rò rỉ tin tức, nói riêng trong khâu Na-gô-ni-a, có thể sẽ gây nhiều phiền hà cho bên các anh phải không?
- Tôi chưa muốn nghĩ đến điều này!
- Tiếc rằng tôi lại đang phải nghĩ đến đấy.
- Có dấu hiệu à?
- Có.
- Những dấu hiệu chắc chắn?
- Đang nghiên cứu.
- Tệ thật!
- Thì hẳn rồi, lành ít, dữ nhiều.
- Có thể nói là rất tệ hại. Côn-xtan-tin I-va-nô-vích ạ.
- Ta để kẻ thù có khả năng tính được những nước đối phó, đúng không?
- Chính thế.
- Và anh vẫn cho rằng bọn chúng sẽ không đánh?
- Tôi cho rằng không. Tôi không nghĩ rằng bọn “diều hâu” sẽ thắng thế.
- Còn tôi thì nghĩ rằng bọn CIA muốn có đánh nhau lắm. Và chúng đã ra tay. Chúng sẽ làm tất cả để kéo chính quyền Mỹ vào, nếu như chúng ta không ngăn chặn được chúng. Này anh hãy cho tôi biết các Viện nghiên cứu khoa học có nhận được nhiều tư liệu của các anh cung cấp lắm không?
- Nhiều. Rất nhiều đấy. Mà làm sao khác được. Nếu chỉ dành cho khoa học một khẩu phần thông tin chết đói, thì đừng hòng đòi hỏi điều gì hay ho ở nó cả… Có thể đây là một trò khiêu khích chăng? Tin tức của anh có thể có sai lầm không?
- Không loại trừ. Vì thế mà chúng tôi vẫn đang nghiên cứu.
*
* *
… Côn-xtan-ti-nốp đưa Ê-rê-min đến Bộ Ngoại giao rồi quay về xem những bức điện mới nhất, sau đó lên đường ra bãi quần vợt – Tơ-ru-khin đã thu xếp để ông có thể đánh với Vin-te một ván.
- Tôi chỉ đang học chơi ten-nít thôi đấy – Côn-xtan-ti-nốp nói - chị nới tay thôi nhé! Nhất là đừng giễu cợt tôi khi chơi. Chị có thuộc loại chơi cay cú, hiếu thắng không?
- Tôi hoàn toàn không có máu ăn thua, trò chơi này chỉ là một thứ thể dục tuyệt diệu cho cả tuần, để làm việc bốc như gió hút.
- Bốc như gió hút? – Côn-xtan-ti-nốp nhắc lại.
- Thế bác có nhớ không, có câu thơ “Bản xô-nát dài như vĩnh cửu, mà học thuộc lòng bốc như gió hút…”
- À, thơ của Man-đen-stam.
- Bác làm nghề gì vậy?
- Tôi là luật gia.
- Thế thì tôi phục sát đất. Bây giờ chỉ có các nhà vật lý là thuộc thơ ca, chứ các vị khoa học xã hội ngày càng đi sang lĩnh vực đối thoại thông thường. Nào ta bắt đầu chứ?
- Thì tôi cũng nhờ trời một ván cầu may nào!
… Khi khuyên Côn-xtan-ti-nốp đích thân phải quan sát Vin-te – do sự việc ngày càng có tầm quan trọng khác thường – Phê-đô-rốp còn theo đuổi một mục đích nữa, mà chỉ những ai nghĩ một cách có trách nhiệm về sự kế tục mới hiểu được. Phê-đô-rốp dĩ nhiên thừa biết là trong cơ quan vẫn thường tồn tại những quan điểm khác nhau về vai trò của người chỉ huy cao cấp trong các cuộc tác chiến. Một số người nghĩ rằng cấp tướng chẳng cần nghiên cứu chi tiết làm gì, đã có những nhân viên có chuyên môn cao, có những chiến sĩ công an trẻ xuất sắc, chính họ mới phải làm cái việc mà Côn-xtan-ti-nốp giờ đây đang làm trên sân quần vợt. Nhưng Phê-đô-rốp cho rằng trong mỗi trường hợp cụ thể, nên vạch rõ ranh giới giữa các khái niệm: sự chỉ huy và sự tham gia trực tiếp vào công việc. Nhận thức chính xác cái ranh giới ấy chính là chiến lược trong thái độ với tập thể.
“Pi-ốt (1) đã đi đóng tàu – Phê-đô-rốp nói - vậy thì vì lẽ gì các vị tướng lại không tham gia vào các biện pháp tác chiến, điều mà có trời mới biết được, theo thể lệ nào về cấp bậc, họ lại bị loại ra khỏi hoạt động? Và cánh trẻ sẽ nhìn vào công việc của họ. “Làm kèm” à, đó là một từ hay, từ của nhà văn Tuốc-ghê-nhép, nhưng chúng ta có nên bỏ nó đi không”.
Ôn-ga Vin-te chơi ten-nít quả rất nghề! Thường thì ai mạnh về mặt nào, vẫy vùng trong khoảng trời của mình – như người ta thường nói – thì luôn tìm dịp tỏ cho những người xung quanh khả năng kiệt xuất của mình. Điều ấy gây tổn thương cho những người cùng cuộc; hạ thấp họ; rồi từ đó có sự ghen tị; tức tối, tóm lại là lầm lỗi. Hiếm có những người thuộc phong thái khác: sự hiểu biết làm họ trở nên đặc biệt cởi mở, biết giao du với mọi người, họ dễ dàng trao lại kiến thức mình có cho mọi người và cảm thấy sung sướng rõ rệt, nhất là khi những kết quả của sự trao tặng ấy hiện rõ. Giao tiếp với những người như thế thật dễ chịu, nó bồi bổ thêm mình, thật vậy, mọi sự trao tặng kiểu ấy rồi sẽ quay trở lại như cái bu-mê-răng (2). Sau khi đánh thức tài năng ở một người khác, bạn sẽ thu được thêm gấp trăm lần trên những bình diện khác, mà từ đó, nhờ sự so sánh ở các bình diện khác biệt, tài năng sẽ trở nên phong phú hơn, lấp lánh nhiều sắc thái. Biểu hiện của tài năng, nếu nó là xác thực, thì phải luôn mang nhiều sắc thái, chỉ có sự tầm thường mới nhất quyết chỉ có đơn sắc mà thôi.
Ôn-ga Vin-te dành cho Côn-xtan-ti-nốp nhiều cơ hội thuận lợi, chị chơi cẩn thận, không có vẻ lấn át đôi khi đến nực cười trên sân chơi nghiệp dư, điều mà không hiểu sao người ta vẫn thường cho là cần thiết, thậm chí tất yếu.
- Tôi không dồn bác quá đấy chứ? Chị hỏi sau lần giao bóng đầu tiên – có gì bác nháy mắt làm hiệu cho tôi nhé!
- Không. Theo tôi chị còn quá khoan dung là khác.
- Tôi không chơi kiểu khoan dung đâu - Chị trả lời - điều đó rất bực mình cho cả hai bên, ở mọi lĩnh vực, trong tình yêu, trong thể thao, trong khoa học.
- Tôi đã chú ý đến ý nghĩ này trong luận án của chị.
- Luận án là việc của ngày hôm qua – Ôn-ga nói và mặt chị trở nên hoàn toàn khác – Không, quả thực tôi không hề huênh hoang, chẳng qua việc đã làm xong, người ta mới có dịp trông rõ những chỗ hổng, chỗ rỗng.
- Tôi không nhận thấy chỗ rỗng nào, chị viết rất chặt.
- Bác thừa biết, quệt mực cho kín đặc trang giấy không phải là khó, khi đã sống ở nước ấy hai năm. Chỉ bực là cái Viện nghiên cứu của ta không tạo điều kiện cho các nhà khoa học trẻ được sống, được lăn lộn mướt mồ hôi ra ở đó, chứ không phải chỉ đi công tác hai tuần. Chỉ có như thế mới có kết quả…
- Nhưng làm thế thì tốn kém cho Nhà nước lắm, tôi muốn nói khoản ngoại tệ…
- Đâu phải thế. Có thể đưa đến làm ở các thư viện, kho hồ sơ của thuế quan, tất nhiên không phải nhờ thế để anh mua nổi ô-tô, máy ghi âm, nhưng chỉ cần có đủ cái giường đơn với cà phê và pho-mát. Làm như vậy,anh càng hiểu cái “mỹ lệ” của thế giới phương Tây không phải ở bên lề, mà từ trong cuộc. Các thứ đài tuyên truyền phương Tây, chúng làm ăn khéo lắm chứ, trước chúng còn khuếch khoác, giờ khôn ngoan ra nhiều, cũng biết tự phê bình, tự dè bỉu. Thôi này, tôi đang nóng tiết lên rồi, tôi sẽ đánh thẳng cánh đây. Vào lưới này!...
Khi hai người đã ngồi vào chiếc xe “Gi-gu-li”, Côn-xtan-ti-nốp hỏi:
- Sao chị dành nhiều công sức vào nghiên cứu về các công ty liên quốc gia ở Luy-xbua nhỉ? Ở đó theo tôi, bọn Mỹ đang mò vào độc diễn kia mà.
- Tôi có trình bày điều đó ở ngay những dòng đầu – Ôn-ga trả lời - Bọn Mỹ lập một bàn đạp, tụ ở đó, rồi phát triển về bề sâu. Chúng ta thì mở rộng, ta hào phóng, luôn sợ làm phật ý họ, ta không đòi phải có điều kiện đảm bảo, ta tin người, còn chú Sam là kẻ cẩn thận, không có đủ giấy tờ, văn tự thì chú ta không chịu nhả ra một xu, chú ta rất biết tính toán. Trước tiên, chú yên vị đã, rồi theo sau sẽ có đủ bọn găng-xtơ nhiều nước.
Ôn-ga im lặng, đột nhiên cắt đứt câu chuyện.
- Chị cứ tiếp tục đi! Chị nói rất hay!
- Tiếp tục gì được nữa? – Ôn-ga nói chìm giọng xuống – Tôi nói hết rồi, chẳng còn gì thêm nữa.
- Có thể tôi sẽ đi Luy-xbua, chị đồng ý kể cho tôi nghe nữa: xem cái gì, làm quen với ai chứ?
- Sẵn sàng thôi. Bác đi theo cơ quan nào vậy?
- Ta đang dỡ một phần hàng cho Na-gô-ni-a ở các cảng của họ. Họ vi phạm thời hạn khiếp quá, nên phải kiện cáo bồi thường.
- Thế thì chẳng ăn nhằm gì đâu. Các cảng ấy đã bị bọn Mỹ mua ráo cả rồi – Ôn-ga lại sôi nổi lên – Tôi thấy hình như bọn họ làm việc ở đó thông qua thế lực “Ma-phi-a”. Có vẻ thế lắm, các quán ba, công ty Mắc Đô-nan chẳng hạn, phục vụ thẳng bọn Mỹ, mà bọn này thì nhung nhúc quanh cảng, nhà ga, sân bay. Dô-tốp có kể là ở Xi-xin, bọn “Ma-phi-a” cũng ngự trị, vì bọn chúng nắm giữ các cảng và sân bay…
- Dô-tốp là ai thế?
- Một người mà trước đây tôi đã yêu… Anh ấy đã là… Vâng, anh ấy là chồng tôi. Đại khái, đó là một người rất thông minh và tốt. Bác nên nói chuyện với anh ấy, anh ấy có đầu óc rất sáng suốt, thật hào hiệp, thật tốt bụng.
- Chị đã ở Luy-xbua với tư cách cộng tác viên khoa học, chị đi công tác à?
- Không, tôi theo chồng… theo Dô-tốp. Bác cho tôi vào đến trung tâm thì xuống nhé, nếu bác không bận lắm.
- Rất vui lòng, chị sẽ trở thành một tiến sĩ trẻ nhất đấy nhỉ?
- Thì có sao? Người ta đâu chỉ sống độc nhất bằng bánh mì!
- Chị phải báng bổ Chúa thế mà làm gì?
- Bác nói phải. Cũng không nên báng bổ quá thật!
- Trước khi đi, chị bảo nên gặp ai nữa, ngoài chị ra nhỉ? – Côn-xtan-ti-nốp hỏi – Có ai tương tự như Dô-tốp ở Mát-xcơ-va?
- Làm gì có những người như Dô-tốp nữa! Ôn-ga trả lời. Bây giờ không có, và sau này cũng không có.
- Dô-tốp đã bảo vệ luận án chưa?
- Chưa. Anh ấy là người ưa thực hành. Anh chỉ làm việc suốt cả đời. Mà đâu có phải không có bằng sắc thì là sâu bọ, mà có bằng sắc mới là người? Anh ấy vượt quá bất kỳ một tiến sĩ khoa học nào đến một trăm cái đầu ấy! Không ai cảm thụ và hiểu biết được châu Phi hơn anh ấy, tôi nói thật đấy. Nhưng anh ấy bốp chát, thẳng tính, nên không phải ai cũng ưa.
- Còn phải xem, bốp chát như thế nào…
- Giải thích thì dài dòng, vì bác chưa ở Luy-xbua mà…
- Chị Ôn-ga này, thế trong số những người dân sở tại thì nên chuyện trò với ai?
- Bộ Ngoại giao của họ thì toàn những người tẻ ngắt… May chăng là có Bộ Giáo dục… Nhiều cán bộ trẻ, suy nghĩ rộng.
- Thế trong số những nhà hoạt động kinh doanh? Ở đấy có cả các thương gia Đức và Mỹ, vào nghề đã lâu và biết nhiều chứ. Tôi muốn nói cỡ các nhà doanh nghiệp lớn, những người ký những hợp đồng nghiêm túc, và vì thế họ biết liên hệ với các luật gia nghiêm túc.
- Người Đức à – Vin-te hỏi lại – Tôi không biết tiếng Đức.
- Ở đây có Kiếc-hốp, Bôn-xơ, Han-đen.
- Đúng, tôi có nghe nói, nhưng không quan tâm lắm.
- Thế còn những người Mỹ? Xao-xơ, Lô-ren-xơ, Chic-kơ, Glép, Len-đơm!
Vin-te nhìn sang Côn-xtan-ti-nốp, với vẻ chú ý khá phân vân:
- Thế mà bác còn phải chờ tôi ư? Quả là bác đã chuẩn bị chuyến đi đâu vào đấy cả rồi. Bác thuộc tên hết đám người Mỹ quan trọng ở đấy, tôi biết họ. Chic-kơ và Glép có lẽ là những người có đầu óc nhất, có điều bên ta vẫn coi họ là người của CIA, nhưng tôi thì cho rằng đó là bệnh “nhìn đâu cũng thấy gián điệp” của chúng ta tái phát. Thôi mặc xác họ, cái đám Glép, Gliếc ấy!... Bác ghi số điện thoại nhé… Tôi sẽ nói với bạn tôi, có thể anh ấy sẽ đồng ý kể cho bác nghe đôi ba chuyện gì hay chăng?
*
* *
Chiều tối, sau khi về tới nhà, Côn-xtan-ti-nốp cầm ngay lấy cái cặp giấy đựng các thông báo mới. Bức điện của Xla-vin được đánh dấu khẩn: “Có tư liệu gì về Bê-liu, theo giả định là gốc Nga, làm thợ khuân vác ở mạng lưới điện khách sạn “Hin-tơn”, khoảng 60 tuổi? Có tư liệu gì về Giôn Gri-gô-ri Glép, sinh ở Xin-xin-na-ti (3) đã tham chiến ở Việt Nam, trước đó đã làm việc ở Hồng Kông, dường như bị triệu hồi khỏi đó sau khi xảy ra tai tiếng về vụ chuyên chở ma tuý”.
Côn-xtan-ti-nốp hỏi đồng chí thư ký:
- Điện trả lời đã đánh đi Luy-xbua chưa?
- Phần thứ nhất bức điện thì không có tư liệu gì, thưa đồng chí Côn-xtan-tin I-va-nô-vích.
- Chẳng nhẽ không tìm được tý gì à?
- Hoàn toàn không.
- Bê-liu, Bê-liu… Phải xem vần Bê-lâu, Bê-lô-phơ nếu giả định là một người Đức gốc Nga; Bê-li-a nếu giả sử là nguồn gốc U-krai-na; cuối cùng đúng tên Nga là Bê-lốp. Đồng chí đã tìm khắp lượt rồi chứ?
- Nếu như vậy thì chưa.
- Hãy xem lại ngay. Còn về phần thứ hai?
- Trong danh mục có bốn Glép dính dáng đến CIA. Ri-sớt Pôn Glép, sinh năm 1937, nhưng chưa làm việc ở Hồng Kông.
- Xla-vin chỉ lưu ý đến những tên Glép đã có ở Hồng Kông.
- Vậy chỉ còn hai gã: Giôn Glép và Pi-tơ Glép. Nhưng Pi-tơ lại chưa tham chiến ở Việt Nam. Vậy còn lại có Giôn Glép. Còn về vụ tai tiếng mà hắn có dính đến thì chỉ dựa vào các tờ báo “Chai-na-Ana-li-xix” và “Fa-i-xtơ I-cô-nô-mic Rê-viu” (4). Theo các báo đó, có một gã Glép nào đó đã bị cảnh sát giữ ở sân bay vào cuối năm 1966, khi cảnh sát Anh đã bắt những người cảu lão Lưu với cái va-ly đựng hê-rô-in, được đánh giá 1 triệu đô-la.
- Cái va-ly ấy, tối thiểu cũng phải ba triệu đô-la… Còn tiếp?
- Đó là tin báo đầu tiên. Sau đó trong báo không thấy lần nào nhắc đến tên Glép lại nữa.

(1) Pi-ốt đệ nhất (1672 – 1725): Hoàng đế Nga, có đầu óc cách tân táo bạo.
(2) Vũ khí của thổ dân Ô-xtơ-rây-li-a, ném đi rồi lại bay vòng lại chỗ người ném nó. (ND)
(3) Cincinnati: Thành phố ở bang Ô-hai-ô, miền Bắc nước Mỹ.
(4) “Phân tích Trung Quốc” và “Tạp chí kinh tế Viễn đông”: Hai tờ báo tiếng Anh xuất bản ở Hồng Kông. (ND)
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN 5-10

CÔN-XTAN-TI-NỐP

Khi Xla-vin bước vào, Côn-xtan-ti-nốp nhìn anh với vẻ thông cảm và hỏi như để khẳng định:
- Chắc anh phải rủa thầm vì bị sục tìm bất thần thế này?
- Cũng có phần thế.
- Anh đừng giận. Hãy đọc đây này – Côn-xtan-ti-nốp chìa bức thư từ Luy-xbua ra – Thư vừa mới đến.
Xla-vin cười, lấy kính ra:
- Tín hiệu về cuộc đổ bộ của những người từ hành tinh khác vào các mục tiêu quân sự chăng? Hay là tư liệu về chuyện mặt trời đang giảm độ nóng đi đấy?
- Với cái đầu óc thích suy nghĩ toàn cầu như của anh, thì cái thông báo này chẳng gây được mối quan tâm đâu…
Xla-vin đọc gấp bức thư, rồi nhìn Côn-xtan-ti-nốp vẻ dó hỏi:
- Phải đọc to lên – Côn-xtan-ti-nốp nói - Để tôi đọc to lên một lần nữa nhé.
Rồi Côn-xtan-ti-nốp chậm rãi đeo cái kính dày cộp lên, khuôn mặt ông tự nhiên đâm trẻ ra (khi thăng ông lên cấp tướng, các vị tướng lão thành đã đùa: “Bốn mươi lăm tuổi, thời nay được lên tướng là trẻ quá mức, chỉ ở vào cái thời chúng tớ, người ta mới gắn lon tướng ở tuổi ba mươi thôi!”). Ông bắt đầu đọc:
- “Tháng Chạp năm ngoái, trong một phòng của khách sạn “Hin-tơn” ở Luy-xbua, có hai người Mỹ, một người tên là Giôn đã thoả thuận với một người Nga, về việc tiến hành hoạt động ở Mát-xcơ-va và truyền tin tức qua một kẻ “láng giềng” nào đó. Tên Nga kia có bộ mặt sung mãn, hắn nói thạo tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Anh… Thằng đểu cáng… Lá thư này có thể làm tôi mất mạng, nhưng tôi không thể cho phép mình im lặng…”
Côn-xtan-ti-nốp nhìn Xla-vin, mắt ông ánh lên một nét cười và ông kết luận câu chuyện:
- Nào, anh Vi-ta-li, anh đã sẵn sàng bình luận chưa?
… Trước tiên, bức thư này rõ ràng do một người Nga viết.
- Thế anh tưởng rằng, nếu bọn CIA muốn bày ra một trò gì đấy, lại không thể nhờ các nhà ngôn ngữ học thông thạo làm cố vấn cho chúng sao?
Xla-vin vẫn mỉm cười.
Côn-xtan-ti-nốp lấy một tờ giấy, vạch đậm nét con số 1 rồi khoanh tròn lại, ngẩng nhìn Xla-vin:
- Nào ta hãy phân tích từ đầu. Những buổi truyền tín hiệu của CIA về hướng Mát-xcơ-va cho một tên điệp viên bí mật đang được tiến hành đều đặn, gần đây càng trở nên dày đặc hơn. Tất nhiên, chúng ta chưa giải mã được. Những giả định của Pa-nốp vẫn chỉ là giả định, ngoài các dự đoán đó ra, chúng ta vẫn không nắm được nội dung những tín hiệu chúng truyền cho nhau. Tôi thường tự hỏi: Điểm nóng nhất trên thế giới hiện đang nằm ở đâu?
- Có thể là Na-gô-ni-a được không?
- Tôi cũng đang nghĩ thế. Còn bức thư này nếu không phải một trò chơi khăm, một mưu toan bôi xấu ai đó trong số cán bộ của ta đang làm việc ở Luy-xbua, thì có thể cho phép ta tự đặt câu hỏi thứ hai: Điểm mạnh nhất trong hoạt động của CIA ở châu Phi thực chất đang nằm ở đâu?
- Tôi nghĩ chính là ở Luy-xbua!
- Hoàn toàn đúng – Côn-xtan-ti-nốp lặp lại - Ở Luy-xbua! Và Luy-xbua cách biên giới Na-gô-ni-a bao xa nhỉ?
- Hai trăm ki-lô-mét, anh ạ.
- Như vậy đó!
Côn-xtan-ti-nốp viết tiếp số 2 đậm, lại khoanh bằng một vòng tròn nữa. Ông nói luôn:
- Bây giờ đến điểm thứ ba. Ta hãy giả thiết rằng sự dồn dập đến mức dày đặc của các bức điện đánh đi từ trung tâm CIA ở châu Âu tỷ lệ thuận với tình hình đang căng thẳng đến mức báo động ở Na-gô-ni-a. Có thể thế được chứ?
- Cứ giả sử là thế đi đã – Xla-vin đồng ý.
- Ta đi tiếp đến một kết luận bạo phổi nữa: Không phải chỉ Luy-xbua là mục tiêu quan tâm của CIA thôi đâu. Anh láng giềng Na-gô-ni-a mới là vấn đề! Và suy ra rằng, với những tín hiệu dồn dập như vậy, bọn chúng chắc hẳn đang xếp đặt một âm mưu gì đó khá nghiêm trọng với Na-gô-ni-a.
- Tôi cũng đồng ý thế, cho dù kết luận đó có phần bạo phổi!
- Được rồi. Hẵng biết vậy. Ta giả định tiếp, là do CIA đang mưu mô làm trò gì đó ở Na-gô-ni-a, nên ra sức giật dây lên “nằm vùng” ở Mát-xcơ-va. Trước kia, chúng lắp đặt ở Na-gô-ni-a những tên lửa mang đầu đạn hạt nhân chĩa về phía chúng ta. Mất đứt Na-gô-ni-a là một đòn chí mạng, giáng vào khối NATO… Nên tôi cho rằng, bọn chúng sẽ không từ trò gì để cốt đoạt lại được Na-gô-ni-a.
Trong mắt Côn-xtan-ti-nốp, ánh cười ban nãy đã tắt, ông chỉ nhìn Xla-vin rất chăm chú, vẻ chờ đợi.
- Bây giờ ta dự tính thử xem chúng sẽ có những mưu mô gì ở Na-gô-ni-a – Xla-vin nói.
- Tôi lại đang muốn nghĩ về trình độ của tên điệp viên CIA. Hắn phải có một trình độ thế nào để CIA có thể tác động vào trong một chiến dịch chính trị đối ngoại như vậy? Anh cũng thừa hiểu mức độ nghiêm trọng của “cú đấm ở châu Phi” mà chúng sửa soạn, một mưu toan của phái “diều hâu”, đẩy người dân Mỹ đối lập với chúng ta, ngăn cản tình hình hoà dịu quốc tế, tạo ra cuộc khủng hoảng mới, đặt thế giới bên bờ vực thảm hoạ. Ai có lợi lúc ấy? Không phải là người dân Mỹ. Mà là CIA và công nghiệp quân sự. Bức thư từ Luy-xbua có đúng thật không? CIA có thực đã tuyển mộ được một người của chúng ta ở khách sạn “Hin-tơn” và hắn đã trở về được Mát-xcơ-va không? Hắn có khả năng nắm được các tài liệu mật không? Ở đâu? Thuộc bộ nào?
- Ta có thể bắt đầu từ việc thẩm tra những người đã từng làm việc ở Luy-xbua?
- Nếu giả thiết đã là một mạng lưới, thì phải thẩm tra cả những người đang còn làm việc tại đó. Loại bỏ đi những ai không có khả năng nắm được những tài liệu mật. Tập trung vào những nhân vật biết nhiều, cả ở đây, cả ở bên đó.
- Đồng chí Côn-xtan-ti-nốp ạ, những bức điện mật lại đang tới tấp đánh về Mát-xcơ-va. Nếu tên điệp viên đó đang còn ở Luy-xbua, thì chúng đánh điện về đây có ý nghĩa gì?
- Như vậy là anh loại bỏ giả thuyết mạng lưới? Tin tức sơ bộ thì bọn CIA nhận được ở Luy-xbua, còn việc xác nhận thì đòi hỏi ở tên điệp viên gài tại Mát-xcơ-va. Anh có gì phản bác khả năng này không?
- Không, - Xla-vin trả lời trầm ngâm, - tôi không hề bác bỏ khả năng ấy.
Côn-xtan-ti-nốp nhấc ông điện thoại, quay số điện của trung tướng Phê-đô-rốp:
- Chào đồng chí Phê-đô-rốp. Tôi đang cùng Xla-vin nghiên cứu bức điện. Cả bức thư nữa, khá thú vị, xin được báo cáo với đồng chí vào thứ hai này nhé. Hay là… Vâng. Xin chờ.
Ông đặt ống nói xuống: “P.G (tên tắt gọi Phê-đô-rốp) đã rời bản doanh đến đây. Nào, hãy mời những người của anh lại đây, ta cùng tập hợp các đề nghị. Phải khởi tố vụ hình sự đi. Và liên lạc với Viện Công tố ngay. Hãy thế đã nhé”.

VẪN CÒN CÔN-XTAN-TI-NỐP

Li-đa, vợ Côn-xtan-ti-nốp, trong bữa ăn sáng, băn khoăn và hơi phật ý nhìn chồng. Ông vừa gọi dây nói cho Xla-vin, hẹn bảy giờ bốn lăm sẽ có mặt ở ngoài sân quần vợt.
… Côn-xtan-ti-nốp uống hết cà phê, đặt tách xuống, và Li-đa hiểu rằng ông sắp sửa rời nhà. Đã chung sống với nhau hai mươi năm, người ta hiểu nhau không cần lời nói, mà chỉ qua những cử chỉ báo hiệu bên ngoài.
Về phần mình, Côn-xtan-ti-nốp cũng hiểu là vợ sắp đứng dậy, nên ông đặt tay lên mấy ngón tay của Li-đa, và nói tiếp câu chuyện dang dở với vợ.
- Anh nhớ cả rồi. Còn em ghi lại hay cũng sẽ nhớ?
- Anh kịp đọc hết tập bản thảo ấy rồi sao?
- Tất nhiên! Thế này nhé, Li-đa ạ, tập truyện ấy chẳng được tích sự gì. Đó là thứ văn học buồn tẻ; mà như các nhà văn lớn đã nói, mọi loại văn học đều có quyền tồn tại, chỉ trừ thứ buồn tẻ.
- Anh Cô-xchi-a ạ, điều ấy là kiến thức ABC của văn học rồi, khỏi phải nói. Em chỉ muốn hỏi anh giúp em tìm cách nào từ chối, để khỏi phải in nó ra!
- Em có quyền từ chối kia mà.
- Tất nhiên, em có quyền đó.
- Nếu em bảo “tất nhiên”, thì lại không hay đâu. Thế nhỡ em không nhận ra một thiên tài thì sao?
- Thì chúng mình đã cùng đọc cả rồi đấy thôi.
- Anh đâu có chuyên môn. Anh chỉ là một người đọc tài tử vậy thôi!
- Thế anh có giở qua những lời nhận xét đầy khoa trương trước đó của khá nhiều bậc phê bình có tên tuổi trong nghề không?
- Anh có đọc cả. Nhưng đừng nhìn vấn đề ở phía đó! Những ông bầu này còn cao đàm khoát luận chán, cả ở trên báo chí nữa ấy chứ! Còn quyển sách thí có thể đem đến cửa hàng thu mua giấy vụn. Đấy mới là một nửa tai hoạ. Còn tai hoạ thật sự là sự hạ giá của chân lý văn học, cái này mới đáng báo động.
- Chà, cứ riêng cái kết luận ấy của anh, trong giới bọn em, người ta đã có thể cho là “lăng mạ” được rồi đấy!
- Hẳn thế. Nhưng anh nghĩ, đừng biến văn học thành phe cánh trong nghị trường: anh hẩu với tôi thì tôi hẩu lại, ta kết liên với nhau cho mạnh cánh!... Thế thôi nhé – Ông mỉm cười – Cám ơn em, anh đi để chịu thua trận đấu vợt với Xla-vin đây.
*
* *
Xla-vin đến muộn năm phút. Còn Côn-xtan-ti-nốp nhận xét:
- Tính chính xác là tính lịch sử của các bậc đế vương đấy, Vi-ta-li ạ!
- Anh Côn-xtan-ti-nốp I-va-nô-vích, nhưng tôi lại mới chỉ lên đến cấp tá chứ chưa phải được làm vua đâu ạ… Tôi bị tắc xe ở đại lộ Cu-tu-dep.
Khi họ đổi chỗ cho nhau trên sân quần vợt, Xla-vin nói, vẻ ngẫm nghĩ:
- Anh có biết, cú tắc xe vừa rồi gợi cho tôi những ý nghĩ gì không?
- Anh đánh đố tôi, để rút cục anh muốn sẽ được cuộc chứ gì?
- Đúng thế. Thực ra là tôi đang nghĩ đến chuyện tâm lý con người hiện đại đang bị tốc độ của thế kỷ làm thay đổi. Trước đây chẳng hạn, cơ quan phụ trách giao thông sẽ phản ứng ngay lập tức với mỗi hành động tăng tốc độ quá mức, hăng hái như các hiệp sĩ đấu bò tót ấy. Còn bây giờ, các vị chỉ muốn xua lái xe “Đi đi!”, cho chạy thả cửa, chỉ mong sao khỏi nghẽn đường, mất thời gian chung. Tôi rất thích biểu hiện mới ấy. Còn anh?
- Chỉ ở giờ cao điểm người ta mới xua đi thế, chứ chứ thử tăng tốc độ quá trớn vào ban trưa xem nào, lúc ấy, cánh tay sắt của các hiệp sĩ đấu bò tót vẫn tóm chặt anh như trước đây. Còn sự thay đổi tâm lý mà anh nói ấy à, còn phải bắn đại bác cũng chưa tới đâu. Nào, anh giao bóng đi!
*
* *
- Này nhé, tôi tổng kết đây… - Côn-xtan-ti-nốp cất kính vào túi và sau khi đã ngả người ra ghế tựa, ông nhìn khắp lượt các cán bộ phản gián được triệu tập đến họp.
- Công tác truy tìm tên gián điệp, ta sẽ tiến hành trên các hướng sau đây: Một là bộ phận của Prô-xcu-rin phải lập danh sách tất cả các cơ quan có liên quan đếnv iệc cung cấp thuốc men, thiết bị điện và kỹ thuật cho Na-gô-ni-a. Hai là bộ phận của Cô-nô-va-lốp theo dõi chặt các nhân viên tình báo CIA mà ta đã biết ở sứ quán Mỹ, nắm tất cả các mối tiếp xúc của chúng, và ta sẽ phân tích các hoạt động ấy, phối hợp cùng các số liệu mà ta sẽ nhận, sau bước đầu triển khai. Ba là Vi-ta-li Xla-vin hãy bàn giao ban mình phụ trách cho Gmư-ri-a, và bay đi Luy-xbua. Đồng chí Xla-vin có nhiệm vụ điều tra tình hình xác thực vùng biên giới Na-gô-ni-a, lực lượng của Ô-ga-nô, và xác định xem tác giả bức thư nặc danh gửi cho chúng ta là ai. Sau đó…
- Nếu như hoàn thành được việc trên… - Xla-vin nói thêm.
- Sau đó, - làm như không nghe thấy anh nói, Côn-xtan-ti-nốp tiếp tục, - trong trường hợp mà Xla-vin tin chắc được rằng người viết không phải là giả mạo, và là người trung thực, thì có thể gặp và nhờ ông ta nhận diện qua ảnh, các thành viên của các phái đoàn Xô-viết đã tới đó. Có bảy mươi hai người cả thảy, kể cả thường vụ, thuỷ thủ và nhân viên hãng hàng không A-ê-rô-phlốt.
- Buồng thuê ở khách sạn “Hin-tơn” giá bốn mươi đô-la, - Xla-vin nói – mà người cộng tác viên chưa quen của chúng ta hẳn là phải sống thường xuyên ở đó. Tôi nghĩ, nếu đây không phải là một trò chơi, thì có nhiều khả năng là anh ta làm việc ngay ở “Hin-tơn”, ở quán cà phê hay tiệm ăn chẳng hạn.
- Suy diễn khá đấy! – Côn-xtan-ti-nốp nói đệm vào.
- Phòng thí nghiệm của chúng ta cũng mắc chứng suy diễn ấy đấy – Xla-vin nói – vì họ đã gửi cho tôi kết luận về bức thư. Có những vết bơ và có mùi phó mát…
- Thế nếu bức thư được sáng tác ngay trên bàn ăn sáng? – Côn-xtan-ti-nốp vặn thêm.
- Thế thì nó phải còn có mùi mứt dâu! – Xla-vin mỉm cười đắc thắng, - Phó mát ở đó ít khi được dùng vào bữa sáng lắm, còn nếu như do bọn CIA bày trò, thì bọn họ đã phải gọi “thịt giăm bông và trứng” (1).
Côn-xtan-ti-nốp và Xla-vin đến sân bay Sê-rê-mê-chi-ê-vô vào lúc đã khuya. Thoáng có mùi ngải cứu bốc lên. Và có lẽ những chú ve sầu đang sắp cất tiếng.
- Ta làm cốc cà phê chứ? – Côn-xtan-ti-nốp hỏi.
- Rất sẵn lòng.
Họ ngồi vào bàn. Người không đông lắm, hai cô phục vụ trẻ đang trò chuyện: “Lúc này đi nghỉ ven biển ở Ri-ga còn sớm quá, vì trời còn mưa, biển lạnh, tuy cát sau một ngày cũng có ấm lên, thích nhất là cát ấy mềm mại, ve vuốt, ở đó mà đi chơi quanh bãi tắm, hít thở mùi thông ngai ngái thì thật tuyệt; mà ở đó bắt nắng nhanh hơn ở miền Nam, và giữ được lâu hơn…”
Côn-xtan-ti-nốp nhìn sang Xla-vin, mỉm cười.
Cô phục vụ đặt cà phê trước mặt họ và hỏi:
- Các anh bảo nên bay đi đâu nhỉ?
- Đi Bun-ga-ri – Xla-vin đáp - Ở đấy biển đã ấm rồi!
- Nhưng mà lại không có cát, cô phục vụ nói – Cát ấm còn quan trọng hơn biển, nó làm ấm cả mùa đông, giữ nhiệt lâu… Năm ngoái bọn em đi nghỉ ở Ru-ma-ni, cũng tốt đấy, chỉ thiếu cát, biển toàn là đá…
Côn-xtan-ti-nốp nhìn theo cô, lắc đầu tư lự nói:
- Dầu sao, thời gian cũng là một phạm trù hết sức lạ, Vi-ta-li ạ. Anh có cảm thấy cái chất thanh bình này không?
- Cát ấm trên bãi tắm và mùi nhựa thông, - Xla-vin nói, - Đẹp thật, nhưng vì sao lại là phạm trù thời gian. Tôi không thấy có sự liên hệ nào cả.
- Anh sẽ thấy… Nếu anh muốn, tôi có thể diễn giải.
- Vâng, xin mời anh.
- Thì đấy! Sáu mươi năm trước, không thể được hai cái này đồng thời… Thậm chí, ba mươi năm trước thôi, cũng chưa thể có được: cô phục vụ đi nghỉ mát ở nước ngoài và Trê-ka (2) làm công cụ hoà dịu quốc tế.
- Anh muốn nói là ba mươi năm truớc , chúng ta còn chưa rảnh tay với những bọn phá hoại và bọn phỉ?
- Đúng thế. Còn bây giờ thì Xla-vin lại đi ra tận nước ngoài để tóm bắt một tên mật vụ đang âm mưu gây rối loạn, làm mất sự yên tĩnh. Ở đấy, nghe nói có cát nóng, duy chỉ có điều không có thông, mà là cọ và dừa thôi… Tôi luôn luôn cảm thấy tự hào, Vi-ta-li ạ. Ta bắt đầu từ số 0, ấy vậy mà ngày nay, khi bảo vệ được an ninh của mình, ta còn giúp đỡ được tới tận nước Na-gô-ni-a nhỏ bé xa xôi kia. Nếu âm mưu phản loạn ở đấy bị đập tan, thì lại sẽ tồn tại cái yên tĩnh thanh bình tưởng như có tự muôn đời kia, biển và cát, sự hài hoà…
Giọng cô phát thanh viên ngái ngủ, có pha chút mệt mỏi:
- Xin mời quý vị hành khách đi tuyến bay Luy-xbua ra ô cửa số 6. Xin chú ý! Chú ý!
- Cái cô tóc vàng, hai mươi bảy tuổi, mắt xanh bồ cây, có nốt ruồi trên má đang nói đấy! – Xla-vin nói và đứng dậy.
- Trong giọng nói, cô ta vẫn chứa chất đầy vẻ thanh bình - Côn-xtan-ti-nốp kết luận, - đúng là cô có nốt ruồi dưới cằm, nhưng mắt lại màu xanh lá cây mới đúng…

XLA-VIN

Đồng nghiệp của Xla-vin ở Luy-xbua còn trẻ, chỉ mới ba mươi lăm tuổi, tên là I-go Đu-lốp. Anh ta phát âm tên họ của mình thật tròn trặn, vẻ ngon lành như ngậm kẹo.
-Nói chung, tới giờ chưa thấy ai cần đến tôi giúp đỡ cả. Đu-lốp nói, giọng du dương, thỉnh thoảng lại quay sang nhìn cái chỏm tóc để nhọn của Xla-vin. Hai người đi ven bờ đại dương mặt trời nóng bỏng, sáng lóa, vừa chói mắt vừa thiêu đốt. Chỉ có một lần, vợ ông quản lý bất động sản đến tìm, bà ta bảo tôi là bà ta bị theo dõi.
- Cứ bảo bà ta làm dấu thánh đi, ai theo dõi bà ấy làm gì.
- Tuy nhiên, chúng tôi vẫn phải kiểm tra rồi.
- Tôi hiểu. Còn Đa-lét, tôi nghĩ, chắc không theo dõi bà ta đấy chứ?
Đu-lốp nhăn trán, hỏi lại: - Đa-lét?
- Phải, A-len Đa-lét ấy! (3)
Đu-lốp hiểu ra, phá lên cười giòn tan, ngoẹo đầu về bên trái, hệt như con chim kim oanh trước khi hót. Mắt anh cũng giống mắt chim, nhỏ và đen thăm thẳm, hơi lồi lên. Và Đu-lốp nói tiếp: - Về mọi chuyện Pa-ra-mô-nốp thì sau khi anh ta về nước, mọi chuyện đã vỡ lở ra rồi đấy. Có trát đòi đến toà, nhưng dấu vết anh ta đã nguội rồi còn gì!
- Đồng chí đã đến toà hỏi chưa?
- Rồi. Các vị này lại đẩy sang bên thanh tra giao thông địa phương. Sang đó thì người ta lại lặng thinh: Chúng tôi chẳng biết gì, chẳng nhớ gì về anh ta.
- Thế Pa-ra-mô-nốp không nói gì về chuyện này à?
- Không hé một lời!
- Anh ta làm gì?
- Thợ cơ khí ở ga-ra ô-tô. Phải nói là một tay thợ cừ. Anh ta lắp vào chiếc xe “Von-ga” của Dô-tốp bộ chế hoà khí của chiếc “Fi-át”, bây giờ nó bay veo veo như vệ tinh ấy, cứ “rù rù” mà chạy tới 150km giờ.
- Thế nào? – Xla-vin ngạc nhiên - Thế mà là “rù rù” à?
- “Rù rù” tức là cứ êm ru thế thôi, không phải găng sức lọc cọc lạch cạch tí nào!
- Hay đấy, - Xla-vin tán thưởng - Cậu có cách nói truyền đạt thật chính xác cái tổ hợp vận tốc êm ru ấy đấy! Rõ rồi. Bây giờ về các nhân vật CIA ở đây, cậu có biết thêm điều gì nữa không? Bọn chúng có bí mật giao du với người nào đó, trong số cán bộ ta không?
- Ở đây có một nhân vật khá lý thú, Giôn Glép, thương gia, hoặc có thể coi như thế. Thường thường, Dô-tốp vẫn hay đi lại với hắn.
- Anh ấy làm gì?
- An-đrây Dô-tốp, kỹ sư hàng hải, tôi đã nói với đồng chí rồi đấy. Tôi có bảo Dô-tốp là Glép có khả năng dính dáng đến các cơ quan tình báo, nhưng anh ấy chỉ cười: “Công việc của cậu là thế, cứ nhìn đâu cũng thấy gián điệp!”
- Anh ấy cười chúng ta cũng đúng thôi. Nhưng anh ấy là người thế nào? Đồng chí có thấy cấn đề gì với anh ấy không?
- Không. Anh ấy có hơi xốc nổi, hay chửi, nhưng tôi tin là anh chính trực.
- Anh ấy hay chửi chuyện gì?
- Những chuyện tất cả chúng ta vẫn thường chửi bới đấy, chỉ có điều với mức độ to tiếng khác nhau mà thôi: thói làm ẩu, đẩy trách nhiệm cho người khác, thói lười biếng… mà ta vẫn gặp ấy mà.
- Nhưng khi chửi, anh ấy tôn trọng sự thực chứ? Xla-vin sực nhớ đến Đmi-tơ-ri Xtê-pa-nốp, mỉm cười.
- Đồng chí đặt vào từ ấy ý nghĩa tiêu cực phải không? …
- Có thể thế được sao? – Xla-vin ngạc nhiên- À, mà thôi, ai chịu trách nhiệm về thời hạn cung cấp hàng cho Na-gô-ni-a ?
- Chính là Dô-tốp. Ở Luy-xbua này, tàu của ta chạy tuyến Na-gô-ni-a, phải dự trữ cho cả chuyến đi mọi thứ. Vì bên đó chẳng có thứ gì cả. Cảng hầu như bị bọn thực dân tháo dỡ đi hết rồi.
- Thế Dô-tốp ở đây đã lâu chưa?
- Năm thứ ba rồi. Anh ấy mới về nước tuần trước, về thăm vợ ở Mát-xcơ-va.
- Cô ấy làm sao, không ở đây vì không chịu được khí hậu à?
- Không phải… Hình như giữa họ có chuyện đổ vỡ gì đó. Và cô ấy xin về nước đã được một năm rồi. Nghe nói cô ta cặp bồ với Đu-bốp, anh này là bạn Dô-tốp, cũng là nhà kinh tế, phó tiến sĩ…
- Làm sao xác định được Dô-tốp về nước chuyến nào?
- Không có gì đơn giản hơn. Có hai chuyến một tuần, thứ sáu và thứ ba…
- Sao lại không nói thứ ba và thứ sáu? – Xla-vin lưu ý. Anh thích thử nghiệm để có thể hiểu rõ hơn phản ứng của người đối thoại. Đối với người khác, có khi cần diễn giải hàng giờ, còn anh chỉ cần quan sát thoáng qua, qua ánh mắt, anh đã có thể nắm vững.
- Bởi vì, lấy thứ sáu làm điểm chuẩn thì dễ tính toán hơn – Đu-lốp trả lời – Sau đó là hai ngày được nghỉ cả.
- Chỗ các cậu có sân quần vợt không nhỉ?
- Ở khách sạn “Hin-tơn” có đấy!
- Cậu có khi nào chơi không?
- Tôi chỉ cổ vũ thôi.
- Cổ vũ cho ai?
- Hiện giờ thì cho đồng chí lãnh sự Ba Lan, còn trước kia thì tôi ủng hộ cho vợ của Dô-tốp, cô ấy đánh khá lắm.
- Này, thế cậu có biết Dô-tốp đã đi lại chơi với Glép lâu chưa ấy nhỉ?
- Lâu rồi. Họ quen nhau khoảng ba tháng, sau khi Dô-tốp tới đây. Có dễ đến hai năm rưỡi rồi đấy, không ít hơn đâu. Glép không bỏ một buổi tiếp tân nào của chúng ta. Phía ta, nhiều người biết Glép lắm.
- Dô-tốp có nói được tiếng Anh không?
- Có, cả tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha nữa. Một tay học thức ra trò đấy!
- Cậu có vẻ thích anh ấy, - Xla-vin nửa nhận xét, nửa như khẳng định.
Đu-lốp đã hiểu là chuyện Dô-tốp không phải bỗng nhiên được gợi lên, tuy nhiên, anh vẫn ngửa đầu như con chim kim oanh, hướng cặp mắt nhìn thẳng vào Xla-vin và đáp:
- Vâng, tôi thích anh ấy!
- Cậu không nói “Đối với anh ấy, tôi không thấy có vấn đề gì cả”, thế là tốt. Dô-tốp có uống rượu không?
- Không, nhưng anh ấy biết uống.
- Tức là có uống? – Xla-vin hỏi lại.
- Không. Anh ấy biết uống! – Đu-lốp kiên quyết nhắc lại – Anh ấy có thể uống nhiều nhưng chưa bao giờ say cả. Tất nhiên, cũng không phải loại giữ gìn co rúm lại, tôi chỉ xét đoán thế, theo cách anh ấy uống trong các buổi tiếp tân.
- Anh ta không bắt nhân tình với ai, sau khi vợ về nước chứ?
- Tôi nghĩ, có lẽ người ta đã thông báo tin tức sai lạc về anh ấy cho đồng chí, Vi-ta-li ạ!
- Mới chỉ có đồng chí thông báo tin tức về anh ấy cho tôi thôi, I-go ạ! Trước kia tôi không hề biết gì về anh ấy hết. Thế anh ấy dùng thì giờ rảnh rỗi làm gì?
- Đi thăm thú đất này. Anh ấy đã thu thập được cả một tủ sách rất thú vị.
- Có ai trong số cán bộ ta gặp những người Nga lưu vong ở “Hin-tơn” không? Chẳng hạn do vốt-ca, vật kỷ niệm, đĩa hát,… có thể gặp lắm chứ?
- Ở “Hin-tơn” có tất cả sáu người da trắng làm việc, Vi-ta-li ạ, còn lại là người Phi cả. Quản lý “ba” thì tôi biết, là người Pháp, tên là Gia-cốp, thằng chó đẻ, làm mật thám phục vụ cho mọi thứ chủ, một thằng có sức hút vô chừng. Còn lão chủ khách sạn cũng là người da trắng, tên là Lin-đơn Uy-li-am…
- Đồng chí vẫn thăm hỏi Glép mỗi khi có cuộc tiếp tân đấy chứ?
- Dĩ nhiên.
- Khi nào lại có cuộc chạm cốc mời khách nữa?
- Ngày kia.
- Đồng chí lo liệu sao để Glép sẽ được mời nhé, được chứ? Và hãy giới thiệu tôi với lão ta.
- Nhưng lão ấy biết tôi là ai rồi.
- Thì có sao? Tuyệt lắm.
- Tuyệt thì vẫn tuyệt, nhưng chắc lão có thể đoán cả ra nhiệm vụ hiện nay của đồng chí. Bọn chúng sẽ réo tên lên trên mặt báo ấy!...
Xla-vin trả lời rắn rỏi:
- Thế thì chỉ có cách là chúng đừng có động vào chúng ta, dù ở nhà hay ở đâu. Lúc ấy tôi chẳng có việc gì cần phải sang đây. Chúng đã gây ra trước tất cả mọi chuyện. Cả ở bên ta, cả ở đây, chúng đều lén lút thò vào những vấn đề an ninh quốc gia của chúng ta. Nếu chúng không động chạm vào, thì chúng ta có thể ngồi yên ở Mát-xcơ-va, hoặc đi du lịch cả Xan Phran-xít-xcô nữa kia, có sao đâu, tôi cũng thích dân tộc Mỹ, một dân tộc vẻ vang lắm chứ!
- Cứ thẳng như thế mà giải thích ư?
- Thì sao? Việc gì phải che giấu. Trong hoạt động bí mật cũng có luật chơi của nó chứ, có cả mức độ nữa.
- Được, chúng ta sẽ thử xem.
- À, mà Pa-ra-mô-nốp không dự các buổi tiếp bao giờ nhỉ?
- Không, vì anh ta không phải nhà ngoại giao Vi-ta-li ạ.
- Yếu tố ngẫu nhiên thì sao?
- Không có yếu tố ngẫu nhiên đó đâu, - Đu-lốp tự tin trả lời.
Những câu hỏi của Xla-vin không làm Đu-lốp hài lòng: Sao mà nó quá trực diện, không tỏ vẻ quanh co, tựa như theo công thức vậy.
Nhưng những câu trả lời của Đu-lốp, trái lại, làm Xla-vin hết sức vừa ý: Anh ưa thích những người biết bảo vệ quan điểm riêng, dù rằng – cái này phụ thuộc nhiều vào ngữ điệu mỗi người, - nếu biết lựa lời với người mới đến thì tốt hơn, nhất là người đó mang cấp bậc và trình độ cao hơn mình.
*
* *
“Điện gửi Trung tâm:
Xin cho biết về Pa-ra-mô-nốp. Anh ta có nói với ai về sự việc anh ta bị cảnh sát giữ không? Nếu có nói, thì anh ta giải thích là vì cái gì? Ở Trung tâm có tài liệu gì về những người Nga lưu vong ở Luy-xbua không?
Xla-vin”
*
* *
“Gửi Xla-vin:
Tài liệu về những người Nga lưu vong rất ít ỏi, vì ở Luy-xbua không có câu lạc bộ tậo hợp những người lưu vong. Theo những tài liệu chưa được xác minh, chỉ biết rằng ở Luy-xbua có một người tên là Khơ-rê-nốp Vích-to Cu-dơ-mích (hoặc Khơ-ri-xan-phô-vích), lính cũ của bọn phản bội Vla-xốp đã tham gia trận đánh Vrô-xláp. Không rõ nơi cư trú chính xác. Theo nguồn tin từ ba năm trước đây, anh ta thuê một buồng ở khách sạn gần ga. Có một thời gian, anh ta sống ở Ki-lơ bằng nghề đánh bi-da, có biệt hiệu là tay “đánh thọc sườn”. Do không nắm được chính xác là anh ta tự nguyện gia nhập quân Vla-xốp hay bị cưỡng bức, nên hãy hết sức cẩn thận nếu có ý định gặp anh ta. Không nắm được gì về việc anh ta có liên hệ với các cơ quan tình báo nào hay không, nhưng chỉ biết rằng ở Ki-lơ, anh ta có tham gia vào các vụ cướp, và có dính líu với một phần tử phạm tội hình sự.
Trung tâm”

CÔN-XTAN-TI-NỐP

Prô-xcu-rin trải ra trên bàn họp to, màu hạt dẻ sẫm, trước mặt Côn-xtan-ti-nốp, mười tờ giấy, có in tên các Bộ và cơ quan có liên quan đến việc chở hàng cho Na-gô-ni-a. Côn-xtan-ti-nốp lướt qua tài liệu và nói có phần bực dọc:
- Thế nếu cần cụ thể hơn có được không?
Prô-xcu-rin nhún vai:
- Kể cũng khó đấy.
- Tôi biết là khó rồi!
- Tôi đã loại trừ, ước tính, để vòng tròn thu dần lại. Bây giờ chỉ còn ở trong khoảng một nhóm người.
- Vậy bao nhiêu người trong số họ có khả năng nắm được các tài liệu mật?
- Chỉ mười hai người.
- Các hồ sơ, dữ liệu… đã chuẩn bị rồi chứ?
- Xong cả.
- Có cái gì trong đó thấy cần cảnh giác nhất?
- Tôi không thấy có nghi vấn gì thêm đối với mỗi người trong số này.
- Nghi vấn à? – Côn-xtan-ti-nốp hỏi lại – Cơ quan an ninh không nên đặt nghi vấn gì ra trước đối với những người Xô-viết. Hoặc là đưa ra chứng cớ, hoặc là không có gì cả.
- Thưa thiếu tướng, tôi cũng xuất phát từ những tiêu chuẩn đúng như thế đấy ạ.
- Tiêu chuẩn, bao giờ nó cũng bất biến, phải thế!... Còn các tài liệu về những người này, có đây không?
- Tơ-ru-khin đang đánh máy lại.
- Khi nào đồng chí ấy xong?
- Tôi nghĩ là vào quãng ăn trưa.
Côn-xtan-ti-nốp hỏi lại:
- Tôi cần hỏi là khi nào đồng chí ấy xong?
- Đúng 14 giờ, không - không (14h00).
- Cám ơn đồng chí.
Một trong số bảy máy điện thoại reo lên và Côn-xtan-ti-nốp nhắc ngay một ống nghe lên, không hề nhầm lẫn:
- Tôi nghe đây. Vâng. Chào đồng chí! Thế nào rồi? Đồng chí đến đây ngay nhé!
Đặt ống nghe xuống, Côn-xtan-ti-nốp trầm ngâm nhìn dây điện thoại, rồi quay người về phía Prô-xcu-rin…
- Pa-ra-mô-nốp có bị liệt vào danh sách vừa lập không?
- Có chứ.
- Nhưng tới vòng tròn thu hẹp, anh ta không có mặt chứ?
- Không ạ. Đồng chí đã định rõ là, tên gián điệp phải được hỏi về những tin tức mang tính chất chính trị.
- Đúng. Tuy nhiên, Pa-ra-mô-nốp có thể là người truyền tin. Anh ta bây giờ là việc ở đâu nhỉ?
- Anh ta phụ trách cơ sở ô-tô ở Công ty sửa chữa tàu biển viễn dương.
- Công ty này chuyên trách về tàu gì, hoặc khu vựa nào?
- Cái đó tôi chưa kịp tìm hiểu kỹ.
- Có thể cho một câu trả lời đại thể được không?
Prô-xcu-rin nhún vai:
- Tôi không dám, bởi vì tôi rất biết thái độ của đồng chí đối với những câu trả lời đại thể rồi!
- Vâng, đúng vậy. Đồng chí hãy làm sáng tỏ vấn đề này cấp tốc lên nhé, vì việc quan sát bên ngoài sau bức mật mã của Xla-vin đã cho thấy nhiều tín hiệu lo ngại về Pa-ra-mô-nốp.
… Hồ sơ được lập ngay, khô khan, không một xúc cảm, chỉ có sự việc, như người ta vẫn thường làm.
Theo hồ sơ này, Mi-kha-in Mi-khai-lô-vích Pa-ra-mô-nốp, sinh năm 1929, dân tộc Nga, có vợ, không có người thân thích ở nước ngoài , vào hồi 12h47 từ Công ty sửa chữa tàu viễn dương đi ra, nhìn ngó chung quanh rất kỹ lưỡng ở gần bến ô-tô buýt, làm ra vẻ buộc dây giày, tuy dây giày không hề tuột. Đợi khi mọi hành khách đã lên xe, anh ta mới nhảy lên cuối cùng, trước lúc cửa xe đóng lại. Đi hai bến, anh ta xuống, lại quan sát chung quanh, và sau khi dừng bên tủ kính cửa hàng “Nước khoáng”, thì chạy vào đó trước khi người bán hàng treo biển “Nghỉ ăn trưa” một phút. Không tiếp xúc với ai, trừ người bán hàng, không mua chai nước khoáng nào, chỉ uống một cốc nước nhãn hiệu “Na-rơ-dan”. Ngồi lên ô-tô buýt, rồi Pa-ra-mô-nốp quay về Công ty và ở ga-ra đến hết giờ làm việc, sơn chiếc xe “Gi-gu-li” thành màu bạc, xe có số đăng ký 72 – 21.
Côn-xtan-ti-nốp ngước mắt nhìn đại tá Cô-nô-va-lốp. Đồng chí này dường như đợi sẵn cái nhìn ấy, lấy ngay từ trong cặp ra tờ giấy đánh máy kín gần như không có lề và im lặng chìa cho thiếu tướng.
Côn-xtan-ti-nốp lấy một điếu xì gà, từ từ xé lớp giấy bóng kính bọc ngoài, ông vừa hút thuốc vừa chăm chú đọc: “Người bán hàng ở cửa hàng “Nước khoáng”, thuộc Phòng thương nghiệp quận Xvéc-lốp, tên là Xi-din Gri-gô-ri Gri-gô-ri-ê-vích, sinh năm 1935, dân tộc Nga, ở ngoài Đảng, có vợ, có người thân thích bên họ mẹ ở nước ngoài, đã bị ra toà vì tội vô trách nhiệm, bị cải tạo lao động một năm ở nơi làm việc”.
- Họ hàng của anh ta ở đâu vậy? – Côn-xtan-ti-nốp hỏi, nhưng ông nghĩ Cô-nô-va-lốp chưa thể trả lời được. Thời hạn ngắn quá, ông chỉ hỏi vậy để nhắc nhở thôi, mà nếu nhắc nhở như vậy là chính đáng, thì không gây bực mình. Ấy thế, nhưng Cô-nô-va-lốp, tóc bạc, người mập tròn, hơi rướn về phía trước, bằng cử chỉ nhanh nhẹn, anh lôi tiếp một tờ giấy nữa ra và đọc:
- Người chú Xi-din là Mác Phê-dô-rô-vích sống ở Ốt-ta-oa (4), làm công nhân vận chuyển ở lò sát sinh, còn người thím. Xi-di-na Mác-ta Ghen-ri-khốp-na, quét dọn ở khách sạn.
- Làm sao họ lại đến tận đấy?
- Thưa đồng chí thiếu tướng, sau chiến tranh, bọn Đức đã xua họ đi.
“Từ ngữ hay dùng của người đã tham gia chiến tranh – Côn-xtan-ti-nốp nhận thấy ngay – Bây giờ người ta thường nói khác hơn: bọn phát-xít đã xua họ đi”.
- Còn một tài liệu nữa, thưa đồng chí thiếu tướng.
- Đồng chí làm bao giờ mà nhanh thế? Thời gian eo hẹp thế kia mà?
- Ôi chao, thưa đồng chí, cũng vì cái tính ấy mà người ta đang muốn tôi về hưu đấy, họ bảo tôi dồn thúc cánh trẻ dữ quá!
- Để chờ, tôi với đồng chí sẽ cùng về hưu! – Côn-xtan-ti-nốp nói và bập ngay vào câu đầu của tài liệu: Chiếc “Gi-gu-li” số hiệu 72 – 21 thuộc về nữ công nhân Vin-te Ôn-ga Vích-to-rốp-na sinh năm 1942, dân tộc Do Thái, ngoài Đảng, không có con, chồng là Dô-tốp An-đrây An-đrê-ê-vích, đang làm việc ở Luy-xbua”.
Côn-xtan-ti-nốp nhanh chóng soạn lại những tờ giấy do Prô-xcu-rin đã để lại, đặt một tờ riêng ra, cúi xuống đọc, phả khói ống xì gà vừa tắt, rồi lại châm nó, rít một hơi, hỏi thêm Cô-nô-va-lốp:
- Về cô Vin-te, đồng chí không còn tư liệu gì nữa?
- Không ạ.
- Xin cám ơn đồng chí Tơ-rô-phin Páp-lô-vích.
- Xin phép đồng chí, tôi đi.
- Vâng. Xin đồng chí lưu ý đến Vin-te giùm nhé!
… Đã có cơ sở để tìm hiểu thêm: Ôn-ga Vích-to-rốp-na Vin-te được phép sử dụng các tài liệu mật, nói riêng, là các tài liệu có liên quan đến Na-gô-ni-a, do đề tài của luận án phó tiến sĩ mà chị đang làm, là nghiên cứu vấn đề thâm nhập vào lục địa châu Phi của bọn tư bản độc quyền nhiều nước.
- Nếu không khó khăn lắnvới đồng chí, - Côn-xtan-ti-nốp yêu cầu, thì đồng chí gắng kiếm cho tôi bản luận án của Vin-te.
.. Nửa giờ sau, Prô-xcu-rin trở lại.
Côn-xtan-ti-nốp đưa mắt nhìn anh qua mục kỉnh.
- Thưa đồng chí Côn-xtan-ti I-va-nô-vích, Công ty sửa chữa tàu viễn dương chuyên đứng ra thương lượng việc sửa chữa các tàu biển thương mại của ta trên các tuyến quốc tế. Nó còn duy trì quan hệ làm ăn với Cộng hoà dân chủ Đức, Anh, Công hoà liên bang Đức, Nam Tư, Pháp. Giám đốc phòng giao dịch là Ê-rô-khin không có xe riêng, nhưnb phó giám đốc phụ trách tuyến châu Phi là Sác-ghin Ep-ghê-nhi Ni-ki-pho-rô-vích, sinh năm 1947 thì có xe “Von-ga” riêng, Pa-ra-mô-nốp đích thân bảo dưỡng chiếc xe này, kiếm những mặt mui mới, hình nổi như mặt gai ấy.
- Hết chưa?
- Chưa đâu ạ. Sác-ghin dẫu không nắm những tin tức mật – vì tài liệu mật không qua phòng họ, họ chỉ là dân giao dịch làm ăn, buôn bán – nhưng Sác-ghin thường có mặt ở Bộ Ngoại thương - Người anh của anh ta là Lê-ô-pôn Ni-ki-pho-rô-vích Sác-ghin, được phép sử dụng tài liệu mật, phụ trách, mua bán kỹ thuật, đã đi nước ngoài nhiều lần, đến Luy-xbua ba lần. Trong số các bạn hàng đàm phán có Giôn Glép, mà đồng chí đang quan tâm.
- Chúng ta chứ - Côn-xtan-ti-nốp sửa lại – chúng ta cùng đang quan tâm đến tên này. Trong số đó có cả đồng chí nữa. Tôi nghĩ cần theo dõi kỹ hơn về Pa-ra-mô-nốp. Cần phân tích về Xi-din cho chi tiết hơn. Ai có thể làm việc này được nhỉ?
- Theo tôi thì Grê-sa-ép làm được.
- Sao vậy?
- Đồng chí ấy đã tốt nghiệp trường Plê-kha-nốp (5), đã từng làm việc bên thương nghiệp.
Côn-xtan-ti-nốp cười tủm:
- Đồng chí cho rằng người cùng nghề thì dễ nhận ra nhau chứ gì?
- Đồng chí có ý kiến phản bác việc đề cử Grê-sa-ép?
- Không. Nhưng hãy để đồng chí ấy tự xem xét lấy. Tất nhiên, mọi việc đều phải cẩn thận ở mức cao nhất.
- Đúng thế.
- Ôn-ga Vin-te có ở trong vòng tròn đã thu hẹp của đồng chí không?
- Có. Nhưng tôi đang định loại ra, thưa đồng chí Côn-xtan-ti I-va-nô-vích. Một phụ nữ lắm lời, hay nói bẳn. Tuy nhiên, theo nhận xét của tất cả những ai biết chị, thì chị ấy cự kỳ tốt.
- Nhưng đồng chí có biết không, chồng chị ta là Dô-tốp. Đang làm ở Luy-xbua ấy. Và phụ trách vấn đề chở hàng hoá cho Na-gô-ni-a.
- Thì ra thế đấy… Vậy là một mạng lưới? Dô-tốp – Vin-te – Pa-ra-mô-nốp?
- Dô-tốp nắm tin tức sơ bộ; Vin-te được phép đọc các tài liệu mật, sẽ kiểm tra lại ở đây, còn Pa-ra-mô-nốp truyền tin. Đồng chí có nghĩ đến một mạng lưới như thế hay không? – Côn-xtan-ti-nốp hỏi.
- Về lý thuyết, một mạng lưới như thế hoàn toàn có thể có… Còn rất tinh nhạy là khác!... Nhưng Xtơ-ren-xốp đã để ý đến Vin-te, đã hỏi chuyện những người quen chi ấy, mọi người đều nhất loạt khẳng định: một con người tốt. Lẽ nào chị ta ngụy trang được khéo léo đến mức ấy? Vả lại, nếu mạng lưới là có thật, thì chị ta phải thủ vai, nói đúng hơn là có nhiệm vụ phải đóng kịch chứ…
Côn-xtan-ti-nốp đăm chiêu nghe Prô-xcu-rin nói, ông xoay xoay cây bút chì trong tay, rồi hỏi:
- Vin-te vẫn chơi ten-nít như trước kia chứ? Xla-vin báo rằng ở Luy-xbua, chị ta chơi ten-nít tài nghệ lắm đấy. Sân chơi lại là một chỗ tuyệt vời để gặp gỡ đủ loại người…
- Về ten-nít thì chúng tôi chưa xác định được.
- Xác định điều này, đồng chí không coi là vất vả chứ? Và thêm một điểm nữa, là chị ta thường chơi ở đâu? Trong hội nào? “Xpác-tác”, Câu lạc bộ trung ương quân đội hay “Đi-na-mô”? Và hay chơi với ai?
*
* *
Hai giờ sau, Prô-xcu-rin báo cáo là Ôn-ga Vin-te chơi trên sân của Câu lạc bộ trung ương quân đội. Trong các bạn chơi, có một vụ phó Bộ Ngoại giao, một tướng ở Cục công binh, một cán bộ có trọng trách ở Ủy ban kế hoạch Nhà nước và Lê-ô-pôn Sắc-ghin ở Bộ Ngoại thương.

“Điện gửi Xla-vin.
Hãy báo ngay tất cả những gì đồng chí có về Ôn-ga Vin-te, vợ Dô-tốp: những cuộc tiếp xúc, các mối quan tâm, sở thích, diện mạo tinh thần, đạo đức. Xác định những người chơi ten-nít với chị ta ở những đâu? Có bạn chơi thường xuyên không? Nếu có thì là ai? Và những ai giúp Ôn-ga thu thập tài liệu làm luận án?
Trung tâm”

“Gửi Trung tâm.
… Theo nhận xét của nhiều người biết Ôn-ga thì chị ta rất quan tâm đến sự thâm nhập của Mỹ vào lục địa châu Phi. Tài liệu cho luận án, Ôn-ga thu thập trong thư viện của Nghị viện và ở cả trung tâm báo chí của sứ quán Mỹ. Ai giúp chị ta ở đó, hiện giờ chưa xác định được. Về ten-nít, chị ta không có bạn chơi thường xuyên. Có vài lần, chị chơi ở sân khách sạn “Hin-tơn” với lãnh sự Anh Ca-rô-lai-nơ Ti-dơn, khoảng 30 tuổi, con gái của tướng Hêm-lo, phụ trách liên lạc giữa MI-6 (6) và CIA trong những năm 1949-51; Ôn-ga cũng còn chơi với Rô-bớt Lô-ren-xơ, đại diện Công ty “Điện thoại quốc tế”.
Xla-vin”

“Điện gửi Xla-vin.
Hãy xác định đầy đủ về Rô-bớt Lô-ren-xơ, tuổi, nhận dạng.
Trung tâm”

“Gửi Trung tâm.
Rô-bớt Lô-ren-xơ hay chơi trên sân quần vợt khách sạn “Hin-tơn” với Ôn-ga Vin-te. Sinh năm 1920 đến Luy-xbua sau khi chế độ thực dân bị lật đổ ở Na-gô-ni-a một tháng, đã làm việc ở Chi-lê; cũng với tư cách là đại diện hãng “Điện thoại quốc tế”.
Xla-vin”

“Gửi Xla-vin.
Theo tin tức ở nhà, Rô-bớt Uy-li-am Pôn Lô-ren-xơ, al5i sinh năm 1922,c ó vợ và hai con sống ở Niu-Yoóc, dự đoán là nhân viên CIA ở Luy-xbua. Hãy xác định rõ các mối liên hệ của hắn? Có ai trong số cán bộ ta có mặt ở sân trong khi hắn chơi? Nếu có xác định xem họ nói về những vấn đề gì, có ai chứng kiến được không? Hắn có quan hệ gì nữa với họ không?
Trung tâm”

XLA-VIN

Bác làm vườn sứ quán Liên Xô ở Luy-xbua là Ác-khíp-kin thường dậy sớm, quãng 5 giờ sáng. Đã gần tới ngày về hưu, bác phục vụ nốt những tháng cuối cùng ở Luy-xbua và đếm từng ngày để về Tổ quốc.
Bác ra vườn khi chưa một cán bộ nào đến cả. Còn đại sứ và đại biện, tuy ở trong sứ quán nhưng vẫn còn ngủ. Công viên yên tĩnh, ánh mặt trời rọi qua lớp lá lạ kỳ hình mũi tên, trong suốt như không màu. Chỉ có cỏ hiện lên rõ hơn màu sắc thực của mình, màu riêng biệt, tưởng chừng chỉ có ở châu Phi này mà thôi.
Bác Ác-khíp-kin biết rằng đúng 6 giờ, cảnh sát trực ở cửa sứ quán sẽ thay ca, lúc ấy họ trò chuyện rề rà một lát lâu, có khi còn hát khẽ, nhất là vào những ngày hứa hẹn sẽ thoáng gió, không oi ả, tưởng như họ cảm nhận được thời tiết không cần phong vũ biểu. Kìa chiếc xe gíp cảnh sát đã tiến đến, từ trong nhảy ra ba viên cảnh sát, họ sửa lại khẩu súng tự động, bật cười chuyện gì đó, bắt đầu chuyện trò nho nhỏ. Đúng lúc ấy, bác Ác-khíp-kin nghe thấy một giọng nói ở đâu đó, hổn hển, rất gần:
- Ông gì ơi, giúp tôi với!
Cái cách xưng hô lạ lùng, cái giọng nói tiếng Nga lơ lớ làm bác Ác-khíp-kin sợ hãi, bác hơi cúi thụp xuống cạnh hàng rào, nhìn kỹ, bác thoáng thấy một người đàn ông đang rướn người lên để đu tới đỉnh thanh rào nhọn – hàng rào làm bằng những thanh sắt nhọn khá cao ở dưới bịt kín bằng sắt tấm, kiểu hàng rào thực dân do người Tây Ban Nha để lại – trên đầu thanh rào sắt thấy ló lên một gói giấy nhỏ, có buộc một hòn cuội cho đủ sức nặng để có thể lăng đi.
- Ông khều vào giúp tôi! - Người đó nhắc lại giọng hơi run, gấp gáp, liếc về phía đám cảnh sát.
Đám cảnh sát hình như đã nhìn thấy người đàn ông.
Bác Ác-khíp-kin nghe thấy họ quát gì đó với người đàn ông bên hàng rào, rồi bắt đầu chạy lại. Chiếc xe gíp cũng nổ máy. Bác Ác-khíp-kin vội lấy cái bừa cỏ khều luôn cái gói, hất nó vào trong vườn, trong ranh giới sứ quán. Người đàn ông kia mỉm cười tỏ ý cảm ơn và chạy bổ ngay sang một ngõ hẹp. Chiếc xe gíp đuổi theo, nhưng phải phanh kít lại. Cái phố con hẹp quá, hai xe đạp cũng còn khó tránh nhau nữa là!
Một phát súng chỉ thiên. Bác Ác-khíp-kin mặc họ, tóm lấy cái gói đi vào. Khẩu súng trường tự động còn nhả thêm một viên đạn nữa, rồi bốn bề lại yên lặng…
*
* *
Xla-vin đọc lại một lần nữa tờ giấy cuộn trong gói giấy thả vào sứ quán: “Tôi đã gửi cho các ông lá thư trước, về chuyện bọn Mỹ đã mộ được một tên súc sinh ở khách sạm “Hin-tơn”. Thư gửi theo bưu điện. Không biết có đến nơi không? Những người Mỹ kia, tôi vẫn gặp ở “Hin-tơn”, còn tên súc sinh kia thì không thấy đâu nữa. Tôi đã già, chiến tranh đã làm tôi sứt mẻ, sau đấy, đã phải nếm trải nhiều cay đắng, đã lê gót phiêu bạt nhiều nơi, đã nhiều đêm khóc trên gối trọ ở các Ô-ten. Còn tên kia? hắn trẻ trung, bộ mặt rất no đủ! Nếu bức thư kia của tôi không đến tay các ông, xin các ông hãy lưu ý một lần nữa: Bọn Mỹ đã lôi kéo được người của các ông đấy!”
- Sau chiến tranh, người này đã làm việc ở Đức – Xla-vin nhận xét - Những ai ở đó lâu ngày, đều quen viết “khách sạn” là “Ô-ten”.
- Cả người U-krai-na cũng vẫn nói “Ô-ten” – I-go Đu-lốp phản đối.
- Đúng. Nhưng đây là người Nga. Mà người Nga sống ở Đức thì trăm người như một, đều quen nói như vậy. Tôi đã làm việc nhiều với những người di cư hồi cuối chiến tranh mà. Này, thế còn bác làm vườn đâu nhỉ?
*
* *
Bác Ác-khíp-kin dừng lại ở vườn hoa, ngay chỗ người lạ đã định ném cái gói giấy, bác hất đầu về phía hàng rào”
- Ông ta đã đu người lên chỗ kia kìa.
Xla-vin tiến lại hàng rào, trông thấy cái ngõ hẹp men dưới đồi. Anh hỏi:
- Khi bọn cảnh sát nổ súng, ông ta chạy vòng vèo chứ?
- Không, ông ta chỉ lượn vòng vèo khi đã nhảy lên xe đạp.
- Bác chắc là bọn chúng không giết mất người đó chứ? Đu-lốp hỏi xen vào.
- Tôi nhảy từ trong phòng ra ban công, trông rất rõ… Ông ta đi thoát, vì bọn cảnh sát chạy loanh quanh trong ngõ, mà trước mặt chẳng thấy ai cả. Khi bọn cảnh sát chạy tới cuối ngõ, chúng không bắn nữa. Có lẽ người kia đã lẩn vào các sân ngang lối tắt nào rồi, ở đó nhiều lắm…
- Tóc ông ta đã bạc chưa? – Xla-vin hỏi.
- Cũng chả rõ nữa… Lốm đốm thì phải – bác Ác-khíp-kin đáp – Cũng có thể tóc vàng, hoặc nhạt màu…
- Ông ta ăn vận ra sao?
- Ra sao à… Thì cũng một bộ âu phục bình thường.
- Tôi hiểu rồi… Nhưng màu gì? Cũ hay mới? Có đeo cra-vát hay không?
- Chà, tôi bị dồn ép rồi đấy – bác Ác-khíp-kin thở dài - Trời đất ơi, đầu óc già gây giờ mụ mẫm quá!
- Bác có thấy sẹo trên mặt không?
- Không có sẹo. Có điều, tay người đó thiếu ngón. Thiếu một hai ngón tay gì đấy. Tôi có để ý thấy lúc ông ta trèo lên.
- Cái này quan trọng đây! Thế còn ông ta có nói gì với bác?
- Không nói gì. Chỉ lúc đầu gọi thì thào: Ông gì ơi giúp với…
- Thế giọng thế nào hả bác?
- Giọng khàn khàn, cái này thì chính xác khàn khàn…
- Bác còn nhớ được dấu tích gì đặc biệt nữa không?
- Ôi chao làm sao mà nhớ được, mà nếu nhớ nhang nhác thì không nên nói liều, sợ rồi các đồng chí sẽ nhầm lẫn…
… Xla-vin quay về phòng Đu-lốp, lục lọi, xếp đầy các sách tra cứu xung quanh mình. Anh tìm những quán “ba” nào có đánh bi-da, nhất là ở khu vực ga. Có bốn quán tất cả: “Những chú dê vô tư lự”, “Na-plơ”, “Ca-da-blăng-ca” và “Lát Vê-gát”.
Anh lại mời bác Ác-khíp-kin đến.
- Bác Ô-lếch Các-pô-vích này – Xla-vin nói, - bác có biết chơi bi-a không?
- Tôi chơi kém lắm. Cũng đôi lúc khua múa với anh em lái xe cho vui thôi mà.
- Bác sẽ phải chơi với tôi đấy!
- Ở đây ta làm gì có bàn, mà buồn cười chết!
- Không phải đến sứ quán chơi đâu. Vào thành phố kia.
- Trong thành phố thì chỉ có trò bi-a ở các ổ bất lương thôi, người ta đã bảo trước thế rồi…
Xla-vin nhìn Đu-lốp, thấy anh cười tủm:
- Quả có thế!
- Nhưng hai người thì không sợ đâu, - Xla-vin nói, nháy mắt với bác Ác-khíp-kin - Thế nào, bác Ô-lếch Các-pô-vích?
- Nếu cần phải thế thì phải làm chứ sao, - bác trả lời từ từ.
- Bây giờ thế này nhé – Xla-vin tiếp tục, - tôi với bác sẽ đi tìm ông bạn thiếu ngón. Nhưng cũng có thể ta lại gặp một người Nga khác, tôi sẽ chỉ cho bác, và bác sẽ cũng cứ bắt chuyện, được không?
- Không phải người Xô-viết chúng ta à? – bác hỏi sau khi nhìn sang phía Đu-lốp.
- Không. Người lưu vong kia. Quân cũ của Vla-xốp, - Xla-vin trả lời.
- Tôi không nói chuyện với một tên chó má như vây đâu. Có mà bóp chết nó đi! Tôi đã từng đánh nhau với chúng ở Bre-xlan đấy, bọn chúng đâu phải là người, thật rặt đồ thú dữ…
*
* *
Quán “Những chú dê vô tư lự” ồn ào và đầy người. Ở đây trình độ chơi kém, người ta cãi cọ thô bỉ với nhau thì nhiều hơn. Đặt cọc rất thấp – có 3 đô-la. Không thấy người thiếu ngón. Ác-khíp-kin thua Xla-vin ba ván, tay bác run run rõ rệt khi đẩy các quả bi-a, bác thường đánh trượt, mắt nhìn mọi phía vẻ dè chừng.
Khi anh hầu bàn láu lỉnh, bưng khay chạy giữa các bàn mang bia đến, Xla-vin hỏi:
- Khơ-rê-nốp khi nào thường đến?
- Ông ấy bây giờ không chơi ở chỗ chúng tôi nữa, thưa ông. Ông ấy chơi ở “Lát Vê-gát” hay ở quán “Hồng Kông”. Thường hay ở “Hồng Kông” hơn. Người Trung Quốc chở đến đấy những bàn chơi thật tuyệt mỹ, ở đấy tụ tập những đấu thủ cừ khôi nhất. Đặt cọc tới 100 đô-la.
Ở “Lát Vê-gát”, sau khi đã chen vai thích cánh bên bàn chơi – các đấu thủ đều là tay có hạng cả, tới lúc nghỉ, trong phòng yên ắng lại, Xla-vin mời Ác-khíp-kin đến bên quầy đứng đặt mua rượu uyt-ki pha xô-đa (7). Tay bác Ác-khíp-kin vẫn run run như trước, bác uống rượu cốc-tây với vẻ ghê ghê dò dẫm, chốc chốc lại nhìn quanh. Xla-vin mỉm cười:
- Bác còn can đảm chán. Cánh tay hãy còn vững gân vững cốt al18m đấy chứ. Thế thì việc gì bác phải sợ?
- Không quen, thế nào ấy, - bác trả lời, tôi không thích cái trò này, tôi vốn dân quê mà, những trò này tôi thấy khó chịu lắm.
- Việc phải làm mà bác?
- Tôi hiểu thế, nhưng vẫn thấy không thoải mái!
Xla-vin hướng về phía chủ quán:
- Khi nào thì những đấu thủ giỏi sẽ đến hả ông?
- Thưa ông, ở đây chỉ có một người chơi thật giỏi, đó là ông Khơ-rê-nốp, một tau bi-a có hạng, thường “từ hai sườn đánh thọc vào”. Tuy nhiên, gần đây ông ta hay đến chơi bên quán “Hồng Kông”.
- Ở đấy bàn bi-a tốt hơn chăng?
- Không, thưa ông, ở đấy ăn uống rẻ hơn. Người Hoa bán thức ăn rẻ như cho không, vì bọn họ được Bắc Kinh bao thầu, chuyên chở đến tất cả mọi thứ. Chúng tôi làm gì nổi họ? Còn họ thì cố ý làm chúng tôi phải phá sản đấy. Chỉ có rượu bên họ, do người Bỉ cung cấp, thì cũng ngang giá. Chúng tôi bèn phải bán cốc-tây, đành thế thì mới hòng giữ được khách…
… Trong quán “Hồng Kông”, chủ quán chỉ ngay Khơ-rê-nốp cho Xla-vin. Gã này chơi tài thật, chơi rất từ tốn, ống tay áo xắn lên, vừa chơi vừa vờn đùa với kẻ cùng chơi, rất thiện nghệ. Gã phát âm tiếng Anh sai be bét:
- Ngắm đi, ngắm trúng vào! Đừng có lắc tay, không thì tao lại thắng bây giờ! Tiền đã có sẵn chưa, hay là phải chạy về xin vợ?
Xla-vin ngồi bên quầy, anh trông rõ Khơ-rê-nốp trong gương. Anh nói nhỏ với bác Ác-khíp-kin:
- Bác quan sát đi. Rồi bác lại rủ hắn chơi nhá!
- Ôi trời đất ơi – Bác Ác-khíp-kin thờ dài sườn sượt – trong người như có ai gõ trống lùng bùng lên đây! – Hay là ta làm một ngụm cho can đảm hơn?
Xla-vin gọi uyt-ki. Bác Ác-khíp-kin uống hết, nhấm một hạt dẻ, khà một tiếng, rồi trườn từ chiếc ghế cao xuống và tiến lại bàn, nơi gã chơi bi-a thiện nghệ “đánh từ hai sườn thọc vào” đang mê mải chơi ăn tiền.
- Này ông bạn – bác Ác-khíp-kin nói tiếng Nga – ta chơi thử nào. Năm đồng cọc… à, năm đô-la.
Khơ-rê-nốp quay ngoắt lại, lùi một bước, thò tay rút điếu thuốc lá.
- Lão làm gì ở đây? - Hắn hỏi khàn khàn.
- Thợ làm vườn.
- Ở đâu vậy?
- Ở sứ quán…
- À, dân đỏ đấy!
- Thì còn dân nào ở đấy nữa… Dĩ nhiên là đỏ!
- Sao bác lại biết tôi?
- Tôi biết thế nào được… ông chủ quán bão: Anh là người Nga đấy, thế là tôi lại làm quen. Tôi không giao dịch được với bọn họ mà, khó khăn lắm mới hiểu được họ…
- Bác hãy gượm, để tôi làm gọn ván này đã nhé!
Khơ-rê-nốp quay vào bàn và bằng 5 cú đánh đã kết thúc ván. Gã chơi với tài nghệ chuyên nghiệp và Xla-vin hiểu là trước đó gã chỉ bày trò để dử đối thủ, thả cho đối thủ có cơ hội gỡ vặt để say đòn. Ván đánh được 25 đô-la, gã nhét vào túi áo sơ mi.
- Này thế lão chơi có khá không? Hay là ta nói chuyện một lát vậy. Lần đầu tiên tôi nói chuyện với dân đỏ đấy, sau chiến tranh đến giờ chưa gặp lần nào.
- Chắc anh hay gây sự, nên người ta cũng tránh anh.
- Trước quả có thế, - Khơ-rê-nốp đáp, vừa nói vừa thăm dò bằng cái nhìn như dính vào mặt bác Ác-khíp-kin. Ta ra bàn ngồi đã nào, tôi đủ tiền khao lão.
Họ tiến về phía cửa, ngồi vào một góc hơi khuất và Xla-vin buộc phải chuyển sang ngồi một cái ghế khác để trông thấy họ.
Khơ-rê-nốp gọi hai cốc vốt-ca - mỗi cốc 40 gram, ở đây người ta vẫn rót như thế.
- Này, thế cậu có biết… - Bác Ác-khíp-kin ề à…
- Ai cơ?
- Lão cũng không biết tên…
- Thằng Kôn-ka mắt lác chăng?
- Không phải, - bác Ác-khíp-kin chỉ chỉ vào ngón tay làm hiệu định nói.
- À, thằng cha cụt ngón chứ gì?
- Đúng đấy!
- Hắn làm ở khách sạn ấy, chứ đâu. Nhưng lão cần tìm hắn làm gì?
- Tôi nghe có thông báo ở trên đài tìm hắn đấy.
- Tìm kiếm một tên thổ phỉ cũ, một tên Vla-xốp à? Tầm nã chắc?
- Không đâu, bà chị nó đăng tin tìm thân nhân… Khơ-rê-nốp bỗng hỏi:
- Này, thế nếu như hối lỗi trở về, thì người anh em cảu ta sẽ phải bị cầm cố bao nhiêu năm?
- Người ta còn xem, tùy ở tội gì chứ…
Khơ-rê-nốp thở dài:
- Tôi với hắn ta thì bị rút phép thông công rồi, lão ạ.
- Rút phép thông công là sao?
- Tuyệt đường rồi. Chúng nó lôi bọn tôi ra khỏi trại, bụng đói meo, dù có phải đi với quỷ cũng ừ. Chúng nó đưa vào làng, lôi các vị chính ủy ra. Mỗi đứa chúng tôi, được nhét một khẩu súng vào tay, còn thằng sĩ quan Han-xơ thì áp sát từng người, gí khẩu Pa-ra-ben-lom vào gáy và nói: “Bắn đi! Hoặc là mày bắn, hoặc là mày bị ăn đạn!”. Khi nào anh buộc phải bóp cò, hất xoài người chính ủy ra đất rồi, thì chúng mới thu lại khẩu súng trường và thả anh ra. “Cho mày bây giờ muốn đi đâu thì đi cũng được!”. Bọn chúng đã làm phép tẩy lễ cho chúng tôi bằng máu người đấy, còn về đâu cho thoát được… Thế rồi cứ vậy mà đi mãi, lão ạ.
- Này, thế anh có biết địa chỉ của thằng cha cụt ngón không? Làm sao tìm được hắn?
- Tôi biết tất, lão ạ. Nhưng tôi không dễ gì mà xì ra cho lão tất cả mọi thứ đâu. Chúng ta bây giờ đều biết đời cả rồi! Có thể chả làm gì có chị em nào hết, chẳng qua là Bộ Nội vụ lại cử lão tới thôi.
- Bộ Nội vụ cần gì đến ngữ nó.
- Họ cần hết cả đấy, lão thợ vườn ạ, lão đừng có lấy vải thưa che mắt thánh. Này, thế lão quê ở đâu?
- Vùng I-va-nốp-xki.
- Cũng là láng giềng đấy. Tôi ở Vô-lô-gơ-đa.
- Dân thành phố à?
- Không. Ở làng Pri-a-ni-ki. Mương sỏi bao bọc xung quanh, cha cha! Một khoảng xanh tít tắp, nước róc rách ngày đêm. Sáng sớm ra khỏi căn nhà gỗ, tĩnh lặng không tưởng tượng được. Rồi chim gõ kiến “tóc tóc”! Chứ có đâu như ở đây, rặt giống chim ác là, kiếm đâu ra thứ chim gõ kiến ấy, mẹ nó chứ!... Lão tên gì nhỉ?
- Ô-lếch Các-pô-vích… Còn anh?
- Vích-to Khơ-ri-xan-phô-vích. Tiền ở đây tiêu cũng rủng rỉnh, phòng ở cũng khá vậy mà lòng dạ cứ nao nao, lão Các-pức ạ, tôi ước được về quê quá… Nhưng ai cần đến thằng già này. Mà lại nhục nhã cho gia đình, tôi còn anh chị em nữa, chắc vẫn sống ở Pri-a-ni-ki. Cứ thế này, thì được coi là mất tích, còn về ấy à, sẽ bị tống đi Xi-bi-ri ấy. Anh chị tôi thì tội tình gì? Tội mình tôi, tôi chịu, nên mới phải lê la tháng ngày ở bàn bi-a thế này, với bọn du thử du thực ấy.
- Này, thế anh nói cho tôi biết họ của cậu thiếu ngón ấy đi.
- Lão đừng có gặng tôi. Tôi chưa hỏi lại xem hắn có đồng ý không thì tôi không hở ra đâu. Ngay cả cái tên làng Pri-a-ni-ki, lão tưởng thật đấy hẳn? (8). Chẳng qua là tôi gọi ra thế cho có tên làng đấy thôi… Lão Các-pức ạ, đời nó dạy không cho mình, dễ gì tin ai, đến ngay cả bản thân mình cũng không dễ gì tin được nữa là… Một tuần nữa, lão cứ lại đây, nếu hắn đồng ý thì xong thôi… Ở xứ này, chúng tôi chỉ vẻn vẹn có vài người, phải đùm bọc lẫn nhau chứ, mà có chuyện gì cũng chẳng giấu được nhau…
*
* *
Giám đốc Nha cảnh sát hình sự, tướng Xtau nhận được băng ghi âm cuộc nói chuyện của những người nước ngoài tại quán “Hồng Kông”, do ông chủ quán Hoa Kiều Chu Nỗ gửi đến. Đây là biện pháp phòng ngừa thường xuyên, vì ở đời này còn thiếu chuyện gì mà ma quỉ không bày đặt ra, nên phải trang bị kỹ thuật cho các ổ tứ chiếng này! Xtau bèn gọi điện ngay cho Giôn Glép:
- Giôn, anh có chú ý đến gã người Nga làm việc ở khách sạn không?
- Giá hắn làm ở Bộ Ngoại giao thì tôi sẽ chú ý đấy – Glép trả lời - Chứ còn ở đấy, bọn chúng là lũ đầy tớ làm thuê, còn ngoi đi đâu, và chẳng được tích sự gì mà phải để tâm lắm! Thế họ hắn là gì?
- Tôi cũng chưa xác định. Có đặc điểm là ngón tay cụt, ngoài ra không biết gì thêm. Hắn làm việc ở “Hin-tơn”.
- Thôi được. Mai ta sẽ gặp nhau và suy nghĩ thêm. Lão làm vườn của sứ quán Nga lại quan tâm đến hắn đấy!
- À, nếu thế thì lại lý thú đây. Về chuyện gì vậy?
- Lão bảo người chị hắn đang tìm kiếm hắn, trong mục thông báo trên đài phát thanh.
- Rất có thể. Họ vẫn có buổi phát thanh như thế.
- Cùng với lão này còn có một tay tên là Xla-vin đến chỗ quán Hoa Kiều của ta. Tôi đã cho xác định rõ để phòng ngừa. Hắn ở khách sạn”Hin-tơn”.
- Ở “Hin-tơn” à? – Sau một phút, Glép hỏi lại - Được, cám ơn anh Xtau. Tôi sẽ liên lạc với anh, ta hẹn ngày nhé.
*
* *
Sau khi đã ngụp người vào bầu không khí có máy điều hoà nhiệt độ ở tiền sảnh khách sạn “Hin-tơn”, Xla-vin vẫn còn cảm thấy mồ hôi tháo ra như tắm. Áo sơ mi ướt hết, mặt rám nắng, sau những cuộc đi dạo ngoài bãi tắm, kem bôi mặt cũng không cứu nổi.
Anh tiến lại phía người gác cổng, hỏi chìa khoá phòng, rồi mua hết các báo có bán ở đó. Khi đi lại cửa thang máy thì có người gọi tên anh.Anh quay lại. Gần quán bán ba là một người đàn ông ăn mặc luộm thuộm nhưng đẫy đà, bên cạnh ông ta là Giôn Glép, người gân guốc, tóc bạc, nhưng vô cùng đẹp mã, đang mỉm cười vẻ làm thân.
- Hê-lô, I-van! - Người đàn ông lại kêu lên, áo sơ mi bằng ka-ki đầy những vệt bia - chả lẽ ông bạn không nhận ra tôi ư, ông bạn cũ?

CÔN-XTAN-TI-NỐP

“Tuyệt mật.
Gửi thiếu tướng C.I. Côn-xtan-ti-nốp.
Theo yêu cầu của đồng chí, chúng tôi xin báo cáo là các buổi truyền của trung tâm tình báo CIA ở A-ten chỉ có thể thu được trên các máy thu thanh cực mạnh, nhãn hiệu “Phi-líp”, “Pa-ra-mô-nốp-na-xô-níc”, “Xô-ny”. Trong mỗi trường hợp cụ thể, chúng tôi chỉ có thể giải đáp dứt khoát, sau khi tiếp xúc với máy hoặc với sơ đồ chi tiết.
Đại úy Sa-ri-pốp”

“Tuyệt mật.
Gửi thiếu tướng C.I. Côn-xtan-ti-nốp.
Đã xác nhận được, thông qua những người quen biết Vin-te và Sác-ghin, là trong nhà họ có những máy thu thanh cực mạnh, nhãn hiệu “Pa-na-xô-níc đơ luých”, chế tạo năm 1976.
Đại úy Grê-sa-ép”

… Cho đến chiều, đơn vị của Cô-nô-va-lốp phụ trách theo dõi các nhân viên CIA mà cơ quan phản gián đã phát hiện được, đã xác định rằng đêm qua, bí thư thứ hai của sứ quán Mỹ Lun-xơ đã từ nhà ở đại lộ Lê-nin phóng xe đi, sau khi làm mất dấu các đồng chí công an theo dõi, đã ngoặt từ đường Mô-giai-xki vào công viên Thắng Lợi vào lúc 23 giờ 40. Trong công viên, Lun-xơ lại rơi vào phạm vi quan sát, hắn đi dọc một con đường hẹp, dừng lại vài giây, ra khỏi xe, lấy chân gõ vào bầu đèn, hai lần cúi gập người xuống, hút thuốc, rồi lại lên xe đi. Từ đó ra, Lun-xơ về sứ quán với tộc độ rất cao, ở sứ quán tới 3 giờ sáng rồi quay về nhà. Lúc qua công viên Thắng Lợi hắn không dừng xe lại nữa. Tuy vậy lần này có một người đàn ông, đã ngồi dưới mưa khá lâu trên một cái ghế dài, dọc tuyến hành trình của Lun-xơ, đi ra khỏi công viên. Vì giờ đó, xe ô-tô buýt và trô-lây-buýt không chạy nữa, ông ta đi bộ, về nhà. Ông sống ở phố “Năm 1812” tên là Sê-bê-cô Rô-man Gri-gô-ri-ê-vích, trung tướng về hưu…
*
* *
“Gửi Trung tâm.
Có tài liệu gì về một người lưu vong khoảng 50 tuổi, mất hai ngón tay ở bàn tay trái, tóc vàng, theo giả định của tôi thì đã sống khá lâu ở Đức. Có thể là người U-krai-na. Đề nghị kiểm tra những mối giao tiếp của Khơ-rê-nốp ở nơi cư trú năm ngoái, có thể anh chàng Thiếu ngón này có ở đấy chăng?
Xla-vin”

“Gửi Xla-vin.
Trong số các đầu mối giao tiếp của Khơ-rê-nốp ở Ki-lơ, không xác định được có Thiếu ngón hay không.
Trung tâm”

… Tướng Phê-đô-rốp, Cục trưởng phản gián, sau khi nghe báo cáo của Côn-xtan-ti-nốp xong, nói:
- Khởi đầu chiến dịch làm tôi nghĩ đến việc sửa nhà. Mọi cái đâu vào đấy, chỉ thấy một số chỗ nứt rạn, tưởng như chỉ quét vôi lại là xong. Ấy vậy mà khi thợ khuân vật liệu đến, phủ đồ đạc và sàn bằng báo và rồi vào việc, là bắt đầu gây đổ vỡ, làm lộn xộn mọi thứ, thế là vĩnh biệt sự tĩnh tại vốn có…
- Người ta còn lấy báo rải sàn là tốt đấy! – Côn-xtan-ti-nốp nhận xét – Chắc đó là những thợ sửa nhà tiên tiến, chứ ở chỗ tôi ấy à, chỉ thiếu nước là họ đi giày đinh nhọn lên trên sàn gỗ thôi…
- Cũng dễ hiểu thôi, - Phê-đô-rốp trả lời - Họ là lớp người mất thói quen nghề nghiệp – Tôi cho vì các bà mẹ chúng ta đã phải hứng chịu chiến tranh, họ ăn ngủ bên máy, bất hạnh lắm, lại còn những cậu bé lau nhau cỡ 13 – 14 tuổi học nghề nữa…
- Chúng ta cũng đã từng ngủ giữa đám máy móc – Côn-xtan-ti-nốp mỉm cười – không lết nổi về nhà vì yếu quá, lại còn những trận oanh tạc…
- Chính thế, - sau giây lát Phê-đô-rốp nói – Hai mươi triệu sinh mạng bị mất đi, cùng với họ, bao nhiêu là tay nghề cao bị chết? Mà tính chuyên nghiệp là gì? Trước tiên, đó là sự chu đáo đã ăn nhập vào đầu óc, sự cẩn thận cao. Cho nên, nếu xoáy vào bản chất vấn đề, có thể hiểu được, và có thể giải thích được, những thứ đinh nhọn trên giày mà anh em ta giẫm trên sàn gỗ kia: bi đát đấy, nhưng rõ ràng là nó có nguyên nhân của nó! Anh uống trà nhé? Hay cà phê?
- Cho tôi cà phê.
- Không sợ vỡ tim chứ?
- Theo tôi, có lẽ một biến cố thất thường nào đó, dù vặt vãnh nhất, xét trên quan điểm căng thẳng của thần kinh, còn đáng sợ hơn cả tấn cà phê, anh Pi-ốt Ghê-oóc-ghi-ê-vích ạ!
- Cũng đúng – Phê-đô-rốp đồng ý, - nhưng một lập trường kiểu ấy làm ta muốn buông xuôi mất, anh có thấy thế không?
- Lúc nào cũng đứng dưới miệng súng, căng thẳng thần kinh quá mức, thì sự buông xuôi đôi chút cũng là được giãn ra chứ.
- Có thể liệt anh vào các nhà cãi vã kinh viện đấy, anh láu không tưởng tượng được, gần như Xla-vin vậy!
- Không ai trên đời này láu hơn Xla-vin được – Côn-xtan-ti-nốp phản đối một cách tự tin.
Khi anh thư ký mang hai tách cà phê và bánh mì khô đến, Phê-đô-rốp lấy ra một tờ giấy lớn và bắt đầu vẽ một sơ đồ rất nhanh và chính xác.
- Anh nhìn rõ không? – Ông hỏi.
- Rõ ạ.
- Chỗ nào tôi nhầm, anh sửa giùm nhé!
- Không. Anh không nhầm chỗ nào đâu.
- Thôi, thôi, đừng phỉnh tôi làm gì. Như vậy là trong phạm vi anh quan tâm, nhất là sau bức điện của Xla-vin, phải là Pa-ra-mô-nốp, đúng thế không nào?
- Đúng vậy đấy.
- Sau khi quan sát anh ta, lại nảy ra thêm nhân vật Ôn-ga Vin-te. Cô này lại là vợ Dô-tốp. Đúng thế không nào?
- Đúng thế.
- Tôi đã hỏi Xla-vin xem ý kiến đồng chí ấy thế nào về việc cho gọi Dô-tốp từ Luy-xbua về. Đồng chí ấy im lặng. Tôi cho là Xla-vin hiện chưa có cơ sở để quyết định việc đó. Người ta sẽ không hiểu chúng ta, nếu chúng ta đề xuất việc này, vì ta không đủ chứng cớ.
- Thế mối quan hệ thân mật của Dô-tốp với Glép?
- Thì đã sao? Đến đại sứ của ta cũng vẫn khoác tay Glép trong các buổi tiếp tân nữa ấy chứ. Glép chưa bị vạch mặt ra là CIA, chỉ mới có những giả định, ngoài ra, ông ta là một thương gia có thái độ thân thiện với ta… Rồi nữa! Có thể có những mối phối hợp nào? Pa-ra-mô-nốp khi bị giữ ở đồn cảnh sát có thể bị mua chuộc làm việc gì đó. Việc gì? Xla-vin chưa nêu được trọn vẹn giả thuyết này, và chúng ta đành phải đoán mò thôi. Thế nhưng, tuyển Pa-ra-mô-nốp đem lại lợi ích gì cho các đối thủ của ta? Anh ta có nắm được những thông tin có tính chất chính trị đâu? Vậy dùng anh ta làm gì? CIA không cần những loại ấy.
- Có thể làm một bước trung chuyển.
- Giả sử như vậy. Giữa những ai mới được chứ?
- Có thể hình dung được một thế phối hợp như thế này: Dô-tốp ở Luy-xbua dò ra vấn đề, Vin-te triển khai ở đây - những tài liệu mật qua tay cô ta, cô ta biết nhiều, còn Pa-ra-mô-nốp là người truyền đạt mọi thông tin.
- Còn nếu sửa đổi chút ít? Dô-tốp là người dò; Sác-ghin – nguồn thông tin cơ động chính, Vin-te chỉnh lý các tài liệu của Sác-ghin, vì tư liệu của hầu hết các Bộ đều tụ về Viện của cô ta; Pa-ra-mô-nốp thì tôi cũng tạm đồng ý là cấp trung chuyển. Có khả năng như vậy chứ?
- Vâng, và cũng có cả phương án thứ ba: Vin-te có vô số người quen ở sân quần vợt. Các bạn chơi ten-nít của cô ta là những người có nhiều thông tin. Ở trên sân quần vợt ấy, cô ta nắm bắt lấy những vấn đề chính trị rắc rối nhất, còn Sác-ghin làm cái việc chỉnh lý, chính xác hoá các vấn đề đã khơi ra, còn Pa-ra-mô-nốp chuyển thông tin.
- Nhưng chuyển thế nào nhỉ? Ở đâu? Cho ai? Không phải cho tướng về hưu Sê-bê-cô chứ?
- Ông ấy đang viết hồi ký, cũng không đạt lắm… - Côn-xtan-ti-nốp mỉm cười - Nhiều người ngây thơ cho rằng làm văn học dễ dàng lắm… Ông già đang bị mất ngủ, chúng tôi đã kiểm tra… Tối nào ông cũng đi dạo trong công viên Thắng Lợi.
- Còn Pa-ra-mô-nốp ở đâu, khi Lun-xơ tới đó?
- Ở nhà.
- Thế Vin-te?
- Không xác định được!
- Sác-ghin?
- Ngồi ở tiệm ăn với người em.
- Thế tất cả bọn họ ở đâu trong thời gian truyền tín hiệu gần đây nhất của trung tâm tình báo địch?
- Sác-ghin ở chỗ làm việc, vậy là không thể nhận tín hiệu được. Pa-ra-mô-nốp ở nhà, Vin-te cũng thế.
- Phải lập kỹ đồ biểu, xem ai ở đâu, trong thời gian truyền tín hiệu. Tôi đã từng áp dụng phương pháp này, kết quả tốt lắm… Vin-te có máy thu gì nhỉ?
- Máy “Pa-na-xô-níc”.
- Còn Sác-ghin?
- Chưa xác định được.
- Anh cho xác định ngay đi!
- Rõ, thưa đồng chí Pi-ốt Ghê-oóc-ghi-ê-vích.
- Anh hỏi cả Xla-vin nhé, ai đã mua những chiếc “Pa-na-xô-níc” này, mua của ai, với giá nào, có thể họ lấy từ một cửa hàng, còn nếu từ các cửa hàng khác nhau thì còn thú vị hơn nữa.
- Chúng tôi sẽ nghiên cứu việc này ngay tức khắc.
- Có bao nhiêu người trong vòng hẹp thuộc đối tượng chúng ta chú ý? – Phê-đô-rốp hỏi.
- Chiều nay bớt đi được 5 người nữa. Họ đều đã lên đường đi xa cả. Hai người đi làm luận án tiến sĩ. Số còn lại thì đã có thể nhìn rõ như từng tinh thể ấy, tinh thể trong suốt với mọi ý nghĩa của từ ấy.
- Anh làm văn đấy à?
- Không, kết quả điều tra đấy!
Phê-đô-rốp đẩy cái tách không sang một bên, và trong cái đẩy ấy, Côn-xtan-ti-nốp đoán ra vẻ bực dọc.
Ông không lầm.
- Vì sao Xla-vin chậm trễ làm vậy với cái phương án đã đề xuất của mình? Sao đồng chí ấy không thông báo gì thêm?
- Tất nhiên, đồng chí ấy cũng như đang ngồi trên đống gai,có điều, đồng chí ấy không thể hấp tấp, tính đồng chí ấy thế! Đồng chí ấy hiểu là chỉ cần đưa bức ảnh ra cho người đã viết thư, thì mọi phán đoán của chúng ta đã kết thúc. Đồng chí ấy cũng hiểu rất rõ là chúng ta chờ đợi chính cái tin này, Pi-ốt Ghê-oóc-ghi-ê-vích ạ.
Đồng chí trợ lý thò đầu vào:
- Báo cáo đồng chí trung tướng, Pa-nốp ở ban giải mã có tin khẩn.
- Đồng chí ấy gọi điện à?
- Không, Vì đồng chí ra lệnh không dùng điện thoại nên Pa-nốp đã đến đây.
- Mời đồng chí ấy vào ngay.
Pa-nốp đặt lên bàn sáu tài liệu.
- Có ba cái liền, thưa đồng chí trung tướng. Chưa từng thấy như thế bao giờ (9).
- Chà, vậy kia à? – Phê-đô-rốp nói – Có lẽ đã đến lúc xin các anh một điếu xì gà rối đây. Cường độ công việc đến mức này chỉ có thể có trước những sự kiện, biến cố.
… Trung tướng Phê-đô-rốp trở thành chiến sĩ phản gián khi mới hai mươi mốt tuổi. Là một kỹ sư vô tuyến trẻ tuổi, tình nguyện sang Tây Ban Nha, đã làm việc ở đó với các chiến sĩ phản gián xuất chúng của Dgiéc-din-xky, đã học nghề chuyên môn ở Gri-gô-ri Xư-rô-e-giơ-kin, và khi chiến tranh bắt đầu, đồng chí trở thành Át chủ bài trong các cuộc đấu vô tuyến chống bọn tình báo Đức Áp-ve va Ghét-xta-pô. Hàng trăm tên gián điệp Hít-le đã bị tóm hoặc bị vô hiệu hoá, nhờ công tác của cơ quan mà Phê-đô-rốp đứng đầu. Tiếp đó, là cuộc đấu tranh với bọn tư sản theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, đánh bại bọn phản động Ban-đê-rốp, tìm ra những tên tay sai thời Hít-le còn ẩn náu; và cuộc chiến đấu với các nước đồng minh đòi trao trả bọn đao phủ phát xít đã chạy sang bên kia đại dương tìm chủ mới. Đến cuối những năm bốn mươi, đồng chí bắt đầu công tác chống gián điệp do các cơ quan tình báo Mỹ phái sang. Tư duy sắc bén, nhanh nhạy, nhưng lại rất điềm đạm (cặp mắt xanh lơ như tươi cười là điều bất biến ở đồng chí). Phê-đô-rốp hỏi, trầm ngâm:
- Đồng chí Côn-xtan-ti-nốp, đồng chí còn chơi ten-nít chứ?
- Khi nào có thì giờ.
- Đồng chí cố gắng thu xếp nhé! Đồng chí hãy gặp Vin-te một cái xem, đồng chí thừa biết đấy, giấy tờ dù sao vẫn là giấy tờ, còn con người mới đích thực là con người. Hãy ngó qua cô ta chút đã, Côn-xtan-ti I-va-nô-vích ạ. Còn điều này nữa, có thể nói, công việc phức tạp, cực kỳ phức tạp. Cho nên, tôi nghĩ, các đồng chí nên lưu ý, thật sự tỉ mỉ, cả những chi tiết vặt vãnh, hoặc có vẻ như vặt vãnh. Dù thế nào, việc tìm kiếm tên gián điệp vẫn thường xuyên nhận được những mã số kia là một hành động có tính đối ngoại, chỗ này phải tỏ ra tinh nhạy đặc biệt. Vì đây đang có dấu hiệu về sự lôi kéo vào một cuộc xung đột có tính thế giới, tôi phải dùng cái từ đó mới đúng, nếu như sự nhạy cảm đã không đánh lừa tôi.

(1) Tiếng Anh trong nguyên bản: “Ham and eggs”. (ND)
(2) Tên tắt của “Ủy ban đặc biệt”: cơ quan an ninh của Liên Xô trước đây. (ND)
(3) A-len Đa-lét: trùm tình báo Mỹ, từng làm giám đốc CIA một thời gian dài. (ND)
(4) Thủ đô Ca-na-đa. (ND)
(5) Trường đại học kinh tế Mát-xcơ-va. (ND)
(6)MI-6: viết tắt của chữ Military Intelligence – Tình báo quân sự, là cơ quan tình báo Anh. (ND)
(7) Nguyên bản phiên âm tiếng Anh: Highball. (ND)
(8) Pri-a-ni-ki: Tên Khơ-rê-nốp bịa ra, có nghĩa là “Bánh bang”. (DN)
(9) Các bức điện trong buổi truyền này, lúc đó chưa giải mã được, truyền từ trung tâm tình báo CIA sang Châu Âu. Sau này, mới biết nội dung như sau: “Bạn thân mến, tin tức bạn truyền đạt đã có đóng góp quan trọng vào cuộc đấu tranh. Người có trách nhiệm cao nhất đã được biết những ý kiến và tài liệu của bạn cung cấp. Chúng tôi sẽ thực hiện yêu cầu của bạn và gửi tức khắc những gì bạn yêu cầu trong hoạt động bí mật thường kỳ. Địa điểm gặp như trước. Rất yêu cầu tăng nhịp độ chụp ảnh mọi văn kiện về khả năng tăng viện trợ của Nga cho Na-gô-ni-a nếu ở đó xảy ra những sự kiện khủng hoảng. Ý kiến của bạn và các dự đoán của những người quen, có trình dộ phù hợp, sẽ hết sức quý giá đối với chúng tôi. Các bạn của bạn G. và L. (Tác giả chú thích)
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
phần 45
CÔN-XTAN-TI-NỐP
Ông không sao ngủ được, cũng không dám uống thuốc ngủ, vì tình hình bây giờ rất căng thẳng, bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra những tình huống phức tạp. Cứ thế, ông ngồi xoay mình luôn trên chiếc ghế đi-văng trong phòng làm việc cho đến rạng sáng. Bốn giờ, ông đứng dậy, bước ra phố.
Xung quanh thật yên tĩnh. Ông chợt nhớ đến Xla-vin, nhớ đến cuộc nói chuyện giữa hai người về sự yên tĩnh. Hiện giờ Xlavin đang ngồi trong tù- cũng là một sự yên tĩnh! Còn ông thì đang bước dạo trên thành phố thân yêu của mình- một thành phố ông yêu đến đau trong lồng ngực- mà không thể làm được gì để cứu bạn ra khỏi tù. Bọn CIA sẽ không đi tới "cầu" vì chúng không thấy dấu hiệu báo trước trên địa điểm "Trẻ con" bí ẩn kia. "Trẻ con" là gì nhỉ ? Nó ở đâu ?
Côn-xtan-ti-nốp đi theo phố Lu-bi-an-ca tới đường vòng. Ánh cầu vồng phản chiếu trnê làn nước ôtô vừa tưới lên mặt đường nhựa. Cảm thấy những giọt nước li ti đang bám trên mặt, ông bước từ lề phố xuống đường, rồi nhắm mắt lại. Một chiếc xe tưới nước nữa đang lại gần, Côn-xtan-ti-nốp khẽ rùng mình, thu người- những sợi nước nhỏ, mát lạnh bắn vào người ông như khi tắm vòi hương sen.
- Đồng chí !- Có người nào đấy gọi ông.
Côn-xtan-ti-nốp mở mắt. Bên kia đường, một chiếc "Vôn-ga" cảnh sát đang đỗ.Một anh Trung Uý ló ra khỏi xe, lau mặt bằng chiếc khăn mui-soa rộng rồi lắc đầu,nói:
- Đồng chí không được đứng giữa phố như thế.Lại còn nhắm mắt nữa...Cứ như là trẻ ocon không bằng! Trẻ con thì còn có thể tha thứ được, vì chúng chưa biết đọc dấu hiệu đi đường, còn đồng chí ?
Côn-xtan-ti- nốp vội bước lên hè phố :
- Xin lỗi các đồng chí.
- Ôtô mà chẹt phải thì ai có lỗi ?
Côn-xtan-ti-nốp nhắc lại :
- Xin lỗi...
Và đúng lúc này ông nhận thấy một dấu hiệu đi đường đính trên cột điện : một câu bé và một cô bé dắt tay nhau chạy qua phố "Trẻ con"- Côn-xtan-ti-nốp nghĩ bụng- dấu hiệu này gọi là "Trẻ con"? Nhưng ở đâu ?
Côn-xtan-ti-nốp trở về cơ quan, gọi xe đi suốt ba tuyến đường nơi Ôn-ga đã chỉ cho ông xem những chỗ Đu-bốp thường dừng lại. Ông nhẩm đếm, đúng tấm bảng dấu có chữ "Trẻ con". Biết lấy sáp bôi màu bôi vạch lên cột nào bây giờ ! mà ngang hay dọc?
- Quay lại ! Nhanh nhanh lên !- Côn-xtan-ti-nốp nói với người tài xế rồi nhấc ống nghe máy điện thoại, quay số gọi Cô-nô-va-lốp.
Qua giọng nói, ông biết Cô-nô-va-lốp cũng không ngủ
- Cần phải lấy ngay từ kho lưu trữ những tấm ảnh do Đại uý Grê-sa-ép chụp.
Cô-lô-va-nốp khẽ ho, vẻ ngạc nhiên, chắc không hiểu Côn-xtan-ti-nốp muốn nói gì
- Anh có nhớ hai năm trước anh trách Grê-sa-ép quá cẩn thận, ngờ vực hay không ?
- Thì sau đó tôi vẫn tiếp tục trách anh ta về điều đó- Cô-nô-va-lốp đáp- về cả việc anh ta quá tốt bụng nữa. Xin đồng chí cho biết cụ thể đồng chí muốn nói gì ạ ?
- Lúc ấy anh ta dò theo dấu Gra-gơ và Uyn-xơn...vì họ chụp nhiều ảnh lắm. Họ là khách đi ngang qua Mat-xcơ-va, từ Tô-ki-ô. Cả hai đều là nhân viên củ phòng kế hoạch chiến lược CIA, không lẽ đã quên rồi à ?
.....Khi quay lại, Côn-xtan-ti-nốp thấy những tấm ảnh ông cần trên bàn. Ông bày hcúng lên mặt chiếc bàn rộng dùng để họp thành từng hàng đều đặn rồi ông bắt đầu, một cách chậm chạp, thận trọng như một tay chơi bài tú-lơ-khơ, nhẩm đọc các tên : Hồng trường, Trường đại học tổng hợp, khách sạn " Nước Nga", GUM, quảng trường " Ma-gie-nơ"
Sau đó ông lại cho vào cậ cả hai mươi chiếc ảnh rồi nhìn Cô-nô-va-lốp,hỏi :
- Grê-sa-ép là một anh chàng thật giỏi, đúng thế không ? Anh ta đã chụp lại- đung 1như nguyên bản- tất cả hồ sơ, kế hoạch và các bức ảnh các vị khách kia có. Giỏi thật. Nghĩa là chúng đã chuẩn bị kế hoạch bí mật với Đu-bốp từ hai năm trước- nói rồi Côn-xtan-ti-nốp dí ngón tay vào những tấm ảnh khi chiếc cầu vượt qua sông Mát-xcơ-va, khi thì những toà tháp cổ trông rất rõ nét với hình một đồng chí công an đứng cạnh, người được chú thích là "thường ra về vào lúc 20.30". Có bức ảnh chụp tượng đài ở vườn hoa Thắng Lợi mà Đu-bốp trước đấy vẫn thường đến, đúng nơi xe của Lun-xơ đã chạy qua. Và cuối cùng là bức ảnh với tấm biển chỉ đường được phóng to, in hai chữ "Trẻ con" và hình hai đứa bé dắt tay nhau,chạy.
Côn-xtan-ti-nốp lật tấm ảnh và nhẩm đọc :
- Phố Crúp-xkai-a, chỗ rẽ, bên cạnh biển chỉ đường. À, đây là địa điểm "Trẻ con" của chúng đây : chọn khá lắm- chính phố Crúp-xkai-a dẫn đến toà đại dứ Mỹ ở đại lộ Lê-nin.
ông với tay nhấc ống nói, quay số gọi Prô-xcu-rin :
- Anh có muốn đi dạo với tôi một chốc bằng ôtô không ?
*
**
Ông đi ngang qua tấm biển chỉ đường hai lần. Dáng điệu của ông thong thả, uể oải, đúng như một người dạo chơi vì bây giờ là bảy giờ sáng, giờ củ những người già đi dạo.
Lần đầu, khi đi ngang qua cột điện có tấm biển chỉ đường "Trẻ con" Côn-xtan-ti-nốp lấy tay vạch một vạch ngang.
- "Không được- ông thầm nghĩ- Làm thế, người ngoài có thể nhận thấy, cần phải thử cách khác"
Ông quay lại, khoát tay thành một vệt dọc, như thể ông là người đang đi, đưa tay nghịch.
- Đúng, phải thế! - Ngồi theo dõi Côn-xtan-ti-nốp từ trong xe, Prô-xcu-rin nói thành tiếng.
Lúc Côn-xtan-ti-nốp đã ngồi cạnh mình, vốn là người bao giờ cũng nghi ngờ, Prô-xcu-rin lắc đầu "
- Tại sao anh tin màu của sáp bôi môi phải dùng là màu của thứ ta tìm được khi kham 1phá nhà Đu-bốp ?
- Thế tại sao phải khác ?
- Có thể đấy là màu sáp môi môi của Ôn-ga. Còn để viết kí hiệu thì mỗi lần hắn mua một lọai mới.
Ôn-ga bôi môi, đúng, nhưng sáp của cô ấy không cưng 1như xi-măng - Côn-xtan-ti-nốp nói rồi lấy từ túi áo ra hộp son thấy ở nhà Đu-bốp - Anh xem cái này xem, cứng và mòn vẹt, rõ ràng là nó đã được dùng nhiều lần vào mục đích này.
- Tôi cũng chẳng biết nữa- Prô-xcu-rin vẫn tiếp tục nghi ngờ, giọng ảm đạm - Lúc này tôi chẳng còn tin vào cái gì nữa.
- Tại vì thần kinh anh căng thẳng quá, - Côn-xtan-ti-nốp gật đầu,- nhưng dù sao chùng ta cũng phải tin vào thắng lợi.
Muời bảy giờ ba mươi phút, Gavri-kốp đi từ trung tâm về phía phố Crúp-xkai-a. Anhcho xe dừng lại cạnh một cửa hàng. mở cửa xe, rút một điếu trong bao thuốc "A-pô-lô" rồi châm lửa hút.
Anh bước lại một quầy bán nước giải khát cờ-vát - Côn-xtan-ti-nốp cho là làm thế tốt hơn al2 đi vào cửa hàng- những giờ gần đây nhân viên của Cô-nô-va-lốp luôn theo dõi khu vực "Đu-bốp giả "xuất hiện - Kinh nghiệm thất bại ở công viên đã dạy cho họ một bài học tốt về sự thận trọng. Côn-xtan-ti-nốp không loại trừ khả năng CIA cho người ra phố Crup--xkai-a theo dõi Đu-bốp, vẽ tín hiệu. Vì vậy Ga-vri-kốp được trang bị một máy liên lạc cực nhỏ, đề phòng trường hợp các nhân viên của Cô-np6-va-lốp thấy có người lạ mặt theo dõi anh, nhất là khi hắn có máy ảnh. Vì vậy anh phải hút thuốc liên tục. Ngậm điếu thuốc trong miệng, khuôn mặt sẽ khác đi, và anh cũng phải luôn nhớ đến cách đi đứng bệ vệ của Đu-bốp.
Ga-vri-kốp dừng lại bên cột điện chừng một giây rồi lấy sáp bôi mạnh một vạch lên đó.
*
**
Ôtô của phó lãnh sự đại sứ quán Mỹ di ngang qua cột điện có tấm biển chỉ đường đề hai chữ "Trẻ con ", rồi tăng tốc độ, phóng đi- mật hiệu đã được nhận.
- Thôi, không cần theo dõi nó nữa -Cô-nô-va-lốp nói -Mặc nó muốn đi đâu thì đi, chúng ta sẽ chờ ở "cầu'
Vào lúc hai mươi ba giờ hai mươi lăm phút, một nhânh viên CIA, hoạt động dưới danh nghĩa một nhà ngoại giao ở sứ quán Mỹ đã bị bắt giữ trong khi giấu một hộp thư bí mật trên tháp canh cầu qua sông Mát-xcơ-va. Hắn đã được đưa về phòng khách cơ quan an ninh quốc gia Liên Xô ở phố cầu Cu-dơ-nhét-ki. Khi mở hộp, ngaòi một binh 2nhỏ đựng thuốc độc người ta tìm thấy một bản kế hoạch cụ thể cùng các chỉ thị cnầ thiết, mang tính chất quyết định đã được duyệt lần cuối cùng trước khi chiến dịch "Ngọn đuốc" bắt đầu.
Nói với người mình không nên nói, mất lời
Không nói với người mình nên nói, mất người
Đăng nhập để trả lời
0
Thái Nhi ới ời!
Phần 21 bị thiếu mất mấy trang rồi, đang ở trang 78 thì nhảy qua tới trang 83 luôn, làm HTLĐ vừa đánh máy vừa đọc mà không hiểu gì hết. Nhờ Thái Nhi kiểm tra lại giúp HTLĐ nha! Thanks nhiều...
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-23 17:35:00Hoa Tulip đen>
PHẦN 1 - 4

TỔ HỢP CÔNG NGHIỆP – QUÂN SỰ

- Ông thấy không, ông Mai-cơn, - Lão Nen-xơn Grin trầm ngâm nói, mắt nhìn lũ cháu nhỏ đang nhào lộn trong bể bơi lát bằng thứ đá túp đỏ, chở từ Thổ Nhĩ Kỳ về, - mọi cảm giác chỉ là cảm giác. Còn xét đoán nó, lại là chuyện khác. Khi xét đoán, có thể đúng hoặc sai … Tôi vẫn còn nhớ một bài giảng của giáo sư Mít-sen, thời xa xưa, thời ông cũng còn để chỏm, chứ chưa phải phó giám đốc Cục tình báo Tung ương như bây giờ. Giáo sư Mít-sen ấy nói rằng, nếu nhìn một mái chèo nhúng xuống nước y như bị gãy, thì cảm giác đó là đúng, vì người quan sát thực sự có cảm giác ấy. Nhưng nếu anh ta lại khẳng định rằng mái chèo gãy thật, thì sự xét đoán ấy sai! Mà lỗi lầm của con người không phải ở chỗ cảm giác sai, kệ nó chứ; vấn đề là ở chỗ xét đoán sai kia, ông Mai-cơn thân mến ạ!
Nói xong rồi, Nen-xơn Grin nheo mắt lại, cặp mắt nhỏ như hai giọt nước của lão ẩn dưới đôi lông mày bạc. Trong các buổi họp của Hội đồng thị sát Công ty “Kim cương thế giới”, mà lão là chủ, các thư ký và nhân viên tốc ký chẳng thể hiểu được là lão già đang nhìn hay là đang ngủ mở mắt nữa!
Còn Mai-cơn Ven-xơ mỉm cười:
- Tôi đang có cảm giác là món dâu tây người ta bày cho chúng ta đây, đang bốc lên mùi hương đồng nội của Tếch-dớt, nói như vậy đúng chứ?
- Đó không phải là cảm giác, ông Mai-cơn! Đó đã là xét đoán rồi đấy. Mà lại là xét đoán sai! Dâu tây đang ăn đây không thể bốc mùi hương Tếch-dớt, vì ở đó đang còn lạnh. Nó bốc mùi đồng nội Châu Phi kia. Tôi phải cho máy bay sang tận Luy-xbua chứ không phải chỉ sang Na-gô-ni-a thôi đâu! Mua dâu tây ở đấy đắt hơn bốn mươi bảy xu mỗi cân, đường đi lại xa hơn một trăm chín mươi hai dặm, tốn thêm bao nhiêu nhiên liệu, thế mới ngao ngán chứ!
- Ông lo sạt nghiệp chắc? – Ven-xơ hỏi đùa.
- Hẳn chứ! – Grin nhại lại giọng ấy - Sạt nghệip bao giờ cũng bắt đầu từng đồng xu, chứ không phải từ bạc triệu!
- Này, thôi không đùa nữa. Ông định tác động vào Lầu Năm góc ở mức độ nào đấy?
Grin bèn hớp một ngụm chè ướp nhài, hỏi lại, giọng giễu cợt:
- Ông định chở dâu tây bằng máy bay của họ chăng? Tôi nghĩ là tôi có thể tác động được đấy! Nhưng để làm gì?
- Ông Nen-xơn ạ! Chúng tôi đang có một số dự tính về nước Na-gô-ni-a. Tôi cần được Lầu Năm góc ủng hộ.
- Sẽ giải quyết thôi! Nhưng còn bộ ngoại giao? Ông đã bàn những dự tính với họ chưa?
- Hãy còn sớm, chỉ cần đưa họ vào vòng ngay ở phút cuối, không thì dễ lộ bem. Bọn làm ngoại giao rượu chè khiếp lắm! Bệnh nghề nghiệp của họ là xơ gan đấy! Tôi đã nghiên cứu các kết luận của bác sĩ, chọn ra từ ba sứ quán: bảy mươi phần trăm quan chức ngoại giao bị bệnh gan kinh niên cả đấy!
- Đừng láu cá, ông Mai-cơn! Ông biết quá rõ rằng mấy cha ở Bộ Ngoại giao đâu có dửng dưng với mọi quyền lợi của tôi. Nếu tôi mất độ ba trăm triệu bạc ở Na-gô-ni-a, thì họ cũng sẽ bị đi tong mất hai trăm ngàn, mất một món bở đối với họ rồi!...
- Ông Nen-xơn, nhưng xin ông hiểu cho: Đưa Bộ Ngoại giao vào việc bây giờ là quá sớm. Chúng ta phải làm cho xong những việc ta dự định đã…
- Đừng có cãi người già! – Grin cắt ngang - Đại sứ đặc nhiệm là người có cổ phần với tôi, ban thư ký của tôi cứ viết sẵn điều gì, ông ta sẽ nói nấy. Thôi đừng từ chối, ông Mai-cơn, thế không khôn ngoan đâu. Tốt hơn hết, ông hãy nói cho tôi hay ông đang trù liệu những gì, có thể tôi còn giúp được ông, với cương vị cố vấn chẳng hạn!
- Tính toán khéo lắm! Thì đây, chúng tôi đang có gián điệp ở Mát-xcơ-va. Một tay rất thạo tin! Do vậy, ta không phải kế hoạch mò, mà có khả năng tính nước đi của mình, khi biết nước đi đối lại của điện Krem-li. Ông hiểu chứ, chưa bao giờ ta có được một tay nội gián cỡ ấy cả. Vì vậy nên tôi tin chắc thành công.
- Ờ, phải gõ thử mà xem chất gỗ đã…
- Loại thượng thặng – Ven-xơ đập đập ngón tay lên đầu nói - rắn như gỗ bá hương vậy. Có được một người như thế ta phải đánh càng sớm càng tốt. Ta thường thua cuộc luôn, vì ta mất khả năng xét đoán, chỉ hành động theo cảm giác.
- Ông lý sự cũng khá đấy! – Grin nhận xét – Trong mọi thứ, tôi đều thích sự trọn vẹn. Hình thái cao nhất của sự trọn vẹn là hình tròn. Bây giờ tôi phải nói với Lầu Năm góc những gì nào?
- Ông nói làm sao để hạm đội được di chuyển đến bờ biển Na-gô-ni-a đúng ngày giờ bắt đầu chiến dịch của ta. Làm sao cho không quân sẵn sàng chuyển quân đổ bộ sang được đó - độ một ngàn lính “mũ nồi xanh”, biết làm ăn đâu ra đấy, thế là đủ. Vậy thôi!
- Nếu tôi hiểu đúng ý ông, thì ông sẽ đưa hạm đội và không quân vào cuộc ở giai đoạn cuối, giống như một hành động răn đe, phải thế không?
- Phải.
- Còn đại sứ đặc nhiệm mà bản thân tôi phải đích thân lo liệ thì sẽ được đưa vào cuộc lập tức, phải thế không?
- Tôi thì không muốn lắm, ông Nen-xơn ạ. Nhưng nếu ông cứ khăng khăng giữ ý mình…
- Xin cảm ơn. Còn điểm cuối cùng. Khi nào mọi việc đó phải xảy ra?
- Hai ba tuần nữa, chúng ta sẽ lật đổ Gioóc-giơ Gri-xô.
- Chính quyền chi cho vụ này đủ chứ?
- Ông lạ gì, chính quyền bao giờ chẳng tiết kiệm từng đồng…
- Thôi được, tôi sẵn sàng mua một cổ phần của CIA độ ba triệu – Nen-xơn Grin cười khùng khục - Thậm chí bốn triệu… Ông xơi dâu tây nữa chứ?
- Vâng, rất hân hạnh.

XTÊ-PA-NỐP

“Gioóc-giơ Gri-xô trong ảnh trông rất cao, thực ra không đúng vậy. Tầm vóc ông không lớn, người xương xương, nhưng ông cử động ít. Ông quay đầu thận trọng, y như sợ phải trông thấy điều gì đó khủng khiếp.
Khi tôi phát biểu cảm tưởng ấy với ông, Gri-xô đáp chậm rãi: Cảm tưởng của ông đúng đấy, tôi mới tập đi lại được một năm nay. Mọi cử động mạnh vẫn làm tôi đau đớn, hơn nữa tôi lo còn phải đi bệnh viện, mà thời buổi này tôi không có quyền đi nằm bệnh viện.
Và ông kể tôi nghe, tại sao ông mới phải tập đi trở lại:
- Hồi đấu tranh du kích, khi thắng lợi của nhân dân đã hoàn toàn khẳng định, chúng tôi đang vùn vụt tiến về thủ đô thì giám mục Phéc-nan-đê gửi thư cho tôi: Ông đề nghị cuộc gặp gỡ ở làng quê tôi, ông sẵn sàng đến đó một mình vào bất cứ lúc nào, để dàn xếp một kết cục hoà bình và ký hiệp ước chuyển giao quyền lực từng giai đoạn. Chúng tôi đã đưa ra Bộ Chính trị thảo luận vấn đề này. Dù sao, Phéc-nan-đê trước kia vẫn giữ lập trường trung lập; vị trí không xứng đáng lắm với kẻ phụng sự Chúa, mà lẽ ra, ông ta phải đứng về phía những ai bị đày đoạ và bị tước mọi quyền dân chủ. Tuy nhiên, tôi vẫn giữ ý kiến nên gặp. Tôi nghĩ, Phéc-nan-đê hẳn vẫn còn nhớ đến thời thơ ấu, nhớ lại là ông đã hứng chịu biết bao điều nhục nhã trước khi những nhà truyền đạo đưa ông ta, khi đó còn là một cậu bé da đen nhỏ tuổi, sang Rô-ma.
Khi tôi gặp Phéc-nan-đê, mọi việc trôi chảy, những đề nghị của ông ta có thể làm cơ sở để thương lượng được. Chúng tôi đã thảo ra một tuyên bố chung, chỉ có hai người, không thêm ai hết, như chính ông ta đề nghị. Thế rồi bọn lính com-măng-đô lặng lẽ bò vào làng. Lúc ấy tôi không có vũ khí, chả lẽ lại không tin đức giám mục, chính ông ấy đã ra điều kiện tay không đến cuộc gặp gỡ kia mà!... Trước tiên, bọn chúng tra tấn Phéc-nan-đê. Chúng buộc ông thừa nhận một điều thôi: “Ăn tiền của cộng sản và theo lệnh họ, kêu gọi nhân dân bất tuân thượng lệnh”. Giám mục đã chịu đựng rất cứng cỏi. Bọn chúng gí than đỏ vào gan bàn chân và thọc kim nung nóng vào dưới móng tay ông. Rồi bọn chúng quay sang tôi. Chúng trói tay chân treo lên cây, dốc đầu xuống, giống như người trượt từ tảng đá cao lao đầu xuống biển. Tôi rất khoẻ và chịu được hết mọi ngón tra tấn mà chúng gọi là trò “con én”. Chúng bèn dẫn mẹ tôi tới, lột quần áo của bà ra, và nói rằng sẽ thiêu sống bà ngay trước mặt tôi, nếu tôi không từ bỏ sự nghiệp của mình, và không khai rõ chỗ ở của Bộ chỉ huy du kích. Tôi im lặng. Không thể chọn cách khác được. Khi chúng xô mẹ tôi xuống đất và tưới xăng lên bà, tôi thét lên, rằng tất cả bọn chúng sẽ phải đền tội ác man rợ ấy. Tôi bảo chúng hãy giết tôi bằng cách gì khủng khiếp nhất cũng được, vì tôi mới là kẻ thù của chúng, chứ đâu phải là mẹ già tôi. Chúng trả lời, là mụ già đã đẻ ra lũ cướp không còn tim, một khi đứa con đã dám đem mẹ ra hy sinh cho những lý tưởng điên rồ của hắn, thì tha mụ sao được. Khi bọn chúng quăng mồi lửa vào mẹ tôi, tôi oằn oại, thết lên thất thanh. Nhưng mẹ tôi chỉ bảo: “Con đừng làm thế, cẩn thận đấy, kẻo lại gãy xương con ạ!”
Gri-xô hút hơi thuốc, hớp ngụm nước, tiếp tục kể:
- Sau đó, chúng dẫn con trai tôi là Va-lê-ri-ô đến. Chúng cũng lột hết quần áo, nói đúng hơn là xé toạc cái áo sơ-mi của nó ra, đó là món quà tôi tặng cho con. Cái áo bằng vải ka-ki, cắt ra và may lại từ cai áo khoác của vợ tôi, cái áo mà thằng bé rất hãnh diện. Nó gào lên, chìa bàn tay xinh xắn về phía tôi, lặp đi lặp lại: “Bố ơi, cứu con với! Cứu con với, bố ơi!”
Giám mục Phéc-nan-đê thì vẫn đứng nguyền rủa bọn đồ tể, ông bắt đầu thét lên một cách đáng sợ, thế là một tên com-măng-đô xả ngay vào ông ấy một tràng tiểu liên. Nhưng các chiến sĩ du kích của tôi đã nghe thấy tiếng súng. Họ xông vào làng ngay. Ấn tượng cuối cùng tôi nhớ được là khẩu súng trường tự động chĩa vào bụng tôi. Tên com-măng-đô lấy họng súng cù cù tôi, và nhắc đi nhắc lại: “Nào, cười lên, cười đi, Gioóc-giơ, mày vẫn cười vui lắm mà, hở thằng trí thức đeo kính!”. Rồi hắn ấn cò… Tôi chỉ tỉnh lại ở bệnh viện, hai tháng sau. Còn đúng ba tháng sau thì qâun du kích tiến vào thủ đô. Đấy, vì thế mà giờ đây tôi quay người chậm chạp và đi lại rất khó khăn. Thật bực mình, vào năm ba mươi sáu tuổi đã như anh què, tuy tôi còn bắn được như trước kia, và ngòi bút vẫn còn chịu sự điều khiển của tôi như trước.
Ông đôn hậu nở nụ cười chua chát của một người đã từng giáp mặt với cái chết, và kết thúc cuộc phỏng vấn:
- Tôi sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi của ông về tình hình trong nước, nhưng xin hoãn đến tuần sau. Bây giờ tôi phải bay đi biên giới. Ô-ga-nô đang dồn cả bọn lâu la đến đó. Vấn đề thể chế Nhà nước chúng tôi đang còn là vấn đề tương lai, nó sẽ được quyết định ngay ở chiến trường. Theo tôi, hiện nay không còn lực lượng nào có thể chặn tay được bọn Ô-ga-nô, sau lưng có CIA và Bắc Kinh ủng hộ, ngừng cuộc tấn công vào Tổ quốc tôi. Và tôi cũng nghĩ rằng con đường Nghị viện cũng không gỡ nút được tình hình này. Tuy nhiên, tôi vẫn chuẩn bị tinh thần đến đàm phán với hắn, tay không mang vũ khí. Tôi sẽ đến đó bình thản, nếu hắn tráo trở, hắn chỉ có thể giết nổi mình tôi thôi, điều đó hoàn toàn không đáng sợ, một khi đã quyết hy sinh cho Tổ quốc. Xin lỗi ông vì những lời có phần quá thống thiết, nhưng tôi đã nói lên điều tôi vẫn tâm niệm, vì vậy dùng mọi lời lẽ khác đều có vẻ tô vẽ”.
Đặc phái viên Đơ-mi-tơ-ri Xtê-pa-nốp, truyền bằng điện thoại từ Na-gô-ni-a: Xin đề nghị biên tập đừng cắt đoạn nào, dù phải miêu tả sự thật khủng khiếp trước người đọc. Nếu lược đi còn độ một trăm dòng, cắt gọt mượt mà, thì tốt hơn là không đăng. Tôi sẽ về vào thứ bảy tuần sau. Gửi lời chào tất cả anh em! Đ.Xtê-pa-nốp.
*
* *
Đại sứ Liên Xô đọc hết bài phóng sự của Xtê-pa-nốp và hỏi:
- Chẳng lẽ con người ấy sẽ dang tay cho chúng chặt sao?
- Đó cũng nằm trong tính cách của chúng ta. Chúng ta ưa mềm mỏng, nói đúng hơn là ưa tế nhị, lịch thiệp. Nhưng cái kiểu quân tử như thế, đôi khi còn tệ hơn cả ăn cắp! Đồng chí đã xem buổi truyền hình về chuyện chống nghiện rượu trên Tivi Mát-xcơ-va chưa?
- Chưa có dịp, đồng chí Xtê-pa-nốp ạ.
- Tôi khuyên đồng chí nên xem. Họ làm một trò tài tử là đưa một anh chàng thôi miên lên màn ảnh, để anh ta ru ngủ mấy tay nghiện rượu ở phòng y tế. Có ru ngủ hay không thì chưa chứng minh được. Người xem chờ đợi một trò ảo thuật, nhưng ảo thuật cũng không có nốt! Bọn nghiện rượu được một mẻ cười! Giá như đưa hẳn lên cách bài trừ rượu thẳng thừng có phải tốt hơn không?
- Trời mà biết được! Tuyên truyền ngày nay là một hình thức của chính trị, thẳng thừng quá, nhiều khi lại nguy hiểm!...
- Đồng chí nói về chính sách ngoại giao thì đúng. Nhưng đây là vấn đề nguyên tắc kia: Có để người ta chặt tay hay không? Ta còn chờ gì nữa nhỉ?
- Tôi cho Gri-xô nói đúng: Ô-ga-nô không đàm phán gì đâu. Hắn chẳng có việc gì để ngồi vào đó, hắn là tên bù nhìn được nặn lên. Hắn cần làm đảo chính, có thế thôi. Vấn đề là thời điểm. Nếu như Gri-xô có độ nửa năm chuẩn bị, ông sẽ chẳng phải sợ gì Ô-ga-nô, đến mười tên phiến loạn cỡ ấy cũng không sợ! Đáng tiếc thật… Thiếu thời gian, không phải là một người mà là cả một đất nước… Tuy nhiên, tôi vẫn không hiểu nổi bọn Mỹ, chúng đánh một ván bài quá ngốc nghếch với loại như Ô-ga-nô… Tư duy có hệ thống khác với thứ tư duy chẻ sự vật ra mà phân tích, vì nó nhất thiết phải tính đến các dữ kiện đi kèm, các yếu tố giúp ta hiểu sự vật đầy đủ hơn, bao quát hơn. Thiếu cơ sổ ABC ấy của tư duy, người Mỹ sẽ chỉ xôi hỏng bỏng không thôi!... Khi nào đồng chí về Mát-xcơ-va?
- Mai ạ. Nhưng tôi sẽ chỉ về đó độ vài ba hôm thôi.
*
* *
“Điện tối mật: Gửi điện Krem-li, Mát-xcơ-va.
Chúng tôi – chính phủ Na-gô-ni-a, đề nghị Mát-xcơ-va viện trợ kinh tế khẩn cấp, do tình hình bị phong tỏa kinh tế triệt để. Bọn thân Mỹ và thân Trung Quốc vây chặt quanh chúng tôi. Nguy cơ xâm lược quân sự đe doạ trực tiếp. Nếu Liên Xô không viện trợ gấp, số phận cuộc cách mạng của Na-gô-ni-a có nguy cơ bị tiêu diệt.
Thủ tướng G.Gri-xô”
*
* *
“Điện tối mật: Gửi Mát-xcơ-va.
Ba cố vấn đến đây cùng tôi không thể làm nổi việc gì, sau khi nghiên cứu tình hình tại chỗ. Chủ nghĩa thực dân đã ngu dân hóa triệt để. Các kỹ sư, bác sĩ, nhà nông học ở Na-gô-ni-a thực tế là không có. Bọn phản động hoành hành liên tục khắp nơi. 40% dân số mắc bệnh lao, 70% bị đau mắt hột, 98% mù chữ. Cần phái sang đây ít nhất từ 300 đến 500 chuyên gia.
Đại sứ Liên Xô tại Na-gô-ni-a A.A-li-ô-sin”
*
* *
“Điện tuyệt mật: Gửi Bắc Kinh.
Bọn Nga đã bắt đầu tung cố vấn sang Na-gô-ni-a.
Tướng Ô-ga-nô theo chỉ thị của chúng tôi đã gặp sứ quán Mỹ ở Luy-xbua, để xin viện trợ quân sự trực tiếp.
Đại sứ CHND Trung Hoa tại Na-gô-ni-a
Đỗ Lý Nghị”
*
* *
“Điện tuyệt mật: Gửi Cục tình báo trung ương Mỹ.
Việc chuẩn bị chiến dịch “Ngọn đuốc” thực tế đã hoàn tất. Tuy nhiên nhiều nguồn tin cho hay là trong thời gian trước mắt, bọn Nga sẽ cung cấp cho Na-gô-ni-a một đợt hàng kỹ thuật lớn, việc này có ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động của chúng ta tại đó. Vì tầm quan trọng của chiến dịch “Ngọn đuốc”, tôi đề nghị Trung tâm nên hỏi ngay điệp viên nội gián có bí danh Tỉnh táo, về quy mô cuộc cung cấp này của Nga.
Rô-bớt Lo-ren-xơ, nhân viên CIA tại Luy-xbua”
*
* *
“Trích tuyên bố của đại sứ Mỹ:
Công bằng xã hội, dân chủ, trật tự trong luật pháp là những điều duy nhất mà những người ái quốc Na-gô-ni-a, đứng đầu là tướng Ô-ga-nô đang mong muốn. Họ bị chính phủ Gri-xô đối xử rất vô nhân đạo.
Nước chúng tôi chưa bao giờ can thiệp và không hề có ý định can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Tuy nhiên, từ trên diễn đàn cao quý này, tôi không thể không nói rằng dư luận Hoa Kỳ đang theo dõi chăm chú những sự kiện đang phát triển ở đất nước Châu Phi này. Đồng thời, tôi xin tuyên bố về những tin đồn trên báo chí, rằng dường như Hoa Kỳ đang tiếp xúc với Bắc Kinh để tiến hành lật đổ chính phủ hiện nay ở Na-gô-ni-a, là hoàn toàn vô căn cứ và sự bịa đặt có tính chất vu khống…”

NHỊP ĐỘ

Côn-xtan-ti-nốp cất kính vào bao, mỉm cười với Pa-nốp ở ban giải mã, anh chàng này thở dài sườn sượt, đặt trước đồng chí bảng chữ số:
45225, 66167, 85, 141965, 5181713
- Tháng này bọn chúng điện cho hắn cả thảy bao nhiêu lần?
- Nhiều vô kể. Đây là đợt thứ tư. Đồng chí chắc là “hắn” à? Nhỡ là “ả” thì sao?
- Thật đáng tiếc, nếu là phụ nữ cái giá phải trả cũng là như nhau. Nhưng nhiều phối âm có vẻ nam giới nằm trong các chữ số, đồng chí có thấy thế không?
- “Những phối âm kiểu nam giới…”. Một định nghĩa đáng giá đấy. Mà quả đúng như vậy, đồng chí thiếu tướng ạ!
- Đồng chí cho rằng không thể giải mã được những tín hiệu vô tuyến này, nếu ta không có chìa khóa giải, phải không?
- Thì đồng chí thử xem đây! – Pa-nốp vừa nói vừa đặt lên bàn tờ giấy đầy những chấm, những số, những gạch ngang bí ẩn.
- Giống như thơ vị lai I-ta-li-a hồi đầu ấy nhỉ!
Côn-xtan-ti-nốp nhận xét, rồi đứng dậy về phòng, để một điếu xì – gà lại cho Pa-nốp. Hôm nay, ông phải trực về công tác phản gián.
Trong chiếc cặp giấy đỏ ở bàn làm việc của ông, có bức điện mật mã mới đánh từ Na-gô-ni-a: Hai chuyên gia Xô-viết bị bọn Ô-ga-nô bắn, cả hai được đưa đến bệnh viện trong tình trạng nguy kịch.
Chiếc cặp giấy xanh chứa những tài liệu đặc biệt quan trọng cũng nằm trên bàn. Ở đó có một bức thư lạ, viết bằng tiếng Nga, chỉ vừa mới nhận được nửa giờ trước đây từ đại sứ quán Liên Xô ở Na-gô-ni-a.

XLA - VIN

- Chỉ nay mai thế nào cũng có đánh nhau – phóng viên Xtê-pa-nốp nhắc lại, vẻ chắc chắn – Và sẽ rất dữ dội.
- Thế tại sao cậu lại bứt khỏi đó chớp nhoáng, đúng vào lúc này? – Xla-vin hỏi.
- Mình về nộp phim, Vi-ta-li ạ. Đã có lệ rồi mà. Kế hoạch là trên hết!
- Loạt phim đạt chứ?
- Theo mình là được. Ngày kia, mình sẽ trở lại đó.
- Tớ phát ghen với cậu đấy!
- “Ông bầu về các tình hình khủng hoảng” đã quyết định rồi mà! - Xtê-pa-nốp cười khì, rồi ngả người xuống ghế tựa. Ở đây, trong câu lạc bộ Hội nhà văn, không khí đang náo nhiệt. Món xúp ô-crô-sca đầu tiên trong năm được đem ra phục vụ (1). Có người đồn rằng sắp có cả tôm và bia hơi cực ngon, từ câu lạc bộ Báo chí đưa sang, nên sự náo nhiệt lại càng tăng, càng háo hức.
- Họ chẳng chịu đi liên hệ mua về cho anh em đâu! – Xtê-pa-nốp nhăn mặt nói, và đẩy món xà-lách về phía Xla-vin.
- Ở đời phải vừa lòng với những gì anh đang có thôi. Đừng mong có bia Pen-den và tôm Rô-xtốp nữa, làm gì có ở đây!
- Chịu khó ăn chay vậy – Xla-vin khuyên. Rất có ích đối với người sáng tác đấy!
- Vậy à, -Xtê-pa-nốp cười xoà và rót rượu vốt-ca ra các ly – Ăn chay là sự tự hạn chế, mà mọi thứ hạn chế, dù là vì tự do đi chăng nữa, cũng vẫn là một hình thức của nô lệ…
- Cậu cãi không nổi với Ăng-ghen đâu. Tự do đó là điều tất yếu nhưng có ý thức; nó được khắc lên bia đá rồi, ông bạn thân mến ạ, đừng có động vào…
- Nâng cốc chúc cậu nhé! – Xtê-pa-nốp nâng ly rượu lên.
- Này, nhưng tớ chỉ xin một cốc rượu vang thôi đấy!
- Uống vốt-ca hơn chứ?
- Mi-chi-a ạ, về lý thuyết thì tớ cũng chấp nhận thế, chỉ có điều, cơ thể tớ không chấp nhận được! Tớ chỉ uống vốt-ca trong trường hợp công vụ đòi hỏi thôi.
- Cậu đạo mạo gớm nhỉ!
Xla-vin mỉm cười:
- Ồ, trái lại, tó chơi thể thao ra trò đấy, Mi-chi-a ạ! Tớ đánh ten-nít như điên ấy chứ!
- Này, Vi-ta-li, thế cậu có dễ nổi khùng không?
- Không bao giờ!
- Cậu tự phụ nhỉ!
- Mi-chi-a ạ, cũng không phải thế. Tớ muốn định nghĩa rằng tớ là người tự tin, thế thôi! Còn về chuyện hạn chế và tự do, thì tớ có đọc một khái niệm khá láu lỉnh của Bô-nan. Theo thuyết của ông ta, con người đã không tự do ngay từ lúc lọt lòng, mà lỗi là ở tự nhiên, bởi vì chính nó là kẻ hạn chế nhiều thứ chủ yếu ở con người. Con người chỉ có thể trở nên tự do trong trường hợp bỏ vào đó những nỗ lực tối đa để giành giật lấy những gì lẽ ra bị tước đoạt mất!...
… Người phụ trách nhà ăn nhòm vào căn phòng nhỏ, được che chắn và trang trí lại từ cái khoảnh hiên cũ, và hỏi:
- Đồng chí Xla-vin ở đây phải không? Mời đồng chí đến ngay điện thoại, có người gọi gấp.
- Món kem thế là không thành rồi! – Xla-vin chấm dứt câu chuyện - Chắc là có việc quan trọng. Cậu đi mạnh giỏi nhé, Mi-chi-a.

(1) Ô-crô-sca: món ăn lạnh bằng nước kơ-vát với rau và thịt.
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 4 » »»