Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Chuyện nội cung chín đời Chúa

1 trả lời, 6.978 lượt xem — Trang 1 / 1
HOÀNG HẬU VƯƠNG PHI CÔNG CHÚA TRIỀU NGUYỄN
Một người con gái Thuận Hóa trong binh nghiệp đầu tiên của chúa Nguyễn Hoàng
Rời miền Bắc, Nguyễn Hoàng giong buồm tiến thẳng vào Nam. Cập bến cảng Yên Việt (Cửa Việt), bản bộ tướng quân lên bờ dựng doanh trại trên cồn cát thuộc xã Ái Từ huyện Vũ Xương (Triệu Phong). Quân trinh sát của Nguyễn đi khắp vùng Thuận Hóa nghiên cứu địa hình, địa vật…
Kết quả nghiên cứu được trình lên. Nguyễn Hoàng rất thích thú với địa thế xã Phú Xuân thuộc huyện Hương Trà “núi sông vàng tụ, cảnh đẹp dân giàu”. Được địa lợi Đoan Quốc Công liền bàn đến việc “thi hành đức chính để vỗ về dân chúng “nhằm xây dựng cơ nghiệp lâu dài.
Lúc đó, tướng nhà Mạc là Quận Lập đang đóng dinh cơ tại Khang Lộc (Lệ Thủy ngày nay) nghe tin Đoan Quốc Công thừa lệnh Trịnh Kiểm vào trấn đất Thuận Hóa lấy làm tức giận.
Để trừ hậu họa, Quận Lập tức tốc tổ chức hai cánh quân vào đánh Đoan Quốc Công. Cánh thứ nhất gồm 30 chiếc thuyền đến ngay Cửa Việt thị uy; cánh thứ hai gồm một ngàn bộ binh đi qua đường Hồ Xá – Lãng Uyển(?) đến đóng ở miếu Thang Tương (?) dự định sẽ đánh úp cướp doanh trại của Nguyễn Hoàng Đoan Quốc Công.
Trước thế lực của Quận Lập (nhà Mạc), chúa Nguyễn Hoàng rất lo lắng: vì quận Nguyễn vọn vẹn chỉ có mươi chiếc thuyền, bộ binh không có thì làm sao có thể đương đầu với quân nhà Mạc?
Một đêm, bên ngọn đuốc, chúa Tiên đang thao thức tư lự. Bổng nghe bên bờ sông tiếng sóng nước keu “Trào Trào” chúa lấy làm lạ! Sáng hôm sau, thấy một vùng nước xô sóng cuộn khác thường. Chúa ngước mắt nhìn trời, khấn thầm:
- Trên sông nếu có thần linh thì xin phù hộ cho đánh tan quân Quận Lập, sẽ lập miếu phụ thờ bốn mùa tế lễ!
Đêm hôm ấy Chúa nằm mơ thấy một người đàn bà mắc áo xanh, tay cầm chiếc quạt thè đến thưa rằng:
- Tướng quân muốn diệt trừ ngụy đàng cần lập kế dụ chúng đến bãi cát ven sông, thiếp sẽ giúp sức trừ được, khỏi phải phiền nhiễu đến dân chúng trong miền.
Nói xong người trong mộng buông tay áo ra đi… Chúa tỉnh dậy, trong lòng thầm vui. Chúa nghĩ: “Chiêm bao thấy người đàn bà bảo ta lập kế dụ địch, như vậy ắt phải dùng kế mỹ nhân”.
Lúc bấy giờ Chúa mới có một nàng hầu đẹp, quê ở xã Thế Lại (Huế) tên là Ngô Thị Lâm. Tuy là phận gái nhưng bà gan dạ, có mưu trí, ứng đối trôi chảy, nhan sắc thì “Nguyệt mờ hoa thẹn, dáng điệu cá lặn chim sa” so với nàng Tây Thi ở Hàm Đan (Trung Quốc) chẳng kém bao nhiêu! Chúa cả mừng, gọi nàng Lâm đến giao nhiệm vụ: đem vàng bạc, kỳ nam đến trại quân nhà Mạc, tiến dâng các vật báu, xin mở đường hòa hiếu. Nếu cần nàng phải ưng chịu cho Quận Lập tư thông, mục đích là làm sao dụ được Lập đến đất Trào Trào để có kế diệt trừ. Thật là chuyện lạ đời, ngoài sức tưởng tượng của một người con gái, nàng Lâm sụp lạy kêu khóc:
- Tiện thiếp từ khi được theo hầu chúa Thượng, dốc lòng theo nữ đạo, giữ gìn tiết giá phu nhân. Nếu Chúa muốn thiếp nhảy vào chỗ nước sôi lửa bỏng muốn chết thiếp không dám chối từ. Nhưng nếu bảo thiếp để cho Quận Lập tư thông thì thiếp không thể nào chịu được. Thần thiếp xin nhận tội chết chứ không thể làm theo lời Chúa thượng.
Chúa vừa đau xót vừa kính phục người tiết phụ tìm lời an ủi và thuyết phục nàng.
- Lời của nàng thật đúng với phẩm hạnh lớn của đàn bà. Ta hiểu rõ lòng nàng. Nhưng nay vì sự nghiệp “quốc gia đại sự” nếu nàng không xả thân thì không có ai ở đây có thể phá được giặc. Nàng hãy cứ nghe lời ta, đừng chối từ.
Nàng Lâm đành lau nước mắt và làm theo lệnh Chúa.
Mang lễ vật đến doanh trại Quận Lập, nàng Lâm cung kính thưa:
- Thần vâng mệnh quan Quận Đoan, nghe tin minh công oai trời sắp đến, lo sợ khôn xiết, đặc cách sai tiện thiếp đem ít đồ vật đến lễ mừng để bày tỏ thành tâm. Xin minh công cho lập lễ thề: Minh công làm huynh trưởng, bàn quan của thiếp làm nghĩa đệ, cùng đồng lòng chung sức may mới tránh khỏi hiểm thù đánh giết lẫn nhau gây đau thương cho trăm họ.
Quận Lập liếc mắt ranh mãnh, cất giọng cả mắng:
- Người muốn làm sứ giả đàn bà đến thuyết khách để câu ta đó chăng?
Thị Lâm giả vờ run sợ, sụp đầu van lạy nhưng vẫn liếc mắt chuyển làn thu ba đưa tình… Quận Lập vốn là tên tham của, mê gái, thấy nàng Lâm xin đẹp, quyến rũ, ăn nói ngọt ngào, lừa dục trong y bốc lên. Quận Lập liền đổi thái độ, sai người ra nhận lễ vật rồi đứng dậy bước đến cầm tay nàng Lâm dắt vào phòng riêng… Nàng Lâm đã dùng kế “cành dương ngả theo bóng dưng: khiến cho Quận Lập đắm say mê muội… Nàng Lâm nhắc lại việc lập đàn thề. Quận Lập chiều ý, liền nghe theo.
Với  sự cảnh giác, Quận Lập cho trinh sát đi thám thính biết Quận Đoan quân ít, không có gì đáng phải sợ, bèn cùng nàng Lâm định ngày làm lễ thề kết nghĩa.
Được tin Quận Lập đã bằng lòng, Đoan quận công mừng rỡ không xiết, sai người bí mật đến vùng Trào Trào dựng một gian miếu tranh, đào hố ngầm bốn phía, chọn một số dũng sĩ cầm khí giới ẩn mình trong hố dùng cỏ lác và cát lấp bên trên như dất liền. Để một ít người già yếu cầm chổi, xách sọt đứng ở cửa miều đợi lệnh.
Hạ tuần tháng mười năm ấy, nàng Lâm đưa Quận Lập đến miếu tranh làm lễ thề. Thấy quân binh Quận Đoan không bao nhiêu lại có vẻ già yếu, Quận Lập chủ quan không đề phòng.
Bắt chước Quan Vân Trường ngày xưa, Quận Lập dùng một chiếc đò nhỏ cùng với 30 lính thân hành đến chỗ hội thề.
Khi thuyền Quận Lập ghé vào cồn cát Trào Trào, ngay trước cửa miếu, Quận Lập càm bảo đao bước lên bộ đi thẳng vào miếu. Nàng Lâm theo sau, thánh thót gọi:
- Xin minh công bước chậm lại kẻo bàn quan của thiếp lo sợ…
Quận Lập cất tiếng cười vang và đi chậm lại. Từ xa Đoan Quốc Công áo mão chỉnh tề chắp tay kính cẩn đón chờ. Thình lình Đoan Quốc Công quát lớn:
- Quân bay mau dậy đón tiếp tông huynh!
Quân mai phục dọc theo các hố cát vùng dậy xông vào vây bắt. Quận Lập cả kinh, hồn xiêu phách lạc, co giò tháo chạy. Ra đến bờ sông thì thuyền vừa rời bến. Quận Lập dốc hết sức bình sinh nhảy ào lên mạn thuyền, nhưng nhảy không đến thuyền, vị tướng hiếu sắc rơi tõm xuống nước. Ngay lúc ấy bộ tưởng của Đoan Quốc Công là Thự Trung và Thự Thiết ào tới, thấy Quận Lập đang lóp ngóp dưới sông bèn dương cung bắn chết. Quan hầu của Quận Lập hoảng loạn mạnh ai nấy chạy tìm đường thoát thân.
Thắng trận, về bản doanh, Đoan quận công mở tiệc khao thưởng tướng sĩ, sai người tôn tạo miếu Trào Trào và sắc phong cho vị thần linh ấy là: Linh thu phố trạch tướng hựu phu nhân, bốn mùa cúng tế.
Riêng nàng Lâm, Chúa gọi đến bảo rằng:
- Trừ được Quận Lập và phe đảng là nhờ công lao to lớn của nàng. Ta muốn chọn người tài trí gả chồng cho nàng để tại thành địa vị công khanh thoát kiếp cô đơn của kẻ nô tỳ và cũng để làm hiển trạng công lớn.
Nàng Lâm khóc lóc, than rằng:
- Ý nguyện bình sinh của thần thiếp là được cầm khăn lược theo hầu Chúa thượng giữ trọn tiết trinh. Chỉ vì việc nước mà xả thân ô uế, khó mà rửa được. Vậy từ nay thần thiếp xin giữ việc bếp núc, quét tước đền ơn thánh chúa cho vẹn đạo làm tôi. Còn việc chúa Thượng muốn cài giá cho thần, thì đến cùng, thần sẽ chẳng dám phụng mệnh. Xin Chúa thượng lượng thứ cho.
Chúa cười đáp:
- Đây là việc nước, không phải lỗi hay tội tình riêng của nàng. Đền đáp công ơn là do ý muốn tự bản thân ta và nàng nên nghe theo để làm sáng tỏ thân danh với đời sau.
Chúa ân cần khuyên giải, vỗ về nhiều bận, nàng mới vâng chịu. Bấy giờ có Ngô Côn, người gốc Nghệ An, làm phó Doãn sự ở vệ Thiên Vũ đang theo giúp việc tại phủ chúa. Ngô Côn tướng mạo khôi ngô, văn võ kiêm toàn, thông  kim bác cổ rất được Chúa yêu mến nên được Chúa chọn cho kết duyên với nàng Lâm xinh đẹp. Tân nhân và Tâng lang bái vọng tạ ơn rồi làm lễ giao bôi và động phòng hoa chúc.
(Theo Nam Triêu Công Nghiệp Diễn Chí)
Chuyện bà Vương phi của chúa Nguyễn Hoàng theo Thiên Chúa giáo
Minh Đức Vương Thái Phi là vợ thứ của Chúa Nguyễn Hoàng. Bà sinh năm 1568, thọ đến 80 tuổi. Tám mươi năm ấy bà đã sống trải qua các thời chúa Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên), Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi), Nguyễn Phúc Lan (Chúa Thượng), Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền). Bà được sử sách nhắc đến nhiều vì bà là thân mẫu của ông Hoàng Nguyễn Phúc Khê – một người rất có thế lực với chúa Nguyễn, đồng thời bà cũng là một bà Phi triều Nguyễn đầu tiên chịu phép rửa tội của đạo Thiên Chúa.
Nguyễn Phúc Khê (1589 – 1646) là con trai thứ 10 của Chúa Tiên, em ruột Chúa Sãi. Năm 1635, Chúa Sãi băng, Phúc Khê được di chúc phụ giúp cho Phúc Lan lên ngơi nối nghiệp chúa. Em của Lan là Phúc Ánh đang trấn giữ Quảng Nam nỗi loạn để giành ngôi báu. Phúc Khê thực hiện lời di chúc của Chúa Sãi đã ra sức dẹp yên. Trong lúc thay ngôi đổi thứ như thế ông có thể tranh quyền lên ngôi báu một cách dễ dàng nhưng ông không một chút mảy may tham vọng. Do đó ông được các chúa đầu triều Nguyễn hết sức tin dùng.
Mùa hè năm 1624, linh mục Alexandre de Rhodes – người có công hoàn chỉnh chữ Quốc Ngữ, và linh mục Di Pina (người rất giỏi tiếng Việt) đến Huế giảng đạo, bà Vương Phi đã tìm cách đến nghe. Bà đã mê giáo lý “Bác ái” của Chúa và bà đã chịu phép “Rửa tội”. Bà được đặt tên thánh là Marina Madaléna tức Minh Đức Vương Thái Phi. Và từ đó bà mang tên này cho đến cuối đời.
Một bà Phi có thế lực “rửa tôi” là một cơ hội bằng vàng cho các vị thừa sai Thiên chúa giáo trong việc truyền giáo. Nhà bà Minh Đức dùng làm Nhà giảng. Chính bà đi xin đất xây dựng Nhà thờ, giúp đỡ cho các giáo sĩ, che chở giáo dân. Những lần A.de Rhodes đến Huế gặp khó khăn trong chỗ di trú, ông đều được mời về ở ngay trong nhà bà Minh Đức. Chính ở đây lần đầu tiên A.de Rhodes ghi chữ “kẻ Huế” trong tác phẩm Voyages et Missions của ông.
Nhưng rồi việc theo đạo của Minh Đức Vương Thái Phi cũng gặp trở ngại khi Chúa Thượng đưa bà chị dâu của mình là Tống Thị (vợ hoàng tử Kỳ) vào Cung và phong làm Chính phi.
Tống Thị (không rõ tên) là một dâm phụ rất nguy hiểm(1). Hoàng tộc và triều đình hết sức bất bình trước việc làm liều lĩnh của Chúa Thượng. Biết thế Tống Thị phải tìm cách trấn áp dư luận, và triệt hạ những người có khả năng đe dọa đến vị thế của Thị. Hai mẹ con Minh Đức Vương Thái Phi và Nguyễn Phúc Khê đứng đầu trong danh sách những người Tống Thị phải đối phó.
Vào khoảng tháng 7 năm 1644. Tống Thị xúi giục Chúa Thượng ra lệnh cho Trấn Thủ Quảng Nam lục soát nhà của linh mục A.de Rhodes ở Hội An. Inha – Xô người thân tín nhất của Rhodes bị bắt và bị giết trong dịp này. Rhodes chạy trốn được nhưng cuối cùng cũng bị bắt, bị kết án trảm quyết. Nghe tin ấy Minh Đức rất lo lắng, bà đã phải đem hết uy tín của mình để xin tha chết cho ông tổ của chữ Quốc ngữ. Chúa Thượng bằng lòng nhưng buộc Rhodes phải lên tàu rồi Xứ Đàng trong ngay.
A de Rhodes đi rồi, Tống Thị vẫn không buông tha Minh Đức, Tống Thị đặt bày nhiều điều xấu xa cho đạo Thiên Chúa khiến Chúa Thượng cũng phải tin là có thật. Chúa Thượng dâm ra ghét bà nội dì và nghi ngờ luôn chú Nguyễn Phúc Khê.
Nguyễn Phúc Khê biết điều đó ông rất đau lòng. Đứng trước sự lựa chọn để cho mẹ tiếp tục hoạt động theo đạo Thiên Chúa hay lấy lại lòng tin của Chúa đối vối ông, Nguyễn Phúc Khê đã chọn giải pháp thứ hai. Nguyễn Phúc Khê xin phép mẹ được phá tất cả nhà thời, nhà giảng do bà xây dựng hay đỡ đầu. Ông khuyên mẹ không nên lui tới với các vị Thừa sai và con chiên Thiên Chúa giáo. Nhân có đoàn nữ tu dòng Clara đến Huế, Chúa Thượng đã đón tiếp họ rất trọng thể. Nhưng Nguyễn Phúc Khê cũng ngăn cản mẹ, không cho mẹ tỏ lòng mến mộ những người cùng đức tin này.
Hiểu được nỗi lòng của bà Minh Đức, sau khi về đến nhà, đoàn nữ tu đã gửi tặng bà Minh Đức một bộ áo dòng để bà mặc vào lúc lâm chung.
Bà Minh Đức mất, trong thời gian mà A.de Rhodes đang trên đường về Roma.
(Theo VNGS của Phan Phát Huồn,
ĐNTL tiền biên, BA VH, 1931)
Hai bà hoàng nữ Ngọc Đĩnh Ngọc Liên con gái Sãi Vương
Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên là vị chúa thứ hai của triều Nguyễn. Ông sinh ngày 16 – 8 – 1563, trị vì từ năm 1613 đến năm 1635. Ông có 11 người con trai (người con trưởng là Hoàng từ Nguyễn Phúc Kỳ) và 4 người con gái, Mười một hoàng nam được Ngọc Điệp ghi rõ hành trạng, nhưng 4 Hoàng nữ thì ghi chép không đủ và không rõ ràng. Phải chăng bốn bà công chúa này đã được gả bán cho những nhân vật mà chúa Sãi lúc ấy không tiện nêu danh?
Qua Liệt truyện chúng ta được biết Hoàng tử Nguyễn Phúc Kỳ (trấn thủ Quảng Nam, chồng của Tống Thị, mất ngày 22.7.1631) là người cùng mẹ (bà Mạc Thị Giao, 1578 – 1630) với 3 hoàng nữ Ngọc Liên, Ngọc Vạn và Ngọc Khoa. Một hoàng nữ khác mẹ với Hoàng tử Nguyễn Phúc Kỳ là Công chúa Ngọc Đỉnh.
Trước tiên ta tìm hiểu về chuyện chồng con của bà Ngọc Đỉnh.
Lúc bấy giờ (1623) Trịnh Tùng nhà Lê ở Đông Đô bệnh nặng, con thứ của Tùng là Xuân nổi loạn, phóng hỏa đốt Kinh Thành, bức dời Tùng về quán Thanh Xuân. Trên đường về quán Tùng chết. Con trưởng của Tùng là Tráng lên nối nghiệp chúa, lập vợ là Ngọc Tú (con gái của Nguyễn Hoàng để lại ở đất Bắc) làm Tây cung.
Nghe tin Đông Đô lộn xộn, nhiều người đề nghị chúa Sãi đem quân đánh chúa Trịnh đề phò vua Lê. Nhưng chúa Sãi không nghe:
- Ta muốn nhân cơ hội này nổi binh đề phò vua Lê, nhưng đánh người trong lúc có tang là bất nhân, thừa lúc người lâm nguy mà đánh là bất võ. Huống chi ta với họ Trịnh có nghĩa thông gia (Ngọc Bảo con gái Nguyễn Kim lấy Trịnh Kiểm, Ngọc Tú con gái Nguyễn Hoàng lấy Trịnh Tráng), chi bằng trước hết hãy đem lễ đến phúng để xem tình hình rồi sau hãy triệu kế!
Chúa Sãi cử người đi phúng và nắm tình hình Đông Đô,
Trong lúc đó Đông Đô có ông Nguyễn Cửu Kiều là người khẳng khái có chí lớn, thấy họ Trịnh không có tâm giữ phận bề tôi nên trong lòng muốn vào Nam. Cửu Kiều biết bà Ngọc Tú – Tây cung của chúa Trịnh Tráng cùng chí hướng nên tìm cách gặp bà. Bà Ngọc Tú liền viết thư cho chúa Sãi và gửi luôn cả bảo ấn nhớ Cửu Kiều đem vào Nam. Chúa Trịnh hay tin cho người đuổi theo nhưng không kịp.
Nhận được thư và bảo ấn của chị, Chúa Sãi rất mừng. Để thưởng công cho Cửu Kiều(1). Chúa Sãi gọi người con gái lớn là Ngọc Đỉnh gả cho ông và cho ông làm Chưởng Cơ. Cuối đời Cửu Kiều được phong đến chức Hữu quân đô đốc phủ Mỹ quận công. Cửu Kiều đánh giặc bị thương và mất tại Quảng Bình năm 58 tuổi (1656). Có đền thờ ở xã Dương Xuân. Bà Ngọc Đình mất vào một ngày mùa đông năm Giáp Tý (1684). Hai ông bà sinh được hai người con trai là Ứng và Dực đều làm quan to(2).
Cuối năm 1628, trong lúc chúa Sãi đang lo đương đầu với chúa Trịnh ở Bắc Hà thì ở Phú Yên, lưu thủ Văn Phong dùng quân Chiêm nổi dậy làm phản. Thế thì ai có thể ra đi để đánh Văn Phong? Nếu người đó cũng có ý mưu phản hợp với Văn Phong thì làm sao Chúa dẹp cho được? Cuối cùng Chúa đã chọn Phó tướng Nguyễn Hữu Vinh (con trưởng của Mạc Cảnh Huống được Chúa ban họ mới) đi đánh Văn Phong. Để Vinh có thể làm được việc, Chúa cho Vinh đặc biệt được dùng ấn son. Và, để cho Hữu Vinh thấy được sự tin cậy của Chúa, Chúa đã gả hoàng nữ Ngọc Liên cho Vinh. Hoàng nữ Ngọc Liên là chị cùng mẹ với hoàng tử Nguyễn Phúc Kỳ.
Sự tin cậy của Chúa Sãi rất đúng. Năm đó Nguyễn Hữu Vinh đã đánh dẹp được Văn Phong một cách chóng vánh. Hữu Vinh đổi phủ Phú yên thành dinh Trấn Biên. Ngọc Vinh làm Trấn thủ dinh Trấn Biên.
 
(1): Kiều Vốn là người họ Nguyễn, được cho theo quốc tính, năm Minh mệnh thứ nhất (1820) cho đổi làm họ Nguyễn Cửu (Liệt truyện).
(2): Cửu Ứng làm đến trấn thủ di Bổ Chính. Lúc tại chức Ứng luôn thực hiện chính sách khoan hòa được quân dân ca ngợi. Mất năm 72 tuổi (1705), Em ông là Cửu Dực làm Tham tướng Thủy dinh Quảng Bình, kế được thăng Chưởng Cơ, rồi làm Trấn thủ Cựu dinh, mất năm 1714
Sự tích Cochinchine
(HAY CHUYỆN BÀ NGỌC VẠN LÀM HOÀNG HẬU NƯỚC CHÂN LẠP)
Mùa hè năm 1613 chúa Tiên Băng, Nguyễn Phú Nguyên lên thay. Ông được dân chúng xưng tụng là Sãi Vương.
Sãi Vương lên ngôi ở cái tuổi 50 và ông đã trải qua hơn 10 năm làm trấn thủ Quảng nam. Sãi Vương nhân hậu, tài cao, đức trọng, có ý chí nên trước khi mất chúa Tiên đã trối trăn giao nhiệm vụ cho ông: “Đất Thuận Quảng nầy phía Bắc có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang, phía Nam có các núi Hải Vân, thật là nơi trời để cho người an hùng dụng võ. Vậy con phải thương yêu nhân dân, luyện tập quân sĩ để gây dựng cơ nghiệp muôn đời.”
Từ khi lên ngôi Sãi Vương ngày đêm lo nghĩ để tìm biện pháp thực hiện thánh ý của cha già “xây dựng cơ nghiệp muôn đời” ở phía nam Hoành Sơn. Ông trọng dụng tướng tá, diễn tập voi ngựa, sửa đắp thành lũy, sai con trưởng là Nguyễn Phước Kỳ vào trấn thủ Quảng Nam tiếp tục giao thiệp với người nước ngoài. Công việc đang tiến hành tốt đẹp, không ngờ đến vào khoảng năm 1620, hai em ông là quận Văn, quận Hữu vì quyền lợi riêng đã tố giác ý đồ dựng nghiệp ở miền Nam của ông với quân Trịnh ở Bắc hà. Nếu không ngăn chặn được từ đầu sự nghiệp đã tan thành mây khói. Ông không bị hại không những vì quyền lực mà còn vì uy tín của ông. Hơn mươi năm trấn thủ Quảng Nam, qua thương nhân đến buôn bán ở Hội An, tài năng và đức độ của ông đã tỏa lan ra các nước gần như Chiêm Thành, Chân Lạp, Xiêm La, các nước xa như Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ Đào Nha…
Sau khi Nguyễn Hoàng đặt được nền hành chánh chặt chẽ ở Phú Yên, nước Chiêm Thành chỉ còn một lãnh thổ nhỏ hẹp ứng với đất ba tỉnh Khánh Hòa, Phan Rang, Phan Thiết sau này. Nước Chân Lạp tuy to lốn, màu mỡ nhưng người thưa, luôn bị quân Xiêm La xâm lấn, bắt thần phục triều cống, vua quan, quân dân uất hận vô cùng. Năm 1618, vua Sanyopo (Soryopory) của Chân Lạp vì quá lệ thuộc Xiêm La nên bị triều thần bắt thoái vị, nhường ngôi cho con là Prea Chey Chetta II. Muốn cho triều đình được vững chắc, vị tân vương liền cử em là Prea Outney lên làm Phó vương và tìm cách liên lạc với Sãi Vương ở miền nam nước Việt để được yểm trợ lập thế chống quân Xiêm. Prea Chey Chetta II sùng mộ Đạo Phật, nghe tiếng Sãi Vương có Phật tính, ông hết sức ngưỡng mộ. Qua những người Việt đến làm ăn buôn bán ở Chân Lạp, thấy người Việt lanh lợi, trắng trẻo, đẹp, vua Chân Lạp nghĩ dân dã mà như thế chắc con vua cháu chúa chắc là đẹp lắm. Muốn được tin cần vua Chân Lạp cho người ngỏ ý với nước Việt, ông muốn làm rể Sãi Vương. Lời ngỏ đến đúng lúc Sãi Vương đang lo ổn định ở phía Nam để đối phó với phía bắc. Cơ hội thật đáng giá nghìn vàng.
Vào một sáng mùa hạ êm đềm, Ngọc Vạn bái lạy tổ tiên, cha mẹ rồi cùng với đoàn tùy tùng bước xuống chiếc thuyền phụng đã chờ sẵn bên dòng Thạch Hãn. Chiếc thuyền xươi ra cửa Việt bắt đầu cuộc hành trình ngàn dặm về Chân Lạp. Phải xa cha mẹ, xa anh chị em để đi làm dâu xứ người, Ngọc Vạn đau đớn vô cùng. Nhưng để giấc mộng lớn của cha có thể thành sự thật, bà vẫn cắn răng ra đi. Mỗi lần quá đau đớn nước mắt giàn giụa, bà lại được các vị quan già đi theo an ủi bằng cách nhắc đến nguồn gốc của mảnh đất Thuận Hóa và gia đình họ Nguyễn. Đúng như thế. Trước thời bà hơn ba thế kỷ, Công chúa Huyền Trân của nhà Trần đã phải dứt tình với Trần Khắc Chung để về Chiêm Quốc đổi lấy hai châu Ô Lý. Chính nhờ sự hy sinh đó mà nội tổ của bà là Nguyễn Hoàng mới có được chỗ đứng để tính chuyện “vạn lợi dung thân”. Và không đâu xa, bà cô ruột của bà là Ngọc Bảo đã từng phải cắn răng ở với Trịnh Kiểm – một địch thủ của nội tổ bà để cho nội tổ thoát được vào Thuận Hóa xây dựng nghiệp lớn.
Tin Công nữ Ngọc Vạn sẽ về làm dâu Chân Lạp qua đến kinh thành Oudong, vua Prea Chey Chetta II mừng vui khôn xiết. Ông cho xây dựng gấp một cung điện mới để đón Công nữ Ngọc Vạn về và được ở riêng. Khi chiếc thuyền Phụng đi vào đất Chân Lạp, phó vương Prea Outney đã giúp anh tổ chức một lễ rước dâu theo quốc lễ rất linh đình. Ngọc Vạn rời thuyền phụng khép nép bước lên kiệu với tám người khiêng. Thần dân của Prea Chey Chetta II sắp hai bên đường đón kiệu bà đi qua. Những vòng hoa sứ, hoa vạn thọ, hoa sen tung lên con đường trải chiếu hoa, các quan văn võ vận triều phục rực rỡ, các hoàng thân áo mũ dát vàng, các nàng cung nữ xiêm y lóng lánh, tóc bối cao và cài hoa sứ thơm ngát ra rước bà.
Kiệu bà đến điện ngọc, hai cô cung nữ Chân Lạp tiến đến dìu bà xuống kiệu và đưa bà vào hoàng cung. Vua Prea Chey Chetta II tưởi chừng ba sáu, dung mạo uy nghi trong chiếc hoàng bào, mắt to, chiếc mũ cao rộng chụp trên mái tóc quăn, vai rộng, da màu nâu sậm, đang ngự trên ngai vàng chờ bà. Ngước mắt thấy nhà vua bà bàng hoàng. Nhà vua nở một nụ cười chào bà để lộ hàm răng trắng tươi. Bà cúi đầu, đi về phía nhà vua giữa tiếng tun hô vang dội. Vua Prea Chey Chetta II bước xuống chắp tay vái chào người đẹp theo lễ nghi của Chân Lạp. Lễ đón Công nữ Ngọc Vạn kết thúc. Từ ấy Ngọc Vạn đã hoàn toàn thuộc về Prea Chey Chetta II.
Thông minh vốn sẵn tính trờ, chỉ một thời gian ngắn, Ngọc Vạn biết nói tiếng Khơ-me, biết viết chữ Pali, biết mặc xa-rông, xiêm y ngũ sắc, xức dầu thơm, bối tóc cao lên đỉnh đầu và cài một bông hoa trắng. Mỗi khi Ngọc Vạn rời hoàng cung đi lễ chùa, thần dân lại chấp tay vái chào ra chiều quyến luyến. Vua Prea Chey Chetta II mặc dù đã có vợ người Chân Lạp, người Lào, đã có con với các bà ấy nhưng khi gần Ngọc Vạn ông say đắm như lần đầu được yêu. Ngọc Vạn mong muốn điều gì đều được toại nguyện.
Để làm vui lòng Ngọc Vạn, vua Chân Lạp lập nhiều người Việt làm quan văn võ trong triều đình Oudong. Ngọc Vạn khéo tâu xin cho dân Việt vào sinh cơ lập nghiệp ở vùng Đồng Nai Mô Xoài (Biên Hòa, Bà Rịa ngày nay). Người Việt mở cơ xưởng công nghệ, đóng tàu thuyền cho vua quan Chân Lạp, giúp Chân Lạp phòng thủ chống quân Xiêm. Càng ngày vua Chân Lạp càng thấy người Việt hiền hòa, chăm chỉ, có ích cho dân Chân Lạp. Nhờ có bà hoàng hậu nước Việt mà thanh thế của nhà vua thêm phần vững chắc.
Hạnh phúc đang tràn trề, vua Prea Chey Chetta II đang khỏe mạnh, đang được thần dân và triều đình yêu mến, thì bất thần vào năm 1625, nhà vua nhiễm bệnh và băng hà. Tính ra mới được 5 năm hương lửa, mới có với Prea Chey Chetta II hai hoàng nam. Nỗi buồn xa xứ chưa dứt không ngờ số phận góa bụa lại đến với bà quá sớm. Ôi đau đớn biết dừng nào.
Phó vương Prea Outey – người đã giúp vua Prea Chey Chette II tổ chức quốc lễ đón Ngọc Vạn về Chân Lạp, được giao trọng trách cột trụ của triều đình. Prea Outey biết chi dâu đau khổ quạnh hiu nên đã hết lòng giúp đỡ, tiếp tục chính sách thân Việt bài Xiêm. Nhờ thế mà Ngọc Vạn an ủi được phần nào.
Cầm hết quyền hành trong tay, không rõ vì sao Prea Outey không lập một trong những hoàng tử con vua Prea Chey Chetta II lên làm vua mà lại cho hai người em họ là Pona To (1625-1630) và Pona Nu (1630-1640) lần lượt ngôi. Viện lý do bà Ngọc Vạn đạo đức nghiêm minih hơn cả được xếp làm Hoàng Thái hậu, đứng trên vị trí của hai bà vơ Khmer và Lào. Mặc dù được em chồng che chở, nhưng Hoàng Thái hậu Ngọc Vạn không chủ quan. Bà có uy tín, được những người mến mộ đạo Phật và sư sãi sùng kính, được các quan theo xu hướng bài Xiêm thân Việt trọng vọng. Đó là những thuận lợi cho bà đồng thời đó cũng là một thực tế để cho những người thân Xiêm bài Việt ghét bà. Thế lực này đang mạnh dần lên trong triều. Để tránh sự nghi kỵ bà tỏ ra không thiết tha với cuộc đời vương giả phú quý. Lấy cớ vì quá thương nhớ chồng, bà xin triều đình cho đem hai con trai ra ngoài lập chùa để hằng ngày tụng kinh cầu an cho hoàng gia và vương quốc Chân Lạp. Yêu cầu của bà được triều đình vui vẻ chấp thuận. Nhờ thế mẹ con bà đã thoát được các cuộc tranh chấp quyền lực diễn ra liên tiếp trong triều đình Chân Lạp sau đó.
Năm 1630, vua Pona Ny chết không rõ nguyên nhân. Phó vương Prea Outey liền cho con trai mình lên ngôi vua. Việc triều chính rối loạn. Các con trai của vua Prea Chey Chetta II đã lớn và ai cũng thấy ngai vàng Chân Lạp là của mình. Hoàng tử Rama Thuippday Dhipati Chan, con trai bà vợ Lào của Prea Chey Chetta II, được người Lào hợp tác giết chết hai cha con Prea Outey. Rama Chan củng cố ngai vàng bằng cách thay thế các quan chức triều đình (chủ yếu là thay người Việt), dựa vào đội hải quân Mãi Lai và đám bộ binh Lào để giữ thế quân bình Việt Xiêm. Hoàng Thái hậu Ngọc Vạn lâm vào trình thế khó khăn. Hai con trai bà nay đã trưởng thành, trở thành đối thủ của Rama Chan (Nặc Ông Chân). Rama Chan bực bội, tỏ ý kình chống bà Ngọc Vạn. Bà nhận thấy mẹ con bà ở gần Hoàng cung sẽ gây ra mối sợ hãi tranh ngôi vớ Rama Chan, không sớm thì muộn họ cũng sẽ thanh toán mẹ con bà. Bà xin vua cho bà đem con qua vùng Đồng Nai – Mô Xoài lập ấp làm ăn. May mắn thay, nguyện vọng của bà được chấp thuận. Giống như ngày xưa Trịnh Kiểm đã cho Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa vậy. Mẹ con bà Ngọc Vạn nhanh chóng kín đáo rời kinh thành Oudong. Thật khác với cảnh linh đình ngày bà được đón rước qua làm hoàng hậu của Prea Chey Chetta II.
Đến đất Đồng Nai Mô Xoài – vùng đất hoang dã đang được dân Việt – Chiêm – Chân Lạp khai khẩn, vào khoảng năm 1646, bà được dân chúng hết lòng ngưỡng mộ. Lần đầu tiên họ được thấy một nữ sư tuổi chừng 40 đẹp như một vị Phật Bà. Mẹ con bà cùng với một số gia nhân ít ỏi dừng chân lập chùa ở vùng Prey Nokor (Sài Gòn và Chợ Lớn ngày nay). Đám di dân buôn bán, khai  khẩn vùng này ùn ùn kéo đến chùa chiêm ngưỡng dung nhan Phật Bà, để xin bà ban phúc và sung sướng được gặp một vị tiên giáng trần. Bà Ngọc Vạn đối xử với mọi người một cách thân tình. Bà từ thối mọi lời tôn vinh xa vời với những điều Phật dạy. Hai hoàng tử Batom Reachea Potouna Raja và Ang Non (Nặc Ông Nộn), nay đã trưởng thành, hiên ngang tuấn tú. Với dòng máu của hai hoàng tộc Việt Chân Lạp, dù lễ nghi cung cách có khiêm tốn đến đâu, 2 hai ông cũng nổi bật khác hẳn người dân dã. Vì thế hai ông được các sắc tộc ở đây xem như bang trưởng, chúa tế vùng Đồng Nai Mô Xoài. Có việc gì khó khăn họ đều đến chùa Cô Chín (tên dân gian của bà Hoàng Thái hậu Ngọc Vạn) hay đến ấp hai ông hoàng để xin chỉ dạy, phân giải.
Từ đó, người Việt, người Chiêm, Người Khmer và thêm một số người Tàu đều gọi bà Ngọc Vạn với cái tên hết sức thân mật cô Chín. Nhờ thế bà và hai hoàng tử sống thoải mái, vừa tu hành vừa khai khẩn lập nghiệp, cơ đồ ngày càng vững chắc. Chẳng bao lâu sau vùng Prey Nokor trở nên tấp nập trù phú. Cô Chín khuyến khích dân trồng tiêu, trồng lúa, trồng dâu nuôi tằm ươm tơ theo kỹ thuật Việt. Người Tàu Minh Hương giúp cho dân Prey Konor buôn bán với nước ngoài. Người nước ngoài như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp Lang Sa đến truyền đạo và buôn bán. Qua người Tàu Minh Hương họ biết danh cô Chín. Thấy cô Chín vừa thông thạo hai tiếng Việt Khmer, biết chữ Hán, giỏi kinh kệ của hai tôn phải Đại Thừa và Tiểu Thừa. Bà là một bật quý nhân ở vùng đất mới Prey Nonor. Người ngoại quốc cũng sinh lòng mến mộ bà. Họ gọi bà là “Cô Chín Chine” (Cô Chín Tàu). Về sau người phương Tây qua buôn bán gọi vùng Thủy Chân Lạp là vùng Cô Chín Chine. Có lẽ tên Cochi-chine sau này đã có nguồn gốc từ “Cô Chín Chine” chăng?
Trong lúc vùng Thủy Chân Lạp dưới sự chỉ dẫn của mẹ con Cô Chín đã trở nên một vùng thịnh vượng an lạc thì ở Lục Chân Lạp, Quốc Vương Rama (Nặc Ông Chân) đang làm đủ mọi cách để củng cố địa vị của mình. Hoàng thân quốc thích nào ông không cừa ý ông đều bị đối xử một cách tàn nhẫn. Phản ứng lại chính sách cường bạo ấy, các hoàng thân liên kết với nhau tìm cách lật đổ Rama Chan. Mưu kế thất bại, một số người phải chạy thoát qua Đồng Nai Mô Xoài nương tựa vào mẹ con Cô Chín.
Lúc này bà Ngọc Vạn đã ngoài tuổi năm mươi nhưng vẫn còn đẹp và cốt cách vững vàng, đầu óc sáng suốt. Biết Rama Chan không để cho các hoàng thân chống đối ông ta ở yên tại Thủy Chân Lạp, bà khuyên đám hoàng tộc chống đối yêu cầu sự giúp đỡ của chúa Nguyễn. Lời đề nghĩ của bà đúng với suy nghĩ của các hoàng thân. Các hoàng thân nhờ bà giúp đỡ để liên lạc với chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần.
Nhận được lời cầu viện, với sự ủng hộ của bà cô ruột của mình, chúa Hiền từ Thủ phủ Kim Long liền sai Phó tướng Nguyễn Phước Yên đang trấn thủ vùng Phú Yên mang ba ngàn quân vào Đồng Nai – Mô Xoài che chở cho đám hoàng tộc Khmer đang bị đe dọa tính mạng. Rama Chan tức giận liền xua quân xuống đánh Thủy Chân Lạp. Mới vào trận Rama Chan đã bị bắt sống và đem ra giam tại Quảng Bình. Sau đó Rama Chan xin chúa Hiền tha và hứa sẽ triều cống, sẽ giúp đỡ cho người Việt sang làm ăn ở Thủy Chân Lạp và nhất là giúp đỡ cho ba mẹ con bà Hoàng Thái Hậu Ngọc Vạn.
Năm 1660, Rama Chan qua đời, với sự đồng ý của chúa Hiền, hoàng tử con trai bà Ngọc Vạn Batom Reachea được đưa lên ngôi. Bà Ngọc Vạn giúp cho con trai củng cố ngai vàng. Người Việt được mời lại làm quan. Người Tàu Minh Hương được tự do buôn bán. Kiệu bà Ngọc Vạn đi đến đâu đều được đón rước như Phật sống. Hoàng tử thứ hai là Ang Non được vua anh ban cho nhiều quyền hành ở Đồng Nai Mô Xoài. Trông thấy người Việt ngày càng có thế lực ở Chân Lạp, người Lào và người Xiêm rất bực tức. Năm 1672, một biến cố xảy ra, vua Batom Reachea bị hành thích. Con trai ông là Ang Chey (Nặc Ông Đài) giết được thích khách rồi lên ngôi vua. Người Xiêm xúi giục tân vương tách rời khỏi ảnh hưởng người Việt để lập lại thế quân bình Chiêm Việt. Ang Chey mù quáng trước quyền lực dựa thế quân Chiêm làm áp lực ngay với chú ruột của mình là Ang Non (Nặc Ông Nộn). Lúc đầu Ang Chey rút bớt quyền hành và tăng sưu thuế ở vùng Đồng Nai Mô Xoài. Về sau Ang Chey xua quân xuống Thủy Chân Lạp đánh đuổi chú Ang Chey, lập đồn lủy kềm kẹp dân địa phương. Dân chúng không chịu nổi nổi lên chống Ang Chey và yêu cầu chúa Hiền đưa quân vào cứu giúp.
Không nỡ để cho người cháu ngoại của ông nội mình bị ức hiếp, không thể để cho Ang Chey dựa vào thế quân Xiêm tung hoành trên mảnh đất cô mình đã góp phần khai phá, chúa Hiền cửa Dương Lâm hầu đưa quân vào chiếm Đồng Nai Mô Xoài đặc biệt là vùng Prey Nokor. Và không dừng chân ở đó, đoàn quân của chúa Hiền đã tiến ngược lên Lục Chân Lạp vào thành Oudong hỏi tội Ang Chey. Ang Chey chạy trốn vào rừng và đã bị thủ hạ giết chết vào năm 1674. Để vừa lòng người Chân Lạp, chúa Hiền cho Ang Saur (Nặc Ông Thu) – em của Ang Chey đã chết lên làm chinh vương đóng đô ở Oudong (Long Úc) và phục hồi cương vị lãnh chúa của Ang Non (Nặc Ông Nộn) lên Phó vương ở Prey Nokor Thủy Chân Lạp. Đến lúc bấy giờ (1674) có lẽ bà Ngọc Vạn đã mất.
Nhờ có bà Ngọc Vạn mà người Việt được vào sinh cơ lập nghiệp ở vùng Thủy Chân Lạp đặt nền móng cho cuộc kinh dinh vùng Sài Gòn Chợ Lớn sau này (1698) của người Việt.
Công ơn to lớn của Công nữ Ngọc Vạn đối với dân tộc không được sử sách Việt Nam nói đến. Nhưng nhờ tài liệu, bia ký của Cam-pu-chia, những ghi chép của người Bồ Đào Nha, Hòa Lan và Pháp ta mới biết được công ơn của bà. Hy vọng ngày mai đây tại Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có tên đường Ngọc Vạn bên cạnh đường Hiền Vương, những người có công đầu tạo dựng lên Hòn ngọc Viễn Đông này.
Theo nghiên cứu của Thái Văn Kiểm – tác giả Đất Việt Trời Nam, thì Chúa Sãi đã gả hoàng nữ Ngọc Vạn cho vua Cam – bốt Chei Chetta II và gả hoàng nữ Ngọc Khoa cho vua Chiêm Thành Po Romé. Hai ông vua này được làm Phò mã nước Nam chắc chắn họ sẽ không dám có những hành động làm phật lòng nước Nam.
Chúa Sãi vì nước mà phải đem con cái khúc ruột của mình ra đổi lấy hòa bình, đó là những việc làm chính đại quang minh tại sao Chúa không công bố và sử sách của nhà Nguyễn cũng im lặng?
Ông Thái Văn Kiểm đã giải thích như thế này:
“… Sở dĩ sử sách đã lơ việc này là vì bài học của Huyền Trân công chúa. Dân ta hồi nào vẫn còn “tự tôn mặc cảm” đối với các dân tộc thấp kém (!); việc cưới gả công chúa cho Chiêm, Miên, chẳng qua là buốc-kế (Chic), chứ không cho đó là một vinh dự, lại còn sợ đám sĩ phu và dân chúng làm thơ chế giễu như Huyền Trân thuở nào”.
Để ca ngợi công nghiệp của hai bà Ngọc Vạn và Ngọc Khoa, Tân Việt Điểu và Á Nam Trần Tuấn Khải có làm hai bài thơ sau đây:
Ngọc Vạn, Ngọc Khoa vững một niềm,
Vì ai tô điểm nước non Tiên?
Chị lo giữ vẹn tình Miên Việt
Em nhớ làm tròn nghĩa Việt Chiêm
 
Bà Rịa, Biên Hòa thêm vạn dặm,
Phan Lang, Phan Lý mở hai miền,
Nom sông gấp mấy châu Ô Lý,
Nam tiến công người chẳng dám quân…
TÂN – VIỆT – ĐIỂU
 
Cảm vịnh hai bà Ngọc Vạn Ngọc Khoa
Hồng lạc ta đâu hiếm nữ tài,
Nghìn xưa Trưng Triệu đã từng oai,
Noi gương: Khoa, Vạn, hai Công Chúa
Một sớm ra đi mở đất đai,
Mối tình ra đi mở đất đai,
Mối tình hữu nghị Việt Chiêm Miên,
Thần xỉ mong sao được vững bền;
Chúa Sãi bao năm nhờ diệu kế,
Giữ miền Nam Á đặng bình yên.
Đời vốn quen dùng sức lửa binh,
Gây nhiều thảm học khổ sinh linh.
Riêng đây ngọc lụa thay gươm giáo,
Trăm họ âu ca hưởng thái bình.
Vì nước, vì nhà, xá quản thân.
Lá ngọc cành vàng coi nhẹ bỗng,
Hiếu-trung cho trọn đủ mười phần.
Những tiếc riêng cho phận nữ hài.
Đem thân giúp nước hà nhưỡng trai.
Vắng trang lịch sử, nào ai biết?
Người đã hy sinh vì giống nòi
Tới nay kể đã mấy tinh sương.
Mượn bút quan hoài để biểu dương
Bà Rịa, Phan Rang ngàn vạn dặm,
Công người rạng rỡ chốn quê hương
 
Sài gòn, ngày 15/7/1959
Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI
 
 
(Đại Nam Liệt truyện tiền bien,
ĐNNTC, ĐNTL và Đất Việt Trời Nam
Tư liệu riêng của bà Lệ Vân TSH)

Đăng nhập để trả lời
0
àh, lần đầu tiên post lên diễn đàn, có nhiều thiếu sót trong cách trình bày, mong mọi người thông cảm cho, sẽ rút kinh nghiệm lần sau.
Đăng nhập để trả lời
0