Diễn Đàn » Tin Tức Âm Nhạc - New Release

KÝ-ỨC VỀ NHẠC-SĨ CHÂU KỲ

1 trả lời, 465 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-01-04 10:17:14Ct.Ly>

KÝ-ỨC VỀ NHẠC-SĨ CHÂU KỲ (*)

Bài của Lê Xuân Nhuận 
    
          Thuở nhỏ, tôi thường được bà dẫn đi theo qua rạp hát “An Cựu”, sau chợ An Cựu (thuộc Phường Phú-Nhuận, Thành-Phố Huế) để xem “hát bội”.
          Trình-diễn hầu như thường-trực tại đây là Đoàn “Kim Sanh”, một đoàn cải-lương “cải-lương”, nghĩa là “cải-lương Nam-Kỳ” nhưng theo lối Huế (đối-thoại cũng như hát theo các điệu cải-lương Miền Nam mà lại dùng toàn thổ-ngữ Huế và giọng Huế).
          Sau này tôi có được xem một số vở tuồng cải-lương hát theo giọng Bắc; nhờ được trình-diễn trong Nam cũng như thực-hiện trên Đài truyền-thanh & truyền-hình phổ-biến toàn-quốc, nên “cải-lương Bắc-Kỳ” đã được nhiều người biết đến; còn về “cải-lương Huế” thì hầu như ít người nhớ đến.  Tôi gọi nó là “cải-lương Huế” vì nó chỉ được trình-diễn bằng giọng Huế và nhiều nhất ở Huế, chứ không phải khắp Miền Trung, nên không phải là “cải-lương Trung-Kỳ”.
          Nói là “cải-lương Huế” nhưng thật ra thì không ai gọi nó là “cải-lương Huế” cả.  Người Huế gọi nó là “Kim Sanh”, tên của đoàn hát.  Vì những lời nói cũng như lời hát đều rất là “tuồng”, nghĩa là văn-hoa, du-dương, khác với ngôn-ngữ thông-thường ngoài đời, cho nên khi nào nghe một người nào nói-năng có vẻ bay-bướm mà người ta, hoặc thấy hay, hoặc không ưa, thì người ta kêu lên, thí-dụ: “Thôi đừng kim-sanh nữa, mi!”  Danh-từ Kim Sanh, tên của đoàn hát, đã được dùng như tính-từ để chỉ tính-cách “văn-chương” trong các tiểu-thuyết diễm-tình.
          Tôi nhớ có tuồng diễn chuyện một anh con nhà phú-nông được đi du-học bên Pháp, khi đã thành-tài trở về mang theo một cô vợ đầm.  Cả nhà họp mặt chờ đón, đến khi nàng dâu dân Pháp chìa tay bắt tay và định ôm hôn “ông gia” thì mọi người đều thất-kinh; “bà gia” chỉ tay vào mặt con mình mà hát: “Mả cha mi, đồ quân bất-hiếu!...”
          “Kim-Sanh” tồn-tại vào khoảng cuối thập-niên 1930 đến đầu thập-niên 1940, đã diễn nhiều vở giá-trị, với các diễn-viên xuất-sắc, đắt khách đến nỗi đã có thêm một đoàn hát thứ hai, tên là “Kim-Thịnh”.  Nhưng “Kim-Sanh” thì nổi bật hơn...
*
          Sau khi quân Pháp đổ bộ vào Huế, từ đầu năm 1947, đồng-bào các giới, trong đó có một số văn-nghệ-sĩ, lần-lượt hồi-cư, để tránh tai-hoạ chiến-tranh tiếp-diễn ở vùng núi và vùng quê.  Hội-Đồng Chấp-Chánh Lâm-Thời Trung-Phần ra đời, với các cơ-quan cấp Phần và cấp Tỉnh.  Nha Thông-Tin Trung-Phần đặt trụ-sở tại một toà lầu bề-thế trên đường Trần Hưng Đạo, ngó thẳng ra cầu Trường-Tiền.
          Tôi vào làm việc tại cơ-quan Cảnh-Sát Quốc-Gia (khác với cơ-quan “Police Française”), và ở đây tôi quen thân với ông Lê Văn Tấn, lớn hơn tôi chừng bảy-tám tuổi.  Tấn cùng tôi và một số bạn khác họp thành một đoàn kịch, do nghệ-sĩ Đặng Ngọc Lựu đạo-diễn, trình-diễn kịch thơ (đa số lả của tôi) và kịch văn, tại Huế và các Tỉnh lân-cận.  Tôi thấy Tấn cặm-cụi sáng-tác, tuy không đem ra trình-bày nhưng vẫn tiếp-tục viết, sửa; tôi xem thì thấy toàn là tuồng cải-lương; hỏi anh, anh đáp là đã gắn-bó với đoàn “Kim-Sanh”, không thể nào quên.  Hỏi thêm, Tấn cho biết là hiện nay “Kim Sanh” chỉ còn một người thứ hai, nhưng ông ấy đã chuyển qua tân-nhạc, và hiện làm việc ở Nha Thông-Tin.  Đó là Châu Kỳ.
          Theo lời yêu-cầu của tôi, Tấn dẫn tôi đến làm quen với Châu Kỳ.
          Nha Thông-Tin Trung-Phần có dành riêng một số phòng trong trụ-sở Nha cho một số văn-nghệ-sĩ tạm-trú.  Khi Tấn dẫn tôi vào phòng Châu-Kỳ thì thấy Châu-Kỳ đang cắt móng chân cho một thiếu-nữ đẹp.  Họ giới-thiệu với tôi đó là nữ-ca-sĩ Mộc-Lan.  Mộc-Lan là một ca-sĩ nổi tiếng, và Châu Kỳ đang sống chung với Mộc-Lan.
*
          Châu Kỳ trạc tuổi của Tấn.  Vì cùng đam-mê và hoạt-động văn-nghệ nên Châu-Kỳ và tôi trở nên bạn thân.
          Thuở ấy chúng tôi không có máy điện-thoại riêng, nên thường gặp nhau một cách bất-thường, chuyện-trò những khi chỉ có một mình anh thôi.  Thường thì tôi đến tìm anh nơi tổ uyên-ương của anh ở Nha Thông-Tin, nơi tôi thường đến suốt cả thập-niên (Ngoài việc ghé thăm Châu Kỳ, tôi còn vào thăm nghệ-sĩ Tô Kiều Ngân, nhà thơ Nguyễn Anh, nhà nghiên-cứu Phan Khoang, kịch-sĩ Vũ Đức Duy, nhà văn Bửu Kế, nhà nghiên-cứu Bửu Cầm, rồi sau này là cặp vợ+chồng nhà văn Hoàng Pha, v.v...; có lần tôi dùng xe đạp chở nữ ca-sĩ Kim Tước từ Nha Thông-Tin qua cầu Trường Tiền đến Đài Phát-Thanh Huế để tập dượt nhạc, vì xe Jeep bị hư, thời-gian tôi làm Trưởng Đài “Tiếng Nói Quân-Đội tại Miền Trung”).
*
          Mối tình Châu-Kỳ - Mộc-Lan, quả đẹp như thơ, nhưng không bền lâu.
          Châu Kỳ rời Huế bao giờ tôi không được biết, dù rất thân nhau.  Phải chăng vì tình tan vỡ nên anh buồn tủi lặng-lẽ ra đi?
          Ngang đây tôi xin chép trích một đoạn có đề-cập đến Châu Kỳ, trong cuốn hồi-ký "Về Vùng Chiến-Tuyến" của tôi (do nhà Văn Nghệ ở Nam Cali xuất-bản vào năm 1996 – ISBN 1-886566-15-1 – trang 186):
          &lt;&lt;Một hôm, nhân vào Sài-Gòn lập thủ-tục du-học Hoa-Kỳ, tôi gặp trung-sĩ Tôn Thất Óc giữa phố.  Óc là nhân-viên Đội Biệt-Động của Cảnh Sát ở Huế, biệt phái qua “Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung”; cùng đi với ảnh có vài ba người khác nữa, đang ngồi trong một chiếc xe-hơi đậu bên lề đường.  Ảnh dừng lại chào hỏi tôi.  Khi ảnh lên xe đi rồi, có mấy người mà tôi thấy là quen mặt đang ngồi trong nhà hàng “Thanh Thế” vẫy tôi vào.  Họ là công-chức, quân-nhân hoặc thường-dân gốc ở Huế, nay vào tùng-sự, thụ-huấn hoặc sinh-sống trong này.
          Nhạc-sĩ Châu Kỳ ghé tai tôi nói nhỏ: “Đừng bắt mình, nghe, Thanh-Thanh!”  Tôi tròn mắt hỏi lại: “Tôi làm gì mà bắt ai?”  Nhạc-sĩ Lê Trọng Nguyễn liền vỗ vai Kỳ: “Thanh-Thanh không dính vào những việc đó đâu!”&gt;&gt;
          (Ghi chú: mật-vụ nhà Ngô, phe Ngô Đình Cẩn, thủ-tiêu các nhân-vật “có máu mặt” ở Huế và vào hoạt-động tận trong Nam).
*
          Nhà thơ Hồ Đình Phương, người tích-cực hoạt-động trong Văn-Đoàn và Nhà Xuất-Bản “Xây-Dựng” của tôi, sau khi tốt-nghiệp thủ-khoa Khoá I Cao-Học Quốc-Gia Hành-Chánh, làm Trưởng Ty Thuế-Vụ ở Tỉnh Long-An, đã dẫn tôi đi vào thăm một nhà máy giấy, và chỉ cho tôi thấy mặt một nữ viên-chức trẻ đẹp ở sở làm này, mà nói đó là bạn mới của Châu Kỳ.
          Tôi không tò-mò hỏi về đời tư của Châu Kỳ, nhưng về sau có nghe Hồ Đình Phương nói là “bà” sau này thật dễ thương, rất chiều-chuộng Châu Kỳ, và Kỳ đã đạt được hạnh-phúc gia-đình.  Tôi mừng cho anh.
*
          Sau quốc-biến Tháng Tư Đen năm 1975, các hoạt-động kháng-Cộng của nhiều giới đồng-bào, bằng nhiều phương-tiện và dưới nhiều hình-thức, đã được dấy lên công-khai, suốt nhiều năm trường, tại nhiều nơi ở Miền Nam.
          Em tôi, Trương Minh Dũng, một cựu sĩ-quan cao-cấp Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hoà, cũng có làm thơ (bài nào cũng được Châu Kỳ phổ nhạc) và cũng hát hay, đã cùng với Châu Kỳ đi thực-hiện những buổi ca-nhạc chống-Cộng tại các nhà-hàng và địa-điểm đông người ngay tại Sài-Gòn, trong một thời-gian khá lâu.  Hiện-tượng này, cùng với hoạt-động của các nhân-vật khác ở các lĩnh-vực khác, tất cả đều cùng chống Cộng, đã được đưa vào phim ảnh của chế-độ mới, thí-dụ cuốn phim “Vụ Án Hồ Con Rùa”, phổ-biến khắp nơi (hồi đầu cộng-sản còn lo “phục-vụ” đồng-bào nông-dân, đưa phim đi chiếu khắp các thôn ấp), tôi ở trong trại “cải tạo” cũng có được xem.
          Các nghệ-sĩ kiên-trì và quả-cảm này sau đó đã bị bắt đi “cải tạo” nhiều năm.  Vì là bị tù, dù tù chính-trị, sau khi Việt-Nam Cộng-Hoà không còn, nên Mỹ không tính “thâm-niên” để nhận cho đi tị-nạn theo diện cựu-chính-trị-phạm như các anh+chị+em H.O.
*
          Vào năm 1999, băng nhạc, và CD, nhan đề “Năm Mười Bảy Tuổi”, là băng “Vân Sơn 10”, sản-xuất tại Mỹ, đã được đưa về Việt-Nam, trong đó có bản “Tuý Ca”, do Trường Vũ hát, và ghi tác-giả bản nhạc là Tú Nhi.
          Thật ra, “Tuý Ca” là tên của một bài thơ của Trương Minh Dũng, do Châu Kỳ phổ nhạc, đã được xuất-bản trong bộ “Thuỳ Dương Nhạc Tuyển” của chương-trình ca-nhạc “Tiếng Thuỳ Dương” của Đài Phát-Thanh Quân-Đội tại Sài-Gòn, do Mỹ Hạnh phát-hành, vào năm 1974 (tôi còn giữ bản nhiếp-sao).
          Vào thời-gian đó, ở Mỹ vừa mới xảy ra vụ kiện, người giữ bản quyền bản dịch vở kịch “Lôi Vũ” đã được thắng kiện, vì người đem diễn kịch ấy đã không xin phép và trả tác-quyền.  Giữa Hoa-Kỳ và Việt-Nam lại đã có ký hiệp-ước bảo-vệ tác-quyền “tài-sản tinh-thần”.  Có người đề-nghị Châu Kỳ và Trương Minh Dũng nên kiện để đòi bồi-thường, ít nhất cũng có chút tiền mà tiêu trong cảnh túng nghèo.  Châu Kỳ, qua Trương Minh Dũng, nhờ tôi tìm hiểu rõ hơn.  Tình-cờ tôi gặp nhạc-sĩ Trần Thiện Thanh (ca-sĩ Nhật-Trường), hỏi anh tại sao người ta ghi tên tác-giả “Tuý Ca” là Tú Nhi, Tú Nhi là ai, thì anh cho biết hình như việc đó là do Chế Linh.
          Rốt cuộc, cả Châu Kỳ lẫn Trương Minh Dũng đều không tiến-hành vụ kiện.  Dũng nói với tôi: “Châu Kỳ bảo rằng Chế Linh với Kỳ+Dũng cũng là anh+em với nhau từ xưa, nỡ nào?”
          Một thời-gian sau, Dũng gửi qua tôi một số ấn-bản tập nhạc nhan-đề “Những Tình-Khúc Châu Kỳ & Trương Minh Dũng” do nhóm Song Nguyên, Lê Hiếu, Nhật Triết và Thạch Cầm ở Việt-Nam thực-hiện trong năm 2000, và trong “Lời Dẫn” có đoạn:
          &lt;&lt;50 năm.  Phải, Châu Kỳ và Trương Minh Dũng đã kết bạn với nhau được 50 năm.  Lời ca, hồn thơ và sóng nhạc đã quyện hai người thành một... Năm mươi năm trước, Châu Kỳ & Trương Minh Dũng đã từ đất Huế xa xăm “hành phương Nam”, họ đem theo muôn nghìn cái lấp lánh của mặt sông Hương trong một sáng rực rỡ mặt trời.  Bây giờ họ kết thành một chuỗi minh châu mười một tình khúc.  Mỗi hạt đều long lanh, tròn trịa... sương mai.&gt;&gt;
          Tập “Những Tình Khúc Châu Kỳ & Trương Minh Dũng” gồm có 11 bản nhạc, tất cả đều phổ từ thơ của Trương Minh Dũng:
                    1.  Sao Chưa Thấy Hồi Âm
                    2.  Bỏ Phố Lên Rừng
                    3.  Mưa Trên Quảng Đức
                    4.  Giọt Đàn Theo Giọt Lệ
                    5.  Về Sông Cũ
                    6.  Tuý Ca
                    7.  Tình Thơ Ý Nhạc
                    8.  Người Đi Chưa Về
                    9.  Em Đi Về Đâu
                    10.  Hồi Âm
                    11.  Người Nhớ Bài Ca, Ta Nhớ Người
          (Về bài “Bỏ Phố Lên Rửng”, có người mới đây tưởng là Châu Kỳ qua nó ghi lại hoàn cảnh chật vật, phải bán nhà ra ngoại ô trú ngụ.  Hoàn-cảnh sau này thì chật-vật thật, nhưng bài hát ấy là thơ của Trương Minh Dũng sáng-tác từ thập-niên 1960, và “lên rừng” là lên phục-vụ ở Cao-Nguyên).
          Châu Kỳ và Trương Minh Dũng nhờ tôi chuyển tặng một số bản, có ghi tên người nhận, trong đó có Trường Vũ, và mang chữ ký của cả hai người, nhưng không thấy bản gửi tặng Chế Linh.  Có lẽ Châu Kỳ gửi thẳng, qua đường dây khác, hoặc chờ...
          Cho đến năm 2005, Châu Kỳ được Trung-Tâm Thuý Nga bảo-trợ qua Canada để thu cuốn băng “Paris by Night 78”, anh đã cùng vợ từ Canada qua miền Nam California gặp thăm một số bạn-bè.  Tôi tin là anh đã gặp Chế Linh, “anh+em với nhau từ xưa”.
*
          Từ mấy tháng qua, một số anh+chị+em văn-nghệ-sĩ ở hải-ngoại (Mỹ, Pháp, Thuỵ Sĩ, Na-Uy, v.v...) đã quyên góp một số tiền để tổ-chức “Cây Mùa Xuân Mậu-Tý” cho anh+chị+em văn-nghệ-sĩ hiện còn ở tại quê nhà; thủ-quỹ việc này là nhà văn Vũ Uyên Giang.
          Tôi có góp vào để nhờ trao riêng nhạc-sĩ Châu Kỳ một món quà.
          Nhưng theo tin nhà cho biết thì Châu Kỳ đã bị bệnh nặng, phải vào bệnh-viện, tôi sợ không kịp liền gửi thẳng về chị Kỳ một món quà nữa.
          Ngày 28 tháng 12 năm 2007, tôi gọi điện-thoại hỏi thăm, gặp lúc Châu Kỳ đã về nhà rồi.  Anh còn tỉnh-táo, nghe chị trao đổi với tôi, nhưng không nói được.  Tôi nhờ chị đưa ống nghe vào sát tai anh để anh nghe tôi.  Cuối cùng, tôi chúc anh sớm hồi-phục.  Chị nói là anh mỉm cười và gật đầu.  Thế là anh+em chúng tôi đã “gặp lại” nhau, qua máy điện-thoại, và hẳn là anh đã có nhớ lại bao nhiêu kỷ-niệm giữa hai chúng tôi từ những thuở nào, trước ngày anh vĩnh-viễn ra đi.
          Mấy tháng trước đó, anh còn khoẻ mạnh, vợ+chồng Châu-Kỳ đã cùng với các anh+chị Tô Kiều Ngân, Phạm Cung, Song Nguyên, họp với vợ+chồng Trương Minh Dũng em tôi, đại-diện cho tôi bên phía nhà gái, để tiếp nhà trai trong lễ cầu-hôn con gái của tôi.  Bây giờ thì Trương Minh Dũng (**), vốn đã có mặt bên cạnh Châu Kỳ những ngày cuối đời của anh, cũng lại kiêm phần đại-diện cho tôi trong lễ nhập-quan, di-quan của anh.
          Xin thắp một nén nhang lòng cầu-nguyện cho hương-linh bạn tôi, nhạc-sĩ Châu Kỳ, sớm được thảnh-thơi trên cõi vĩnh-hằng.
 
  THANH-THANH LÊ XUÂN NHUẬN           
(*) Nhạc sĩ Châu Kỳ đã qua đời ngày 6 tháng 1, 2008
(**) Thi sĩ Trương Minh Dũng cũng đã qua đời ngày 20 tháng 12, 2008
Đăng nhập để trả lời
0

Châu Kỳ

Một tâm hồn bình dị - Những mối tình thật đẹp nhưng đều dang dở



Châu Kỳ là tên thật của nhạc sĩ Châu Kỳ. Ông sinh ngày 5 tháng 11 năm 1923 tại Dưỡng Mong, Thừa Thiên (Huế). Xuất thân từ một gia đình mà anh chị em đều sống với nền cổ ca Huế, Châu Kỳ có một số vốán âm nhạc cổ thật phong phú của miền Trung. Ưu điểm thứ hai là Châu Kỳ có dịp may được gặp một sư huynh nhạc sĩ đại tài hướng dẫn về nhạc lý và sáng tác là sư huynh Pétrus Thiều nên Châu Kỳ tiến triển rất nhanh trong chiều hướng sáng tác và âm hưởng cổ nhạc miền Trung được thấy đây đó qua những ca khúc như "Khúc ly ca", "Từ giã kinh thành", "Mưa rơi" (Lời Ưng Lang), "Khi ánh trăng vàng lên khơi" v.v...





Là một cậu học sinh bé nhỏ Châu Kỳ của trường Tiểu học Dưỡng Mong rồi sau đó lên Huế học tại trường Pháp Việt, Châu Kỳ vốn có sẵn giòng máu văn nghệ cho nên ông thường bắt chước ngân nga những bài hát Pháp ngữ thịnh hành thời đó như "J' ai deux amours", "Tant qú il y aura des étoiles", "Où vous étiez, mademoiselle"... mà danh ca Tino Rossi thường hay trình bàỵ Tuy là hát chơi để cho mình thỏa thích chính mình nhưng tiếng ca Châu Kỳ lại được bạn bè cũng ưa thích. Sẵn dịp, bà chị của Châu Kỳ là nữ nghệ sĩ tên tuổi Châu thị Minh sáng lập đoàn Ca kịch Huế với bảng hiệu Hồng Thu, và theo lời yêu cầu tha thiết của chị, Châu Kỳ bỏ dở nửa chừng con đường học vấn để theo hẳn nghiệp cầm cạ Lúc đó Châu Kỳ nghĩ rằng gia đình cũng không được khá giả gì cho lắm, nếu còn phải đến trường thì cha mẹ phải lo chu cấp cho việc ăn học, còn chị mình thì đang lúc cần mình cho đoàn ca kịch Hồng Thụ Thôi, một công mà đôi việc, vừa giúp chị mà cũng vừa giúp cha mẹ đỡ một gánh nặng, lại còn có thể đem tiền về giúp lại cha mẹ già nữa. Thế rồi cậu học sinh Châu Kỳ trở thành nghệ sĩ Châu Kỳ, chuyên trình bày ca nhạc, theo đoàn đi lưu diễn khắp nơi.

Thoạt tiên, đoàn sang Lào, diễn tại các tỉnh Savannakhet, Thakhet và thủ đô Vientianẹ Những mối tình được dịp nẩy nở giữa chàng trai tuấn tú, đa tài của Việt Nam và những cô gái Lào duyên dáng ở 3 địa điểm mà đoàn đã đi qua.

Nhưng mối tình đầu của người con trai xứ Huế là khi đoàn Ca kịch Huế trở về Việt Nam, đi lưu diễn một vòng ở Việt Bắc, ra Hà Nội, trở lại miền Trung rồi lần đến Nha Trang. Tại đây, người ca sĩ trẻ tuổi, hát hay Châu Kỳ lọt vào cặp mắt xanh của một nữ sinh thật đẹp, vốn dòng dõi trâm anh, con nhà quyền quý tên Đoàn thị Sum. Lạ gì phản ứng của bậc cha mẹ thời đó, môn phải đăng, hộ phải đối, nhà cửa đôi bên thông gia phải tương xứng nhau, trong khi nhạc sĩ Châu Kỳ, nhà là đoàn hát, cửa là cửa rạp hát cho nên ông bà thân của cô Sum bắt buộc cô phải chọn một trong hai, hiếu hoặc tình. Để cho đôi bên được vẹn toàn, cô nữ sinh, người yêu đầu tiên của Châu Kỳ đã uống thuốc độc tự tử. Hôm ấy là vào ngày 10 tháng 12 năm 1942. Ngày cô Sum tự tử vì Châu Kỳ và cho Châu Kỳ, người nhạc sĩ đa tài của chúng ta đang diễn tại Phan Rang. Nghe tin sét đánh này, Châu Kỳ cũng quyết nhảy xuống dòng nước để hủy mình theo người yêu nhưng nhờ bà chị cản ngăn, khuyên bảo, viện dẫn lý do Châu Kỳ là con trai trưởng, còn cha mẹ già phải lo phụng dưỡng cho nên Châu Kỳ bỏ ý định quyên sinh. Chúng ta ắt cũng hiểu vì sao những sáng tác của Châu Kỳ đa số là những bài nhạc không vui như "Tôi viết nhạc buồn", "Xin làm người tình cô đơn", "Khúc ly ca"v.v...

Người yêu chết, Châu Kỳ không chết theo được, chàng buồn bã rời bỏ đoàn hát, trở về Huế để rồi - họa bất đơn hành - chàng lại được một tin buồn khác khi thân mẫu của chàng bị nước cuốn trôi trong cơn lũ lụt ở Thanh Hà.
Bước chân phiêu lãng đưa Châu Kỳ vào Saigon năm 1947. Ông cộng tác với Đài Phát thanh Pháp Á trong ban "Thần Kinh Nhạc Đoàn" của ca nhạc sĩ Mạnh Phát và ban Tiếng Thùy Dương do chính anh làm trưởng ban. Trong hai ban này, có mặt các ca sĩ như Mạnh Phát, Linh Sơn, Minh Diệu, Minh Tần, và Mộc Lan. Chúng ta không ngạc nhiên chút nào khi tình cảm nẩy nở giữa đôi trai tài gái sắc, một Châu Kỳ đã nổi danh từ Huế vào Nam, một người đẹp Mộc Lan, tính tình đoan trang, thùy mị, dịu dàng, duyên dáng mà không chút kiêu căng, còn tiếng hát thì truyền cảm, dễ thương. Không lâu sau đó, đôi trai tài gái sắc thành chồng vợ. Tháng 11 năm 1949, hai vợ chồng Châu Kỳ - Mộc Lan được ông Thái văn Kiểm, giám đốc Thông tin ở Huế mời hai người ra cộng tác với Đài Phát thanh Huế. Châu Kỳ nghĩ rằng bây giờ đã có gia đình, thôi thì cũng nên trở về Huế làm việc và sống gần gũi với mẹ cha. Nhưng chỉ được 3 năm, vào năm 1952, Mộc Lan âm thầm từ giã Châu Kỳ để chàng thêm một lần nữa, khóc cho tình duyên của mình thêm một lần ngang trái, bẽ bàng. Buồn vì cuộc tình không trọn vẹn, Châu Kỳ xin thôi cộng tác với Đài Phát thanh Huế để trở vào Saigon với những nhạc phẩm viết cho mối tình dang dở này như "Từ giã kinh thành", "Mưa rơi"...

Trở lại Saigon hoa lệ năm 1953, cảnh cũ còn đó nhưng người xưa chẳng thấy đâu, Châu Kỳ chỉ làm bạn với chiếc tây ban cầm cũ kỹ trong nhà và ở ngoài đường phố là chiếc "vespa" xập xình, màu trắng mà anh dùng làm chân để xê dịch đó đây, lên đài phát thanh, lại nhà in, ra quán nhạc, tới quán nhậụ Thời gian này, nỗi đau buồn tích trữ, cô đọng lại thành những âm điệu bi ai, Châu Kỳ liên tục cho ra đời những sáng tác "Giữa lòng đất mẹ", "Tôi chưa có mùa Xuân", "Sao chưa thấy hồi âm", "Hồi âm", "Cánh nhạn hồi âm", "Con đường xưa em đi", "Đừng nói xa nhau", "Cuối đường kỷ niệm", "Nước mắt quê hương", "Đón Xuân này nhớ Xuân xưa", "Vào mộng cùng em", "Em sắp về chưa"... mà một vài bài trong số này phần lời do Hồ Đình Phương hoặc Tô Kiều Ngân viết. Đặc biệt trong loạt bài này có một bài Châu Kỳ viết theo thể điệu Tango, cung Ré thứ rất ai oán, não nùng, than trách cho thân phận của một người còn lại khi người yêu đi lấy chồng. Đó là bài "Được tin em lấy chồng":

"Được tin em lấy chồng
Ôi lòng buồn biết mấy
Được tin em lấy chồng,
Biết người từ dạo ấy,
Còn thương tiếc hay không...”


Nhưng thời gian là liều thuốc nhiệm mầu - như người ta thường nói - cuộc tình xưa rồi cũng đi vào dĩ vãng, dần dần chìm vào lãng quên, còn lại chăng chỉ là những dòng nhạc buồn, những dòng nhạc kỷ niệm, tích trữ thành những tác phẩm để lại cho hậu thế.

Năm 1955, Châu Kỳ thành hôn với một ý trung nhân người miền Nam, cô Kha Thị Đàng. Hôn lễ được cử hành tại tửu lầu Trương Ký ở Chợ Lớn có sự tham dự đông đủ của anh chị em ca nhạc sĩ trong giới tân nhạc như Phạm Duy, Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Thanh, Thái Hằng, Khánh Ngọc, Trần Văn Trạch, Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Hoàng Trọng, Văn Phụng, Châu Hà, Thu Hồ... và một số đông anh chị em trong giới cổ nhạc Nam phần. Châu Kỳ và bà Kha Thị Đàng có được 4 người con, 3 trai và một gái, những người con đều đã thành gia thất.

Cũng như một số ca nhạc sĩ trước 1975 mà nay còn ở lại Việt Nam, gia đình Châu Kỳ không thoát khỏi cảnh nghèo túng. Từ một ngôi nhà khang trang trước 1975 phải bán đi để trả nợ cho sự sống còn để rồi còn một mái nhà dột nát ở xã Tân Quy, huyện Nhà Bè hiện nay, từ một chiếc "vespa" cũ kỹ trước 1975, nay lại còn một chiếc xe đạp và từ năm 1975 cho đến nay tính ra Châu Kỳ đã có đến chiếc xe đạp thứ 16, vì bị mất cắp, vì bị hư hỏng không còn xài được nữa và bạn bè - cũng rách nát như anh - thương tình giúp đỡ cùng với món tiền ít oi mà các trung tâm băng nhạc ở hải ngoại gửi về để cho anh mua chiếc xe đạp khác, mua rồi mất, mất rồi mua, nay đã là chiếc xe đạp thứ 16 của anh.

Cũng trong thời gian sau 1975, trong bối cảnh của một xã hội đổi mới theo chiều hướng đi xuống, Châu Kỳ có những sáng tác mới thích hợp với cuộc sống hiện tại như "Bóng mát Tân Quy" (lời Kiên Giang), "Một mình với Guitare" (1 và 2), "Giọt đàn theo giọt lệ", "Bỏ phố lên rừng", "Đôi dép ngược" và một số bài phổ thơ của Hoàng Hương Trang, Trương Minh Dũng, Đặng Nguyệt Anh, Nguyễn Thanh Nhã, Vũ Thành Nhơn, Nguyễn Hải Phương...

Người nhạc sĩ tuổi bát tuần, thân thể giờ đây tuy có ốm yếu, gầy mòn nhưng trong nét nhạc vẫn còn những tinh anh vì tuổi Quý Hợi tuy bề ngoài hiền hậu, thư sinh, ôn nhu nhưng bên trong chứa đầy nghị lực. Mới ngày nào đây, khi những ca khúc đầu tay như "Trở về", "Tiếng hát dân Chàm" ra đời thế mà nay đã ngót nửa thế kỷ, "bóng dâu đã xế ngang đầu".

Từ xã Tân Quy, huyện Nhà Bè, Châu Kỳ nhìn lại khoảng đời đã đi qua mà lòng không khỏi bùi ngùi xúc động, xót thương cho một số đông bè bạn thân mến đã vĩnh viễn ra đi, một số thì diệu vợi xa cách, chỉ còn chăng một số ít oi còn ở lại nhưng cũng lâm vào hoàn cảnh khốn khó, bần bách, đôi mắt nhòa nhạt vì tuổi đời chồng chất.

Lê Dinh
Vĩnh biệt nhạc sĩ Châu Kỳ
Sáng 6-1-2008, giới âm nhạc bất ngờ nhận được tin nhắn: nhạc sĩ Châu Kỳ đã qua đời ở tuổi 85.


Cây đại thụ của làng tân nhạc VN mà tên tuổi ngang hàng với những Lữ Liên, Lê Thương, Dương Thiệu Tước... đã rời bỏ chúng ta sau hơn hai tháng trời nằm liệt trên giường bệnh. Những người chuộng boléro càng có lý do tiếc thương bởi ông được xem là một trong những người tiên phong đẩy boléro tại VN đến điểm vinh quang. Cũng chính ông đã đào tạo ra một thế hệ ca sĩ được nhiều người yêu mến như Thanh Thúy, Hoàng Oanh, Băng Châu, Chế Linh...

Trong gia tài hơn 200 ca khúc ông để lại, gần như tất cả đều là những bản "thất tình ca". Những Giọt lệ đài trang, Con đường xưa em đi, Đừng nói xa nhau, Xin làm người tình cô đơn... đều là lời chia biệt cho những cuộc tình đẹp nhưng nhiều ngang trái.

Để viết ra được những khúc ca lay động lòng người ấy là cả một vốn liếng âm nhạc đồ sộ. Cha ông là nghệ nhân ca Huế Châu Huy Hà, chị ruột là Châu Thị Minh trong "ngũ nữ minh tinh" làng văn nghệ gồm Phùng Há, Năm Phỉ, Châu Thị Minh, Ái Liên, và Bích Hợp.

Ở Trường Lycée Khải Định, vốn cổ nhạc của ông càng thêm phong phú khi học nhạc với sư huynh Pièrre Thiều - một người am tường nhạc lý, sử dụng thành thạo nhiều nhạc cụ phương Tây. Âm hưởng cổ nhạc miền Trung của Châu Kỳ tìm thấy rõ nhất qua những tác phẩm như Khúc ly ca, Từ giã kinh thành, Mưa rơi (lời Ưng Lang), Khi ánh trăng vàng lên khơi...

Bỏ học theo nghiệp cầm ca chỉ với một mục đích kiếm tiền giúp cha mẹ già rồi trở thành thủ lĩnh ban nhạc Tiếng Thùy Dương, tên ông đã được ghi trang trọng trong hành trình phát triển của nền tân nhạc VN một thời rực rỡ. Vào cuối những năm 1930, ở VN hầu hết là nhạc Pháp nên những sáng tác của Châu Kỳ đã đặt nền móng cho dòng nhạc boléro kết hợp giữa nhạc Tây và cổ nhạc Việt. Nhiều nhạc sĩ theo thể loại trữ tình quê hương hiện nay đều không phủ nhận đã chịu ảnh hưởng từ ông.

Dù có những tác phẩm được nhiều người biết tiếng, nhạc sĩ Châu Kỳ cùng vợ vẫn sống đời đạm bạc. Cho đến những giây phút cuối đời, ông vẫn không hề trách giận cuộc đời đã mang cho ông lắm trái ngang. Người nghệ sĩ ấy vẫn chỉ tâm niệm làm sao sống trọn vẹn với người, với mình...


Đăng nhập để trả lời
0