Tình quê trong tập thơ Ngày Qua Rất Vội
của Lưu Nguyễn
Hồ Trường An
Bắt đầu thập niên 60, tôi rất thích đọc thơ quê hương của các nhà thơ xứ Quảng Nam, Quảng Ngãi. Và theo tôi, chưa có nhà thơ xứ nào khác làm thơ quê hương trội hơn họ. Trước đó đã có Tế Hanh vào thưở tiền chiến. Sau đó, khi chia đôi, đã có Tường Linh, Thái Tú Hạp, Hoàng Quy, Thành Tôn, Bùi Giáng, Luân Hoán, Hoàng Lộc, Hà Nguyên Thạch...
Theo lớp sóng di tản, theo lớp sóng tị nạn ra nước ngoài, hiện nay đã có Thái Tú Hạp, Luân Hoán, Hoàng Lộc, v.v...nhưng sự xuất hiện của Lưu Nguyễn, một nhà thơ Quảng Nam trên thi đàn hải ngoại qua các tạp chí Văn, Văn Học, Làng Văn, Vượt Biển, Lửa Việt, Nắng Mới, Canh Tân, Chính Ngôn, Sàigòn Times, Thời Tập, Sóng v.v… và qua hai thi tập «Tri Âm» và «Ngày Qua Rất Vội», tuy không phải là sự chuyển hướng của dòng thơ truyền thống hai xứ Nam-Ngãi, nhưng vẫn đánh dấu sự tiếp nối dòng thi ca quê hương vô cùng tốt đẹp. Có xa quê hương tổ quốc, chúng ta mới thấy tình quê trong thi ca sâu sắc biết dường nào, đáng để cho chúng ta nuôi dưỡng trong tâm tưởng ngọn lửa thiêng biết mấy:
Rải rác trong tập thơ «Ngày Qua Rất Vội», hình ảnh quê hương được phác thảo bằng vài nét khái quát, từ bài «Một Chút Tình Cho Đà Nẵng»
Từ Ngũ Hành Sơn ta nhìn về Đà Nẵng
phố xá như là phố xá trân sa
dải lụa trắng men theo bờ cát lặng
bãi Tiên Sa ngơ ngẩn ngọn Sơn Trà.
Chiều viễn xứ ta mơ về Đà Nẵng
có sông Hàn cuồn cuộn phù sa
nước mắm Nam Ô đượm tình sâu nghĩa nặng
mì Túy Loan thơm ngát quê nhà.
Mây vẫn nghìn năm trên vòm trời Đà nẵng
nỗi nhớ không rời đỉnh Hải Vân xưa
những bến Đò Xu, những chùa Non Nước
những thân thương biết nói mấy cho vừa.
Bạn bè ta ơi có nhớ về Đà Nẵng
trường Phan Chu Trinh giờ, nay đã ra sao
hỡi người đẹp của Sao Mai, Hồng Đức
Cổ Viện Chàm còn in dấu chân ai
Các bạn độc giả thấy đó, ngôn ngữ thơ thật giản dị, không có chữ nào diêm dúa và kêu vang, lảnh lót, không có câu thơ nào ưỡn ẹo làm dáng. Cái chân phác, đôn hậu càng làm cho ý thơ thêm truyền cảm, cho cái chân tình của tác giả được thắp sáng hơn bao giờ. Bao giờ cũng vậy, Lưu Nguyễn áp dụng ngôn từ đơn giản cho thơ mà thơ không thô thiển vụng về, trái lại thơ còn óng ả mượt mà nữa là khác.
Dù Lưu Nguyễn ít nêu lên hình ảnh quê hương, nhưng tập thơ «Ngày Qua Rất Vội» không vì vậy mà thiếu tình quê hương. Tình quê hương được thể hiện rải rác hầu như ở mỗi bài thơ. Trước hết, mối tình ấy đã đưa tác giả đối diện hình ảnh người mẹ hiền ở quê nhà:
Có buồn không mẹ ầu ơ
ví dầu từ thưở ngu ngơ chào đời
nhớ vô cùng, giọng ru hời
vọng qua sinh tử đất trời hồn nhiên.
hoặc
Xin đừng buồn hỡi mẹ già
thằng con phiêu lãng nhớ nhà quắt quay.
(Mẹ có buồn không)
Tình quê còn hiện ở tình bằng hữu qua những câu:
Bạn bè ta ơi
có còn nhau
trắng đêm đốt nến
nghìn sau nhớ đời
nhớ vô cùng
bằng hữu
của ta ơi.
(Bằng hữu của ta ơi)
Tình quê còn thắp sáng ở người em yêu ngày cũ :
Em mười sáu mong manh như nắng hạ
những nhịp cầu rộn rã bước chân son
ngày hai buổi đi về trong vội vã
đoá thơ ngây vừa chớm nụ cười tròn.
Lòng con gái đã xôn xao từ bữa ấy
cánh hoàng lan người hái tặng bên đường
trang vở ép giữ nghìn thương nhớ lại
tuổi học trò đẫm hạnh phúc trầm hương.
(Đoá thơ ngây vừa chớm nụ cười tròn)
Điều đáng nói nhất là tình yêu quê được biểu lộ qua tình hoài hương khi nhà thơ lưu lạc ở đất lạ người dưng:
Đêm mất ngủ kỷ niệm nhiều vô kể
bạn bè xưa, ngôi trường cũ, làng quê
tiếng hát ru con hay sông núi gọi ta về
đêm tịch mịch sao đêm dài quá thế.
(Sao đêm dài quá thế)
hoặc:
Một ngày qua
rồi một ngày qua
bóng chim tăm cá
biền biệt người thân
những niềm tin cũng héo úa dần
theo từng mùa mưa của một Sàigòn đổi chủ.
(Sàigòn đêm không trăng)
Giờ nước mất tau mày cùng một lứa
ngày đi làm tối cắp sách nhi nhô
bài vở nặng như nợ nần trĩu nặng
hai vai gầy từng bước thấp bước cao.
(Cùng bạn trắng đêm nay)
Tình quê dù biểu lộ dưới bất cứ hình thức nào cũng là tiếng thở dài của người thơ. Đó là cái phản ứng của kẻ đã tham gia vào lịch sử trong cuộc chống cộng cứu nước, đã trôi nổi xứ người để tìm một lối rẽ cho cuộc đời mình, nhưng đổi lại phải xa tổ quốc, xa quê hương. Đôi lúc người thơ nhớ lại giấc mộng hào hùng thuở trước của mình:
Tôi đã từng mơ làm người Lê Lợi
hội thề một thuở Lũng Nhai
núi rừng Lam Sơn quật khởi
Chí Linh giặc cuốn chạy dài.
Tôi đã từng mơ làm người kháng chiến
đi khắp quê hương, đi khắp xóm làng
khi tất cả trở thành khu chiến
giặc cùng đường chẳng diệt cũng tan.
(Tuổi trẻ Việt Nam)
Giấc mộng vá trời lấp biển chung qui vẫn chỉ là ước vọng khó thực hiện, huống chi là giấc mộng cứu nước phải cần có cả ngàn vạn người góp sức mà cũng chưa tới đâu. Tuy nhiên, dù thành công hay thất bại trong cuộc dấn thân vào lịch sử, giấc mộng đó vẫn ray rứt réo gọi người thơ:
Buồn tình phi ngựa lên đồi
lấy tay làm kiếm rạch đôi sơn hà
tưởng chừng thiên hạ mình ta
vườn hoang mặc sức vào ra múa cuồng
giật mình tóc trắng như bông.
(Này thanh kiếm gỗ)
*
Như các bạn đã thấy, Lưu Nguyễn làm thơ thật tự nhiên, chân thành. Anh phơi bày tâm trạng của anh, tâm trạng một con người ưu thời mẫn thế, không thắc mắc những vấn đề triết học, những phận người, những vấn đề nhân bản v.v... Cũng như bao nhiêu nhà thơ hiện đại, tâm sự anh là tâm sự buồn, cõi thơ vẫn là cõi buồn. Cái buồn của anh thật chân thật, thật thiết tha, cho nên mỗi tiếng thở dài dù rất nhẹ của anh cũng gây giao động thật sâu trong tâm hồn người đọc. Thơ vốn không cần triết học, không cần tư tưởng cao xa. Thơ vốn chỉ cần gây truyền cảm cho người đọc. Thơ phải gây cái cảm cho người đọc trước đã, còn cái nghĩ chỉ là cái phụ thuộc. Có cảm thêm nghĩ càng hay. Nhưng chỉ có nghĩ mà thiếu cái cảm, thơ sẽ thất bại nặng nề.
Trong Ngày Qua Rất Vội, có bài Giữa Trời Và Đất là bài thơ lấn sâu vào cái nghĩ, tức là lấn vào địa hạt tư tưởng.
Chót vót núi cao chập chùng khấp khểnh
rừng bạt ngàn mút tận tầm mây
đất nở ra những hòn đá tảng
ta một mình đứng giữa trời mây.
Đời như ngưng lại dưới chân ta
lãng đãng hơi sương khói chiều tà
lũng thấp vắng tanh ngày tận thế
rực ánh vàng rừng núi xót xa.
Núi vẫn thênh thang giữa trời và đất
dẫu có dẫu không người ở hay về
nghìn trước nghìn sau những còn những mất
nhân ảnh như là một cõi u mê.
Ở bài thơ này, bên cạnh vấn đề trình bày kiếp người cô độc giữa cõi mang mang trời đất, tác giả đã khơi dậy ở độc giả một cảm giác bàng hoàng xao xuyến trước một cái nhìn về thân phận nhỏ bé của con người giữa cái thiên nhiên bao la. Cái bàng hoàng xao xuyến đó lay động chúng ta rất lâu, rất thấm thía. Đây là một bài thơ rất đẹp, rất sâu, đạt được cái cảm lẫn cái nghĩ.
Cũng thế, ở bài Nghìn Kinh Cũng Chỉ tác giả đưa chúng ta đứng trước đường đời đau khổ mà con người chịu thụ động trước bao tai ương hiểm nạn.
Như khổ nạn trĩu vai gầy thánh giá
những chặng đường lửa đỏ rất chông chênh
lòng đã động bước trần ai vật vã
dẫu nghìn kinh cũng chỉ nặng ưu phiền.
Và cũng thế, ở bài Đốt Đuốc Soi Chân, tác giả đã cảm khái về cái phù ảo huyễn hoặc của kiếp người :
Ta về
đốt đuốc soi chân
ta về
đốt cái phù vân
soi người
trăm năm
một trận
khóc cười
vẽ nhăng mấy nét
cho đời
soi chung.
Thơ tư tưởng của Lưu Nguyễn thường dựa trên tư tưởng Phật giáo, chẳng hạn:
Lòng ta như sóng đại dương
không dưng mà gió mười phương tụ về.
(Tâm động)
hay chẳng hạn:
Ta về
gọi gió mười phương
cùng chư Phật
hội
giữa đường chân không
bên bờ
đại giác
mênh mông
ba nghìn phiền não
theo dòng
nước trôi.
(Bên bờ đại giác)
Tuy tác giả đưa thơ vào lãnh vực tư tưởng vốn là lãnh vực khô khan, nhưng thơ không vì vậy mà mất đi cái ngọt ngào, pha trộn cái đắng cay thật truyền cảm, làm độc giả vừa rung cảm bàng hoàng và vừa nhìn sâu vào ý nghĩa hữu hạn của kiếp sống.
Đó chẳng phải là cái độc đáo thứ hai trong cõi thơ của Lưu Nguyễn hay sao?
Vừa khơi dậy tình quê cho độc giả, vừa làm nhân chứng khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, vừa đốt đuốc cho độc giả soi lại cái huyễn hoặc của kiếp phù sinh, Lưu Nguyễn đâu có bỏ rơi các độc giả yêu chuộng các bài thơ nói về tình yêu.
Thôi hót nhé, em vành khuyên rất điệu
giữa vô cùng giọt nắng đọng vu vơ
tà áo vân vê nụ cười hàm tiếu
ta nửa đời bỗng thấy rất ngu ngơ.
(Nửa đời bỗng thấy ngu ngơ)
hoặc:
Răng em
trắng
nụ cười tròn
cho duyên về trụ
giữa vòng
môi xinh
má đào
thắm cả bình minh
mắt kia
như thể
vương hình bóng ta.
(Như thể ước mơ)
Ngày Qua Rất Vội là một cõi thơ đa dạng, như một viên ngọc nhiều góc cạnh, góc cạnh nào cũng có nét sáng chói riêng. Giữa màu sắc muôn hồng nghìn tía của nền thi ca hải ngoại, tập thơ có một chỗ đứng riêng không ồn ào, không màu mè sặc sỡ, nhưng chắc chắn sẽ làm cho lòng người đọc xao xuyến rất lâu khi xếp tập thơ lại.
Hồ Trường An
(Hiểu Thúy Thư Trai, tháng 11-1993)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai