Diễn Đàn » Tác giả người Việt

(url) Phan Bội Châu

35 trả lời, 6.570 lượt xem — Trang 2 / 2

15. Muốn chở khí giới về giúp Hoàng Hoa Thám

Ôi! Công việc cứu quốc, không có gì cần kíp hơn là vun đắp nhân tài, mà vun đắp nhân tài thì có cách tổ chức ra đoàn học sinh là hay hơn cả. Nhưng chúng tôi gặp phải cảnh ngộ này, không có tài sức nào tổ chức được học đoàn nữạ Duy có để cho anh em học sinh bền lòng gắng chí, tự lo lấy cách tìm đường cầu học mà thôi.

Lúc bấy giờ có người chạy qua Bắc Kinh, như bọn Chung Hạo Sanh, Hồ Học Lãm. Có người tới Quảng Tây như Nguyễn Tiêu Ðẩu (Nguyễn Bá Trác), Nguyễn Siên, Huỳnh Trọng Mậụ Có người chạy sang Xiêm La (Thái Lan), như bọn Hồ Vĩnh Long, Ðặng Quốc Kiềụ Cũng có người vẫn lưu lại Nhật, giả mạo làm người Tàu để cầu học, như đám Trần Trọng Khắc, Hoàng Ðình Tuân. Chân trời lênh đênh, ai lo thân nấy. Kể về tinh thần, anh em ta vẫn là một nhóm ái quốc thanh niên, nhưng về hình thức thì bấy giờ họ là một lũ học sinh bơ vơ trôi nổi.

Lúc đó tôi làm thế nào?

Ðối với cảnh ngộ chẳng may của những anh em học sinh chí thân chí ái, tôi chỉ đành vỗ ngực kêu trời, lấy một trận khóc để kết thúc vấn đề ấy thôi. Nhưng mà tấm thân 7 thước đã hứa hẹn với non sông, là thân tôi đây, không thể lấy gì che lấp trách nhiệm cho được. Ðến nông nỗi này tôi không thể nào không chạy qua con đường bạo động. Vẫn biết bạo động với tự sát đều là việc làm của những kẻ kiến thức hẹp hòi, không biết lo xa, nhưng nếu sự thế buộc tự sát, thà rằng xoay ra bạo động mà chết còn hơn. Vì cứ bạo động may ra còn trông được có chỗ thành công trong muôn một. Huống gì tôi đã suy đi tính lại, lúc này bỏ sự bạo động ra không còn có việc gì đáng làm hơn nữa.

Muốn học cách Thân Bao Tự khất binh để cứu Sở (Thân Bao Tự làm quan nước Sở, đời Ðôg Châu, bạn chí thân của Ngũ Tử Tự Về sau khi Tử Tư thắng Sở, thì Bao Tự viện binh nước Tần, đẩy lui binh Ngô, cho Sở Chiêu Vương về nước. Xong rồi Bao Tự từ chức, dắt vợ con vô núi ở ẩn) nhưng chỗ nào là Tần Ðình cho mình đứng khóc mà cầu viện binh ? Muốn học cách Việt Vương Câu Tiễn nhịn nhục báo thù Ngô (Ðời chiến quốc, Việt Vương là Câu Tiễn bị bại trận ở Cối Kê và bị Ngô Vương là Phù Sai bắt cả hai vợ chồng đem về nước Ngô cho chăn ngựạ.

Câu Tiễn nuôi chí phục thù và xem đất Cối Kê là nơi mà mình mang quốc thù và bị người nhục mạ), nhưng có nơi nào là Cối Kê để cho mình nương thân sắp đặt ? Còn muốn lấy văn tự để cổ động quốc dân gọi là cho xong phận sự đời mình đối với nước non, nhưng khốn thay văn tự cũng không còn lựa chỗ đất nào để gieo rắc tuyên truyền nó được, mới thảm ! Chẳng những thế mà thôi, cho đến những anh em đồng chí ở trong nước cũng đều có cái nguy sớm muộn bị tù tội, bị đày, bị chém nữa kiạ Than ôi ! Con thú đến lúc cùng đường túng thế, nếu không phấn đấu may ra còn có đường sống, nếu không thì tất phải chết.

Tháng Tư mùa hạ năm Kỷ Dậu (1909), đảng ta phải trải muôn ngàn cay đắng mới quyên góp được một số tiền nữa gởi ra, tôi đem trao hết cho một hiệu buôn Nhật để cậy họ lén mua quân giới cho mình. Vì chúng tôi muốn bạo động, thế nào cũng phải có ít nhiều quân giới. Quân giới mua xong rồi, do Ðặng quân Tử Mẫn (Ðặng Tử Mẫn) bí mật đem qua Hương Cảng. Lúc ấy là hạ tuần tháng 5 giữa lúc tôi cũng đang ở đó. Vừa nghe tin nước nhà đưa sang, nói rằng Hoàng Hoa Thám tướng quân đang giao chiến với quân Pháp gắp lắm. Chúng tôi thiết nghĩ việc cứu viện họ Hoàng là một việc nghĩa phải làm, không thể nào trì hoãn được. Bởi vậy chúng tôi nghĩ cách làm sao vận tải được khí giới về nước cho mau.

Muốn chở quân giới vào đất Trung Kỳ tất phải mượn đường đi tới Băng-Cốc., kinh đô nước Xiêm, tìm cách yết kiến nhà đương cuộc Xiêm cầu họ giúp đỡ cho mình. 2 quan đại thần lục quân và ngoại giao Xiêm quốc lúc ấy, hơi có ý muốn giúp đảng cách mạng ta, nhưng họ còn đang bàn tính với nhau chưa được nhất quyết.

Tôi lại nghĩ đảng cách mạng Trung Hoa thuở nay rất thạo nghề mật chở quân giới, cho nên tôi lật đật từ giã Xiêm kinh (Băng-Cốc) mà đi Nam Dương, yết kiến Chương Bình Lân. Chính tay họ Chương viết một bức thư, giới thiệu tôi đi tìm kiếm một tay làm đầu đảng cách mạng Trung Hoa để mưu với họ giúp sức cho mình. Sau khi bàn định việc này xong rồi, tôi đã tới một hãng tàu Trung Hoa, thương thuyết với họ về khoản tiền tổn phí chuyên chở. Nếu đừng có việc trở ngăn, thì cái ngày giờ chuyên chở quân giới của chúng tôi đã định xong rồi. Không ngờ đâu bụng mình tính một đằng mà rồi việc làm trái đi một ngả. Trung tuần tháng 2 năm Canh Tuất (1910), tôi ở Nam Dương trở về thì nghe tin nói Bảo Hộ ra tay công phá đảng ta dữ lắm. Người chủ não của đảng ta ở trong nước là ông Ngư Hải đã bị nạn, đến đỗi việc đảng vỡ lở tứ tung. Bao nhiêu quân giới còn giấu đút ở Hương Cảng, vì sự đình trễ lâu ngày, thành ra tai tiếng thấu tới nhà đương cuộc Anh ở Hương Cảng hay dược. Cả thảy hơn 10 hòm súng đạn đều bị chính phủ Anh tịch thâu hết; ông Cảnh Lâm lại vì tội phạm cấm mà bị hạ ngục!

Trời ơi! Tin hung báo đưa tới, không khác gì con dao đâm một mũi chí mạng vào trong cái kế bạo động của tôị Nhân đó có câu thơ cảm khái (vì bực tức mà cảm xúc trong lòng rồi than thở) như vầy :
Ưu thế kỷ hồ thương hải khấp.
Kinh nhân nhất chỉ ngọc sơn đồị

Nghĩa là :
Lo nước bao phen sa huyết lệ,
Tin quê đưa tới luống kinh tâm...

Lại còn 1 câu nữa :
Khả vô mãnh hỏa thiêu sâu khứ,
Thiên hựu cuồng phong tông hận tai

Nghĩa là :
Ðã không ngọn lửa thiêu sầu rụi,
Lại có cơn giông thổi giận thêm.


Ấy là những câu tả rõ tình hình cảnh ngộ của chúng tôi lúc bấy giờ.
Từ tháng 3 năm Canh Tuất (1910) trở đi, tôi bước vào thời kỳ hết sức thê lương.
Tin tức nước nhà, có khi vắng bặt mấy tháng trời, tôi không tiếp được mảy may nào. Vì Bảo Hộ thẳng tay làm chính sách khám xét thư từ và tịch thâu tiền bạc trong nước gửi ra cho chúng tôi.

Hồi này người Pháp có tính cách làm oai để cho đảng nhân đang bôn đào (trốn tránh vì phạm tội) bên ngoài phải sợ, cho nên chỉ để tiết lộ ra ngoài những tin hung báo rằng đảng nhân nọ kia bên trong đã bị chém giết mà thôị Thành ra những tin tức đau lòng đứt ruột, không ngày nào không quấn quýt bên mình tôi. Tôi dời về tỉnh thành Quảng Châu, thế mà quan quyền Pháp lại bỏ tiền mua chuộc bọn trinh thám người Tàu để làm khó cho tôị. Ðến đỗi tôi không dám lấy bút mực làm sinh kế nữạ. Sơm' tối tôi chỉ nương dựa vào một bà nữ sĩ nghĩa hiệp trên 70 tuổi đầu, làm như bà Phiếu mẫu (bà lão giặt vãi, người đã cho Hàn Tín-lúc còn hàn vi phải đi câu-ăn một chén cơm. Sau khi làm Tể tướng, Hàn Tín đã cho bà lão ngàn lượng vàng để tạ ơn) nuôi cơm cho tôi ăn. Than ôi ! Bà chiếu cố tôi trong chỗ gió bụi lênh đênh, nuôi tôi không biết bao nhiêu bữa cơm mà nói, mà không hề nghĩ tới sự mai sau, trông mình đền đáp gì hết. Thật là Châu Mẫu Việt Thành, khiến cho tôi chết xuống đất cũng còn mang ơn ngậm vành kết cỏ vậỵ. Bà họ Châu, tên là Bách Linh.
>>>>>>>>>>>>>>>>>>

Milou

♫♪♫ ♫♪♫ ♫♪♫ ♫♪♫ ♫♪♫ ♫♪♫ ♫♪♫ ♫♪♫ ♫♪♫ ♫♪♫ ♫♪♫ ♫♪♫

Một người gắn bó và đang xây dựng TTVNOnline ngày một tốt đẹp hơn

>>>>>>>>>>>>>>>>>>>

http://www3.ttvnol.com/tacphamvanhoc/124546.ttvn

Đăng nhập để trả lời
0
Post #: 28


16. Trần Kỳ Mỹ và Hồ Hán Dân giúp sức

Tháng 2 năm Tân Hợi (1911), tôi lại qua Xiêm. Lúc bấy giờ người trong đảng ta cư ngụ nương náu ở nước Xiêm, có bọn các ông Tử Kính, Vĩnh Long, Ngọ Sanh và Minh chung, rủ nhau chịu khó cày cấy ruộng nương, chăn nuôi gà vịt, để làm kế trử sức lâu ngàỵ.

Các ông viết thư sang Hương Cảng kêu tôi qua.

Tôi suy nghĩ muốn bắt chước Ngũ Tử Tư ngày xưa cày ruộng đợi thời, cũng là kế hay, bèn đáp tàu qua Xiêm. Sang đây, tôi tới ở sở ruộng Bạn-Thầm, tắm gió gội sương, dầm mưa trải nắng, cùng mấy anh em thiếu niên cùng chia sớt đắng cay, hầu cho tiêu bớt nông nỗi đau thương, ăn không ngồi rồi.

Tôi sống cái đời nông phu cực nhọc trước sau được 8 tháng.

Nhưng trong 8 tháng đó, tôi thấy trong mình vui vẻ thơ thới lạ lùng. Lúc khát gặp có suối nước thì uống, lúc đói vớ được trái cây thì ăn, cái ngày giờ cảm khái vô liêu (buồn bã, không có thú vị) của tôi lúc này, chôn đứt ở trong cảnh sống ăn sương hút gió, kể cũng là 1 cách sống thú vị của anh tráng sĩ đang cơn túng thế cùng đường. Bởi vậy, tôi cho câu chuyện đáng ghi chép là phải.

Hồi này rảnh rang nhàn thích, tôi soạn ra được nhiều bài văn quốc ngữ. Nào truyện Lê Thái Tổ, nào truyện Trưng Nữ Vương. Nào là những khúc hát bài ca cổ võ tấm lòng yêu nước, yêu nòi, yêu giống. Tôi đem những bài ấy ra dạy cho những người ở trong sở ruộng học thuộc lòng, sớm tối họ thường nghêu ngao hát làm vuị Ấy là tôi muốn gieo hạt giống cách mạng ở giữa khoảng nước biếc non xanh vậỵ.

Tháng 10 năm ấy (Tân Hợi, 1911), Phan quân Bá Ngọc (Phan Bá Ngọc) ở Hương Cảng sang Xiêm, đem cái tin Võ Xương khởi nghĩa nói cho tôi nghẹ Tôi lấy làm động tâm (xúc động) hết sức.

Hồi trước lúc tôi còn ở bên Nhật, từng có cơ hội kết giao với bọn lãnh tụ cách mạng Tàu như Hoàng Khắc Cường, Chương Thái Viêm. Lại cùng bọn Trương Kế và chí sĩ (người có tiết tháo và chí khí hơn người) các nước Triều Tiên, Nhật Bản, Ấn Ðộ và Phi Luật Tân, tổ chức ra hội "Ðông Á Ðồng Minh". Chúng tôi với họ cũng là 1 hạng người đau lòng mất nước, mong phục nghiệp xưa, tôn chỉ vốn là tương hợp. Nay nghe tin quân cách mạng Trung Hoa dấy lên, khiến tôi có cái cảm giác "tiếng đồng reo tiếng chuông ứng".
Nhân đó Bá Ngọc khuyên tôi nên trở về nước Tàụ. Tôi liền từ giả sở ruộng ở Xiêm mà đi.

*
Hạ tuần tháng 11 (1911), tới Hương Cảng, anh em đồng chí tản tác các nơi, giờ đều quần tụ lại đây.

Lúc này tôi viết ra 1 bài chính kiến, tựa là "Liên Á xổ ngôn", cốt bày tỏ kêu gào 2 nước Trung Hoa, Nhật Bản nên đấu sức cùng lòng, để sửa sang đại cuộc châu Á. Bài này truyền ra, những người kiến thức đều khen ngợi tán thành.

Song thời cuộc Ðông Á, đến nay, xoay đổi khác hẳn sự trông mong của mình lúc dó. Thế mới biết việc đời lý luận đi tới sự thật không phải là chuyện dễ dàng. Bọn mình hay ngồi nói ngông tưởng hão, chỉ tổ làm trò cười cho người ta đó thôi.

Mùa xuân năm Nhâm Tý (1912), nước Trung Hoa Dân Quốc được thành lập, cuộc cách mạng thế là xong xôi; tôi bèn đi Thượng Hải, tìm thăm người bạn hào hiệp quen nhau thuở trước là Trần quân Kỳ Mỹ (Trần Kỳ Mỹ).
Giữa lúc này, Trần Kỳ Mỹ đang là Ðốc quân Thượng Hải, giúp cho tôi 1 số tiền lớn. Lâu nay tôi khốn khổ về cảnh túng bấn nghèo nàn, không khác gì người hết gạo nhịn ăn lâu lắm rồi, bây giờ được Trần Kỳ Mỹ vác 1 số tiền lớn lao mà cho mình, khiến mình vui mừng yên ủi, vì lại có tiền để hoạt động.

Vừa gặp lúc Dân Đảng ỏ Quảng Ðông cũng thành công đắc chí, Hồ Hán Dân làm Ðô đốc, cùng với Cảnh sát cảnh trưởng Trần Cảnh Hoa, vốn tỏ ý đồng tình với đảng cách mạng nước ta, cho nên tôi nhân dịp lại đi Quảng Châu và định ở luôn tại đó.

Trung Hoa Dân Quốc dựng lên như có luồng gió tiếng vang, rung động tới nước mình nhiều.ï Dân khí ta lại phấn chấn đáo để. Những hạng chí khí lại rủ nhau bỏ nước mạo hiểm trốn ra ngoài, chân nối gót nhau tới Quảng Châu đông lắm.

Nhóm ông Liệt Sanh ở Nam Kỳ qua; bọn ông Hải Thần (Nguyễn Hải Thần) ở Bắc Kỳ tới; bọn Ðặng Tử Kính và Ðặng Hồng Phấn thì ở Xiêm sang. Cho tới mấy anh em học tốt nghiệp ở trường Lục quân Quảng Tây lớp nọ, nay cũng đồng thời kéo đến Quảng Châu để hội họp nhau. Chúng tôi có thuê 1 căn nhà ở ngoài thành để làm cơ quan, anh em tới ở đông quá, đến đỗi chật chỗ.

Ðảng viên xã hội Tàu ở Quảng Ðông là các ông Ðặng Cảnh Á và Lưu Sư Phục, cũng ra tay giúp sức đảng cách mạng VN mà vận động giùm với các giới. Chính phủ Quảng Ðông lúc bấy giờ vốn đã sẵn lòng ngó lơ cho ta, thành ra đảng ta tấn hành, mọi việc được thong thả tự nhiên, không bị trở ngăn lo ngại gì cả. Nhờ vậy mà đảng cách mạng ta có vẻ phấn khởi khá lắm.

Anh em đồng chí thấy vậy, đều khuyên nhủ thúc giục tôi nên thừa cơ hội này mà cử đồ đại sự. Sinh bình (lúc sống ở trên đời), tôi vốn ôm chủ nghĩa cấp khích nay lại được da số anh em đồng chí thúc hối tán thành, cho nên tôi càng quả quyết làm, vì đó mới có cái màn thất bại thê thảm lại diễn ra 1 lần thứ hai nữa.

Copy Milou
U.S. Minor Outlying Islands
Thành viên từ 22:38, 07/06/01

tiếp....

http://www3.ttvnol.com/tacphamvanhoc/124546.ttvn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-21 08:22:09HongYen>
.......

17. Long Tế Quang bắt tôi hạ ngục :

Mồng 5 tháng 5 năm Nhâm Tý (1912), anh em trong đảng sửa sang tổ chức lại, thành ra hội "Việt Nam Quang Phục" (Việt Nam Quang Phục Hội hay Quang Phục Hội; cương lĩnh của đảng dựa trên Tam Dân. Chủ Nghĩa của Tôn Dật Tiên, người vừa thành công trong cuộc cách mạng Tân Hợi, 1911). Các đồng chí cử tôi giữ quyền tổng lý, Hoàng quân Trọng Mậu (Hoàng Trọng Mậu) thì làm bí thư.

Chúng tôi thảo ra th ể lệ cách thức đạo quân Việt Nam Quang Phục, lại in ra phiếu quân dụng riêng cho Việt Nam Quang Phục quân dùng với nhau. Một mặt khác chúng tôi mượn in vô số sách vở văn bài cổ động, như là truyện "Hà thành Liệt sĩ" và bài văn khuyên bảo lính tập, rồi sai người chuyển vận về nước, rải phát tứ tung.

Tháng 2 năm Quý Sửu (1913), chúng tôi ủy ông Nguyễn Hải Thần làm chi bộ bộ trưởng hội Việt Nam Quang Phục ở Quế biên (giáp giới tỉnh Quế, tức Quảng Tây), ông Trần Văn Kiện làm chi bộ bộ trưởng ở Xiêm biên, còn ngả Ðiền biên (Ðiền là tên tắt của tỉnh Vân Nam) thì Ðổ quân Chơn Thiết (Ðổ Chơn Thiết) tự nguyện phụ trách. Chúng tôi bàn định lúc nào cử sự (khởi sự làm) thì cả 3 mặt cùng tiến, cho nên sự sắp đặt từ trước sẵn sàng, chỉ còn đợi ngày giờ đến thì làm việc.

Tuy vậy, lúc ấy đảng ta vẫn có một vấn đề khó nổi giải quyết, là vấn đề kinh tế.
Khó quá, kinh tế chưa được sung túc, mà đến khí giới quân lương cũng đều l ngại thiếu thốn nữa mới khổ. Nhưng nếu đừng có việc tai biến (tai họa và biến cố) gì xảy ra 1 cách bất ngờ, để chúng tôi còn có ngày giờ thì vấn đề dầu khó mặc lòng, họa may có thể trù tính xong được. Song chẳng may thuyền xuôi gió ngược, tai biến xảy ra không ngờ, làm cho toàn cuộc mưu tính của tôi hư hỏng tiêu tan như bọt nước bóng mâỵ Hán Võ Hầu (Gia Cát Khổng Minh) than rằng đời khó được như ý, thật đúng lắm thay !

Mùa hạ năm Quý Sửu (1913), ở tỉnh thành Quảng Ðông có việc quân lính nổi dậy gây biến, cốt đánh đổ Ðô đốc Trần Cảnh Hoa, làm cho Trần phải chạỵ Long Tế Quang kéo binh tới, tự lãnh chức Ðô đốc Quảng Ðông. Thuở nay, họ Long với đảng cách mạng VN vẫn không quen biết nhau và không quan hệ liên lạc với nhau bao giờ. Ðã vậy mà Long lại là người thù ghét vây cánh Hồ Hán Dân và Trần Cảnh Hoa, chỉ muốn có dịp bài trừ cho tiệt. Thành ra đảng ta bị vạ lây; tôi phải ôm cái cảm khái thỏ chết chồn đau, vì Hồ - Trần thất bại, đảng ta không chỗ nương dựa ở Quảng Ðông nữa. Lúc đó tôi muốn bỏ đi nơi khác cho mau, nhưng vì có công việc của đảng còn ràng buộc, bỗng chốc thu xếp không kịp, tôi đành phải nấn ná ở lại. Nhưng cũng lo phòng thân, tôi lật đật viết thư lên Nguyễn Quân Ðĩnh Nam (Nguyễn Ðĩnh Nam; tức Nguyễn Thượng Hiền), cậy ông tìm cách vận động xin giùm tôi 1 hộ chiếu, để nữa tôi có đi đâu mới được.

Nguyễn quân vốn là người nhiệt tâm với nước. Sơ tuần tháng 7, ông tiếp được thư tôi, lập tức lấy được giấy hộ chiếu của Bộ ngoại giao Bắc Kinh gửi xuống cho tôi. Có tờ hộ chiếu nằm trong tay rồi, tôi bớt lo sợ. Vả lại các bạn đồng chí cùng ở Quảng Ðông với tôi lúc bấy giờ khá nhiều, nếu như đồng thời giải tán, muốn đi đâu cũng phải cần có phí khoản mà hiện tạ tiền bạc không có, thành ra chúng tôi đành chịu nấn ná ở lại đây với nhau, không tính đi đâu được. Cách không bao lâu, có tin báo rằng quan Toàn quyền Ðông Pháp sắp tới Quảng Ðông. Kế 1 tuần sau, thì các cơ quan hành sự của đảng ta đều bị khám xét và được lịnh giải tán. Tôi với yếu nhân của đảng là Mai quân (tức Mai Lão Bạng, 1 linh mục theo VN Phục Quốc Hội, chết năm 1942) cùng bị bắt hạ ngục. Nguyên trước, Hoàng quân Trọng Mậu (Hoàng Trọng Mậu) có việc đi Vân Nam và Phan quân Bá Ngọc (Phan Bá Ngọc) hồi xuống tàu đi Nhật Bản, đều căn dặn tôi nên liệu cơ mà từ giã Quảng Ðông kẻo nguỵ. Song tôi suy nghĩ các bạn đồng chí đang ở Quảng Ðông với mình vô số, mình không đành lòng nào lo riêng một mình. Vì đó mà tôi cứ do dự chần chờ, mới vương lấy tai ách bây giờ.

Ban đầu mới bị bắt, tôi vẫn tự nghĩ rằng mình không đến nỗi nào phải chết. Ðến lúc thấy cách thức người ta áp giải mình đi dọc đường, nào xiềng tay, nào trói chặt, dẫn vô tới gục thất, họ lại giam trong ngục thất chung 1 chỗ với bọn tù xử tử, bấy giờ tôi mới biết rằng Ðô đốc Long Tế Quang không đãi tôi là hạng tù chính trị, vậy thì ngày giờ tôi chết gần đến nơi rồi!

Từ khi xuất dương tới giờ, tôi được nếm mùi ở tù, lần này là lần thứ nhất. Nhưng Mai quân hơn tôi : lần này ông ta vào ngục là lần thứ 3 rồi. Vào ngục bữa đầu hết, tôi với Mai quân ở chung 1 sà lim. Ðêm hôm ấy, tôi đọc miệng 1 bài thơ an ủi Mai quân như vầy :
Phiêu bồng ngã bối các tha hương
Tân khổ thiên quân phận ngoại thường
Tính mạng kỷ hồi tần tử địa
Tu mi tam độ nhập linh dường
Kinh nhân sự nghiệp thiên đào chú
Bất thế phong vân đế* chủ trương
Giả sử tiền đồ tận di thản
Anh hùng hào kiệt giã dung thường

Ðại ý là :
Bơ vơ đất khách bác cùng tôi :
Riêng bác cay chua nếm đủ mùị
Tính mạng bao phen gần chết hụt.
Mày râu ba lượt bị giam rồi !
Trời toan đại dụng nên rèn chí,
Chúa* giúp thành công tất có hồi
Nếu phải đường đời bằng phẳng hết ,
An hùng hào kiệt có hơn aị


(* Vì Mai Lão Bạng là linh mục nên Phan Bội Châu mới có câu này).
Còn tôi thì tự an ủi mình bằng 1 bài thơ nôm như sau :
Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu,
Chạy mỏi chân thì hãy ở tù.
Ðã khách không nhà trong bốn biển,
Lại người có tội giữa năm châu
Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế,
Mở miệng cười tan cuộc oán thù.
Thân nọ vẫn còn, còn sự nghiệp,
Bao nhiều nguy hiểm sợ gì đâu

Làm xong 2 bài thơ, tôi ngâm nga lớn tiếng rồi cả cười, vang động cả 4 vách, hầu như không biết thân mình đang bị nhốt trong ngục.

*

Qua ngày thứ nhì, người ta nhốt riêng tôi và Mai quân mỗi người ở cách biệt nhau một nới. Thế là từ hôm nay, tôi là thằng tù bơ vơ trơ trọi ở chốn tha hương khách địa.
Những nỗi khổ nhục ở trong khám, cố nhiên mình chẳng nên xót xa than thở làm gì. Duy có 1 điều đau đớn là mình phải cách trở anh em, tuyệt hẳn tin tức, mà ở trong ngục chỉ có 1 mình nói tiếng VN cho mình nghe thôi, luống nghĩ tự buồn rầu cho thân phận, rồi lại chạnh niềm nhớ tới công việc thất bại, khiến tôi phải đau lòng mà khóc, nước mắt tầm tã như mưa. Thật là từ lúc cha mẹ đẻ tôi ra đến nay chưa hề lúc nào biết mùi đau đớn như bây giờ. Mà từ lúc cha mẹ đẻ ra, tôi chưa hề nếm mùi đau đớn như vầy, đầu giây mối nhợ là vì cái chí tôi hoài bão từ 30 năm trước.

Cái chí tôi hoài bão ra thế nào?

Thì chỉ muốn đổ máu ra mà mua sự tự do, đánh đổi cái kiếp tôi tớ lấy quyền tự chủ đó thôi. Ôi ! Cái chí tôi hoài bão như thế, cứ lấy thiên chức quốc dân ta mà nói, có ai dám bảo rằng : không nên. Song ôm cái chí đó mà có làm thành việc lớn chăng, thì phải nhờ có bắp thịt cứng ra thế nào, học thức giỏi ra thế nào, thủ đoạn có tài thao túng (cầm nắm và buông thả ra) ra thế nào, thời thế có khéo xoay chuyển thế nào mới được. Ðằng này tôi tự hỏi lấy tôi, bất quá như anh mù cỡi ngựa đui vậy thôị Bây giờ kết quả thất bại như thế này, chính vì tôi dở mà ra, con than trách gì nữa!

Tuy vậy, tôi nghĩ trong thế giới chẳng lẽ nào có 1 con nước hễ đã xuống rồi thì không bao giờ nó lại lên, chẳng lẽ nào có 1 cuộc đời hễ đã thành rồi thì không có lúc thay đổi; bởi vậy, cái cuộc thất bại của tôi tạo ra ngày nay, biết đâu không phải là cái phước cho quốc dân sau này?

Than ôi ! Dòng dõi Hùng vương chưa chết hết, chuyện cũ Lê hoàng còn mới hoài, phàm là quốc dân ta, ai hoài bão chí muốn như ta, tất có ngàn ta, muôn ta, ức triệu ta, nên lấy việc thất bại trước của một ta mà răn mình, để cho được trở nên những người năng y, không đợi tới 9 lần đứt tay mới hay thuốc!

Tôi lại nghĩ tôi là 1 người trong tay không có lấy 1 miếng sắt, trên mặt đất cũng không có lấy 1 chỗ nào đứng chân, chẳng qua mình chỉ là 1 thằng tay không chân trắng, sức yếu tài hèn, lại đòi vật lộn với hùm beo có nanh dài vuốt nhọn. Ai biết lòng mình thì than tiếc dùm mình mà nói:
Gan to!

Ai muốn bắt lỗi mình thì cả thể bảo mình :
Ngu quá !

Tóm lại, trong đời người thật không có ai ngu lạ như tôị Nếu có phải tính mạng của tôi đến ngày hôm nay là ngày cùng rồi, khi tôi chết, người ta cứ đặt tên hèn cho tôi là Kỳ Ngu thì đúng lắm, không đổi được chữ nào khác hơn. Nhưng nếu muôn một mà tôi không chết, thì rồi sau thấy beo cọp há lại không thể đánh được ư? Xin quốc dân ta nên xem gương mà tự răn lấy mình.

Lịch ta ngày 25 tháng Chạp năm Quý Sửu (1913).
Sào Nam tử viết tập "Ngục Trung Thư này ở nhà ngục Quảng Châu, sau khi vào ngục được 3 ngày.

http://www3.ttvnol.com/tacphamvanhoc/124546.ttvn
Đăng nhập để trả lời
0
Post #7
Học giả Đỗ Thông Minh




12 Tháng 8 2005 - Cập nhật 17h06 GMT


Có một Đông Du thứ hai?


(Cập nhật hàng tuần: sáng Chủ Nhật 14/08/2005)

Năm 1909, Phong trào Đông Du do nhà yêu nước Phan Bội Châu khởi xướng với ý tưởng đưa sinh viên sang Nhật Bản để học hỏi những điều tiên tiến của nước ngoài, dưới áp lực của thực dân Pháp, đã phải chấm dứt.

Chính bản thân cụ Phan Bội Châu cũng bị trục xuất khỏi Nhật.

Thế nhưng chỉ vài chục năm sau, người ta lại thấy dòng sinh viên Việt Nam quay trở lại Nhật Bản, không ngoài mục đích tiếp thu tri thức của một xã hội phát triển hơn Việt Nam để mang về phục vụ đất nước.

Liệu đã có một Đông Du đợt hai, đợt ba? Hai khách mời là cộng tác viên Đỗ Thông Minh từ Tokyo, người cũng từng là du học sinh và ông Nguyễn Đức Hòe, nay làm công việc gửi sinh viên sang Nhật học tập; cùng Tư duy Thế kỷ nói chuyện về con đường du học Nhật của người Việt Nam.


http://www.bbc.co.uk/vietnamese/programmes/story/2005/08/agendawk33_2005.shtml
Đăng nhập để trả lời
0
Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh
Vọng Ðông



Hai ông Phan, hai nhà đại cách mạng cùng thời, cùng nổi danh, cùng nuôi ý chí phục quốc, đã sống mãi trong lòng dân tộc Việt Nam:

Nhất Phan tử khứ, nhất Phan hoàn, ta tai tổ quốc
Thiên cổ văn chương, thiên cổ tâm sự, thùy vi tiên sinh?

(Một Phan đã mất, một Phan còn, thương thay tổ quốc
Muôn thuở văn chương, muôn thuở tâm sự, ai là tiên sinh?
Mai Đăng Đệ )


Trong cuộc đời hoạt động cứu nước, hai ông đã có nhiều cơ hội gặp nhau, ở quốc nội cũng như ở quốc ngoạị Song vì chính kiến khác biệt, hai ông chỉ là những kẻ đồng hành mà không là đồng chí .

Phan Bội Châu chủ trương tôn quân và bạo động, lập Duy Tân Hội, tôn Kỳ Ngoại Hầu Cường Để làm minh chủ. Trong tập "Tự Phán" ông nêu tôn chỉ của Hội như
sau:

"Chuyên đánh đổ chính phủ Pháp, khôi phục Việt
Nam, kiến thiết quân chủ lập hiến quốc".


Phan Bội Châu còn đề xướng phong trào Đông Du, vận động người trong nước xuất dương qua Trung Hoa, Nhật Bản du học để thâu nhận kiến thức mới của nước ngoài về giúp nước nhà, đồng thời mua vũ khí của Nhật để tiếp tay cho các cơ sở chống Pháp trong nước.

Phan Chu Trinh chủ trương đường lối ôn hòa, chú trọng việc giác ngộ quần chúng. Ông cho rằng ôn hòa thì tránh được cuộc đổ máu cho đồng bào, khi dân khôn
thì nước mạnh và ngoại bang tất bị loại trừ.

Trong cuộc đối thoại với viên Thống Đốc Pháp thẩm vấn ông tại nhà tù Côn Đảo (năm 1908), Phan Chu Trinh đã bày tỏ quan điểm bất đồng của ông và Phan Bội
Châu:

"Phan quân nhận hẳn rằng người Pháp không thiệt lòng khai hóa cho người Nam, nên trước phải tìm cách đánh đổ chánh phủ Pháp, mà muốn đánh đổ chánh phủ Pháp, không nhờ cậy thế lực một nước mạnh ngoài thì tự người Nam không làm gì được. Hiện nay nước mạnh, duy Nhật Bản là nước đồng văn, đồng chủng nên cầu viện với Nhật Bản. Tôi bác cái thuyết trên của Sào Nam, lấy lẽ rằng người nước Nam chui núp dưới chính thể chuyên chế trên ngàn năm, chưa có tư cách quốc dân độc lập, dầu có nhờ cậy sức nước ngoài thì chỉ diễn cái trò "dịch chủ tái nô" không có ích gì. Vả lại nước Pháp là một nước làm tiền đạo văn minh cả hoàn cầu, nay hiện bảo hộ cả nước ta, mình nhân đó mà học theo, chuyên dụng tâm về mặt khai trí , trị sanh các việc thực dụng, dân trí đã mở, trình độ một ngày một cao, tức là cái nền độc lập ngày sau ở đấỵ Còn theo chính kiến tôi "cậy sức nước ngoài" thì nó quanh co khúc chiết, mình không tự lập, ai cũng là kẻ cừu của mình. Triều Tiên, Đài Loan, cái gương rõ ràng, người Nhật chắc gì hơn người Pháp? Sào quân không nghe, cũng không nhận là phải, phủi áo ra đi, làm theo ý kiến mình".
(Theo THI TÙ TÙNG THOẠI - Huỳnh Thúc Kháng)


Xuất phát từ quan điểm đó, Phan Chu Trinh đã có chủ trương "Pháp Việt đề huề". Chủ trương này là một "sách lược quyền biến" trong đường lối hoạt động cách mạng của Phan Chu Trinh, khác sự hợp tác với người Pháp của Tôn Thọ Tường (mà Phan Chu Trinh, cũng như các ông Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt qua các bài thơ họa, đã từng chỉ trích), hay chủ trương của Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh khi làm tạp chí Nam Phong, Đông Dương Tạp Chí.

Khi Phan Bội Châu đề xướng phong trào Đông Du, Phan Chu Trinh đã hưởng ứng và xuất dương sang Trung Hoa, Nhật Bản. Năm 1906, ở hải ngoại về, ông khởi xướng công cuộc duy tân, đi diễn thuyết các nơi, nêu cao chủ thuyết "Dân Quyền". Vì có chủ trương ôn hòa, ông cho rằng có thể hợp tác với người Pháp, nếu họ thực tâm thực hiện những cải cách dân chủ cho Việt Nam. (Bình luận chủ trương này, có người cho Phan Chu Trinh đã nhận định sai lầm về người Pháp, vì thực dân không bao giờ thực lòng áp dụng chính sách tốt đẹp cho dân thuộc địa).

Như vậy, chủ trương của hai nhà chí sĩ họ Phan khác nhau từ căn bản. Trong tập "Tự Phán", Phan Bội Châu viết: "Ủng phù một vị minh chủ, kén chọn trong Hoàng thân lập ra ...". Phan Chu Trinh đã hỏi Phan Bội Châu: "Từ thế kỷ 19 về sau, các nước tranh nhau càng ngày càng dữ dội,tính mạng của một nước gởi trong một số người đông, chứ không thấy nước nào không có dân quyền mà khỏi mất nước bao giờ. Thế mà ngày nay lại còn định dựng cờ quân chủ lên hay sao?"

Phan Chu Trinh từng đi diễn thuyết nói về "Quân trị và Dân trị chủ nghĩa". Ông so sánh hai chủ nghĩa đó và cho rằng:

"Chủ nghĩa Dân trị hay hơn chủ nghĩa Quân trị nhiều lắm. Lấy theo ý riêng của một người hay là của một triều đình mà trị một nước, thì cái nước ấy không khác nào một đàn dê, được no ấm vui vẻ hay là phải đói rét khổ sở chỉ tùy theo lòng của người chăn. Còn như theo chủ nghĩa dân trị, thì tự quốc dân lập ra hiến pháp, luật lệ, đặt ra các cơ quan để lo việc chung cả nước, lòng quốc dân muốn thế nào thì làm thế ấỵ Dù không có người tài giỏi làm cho hay lắm, cũng không đến nỗi phải bị đè đầu khốn nạn làm tôi mọi cho một nhà, một họ nào ...".


Thời đó, sĩ phu Việt Nam còn ngưỡng mộ thành tích của các nhóm Văn Thân, Cần Vương, còn nặng lòng trung quân ái quốc, ít ai dám đưa ra một chủ trương mới mẻ và táo bạo như vậỵ Bài bác chủ nghĩa tôn quân, Phan Chu Trinh còn gởi thư chỉ trích vua Khải Định (thư Thất Điều) về chuyện đi dự cuộc đấu xảo quốc tế tại
Pháp năm 1922.

Quả thật, ông là một kẻ sĩ ngang tàng, khí phách, không biết sợ trời đất là gì. Lúc còn đi học, ông đã từng chống đối thầy dạy bất chính, khi ở tù Côn Đảo thì đánh lại cai tù, ở ngục Santé thì gởi thư cho thẩm phán quân sự Pháp với lời lẽ khẳng khái, bất khuất:

"Thằng Phan Chu Trinh thà chết thì nó xách cái đầu của nó, nó quăng xuống đất như chơi, nó chẳng chịu làm thân trâu ngựa cho người ta cỡi trên đầu, trên cổ nó đâu!".

Khi Phan Bội Châu viết tập "Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư", gồm 5 phần:


Nói về những điều sỉ nhục vì nước mất, quyền mất, thảm họa tương lai

Mở mang dân trí

Chấn động dân khí

Vun trồng nhân tài


Kỳ vọng ở những người làm quan, lấy những sự nghiệp bất hủ khuyên lơn họ được nhiều người xem là có giá trị về phương diện cổ động nhân sĩ và
giới cầm quyền có tâm huyết đem tài sức ra giúp
nước.

Phan Chu Trinh đọc sách này phê bình:

"Sào Nam là một người hào kiệt nóng lòng việc nước mà kiến thức thì chưa thoát khỏi khuôn sáo cũ chút nào".

Dù có khuynh hướng chủ trương khác nhau như vậy, hai ông vẫn tìm cơ hội gặp gỡ nhau. Trong tập "Tự Phán", Phan Bội Châu ghi:

"Ngày tháng 7 năm ấy, tôi mượn tiếng là đi mừng bảng Hội, bắt đầu ở nhà Tiểu La (Nguyễn Thành), thăm nhà cụ Hoàng Thạnh Bình (Huỳnh Thúc Kháng) vừa đụng cụ Tây Hồ (Phan Chu Trinh), cụ Trần Thái Xuyên (Trần Quý Cáp), thảy đều ở đó, nói chuyện suốt đêm rất vui .."

Mỗi lần gặp gỡ, trong tinh thần chung lo đại sự, Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh thường cùng nhau tranh biện sôi nổi. Qua tập giới thiệu tác phẩm "Giai Nhân Kỳ Ngộ" của Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng viết:

"Dịp đó hai người gặp nhau, nghị luận tuy có chỗ không hiệp nhau mà vẫn phục nhau, có cùng nhau bàn việc phế khoa cử, lập hội thương, trường học, song cũng chưa làm. Tháng chạp năm ấy (1904) ông Sào Nam vào Quảng Nam tới thăm tiên sinh (PCT) tại nhà rồi về đi Nhật Bản. Tiên sinh mới gặp ông Sào Nam, bác riết bài "Lưu Cầu Huyết Lệ", cho là không hiệp thời thế cuộc đời bây giờ, song ông Sào Nam lúc đầu đang nóng về chủ nghĩa bài ngoại, nên cũng không chịu phục".

Tuy vậy, khi đã tâm phục nhau, thì dù có khác chính kiến, hai ông vẫn kính trọng và cảm mến nhau. Lúc Phan Chu Trinh qua Hong Kong, Phan Bội Châu từ Nhật sang đón và ghi lại cuộc trùng phùng ở đó:

"Hạ tuần tháng hai, cụ Tây Hồ tới Hương Cảng, cụ cũng qua ngay thăm ông Lưu (Vĩnh Phúc), ông Nguyễn (Thiện Thuật), áo cụt, giày rách, đầu tóc bồm xồm, trông cụ như phường lao động nước ta, bởi vì cụ thay lốt làm một tên nấu bếp ở dưới tàu, mà cũng nhờ thủ đoạn ông Lý Tuệ chỉ lốị Cụ vào nhà Lưu, thấy chúng tôi, chưa chào đã cười, tôi dậy bắt tay cụ, vui không thể nói được ...".

Vẫn theo lời Phan Bội Châu, ra hải ngoại cũng như ở trong nước, Phan Chu Trinh vẫn xác định lập trường của ông:

"Cụ hết sức công kích những tội ác của dântộc độc phu (kẻ không ở với ai, ám chỉ nhà vua) mà nói đến hiện triều quân chủ, họa quốc ương dân càng tỏ ra ý nghiện răng rách mắt, hình như Cụ nghĩ rằng cái tệ quân chủ chuyên chế không trừ thì tuy phục quốc cũng chưa phải là hạnh phúc". (Tự Phán)

Khi đưa Phan Chu Trinh sang Nhật, Phan Bội Châu cũng xác nhận sự khác biệt giữa hai ông về khuynh hướng đấu tranh, dù Phan Chu Trinh vẫn công nhận công
trình Đông Du của Phan Bội Châu:

"Hồi tôi lên Đông Kinh, Cụ Tây Hồ cùng đi với tôi, thăm qua các học đường và khảo sát khắp những công việc chính trị giáo dục của Nhật Bản. Cụ bảo tôi rằng: Trình độ dân Nhật Bản như thế, mà trình độ dân ta như thế, không nô lệ sao được! Được bấy nhiêu học sinh vào nhà học Nhật Bản là sự nghiệp rất lớn của ông. Từ nay nên lưu Đông yên nghỉ, chăm việc làm sách, bất tất nói bài Pháp làm gì. Chỉ nên đề xướng dân quyền, dân đã biết có quyền thì việc khác có thể tính lần được.

Từ đó luôn mười ngày hơn, tôi với cụ bàn bạc, ý kiến rất trái nhau: cụ thì muốn đánh đổ quân chủ, mà cốt vun trồng lấy nền tảng dân quyền, hãy dựa vào Pháp mà đánh đổ quân chủ. Còn ý tôi thì trước muốn đánh đổ người Pháp, chờ lúc nước nhà độc lập rồi mới bàn đến việc khác. Đương lúc đánh với Pháp phải lợi dụng quân chủ.

Chính kiến của hai người rất phản đối nhau, cụ với tôi đồng một mục đích, mà thủ đoạn thì khác nhaụ Cụ thì muốn dựa Pháp đánh đổ quân quyền mà tôi thì bài Pháp phục Việt, mâu thuẫn là thế. Tuy chính kiến vẫn trái nhau, mà ý kiến rất ưa nhau"
(Tự Phán)

Mặc dầu có quan điểm chính trị khác nhau như vậy, Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh không hoàn toàn tách biệt nhau trong cuộc đời hoạt động. Nhân dịp ra hải
ngoại, có lúc hai ông đã phân công cho nhau:

"Xem dân trí Nhật Bản rồi đem dân trí ta ra so sánh, thật không khác gì muốn đem con gà con đọ với con chim cắt già. Giờ Bác ở đây, nên chuyên tâm ra sức vào việc văn, thức tỉnh đồng bào cho khỏi tai điếc, mắt đui, còn việc mở mang dìu dắt ở trong nước nhà thì tôi xin lãnh. Lưỡi tôi đang còn, người Pháp chẳng làm gì tôi được mà lọ"
(Ngục Trung Thư - Phan Bội Châu)


Phan Chu Trinh từng coi trọng Phan Bội Châu và cố gắng thuyết phục Phan Bội Châu từ bỏ chủ trương tôn quân, với niềm hòa nhã:

"Ông hết sức trân trọng, Quốc dân hy vọng chỉ nơi mình ông, Kỳ Ngoại Hầu (Cường Để) không cần gì đâu".

Phan Bội Châu nhận chịu lời khuyên đó, nhưng chỉ tán đồng về công cuộc duy tân của nhóm Phan Chu Trinh:

"Tôi kính vâng lời đinh ninh tái hội và cậy nói với các ngài như cụ Thạnh Bình, Thái Xuyên, Tập Xuyên hết sức mở trí dân, kiết tập đoàn thể sẽ làm hậu thuẫn."
(Tự Phán)

Về phần Phan Chu Trinh, ông cũng thừa nhận phong trào Đông Du của Phan Bội Châu có nhiều ảnh hưởng tốt đẹp đối với công cuộc phục hưng xứ sở và ông tin
rằng với vận hội mới Phan Bội Châu sẽ đi theo con đường Dân quyền và đạp đổ Quân quyền.

Thực ra, không phải Phan Bội Châu cố giữ lập trường bảo thủ về tôn quân, ông cũng tin rằng chế độ dân chủ là tốt đẹp, song nghĩ rằng vận mệnh nước nhà còn nằm trong tay thực dân, dân trí còn thấp kém, chưa đến lúc áp dụng đường lối mới mẻ. Trong một bức thư gởi Phan Chu Trinh, ông viết:

"Gần đây được tin đại huynh cùng các anh em đồng chí với những nghị luận ý chí mới mẻ, tẩy trừ những não cổ hủ để hấp dẫn tư tưởng mới, làm cho tinh thần tôi vô cùng dũng dược ... Nhưng than ôi! Trình độ nhân dân Việt Nam hiện còn ấu trĩ như răng chưa cứng, chân chưa mạnh, nếu sử dụng thì sao đang nổi. Nhân dân Việt Nam ta so với Tây Âu hãy còn kém họ xa lắm, như người còn đau, đang đâu nổi gánh nặng. Nhân dân ngu muội đói khổ, nay mình đem những lý luận cao siêu mà áp dụng không sao tránh khỏi những việc lảo đảo ngả nghiêng.

Nay đem ra một lý thuyết mà người ta chưa biết đầu đuôi, rõ phía Nam, phía Bắc ... Rồi sẽ vì ý kiến xung đột, hành động mâu thuẫn nhaụ Thù ngoài chưa diệt, nội bộ chống nhaụ Ôi dân chủ, Dân không còn nữa thì chủ vào đâủ Lúc bấy giờ, nếu Đại Huynh có bầu nhiệt huyết cũng không còn chỗ thi thố nữa ...

Vậy tôi đề nghị với Đại Huynh với tình trạng nước ta, hãy chờ ít lâu nữa, Đại Huynh xướng thuyết Dân Chủ thì cử quốc đồng bào nhiệt liệt hưởng ứng, trong đó có tôị"
(Tự Phán)


Quả nhiên về sau, khi lập tổ chức mới - Việt Nam Quang Phục Hội - ở Quảng Châu, Phan Bội Châu đã thay đổi lập trường, từ bỏ quan niệm quân chủ và hứa hẹn
sẽ lập nước cộng hòa.

Sở dĩ hai ông Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh không có những hành động quá khích vì tư tưởng chống đối nhau mà đi đến chia rẽ trầm trọng, cũng nhờ có những phần tử trung gian vì đại cuộc tìm cách đưa hai người xích lại gần nhaụ Đó là các ông Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can ...

Ông Trần Quý Cáp vừa hoạt động cho nhóm Đông Du, vừa hoạt động trong nhóm Duy Tân. Ông Lương Văn Can từng nói: "Theo ý tôi, ngoại viện (chủ trương Phan Bội Châu) và tự cường (chủ trương Phan Chu Trinh) phải đồng thời tiến hành với nhau mới được".

Do đó, hai phái ôn hòa và bạo động vẫn ngầm giúp nhau. Hồi đó tinh thần đảng phái ít hơn ngày nay, có thể nói là gần như hoàn toàn không có". (Đông Kinh
Nghĩa Thục - Nguyễn Hiến Lê)

Và cứ vậy, hai phong trào cách mạng của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh chẳng khác gì hai bánh xe cùng chạy trên hai đường sắt song song, cùng có nhiệm vụ đưa
những toa tàu đến ga cuối cùng, đó là mục đích tối hậu của công cuộc giải phóng đất nước.

Chẳng may, khi sự nghiệp chưa thành, một con chim ưu tú trong đàn chim Việt đã sớm gãy cánh. Ngày 24-3-1926, Phan Chu Trinh tạ thế. Đó là cái tang chung của
toàn thể dân Việt. Nhiều nhân sĩ, đoàn thể đã dự đám tang Phan Chu Trinh ở Sài Gòn, với rất nhiều đối trướng và điếu văn. Ý nghĩa nhất là những câu đối:

Vị quốc vong gia trấp tải bôn ba thiên địa ải
Đỉnh thân cứu thế nhất xoang tâm huyết quỉ thần kinh
Nhóm PHỤ NỮ VIỆT NAM


(Theo nước bỏ nhà, hai chục năm bôn đào, trời đất hẹp
Liều thân cứu thế, một bầu sôi máu nóng, quỉ thần e)

Thiên hạ quy chi tổ chức dân đoàn suy đại lão
Tiên sinh khứ hỉ đả phiên đế chế thị thùy nhân?
ĐÔNG PHÁP THỜI BÁO

(Thiên hạ theo chân, xây dựng dân đoàn tay già giặn
Tiên sinh vắng bóng, đập tan đế chế kẻ nào đây?)


Riêng câu đối viếng của Phan Bội Châu, sâu nặng tâm tình:

Thương hải vi điền Tinh Vệ hàm thạch
Chung Kỳ ký một Bá Nha đoạn huyền

(Biển biếc nên đồng, Tinh Vệ ngậm đá
Chung Kỳ khuất bóng, Bá Nha đập đàn)




Đến phút cuối cùng, vĩnh biệt người bạn đồng hành trên đường cách mạng, Phan Bội Châu đã xem Phan Chu Trinh là người tri kỷ, chẳng khác Bá Nha, Tử Kỳ ở Trung Quốc thời xưạ Hơn ai hết, ông hiểu rõ tính tình, tiết tháo của người chí sĩ cùng thờị Câu "Chung
Kỳ ký một, Bá Nha đoạn huyền" là những giọt nước mắt thống thiết và đau đớn nhất, khóc một người bạn mà ông cảm mến và tâm phục nhất, trong cuộc đời bôn ba vì nước của ông.

Tấm lòng thiết tha chân thành và ngưỡng mộ của ông đối với Phan Chu Trinh còn được bày tỏ qua bài văn tế:



Nhớ ông xưa ...
Gan to tày bể, sức xông pha nào kể sức muôn người
Mắt sáng hơn đèn, tài lanh lợi từ khi năm bảy tuổi
Vận nước gặp cơn dâu bể, đeo vai thân sĩ, còn lòng đâu mà áo mũ xuê xoang
Thói nhà chăm việc bút nghiên, dấu mặt anh hùng, khi tạm cũng khoa trường theo đuổi
Song le
Khí vẫn chanh vanh
Chí càng viễn đại ...
Đội tiên phong đâu tá? Gió duy tân từ Đông hải thổi vào
Gương ngoại quốc kia là? Sóng cách mạng bởi Á Châu dồn tới ...
Ba tấc lưỡi, nào gươm nào súng, nhà cầm quyền trong gió đã gai ghê
Một ngòi lông, vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ treo đèn thêm sáng chói ...
Mưa dào gió rét, xui khách lưu ly
Biển thẳm trời xa, xót ông chìm nổi ...
Tiệc hoan nghênh mới đó, não nùng rượu chửa pha mùi
Hội truy điệu liền đây, thấp thoáng hương đà bén khói
Anh em ta đất rẽ đôi đường, tình chung một khối ...


Xét quá trình hoạt động cách mạng của hai chí sĩ họ Phan, ta nhận thấy hai ông đã có chính kiến khác hẳn nhau, đưa đến những cuộc tranh cãi gay gắt, chống đối nhau kịch liệt. Tuy nhiên, vì đại nghĩa, họ vẫn luôn luôn xem nhau là bạn, hiểu thấu gan ruột nhau, kính phục nhau, chỉ dùng thư từ, lời lẽ phân biệt phải trái và khuyên nhaụ Cho nên, có khi người này chịu nhận sự thuyết phục của người kia, trong một số trường hợp. Chẳng hạn Phan Bội Châu tán đồng công cuộc duy tân của Phan Chu Trinh và Phan Chu Trinh cũng đã hưởng ứng phong trào Đông du của Phan Bội Châu và họ đã từng hỗ trợ nhau trong sự nghiệp cứu quốc. Đó là hành động chính trực của các nhà chí sĩ đương thời, đáng nêu gương cho hậu thế noi theo.


http://vietsciences.free.fr/vietnam/danhnhan/anhhung/phanboichauphanchutrinh.htm


Đăng nhập để trả lời
0
TÌM HIỂU PHONG TRÀO ĐÔNG DU

Song song với việc tìm kiếm và phát hành tài liệu, nói chuyện hơn 20 buổi nói chuyện trực tiếp hay qua diễn đàn Paltalk của chúng tôi và các thân hữu trong gần 1 năm qua, khắp nơi cũng đã có những hình thức sinh hoạt tìm hiểu về chuyện nàỵ

Ngày 28/7/2005, trang nhà đài BBC, trong mục “Nghe Các Tạp Chí” đã đăng bài “Học Lại Phan Bội Châu Và Phong Trào Đông Du”. Một mục đặc biệt khác rất dài về Phong Trào Đông Du và cụ Phan Bội Châu cũng đã được đưa lên, dựa trên các bài viết và nhiều hình ảnh do chúng tôi và các thân hữu cung cấp.

Đài BBC cũng đã thực hiện một loạt phỏng vấn, đầu tiên với Giáo Sư Chương Thâu, tác giả bộ sách Phan Bội Châu Toàn Tập, được phát làm hai lần ngày 31/7 và 3/8. Theo ông Chương Thâu, cụ Phan là một người yêu nước lớn và nhà văn hóa lớn. Việc lập Duy Tân Hội năm 1904 chính là một hình thức đảng sơ khai, bắt đầu có đường lối rõ ràng, khác với tinh thần tụ nghĩa, uống máu ăn thề kiểu anh hùng “Lương Sơn Bạc” của Phong Trào Văn Thân, Cần Vương trước đó. Việc lập Việt Nam Quang Phục Hội năm 1911, với ý định kiến lập một nước Việt Nam Cộng Hòa Dân Quốc, cho thấy mục tiêu giành độc lập và thoát khỏi phong kiến tiến tới dân chủ của cụ. Chính cụ đã để lại di sản tinh thần, cán bộ và cơ sở tại Quảng Đông, Quảng Tây, Hàng Châu, Nam Kinh và Thái Lan mà ông Hồ đã phần nào kế thừa. Nhưng trong suốt thời gian qua, nhiều nhà cầm quyền V N đã coi nhẹ tư tưởng Phan Bội Châu. Chắt của cụ Phan là con một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa nên cũng từng bị đối xử phân biệt, sau mới được người có lòng tốt can thiệp để có thể vào đại học. Tiêu đề Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc ở Việt Nam hiện nay là những tư tưởng Tam Dân của Tôn Văn. Năm 2006, tại Việt Nam sẽ tổ chức tưởng niệm 160 năm sinh Tôn Văn và 100 năm chủ thuyết Tam Dân. Cũng theo ông Chương Thâu, ông Hồ Chí Minh không nhận mình là nhà tư tưởng lớn, nhà thơ, nhà văn lớn... Ông Nguyễn Giang, Trưởng Ban Việt Ngữ đài BBC đã đặt câu hỏi: ”Phải chăng đảng Cộng Sản Việt Nam đã theo chủ nghĩa Mác xít cả 100 năm rồi và nay họ không còn thấy hấp dẫn bởi chủ nghĩa đó nữa, lại tìm đường quay về với Dân Chủ, Tư Sản? ”.

Đầu tháng 8/2005, đài BBC cũng đã phỏng vấn ông Phan Thiệu Cơ, Thày Triệt Học Trần Đức Giang... về Phong Trào Đông Du và cụ Phan Bội Châu, Hiệu Trường Nguyễn Đức Hòe trường Nhật Ngữ Đông Du và Đỗ Thông Minh về việc du học sinh Việt Nam ở Nhật.

Ngày 30/7/2005, ông Vũ Bá Trung, Phó Giám Đốc Chương Trình Quốc Tế và chuyên viên thu hình Phan Tô Hoài của đài truyền hình Sài Gòn cũng đã bay qua Nhật 1 tuần để làm phóng sự về Phong Trào Đông Du& phỏng vấn Giáo Sư Masaya Araishi &Giáo Sư Masaya Shiraishi, Trưởng Khoa Á Châu Thái Bình Dương của Đại Học Waseda, Giáo Sư Akoi Imai, Đại Học Ngoại Ngữ Tokyo& cũng qua Việt Nam dự hội thảo về Phong Trào Đông Du vào tháng 10 ở Huế và tháng 11 ở Hà Nội&

Trong hơn 50 năm qua, đã có liên tiếp các thế hệ người Nhật nghiên cứu về Phong Trào Đông Du như các Giáo Sư Tasuro Mayamoto, Kawamoto, Shiraishi, Furotamoto, Shima, Momoki...

Nhiều tài liệu cùng hình ảnh đã được giới thiệu trên trang nhà của đài BBC.

Cho tới nay, các tin tức liên hệ đã được loan tải trên các đài BBC, RFA, SBS, Little Saigon Radio, Radio Bolsa, Truyền Thanh - Truyền Hình Hải Ngoại, VA TV Wạ DC, Hawaii TV, đài VOV, đài Quê Hương (San Jose), đài Việt Nam Dallas (TX), đài Chân Trời Mới, nhật báo Người Việt, tuần báo Việt Tide, tuần báo Mõ, tuần báo Thằng Mõ, tuần báo Tin Việt News, tuần báo Phố Nhỏ, bán nguyệt san Văn Nghệ Tiền Phong, đài truyền hình 24/24 SBTN, các diễn đàn tin tức trên Liên Mạng...

9 YẾU TỐ KẾT TINH THÀNH TIẾNG VIỆT.

Huyền diệu thay, có 9 yếu tố đã kết tinh thành Tiếng Việt theo thế 3 chân vạc, mỗi chân vạc là 1 trụ, mỗi trụ là 1 kiềng 3 chân.

3 trụ đó là tiếng nói, giọng nói và chữ viết.

- Trụ thứ 1, tiếng nói: Tiếng Nôm (người), Hán-Việt (nhân), Âu-Mỹ (va-li, phim).

- Trụ thứ 2, giọng nói: Bắc (mẹ) - Trung (mệ) - Nam (má).

- Trụ thứ 3, chữ viết: Hán - Nôm - La Tinh (a, b, c).

Vạc hay kiềng đều có 3 chân, ở đây mình có đủ cả vạc và kiềng. Với sổ điểm hay chân ít nhất nhưng tao nên 1 mặt phẳng, nên với số chân ít nhất mà dễ dàng tạo thế vững vàng nhất. Thế chân vạc là 3 trụ, mà mỗi trụ là 1 kiềng.

Đây là 1 biểu đồ ngôn ngữ thật cân xứng, thật đẹp của tiếng nước mình.



ĐÀI NHK QUAY PHIM Nhật-Việt “BÀ MẸ ĐÃ ĐẾN”.

Ngày 22 và 23/6 vừa qua, bà Uchida thuộc đài NHK đã đến văn phòng chúng tôi nhờ tìm hộ một phụ nữ Việt nhìn dáng vẻ khoảng 21 tuổi, khỏe mạnh, vui tươi, biết đọc và nói tiếng Nhật ở mức độ trung bình, có kinh nghiệm đóng phim càng tốt, không có cũng không sao.

Phim mang tựa đề là “Kachan Ga Kita” (Bà Mẹ Đã Đến), dài khoảng 43 phút, theo cốt truyện đã được trúng giải tối ưu tú của đài NHK. Phim sẽ được đóng tại Nhật, bối cảnh là tỉnh Yamagata (nơi đã đóng phim Oshin) và dự trù chiếu trên TV toàn quốc vào tháng 3/2006.

Cô Bùi Thị Huyền, một người qua Nhật học về ngành y tá năm 1999 và đang làm việc tại đây, sẽ đóng vai cô dâu “Linh” lấy chồng người Nhật đã góa vợ, sống bằng nghề trồng dưa hấu. Vai chính là cậu con trai 9 tuổi tên Ryota, có một em trai 7 tuổi. Thời gian đóng phim vào giữa tháng 8, và kéo dài trong khoảng 12 ngày.

Ngày 7/8, đài NHK đã đưa cả “đại gia đình cô Linh” 10 người, gồm cô Bùi Thị Huyền, chúng tôi và 8 người Việt đang cư ngụ tại tỉnh Kanagawa tới quận Aoba, thị trấn Jike chụp hình ngay giữa ruộng, coi đây như những bức hình kỷ niệm gia đình mà cô “Linh” đem đi khi theo chồng về Nhật. Thế là tự nhiên chúng tôi biến thành ”nông dân” trong một thoáng!

Trước đây đài NHK đã cùng phía Việt Nam thực hiện phim “Thương Nhớ Đồng Quê”.

NGƯỜI NHẬT ĐI TU NGHIỆP LỚP SƯ PHẠM VIỆT

Hàng năm, Ban Đại Diện các trung tâm Việt Ngữ Nam Cali (gồm khoảng 80 trung tâm, 15.000 em học tiếng Việt) đều có mở khóa tu nghiệp sư phạm cho các giáo viên ở Bắc Mỹ, thường quy tụ khoảng từ 200 đến 300 ngườị Năm 2003, tôi cũng đã có dịp đến nói chuyện về tiếng Việt với các Giáo Viên tại đâỵ

Khóa học tổ chức vào ngày 12-14/8/2005, đặc biệt có chị Natsuki Kitayama (Bắc Sơn Hạ Mộc) và Kayoko Takahashi (Cao Kiều Gia Đại Tử) là hai người Nhật 100%, đã từ Osaka, Kobe bay qua dự. Chị Natsuki Kitayama đang học khóa trình Tiến Sĩ Giáo Dục, chị đang tình nguyện phụ trách lớp dạy trẻ Việt học tiếng Việt tại Kobe. Năm 2004, chị đã qua Hoa Kỳ, tu nghiệp về Anh Văn tại San Diego, dịp này chị cũng đã phụ trách lớp dạy trẻ Việt học tiếng Việt tại trung tâm Lạc Việt, trả lời phỏng vấn của nhật báo Người Việt...

NGƯỜI VIỆT ĐẦU TIÊN ỞÏ NHẬT LÀ AI?

Theo sử sách xưa, người Việt đầu tiên tới Nhật là một vị sư đi tham dự lễ lạc thành (khai mạc) tượng Phật ở chùa Todaiji (Đông Đại Tự) ở cố đô Nara (Nại Lương) vào năm 752.

Tuy nhiên, có lẽ công chúa Nguyễn Thị Ngọc Hoa, còn có tên là Vương Gia Cửu mới là người Việt đầu tiên đến định cư ở Nhật Bản. Bà đã được Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả cho một thương nhân rất giàu có kiêm thuyền trưởng Nhật Bản tên Sotaro Araki (Hoang Mộc Tôn Thái Lang) đến Việt Nam vào thập niên 10 đầu thế kỷ 17, để buôn bán tại Phố Hiến thuộc Hải Phòng và Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Dưới thời Hậu Lê, Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn phân tranh, giặc giã khắp nơi. Trước đó, Nguyễn Kim nổi lên định chiếm lĩnh một vùng thì bị diệt. Năm 1599, Trịnh Tùng (1570-1620) lên ngôi Chúa, con Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng (1600-1613) thấy anh là Nguyễn Uông đã bị giết nên sợ, xin Chúa Trịnh vào Nam khai khẩn (khi đó mới có tới miền Trung). Rồi kế đến Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), muốn lập một cõi riêng, để xây dựng cơ sở, mộ quân, chế tạo binh khí... thấy không gì hơn là mở cảng để giao thương và thu thuế nên đã lập ra cảng Hội An, là giao điểm buôn bán Đông-Tây của con đường “Tơ Lụa Trên Biển”.

Ông Sotaro Araki đến Việt Nam, với giấy phép của Sứ Quân ghi “Độ Nhật Bản Đáo Giao Chỉ Quốc” tức Đi Từ Nhật Bản Đến Nước Giao Chỉ. Ông được yết kiến Chúa Nguyễn, nguyện phục tùng dưới trướng, được Chúa cho gia nhập hoàng tộc với tên Nguyễn Thái Lang và hiệu là Nguyễn Hùng. Sau ông đi lại Việt Nam nhiều lần và được Chúa Nguyễn thương gã con gái cho năm 1619.

Ngay sau đó bà Ngọc Hoa theo chồng về Nagasaki (Trường Kỳ) sinh sống, bằng tên Nhật rất ưu ái là Anio (Vương Tử). Ông Sotaro Araki mất ngày 7/11/1636, bà mất năm 1645, ngẫu nhiên cùng một ngày với chồng. Hai người có một con gái, đặt tên là Yasu (Gia Tu). Không có ghi nhận chi tiết từ khi qua Nhật cho đến khi mất, bà không về Việt nam lần nào? Bia mộ chung vợ chồng bà tại chùa Đại Âm Tự (Daionji).Viện bảo tàng Nghệ Thuật Nagasaki vẫn còn lưu trữ chiếc gương soi của bà Ngọc Hoa, các hình vẽ và tài liệu về ông Sotaro Araki.

Một số sử liệu thời Hoằng Định của Nhật Bản, hay cuốn “Những Samurai Của Biển” (Umi No Samuraitachi) do Ichiro Shiaishi (Bạch Thạch Nhất Lang) viết và đài NHK phát hành, có ghi chép về cuộc hôn nhân Nhật-Việt này. Nay lưu lại ở Hội Hữu Nghị Nagasaki-Việt Nam (Nagasaki-Vietnam Yuko Kyokai) một sự kiện: Đặc biệt, 7 năm 1 lần, vào năm & 1999, 2006&, từ ngày 7 đến 9 tháng 10, trong lễ hội ở Nagasaki có phần rước Chu Ấn Thuyền (Nhật Bản) với hai em bé đóng vai Sotaro Araki và Anio và ca vũ rất long trọng. Dịp này, hội Hữu Nghị Nagasaki-Việt Nam thường mời các nghệ sĩ Việt Nam qua trình diễn.

Năm 1995, đài truyền hình CV21 của Nhật Bản đã phối hợp với đài truyền hình Sài Gòn Việt Nam (HTV) thực hiện tập phim tài liệu “Thời Gian Vĩnh Cửu”, ghi lại mối tình hy hữu Việt-Nhật cách nay gần 400 năm này.

MI HUYỀN MÌ... LÊN KHÔNG GIAN

Bàn về tên các món ăn Nhật, nói chung các món ăn đơn sơ thì tên gọi cũng đơn sơ, giản dị như vậy. Không như người Hoa thích chọn những tên thật kêu, nghe thấy thèm. Người Nhật dùng gạo là chính, nhưng họ cũng rất thích mì, khắp phố, chỗ nào cũng có tiệm mì, thông dụng hơn cá sống nhiều. Chính vì thế mà họ sáng chế ra mì gói và mì ly, mì tô ăn liền. Mì gốc từ Trung Hoa nhưng nấu theo kiểu Nhật, trong nồi xúp có cả cá và rong biển, thường còn bỏ thêm giá chín hay ngô (bắp)... Trong một tiệm mì, thấy các món như “shio ramen” (diêm lạp miến: mì muối, ramen làm bằng tiểu mạch và trứng), “miso ramen” (vị khoát lạp miến: mì tương) “moyashi ramen” (manh lạp miến: mì giá), “wakame ramen” (nhược bố lạp miến: mì rong biển), “negi ramen” (thông lạp miến: mì hành), “soba” (kiều mạch: mì, làm bằng kiều mạch, tiểu mạch, củ mài), “kitsune soba” (hồ kiều mạch: mì đậu phụ), “tenpura soba” (thiên phụ la kiều mạch: mì rau lăn bột), “tamago soba” (noãn kiều mạch: mì trứng sống)...

Tháng 7/2005, mì đặc chế gọi là “mì vũ trụ”, đã vinh dự theo chân phi hành gia Nhật là ông Soichi Noguchi (Dã Khẩu Thông Nhất) đáp phi thuyền Discovery lên không gian. Mì vũ trụ tất nhiên khác mì thường, khác ở chỗ phải làm sao để có thể cho nước vào ăn trong điều kiện vô trọng lực. Mì này không thể là một sợi thật dài, cũng không được biến dạng rã ra khi ngâm trong nước như mì thường, tức phải vẫn còn nguyên khối nhỏ vừa miệng ăn... Theo ông Noguchi thì mì này ngon như mì ăn trên mặt đất. Ngoài ra còn có các món Nhật như cơm ca-ry, yokan (bánh thạch gồm thạch trắng với trái cây hay hạt đậu và đường rất thong dụng ở Nhật), chocolate.

Người Nhật không thiếu gạo nhưng thiếu mì trầm trọng, nên phải nhật cảng đến 98%, thống kê năm 2002 là khoảng 5,86 triệu tấn từ Gia Nã Đại, Hoa Kỳ, và Úc.

Đỗ Thông Minh.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=32358&z=54
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»