Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Đạo Phật Áp Dụng Vào Đời Sống Hằng Ngày

5 trả lời, 2.717 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-11-13 05:42:36Sao Việt>
ĐẠO PHẬT ÁP DỤNG VÀO ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY.

Tác giả : Thích Huyền Quang và Thích Nhất Hạnh.
Chủ đề : Phật Học
Xuất bản : Cương lĩnh giáo lý nhập thể của Phật giáo Việt Nam hiện đại, Viên Hóa Đạo xuất bản lần thứ nhất - 1973.

LỜI MỞ ĐẦU.

Sách này được viết ra nhằm mục đích đỡ bớt đôi phần mệt nhọc cho quý giảng sư và cán bộ văn hóa xã hội của Giáo hội Phật giáo. Chúng tôi đã y cứ vào huấn chỉ của quý vị lãnh đạo hai viện Tăng Thống và Hóa Đạo để diễn giải cương lĩnh của nền Phật học nhập thế hiện đại.
Cố nhiên dù có thiện chí đến đâu đi nữa chúng tôi vẫn còn mắc phải nhiều thiếu sót sai lầm. Kinh mong quý vị, trong khi sử dụng sách, bổ túc những thiếu sót và sai lầm đó cho, chúng tôi rất cảm tạ. Nếu được quý vị gửi cho những lời chỉ giáo, chúng tôi sẽ có thể làm cho sách thêm hoàn hảo trong ấn bản thứ hai.

Giáo lý đạo Phật là giáo lý khế cơ và sách này không phải là sách của muôn thời. Trong khoảng mười năm, cuốn sách này sẽ thay trải qua nhiều thử thách, thay đổi và chắc hẳn cương lĩnh giáo lý nhập thế sẽ được trình bày dưới một hình thức thích hợp hơn nữa, và các bậc cao minh trong Phật học giới sẽ cống hiến quần chúng những tác phẩm có giá trị lớn lao về lượng cũng như về phẩm. Riêng chúng tôi, nếu cuốn sách này giúp đỡ quý giảng sư và quý vị cán bộ Giáo Hội được muôn một nào thì đó là một phần thưởng vô cùng quý giá rồi. Chúng tôi rất mong được nghe lời phê bình xây dựng xuất phát từ kinh nghiệm của Quý vị trong lúc trực tiếp làm Phật sự. Xin gửi thư cho chúng tôi về chùa Ấn Quang. Xin cảm ơn quý vị.

Thích Huyền Quang và Thích Nhất Hạnh.

Chương 1 : Đạo Phật Và Sự Sống.
Chương 2 : Xây Dựng Bản Thân.
Chương 3 : Xây Dựng Gia Đình.
Chương 4 : Xây Dựng Xóm Làng (hay khu phố).
Chương 5 : Xây Dựng Giáo Hội.
Chương 6 : Xây Dựng Quốc Gia.
Chương 7 : Xây Dựng Thế Giới.

CHƯƠNG 1 : ĐẠO PHẬT VÀ SỰ SỐNG.

Đạo Phật Việt Nam Trong Quá Khứ.

Đạo Phật Việt Nam trong quá khứ đã góp phần xây dựng con người và xã hội Việt nam. Đạo Phật được đưa vào nước ta vào khoảng cuối thế kỷ thứ hai do những vị tăng sĩ và những thương gia Ấn Độ và Trung Á tới Việt Nam bằng đường biển Ấn Độ Dương. Từ đấy tới cuối thế kỷ thứ sáu các vị tăng sĩ và thương gia này liên tục tới Việt Nam. Và cộng tác với họ, dân ta đã dựng chùa, xây tháp, thờ Phật và đọc kinh. Các kinh điển thời đó hoặc bằng tiếng Sanskirt hoặc là bằng chữ Hán do những tăng sĩ Ấn Độ dịch ra với sự cộng tác của những người Việt giỏi Hán tự. Vào cuối thế kỷ thứ sáu, ở thủ đô Luy Lâu của nước ta đã có hai mươi ngôi chùa, hơn năm trưm vị tăng sĩ và mười lăm bộ kinh đã được phiên dịch và lưu hành. Nước ta hồi ấy là một trung tâm Phật Giáo, từ đó đạo Phật được truyền qua Trung Hoa. Các tăng sĩ từ Ấn Độ sang thường lưu trú tạo Giao Châu để hoằng hoá một thời gian trước khi đi Trung Quốc. Từ đó tu sĩ Trung Quốc trên đường hành hương Ấn Độ cũng thường ghé lưu trú tại Giao Châu.

Cuối thế kỷ thứ sáu, một vị tăng sĩ Ấn Độ tên Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) sau khi vân du Trung Hoa, tới kinh đô Luy Lâu ở lại chùa Pháp Vân và thành lập phái Thiền Tông đầu tiên tại nước ta gọi là phái TỲ NI ĐA LƯU CHI. Vào đầu thế kỷ thứ chín, một vị thiền sư Trung Hoa tên là Vô Ngôn Thông sang nước ta, trú tại chùa Kiến Sơ và thành lập phái Thiền Tông thứ hai tại nước ta gọi là phái VÔ NGÔN THÔNG. Giữa thế kỷ thứ mười một cùng với Tháo Đường Thiền Sư, vua Lý Thánh Tông thành lập một phái Thiền Tông thứ ba gọi là phái THẢO ĐƯỜNG. Vào thế kỷ thứ mười ba, vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia, lập một phái thiền tông thứ tư nữa gọi là phái TRÚC LÂM YÊN TỬ.

Các phái Thiên Tông này đã đóng góp rất nhiều trong công trình xây dựng nền độc lập chính trị và văn hoá của nước ta. Phái TỲ NI ĐA LƯU CHI đã hổ trợ đắc lực cho các triều đại độc lập đầu tiên ở Việt Nam là triều đại Đinh, Tiền Lê và Lý. Pháp Thuận Thiền Sư và Vạn Hạnh Thiền Sư là những vị cao tăng của phái này đã từng làm cố vấn văn hoá, chính trị và quân sự cho các triều đình Việt Nam và đem thế lực Phật giáo hỗ trợ cho việc xây dựng quốc gia. Khuông Việt Thiền Sư của phái VÔ NGÔN THÔNG cũng đã phụ tá đắc lực cho vua Đinh Tiên Hoàng trong việc dựng nước. Đạo Phật đã xây dựng cho đời Lý những triều đình có kỷ cương, có văn hoá, có pháp chế. Kỷ cương, văn hoá và pháp chế này đã được xây dựng trên tinh thần Từ Bi và Khoan Dung. Triều Lý có thể gọi là triều đình Từ Bi và Khoan Dung nhất trong lịch sử Việt Nam, và điều đó là công của đạo Phật. Phái TRÚC LÂM YÊN TỬ ra đời tại Việt nam vào đầu triều Trần, là một phái thiền Việt Nam hợp nhất các truyền thống thiền đã có từ trước. Những nhà lãnh đạo của phái TRÚC LÂM như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ. Điều Ngự Giác Hoàng, Pháp Loa Đại Sư và Huyền Quang Đại Sư... đã đóng góp rất nhiều cho nền học thuật, tư tưởng và văn hoá Việt Nam. Phật Giáo triều Trần tiếp nối Phật Giáo triều Lý, đã giúp đỡ phát huy Nho Giáo và sử dụng triết học hành động chính trị của Nho Giáo trong tinh thần vị tha va cởi mở của Phật Giáo. Do đó cho nên Phật Giáo, Nho Giáo và Lão Giáo đã được hoà đồng một cách rất tốt đẹp trong những thời đại hưng thịnh ấy của đất nước Việt Nam. Đạo Phật đã đóng vai trò điều hợp và hoá giải giữa các thế lực tranh chấp, góp phần xây dựng tinh thần dân tộc, bảo vệ nền độc lập quốc gia. Đạo Phật đã ảnh hưởng tới đời sống tình cảm, tâm linh và trí thức của con người Việt Nam, khiến cho người Việt tuy ham chuộng hoà bình nhưng vẫn tự lực tự cường không để cho ai áp chế, tuy giữ gìn và quý trọng tài văn hoá dân tộc nhưng vẫn cởi mở đón chào và thâu nhận những tinh hoa của các nền văn hoá thế giới.

Đạo Phật Việt Nam Trong Hiện Tại.

Đạo Phật Việt Nam trong hiện tại tiếp tục xây dựng con người và xã hội Việt Nam, đồng thời góp sức vào sự xây dựng cộng đồng nhân loại. Cuộc chiến tranh kéo dài trên hai mươi năm đã tàn phá bao nhiêu sinh mạng và tài sản của quốc gia Việt Nam. Không những thế, cuộc chiến tranh còn gây căm thù nghi kỵ giữa người Việt với người Việt. Phật Giáo Việt Nam trong hai mươi lăm năm qua đã đóng góp phần mình trong cuộc tranh đấu cho chủ quyền đất nước và hòa bình dân tộc và người Phật tử Việt Nam đã chịu chung gian lao nguy khó với đồng bào và đất nước. Để chống lại sự tàn phá đất nước và sự tàn phá những giá trị con người, đạo Phật Việt Nam đã nỗ lực giữ vững niềm tin của người Việt Nam nơi truyền thống và khả năng tổng hợp văn hóa của truyền thống dân tộc, giữ cho xã hội không tan nát vì phân hóa, hoài nghi và căm thù. Kêu gọi mọi người trở về với truyền thống văn hóa dân tộc, đạo Phật Việt Nam chống lại mọi mưu toan bên ngoài muốn dùng xương máu Việt Nam để làm hàng rào phòng thủ của họ. Đạo Phật Việt Nam đồng thời cũng nhắm đến sự xây dựng xã hội Việt Nam về các phương diện kinh tế, y tế và giáo dục để làm nền tảng vững chắc cho hòa bình. Thế giới đang bị đặt trong tình trạng hiểm nguy : nạn nhân mãn, nạn đói kém, nạn nhiễm độc và chiến tranh nguyên tử đang đe dọa số phận con người Việt Nam cần sớm đạt tới hòa bình và kiểm soát được vận mệnh mình để có thể góp phần hữu hiệu với các quốc gia khác trong việc đối phó với những hiểm trạng kia. Một cộng đòng nhân loại trong đó người không bóc lột người, ranh giới giữa các quốc gia chủng tộc không còn là ngồn gốc tranh chấp kỳ thị, đó cũng là mục tiêu mà Việt Nam nhắm tới.

Áp Dụng Đạo Phật Trong Đời Sống Mới.

Người Phật tử Việt Nam nhìn rõ thực tại tâm lý, kinh tế và xã hội của thời đại và áp dụng giáo lý đạo Phật một cách thông minh vào đời sống mới, không bị ràng buộc bởi thành kiến và thói quen. Đức Phật là một bực Đại Đạo Sư. Thâm hiểu những điều kiện tâm lý, kinh tế và xã hội con người của thời đại ngài, Đức Phật đã truyền dạy những giáo lý thích hợp với con người của thời đại ấy. Giáo lý của Đức Phật phù hợp với các điều kiện sinh hoạt tâm lý, kinh tế và xã hội của con người cho nên được gọi là một giáo lý KHẾ CƠ. Trong suốt lịch sử của Phật giáo, ta thấy xuất hiện nhiều hệ thống giáo lý mới phát xuất từ Phật Giáo Nguyên Thỉ, như giáo lý Tịnh độ, giáo lý Thiền, giáo lý Duy Thức, Giáo lý Thiên Thai. Những giáo lý này vừa khế hợp với căn bản đạo Phật vừa khế hợp với những điều kiện tâm lý và xã hội của con người đương thời. Phật giáo là một tôn giáo không báo thù, biết cởi mở và khai phóng để rộng mở chân trời tương lai. Tuy cởi mở, khai phóng và tiếp tục được truyền thống từ bi, khoan dung, vô uý và giải thoát. Thái độ bảo thủ vì thói quen vì thành kiến và cố chấp là một thái độ trái ngược với tinh thần cởi mở và tiến bộ của đạo Phật. Người Phật tử không thể nhắm mắt làm theo tất cả những điều mà người xưa đã làm, lấy cớ "xưa bày nay làm". Người Phật tử phải xem xét những điều do người xưa bày ra hiện cón có giá trị trong hoàn cảnh hiện tại hay không. Nếu còn thì ta vẫn tiếp tục thi hành. Nhưng nếu những điều ấy không còn giá trị nữa thì ta bỏ và tìm ra những điều khác thích hợp với ta hơn. Ngày xưa khi còn tại thế Đức Phật và các môn đệ cùng thời với ngài đã áp dụng phấp chế khất thực chẳng hạn. Ở các nước Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, trong suốt mười thế kỷ, tăng sĩ ít khi thực hành pháp chế tri bất khất thực đó, tại vì điều kiện phong thổ và tập quán ở các nước này khác với Ấn Độ thuở xưa. Như thế không có nghĩa là Phật Giáo các nước đó chống với Phật Giáo Ấn Độ. Như thế chỉ có nghĩa là Phật Giáo tại các nước đó đã chuyển biến để khế hợp với những điều kiện sinh hoạt tại các nước đó mà thôi. Lấy ví dụ ấy mà xét thì nếu ta muốn cho đạo Phật có sinh khí, ta phải biết áp dụng đạo Phật một cách thông minh vào những điều kiện sinh hoạt tâm lý, kinh tế và xã hội của đời sống chúng ta. Đạo Phật không phải là của riêng của một số người ẩn dật nơi tu viện. Đạo Phật là của mọi lớp người: của thiếu nhi, của thanh niên, của phụ nữ, của lao động trí thức và lao động chân tay. Đạo Phật chỉ có sinh lực khi nào giáo lý đạo Phật được áp dụng trong đời sống hằng ngày, trong các lãnh vực giáo dục, y tế, chính trị, kinh tế, tổ chức, trong đời sống cá nhân cũng như trong đời sống gia đình, quốc gia và xã hội. Người Phật tử phải đặt câu hỏi tương tự như sau đây: Trong một xã hội mà con người bị lôi cuốn theo guồng máy kinh tế và chính trị đến nổi con người khó có thể bảo tồn tự do và nhân tính của mình, thì đạo Phật dạy con người ấp dụng thái độ nào và hành động những gì để khôi phục tự do và nhân tính ấy? Đối với cuộc chiến tranh diệt chủng và tàn phá sinh mệnh và giá trị con người, đạo Phật dạy ta hành động thế nào? Trước hiểm hoạ mà nhân loại đang phải đương đầu, đạo Phật dạy ta con đường nào để có thể tự cứu? Nếu đạo Phật không trả lời được những câu hỏi như thế, thì ta không thể nói rằng đạo Phật là đạo của sự sống. Kỳ thực, người Phật tử tin rằng trong đạo Phật có hàm chứa những nguyên lý căn bản có thể trả lời được mọi vấn đề của sự sống, và do đó, đem những nguyên tắc kia áp dụng vào đời sống các nhân và xã hội hiện tại ta sẽ tìm thấy những câu trả lời thích hợp. Bản thân ta và sự sống của ta chính là môi trường thực nghiệm từ đó được tìm ra những câu giải đáp, gọi là ĐẠO PHẬT ỨNG DỤNG. Những điều kiện sinh hoạt tâm lý, kinh tế và xã hội luôn luôn thay đổi cho nên mỗi thời đại và mỗi địa phương cần có một đạo Phật ứng dụng thích hợp. Thành kiến và thói quen thường khiến cho con người ta sợ hãi sự thay đổi và sự sáng tạo. Đạo Phật là một đạo sống động, do đó cầ sự đổi thay và sáng tạo liên tục. Phật tử đừng để cho thành kiến và thói quen bó buộc. Phật tử cần luôn luôn là một đạo sống động chứ không khô chết trong những cái vỏ hình thức và thiếu sinh khí.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-11-13 06:02:40Sao Việt>
Con Người Là Then Chốt.

Đạo Phật được khai sáng bởi con người để phục vụ con người. Đạo Pajt lấy con người làm gốc. Tinh thần nhân bản của đạo Phật được biểu lộ không những ở giáo lý đạo Phật mà còn ở thái độ và hành động của người Phật tử. Đạo Phật do con người sáng lập để phụng sự cho con người. Đức Phật THÍCH CA MÂU NI (Sakya Muni) người sáng lập đạo Phật cách đây 2500 năm không bao giờ tự cho mình là một vị trời hay một đấng thần linh. Từ ngữ Phật (Buddha) chỉ có nghiwx là con người giác ngộ. Phật là một con người đã giác ngộ chân lý (tự giác) và đem chân lý ấy giác ngộ cho những kẻ khác (thác gia) để mong đạt tới sự nghiệp giác ngộ tràn đầy (giác hạnh viên mãn). Trước khi tu đạo và thành Phật, Đức Thích Ca có tên là Shiddhata, cũng có cha mẹ và đã thành lập gia đình với công chúa Gia Du Đà La (Yasodhara) và có một người con tên là La Hầu La (Rahula). trí tuệ giác ngộ mà Phật đạt được không phải do nơi một vị thần nào truyền mà do chính kinh nghiệm tâm linh của Phật chứng nhập.

Giáo lý đạo Phật chủ trương rằng con người chịu hoàn toàn trách nhiệm về bản thân mình và xã hội mình, rằng con người có thể thay đổi được bản thân và hoàn cảnh xã hội theo ý mình muốn. Những điều kiện hiện tại của sự sống, những gì đã xảy ra, đang xảy ra và sẽ xảy ra đều do hành động (nghiệp hay Kama) của mình tạo thành và thúc đẩy. Không có một đấng thần linh nào có quyền năng cứu rỗi được con người. Phật tử, theo lời Phật dạy, phải tự mình thắp đuốc lên mà đi. Con người phải tự cứu lấy mình.

Nhân Cách Phật Thích Ca.

Đức Phạt thích Ca, người thành lập đạo Phật là một người đã phát triển nhân cách mình đến mức độ tuyệt hảo. Nhân cách của Đức Phật Thích Ca còn quan trọng hơn cả giáo lý ngài dạy trong kinh điển, bởi vì nhân cách ấy là giáo lý sống do chính đời Ngài phô diễn. Chính nhân cách ấy đã hướng dẫn được giáo đoàn Ngài lúc Ngài tại thế và còn tiếp tục hướng dẫn được giáo đoàn Phật giáo hàng mấy thế kỷ sau khi Ngài tạ thế. Được nhìn vào mắt Phật, được sống bên cạnh Ngài và được chiêm ngưỡng nhân cách Ngài chắc hẳn là còn hiểu được Ngài nhiều hơn là học tập giáo lý Ngài qua kho tàng kinh điển. Nhân cách của Phật làm sao ta có thể diển tả nổi? Tuy vậy, ta cũng có thể căn cứ trên giáo lý đạo Phật để nói rằng nhân cách của Phật biểu lộ trí tuệ lớn, một tình thương lớn và một ý chí lớn. tình thương lớn ấy gọi là ĐẠI BI (Mahakaruna) được đi đôi với trí tuệ lớn gọi là ĐẠI TRÍ (Mahaprajna) và ý chí lớn gọi là ĐẠI LỰC (Mahabala). Đạt đến mức độ truyệt hảo của nhân cách tức là đạt đến trình độ giác ngộ hoàn toàn. trình độ Phật, trình độ vô thượng giác (giác ngộ cao nhất) mà phạn ngữ gọi là AUTTARA - SAMYAK-SAM-BODHI (a nậu lâu đa la tam miệu tam bố đề phiên âm theo tiếng Hán Việt).

Trí Tuệ, Từ Bi và Đại Lực.

Mục đích của sự thực hành đạo Phật , do đó là để đạt tới nhận thức sáng tỏ về thực tại (trí), tình thương rộng lớn với mọi người và mọi loài (bi) và ý chí bền vững để thành tựu đại nguyện giúp đời (dũng). Đạo Phật không phải là một tôn giáo chuyên thờ cúng cầu xin các vị thân minh. Đạo Phật đòi hỏi người Phật tử thực hiện trí huệ, tình thương và ý chí nơi bản thân và ngoài xã hội. Đạo Phật đại thừa trình bày những nhân vật gương mẫu của sự thực hiện đạo Phật như bồ tát Quan Thế Âm, bồ tát Văn Thù Sư Lợi, bồ tát Phổ Hiền, và bồ tát Địa Tạng. Đó là những người Phật tử lỗi lạc nhất, những người đang thực hiện tuệ giác đại trí, tình thương đại bi và công tác đại hạnh. Bồ tát (Bodhisattva) có nghĩa là người đang thực hiện sự nghiejp giác ngộ và độ sinh. Bồ tát Quan Thế Âm là hình ảnh của tình thương đại bi và công tác đại hạnh, lắng tai nghe tiếng kêu thương của kẻ khổ đau mười phương mà có mặt để cứu độ (kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn). Bồ tát Văn Thù Lợi là hình arnhcura tuệ giác dại trí và biện tài vô ngại (kinh Duy Ma). Bồ tát Phổ Hiền và bồ tát Địa Tạng là hình ảnh của hành động và đại nguyện để thành tựu sự nghiệp giác ngộ và cứu đời (kinh Hoa Nghiêm phẩm Phổ Hiền và kinh Địa Tạng). tụng đọc những kinh điển nói về các vị Bồ Tát ấy là để thâm hiểu về đạo Phật qua đời sống, trí tuệ và hạnh nguyện của các vị ấy chứ không phải để cầu xin kể lể. Người Phật tử cần thấy nơi hình ảnh của các vị bồ tát ấy những tấm gương sáng để noi theo trong lúc học tập và thực hành đạo Phật. Đọc kinh suông và trì niệm danh hiệu suông thì không đem lại chút lợi ích thiết thực nào.

Những Đạo Lý Căn Bản.

Đạo lý căn bản của Phật Giáo là đạo lý duyên khởi, tứ diệu đế và bát chánh đạo. Ba đạo lý này là nền tảng cho tất cả các tong phái Phật Giáo, nguyên thỉ cũng như đại thừa. Giáo phái Theravada hiện giờ thịnh hành tại nước Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào và Campuchia tự nhận là gần với Phật Giáo thời Phật tại thế, gọi là Phật giáo Nguyên thỉ. Giáo phái đại thừa hiện giờ thịnh hành tại tây tạng, Trung Hoa, Nhật bản, Triều Tiên cũng tự nhận là phù hợp với tinh thần Phật Giáo Nguyên Thỉ, nhưng cho rằng ta phải thích nghi với những điều kiện sinh hoạt văn hóa và kinh tế của từng thời đại và địa phương thì ta mới có thể nuôi dưỡng tinh thần ấy được. Ở Việt Nam hai giáo phái Theravada và Đại Thừa, từ năm 1964 trở đi, đã được kết hợp cùng trong một giáo hội Phật giáo, gọi là GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT. Đay cũng là một điểm đặc sắc của đạo Phật Việt Nam, bởi vì chính ở Việt Nam hai giáo phái Theravada và Đại Thừa được kết hợp đầu tiên trong một giáo hội. Theravada nguyên là giáo phái do các bậc trưởng lão trong giáo hội nguyên thỉ chủ trì, thuộc về thiểu số, còn Đại Thừa phát sinh từ giáo phái Mahasanghika gọi là ĐẠI CHÚNG BỘ tức là giáo phái của đa số những người trẻ trong Giáo Hội Nguyên Thỉ chủ trì, có tinh thần cấp tiến và dung hợp nhiều hơn Đại Thừa (Mahayana) là con đường hoặc cỗ xe lớn, chỉ cho sự hành đạo và cức độ nhắm tới tập thể mà không phải là cá nhân.

Duyên Khởi.

Đạo lý duyên khởi là một cái nhìn khoa học và khách quan về thế giới thực tại. Duyên khởi nghĩa là sự nương tựa lẫn nhau mà sinh thành và tồn tại. Không những các sự kiện thuộc thế giới nhân sự như thành, bại, thịnh, suy mà tất cả những hiện tượng thuộc thế giới tự nhiên như núi, sông, hoa, cỏ cũng đều vâng theo luật duyên khởi mà sinh thành, tốn tại và tiêu hoại.

DUYÊN (Pratyaya) là những điều kiện. Sự sinh thành của một cái bàn chẳng hạn, tùy thuộc ở những điều kiện như gỗ, cưa, đinh, búa, người thợ mộc... Vậy gỗ, cưa, đinh, búa, người thợ mộc là những DUYÊN cần thiết cho sự phát sinh của cái bàn. Sự sinh thành của một đứa bé cũng tùy thuộc ở những DUYÊN như tinh huyết của cha mẹ, thời gian thai nghén, sức ấm... Sự hình thành của một nền dân chủ cũng tùthuoojcowr những DUYÊN như ý thức về quyền lợi và bổn phận của người dân, sự tranh thủ chính trị, sự bảo vệ hiến pháp... Bất cứ một hiện tượng nào trong vũ trụ, tinh thần hay vật chất, đều do sự tập hợp của các DUYÊN mà thành. Sự vật nương vào nhau mà sinh thành và tồn tại, không có sự vật nào có thể tự mình sinh ra và tự mình tồn tại độc lập với những sự vật khác. Đó là yếu lý duyên khởi của đạo Phật.

Có bốn loại DUYÊN cần được phân biệt. Thứ nhất là NHÂN DUYÊN có thể gọi là điều kiện gần gũi nhất, ví như hạt lúa là nhân duyên của cây lúa, gỗ là nhân duyên của cái bàn và đất sét là nhân duyên của cái bình. Thứ hai là TĂNG THƯỢNG DUYÊN tức là những điều kiện trợ lực cho nhân duyên, bí như phân bón và nước là tăng thượng duyên cho hạt lúa trở thành cấy lúa, người thợ mộc và cây cưa là tăng thượng duyên cho khúc gỗ thành cái bàn, nước và lò gốm là tăng thương duyên cho đất sét trở thành cái bình. Thứ ba là SỞ DUYÊN DUYÊN tức là những điều kiện làm đối tượng cho nhận thức, như hình săc phát sinh ra cái thấy, âm thanh phát sinh ra cai nghe và tư tưởng phát sinh ra ý sự. Thư tư là ĐẰNG VÔ GIÁN DUYÊN tức là sự lien tục không gián đoạn cần thiết cho mọi sự phát sinh, trưởng thành và tồn tại.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-11-17 07:48:52Sao Việt>
Luật nhân quả cần được quan sát vf áp dụng theo nguyên tắc duyên sinh mới có thể gọi là luật nhân quả đạo Phật. Theo đạo lý duyên sinh, một Nhân đơn đọc không bao giờ có khả năng sinh ra quả mà một Nhân bao giờ cũng đóng vai trò Quả cho một Nhân khác.

Ta biết rằng hạt lúa là Nhân của cây lúa. Nhưng ta cũng đã biết rằng nếu không có những tăng thượng duyên như đất, ánh sáng, nước và thời gian thì hạt lúa không bao giờ trở nên cây lúa được. Vậy ta kết luận: một nhân đơn độc không bao giờ có khả năng phát sinh ra quả. Do đó ta có thể nói: Vạn vật trong vũ trụ nương nhau mà phát sinh; nên ta không thể nói : (ví dụ)_ thái cục phát sinh ra vũ trụ. Tại sao? Bởi vì thái cực và thần linh, nếu là những nguyên tắc đơn độc, làm sao có khả năng phát sinh ra quả tức là thế giới? Do đó, thuyết thái cực phát sinh hoặc thần linh sáng tạo ra vũ trụ đi ngược với đạo lý duyên khởi. Chẳng nững thế mà khi nói chân như (1) phát sinh vạn hữu, người Phật tử cũng đi ngược với đạo lý duyên khởi, nếu người Phật tử nghĩ rằng chân như là nguyên nhân đơn độc và đầu tiên. Có những triết gia và thần học gia cho rằng thái cực hoặc thần linh không phải là nguyên nhân đầu tiên mà chỉ là thực thể của hiện hữu vượt ngoài thời gian và không gian (2), trong trường hợp này họ cũng không đi ngược lại đạo lý duyên khởi của đạo Phật.

(1) Chân như (Bhutatahata) là thực thể của vạn hữu.

(2) Như Paul Tillich, nhà thần học Cơ Đốc nổi danh ở Đức nói : "Thượng đế không phải là nguyên nhân đầu tiên. Nói "Thượng đế là nguyên nhân đầu tiên" chỉ là một cách nói mà thôi" (Paul Tillich, Systematic Theology).

Trên thực tế, ta chưa thấy một nhân đơng độc nào có thể sinh ra quả, mà ta cũng chưa thừng thấy một nhân mà không phải là một quả cho một nhân khác. Nếu ta cho rằng chân như hoặc thái cực hoặc thần linh là phát sinh ra vũ trụ tức là ta công nhận : Một nhân đơn độc có thể làm phát sinh ra quả. Đó là một điều sai lạc. Hơn nữa, cái nhân đơn độc ấy do đâu mà có? Nếu không do đâu cả thì điều đó trái với luật nhân quả; nếu do một nhân khác sinh ra thì lại không phải là nguyên nhân đầu tiên. Cho nên ta thấy nhận thức về thái cực và về thần linh như THẬT THỂ CỦA VŨ TRỤ VƯỢT NGOÀI KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN có thể đi đôi với đạo lý duyên sinh của Phật dạy. trong kinh A Hàm, Phật dạy:" Vì cái này có choneen cái kia có, vì cái này không nên cái kia không, vì cái này sinh cho nên cái kia sinh, vì cái này diệt cho nên cai kia diệt". Đó là sự diễn tả đơn giản và đúng mức của đạo lý duyên khởi. nhận thức duyên khởi có thể được kiểm chúng bởi bấc cứ ai, bởi vì đó không phải là một tín điều sinh hình, đó là sự thật thực nghiệm, phù hợp với nhânj thức khoa học thự nghiệm. Phát minh ra đạo lý duyên khởi, Đức Phật soi cho ta thấy rõ bộ mặt của sự thực hữu, tránh cho ta bao nhiêu ngộ nhận sai lầm về nguyên uỷ vũ trụ và giúp cho ta thành đạt trong phạm vi trí tuệ tu dưỡng cũng như trong phạm vi hành động thực tiễn. Thực vậy, đạo ly duyên khởi là đạo lý căn bản phá trừ vô minh và cố chấp, đồng thời cũng là đạo lý căn bản cho hành động nhập thế. Phật tử phải tìm hiểu thấu đáo về đạo lý duyên khởi để áp dụng trong việc tu huệ cũng như trong việc tu phước; những diễn bày trong sách này về đạo lý duyên khởi chẳng qua chỉ mới là bước đầu mà thôi.

Vô Thường, Không Và Vô Ngã.

Trong đạo Phật, ta thường nghe nói đến giáo lý VÔ THƯỜNG, KHÔNG VÀ VÔ NGÃ. Những giáo lý này cũng phát sinh từ một căn bản với giáo lý duyên khởi. VÔ THƯỜNG là tính cách thay đổi không ngừng của vạn sự vạn vật. Không có sự vật nào nằm yên bất biến, do đó đã không có sự vật nào giữ được tính cách đồng nhất tuyệt đối của nó; đó là VÔ NGÃ. Sự vật đã luôn luôn chuyển biến và không giữ được tính các đồng nhất của chúng tức là sự vật trống rỗng; đó là KHÔNG. Chữ KHÔNG ở đây có nghĩa là trống rỗng, không chắc thật, chứ không nghĩa là không có sự vật. Sự vật vẫn có, nhưng trong lòng sự vật người ta không tìm thấy tính cách thường và đồng nhất, thế thôi.

Theo đạo lý duyên khởi, vạn vật nương vào nhau mà sinh khởi, tồn tại và tiêu hoại. Như thế vạn vật phải VÔ THƯỜNG, bởi vì nếu không vô thường thì vạn vật sẽ bất sinh bất diệt. Vạn vật cũng VÔ NGÃ, bởi vì mỗi vật là do sự tập hợp của nhiều vật (duyên) mà thành. Vạn vật cũng là KHÔNG, bởi vì đã do các duyên mà thành, thì trong tự thân vạn vật không có một thực thể thường còn và đồng nhất.

Tứ Diệu Đế.

Giáo lý căn bản thứ hai của đạo Phật là giáo lý TỨ DIỆU ĐẾ, tức là bốn sự thật lớn. Giáo lý này được diễn tả trong nhiều kinh điển, mà kinh điển đầu tiên là kinh KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN. Bốn sự thật lớn là: sự có mặt của những khổ đau (khổ), những nguyên nhân tạo nên khổ đau (tập), niềm an lạc khi khổ đau đã diệt (diệt) và con đường đạt tới niềm an lạc diệt khổ (đạo).

Giáo lý Tứ Diệu Đế là nguyên lý hành đạo có tính cách thực nghiệm và trị liệu. Tất cả các giáo lý Phật Giáo nguyên thỉ hay đại thừa đều được diễn bày theo nguyên lý Tứ Diệu Đế này. Cũng như giáo lý Duyên Khởi, giáo lý Tư Diệu Đế không phải là những tín điều siêu hình mà là một nguyên lý có thể kiểm chứng được. Giáo lý "Bốn Sự Thật Lớn" được căn cứ trên luật nhân quả. ta thấy hai cặp nhân quả sau đây:

1. QUẢ: Sự có mặt của khổ đau (khổ).

NHÂN: Những nguyên nhân tạo thành khổ đau (tập).

2. QUẢ: Niềm an lạc khi khổ đau đã diệt (diệt).

NHÂN: Con đường đi tới niềm an lạc diệt khổ (đạo).

Chúng ta hãy thử áp dụng nguyên lý Tứ Diệu Đế vào trong một vấn đề y khoa. Ví dụ bệnh lao phổi là SỰ THỰC THỨ NHẤT: (Khổ). Sự thật này ai cũng phải công nhận, bởi vì ai cũng có thể biết rằng bệnh lao phổi là một bệnh có thật. Nếu bệnh lao phổi có thật thì những nguyên nhân tạo nên bệnh lao phổi cũng có thật. Đó là vi trùng Koch, là sự ăn ngủ thiếu điều độ, là thiếu ánh sáng và khí trời,vân vân...Sự có mặt của những nguyên nhân sinh ra bệnh lao phổi tức là SỰ THỰC THỨ HAI (Tập). Không những các bác sĩ mà tất cả chúng ta đều biết rằng bệnh lao phổi có thể chữa lành được. Sự lành bệnh ở đây là SỰ THỰC THỨ BA (Diệt). Và muốn đi đến sự lành bệnh, ta phải theo những phương pháp chữa trị khoa học nhằm loại trừ những nguyên nhân là ra bệnh. Những phương pháp này, ví dụ sự sử dụng đúng thuốc trụ sinh trong lành vân vân... là SỰ THỰC THỨ TƯ (Đạo). Bất cứ vấn đề nào của sự sống cũng có thể được chữa trị theo nguyên lý Tư Diệu Đế.

Trong chúng ta, ai cũng công nhận rằng khổ đau có mặt trong cuộc đời. Nghèo đói, ốm đau, bệnh tật, chết chóc, thất vọng, biệt ly, bất đắt chí, đàn áp, bất công, tủi nhục...

SỰ THẬT THỨ NHẤT thật quá rõ ràng. Phật tử, sau khi nhận thức được sự thật thứ nhất, phải tĩnh tâm quan sát để tìm ra sự thật thứ hai tức là những nguyên nhân sinh ra đau khổ. Phương pháp do Phật chỉ dạy là phương pháp quán chiếu đạo lý duyên khởi. Tĩnh tâm, tâm trung ý và căn cứ vào thực nghiệm, ta có thể phát giác ra những nguyên nhân xa gần đã tạo ra những khổ đau ấy.

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-11-17 08:53:02Sao Việt>
SỰ THẬT THỨ HAI cần được khám phá một cách triệt để, nếu ta quả thực muốn tìm ra căn nguyên đích thực của chứng bệnh để chữa trị. Đức Phật đã hướng dẫn ta vào sự thực thứ hai, những nguyên nhân của đau khổ và ta cần nương theo những hướng dẫn ấy để khám phá. trước hết, Phật dạy rằng VÔ MINH là một nguyên do lớn của khổ đau. Vô minh là sự thiếu sáng suốt, là những nhận thức sai lạc thế giới, thế giới nhân sự cũng như thế giới tự nhiên; những nhận thức đi ngược lại đạo lý duyên khởi. Quán triệt đạo lý duyên khởi, ta có thể phá bỏ được vô minh. Đó là chìa khóa của phương pháp Phật học. Bất cứ một khổ đau nào cũng có những nguồn gốc rễ gần và xa của nó và ta cần đối trị với những gốc rễ ấy, hoặc trên bình diện cá nhân hoặc trên bình diện tập thể. hãy lấy ví dụ không khí ngột ngạt trong gia đình. Cái không khí ngột ngạt ấy không thể tự nhiên mà có; trái lại, nó do nhiều nguyên nhân sinh khởi. có thể là những nguyên nhân kinh tế, có thể là những nguyên nhân tâm lý, có thể là những nguyên nhân xã hội. Sự cau có của người cha sau một ngày làm việc mệt nhọc, tự nó, cũng có nhiều gối rễ phiền phức. Thái độ trách móc của người vợ, và sự thiếu hiểu biết của những người con có thể trầm trọng sự cau có kia lên. Nếu tất cả mọi người trong gia đình nếu đều biết tĩnh tâm quán chiếu để thấy rõ những nguyên nhân xa gần của không khí căng thẳng ngột ngạt trong gia đình thì tự nhiên thái độ cau có, trách móc và hờn dỗi tan biến, không khí ngột ngạt sẽ không trở nên trầm trọng và mọi người trong gia đình sẽ cộng tác tìm cách xoá bỏ dần những nguyên nhân gần xa đưa đến sự cau có của người cha vào buổi cuối ngày. Thực ra thái độ dịu dàng, thông cảm và hiểu biết của người mẹ đã có thể làm diệu bớt nỗi cau có đó, và sự cộng tác của bà để chia xẻ những ưu tư, bực bội của chồng sẽ đóng góp rất nhiều trong việc tìm ra và tiêu diệt những nguyên nhân của sự cau có kia. Tìm ra sự thực thứ hai không phải là dễ dàng như ta tưởng; nó đòi hỏi công phu thực tập tĩnh tâm thiền quán hàng ngày của mỗi người. Thiếu công phu này, ta sẽ dễ dàng trút sự giận dữ và hờn oán lên kẻ khác, tại vì ta không thấy rõ đâu là nguyên nhân đích thực của những khổ đau mà ta chịu đựng.

Về mặt xã hội, sự vắng mặt các quyền căn bản dân chủ và tự do cũng có những nguyên nhân sâu xa của nó. Nguyên nhân mà người hay nhắc đến nhất là một chế độ độc tài. Nhưng đó không phải là nguyên nhân duy nhất. một chế độ độc tài chỉ có thể đứng vững được khi nó được hổ trợ bởi một ngoại bang và khi mà dân chúng trong xã hội ấy không ý thức được quyền căn bản dân chủ và tự do của mình và không tranh đấu cho những quyền ấy. Dân chủ và tự do cũng như bất cứ hạnh phúc nào, không phải là những món quà từ trên trời rơi xuống; trái lại, phải tạo dựng, bồi đắp và bảo vệ mới có. Những quyền dân chủ và tự do không phải là những điều do một chính quyền tốt ban bố, người dân phải biết học ttajp và sử dụng các quyền dân chủ tự do, phải biết tôn trọng các quyền dân chủ tự do của kẻ khác và phải biết đoàn kết với nhau để bảo vệ và tranh đấu cho những quyền kia khi chúng bị đe doạ. Nếu ta biết rõ những nguyên nhân nào đã khiến cho các quyền dân chủ và tự do vắng mặt, chúng ta chắc chắn sẽ tìm ra được những phương pháp để thự hiện các quyền này trong xã hội của chúng ta. Tĩnh tâm và quan sát tìm cho ra những nguyên nhân này tức là cũng là thực hành sự thực thứ hai vậy.

SỰ THẬT THỨ BA là mục tiêu mà ta hướng đến. ta phải biết là ta muốn gì. Đã đành ta có thể nói rằng sự thực thứ ba là hạnh phúc, nhưng ta không nên lầm hạnh phúc chân thực với những hình thái mới nhìn qua thì trông như hạnh phúc mà kỳ thực chỉ là những nguyên nhân của khổ đau. hạnh phúc chân thực được diễn ta trong đạo Phật như là sự vắng mặt của những khổ đau, là sự giải phóng con người ra khỏi tham dục, hận thù và tối tăm, là sự đạt tới các đức vô uý, trầm tĩnh, đại hùng, khiến cho ta không còn là nạn nhân của sự sợ hãi, của những thành bại đắt thất tầm thường. Trên căn bản của sự giải phóng đó, chắc chắn hạnh phúc phải là chân thực va bền vững. Sức khỏe, tài năng, sản nghiệp, tự do, công bình, dân chủ, vân vân... chỉ có thể trở nên những hình thái hạnh phúc thật sự trên nền tảng giải phóng đó. Người Phật tử phải nhận thức rằng theo đuổi sự nghiệp giải thoát không phải là từ bỏ mọi hạnh phúc của cuộc đời, trái lại chính là để xây dựng một nền tảng vững trãi cho hạnh phúc. Nếu không đạt tới căn bản giải thoát thì dù cmawstrs cũng không biết nhìn, có tai cũng không biết nghe, có cuộc đời cũng không biết sống, có những điều kiện hạnh phúc cũng không biết hạnh phúc. thê cho nên học tập để thấy rõ mục tiêu đích thực mà mình hướng tới tức là thực hành sự thực thứ ba. Phải nhận thức sự thực thứ ba như một thực tại mà không phải là một mơuwoswsc hão huyền hay một mộng tưởng. Sự an lạc mà chúnh ta đạt đến do thực hiện những phương pháp Phật Giáo là điều có thể kiểm chứng được. Bất cứ một nhân nào gieo xuống đều có thể đưa đến kết quả; không một nổ lực nào của ta có thể gọi là vô ích. Nếu chúng ta kiểm điểm để nhận thấy kết quả và tính cách hữu hiệu của những nổ lực hành đạo hàng ngày của chúng ta, chúng ta sẽ có thêm đức tin nơi sự thực thứ ba; rõ ràng như người nông phu, sau khi áp dụng những phương pháp canh tác khoa học, gặt hái được gấp bội và có thêm đức tin về nguyên tắc cải tiến nông nghiệp.

SỰ THỰC THỨ TƯ là con đường, là phương pháp hành động. Để đạt tới một đời sống an lạc hạnh phúc cho bản thân và cho xã hội, ta phải biết tìm đường, ta phải biết phương pháp hành động. Sự thực thứ tư không phải là một số giáo điều hoặc giói luật có thể học thuộc lòng, trái lại là kết quả của những chiêm nghiệm sau sắc về các sự thực thứ nhất, thư nhì và thứ ba cũng như kinh nghiệm sống của chúng ta về các sự thực ấy. Trong kinh ta thấy nói tới ngũ căn, ngũ lực, tam học, thất bồ đề, bát chánh đạo vân vân...Đó đều là những giáo lý thuộc sự thực thứ tư, nhữn phương pháp có thể đem áp dụng trong đời sống để triệt tiêu diệt khổ đau, kiến tạo an lạc. Những giáo lý này chỉ có giá trị va hiệu lực khi ta biết đem chúng áp dụng một cách thông minh vào sự sống. Trái lại nếu ta chỉ đọc tụng hoặc chiêm nghiệm mà không đem chúng áp dụng vào đời sống hàng ngày thì sự bổ ích sẽ không có được bao nhiêu. Sau đây ta thử xét qua một ví dụ về sự thực thứ tư. Đó là BÁT CHÁNH ĐẠO.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-11-18 18:27:00Sao Việt>
Bát Chánh Đạo

Bát chánh đạo là con đường của tám nguyên tắc hành động chân chính (Astamaga). Tám nguyên tắc ấy có liên hệ nhân quả rất mật thiết với nhau như sau:

1. Chính kiến: Thấy đúng.

2. Chính tư duy: Nghĩ đúng.

3. Chính ngữ: Nói đúng.

4. Chính nghiệp: Hành động đúng.

5. Chính mệnh: Phương tiện mưu sinh chân chính.

6. Chính tinh tiến: Cần mẫn và nổ lực chân chính.

7. Chính niệm: Ý thức chân chính.

8. Chính định: Thiền định chân chính.

Nếu ta chiêm nghiệm và áp dụng tám nguyên tắc trên vào cuộc sống thường nhật ta sẽ thấy tính liên hẹ nhân quả giữa những nguyên tắc ấy. Hãy thử xét nguyên tắc thứ nhất là CHÍNH KIẾN. Ai cũng bảo nếu thấy đúng thì hành động mới đúng, do đó chính kiến là cần thiết cho CHÍNH NGHIỆP. Nhưng làm thế nào để thấy đùn? Theo đạo phật, sự thấy đúng không phải chỉ có thể đạt được do sự học hởi trong sách vở hay do sự suy tư phân tích bằng trí thức. Sự thấy đúng là kết quả của kinh nghiệm sống và của sự tu chứng nữa. Ngày xưa, triết gia Vương Dương Minh của Trung Hoa có xướng. quyết TRI HÀNH HỢP NHẤT, có nghĩa là THẤY và HÀNH ĐỘNG là một. Do THẤY ĐÚNG mà HÀNH ĐỘNG ĐÚNG, do hành động đúng mà cái thấy càng đúng; hai điều bồi đắp cho nhau. ý nghĩa của CHÍNH KIẾN và CHÍNH NGHIỆP trong dạo Phật cũng tượng tự như vậy; nhưng trong bát chánh đạo, không những chỉ có chính kiến và chính nghiệp mà còn sáu nguyên tắc khác nữa, tất cả đều liên hệ với nhau, bồi đắp cho nhau một cách thắm thiết đển nổi trong tám chi của bát chánh đạo, mỗi chi đều bao gồm cả tám chi. Chi nào cũng làm nhân và đồng thời làm quả cho bảy chi kia. Chính kiến không phải là bước đầu, cũng như chính định không phải là bước cuối cùng; tám chi của bát chánh đạo cùng được áp dụng một lượt, do đó nên đạo Phật gọi đây là con đường của TÁM NGUYÊN TẮC HÀNH ĐỘNG CHÂN CHÍNH.

CHÍNH KIẾN là cái thấy về sự thực, sự thực bản thân cũng như sự thực xã hội, sự thực tâm lý cũng như sự thực về vũ trụ. Chính kiến có nhiều mức độ cao thấp khác nhau tùy theo trình độ và tu chứng của con người. Mức cao danh của chính kiến gọi là vô thượng chính đẳng chính giác (Anuttara-samyak-sambodhi) tức là tri giác cao tột của Phật. Đối với ười tu Phật, chính kiến cần phải được khai mở và phát triển mãi mãi bằng học ttajp và thực hành. Quán sát đạo lý duyên khởi và áp dụng đạo lý ấy trong mọi lãnh vực của sự sống, ta sẽ nâng cao dần tầm chính kiến của ta.

CHÍNH TƯ DUY là nghĩ đúng, và nghĩ đúng ở đây có nghĩa là sự suy tư phù hợp với đạo lý duyên khởi. Ví dụ như ta muốn có một cái nhìn chính xác về tình trạng xã hội trong đó ta sống. ta phải theo nguyên lý duyên khởi mà tìm ra mọi nguyên nhân xa gần, những nguyên nhân hiển nhiên hoặc bị che dấu, ta mới có thể đạt được tới cái nhìn chính xác ấy. Nếu ta chỉ tuỳ theo thói quen, thành kiến và khuynh hướng đơn giản hóa vấn đề, ta sẽ không thấy được chúng, và do đó vì không có chính tư duy nên ta không đạt tới được chính kiến. Kết luận là ta phải biết tư duy theo nguyên lý duyên sinh.

CHÍNH NGỮ là nói đúng, và nó đúng ở đây có nghĩa là phát biểu sự thực trên nguyên lý duyên sinh. Bất cứ một phát biểu nào của ta mà không phù hợp với nguyên lý duyên sinh đều không phải là chính ngữ. Lời nói là một hình thức của hành động gọi là khẩu nghiệp. Lời nói là dụng cụ để diễn tả điều ta thấy và nghĩ; nếu thấy sai và nghĩ sai thì nói cũng sai. Mà khi ta nói sai, ta gây tác động lầm lạc cho chính ta và cho người khác. Lời nói không những cần phải diễn tả sự thực mà còn nhắm đến sự xây dựng; ta phải thấy tất cả hậu quả của lời ta nói. Chỉ khi nào thấu được nguyên lý duyên sinh ta mới biết nói những lời có thể khai thác sự thực, tạo nên hoà khí, làm tiêu tan không khí nghi kỵ, oán thù và sợ hãi quanh ta.

CHÍNH NGHIỆP là hành động đúng, và nghĩ đúng cũng có nghĩa là hành động phù hợp nguyên lý duyên sinh. Một hành động thuận theo lý duyên sinh là một hành động chắc chắn đem lại kết quả tốt, một người nông dân biết canh tác theo lý duyên sinh là một người nông dân thông minh, chắc chắn sẽ gặt hái được nhiều hơn những người nông dân khác. Biết được hết mọi dữ kiện về hạt giống, phân bón, thời tiết, thị trường, người nông dân sẽ có nhiều cơ hội thành công. Trong gia đình và xã hội biết hành động theo nguyên lý duyên sinh, người Phật tử tạo được hòa khí và thương yêu xây dựng được đời sống an lạc của mình mà không phương hại đến an lạc của kẻ khác.

CHÍNH MỆNH là phương tiện sinh sống chân chính. Một nghề nghiệp lương thiện, đó là chính mệnh. Nhưng thế nào là một nghề nghiệp lương thiện? Điều này cũng chỉ có thể trả lời bằng sự nhận xét về xã hội trên nguyên lý duyên sinh. Những phương tiện sinh sống không gây hại tai hoạ và khổ đau cho kẻ khác trong hiện tại cũng như trong tương lai. Những phương tiện sinh sống thẳng thắn, không lừa đảo, không giao rắc lầm lạc, không bóc lột kẻ khác, không vi phạm quyền tự do và bình đẳng kẻ khác, không phá hoại môi trường sinh hoạt của con người. Đó là chính mệnh.

CHÍNH TINH TIẾN là nổ lực chân chính tức là sự cố gắng không ngừng trên mọi lãnh vực tu tập. Đây cũng là một phương diện của sự tu tập theo nguyên lý duyên sinh. Có khi những nổ lực của ta không được gọi là chính tinh tiến, chỉ vì những nổ lực ấy không phải là chính nghiệp, được hướng dẫn bởi chính kiến. Những nổ lực trên hướng danh lợi, tham lam hay căm thù đều không được gọi à chính tinh tiến, bởi vì kết quả của nhũng nổ lực này có thể là khổ đau cho những người khác và do đó là cho chính bản thân mình.

CHÍNH NIỆM là sự nhớ nghĩ chân chính. Chúng ta đừng lầm chính niệm với chính tư duy. TƯ DUYlaf sự suy tưởng trong đó khi đó NIỆM là sự nhớ nghĩ, trái với sự quyên lãng. CHính niệm là một phương pháp tu luyện rất mầu nhiệm. Đó là ý thức sáng tỏ về sự sống của chính bản thân mình. Người Phật tử chân chính là người biết tập sống thường xuyên trong chính niệm, nghĩa là sống có ý thức, biết mình đang làm gì, nghĩ gì, nói gì và do đó có thể soi sang mọi tư tưởng, ngôn ngữ và hạnh động mình bằng nguyên lý duyên sinh. Sống trong sự quyên lãng tự để cho mình bị kéo theo ngày tháng và hoàn cảnh mà không tự chủ được, không thấy được mình đang sống, không thấy được sự sống là mầu nhiệm, đó không phải là sống nữa mà là trôi lăn trong sinh tử.

CHÍNH ĐỊNH là phương pháp thiền định chân chính. Thiền định là sự tập trung ý để đạt tới chính kiến tức là cái thấy chân chính. Định ở đây không có nghĩa là tư duy hay suy tưởng mà là những phương pháp tập trung tâm ý và thiền quán nhắm phát khởi trí tuệ. Những phương pháp này không nhắm đến sự tu luyện thôi miên, pháp thuật và trường sinh,mà nhắm đến sự phát hiện tuệ giác giác ngộ nên gọi là chính định.

Ý Chỉ Của Đạo Phật Nhập Thế.

Trên đây là đại cương các đạo lý duyên sinh, tứ diệu đế và bát chánh đạo. Học hỏi và thực tập các đạo lý này, người Phật tử xây dựng bản thân mình về ba mặt trí tuệ, tình thương và ý chí. Nhưng cá nhân liên hẹ mật thiết với xã hội, do đó sự xây dựng bản thân liên hệ với sự xây dựng gia đình, xóm làng, giáo hội, quốc gia và thế giới. Đó là ý chỉ của đạo Phật nhập thế truyền thống tại Việt Nam.

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-11-24 18:34:31Sao Việt>
CHƯƠNG 2 : XÂY DỰNG BẢN THÂN.

Con Người Và Xã Hội.

Con người nếu bị hoàn cảnh sai tử và lôi kéo hoàn toàn thì không còn có khả năng chủ động được tình trạng và cải tạo được xã hội. Đã đành con người chịu ảnh hưởng của những điều kiện kinh tế, chính trị và văn hóa của xã hội, nhưng nếu con người chỉ là cái nút chai cá nhân trôi nổi bồng bềnh trên sóng nước xã hội, thì giá trị quyết định của con người không còn nữa. Con người đã trở nên nạn nhân yếu đuối. Do đó, con người phải phục hồi được sức mạnh tâm linh và tự chủ của mình bằng phương pháp tu dưỡng. Hình ảnh con người hoàn toàn bị xã hội lôi kéo cũng giống hình ảnh một người cưỡi ngựa mà không điều khiển được con ngựa, mặc cho con ngựa đưa tới đâu thì tới. Trong xã hội ngày nay, khả năng con người để kiểm soát hoàn cảnh xã hội đã trở nên mong manh, bởi vì hệ thống kinh tế và chính trị của con người tạo dựng ra đã trở thành những lực lượng phi nhân trở lại khống chế con người. Con người đang bị kẹt nhiều trong hệ thống kinh tế và xã hội hiện tại, đang cố gắng để vượt thoát với rất nhiều khó khăn.

Người ta đã đàm luận nhiều vấn đề bản thân cần phải được cải tạo trước hay xã hội cần phải được cải tạo trước. Theo đạo Phật, con người không thể tác rời ra khỏi xã hội, nên sự cảu tạo phải được thực hiện song song. Con người là chính báo (nghĩa là quả báo chính) và xã hội là y báo (tức là quả báo cảnh). Cả hai thứ chính báo và y báo đều thuộc về sự sống của con người cho nên đều phải được cải tạo song hành. Vì con ngừoi không thể tách rời ra khỏi môi trường xã hội nên sự tu dưỡng của con người cũng được thực hiện ngay trong môi trường sinh hoạt xã hội. Sự tu dưỡng này không thể được thực hiện hoàn toàn trong một môi trường khép kín. Một con người không có liên hệ với những con người khác thì không phải là một con người bình thường.

Khi nói đến sự thay đổi xã hội, chúng ta hay có khuynh hướng nghĩ ngay đến sự thay đổi hệ thống chống trị, kinh tế của xã hội mà quên rằng sự tu dưỡng bản thân là một trong những điều kiện tất yếu của thành công. Tâm ý của con người đóng một vai trò chủ yếu trong cách mạng, nhất là đối với những người thuộc giới chủ chốt tiên phong cho cách mạng. Những ai muốn đổi mới cuộc đời, xây dựng cho gia đình, cho làng xóm và cho xã hội cần phải thấy rằng sự tu dưỡng tâm ý là cần thiết bởi vì sự tu dưỡng này cho ta rất nhiều sức mạnh, nghị lực và nguồn vui sống, những điều kiện rất thiết yếu của thành công.

Chánh Niệm.

Phải thực hành chánh niệm: Biết mình đang nghĩ gì, nói gì và làm gì để có thể chủ động đời sống mình và không bị lôi kéo bởi hoàn cảnh. Đây là một phương pháp tu tâm thần diệu của đạo Phật. Phương pháp này không bắt đầu bằng sự phân biệt những ý niệm thiện ác mà bằng sự quan sát sự sống của bản thân mình. Có nhiều người tuy sống mà thật ra không sống, bởi vì họ không có ý thức về sự sống của họ: Họ ăn, ngủ , làm việc và giải trí như một bộ máy cho đến khi chết . Đến lúc sắp lìa đời, nhìn lại họ giật mình thấy như mình chưa từng sống: Sáu, bảy mươi năm qua vừa qua đi như một giấc mộng. Bí quyết của phương pháp chính niệm là Ý THỨC ĐƯỢC RẰNG MÌNH ĐANG SỐNG: Khi đang ăn, mình biết mình là mình đang ăn, khi đang ngồi là mình đang ngồi. Nói tóm lại mình phải ý thức được giây phút của đời sống mình. Thắp lên ngọn đèn chính niệm, tự nhiên sự vô tâm quên lãng trở thành ý thức sáng tỏ và sự chết biến thành sự sống. nhiều lần trong một ngày ta tự hỏi mình: Ta là ai, ta đang làm gì, nghĩ gì, nói gì? Như thế, ta nắm ngay được chủ quyền, không để cho hoàn cảnh lôi kéo và áp giải ta về thế giới của sự chết. Ta sống cuộc đời của ta. buổi sáng rửa mặt nhìn vào trong gương, ta tự nhủ : "Đây là một ngày mới, ta phải sống ngày hôm nay cho trọn vẹn. Ta phải biết làm thế nào để sống ngày hôm nay cho an lạc, đừng để cho những tên giặc cáu kỉnh tỵ hiềm và hối hả đến quấy phá và cướp mất hai mươi bốn giờ quý báu của ta".

Ta hãy quan sát chú Bảy, một người có học Phật và biết áp dụng thông minh phương pháp tu dưỡng đạo Phật. Trong ngày, mỗi khi chú Bảy tự bắt gặp chú đang phiền muộnhay cáu kỉnh, chú liền tự đánh thức dậy. Chú tự nói: "Ta đang bị phiền muộn và cáu kỉnh thống trị. ta không thể để cho cuộc đời ta bị đục khoét tan nát bởi những con sâu phiền muộn và cáu kỉnh. Ta phải sống đời sống của ta một cách an lạc".

Cố nhiên chú Bảy biết là những phiền muộn cáu kỉnh và tỵ hiềm kia mỗi thứ đều có nguyên nhân của chúng. Chú biết những điều đó đáng giận thật, nhưng chú nhất định không đem cuộc đời của chú để đánh đổi lấy một chuỗi phiền muộn. Chú tự nhủ :"Phải sống làm sao như một trái núi đá, những phiên não kia chỉ có thể như những đợt sóng biển và chạm và tan vỡ dưới chân núi đá". Sự khác nhau giữa người có tu và không tu là ở chỗ đó; người có tu thì giữ được tâm thanh tịnh và an lạc ngay trong thế giới dẫy đầy điều bất như ý. Quan sát những sự việc xảy ra trong ánh sáng duyên khởi, ta sẽ thấy phiền não dễ tan ra và có thể nhìn cuộc đời với những con mắt tha thứ và thương yêu. Kinh Pháp Hoa xưng tán đức bồ tát Quán Thế Âm là người biết nhìn người đời với những con mắt từ bi (từ nhãn thị chúng sanh). Đó là vị bồ tát này do quán chiếu cuộc đời trong ánh sáng duyên khởi cho nên đem lòng thương tất cả mọi loài.

Ta phải thỉnh thoảng nhìn lại chính ta trong lúc đang nói hay đang làm một điều gì. Ta hãy quán chiếu bản thân ta để trước hết là ta thấy ta đang nói diều gì đó hay đang làm gì đó. Chỉ từng ấy thôi cũng đủ đưa ta về chính niệm cho dù trong khi đó nói điều kia ta đã có thể đi xa chính niệm đếb hàng muôn dặm. Ta nên biết rằng mỗi lần quán chiếu tự thân như thế ta chỉ tiêu xài một vài giây đồng hồ. Nhưng chính một vài giây đồng hồ đó có thể thắp lên một mặt trời trong thế giới của ta và giải phóng ta khỏi thế giới quên lãng bị động có tính cách me ám. Mỗi ngày ta có thể dành được bao nhiêu giây đồng hồ công trình quán chiếu này? Bậc giác ngộ là người quán chiếu thuwowfgn xuyên tự tâm mình. ta là người quyết tam học theo các bậc giác ngộ, chăng lẽ ta không để dành được vài phút trong một ngày cho công trình quán chiếu quan trọng ấy sao? Ta nên biết, dù chỉ có thể tiêu xài vài ba phút trong một ngày cho công trình quán chiếu tự tâm, ta cũng đã làm cho cuộc đời ta sácng rỡ và có ý nghĩa vạn lần hơn trước.

Trở lại trường hợp chú Bảy. Mỗi khi chú dùng giây phút quán chiếu để trở về với chính mình và làm chủ được tình trạng, chú thường mỉm cười để chứng tỏ sự chiến thắng để có thêm đưc tin ở khả năng mình.

Quán Chiếu.

Ta nên dành một ít thì giờ để tĩnh tâm, thiền toạ, đối diện với chính mình và cứu xét nguyên lý duyên khởi trong các sự việc xảy ra hằng ngày. Phải tìm được giờ yên tĩnh, hoặc ở gia đình, howajc ở chùa, hoặc trong công viên, hoặc ngoài đồng ruộng để thực hiện điều này.

"Tôi không có thời giờ" mọi người đều nói thế. Đúng rùi, buổi sáng thức dậy thì lo đi làm, chiều làm về thì mệt, ăn cơm xong thì chỉ muốn nghỉ ngơi để sáng mai lại đi làm. Ai sống trong thời buổi này mà không bận rộn. Nhưng chính làm thế nào để đừng sống như một bộ máy, làm thế nào má có được thì giờ cho chính mình, làm thế nào để sống đời của mình, đó mới là vấn đề quan trong.

Buổi sáng khi múc nước vào chậu rửa mặt, đánh răng, cao râu, ta gọi đó là một sự bận bịu sao? Năm hoặc mười phút đồng hồ ấy có thể đi qua một cach vội vã, hấp tấp và vụt chạc; năm nay mười phút ấy trái lại, cũng có thể là năm mười phút thoải mái vui tươi mà ta có thể sống. Rửa mặt chỉ là để cho sạch mặt mũi thôi sao? Rửa mặt có thể là một lạc thú, một niềm vui đơn giản và trong lành. Nếu ta dùng năm mười phút ấy để lo âu, để tính toan công việc hằng ngày, thì ta không được hưởng cái niềm vui đơn giản và trong lành đó. Ta hãy gạt đi những nỗi lo âu, tính toán kia; cười trong tấm kính, ta nghĩ đên chậu nước mát, chiếc khăn bông sạch sẽ, một ngày trọn ven sẽ do cách sống của ta mà mở trở nên vui tươi... Trong ngày ta có những giờ vui như vậy. Khi ta tắm hoặc bợi trong dòng sông hoặc xối xuống vai nước mát lạnh bằng chiếc gáo dừa, ta có thể dùng thì giờ ấy để tĩnh tâm và quán chiếu. Khi ta đi làm về, từ bến xe buýt hoặc từ ngoài ruộng vườn đi bộ về nhà, ta có thể thở không khí trong lành hoặc quan sát sự sống chung quanh và quán chiếu tâm mình. nếu cóc một phòng riêng trong gia đfinh thì rất tốt, ta yêu cầu mọi người trong gia đình cho ta mười lăm phút hoặc nửa giờ an tĩnh. Tắm xong ta thắp một cây nhang cho tinh khiết. Cửa sổ mở ra nếu bên ngoài không ồn ào lắm. Ta đâu có cần phải bỏ ra hàng giờ, hàng buổi để tĩnh tâm thiền quán: Nếu mình là Phật tử mà không biết áp dụng những phương pháp này thì thật là uổng quá, cũng ví như có kho lúa gạo mà không biết ăn. Có gia tài mà không xài. Phương pháp tĩnh tâm như thế nào? Ta có thể học tập với những người bạn đã từng có kinh nghiệm, hoặc với những tăng sĩ có khả năng. Nếu chưa có ai để học hỏi, thì ta có thể mô phỏng mà tập theo phương pháp sau đây của chú Bảy, rất dơn giản mà cũng rất có hiệu quả, trong khi chờ đợi.

Buổi tối, sau khi tắm, chú Bảy mặc áo quần rộng rãi. Rất thông thả chú sắp đặt lại căn phòng của chú cho ngăn nắp, thay nước hoặc cắm lại một bông hoa hay một cành cây trên bàn Phật, và cuối cùng chú thấp một cây nhang. Từ khi bắt đầu một "công việc" như sắp lại mấy cuốn sách, cầm chiếc chổi lông phất bụi, chú biết tự nhiếp mình trong chính niệm, mỗi của chỉ, mỗi động tác của chú đều ung dung thư thái và đặt dưới sự kiểm soát hòa và sáng suốt của ý thức. Chú Bảy cảm thấy nhejnhafng, thoải mái và an lạc. Chú nhất định không hấp tấp, không vụt chạc, bởi vì chú biết rằng: cắm một bình hoa không hẳn là để có một bình hoa: cắm một bình hoa là để cắm một bình hoa; động tác cắm hoa còn quan trọng hơn cả kết quả của độntascaasy (tức là kết quả của bình hoa đẹp). Cắm hoa là để quán chiếu tâm mình, là thiền định, là chính niệm, là sống trọn vẹn giây phút hiện tại. Trong khi cắm hoa chú Bảy thấy lòng thanh tịnh, an lạc, chú có ý thức rõ ràng rằng chú đang cắm hoa, đang sống an lành giờ phút chú cắm hoa. Nếu ta làm được như chú Bảy ta sẽ thấy cử chỉ ung dung, từ hòa, thân thể ta thư thái và tâm lý ta lâng lang một niềm vui thanh thoát. Nghệ thuật cắm hoa và pha trà phát xuất từ thiền viện, bắt nguồn từng nguyên tắc chính niệm này. Chú Bảy để ra năm phút để cắm một bình hoa. Phí thì giờ quá, người ta có thể nghĩ, nhưng đây là thì giờ của ý thức, của quán niệm, của an lạc, còn quý giá gấp ngàn lần thì giờ để dành vào việc lo lắng, bực bội và mưu toan.

Cắm hoa hoặc quyest nhà hay xếp sách trên bàn thì cũng vậy. Ta nên thong thả mà làm TRONG TINH THẦN CHÍNH NIỆM. Đó chính là sự tu tập quan trọng nhất. Trong tu viện thiền, những khi nấu cơm, rửa chén bát, gánh nước, quyest sân...nhà thiền giả cũng luôn luôn tu taajpchisnh niệm và quán chiếu, giống như khi chú Bảy cắm hoa vậy.

Sau khi dọn dẹp căn phòng, đốt một cây nhang, cắm thật thẳng trong lư hương, chú Bảy thắp một cây đèn cầy (nến) để cho ánh sáng trở nên dịu dàng hơn và chú tắt điện, bởi vì đèn điện chói quá. Chú ngồi lại ngay ngắn trước bàn Phật, trên chiếu, tren ghế, hoặc trên bộ ván theo kiểu bán già . Thật ra ta ngồi như thế nào cho thật thoải mái là được, không cần phải ngồi theo kiểu bán già như chú. Nhưng ta tập ngồi được theo kiểu bán già thì lại càng hay. ngồi bán già dễ hownngoofi kiết già: Chú Bảy ngồi ngay thẳng,bắp chân trái để trên bắp chân mặt hoặc bắp chân mặt để trên bắp chân trái. hai tay đặt trên bắp chân, chính giữa , lòng bàn tay mặt đặt trên lòng tay trái. Sống lưng chú ý thẳng, đầu thẳng, mắt chú hơi khếp nhìn về phía trước chừng hai thướt, miệng chú hơi mỉm cười. Ngồi kiết già thì cũng giống như bán già. nhưng bàn chân phải đặt trên bắp chân trái và bàn chân trái đặt trên bắp chân phải. Ngồi kieestgiaf chưa quen thì đau lắm, nhưng quen rồi thì không đau đớn gì nữa. Ngồi kiết già hay kiết già là những thê ngồi rất vững mạnh; khi ngồi như thế ta thấy tam hồn ta vững trãi,tỉnh táo và tinh tiến hơn.
Đăng nhập để trả lời
0