<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-11-13 05:42:36Sao Việt>
ĐẠO PHẬT ÁP DỤNG VÀO ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY.
Tác giả : Thích Huyền Quang và Thích Nhất Hạnh.
Chủ đề : Phật Học
Xuất bản : Cương lĩnh giáo lý nhập thể của Phật giáo Việt Nam hiện đại, Viên Hóa Đạo xuất bản lần thứ nhất - 1973.
LỜI MỞ ĐẦU.
Sách này được viết ra nhằm mục đích đỡ bớt đôi phần mệt nhọc cho quý giảng sư và cán bộ văn hóa xã hội của Giáo hội Phật giáo. Chúng tôi đã y cứ vào huấn chỉ của quý vị lãnh đạo hai viện Tăng Thống và Hóa Đạo để diễn giải cương lĩnh của nền Phật học nhập thế hiện đại.
Cố nhiên dù có thiện chí đến đâu đi nữa chúng tôi vẫn còn mắc phải nhiều thiếu sót sai lầm. Kinh mong quý vị, trong khi sử dụng sách, bổ túc những thiếu sót và sai lầm đó cho, chúng tôi rất cảm tạ. Nếu được quý vị gửi cho những lời chỉ giáo, chúng tôi sẽ có thể làm cho sách thêm hoàn hảo trong ấn bản thứ hai.
Giáo lý đạo Phật là giáo lý khế cơ và sách này không phải là sách của muôn thời. Trong khoảng mười năm, cuốn sách này sẽ thay trải qua nhiều thử thách, thay đổi và chắc hẳn cương lĩnh giáo lý nhập thế sẽ được trình bày dưới một hình thức thích hợp hơn nữa, và các bậc cao minh trong Phật học giới sẽ cống hiến quần chúng những tác phẩm có giá trị lớn lao về lượng cũng như về phẩm. Riêng chúng tôi, nếu cuốn sách này giúp đỡ quý giảng sư và quý vị cán bộ Giáo Hội được muôn một nào thì đó là một phần thưởng vô cùng quý giá rồi. Chúng tôi rất mong được nghe lời phê bình xây dựng xuất phát từ kinh nghiệm của Quý vị trong lúc trực tiếp làm Phật sự. Xin gửi thư cho chúng tôi về chùa Ấn Quang. Xin cảm ơn quý vị.
Thích Huyền Quang và Thích Nhất Hạnh.
Chương 1 : Đạo Phật Và Sự Sống.
Chương 2 : Xây Dựng Bản Thân.
Chương 3 : Xây Dựng Gia Đình.
Chương 4 : Xây Dựng Xóm Làng (hay khu phố).
Chương 5 : Xây Dựng Giáo Hội.
Chương 6 : Xây Dựng Quốc Gia.
Chương 7 : Xây Dựng Thế Giới.
CHƯƠNG 1 : ĐẠO PHẬT VÀ SỰ SỐNG.
Đạo Phật Việt Nam Trong Quá Khứ.
Đạo Phật Việt Nam trong quá khứ đã góp phần xây dựng con người và xã hội Việt nam. Đạo Phật được đưa vào nước ta vào khoảng cuối thế kỷ thứ hai do những vị tăng sĩ và những thương gia Ấn Độ và Trung Á tới Việt Nam bằng đường biển Ấn Độ Dương. Từ đấy tới cuối thế kỷ thứ sáu các vị tăng sĩ và thương gia này liên tục tới Việt Nam. Và cộng tác với họ, dân ta đã dựng chùa, xây tháp, thờ Phật và đọc kinh. Các kinh điển thời đó hoặc bằng tiếng Sanskirt hoặc là bằng chữ Hán do những tăng sĩ Ấn Độ dịch ra với sự cộng tác của những người Việt giỏi Hán tự. Vào cuối thế kỷ thứ sáu, ở thủ đô Luy Lâu của nước ta đã có hai mươi ngôi chùa, hơn năm trưm vị tăng sĩ và mười lăm bộ kinh đã được phiên dịch và lưu hành. Nước ta hồi ấy là một trung tâm Phật Giáo, từ đó đạo Phật được truyền qua Trung Hoa. Các tăng sĩ từ Ấn Độ sang thường lưu trú tạo Giao Châu để hoằng hoá một thời gian trước khi đi Trung Quốc. Từ đó tu sĩ Trung Quốc trên đường hành hương Ấn Độ cũng thường ghé lưu trú tại Giao Châu.
Cuối thế kỷ thứ sáu, một vị tăng sĩ Ấn Độ tên Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) sau khi vân du Trung Hoa, tới kinh đô Luy Lâu ở lại chùa Pháp Vân và thành lập phái Thiền Tông đầu tiên tại nước ta gọi là phái TỲ NI ĐA LƯU CHI. Vào đầu thế kỷ thứ chín, một vị thiền sư Trung Hoa tên là Vô Ngôn Thông sang nước ta, trú tại chùa Kiến Sơ và thành lập phái Thiền Tông thứ hai tại nước ta gọi là phái VÔ NGÔN THÔNG. Giữa thế kỷ thứ mười một cùng với Tháo Đường Thiền Sư, vua Lý Thánh Tông thành lập một phái Thiền Tông thứ ba gọi là phái THẢO ĐƯỜNG. Vào thế kỷ thứ mười ba, vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia, lập một phái thiền tông thứ tư nữa gọi là phái TRÚC LÂM YÊN TỬ.
Các phái Thiên Tông này đã đóng góp rất nhiều trong công trình xây dựng nền độc lập chính trị và văn hoá của nước ta. Phái TỲ NI ĐA LƯU CHI đã hổ trợ đắc lực cho các triều đại độc lập đầu tiên ở Việt Nam là triều đại Đinh, Tiền Lê và Lý. Pháp Thuận Thiền Sư và Vạn Hạnh Thiền Sư là những vị cao tăng của phái này đã từng làm cố vấn văn hoá, chính trị và quân sự cho các triều đình Việt Nam và đem thế lực Phật giáo hỗ trợ cho việc xây dựng quốc gia. Khuông Việt Thiền Sư của phái VÔ NGÔN THÔNG cũng đã phụ tá đắc lực cho vua Đinh Tiên Hoàng trong việc dựng nước. Đạo Phật đã xây dựng cho đời Lý những triều đình có kỷ cương, có văn hoá, có pháp chế. Kỷ cương, văn hoá và pháp chế này đã được xây dựng trên tinh thần Từ Bi và Khoan Dung. Triều Lý có thể gọi là triều đình Từ Bi và Khoan Dung nhất trong lịch sử Việt Nam, và điều đó là công của đạo Phật. Phái TRÚC LÂM YÊN TỬ ra đời tại Việt nam vào đầu triều Trần, là một phái thiền Việt Nam hợp nhất các truyền thống thiền đã có từ trước. Những nhà lãnh đạo của phái TRÚC LÂM như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ. Điều Ngự Giác Hoàng, Pháp Loa Đại Sư và Huyền Quang Đại Sư... đã đóng góp rất nhiều cho nền học thuật, tư tưởng và văn hoá Việt Nam. Phật Giáo triều Trần tiếp nối Phật Giáo triều Lý, đã giúp đỡ phát huy Nho Giáo và sử dụng triết học hành động chính trị của Nho Giáo trong tinh thần vị tha va cởi mở của Phật Giáo. Do đó cho nên Phật Giáo, Nho Giáo và Lão Giáo đã được hoà đồng một cách rất tốt đẹp trong những thời đại hưng thịnh ấy của đất nước Việt Nam. Đạo Phật đã đóng vai trò điều hợp và hoá giải giữa các thế lực tranh chấp, góp phần xây dựng tinh thần dân tộc, bảo vệ nền độc lập quốc gia. Đạo Phật đã ảnh hưởng tới đời sống tình cảm, tâm linh và trí thức của con người Việt Nam, khiến cho người Việt tuy ham chuộng hoà bình nhưng vẫn tự lực tự cường không để cho ai áp chế, tuy giữ gìn và quý trọng tài văn hoá dân tộc nhưng vẫn cởi mở đón chào và thâu nhận những tinh hoa của các nền văn hoá thế giới.
Đạo Phật Việt Nam Trong Hiện Tại.
Đạo Phật Việt Nam trong hiện tại tiếp tục xây dựng con người và xã hội Việt Nam, đồng thời góp sức vào sự xây dựng cộng đồng nhân loại. Cuộc chiến tranh kéo dài trên hai mươi năm đã tàn phá bao nhiêu sinh mạng và tài sản của quốc gia Việt Nam. Không những thế, cuộc chiến tranh còn gây căm thù nghi kỵ giữa người Việt với người Việt. Phật Giáo Việt Nam trong hai mươi lăm năm qua đã đóng góp phần mình trong cuộc tranh đấu cho chủ quyền đất nước và hòa bình dân tộc và người Phật tử Việt Nam đã chịu chung gian lao nguy khó với đồng bào và đất nước. Để chống lại sự tàn phá đất nước và sự tàn phá những giá trị con người, đạo Phật Việt Nam đã nỗ lực giữ vững niềm tin của người Việt Nam nơi truyền thống và khả năng tổng hợp văn hóa của truyền thống dân tộc, giữ cho xã hội không tan nát vì phân hóa, hoài nghi và căm thù. Kêu gọi mọi người trở về với truyền thống văn hóa dân tộc, đạo Phật Việt Nam chống lại mọi mưu toan bên ngoài muốn dùng xương máu Việt Nam để làm hàng rào phòng thủ của họ. Đạo Phật Việt Nam đồng thời cũng nhắm đến sự xây dựng xã hội Việt Nam về các phương diện kinh tế, y tế và giáo dục để làm nền tảng vững chắc cho hòa bình. Thế giới đang bị đặt trong tình trạng hiểm nguy : nạn nhân mãn, nạn đói kém, nạn nhiễm độc và chiến tranh nguyên tử đang đe dọa số phận con người Việt Nam cần sớm đạt tới hòa bình và kiểm soát được vận mệnh mình để có thể góp phần hữu hiệu với các quốc gia khác trong việc đối phó với những hiểm trạng kia. Một cộng đòng nhân loại trong đó người không bóc lột người, ranh giới giữa các quốc gia chủng tộc không còn là ngồn gốc tranh chấp kỳ thị, đó cũng là mục tiêu mà Việt Nam nhắm tới.
Áp Dụng Đạo Phật Trong Đời Sống Mới.
Người Phật tử Việt Nam nhìn rõ thực tại tâm lý, kinh tế và xã hội của thời đại và áp dụng giáo lý đạo Phật một cách thông minh vào đời sống mới, không bị ràng buộc bởi thành kiến và thói quen. Đức Phật là một bực Đại Đạo Sư. Thâm hiểu những điều kiện tâm lý, kinh tế và xã hội con người của thời đại ngài, Đức Phật đã truyền dạy những giáo lý thích hợp với con người của thời đại ấy. Giáo lý của Đức Phật phù hợp với các điều kiện sinh hoạt tâm lý, kinh tế và xã hội của con người cho nên được gọi là một giáo lý KHẾ CƠ. Trong suốt lịch sử của Phật giáo, ta thấy xuất hiện nhiều hệ thống giáo lý mới phát xuất từ Phật Giáo Nguyên Thỉ, như giáo lý Tịnh độ, giáo lý Thiền, giáo lý Duy Thức, Giáo lý Thiên Thai. Những giáo lý này vừa khế hợp với căn bản đạo Phật vừa khế hợp với những điều kiện tâm lý và xã hội của con người đương thời. Phật giáo là một tôn giáo không báo thù, biết cởi mở và khai phóng để rộng mở chân trời tương lai. Tuy cởi mở, khai phóng và tiếp tục được truyền thống từ bi, khoan dung, vô uý và giải thoát. Thái độ bảo thủ vì thói quen vì thành kiến và cố chấp là một thái độ trái ngược với tinh thần cởi mở và tiến bộ của đạo Phật. Người Phật tử không thể nhắm mắt làm theo tất cả những điều mà người xưa đã làm, lấy cớ "xưa bày nay làm". Người Phật tử phải xem xét những điều do người xưa bày ra hiện cón có giá trị trong hoàn cảnh hiện tại hay không. Nếu còn thì ta vẫn tiếp tục thi hành. Nhưng nếu những điều ấy không còn giá trị nữa thì ta bỏ và tìm ra những điều khác thích hợp với ta hơn. Ngày xưa khi còn tại thế Đức Phật và các môn đệ cùng thời với ngài đã áp dụng phấp chế khất thực chẳng hạn. Ở các nước Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, trong suốt mười thế kỷ, tăng sĩ ít khi thực hành pháp chế tri bất khất thực đó, tại vì điều kiện phong thổ và tập quán ở các nước này khác với Ấn Độ thuở xưa. Như thế không có nghĩa là Phật Giáo các nước đó chống với Phật Giáo Ấn Độ. Như thế chỉ có nghĩa là Phật Giáo tại các nước đó đã chuyển biến để khế hợp với những điều kiện sinh hoạt tại các nước đó mà thôi. Lấy ví dụ ấy mà xét thì nếu ta muốn cho đạo Phật có sinh khí, ta phải biết áp dụng đạo Phật một cách thông minh vào những điều kiện sinh hoạt tâm lý, kinh tế và xã hội của đời sống chúng ta. Đạo Phật không phải là của riêng của một số người ẩn dật nơi tu viện. Đạo Phật là của mọi lớp người: của thiếu nhi, của thanh niên, của phụ nữ, của lao động trí thức và lao động chân tay. Đạo Phật chỉ có sinh lực khi nào giáo lý đạo Phật được áp dụng trong đời sống hằng ngày, trong các lãnh vực giáo dục, y tế, chính trị, kinh tế, tổ chức, trong đời sống cá nhân cũng như trong đời sống gia đình, quốc gia và xã hội. Người Phật tử phải đặt câu hỏi tương tự như sau đây: Trong một xã hội mà con người bị lôi cuốn theo guồng máy kinh tế và chính trị đến nổi con người khó có thể bảo tồn tự do và nhân tính của mình, thì đạo Phật dạy con người ấp dụng thái độ nào và hành động những gì để khôi phục tự do và nhân tính ấy? Đối với cuộc chiến tranh diệt chủng và tàn phá sinh mệnh và giá trị con người, đạo Phật dạy ta hành động thế nào? Trước hiểm hoạ mà nhân loại đang phải đương đầu, đạo Phật dạy ta con đường nào để có thể tự cứu? Nếu đạo Phật không trả lời được những câu hỏi như thế, thì ta không thể nói rằng đạo Phật là đạo của sự sống. Kỳ thực, người Phật tử tin rằng trong đạo Phật có hàm chứa những nguyên lý căn bản có thể trả lời được mọi vấn đề của sự sống, và do đó, đem những nguyên tắc kia áp dụng vào đời sống các nhân và xã hội hiện tại ta sẽ tìm thấy những câu trả lời thích hợp. Bản thân ta và sự sống của ta chính là môi trường thực nghiệm từ đó được tìm ra những câu giải đáp, gọi là ĐẠO PHẬT ỨNG DỤNG. Những điều kiện sinh hoạt tâm lý, kinh tế và xã hội luôn luôn thay đổi cho nên mỗi thời đại và mỗi địa phương cần có một đạo Phật ứng dụng thích hợp. Thành kiến và thói quen thường khiến cho con người ta sợ hãi sự thay đổi và sự sáng tạo. Đạo Phật là một đạo sống động, do đó cầ sự đổi thay và sáng tạo liên tục. Phật tử đừng để cho thành kiến và thói quen bó buộc. Phật tử cần luôn luôn là một đạo sống động chứ không khô chết trong những cái vỏ hình thức và thiếu sinh khí.
Tác giả : Thích Huyền Quang và Thích Nhất Hạnh.
Chủ đề : Phật Học
Xuất bản : Cương lĩnh giáo lý nhập thể của Phật giáo Việt Nam hiện đại, Viên Hóa Đạo xuất bản lần thứ nhất - 1973.
LỜI MỞ ĐẦU.
Sách này được viết ra nhằm mục đích đỡ bớt đôi phần mệt nhọc cho quý giảng sư và cán bộ văn hóa xã hội của Giáo hội Phật giáo. Chúng tôi đã y cứ vào huấn chỉ của quý vị lãnh đạo hai viện Tăng Thống và Hóa Đạo để diễn giải cương lĩnh của nền Phật học nhập thế hiện đại.
Cố nhiên dù có thiện chí đến đâu đi nữa chúng tôi vẫn còn mắc phải nhiều thiếu sót sai lầm. Kinh mong quý vị, trong khi sử dụng sách, bổ túc những thiếu sót và sai lầm đó cho, chúng tôi rất cảm tạ. Nếu được quý vị gửi cho những lời chỉ giáo, chúng tôi sẽ có thể làm cho sách thêm hoàn hảo trong ấn bản thứ hai.
Giáo lý đạo Phật là giáo lý khế cơ và sách này không phải là sách của muôn thời. Trong khoảng mười năm, cuốn sách này sẽ thay trải qua nhiều thử thách, thay đổi và chắc hẳn cương lĩnh giáo lý nhập thế sẽ được trình bày dưới một hình thức thích hợp hơn nữa, và các bậc cao minh trong Phật học giới sẽ cống hiến quần chúng những tác phẩm có giá trị lớn lao về lượng cũng như về phẩm. Riêng chúng tôi, nếu cuốn sách này giúp đỡ quý giảng sư và quý vị cán bộ Giáo Hội được muôn một nào thì đó là một phần thưởng vô cùng quý giá rồi. Chúng tôi rất mong được nghe lời phê bình xây dựng xuất phát từ kinh nghiệm của Quý vị trong lúc trực tiếp làm Phật sự. Xin gửi thư cho chúng tôi về chùa Ấn Quang. Xin cảm ơn quý vị.
Thích Huyền Quang và Thích Nhất Hạnh.
Chương 1 : Đạo Phật Và Sự Sống.
Chương 2 : Xây Dựng Bản Thân.
Chương 3 : Xây Dựng Gia Đình.
Chương 4 : Xây Dựng Xóm Làng (hay khu phố).
Chương 5 : Xây Dựng Giáo Hội.
Chương 6 : Xây Dựng Quốc Gia.
Chương 7 : Xây Dựng Thế Giới.
CHƯƠNG 1 : ĐẠO PHẬT VÀ SỰ SỐNG.
Đạo Phật Việt Nam Trong Quá Khứ.
Đạo Phật Việt Nam trong quá khứ đã góp phần xây dựng con người và xã hội Việt nam. Đạo Phật được đưa vào nước ta vào khoảng cuối thế kỷ thứ hai do những vị tăng sĩ và những thương gia Ấn Độ và Trung Á tới Việt Nam bằng đường biển Ấn Độ Dương. Từ đấy tới cuối thế kỷ thứ sáu các vị tăng sĩ và thương gia này liên tục tới Việt Nam. Và cộng tác với họ, dân ta đã dựng chùa, xây tháp, thờ Phật và đọc kinh. Các kinh điển thời đó hoặc bằng tiếng Sanskirt hoặc là bằng chữ Hán do những tăng sĩ Ấn Độ dịch ra với sự cộng tác của những người Việt giỏi Hán tự. Vào cuối thế kỷ thứ sáu, ở thủ đô Luy Lâu của nước ta đã có hai mươi ngôi chùa, hơn năm trưm vị tăng sĩ và mười lăm bộ kinh đã được phiên dịch và lưu hành. Nước ta hồi ấy là một trung tâm Phật Giáo, từ đó đạo Phật được truyền qua Trung Hoa. Các tăng sĩ từ Ấn Độ sang thường lưu trú tạo Giao Châu để hoằng hoá một thời gian trước khi đi Trung Quốc. Từ đó tu sĩ Trung Quốc trên đường hành hương Ấn Độ cũng thường ghé lưu trú tại Giao Châu.
Cuối thế kỷ thứ sáu, một vị tăng sĩ Ấn Độ tên Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) sau khi vân du Trung Hoa, tới kinh đô Luy Lâu ở lại chùa Pháp Vân và thành lập phái Thiền Tông đầu tiên tại nước ta gọi là phái TỲ NI ĐA LƯU CHI. Vào đầu thế kỷ thứ chín, một vị thiền sư Trung Hoa tên là Vô Ngôn Thông sang nước ta, trú tại chùa Kiến Sơ và thành lập phái Thiền Tông thứ hai tại nước ta gọi là phái VÔ NGÔN THÔNG. Giữa thế kỷ thứ mười một cùng với Tháo Đường Thiền Sư, vua Lý Thánh Tông thành lập một phái Thiền Tông thứ ba gọi là phái THẢO ĐƯỜNG. Vào thế kỷ thứ mười ba, vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia, lập một phái thiền tông thứ tư nữa gọi là phái TRÚC LÂM YÊN TỬ.
Các phái Thiên Tông này đã đóng góp rất nhiều trong công trình xây dựng nền độc lập chính trị và văn hoá của nước ta. Phái TỲ NI ĐA LƯU CHI đã hổ trợ đắc lực cho các triều đại độc lập đầu tiên ở Việt Nam là triều đại Đinh, Tiền Lê và Lý. Pháp Thuận Thiền Sư và Vạn Hạnh Thiền Sư là những vị cao tăng của phái này đã từng làm cố vấn văn hoá, chính trị và quân sự cho các triều đình Việt Nam và đem thế lực Phật giáo hỗ trợ cho việc xây dựng quốc gia. Khuông Việt Thiền Sư của phái VÔ NGÔN THÔNG cũng đã phụ tá đắc lực cho vua Đinh Tiên Hoàng trong việc dựng nước. Đạo Phật đã xây dựng cho đời Lý những triều đình có kỷ cương, có văn hoá, có pháp chế. Kỷ cương, văn hoá và pháp chế này đã được xây dựng trên tinh thần Từ Bi và Khoan Dung. Triều Lý có thể gọi là triều đình Từ Bi và Khoan Dung nhất trong lịch sử Việt Nam, và điều đó là công của đạo Phật. Phái TRÚC LÂM YÊN TỬ ra đời tại Việt nam vào đầu triều Trần, là một phái thiền Việt Nam hợp nhất các truyền thống thiền đã có từ trước. Những nhà lãnh đạo của phái TRÚC LÂM như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ. Điều Ngự Giác Hoàng, Pháp Loa Đại Sư và Huyền Quang Đại Sư... đã đóng góp rất nhiều cho nền học thuật, tư tưởng và văn hoá Việt Nam. Phật Giáo triều Trần tiếp nối Phật Giáo triều Lý, đã giúp đỡ phát huy Nho Giáo và sử dụng triết học hành động chính trị của Nho Giáo trong tinh thần vị tha va cởi mở của Phật Giáo. Do đó cho nên Phật Giáo, Nho Giáo và Lão Giáo đã được hoà đồng một cách rất tốt đẹp trong những thời đại hưng thịnh ấy của đất nước Việt Nam. Đạo Phật đã đóng vai trò điều hợp và hoá giải giữa các thế lực tranh chấp, góp phần xây dựng tinh thần dân tộc, bảo vệ nền độc lập quốc gia. Đạo Phật đã ảnh hưởng tới đời sống tình cảm, tâm linh và trí thức của con người Việt Nam, khiến cho người Việt tuy ham chuộng hoà bình nhưng vẫn tự lực tự cường không để cho ai áp chế, tuy giữ gìn và quý trọng tài văn hoá dân tộc nhưng vẫn cởi mở đón chào và thâu nhận những tinh hoa của các nền văn hoá thế giới.
Đạo Phật Việt Nam Trong Hiện Tại.
Đạo Phật Việt Nam trong hiện tại tiếp tục xây dựng con người và xã hội Việt Nam, đồng thời góp sức vào sự xây dựng cộng đồng nhân loại. Cuộc chiến tranh kéo dài trên hai mươi năm đã tàn phá bao nhiêu sinh mạng và tài sản của quốc gia Việt Nam. Không những thế, cuộc chiến tranh còn gây căm thù nghi kỵ giữa người Việt với người Việt. Phật Giáo Việt Nam trong hai mươi lăm năm qua đã đóng góp phần mình trong cuộc tranh đấu cho chủ quyền đất nước và hòa bình dân tộc và người Phật tử Việt Nam đã chịu chung gian lao nguy khó với đồng bào và đất nước. Để chống lại sự tàn phá đất nước và sự tàn phá những giá trị con người, đạo Phật Việt Nam đã nỗ lực giữ vững niềm tin của người Việt Nam nơi truyền thống và khả năng tổng hợp văn hóa của truyền thống dân tộc, giữ cho xã hội không tan nát vì phân hóa, hoài nghi và căm thù. Kêu gọi mọi người trở về với truyền thống văn hóa dân tộc, đạo Phật Việt Nam chống lại mọi mưu toan bên ngoài muốn dùng xương máu Việt Nam để làm hàng rào phòng thủ của họ. Đạo Phật Việt Nam đồng thời cũng nhắm đến sự xây dựng xã hội Việt Nam về các phương diện kinh tế, y tế và giáo dục để làm nền tảng vững chắc cho hòa bình. Thế giới đang bị đặt trong tình trạng hiểm nguy : nạn nhân mãn, nạn đói kém, nạn nhiễm độc và chiến tranh nguyên tử đang đe dọa số phận con người Việt Nam cần sớm đạt tới hòa bình và kiểm soát được vận mệnh mình để có thể góp phần hữu hiệu với các quốc gia khác trong việc đối phó với những hiểm trạng kia. Một cộng đòng nhân loại trong đó người không bóc lột người, ranh giới giữa các quốc gia chủng tộc không còn là ngồn gốc tranh chấp kỳ thị, đó cũng là mục tiêu mà Việt Nam nhắm tới.
Áp Dụng Đạo Phật Trong Đời Sống Mới.
Người Phật tử Việt Nam nhìn rõ thực tại tâm lý, kinh tế và xã hội của thời đại và áp dụng giáo lý đạo Phật một cách thông minh vào đời sống mới, không bị ràng buộc bởi thành kiến và thói quen. Đức Phật là một bực Đại Đạo Sư. Thâm hiểu những điều kiện tâm lý, kinh tế và xã hội con người của thời đại ngài, Đức Phật đã truyền dạy những giáo lý thích hợp với con người của thời đại ấy. Giáo lý của Đức Phật phù hợp với các điều kiện sinh hoạt tâm lý, kinh tế và xã hội của con người cho nên được gọi là một giáo lý KHẾ CƠ. Trong suốt lịch sử của Phật giáo, ta thấy xuất hiện nhiều hệ thống giáo lý mới phát xuất từ Phật Giáo Nguyên Thỉ, như giáo lý Tịnh độ, giáo lý Thiền, giáo lý Duy Thức, Giáo lý Thiên Thai. Những giáo lý này vừa khế hợp với căn bản đạo Phật vừa khế hợp với những điều kiện tâm lý và xã hội của con người đương thời. Phật giáo là một tôn giáo không báo thù, biết cởi mở và khai phóng để rộng mở chân trời tương lai. Tuy cởi mở, khai phóng và tiếp tục được truyền thống từ bi, khoan dung, vô uý và giải thoát. Thái độ bảo thủ vì thói quen vì thành kiến và cố chấp là một thái độ trái ngược với tinh thần cởi mở và tiến bộ của đạo Phật. Người Phật tử không thể nhắm mắt làm theo tất cả những điều mà người xưa đã làm, lấy cớ "xưa bày nay làm". Người Phật tử phải xem xét những điều do người xưa bày ra hiện cón có giá trị trong hoàn cảnh hiện tại hay không. Nếu còn thì ta vẫn tiếp tục thi hành. Nhưng nếu những điều ấy không còn giá trị nữa thì ta bỏ và tìm ra những điều khác thích hợp với ta hơn. Ngày xưa khi còn tại thế Đức Phật và các môn đệ cùng thời với ngài đã áp dụng phấp chế khất thực chẳng hạn. Ở các nước Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, trong suốt mười thế kỷ, tăng sĩ ít khi thực hành pháp chế tri bất khất thực đó, tại vì điều kiện phong thổ và tập quán ở các nước này khác với Ấn Độ thuở xưa. Như thế không có nghĩa là Phật Giáo các nước đó chống với Phật Giáo Ấn Độ. Như thế chỉ có nghĩa là Phật Giáo tại các nước đó đã chuyển biến để khế hợp với những điều kiện sinh hoạt tại các nước đó mà thôi. Lấy ví dụ ấy mà xét thì nếu ta muốn cho đạo Phật có sinh khí, ta phải biết áp dụng đạo Phật một cách thông minh vào những điều kiện sinh hoạt tâm lý, kinh tế và xã hội của đời sống chúng ta. Đạo Phật không phải là của riêng của một số người ẩn dật nơi tu viện. Đạo Phật là của mọi lớp người: của thiếu nhi, của thanh niên, của phụ nữ, của lao động trí thức và lao động chân tay. Đạo Phật chỉ có sinh lực khi nào giáo lý đạo Phật được áp dụng trong đời sống hằng ngày, trong các lãnh vực giáo dục, y tế, chính trị, kinh tế, tổ chức, trong đời sống cá nhân cũng như trong đời sống gia đình, quốc gia và xã hội. Người Phật tử phải đặt câu hỏi tương tự như sau đây: Trong một xã hội mà con người bị lôi cuốn theo guồng máy kinh tế và chính trị đến nổi con người khó có thể bảo tồn tự do và nhân tính của mình, thì đạo Phật dạy con người ấp dụng thái độ nào và hành động những gì để khôi phục tự do và nhân tính ấy? Đối với cuộc chiến tranh diệt chủng và tàn phá sinh mệnh và giá trị con người, đạo Phật dạy ta hành động thế nào? Trước hiểm hoạ mà nhân loại đang phải đương đầu, đạo Phật dạy ta con đường nào để có thể tự cứu? Nếu đạo Phật không trả lời được những câu hỏi như thế, thì ta không thể nói rằng đạo Phật là đạo của sự sống. Kỳ thực, người Phật tử tin rằng trong đạo Phật có hàm chứa những nguyên lý căn bản có thể trả lời được mọi vấn đề của sự sống, và do đó, đem những nguyên tắc kia áp dụng vào đời sống các nhân và xã hội hiện tại ta sẽ tìm thấy những câu trả lời thích hợp. Bản thân ta và sự sống của ta chính là môi trường thực nghiệm từ đó được tìm ra những câu giải đáp, gọi là ĐẠO PHẬT ỨNG DỤNG. Những điều kiện sinh hoạt tâm lý, kinh tế và xã hội luôn luôn thay đổi cho nên mỗi thời đại và mỗi địa phương cần có một đạo Phật ứng dụng thích hợp. Thành kiến và thói quen thường khiến cho con người ta sợ hãi sự thay đổi và sự sáng tạo. Đạo Phật là một đạo sống động, do đó cầ sự đổi thay và sáng tạo liên tục. Phật tử đừng để cho thành kiến và thói quen bó buộc. Phật tử cần luôn luôn là một đạo sống động chứ không khô chết trong những cái vỏ hình thức và thiếu sinh khí.