Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

BÌNH THƠ MẠNG

0 trả lời, 40 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-10-30 11:06:59Quãng Nhẫn>
ĐI TÌM HẠT DẺ THỨ NĂM (Đọc Thơ Tuyết Nga)

1.
Năm nay Chùa Viên Giác tổ chức Đại Lễ Vu Lan sớm hơn thường lệ, thông thường các lễ lớn ở Chùa chỉ tổ chức vào cuối tuần. Rằm tháng bảy năm nay nhằm vào thứ hai và thứ ba nên Chùa tổ chức vào cuối tuần nhằm ngày 12 và 13 tháng bảy

Đã gần chục năm nay, mình không đến Chùa vào các dịp lễ, chỉ thỉnh thoảng ghé thăm Chùa vào những dịp thường nhật. Năm nay có việc cần thiết nên lại trở về Chùa trong dịp lễ Vu Lan này.

Mười năm mới gặp lại những người bạn cũ, vốn luôn luôn ở trạng thái "đường ai nấy đi", chỉ có cơ hội gặp mặt ở các dịp lễ lạt ở Chùa.

Tay bắt mặt mừng, hỏi thăm nhau rối rít..rồi lại đường ai nấy đi. Nếu không có cơ hội đến Chùa vào các dịp lễ, thì có lẽ cũng sẽ mươi, mười lăm năm sau mới gặp lại. Đời mà.

Gặp lại, bạn bè ai cũng nói mình không thay đổi gì, thậm chí có người còn nói mình trẻ hơn 10 năm về trước. Mình không để ý, vì đa số là xã giao, ngay cả mình cũng khen bạn bè như vậy thôi. Mãi đến khi gặp cô bạn thân cũ, người Hàng Chiếu ngoài Hà Nội, cô này nói, ông ăn nhằm thứ khỉ gió gì mà trẻ ra vậy. Mình vẫn chưa tin, khi em trai cô ta, cũng là bạn thân của mình nói, bác trẻ và thần sắc tươi nhuận hơn hồi ở Göttingen thật đấy. Lúc đó mình mới tin là sự thật. Sướng âm ỉ.

Mình nói với cô bạn, cũng may là nhờ có phước của cô đấy. Mắc mớ gì tôi mà ông lại nói thế, cô ta hỏi. Thì nhờ cô không thèm để ý đến tôi, nên tôi mới được như vầy, nếu mà cô để ý đến tôi thì bây giờ hai đầu gối tôi đã run cầm cập rồi. Cô ta cười khánh khách, đúng là ông may thật đấy, nếu không, giờ này ông đã như cụ cố. Thằng bạn cười khì khì, đừng đùa, ông nói thật đi, có phải có toa thuốc nào hay, giữ làm của riêng phải không.

Mình nói thật, không có thứ thuốc gì đâu, tớ cũng chẳng kiêng cữ gì sất, ngày ngủ có mấy tiếng, thỉnh thoảng vẫn hút thuốc, ăn toàn mì tôm, nhưng tại bởi có tập khí công, và quan trọng nhất có lẽ là nhờ trà Thái Nguyên, nên chẳng bao giờ có bệnh tật gì, người cứ phây phây, lúc nào cũng hừng hực sáng tạo hết.

Cô bạn hỏi, nhờ trà thật à, thế cái khoản kia thế nào, có phây phây sáng tạo không, nếu đúng thế, tớ nói ông xã tớ phải uống trà mới được, dạo này hắn ta bết quá.

Mình cười, thì vẫn thế, mười năm không có gì cũng chả sao, nếu một đêm có mười cô cũng chẳng hề hấn gì. Cô bạn đỏ mặt. Mình hỏi, thế nào, gái Tây Hồ, có 3 phần tiên, 3 phần hồ ly, 3 phần yêu tinh, chỉ có 1 phần người mà cũng biết đỏ mặt à. Đỏ mặt quái gì, con này sợ chó gì ai, chỉ tại không ngờ dạo này ông cũng biết nói năng phũ ra phết. Thì cũng nhờ hồng phúc của cô đó thôi. Này, đừng có mà vớ vẩn lôi tớ vào đấy nhé. Chứ sao nữa, tớ biết nói tục là nhờ mê giọng nói Hà Thành của cô đấy. Cô ta đấm mình một phát, cái gì không mê, lại mê chửi thề, chán ông thế. Mình đau điếng cả người.

Thằng bạn, em cô bạn kia vốn là một tay lão luyện trong thương trường, từ hồi ở Tiệp cho đến sang Đức, và sang cả tận Canada nữa, dù thời thế có như thế nào, thì hắn cũng là người rất sáng giá trong cộng đồng về mặt làm ăn. Hắn bôn ba đó đây, lúc nào cũng ở vị trí "tiên phong" trong các phong trào làm kinh tế ở hải ngoại hết. Phải nói hắn là tay cao thủ trong giới "giang hồ" kinh tế ở bên này.

Có tài thì có tật, cái tật của hắn lại rơi đúng vào điểm khá nhạy cảm trong đời sống gia đình. Đó là con trai hắn.

Hắn yêu vợ hắn từ cái hồi cô ta còn bé tý teo, mới 15, 16 tuổi gì đó. Đến cho đến khi cô ấy tốt nghiệp xong đại học, thì cưới nhau và sinh con. Ở phương Tây mà có mối tình như vậy quả thật là hiếm hoi. Kính phục!

Con trai hắn mới có 3 tuổi. Cha nào mà chẳng thương con, nhưng hắn thương con đến phát khiếp, thương con đến cả nhăn nhó với người vợ yêu của mình, khi cô ta cho con ăn quá nhiều thứ thằng bé thích. Mẹ thì hiền, thương con nên chiều. Vậy là hắn lại cằn nhằn trách vợ, bảo, cho con ăn thế không đủ chất...

Thằng này dở, bôn ba giang hồ đó đây từng trải đến thế mà chẳng biết cách thương con thế nào cho đúng . Không ngờ cái thằng kiêu dũng thế mà lại thương con như phụ nữ. Chăm bẵm, lo lắng, nâng niu.. đến sợ luôn.

Chiều chủ nhật, thằng bé thích chơi vọc nước nơi mấy cái hồ non bộ trong Chùa, nên có vẻ sụt sịt húng hắng ho. Vậy là hắn bảo mấy người làm, dẹp tiệm, không bán buôn gì nữa hết, về! Thế là hắn cho dẹp cái cửa hàng văn hóa phẩm, một kiểu kinh doanh lấy lộc ở Chùa mà hắn đã tham gia đến gần hai chục năm nay, cho dù khách đang tấp nập vào mua.

Thương con kiểu ấy là không đúng kiểu thương của đấng trượng phu rồi. Cho dù ở thời buổi nào cũng vậy. Ngoài việc chăm nom, nuôi nấng và dạy bảo con nên người ra, còn phải trang bị cho con một thân thể cường tráng, một sức đề kháng mãnh liệt, một nội lực uyên nhuyễn trước mọi tình huống của thời tiết và môi trường xung quanh. Tất nhiên cũng phải huấn luyện cho con, một tinh thần vững chãi, nhạy cảm để dễ dàng đối kháng, thích nghi với mọi hoàn cảnh xã hội xảy ra. Cuộc đời biết đâu được mai hậu sẽ ra sao, cứ trải ra con đường nhung lụa cho con cái đi, đó đâu phải là đạo lý thương yêu ở đời chứ. Muốn thế thì phải cho tụi nhỏ quen với phong sương từ nhỏ, nghiêm khắc, không chiều chuộng chưa đủ, mà con phải đày ải nó trong sự khắc nghiệt, thậm chí còn phải cố tình cho nó đói, cho nó bệnh để sớm biết mùi đời, rồi sau đến lúc 11, 12, tuổi chiều nó cũng chưa muộn, miễn sao cho nó qua cái thời hình thành bản năng nhân cách cái đã..

Phải cho con trẻ biết mùi của đói khổ, biết mùi của bệnh tật...có thế, thân thể nó mới tạo ra sức đề kháng mãnh liệt, tinh thần nó mới vững vàng trước giông bão của đời người. Mai này nó mới thấu hiểu được lẽ sống ở đời cái gì là đáng quí.

Một số dân tộc thiểu số ở miền Trung nước ta có tục lệ, con mới sinh ra, đem xuống suối tắm ngay, rồi để trên vạt lá trải ven bờ cho qua một đêm, đứa nào còn sống sót mới nuôi lớn thành người. Tất nhiên đó là một tập tục khá dã man, nhưng đó cũng là một bài học cho các bậc làm cha mẹ ở đô thị. Trải tấm thảm nhung lụa cho con cái đi, rồi sao, ám ảnh từ sự hư đốn của những cậu ấm, cô chiêu đang xảy ra thường nhật trong xã hội. Chẳng phải là một nỗi nhức nhối, nỗi đau cho các bậc cha mẹ có tầm cỡ là "đại gia" đó sao.

Mình biết, mà không dám nói với hắn, vì hắn vốn là người khá cương liệt và bảo thủ, nói ra, không khéo hắn lại bảo mình là điên hay ghen tức với tình cha con của hắn thì bỏ mẹ. Nên đành lặng lẽ nhìn hắn cung cúc chăm bẵm, lo lắng cho con, nâng như nâng trứng, vuốt ve, nựng nịu như một nhành hoa. Mình thương thương, buồn buồn.


2.
Tối thứ sáu, sau khi làm việc ở công sở xong mình chở tranh bắn lên Chùa ngay cho kịp lời hẹn với mấy người bạn lo việc triển lãm tranh, nên quên mất cái túi đồ nghề uống trà. Thành ra hai ngày ở Chùa, mình không có trà uống, thèm ơi là thèm.

Thèm trà quá, người cứ ngây ngây dại dại, bí rì, ất ơ thế nào ấy, đi tìm thầy Hạnh Luận, vốn là một người bạn cũ, bây giờ là Đại Đức đang tu hành ở đây. Vì trong ngày lễ, Thầy bận tối mặt với kinh kệ, nên không chịu lấy trà cho mình. Lại càng thêm bồn chồn xốn xang vì nhớ trà.

Gặp sư huynh Thị Chơn, hỏi ở đâu có trà. Thị Chơn nói, trước cổng Chùa bán thiếu chi. Ảnh dẫn mình ra đó. Trời, thì ra là mấy thứ trà Tây bán cùng trong quán cà phê. Mình nói, trà này làm sao uống. Thị Chơn vặc lại mình, chú cứ cố chấp, trà nào chả là trà, chấp vậy thì đời sao hết khổ được. Chán, gặp người chuyên uống trà tim sen, làm sao mà thông cảm được với người nghiền trà mạn như mình.

Chiều chủ nhật mình mua vội mấy kg rau mồng tơi, mấy ký rau dền và một quả bầu, một quả bí đao do Chùa trồng được, rồi phắn nhanh về Hamburg. Phóng xe trên đường cao tốc, cứ nghĩ đến ấm trà sẽ pha ở nhà mà lòng lâng lâng như sắp được gặp người tình mới hẹn lần đầu. Cảm giác sướng thật!

Hoàng hôn của những ngày chớm thu có sắc trời màu tím sẫm, xe mình lao về phía trước như hút vào một màu tím huyền mị của chân trời. Mình nghĩ đến Em, và thế là trong đầu lại rưng rức mấy tứ thơ, mấy tứ thơ đó tối về sắp xếp lại thành ra bài "Đêm Rất Tím" *. Một bài thơ khá tình củm và loãng mạn, có hơi hướng chun chút tý phồn thực, một tứ thơ tình rất hiếm khi mình có được. Không biết là do hoàng hôn tím hay là do mình thèm trà mà có cảm xúc ấy, cho dù là do đâu đi nữa, thì cũng đều có cái để mà sáng tạo vậy. Đời mấy khi....

Về đến nhà, lôi ngay tách ấm và gói trà Thái Nguyên hôm trước lão Sát Thủ Sâm Cầm tặng, mình đang để dành chờ có bạn trà đem ra uống. Trà ngon thì cần có bạn hiền mới càng ngon mà.

Định pha uống một mình cho đã cơn nghiền, ai dè nước vừa đun sôi thì không còn thèm trà quay quắt nữa, mà lại thèm có bạn trà. Thế mới khốn chứ. Ở cái đất này, bói đâu ra bạn trà tương giao sẵn vậy. Mình nhấc điện thoại gào lên với lão Ba Đen. Lão nói, bận lắm, mới đi nghỉ hè về, công việc, giấy tờ cần giải quyết ngập cả mặt, đ. rảnh đâu. Mình hạ giọng năn nỉ hắn, hắn nói, OK, tối đến, giờ lo xong mấy việc, mai còn phải bay đi Pháp lo cái công ty bên ấy cho xong.

Thằng này vậy mà sướng, hè vi vu với bạn bè từ Việt Nam sang, hết Pháp, Ý, rồi đến Tây Ban Nha. Khi bạn bè về lại Việt Nam, thì vợ hắn lại gọi về đi Caribe nghỉ hè với chị em vợ từ Canada và Mỹ đã bay sang chờ sẵn bên Cuba. Mình biết tin, gọi điện thoại với vợ hắn nói, em mà để cho thằng Ba Đen sang Cuba là nguy hiểm lắm đấy, thằng này hồi ở Tiệp có khối bồ người Cuba, em để cho hắn đến Cuba, coi chừng tình cũ không rủ mà đến, mất chồng như chơi. Vợ hắn cười khanh khách qua điện thoại, ối giời ơi, anh đừng có mà ném đá vào tổ chim kiểu ấy nhé, xưa rồi, không có chiêu khác hay hơn để giữ lão Ba Đen ở nhà uống trà với anh hay sao mà phải giở cái mánh cũ rích ấy, tội nghiệp anh quá đi. Mình tức anh ách mà không biết làm sao. Đành cả tháng thui thủi uống trà một mình.

Tối chủ nhật, mãi đến 10 giờ đêm lão Ba Đen mới mò tới. Mình cũng giỏi ra phết, thèm trà đến thế, mà vẫn ngồi nhìn bộ ấm chén và gói trà cho đến khi hắn tới.

Lão Ba Đen tới, khi mình đang ngồi đọc say sưa tập thơ Hạt Dẻ Thứ Tư của Tuyết Nga. Ba Đen thấy vậy kinh ngạc, trời, trước lúc tôi đi Pháp thấy ông đang đọc cuốn này, tôi đi dễ có hơn một tháng rồi mà ông vẫn đọc chưa xong à, hè không đi đâu cho khuây khỏa, chỉ ngồi ôm có mấy cái hạt dẻ đó thôi sao. Mình ngửng mặt lên bình thản, mỗi người có một kiểu du lịch khác nhau, ông thì như mọi người thích đi đó đây ngắm phong cảnh thế giới, còn tôi thì thích du lịch trong mấy tập thơ, nói cho nó vuông, thì cũng đều để chiêm ngưỡng cái vẻ hoàn mỹ của tạo hóa cả thôi. Ông có khùng không đấy, vậy thì ngành du lịch mở ra cho chó nó đi tham quan à. Ok, ông cứ muốn làm thứ gì cũng được, để mà ngao du sơn thủy đó đây, còn tớ, tớ chỉ cần mấy câu thơ này mà còn không đủ thời gian du lịch trong vẻ đẹp tâm hồn của đời rồi, thì cũng là chiêm ngưỡng vẻ đẹp cả vậy thôi, có gì khác nhau đâu. Tôi thong thả vừa đứng dậy pha trà vừa trả lời.
- Hạt Dẻ Thứ Tư có gì hay ho mới lạ không mà ông có vẻ đắm đuối vậy. Ba Đen hỏi
- Nhiều thứ lắm, nhưng cái hút hồn tớ không phải là thi pháp hiện đại của nữ thi sĩ kiều diễm này, mà là sự đổ vỡ một công trình trí tuệ của tớ khi tớ đọc Hạt Dẻ Thứ Tư của Tuyết Nga.
- Đổ vỡ cái gì vậy?
- Buồn lắm, cậu biết đấy công trình sưu tập và nghiên cứu về nghệ thuật "chiết tự" cổ kim của tớ đã được tớ nâng cấp thành nghệ thuật "chiết văn". Tớ đã hao tốn không biết bao nhiêu công sức ghi chép lại, định viết thành một tập khảo luận, in ra phổ biến cho cộng đồng biết một trò chơi mới trong nghệ thuật dự đoán học. Nhưng khi đọc Tuyết Nga thì tớ chưng hửng, công trình của tớ thành ra công toi.
- Nói rõ ra coi, có phải là cái kiểu nhìn chữ, đọc văn mà đoán ra được vận số thịnh suy, và hình dáng tính cách của người viết, như cái hồi ông đã làm bên Vietshare không, hồi đó thông qua việc phát động làm bài thơ kỷ lục chung Quê Hương Dấu Yêu mà ông đã đoán được tính cách vận số của tất cả mọi người tham gia đó sao. Hồi đó tôi cũng ngồi tổng kết với ông, thấy đúng đến tám chín chục phần trăm mà, nhất là cái vụ ông đoán cái vận số sống không lâu nữa của cái cô Nữ sĩ gì đó đấy, sau đó mấy tháng, cô này vì mổ tim mà chết, đúng y chang, vậy sao giờ nói công toi là sao.

Tôi đứng dậy mở tủ, lấy tập bản thảo "Nghệ Thuật Chiết Tự và Chiết Văn" của tôi đang viết dở ra châm lửa đốt. Ba Den nhảy đến giằng lại nhưng không kịp. Ngọn lửa bùng lên, đốt cái công trình hơn năm năm sưu tập nghiên cứu của tôi. Ba Đen hét lên:
- Ông điên rồi à
- Điên gì mà điên, sai thì làm lại, cảm thấy việc làm vô nghĩa thì đốt nó đi, để đó lại tiếc, lại mất thời gian vô ích.
- Ông phải nói rõ tại sao đọc Hạt Dẻ Thứ Tư, ông lại nghĩ tiêu cực vậy, lại xóa bỏ tâm huyết bấy lâu của mình một cách không thương tiếc. Nếu ông không nói rõ, tôi không phục đâu.

Tôi buồn buồn nhấc ly trà lên tợp một ngụm nói.
- Tớ đã gặp Tuyết Nga rồi.
- Gặp rồi thì đã sao?
- Tuyết Nga là một phụ nữ đẹp, rất thùy mị và hiền thục, một vẻ đẹp rất hiền dịu rất Mẹ, rất Việt Nam, ở cô ta thấp thoáng có cái gì đó như lời ru, như ca dao, đằm thắm và đoan trang quyến rũ dịu dàng như một tứ lục bát vậy.
- Nếu thế thì cũng có liên quan gì đến công trình chiết tự của ông đâu, mà ông chỉ mới gặp thôi làm sao biết được cô ta đúng thật như ông đã nghĩ không?
- Cậu cũng biết tớ có đẳng cấp trong tướng số học mà, hơn nữa nghe bạn bè kể nhiều về Tuyết Nga rồi, đúng như cảm giác của tớ qua lần gặp đó. Liên quan chứ sao lại không liên quan. Thơ của Tuyết Nga khác với hoàn toàn con người của cô ấy. Thơ của Tuyết Nga dữ dội và bạo loạn trong thủ pháp, hiện đại và cực kỳ góc cạnh, gồ ghề đầy cảm bẫy và chông gai trong ngôn từ. Khi đọc thơ của Tuyết Nga, theo lý luận chiết văn của tớ, thì cô ta phải là một người rất hiện đại, nói năng bốp chát, sắc sảo và ranh ma quỉ quái, sẽ là một cô gái tóc cắt ngắn tân thời, ăn mặc rất bụi, tính tình rất thoáng và thậm chí có phần buông thả. Nhưng không, cuộc đời và con người thực của Tuyết Nga hoàn toàn khác với dự đoán của tớ, vì vậy tớ khẳng định công trình của tớ đã sai từ nền tảng cơ sở, vậy thì không đốt nó đi thì để làm gì.

Ba Đen vốn xưa nay rất tin tôi, nên thở dài:
- Tiếc nhỉ, không trách gì ông ngồi ôm Hạt Dẻ Thứ Tư từ dạo ấy đến giờ.
- Ừ, đôi khi vậy đó, có những tuyển tập đọc xong như đọc một tờ báo lá cải, có những tuyển tập đọc mãi không hết. Tớ ôm cái Hạt Dẻ Thứ Tư là để tìm cho ra bằng được hạt dẻ thứ năm đấy.
- Nó là cái gì vậy, có hy vọng gì tìm ra không?
- Cũng đã có mường tượng ra, nó là cái chất ca dao, cái chất dân ca, cái chất thuần khiết của phụ nữ Việt trong những ngôn từ mới lạ, dữ dội và cấu tứ tân thời trong thơ của Tuyết Nga.
- Ông thử cho vài phát ví dụ xem ra sao!
- OK thôi, nhưng cậu có thời gian ngồi với tớ, nghe tớ rề rà hết đêm nay không đã chứ.
- Thì cũng thử xem, để còn biết ông say đắm đi du lịch trong những thứ gì mới được.



Nhấp một ngụm trà tôi nói với Ba Đen
- Cậu là dân trà thứ thiệt, nhưng không phải là thuộc thành phần Trà Đạo. Cậu cũng hiểu là Trà Đạo có những nguyên tắc, những chuẩn mực nhất định để qui định sự tinh tấn và hiểu biết trong nghệ thuật thưởng thức trà. Nhưng có một mảng "dân cư" khác của trà, không lệ thuộc vào những chuẩn mực ước lệ đó của nghệ thuật thưởng thức. Họ thoát ra ngoài sự kiềm tỏa của nguyên tắc ấn định như một thứ ràng buộc có chiều hướng xã hội. Họ đi đến chỗ tận cùng của tinh túy trà, bất chấp mọi qui tắc để trực chỉ đến cái đặc trưng nhất của trà. Trà Đạo không gây nghiện, mà chỉ tạo nên thói quen lệ thuộc vào trình tự, lệ thuộc vào nguyên tắc, nếu có chăng sự gây nghiện thì cũng là nhằm thỏa mãn cái thứ hương phù phiếm mà người ta tẩm uớp lên trà mà thôi. Loại uống trà "vô chiêu", thực ra là họ đã thoát khỏi sự qui ước, tập tục và những chuẩn mực ước lệ đó. Thơ hay Văn cũng vậy, những khái niệm thế nào là truyện ngắn, là tiểu thuyết là truyện dài hay tản văn, là Thơ hay trường ca, Anh hùng ca hay là hò vè, kể cả những qui ước về thể loại là Lục bát hay Đường thi, là Thơ mới, Thơ tự do, Thơ hiện đại, Thơ hậu hiện đại ...vân vân nó cũng chỉ là những qui ước, những chuẩn mực nghệ thuật ước lệ kiểu như Trà Đạo vậy mà thôi. Thực chất của Nghệ Thuật, tất cả mục đích cuối cũng chỉ là để đi đến chỗ tận cùng của ngôn ngữ, cái có thể diễn tả được rõ nét nhất cho ý tưởng của người sáng tạo ra nó. Cũng giống như kiểu trực chỉ đi đến chỗ tinh túy nhất của Trà vậy. Chính cái đó mới là cái chất gây nghiện của chữ nghĩa, chứ không phải là những chuẩn mực thế nào là truyện ngắn, thế nào là tiểu thuyết, thế nào là lục bát, thế nào là thơ hậu hiện đại, tất cả những thứ đó cũng kiểu như ướp hương cho trà để đánh lừa cảm giác, đưa cảm giác đến chỗ chấp nhận những cái ngoại lai không phải là bản chất đích thực của nó. Tuyết Nga "ném" cái Hạt Dẻ Thứ Tư ra giữa dòng văn học, có lẽ cũng như một tuyên ngôn của mình về Ngôn Ngữ Văn Chương của cô ấy. Ba Hạt Dẻ dành cho Lọ lem, vốn như ba điều ước đi đến chỗ hoàn thiện những mong mỏi của đời thường. Tuyết Nga đã có đủ, và hình như có dư ba điều ước ấy trong nghiệp văn chương của mình, và cô muốn có "hạt dẻ" thư tư.
Cô vùng vẫy và bạo loạn đi ra ngoài ba điều ước ấy. "9 mô-đun kiểu Điềm Phùng Thị, em, phía ngoài không gian..". ...Không Nhà, dù là miền đẹp trời....Không Người, dù là căn nhà ấm...Nhưng trái tim đang đập ở đâu...sau lửa, nước và sau tiếng nói, sau vầng trán bộn bề sau cái nhìn giông bão, sau chập chờn giấc mơ, có còn cho em hạt dẻ thứ thư..". Tuyết Nga muốn thoát ra khỏi những ước lệ của Nghệ Thuật, muốn thoát ra khỏi những giải thưởng văn chương, thoát ra phạm trù của thể loại và muốn thoát ra khỏi cả chính mình, không muốn bị một thứ ràng buộc gì hết. Cô muốn đứng giữa chỗ "Không Nhà", "Không Người" và đứng ra "phía ngoài không gian"- Nơi tận cùng của ý tưởng, nơi kết tinh của ngôn từ. Cô không còn muốn nâng niu chăm bẵm "đứa con" tinh thần của mình như xưa nữa. Những "đứa con" một thời làm nên một Tuyết Nga "lộng lẫy" trên văn đàn. Những "đứa con" có xiêm y rực rỡ, mang đầy mình trang sức ngọc ngà châu báu, lấp lánh đi vào lòng ngưỡng mộ của người đọc để phát ra hào quang chói lọi. Cô không muốn còn những người mà họ ước ao khi nằm xuống dưới ba thước đất, chỉ cần đặt lên quan tài của mình một tập thơ Tuyết Nga là đủ. Cô không muốn những "đứa con" ấy thênh thang đi trên tấm thảm nhung lụa mà cô đã trải ra để rồi "chúng nó" sẽ biến thành những cậu ấm, cô chiêu trên Thi Đàn. Cô đã như người của dân tộc thiểu số ấy của miền Trung. Mới sinh ra, đã nhúng "đứa con tinh thần" của mình vào giữa dòng ô trọc, để tự nó trưởng thành và tồn tại với thời gian. Cô không muốn đùm bọc "chúng nó" trong vòng tay chở che của danh phận, của ước lệ, và định kiến của văn chương. Cô muốn chúng nó "sống" với bản chất đích thực vốn có của chúng. Cô muốn Hạt Dẻ Thứ Tư là thứ "không gian 9 chiều mà chẳng đủ"..(Không Đề)". Cô muốn Hạt Dẻ Thứ Tư "..Ta không cần vũ hội giả trang, không cần chiếc giày may mắn, không tin đàn chim có thể nhặt cho ta những ngày hạnh phúc.(Nước Mắt Lọ Lem)." Cô chấp nhận cho dù "..Không ai đưa về dưới mưa người đi con đường trắng xóa, có gì thừa trong lặng lẽ, phút ngày ngã xuống lênh đênh..(Trong Mưa)." Cho dù thế nào đi chăng nữa thì Hạt Dẻ Thứ Tư cũng tự nó đứng dậy trên thảm lá đơn sơ trải bên dòng đời như "..vé tàu định mệnh đã cầm tay, đã bấm khóa nhớ thương đã chốt trong ký ức, đã tặng quà từ biệt, đã ra ga..(Tháng Mười)...
- Ngưng, ngưng!...lão Ba Đen hét toáng lên- Không được "ní nuận" dài dòng văn tự, phải trực chỉ đi vào vấn đề, vì sao ông đốt bản thảo của tập Chiết Tự, Chiết Văn sau khi đọc Hạt Dẻ Thứ Tư, chứ không được lang bang chuyện Tuyết Nga "nuôi con tinh thần" ra sao.
Tôi giật mình, cười thảng thốt:
- Ừ nhể, tớ quên là mình đang nói chuyện với Ba Đen, cứ ngỡ mình đang con cà con kê với Trịnh Quốc Dũng chứ..he he...Trực chỉ thì trực chỉ chứ sợ à. Làm ấm trà khác nhé, có lạng trà sao tay của đứa học trò ở Tam Điệp mới gửi cho đấy. Trà không được nước, nhưng chát quắn và hương có vẻ dậy mùi nắng ngàn, uống thấy hay hay và gợi nhớ lắm.
- Ông để tôi pha cho, ông bắt đầu đi, sắp hết đêm rồi đấy!
- "..Cái nhìn, dựng tháp hoang...Cái nhìn liếc dao cắt, tiện ý nghĩ thành khúc, đứt đoạn ngổ ngang một ngày...Người cầm gì lội nước người đi đâu đò đầy?, này chân trời nghễnh ngãng! lời mẹ còn nguyên đây? (Dưới Bóng Ca Dao)
- Ấy, ông lại mẹ con gì nữa đấy
- Hì hì..."sông không còn xác lũ, mùa xuân chưa nói gì (Tự Khúc)...thì bởi vì muốn khám phá cái "..Hóa thạch những bí mật, mỗi ngày mỗi cánh dơi treo ngược, lam nham vách thời gian..(Như Đá), thì cậu phải để cho tớ nhâm nhi vài cái Tuyết Nga đã chứ.
- Ông chuyển sang hệ làm nhàm, dẫn chứng từ khi nào thế.
- Ok, được rồi, cho nhâm nhi một vài câu cũng không được sao, cho nó đỡ nghiền thôi mà...Như cậu đã từng nghe tớ nói, cái Chiết Văn của tớ được hệ thống lại từ những nguyên lý kim cổ, tớ muốn tổng hợp cái thứ tưởng chừng như tạp nham ấy thành một phạm trù dự đoán có tính qui luật. Bắt đầu từ khoa chiết tự của sách Thuyết Văn *, ở đó lấy nguyên tắc Phản- Thiết.. Sau đó hệ thống nó lại thành từ ngữ có âm có dương. Lấy từ có vần Bằng làm Âm, từ có vần Trắc làm Dương. Lại chia dấu, huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã thành Ngũ Hành, những thứ đó lập thành thiên bàn 12 cung để phân loại một đoạn văn hay một bài thơ, từ đó căn cứ vào nguyên tắc phù trầm của Âm Dương, nguyên tắc tương sinh tương khắc của Ngũ Hành, tham khảo thêm khoa phân tâm học chữ viết của Tây học để chiết ý. Cuối cùng thì tổng hợp lại và dự đoán tính cách, vận hạn của người viết. Ví dụ trong bài Chuyển Ngữ của Tuyết Nga, tớ phân loại như sau. Đầu tiên là "thuyết văn" cái đầu đề cái đã. "Chuyển" được chiết tự theo Thuyết Văn là Chơ Uyển và Uyển Chờ. "Ngữ" chiết thành Ngờ Ư và Ngư Ờ. Chơ Uyển là một thách thức, Uyển Chờ là đợi cái thâm sâu. Ngờ Ư cũng là một thách thức, Ngư Ờ là một khẳng định. Chứng tỏ tác giả rất tự tin và rất có bản lĩnh, tự tin vào chính mình, chính sự hiểu biết thâm sâu ngôn ngữ và tiếng nói nội tâm của mình. Và có ý khẳng định mình đúng. Đó chẳng phải là cái kiên định vững chãi của phái mạnh, chứ không phải cái thụ động, chấp nhận của phái yếu đó ư. Kế đến phân loại âm dương và ngũ hành của bài viết như sau: Về Âm Dương thì toàn bài có 62 chữ, trong đó có 41 chữ vần bằng, và 21 chữ vần trắc, tức là có 21 chữ Dương tính, và có 43 chữ Âm tính. Như vậy là Âm đến độ cực thịnh vì nó có gần gấp đôi Dương. Trong tình trạng này có thể nói Âm đang thịnh mà Dương đang suy, cũng có nghĩa là Âm sẽ có xu thế tàn, mà Dương đang thế sinh để giữ trạng thái cân bằng. Điều quan trọng là sự sắp xếp của toàn bài như sau : 3 mô đun kiểu Điềm Phùng Thị, người đàn ông đang nói, 5 mô đun kiểu Điềm Phùng Thị, người già điên cười, 7 mô đun kiểu Điềm Phùng Thị, người đàn bà ngồi khóc, rỗng ký ức, chằn chặn cảm xúc, móc vào nhau, xiết vào nhau những khúc cong ẩn ức, 9 mô đun kiểu Điềm Phùng Thị, em, phía ngoài không gian. Như vậy nếu sắp xếp theo Âm-dương sẽ là: âm âm dương âm âm dương, âm âm âm âm dương, dương âm âm dương âm âm dương, âm âm âm âm, âm âm âm dương âm âm dương, âm âm âm âm dương, dương dương dương, dương âm âm dương, dương dương âm dương dương, dương âm âm dương âm âm dương, âm âm âm âm.
Nếu chú ý sẽ thấy ban đầu thì âm nhiều đến khúc giữa thì dương tăng lên, đó cái tượng của âm tàn mà dương sinh, cho dù tổng thể thì âm đang thịnh. Đoạn giữa dương đột ngột tăng nhiều, về cuối thì kết toàn âm, như vậy lập nên quẻ Bát Quái là thành Âm-Dương-Âm, tức là quẻ Khảm. Sau đó kết hợp với các dấu lập nên thiên bàn Ngũ Hành mà luận, thì có phải là luận được cái tính cách cá tính và vận hạn thịnh suy của người viết rồi không?
Ví như thông qua bài Chuyển Ngữ này tớ khẳng định là được tính cách của Tuyết Nga như tớ đã nói. Nhưng đem so sánh với một Tuyết Nga ngoài đời thì lại không đúng, thế nên tớ mới nói tớ đã sai từ nguyên tắc cơ bản
- Nhưng đó chỉ có một bài, tại sao cậu lại vội vã kết luận thế- Ba Đen hỏi
- Không, cho dù có lấy một bài bất kỳ nào đi chăng nữa, hay phân tích tất cả các bài theo nguyên tắc ấy, thì thứ tự sắp xếp âm dương, ngũ hành của từ ngữ vẫn không có gì khác nhiều với bài Chuyển Ngữ, ngược lại nó giống nhau đến chỗ không ngờ được. Điều đó nó khẳng định một nguyên lý bất thành văn của dân văn nghệ, đó là "Văn là Người".
- Cái nguyên lý "Văn là Người" theo kiểu "Người làm sao vác cái ngao làm vậy" có tuyệt đối không?
- Không biết, nếu như cái nguyên lý của tớ sai, thì cái nguyên lý "Văn là Người" cũng sai nốt
- Ông có thể cho ví dụ thêm được không?
- Nếu như cậu có hứng thú, và không ngại lao vào "ma trận" âm dương ngũ hành thì tớ rất sẵn sàng
- Chuyện nhỏ, vấn đề này có vẻ hấp dẫn đấy
- Ok, làm ấm nữa đi, rồi tớ nói cho cậu nghe.
- Là chỉ trong khuôn khổ Hạt Dẻ Thứ Tư thôi đấy nhé
- Đương nhiên, chỉ với Hạt Dẻ Thứ Tư đã có thể nói đến 9 cái mô đun kiểu Điềm Phùng Thị rồi, chứ đừng nói chi chuyện khác

Trà Tam Điệp, không được nước, nếu om trà không cẩn thận thì trà đổ ngay ra màu nâu thẫm, tuy vị chát đằm, hương dậy ngan ngát, nhưng nhìn màu nước trà cũng cảm thấy mất ngon. Loại trà này nấu nước thật sôi, đổ vào bình, chưa nên đậy nắp bình lại, để khoảng 2,3 phút cho nước hơi nguội xuống một tý, rồi mới đậy nắp thì nước không ngả màu, vẫn sóng sánh màu xanh ngà, uống nước đầu rất tuyệt, và chỉ nên uống một nước thôi, nước hai nhão mà kém hương, không còn vị nữa. Thấy Ba Đen lập cập nghe tôi nổ chuyện bình thơ qua Âm Dương Ngũ Hành mà quên mất công đoạn om trà Tam Điệp, nên tôi nhắc hắn
- Xưa nay Thơ vốn đi với rượu, cổ kim chi cũng vậy thôi, rượu chưng lời nên thơ, làm cho thơ nồng nàn hơn. Bởi vậy cổ nhân chơi thơ bao giờ cũng có rượu nên bao giờ kèm nhau thành nên câu "bầu rượu túi thơ". Thi Nhân ngày nay ai ai cũng là con sâu rượu tất tần tật. Cũng vì vậy mà tớ muốn đọc thơ hay lúc nào cũng tìm mấy "con sâu rượu" Nhà Thơ mà đọc, tất có thu hoạch. Tớ không biết uống rượu, phải dựa vào trà mà chưng Thơ, bởi vậy trà phải ngon, pha phải đúng cách, nếu không cái hồn thẩm thơ nó cũng nhạt theo.
- Thôi đi ông, lẩm cẩm, làm tiếp cái mấy cái "hạt dẻ" đi, để tớ pha lại ấm khác cho.
- OK!, Phản- Thiết theo Thuyết Văn và lập thế Âm Dương cho một bài thơ hay một đoạn văn chỉ mới là cái thế đại cuộc, để biết thế cục của vận số tác giả ra sao, còn muốn đi sâu vào chi tiết của Chiết Văn, thì phải phân loại Ngũ Hành. Ngũ Hành của một bài thơ hay một đoạn văn phải dựa vào dấu mà phân ra. Dấu Huyền thuộc hành Thủy, dấu nặng và không có dấu thuộc hành Thổ, dấu Sắc thuộc hành Kim, dấu Hỏi thuộc hành Mộc và dấu Ngã thuộc hành Hỏa, theo luật Ngũ hành tương sinh, tương khắc mà qui nạp thì mối quan hệ của các dấu như sau: Huyền sinh Hỏi, Hỏi sinh Ngã, Ngã sinh Nặng và Không dấu, Nặng sinh Sắc, Sắc sinh ra Huyền...cứ vậy là thành Tương Sinh của dấu âm, tuơng tự vậy thì có vòng tương khác như sau dấu Nặng khắc dấu Huyền, dấu Huyền khắc dấu Ngã, dấu Ngã khắc dấu Sắc, dấu Sắc khắc dấu Hỏi, dấu Hỏi khắc dấu Nặng cứ vậy lần lượt là vòng tương khắc dấu âm. Khi đã có cục cuộc Âm Dương, xác định được Bát Quái, lại lập được trận Ngũ hành cho một bài thơ hay một đoạn văn rồi, thì cứ vậy chiếu theo 64 quẻ Phục Hy mà luận đoán, cứ phán là bách phát bách trúng, cũng nhờ có quả này mà tớ luận ra mấy bài thơ của nữ sĩ Mai Gia Trang bên Vietshare và đoán cô này sống không quá nổi 3 tháng, hồi đó cậu không tin, sau đó 2 tháng thì cô ta mổ tim mà chết đấy.
- Nhưng sao khi luận cho Hạt Dẻ Thứ Tư, thì ông lại đoán sai bét, để đến nỗi phải đốt mất công trình "trí tuệ" của mình vậy
- Thế mới nói, trên đời có cái gì là tuyệt đối đâu, nhưng phải nói là cái chuyện dấu âm theo ngũ hành nếu đem khảo nghiệm theo bệnh tật thì xác suất chính xác cao lắm đấy nhé, ví dụ người bị bệnh Gan, khi viết một cái gì đó theo cảm xúc của mình, thì lúc nào câu thơ hay câu viết cũng có rất nhiều dấu Hỏi (dấu hỏi hành Mộc ứng với Can Đởm), người bị bệnh về tim mạch thì viết lúc nào cũng có nhiều dấu Ngã dấu ngã thuộc hành Hỏa ứng với kinh Tâm), người bị bệnh suy Thận hay xương cốt thì viết có nhiều dấu Huyền (dấu huyền thuộc Thủy ứng với Thận), người bị bệnh về hệ thống tiêu hóa thì viết có nhiều dấu Nặng hay là nhiều từ không dấu (dấu nặng và không dấu thuộc hành Thổ ứng với Tỳ Vị)..tương tự vậy, tớ đã sưu tập và kiểm chứng hơn 5 năm nay rồi, xác suất cao lắm, phải nói là có đến trên 90% là đúng lận. Cậu có biết vì sao không?. Vì cảm xúc và sự nhạy cảm của con người với thế giới xung quanh đều có liên quan đến tố chất của người đó. Tình trạng của các cơ quan nội tạng có ảnh hưởng rất nhiều, nhiều khi còn có tính chất quyết định đến cảm xúc của con người, vì vậy câu chữ cũng có thể nói lên được trạng thái bệnh tật của lục phủ ngũ tạng và tình trạng khí huyết của người viết đấy.
- Ông đã công bố cái khảo nghiệm này chưa
- Chưa, mà vừa mới đốt xong rồi
- Ông đúng là đồ điên, ông sẽ là tội đồ với chính bản thân của ông đấy, biết đâu luận cứ của ông đúng, thì có phải ông đã hủy diệt đi một mảng văn hóa của nhân loại đấy không?
- Nếu không, thì thiên hạ đâu nói tớ là đồ Gàn, nhưng nếu tớ là tội đồ thì Tuyết Nga phải chịu trách nhiệm với nhân loại chứ không phải tớ.
- Này, ông đừng có mà ẩm ương nhé, Tuyết Nga không có quan hệ trong vụ này, ông chỉ mượn cớ Ngũ Hành luận để bình thơ Tuyết Nga vậy thôi, chứ ông thẩm thấu thơ không phải qua cái Chiết Văn của ông phải không
- Ha ha....không trách gì khi Nguyễn Trọng Tạo đưa bài Bức Tranh Của Trịnh Cung của tớ qua bên Hội Ngộ Văn Chương, bọn Org nó nói tớ và cậu là hai thằng gàn Bá Nha Tử Kỳ của Hamburg là đúng rồi, hiểu ta chẳng phải chỉ có Ba Đen nhà người đó thôi sao.
- Có nghĩa là những gì ông nói về Tuyết Nga nãy đến giờ qua cái trận đồ ngũ hành chẳng qua là một trận giả, có phải ông muốn nói rằng khi Tuyết Nga đã Chuyển Ngữ qua đến cái mô đun thứ 9 rồi, thì không thể dùng ngôn ngữ của 3 hạt dẻ để mà thẩm thấu Thơ của Tuyết Nga có phải không?
- Ha ha ha. Ba Đen đúng là Ba Đen, thật là nực cười, khi Tuyết Nga đã chuyển ngữ đến một gầm trời khác, đã "9 mô đun của Điềm Phùng Thị, em, đứng ngoài không gian" rồi mà mình cứ quanh quẩn trong 3 hạt dẻ mà bình Thơ, bình từ, bình ý của Tuyết Nga, có ẩm ương lắm không nhỉ
- Vậy là Tuyết Nga ngồi ôm bụng cười rồi
- Không, với cá tính ngoài đời của Tuyết Nga, thì cô ta chỉ có ôm mặt khóc và than " ý nghĩ xán lạn, cảm xúc vẫn không được soi sáng, bước đi mù mờ. Gai tự trọng, đá vô cảm, thập thững khúc quanh tối tăm bất chợt. Cảm xúc một ngày bỗng có khuôn phép, ý nghĩ tự dưng bất mãn, ngay đơ, lễnh loãng mặt trời. Đành thôi, gặp vịt cũng lùa, gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu" (Dưới Bóng Ca Dao) he he..tớ không muốn mình làm con vịt bị lùa trong đám vịt của Tuyết Nga, nên mới dụng cái Âm Dương Ngũ Hành để hòng mong theo được Tuyết Nga cho đến tầng trời thứ 9. Âm Dương Ngũ Hành là Vũ Trụ, thế mà tớ cũng đành phải quay lại phía 3 chiều không gian nằm trong "3 hạt dẻ" mới đọc được. Vì vậy tớ không đốt cái công trình của tớ đi thì để làm gì.
- Có nghĩa là sao?
- Có nghĩa là tớ cũng chỉ có trình độ của nhân gian trong 3 chiều của hạt dẻ để thẩm thấu thơ của Tuyết Nga thôi, tớ chưa có thể thấu ngộ rốt ráo được chiều thứ tư là chiều của ý tưởng, nơi ngôn ngữ viết và nói không còn có giá trị, còn cái chiều thứ 5 của sự Tưởng Tượng, cái chiều thứ 6 của Không Tưởng và cái chiều thứ 7 của Tâm Linh thì tớ vẫn còn chưa biết nó là cái gì, thì nói chi đến được chiều thứ 9, nơi Tuyết Nga đã chuyển ngữ sang đó. Bởi vậy tớ đang đi tìm hiểu cái Hạt Dẻ thứ 5 nó là cái gì để mà còn tưởng tượng ra nó.
- Ông đã tìm ra hình hài của cái hạt dẻ thứ 5 trong Hạt Dẻ Thứ Tư chưa?
- Hình như đã mường tượng ra cái gì, vì tớ chỉ có đủ bản lĩnh xoay xở trong ngôn từ của 3 hạt dẻ, nên chỉ cảm nhận ra cái hạt dẻ thứ 5 là cái chất đàn bà, cái chất Mẹ, cái chất dịu dàng ngan ngát như ca dao trong những ngôn từ ngồn ngộn và bạo loạn của Tuyết Nga thôi. Theo cảm xúc của tớ: "Dốc tận đáy lòng mà ngày tới biển sông Lam lửng lơ khép buồm thiêm thiếp di chỉ ta vào nỗi buồn...Như diều buông dây hư không biền biệt ta trôi tới nơi khói sương huyền mặc ta lạc tận miền trăng nguyệt thực.." (Di Chỉ) hay là "Vệt bùn/ vết nhăn ký ức/ tấm lưng trần làng quê/ Sót trên đồng tiếng Từ-quy/ ai đi qua cầu chiều sậm bóng/ mẹ nhóm rơm vàng đợi em/ Đưa anh về mà anh đi đâu/ ngơ ngác từng lối cỏ...Tóc chị giờ bối sau lưng/ tóc mẹ giờ rụng giữa tay cầm/ cánh đồng của thời anh thơ dại/ đom đóm còn ngủ mê".(Quê Chồng)" thì những câu thơ này nếu đứng phía trong 3 hạt dẻ thì khi đọc lên thấy rợn cả tóc gáy vì sự truyền cảm chất ngất của nó, nhưng khi đứng ở chỗ "mô đun" cao hơn, thì chả thấy nó có cảm xúc gì cả. 3 hạt dẻ là chiều không gian của nhân thế, Tuyết Nga nếu đứng phía trong 3 hạt dẻ như đời thường của cô ấy, thì với sự tài hoa trong thẩm thấu cảm xúc của đời sống, với sự vốn hiểu biết sâu sắc về ngôn ngữ, với khả năng thi ca thiên bẩm ấy chắc Tuyết Nga sẽ có rất nhiều bài thơ "đóng đinh" vào hồn nhân thế. Cô ấy đã chuyển ngữ đi rồi, cho nên tớ chỉ biết vời vợi trông theo, đứng bên này phía 3 hạt dẻ để nhặt nhạnh những câu ca dao, những lời ru mà cô ấy vô tình để sót lại trong con chữ chưa kịp chuyển đến cảnh giới "9 mô đun của Điềm Phùng Thị"
- Uống đi, trà có thể làm vơi đi nỗi buồn đấy- Ba Đen đưa cho tôi ly trà vừa pha.

Ngoài kia trời đã hừng sáng, biết đâu ngày sẽ rơi xuống cho tôi hạt dẻ thứ 5.

Hết
27.08.10
tn

______

Chú Thích:
* Sách "Thuyết-Văn" còn gọi là "Thuyết văn giải tự"do Hứa Thận thời Đông Hán biên soạn, bao gồm 2 phần là Thuyết văn và Trọng Văn.

- Phần Thuyết văn gồm 9.353 chữ, chia theo 540 bộ chữ.

- Phần Trọng Văn gồm 1,163 chữ, chỉ ra những chữ cùng âm cùng nghĩa nhưng mà cách viết khác nhau.

Sách Thuyết Văn gồm 14 chương chính và 1 chương mục lục, tổng cộng có 133.441 chữ trong lời ghi chú để giải thích chữ nghĩa. Năm Vĩnh Nguyên thứ 12 (Công nguyên, năm 100), sách Thuyết-văn được hoàn tất nhưng mãi đến năm Kiến Quang thứ nhất (Công nguyên, năm 121 ), Hứa Thận mới giao cho con là Hứa Xung dâng lên triều đình Hán .

Nguyên bản của Thuyết văn đã thất lạc, cũng là nhờ các thư tịch khác thời Hán và các đời sau đã dùng Thuyết văn để dẫn chứng nhiều, cho nên, sau nầy người ta có tài liệu biên soạn lại sách Thuyết văn. Thời Bắc Tống , rồi đến thời Mãn Thanh đều có người nghiên cứu và hiệu đính.

Sách Thuyết văn dùng 2 phương pháp "Phản" và "Thiết" để tra chữ, rồi giải thích nghĩa, tạo ra tiền lệ và trở thành quyển từ điển đầu tiên. Các từ điển sau nầy là phỏng theo phương cách của Thuyết văn.

-"Phản" là cách nói phản-nghịch (nói lái): dùng từ phản (nói lái) để đọc ra phát âm của chữ cần tra cứu. Ví dụ:

Phát âm chữ "Thiên 天" là theo cách nói lái của "Tha-Tiền 他前", là "Thiên Tà", thì sẽ biết "Thiên" là phát âm của chữ "Thiên 天": 天 = 他前.

-"Thiết" là nhất thiết, là tất cả: chữ đầu lại dùng luôn âm vần của chữ thứ 2 để phiên âm ra giọng đọc của chữ cần tra cứu. Ví dụ:

Phát âm chữ "Thiên 天" là dùng chữ "Tha-Tiền 他前". Với cách đánh vần chữ "Tha 他" dùng luôn âm "iên" của chữ "tiền前" thì sẽ được Tha-iên-Thiên: 天=他前.

Hai phương pháp "phản" và "thiết" có cách dùng trái ngược nhau, nhưng nhập chung lại thì cách nào cũng được, và gọi chung là "phương pháp phản-thiết" để phiên âm.

Nhờ cách phiên âm phản-thiết của Hứa Thận, cho nên người ta có thể căn cứ vào cách đọc của Thuyết văn để phục nguyên âm đọc Hán ngữ cổ. Cách giải tự trong Thuyết văn có nhiều đóng góp cho việc khảo cứu ngôn ngữ học. Qua đó, người ta có thể phục nguyên cách đọc của thời cổ xưa. Đời nhà Thanh có bốn học giả nổi tiếng đã nghiên cứu và hiệu đính Thuyết văn.

Dựng trai dàn hơ hóng mảnh Kinh đau
Tiếng mõ ưng ức dằn tâm vỗ dội
Nén...tuỳ duyên cháy bốn mùa sương khói
Gồng gánh bao giờ ..
Mà nằng nặc muốn buông trôi.
Đăng nhập để trả lời
0