Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Giấc mơ trong tiểu thuyết Mạc Ngôn

2 trả lời, 27 lượt xem — Trang 1 / 1
Giấc mơ trong tiểu thuyết Mạc Ngôn

Nguyễn Thị Vũ Hoài


“Thượng đế bao giờ cũng phủ một tấm màn rất dày lên trên cuộc sống của con người” - Hesiodos

Có những miền sâu kín bị khuất lấp khiến chúng ta khó lòng nắm bắt một cách rõ ràng. Giấc mơ là một trong những miền sâu kín huyền bí ấy.

Nói chung, giấc mơ là hoạt động tâm thần, không phụ thuộc vào ý chí, thường diễn ra trong giấc ngủ. Chữ “mộng” cổ được viết tượng hình bằng hình ảnh một người nằm ngủ, dùng hai tay chỉ vào mắt - chỉ những hình ảnh có thể thấy được trong mắt...

Văn học Trung Quốc từ lâu đã có những tác phẩm nói về mộng. Từ các loại mộng cho đến các hình thức xuất hiện cùng với số lượng đông đảo các tác phẩm viết về mộng đã tạo nên một loại hình “Văn học mộng ảo” đặc sắc và trường tồn. Từ Kinh Thi, Tả truyện cho đến Mộng du thiên lão ngâm lưu biệt (Lý Bạch), Mộng Lý Bạch (Đỗ Phủ), Nam Kha mộng (Thang Hiển Tổ), Liêu Trai chí dị (Bồ Tùng Linh), Hồng Lâu Mộng (Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc)… tất cả đều để lại những ấn tượng mạnh mẽ trong lòng độc giả.

Đến với tiểu thuyết Mạc Ngôn, chúng ta cũng bắt gặp rất nhiều giấc mơ, ẩn giấu những điều phi thực kỳ lạ, những khao khát, ham muốn của nhân vật. Nếu như “giấc mộng lầu hồng” của Tào Tuyết Cần dựng nên một bức tranh xã hội phong kiến chân thực thì qua giấc mộng, Mạc Ngôn cũng tạo nên một xã hội Trung Quốc thu nhỏ vô cùng sống động.

Mộng trong Báu vật của đời là những giấc mộng lạ lùng, quái gở. Thượng Quan Lỗ Thị khi mang thai Kim Đồng và Ngọc Nữ thường mơ thấy trong bụng mình là sắt thép, cóc nhái… Những giấc mơ đó gây cảm giác hoang mang, lo sợ, gắn với những dự cảm không lành trong tâm linh.
Nhà văn Mạc Ngôn.
Nhà văn Mạc Ngôn.

Người mơ nhiều nhất trong Báu vật của đời chính là Kim Đồng. Giấc mơ đầu tiên của Kim Đồng là giấc mơ về những bầu vú. Trong luồng ánh sáng kỳ lạ, một người phụ nữ tóc dài tha thướt, khuôn mặt lúc giống Lai Đệ, lúc giống Tiên chim Lãnh Đệ, lúc lại là Kim Một Vú rồi bất ngờ biến thành bà người Mĩ. Trong giấc mơ, người phụ nữ nói với Kim Đồng rằng thượng đế của anh ta chính là hai bầu vú, cùng Kim Đồng chơi trò rượt đuổi. Anh ta cố sức đuổi nhưng vẫn không theo kịp đôi bầu vú kia. “Giấc mơ là biểu hiện của những rung động và những dục vọng vô thức” (Freud). Trong hiện thực, khi ham muốn con người không được đáp ứng, nó gây nên những ức chế thần kinh và thường được chuyển hóa qua giấc mơ. Những người phụ nữ trong giấc mơ của Kim Đồng đều là những người quen thuộc, để lại ấn tượng sâu đậm đối với anh ta (nhất là ấn tượng về bầu vú). Kim Đồng từng mê mẩn những bầu vú ấy, khao khát được chạm vào chúng, muốn chiếm hữu chúng. Có phải vì vậy mà trong mơ, Kim Đồng đã cố sức vươn tới để chạm vào hai bầu vú “như đúc bằng vàng khối nạm hai viên ngọc” nhưng cuối cùng vẫn không được thỏa mãn? Tại sao trong giấc mơ kia không có khuôn mặt mẹ? Bởi vì bầu vú mẹ đã “thuộc quyền sở hữu” của Kim Đồng. Giấc mơ cũng biểu hiện mong muốn hoàn thành ước nguyện. Ước nguyện biến thành chim trong giấc mơ của Kim Đồng cũng nhằm thỏa mãn ước vọng được bay cao để vươn tới chạm được hai bầu vú ấy mà thôi.

Giấc mơ ấy đã hữu hình hóa ước muốn bí mật của con người, nói như F.Gaussen: “Chiêm mộng là biểu tượng của cuộc phiêu lưu cá thể, được cất sâu trong tâm khảm đến nỗi nó vượt ra khỏi vòng cương tỏa của người sáng tạo ra nó; chiêm mộng hiện ra với chúng ta như là biểu hiện bí mật nhất và trơ trẽn nhất của chính chúng ta”. Mơ là một phần trong cuộc sống con người, để những “bí mật” ấy bộc lộ là “lỗi” của ý thức không đủ sức kiểm duyệt. Kim Đồng là nhân vật hay mơ. Mơ cả trong khi thức. Mẹ anh ta bị Quách Bình Ân đá cho ngã xuống, xách tai cho bà đứng lên rồi lại đá xuống, dậm gót chân lên lưng… Trong nỗi đau khổ vì bất lực, Kim Đồng rơi vào trạng thái khác hẳn. Đây không phải là giấc mơ bị biến dạng (ảo giác, cảm giác rùng rợn, những biến ảo của thế giới đồ vật…) mà là những giấc mơ tỉnh thức con người. Lúc đó, con người rơi vào tâm lý hoang tưởng, các trạng thái hoài nghi, lo sợ được cô lại, được dồn nén… tạo nên hiệu ứng của giấc mơ. Giấc mơ ấy đồng nhất với sự tưởng tượng, sáng tạo những cảnh huống, những sự kiện phù hợp với nhu cầu con người. Kim Đồng đã tự biến mình thành dũng sĩ tiêu diệt kẻ ác, trừng trị kẻ xấu. Bốn trang tiểu thuyết (từ trang 597-600), Kim Đồng đã chìm vào thế giới ảo mộng do anh tự vẽ ra. Vu Vân Vũ, Ngụy Sừng Dê, Trương Rỗ đều run sợ, quy phục trước uy nghiêm của “người hùng” Kim Đồng. Ước muốn của một Kim Đồng yếu đuối, sống như tầm gửi đã biến thành giấc mơ tỉnh thức, giải tỏa được phần nào tâm lý đang bị ức chế vì mặc cảm, vì tình thương đối với mẹ.

Đối với Đàn hương hình, người viết nhận thấy vô thức cá nhân theo quan điểm của Freud có dấu ấn sâu sắc. Trong tác phẩm, ta bắt gặp những trăn trở, những ý tưởng, những ham muốn của nhân vật bộc lộ qua giấc mơ. Đáng lưu ý là giấc mơ của Giáp Con và Mi Nương. Giấc mơ của Mi Nương thường là được ân ái với quan tri huyện Tiền Đinh. Cũng như nhân vật Kim Đồng, cô mơ trong lúc ngủ, mơ khi đang thức. Tâm trí cô luôn dồn về phía quan tri huyện. Những hình ảnh trong giấc mơ xuất phát từ một sự mơ mộng tình cảm, từ những đam mê xoay quanh một người mà mình yêu mến - đó là Tiền Đinh. Giấc mơ đó mang đến cho Mi Nương sự thoả mãn, có được sự khoái cảm. Nhưng giấc mơ của Mi Nương tương đối dễ hiểu, không thấy sự “ngụy trang”, ý thức không kiểm duyệt. Đó là những lúc cô sống hoàn toàn bằng vô thức. Giấc mơ của Giáp Con lại khác. Giấc mơ có được ria mép hổ để nhìn thấy bản tướng người khác. Đó là sự ám ảnh của Giáp Con về những câu chuyện huyền thoại hoang đường mà mẹ từng kể. Theo lời mẹ, người nào có được sợi ria hổ dắt trong người thì có thể thấy rõ chân tướng, bản tướng của người khác. Dưới con mắt của một người có râu hổ như Giáp Con, có kẻ biến thành trâu, bò, lợn, gà... có kẻ cũng có bản tướng là người. Ở phần “Đầu phụng”, Giáp Con đã mơ một giấc mơ dài. Anh ta thấy bố mình là một con báo đen, thấy vợ là bạch xà. Râu hổ mà anh ta có chỉ là một cái lông của Mi Nương. Nhưng giấc mơ của Giáp Con làm chúng ta nghĩ rằng râu hổ có thật. Chính kho huyền thoại mà Mạc Ngôn được “đọc bằng tai” (tức được nghe kể) ngày xưa đã tạo nên những trang viết hấp dẫn, hư thực đan xen một cách tài tình. Giấc mơ của Giáp Con cũng xuất phát từ ham muốn nhưng ẩn sâu bên trong là sự tái nhận thức những người xung quanh mình. Giấc mơ của Mi Nương lại là giấc mơ thiên về tính dục. Giấc mơ của Giáp Con là giấc mơ ám ảnh. Tưởng là Giáp Con ngốc nghếch nhưng Giáp Con chính là người tỉnh táo và nhận ra đúng bản chất con người nhất. Qua giấc mơ, hiện thực con người và xã hội được hiện ra chân thực hơn, trần trụi hơn, sâu sắc hơn trong lòng độc giả.

Hầu như tiểu thuyết nào của Mạc Ngôn cũng có chỗ cho giấc mơ chiếm ngự, dù ít hay nhiều. Báu vật của đời có 8 lần nhân vật nằm mơ, trong đó có 4 lần nhân vật chìm trong những giấc mơ tỉnh thức, những cơn mộng mị chập chờn như thể giữa thực và ảo còn dùng dằng chưa dứt. Kết cấu tác phẩm Tổ tiên có màng chân là một “giấc mộng lớn” được tạo thành từ sáu “giấc mộng con”. Trong Sống đọa thác đày là giấc mơ của Náo Náo gặp lại vợ trong đêm trăng, là cơn ác mộng của Giải Phóng bị Hợp Tác và con trai trả thù. Còn ở Tửu quốc, Đinh Câu chìm vào những giấc mộng mị chập chờn cuối tác phẩm… Tất cả giấc mơ ấy hầu như đều là sự tái hiện suy nghĩ của con người dưới dạng không tự giác, là những ám ảnh của những điều đã xảy ra và linh cảm về những điều sẽ xảy ra. Trong tác phẩm, Mạc Ngôn thường đưa nhân vật của mình vào những giấc mơ chập chờn, những khoảnh khắc hư trong thực, mê trong tỉnh. Giấc mơ trong tác phẩm… là sự sao chép những ham muốn, những tội lỗi và cả những ám ảnh của con người, trong đó có hiện tượng hoán đổi ngôi vị, nhập thân, hóa thân. Tác giả mượn giấc mơ để cho nhân vật tự giác hơn. Tỉnh lại sau giấc mơ, các nhân vật như bừng ngộ và biết ghê sợ cái ác. Nhiều khi chính những hư ảo chập chờn, những ám ảnh lại là con đường ngắn nhất để tìm lại nhân tính và khả năng phục thiện của con người.


Đăng nhập để trả lời
0
NHỮNG PHẬN NGƯỜI TRONG "ĐÔNG TIỀN LÁ ĐA"
Mỗi lần về quê ngoại, đi bên dòng sông Phó Đáy, qua những xóm làng trung du vùng Lập Thạch, tôi lại nhớ về những thân phận con người, ngỡ như được gặp những ông Thống, bà Cần, bà Miên, lão Vận, bác Đống, dì Vân, anh Nhân, chị Thân, chị Xuyến… Đấy là những nhân vật đã ám ảnh tôi khi đọc xong tập truyện ngắn và ký “Đồng tiền lá đa” của Trọng Bảo do NXB Quân đội nhân dân ấn hành năm 2008.

19 truyện ngắn trong “Đồng tiền lá đa” phản ánh đa chiều những vấn đề xã hội, từ trong lịch sử đến đời sống hiện tại. Ở đó có sự phát triển, đổi thay của làng quê nhờ công cuộc đổi mới đất nước, có những mặt tiêu cực do tác động của nền kinh tế thị trường, có tệ nạn xã hội và những con người man trá, xảo quyệt, lọc lừa… Nhưng chủ đề xuyên suốt trong “Đồng tiền lá đa” là những thân phận con người sau chiến tranh, những người đã chịu đựng đau thương, mất mát trong những cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Dễ hiểu trong “Đồng tiền lá đa” chiếm đa số truyện viết về chiến tranh và người lính, bởi tác giả tên thật là Hà Trọng Bảo, hiện là Đại tá, Trưởng phòng Thông tấn quân sự thuộc Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Nhà văn quân đội Bùi Thanh Minh sau khi đọc “Đồng tiền lá đa” nhận xét: “Tập truyện vẫn đi theo mạch văn viết về những mảnh đời, thân phận con người sau chiến tranh. (…) Những tấm huân chương rồi cũng sẽ phai màu, mồ liệt sĩ trong nghĩa trang chìm dần vào trong cỏ. Nhưng chiến tranh thì vẫn cứ hiện hữu hàng ngày trong những con người đã từng tham chiến hay có mặt trong thời điểm ấy. Dù họ trở về từ chiến trường hoặc ở hậu phương…” Với Trọng Bảo, anh phản ánh sự tàn khốc của chiến tranh thông qua những câu chuyện không phải trực tiếp có tiếng bom rơi, đạn nổ. Đấy là những nỗi đau dằn vặt trong lòng ông Thống, chỉ vì kỷ luật quân đội, kỷ luật chiến đấu mà Đại-một chiến sĩ bộ đội chủ lực và cô Thắm, người yêu của anh bị địch giết chết. Từ đó ông Thống trở nên lầm lì, ít nói, chôn chặt nỗi đau trong lòng, chỉ đến ngày tết, thanh minh đi tảo mộ, ông mới lầm rầm tâm sự trong lời khấn người đã khuất. Nhưng ông cũng kiên quyết không ký xác nhận công nhận liệt sĩ cho Đại, bởi theo ông, Đại chết là do vô kỷ luật. (Thanh Minh). Sự khốc liệt của chiến tranh hiện hữu trong một ngõ nhỏ của làng Vũ, thôn Đoài, nơi hai người đàn bà là bà Miên và bà Cần cùng có con trai nhập ngũ trong kháng chiến chống Mỹ và cả hai cùng hy sinh. Bà Cần được phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, được chính quyền, làng xóm quan tâm chăm sóc, trong khi bà Miên phải chịu muôn vàn tủi nhục khi bị mang tiếng là con trai phản quốc. Thêm nữa, có người con trai cả cũng từ mẹ và gia đình có người phản bội để không ảnh hưởng đến con đường tiến thân. Mãi sau này, khi bà Miên được “giải oan”, đón nhận bằng Tổ quốc ghi công cho con trai hy sinh vì Tổ quốc trong khi được quân đội phân công làm nhiệm vụ đặc biệt. Là mẹ liệt sĩ, nhưng bà Miên vẫn sống lặng lẽ giữa xóm làng, nỗi đau oan ức được rũ bỏ, nhưng nỗi đau chiến tranh có lúc nào nguôi ngoai. (Ngõ nhỏ).

Những thân phận và nỗi đau chiến tranh được Trọng Bảo phản ánh ở những truyện ngắn mà đọc xong thấy day dứt không nguôi. Lão Vận trong “Người thổi tù và trên bến sông”, chị Thân trong “Chợ chiều”, dì Vân trong “Những lá thư”, chị Xuyến trong truyện cùng tên… Những con người đã sống trong cảnh đời bất hạnh ở một vùng quê yên ả, thanh bình và mỗi người có mỗi số phận và nỗi đau riêng. Ông Vận vốn làm nghề chèo đò, sống lặng lẽ trong túp lều nhỏ trên bến sông, khi người ta xây cây cầu thì lão trở thành người quét chợ. Lão sống vật vờ, không còn người thân vì vợ con lão đã chết bởi bom Mỹ, chỉ còn có con chó mà lão cứu được khi nó bị thả trôi sông là thân thiết. Chỉ đến khi người Bí thư Tỉnh ủy trở lại bến đò xưa, nhớ đến người lái đò, thì thân phận lão Vận mới được mọi người biết đến, lão là người có công với cách mạng. Còn chị Thân vốn là một trung đội trưởng dân quân, tình yêu nghiệt ngã đưa chị đến với một kẻ Sở Khanh rồi có thai. Sau đó chị đi thanh niên xung phong, hết chiến tranh trở về quê lấy chồng là bộ đội công binh. Trong những năm tháng chiến tranh, chị đã bị nhiễm chất độc da cam/điôxin hay chồng bị nhiễm chị cũng không biết, chỉ có sự thật là đứa con sinh ra bị dị tật, không hình thù người. Chị Thân sống đơn côi dưới chân núi Sáng, không chế độ đãi ngộ. Cuộc đời đau khổ, nhưng chị chấp nhận, không kêu ca, tự kiếm sống để nuôi thân. Còn chuyện của dì Vân thật cảm động, hy sinh cả thời xuân sắc của mình để thay chị động viên người lính yên tâm chiến đấu trên chiến trường. Câu chuyện tình qua những lá thư thấm đẫm nước mắt, có kết cục buồn vì cả dì Vân và người lính đều lẻ bóng trong đời. Chuyện chị Xuyến là một trong những góc khuất của chiến tranh, khi cả người chồng và người tình đều hy sinh ở chiến trường. Đọc truyện, ta dễ cảm thông với chị và thương anh Phán, một thanh niên-người lính thật thà, chất phác phải rơi vào cảnh “kẻ ăn ốc, người đổ vỏ”. Nếu không có chiến tranh, khó ai có thể tha thứ cho chị Xuyến.

Số phận người lính và con người sau chiến tranh còn khắc nghiệt hơn nhiều khi đất nước chuyển sang thời cơ chế thị trường, đồng tiền khuynh đảo những giá trị cuộc sống, làm tha hóa một bộ phận con người trong xã hội. Trên đường phát triển đất nước, những khu công nghiệp mới mở, đô thị hóa làm cho giá đất tăng vọt, đồng tiền làm cho những giá trị tình cảm lâu bền trong gia đình bị tan vỡ. Đó là bi kịch trong gia đình bà Chi, một người vợ liệt sĩ, một người dâu hiền, người chị tần tảo hy sinh cả đời cho gia đình nhà chồng. Nỗi đau và sự khắc nghiệt do đồng tiền gây ra đã lột tả trong truyện ngắn “Ngôi nhà giữa phố”. Ngay trong quân đội, những tiêu cực, bất công vô lý cũng xảy ra, điển hình như trong truyện “Cơn mưa cuối chiều”, thật đau đớn khi người vợ lính thốt lên “Nhưng làm gì có chuyện vô lý như thế, thượng úy thì được chia nhà, thượng tá thì không. Chả đơn vị nào người ta lại làm ăn vớ vẩn như thế cả”. Thế mà có chuyện ấy, dù ông Đống-nhân vật trong truyện có thành tích chiến đấu, huân chương, huy chương đầy người. Còn những số phận người lính khác như Nhân, bị thương tật do chiến tranh đến nỗi người đời phải gọi là “Dị Nhân”, có thành tích chiến đấu, sau chiến tranh phải đi làm thuê kiếm sống, nhưng cũng rất bấp bênh, sẵn sàng bị chủ đuổi việc (Dị nhân). Hay chuyện của chị Thùy, người lính vận tải năm xưa sẵn lòng đi làm “ô-sin” ở phố (Chuyện của một thời). Điều đáng quý nhất ở những người lính, đó là lòng tự trọng, họ chấp nhận số phận và không ngừng tự lao động để vươn lên. Tuy không viết về người lính, nhưng truyện ngắn “Đồng tiền lá đa” được tác giả chọn là tiêu đề cả tập truyện nhằm tập trung cho chủ đề: Mỗi con người, mỗi số phận sau chiến tranh, dù phải chịu những biến đổi sâu sắc trong đời sống xã hội nhưng vẫn giữ trọn vẹn những giá trị nhân văn, nhân bản của con người, đó là truyền thống tạo nên cội nguồn tinh thần cho mỗi con người, từng gia đình và xã hội.

“Đồng tiền lá đa” thấm đẫm tình đời, tình người. Cách viết của Trọng Bảo chân thật, dễ hiểu, anh để cho từng nội dung câu chuyện gây xúc động cho bạn đọc. Chủ đề của những truyện ngắn trong tập đã được nhiều nhà văn trong và ngoài quân đội khai thác, nhưng Trọng Bảo vẫn tìm được ra cái riêng của mình, đó là sự hồn hậu, trong sáng, gây được ấn tượng với bạn đọc. Khi đọc những dòng hội thoại giữa hai bà mẹ liệt sĩ thế này, ai trong lòng cũng rưng rưng:

“Vịn tay lên mép bàn thờ, nhìn tấm bằng “Tổ quốc ghi công” và cái khung kính gài đỏ những huân, huy chương của con, bà Miên chợt kêu lên: -Thôi chết!Chả còn giữ được cái ảnh nào của thằng Thái cả!

Bà Cần lập cập: -Còn… vẫn còn đây! Bà rút từ túi áo ra một tấm ảnh tày ba ngón tay. Thằng Thái chụp chung với thằng Quốc khi mới nhập ngũ. Hai thằng mặc quần áo bộ đội rộng thùng thình, miệng cười toe toét” (Ngõ nhỏ).

Xen kẽ những chuyện về chiến tranh và người lính, Trọng Bảo đã lựa chọn truyện ngắn lịch sử “Bến sông xưa” và những truyện đầy lãng mạn “Hương rừng”, “Mưa rừng”; nói về sự đời, tình người trong “Học trò cũ”, “Chuỗi thời gian”, “Chân trời xa”, “Trang trại ma gà” hay “Truyện viễn tưởng” ở đó có tiếng cười xa xót. Những truyện ngắn trên góp phần làm cho tập truyện không đơn điệu, khô cứng, mà gấp sách lại người đọc không thể quên ngay…

12-2008
Nguyễn Đình Xuân - Tác giả của các tập thơ: "Tiếng sóng sông quê" (NXB Quân đội nhân dân - 2009, "Bóng nắng" (NXB Công an nhân dân - 2010), "Trăng mật với thời gian" (NXB Văn học-2012) và "Cánh chuồn ngủ quên" (NXV Văn hóa-Văn nghệ TP Hồ Chí Minh- 2013) và các tập sách: "Đấu trí công nghệ cao" (Bình luận quân sự, NXB Quân đội nhân dân-2012), "Từ Tây Bắc đến Tây Nguyên (Ghi chép, NXB Quân đội nhân dân, 2013).
http://nhabaoquandoi.blogtiengviet.net/

Đăng nhập để trả lời
0
Gửi về xứ Nghệ nắng nung
Thương người làm muối phơi lưng cả ngày
Lên đồi mắc bóng mây bay
Chạm rung rinh lá chè say hương chiều.
 
Đường làng nhớ bóng nhà xiêu
Vườn cà trổ tím hoa chiều năm xưa
Người đi mùa lệch bóng chờ
Lòng ai thu vội gió lùa vào đông.
 
Côi đơn tê lạnh nỗi lòng
Gừng cay ai đốt khơi hồng lửa than
Đêm mênh mông thổi gió ngàn
Khế chua trộn ruốc đa mang một đời...
29-8-2010
Nguyễn Đình Xuân - Tác giả của các tập thơ: "Tiếng sóng sông quê" (NXB Quân đội nhân dân - 2009, "Bóng nắng" (NXB Công an nhân dân - 2010), "Trăng mật với thời gian" (NXB Văn học-2012) và "Cánh chuồn ngủ quên" (NXV Văn hóa-Văn nghệ TP Hồ Chí Minh- 2013) và các tập sách: "Đấu trí công nghệ cao" (Bình luận quân sự, NXB Quân đội nhân dân-2012), "Từ Tây Bắc đến Tây Nguyên (Ghi chép, NXB Quân đội nhân dân, 2013).
http://nhabaoquandoi.blogtiengviet.net/

Đăng nhập để trả lời
0