Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Sự Kiện Hoa Thuỷ Tiên

12 trả lời, 298 lượt xem — Trang 1 / 1
Sự kiện Hoa thủy tiên [1] - phần 1 bài viết của Nguyễn Huy Thiệp
-

eVăn: Gần đây, báo Ngày Nay có đăng làm nhiều kỳ bài viết của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp “Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn” (Ngày Nay, các số 4, 5, 6, ra các ngày 15/2, 1/3 và 15/3). Bài viết của ông Thiệp đang gây tranh luận gay gắt trong làng văn nghệ Việt Nam. Đến nay đã có rất nhiều ý kiến phản hồi của các nhà văn và nhà phê bình. Để giúp bạn đọc có thông tin về sự kiện này, eVăn chọn đăng những bài tiêu biểu đã được công bố trên các báo và tạp chí. Dưới đây là phần 1 bài viết của ông Nguyễn Huy Thiệp trên báo Ngày Nay.


Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn (phần 1)

- Nguyễn Huy Thiệp -

Kinh nghiệm người đi trước

Trong những cuộc trò chuyện về văn học trên "văn đàn" gần đây thì cuộc trò chuyện của phóng viên báo An Ninh Thế Giới với nhà văn Tô Hoài (in trên báo An Ninh Thế Giới Cuối Tháng 12. 2003) theo tôi là một cuộc trò chuyện hay nhất. Cũng phải nói thêm rằng cuộc trò chuyện này có hơi hướng một cuộc hỏi cung oái oăm và không được nhã cho lắm nhưng thực ra điều ấy không can hệ gì. Hai bên vấn đáp, trao đổi giống như kiểu cao nhân ngồi trên núi hoa đào luận bàn về kiếm pháp trong giới giang hồ ("hoa sơn luận kiếm"). Tôi không nhớ tình huống nào đã dẫn đến câu hỏi về sĩ khí của nhà văn (tức là một câu hỏi đốp chát nhất về danh dự): "Anh có hèn không?" "Tại sao như thế này và như thế kia v.v." Nhà văn Tô Hoài không trả lời đúng vào câu hỏi (hầu hết trong cuộc phỏng vấn này ông đều không trả lời đúng vào câu hỏi). Tô Hoài sinh năm 1920, bắt đầu viết văn từ những năm đầu tiên của nền "văn học chữ quốc ngữ", lừng danh từ tuổi 20 với tác phẩm bất hủ Dế mèn phiêu lưu ký, có thể nói là một "cây đại thụ trong nền văn học nước nhà". Ông đã sống, viết lách, trải nghiệm qua vài chế độ, hiểu khá rõ về sự đời, tình đời. Khi Tô Hoài nói về kinh nghiệm viết văn (điều này cũng giống như nhiều người viết văn thuộc thế hệ ông), người ta đều nhận thấy những kinh nghiệm viết văn của họ luôn đan xen với những kinh nghiệm đối nhân xử thế. Văn học (với tính chất xã hội rõ ràng) không còn là một "nghệ thuật chữ nghĩa" mà hiển nhiên là "nghệ thuật sống", nó có cái cần lâu hơn, là tay thước, là cây gậy, là cái bẫy chim, thậm chí còn là cây súng.

Ở thế hệ "nhà văn hiện đại" bây giờ (tôi có thể kể tên đôi ba người làm ví dụ trong đó có Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Phan Thị Vàng Anh v.v.) họ có thể trông chờ gì ở kinh nghiệm viết văn ở các bậc tiền bối nếu chỉ cứ loay hoay với các cung cách ứng xử mà thôi? Trong một phát biểu trên báo gần đây Hồ Anh Thái cho rằng: "Nhà văn là người có lẽ không thích hợp với các sinh hoạt đám đông, thậm chí cả với sinh hoạt gia đình" (Báo Thể Thao Văn Hóa số Tết tất niên Giáp Thân 2004). Tôi hơi băn khoăn về quan điểm đó và tôi không mong nó sẽ đại diện cho quan niệm của cả một thế hệ nhà văn trẻ bây giờ. Điều ấy chứng tỏ văn học đang ngày càng trở nên khắc nghiệt hơn so với trước kia. Văn học hiện đại đó là một sân chơi ngày càng chuyên nghiệp và quyết liệt (vì sao tôi sẽ nói sau) không phải là một "nghệ thuật" dễ xơi chút nào. Xem xét quan niệm của các nhà văn danh tiếng đáng mặt hiện nay trên thế giới và khu vực hầu như ai cũng nói đến cuộc sống riêng tư của mình một cách khá dè dặt, mặc dầu dè dặt nhưng chính cái "cuộc sống thổ tả" ấy lại là cốt lõi, là thức ăn cho cuốn sách họ đang viết. Ở Trung Quốc, Cao Hành Kiện là đương nhiên rồi, còn những người "hạng hai" như Mạc Ngôn, Giả Bình Ao, Vệ Tuệ, Miên Ngôn, Cửu Đan… tất cả đều trình bày cuộc sống "tự sự" của mình một cách cay đắng và cũng có thể nói là thành công. Mạc Ngôn nói: "Tiểu thuyết là tự sự (tự thuật)". Quan niệm này tuy lỗ mãng nhưng phải nói là xác đáng. Ở Miên Miên (một cây bút nữ trẻ) "vô thức" đã giúp cô nhận ra điều ấy khá trực tiếp. Ở bên trời Tây, trước đây Sagan (tác giả Buồn ơi chào mi) cũng đã từng làm như thế nhưng khoảng cách giữa sáng tác và tự sự vẫn là một trời một vực. Lối viết tự sự đòi hỏi sự thành thật và một nghệ thuật che giấu tình cảm rất cao. Nhà văn - nhân vật luôn đối mặt với những sự hiểm nguy ở trong "trái tim", trong công việc, trong ứng xử, trong mọi sinh hoạt của mình. Nó dứt khoát là một cuộc sống phiêu lưu, thậm chí còn nguy hiểm nữa. Tôi hiểu vì sao có khá nhiều "nhà văn trẻ" hiện nay đang sống độc thân, "vào Nam ra Bắc", khước từ mọi "hệ lụy", rắc rối, sống âm thầm, "dằn vặt", v.v. Văn học đã trở nên quá nặng nề với họ. Thức ăn của văn học là cuộc sống của chính tác giả, văn học xơi những miếng to tướng, vừa ăn vừa nhằn ra nham nhở, chẳng hề "nghệ thuật" chút nào. Bảo trọng mình ra sao để có thể "kể chuyện" được không dễ. Ở thế hệ Tô Hoài, tôi ngờ rằng họ quan sát, chiêm nghiệm nhiều hơn thể nghiệm. Đọc lại bài phỏng vấn về Tô Hoài, ông cho biết, Nam Cao viết do "vợ kể lại", Nguyễn Đình Thi "sáng tác" mà không biết trong chùa có ai sống (sư cụ, tiểu hay vãi…), Hoàng Cầm làm "thơ tán gái" v.v. Văn học hiện đại rất coi trọng "cảm giác". Không có cảm giác thật thì chẳng làm được gì cả. Cảm giác là thứ không thể truyền lại được. Kinh nghiệm của cảm giác là thứ rất khó ấn chứng giữa người này với người kia. Kinh nghiệm viết văn thực ra chỉ là kinh nghiệm của cảm giác. Cảm giác - đó là một thứ văn học mà văn học hiện đại đặt thành tiêu chí hàng đầu. Ít nhất, đó cũng là cảm nhận, cảm giác của riêng tôi… khi mà tôi đi sâu vào thế giới sáng tác nội tâm của mình và các nhà văn hiện đại đương thời.

Đương đại - tức là "suy đồi"?

Khi ta đang sống (đương đại) nghĩa là ta đang tiếp cận, đang tiếp cận cái chết (sự suy đồi ghê rợn nhất). Nghệ thuật đương đại, xét cho cùng chính là nghệ thuật suy đồi. Thời gian qua đi, những kinh nghiệm của cảm giác giá trị nhất sẽ còn lại, trở thành cổ điển, kinh điển, thành "văn hóa", đóng khung lại trong các bảo tàng nghệ thuật và trong trí nhớ người đời. Các nghệ sĩ sống trong thời hiện tại không thể tránh được sự dung tục, nhảm nhí, không thể tránh được bọn tiểu nhân, bọn phàm phu tục tử, lưu manh, philistanh, ngụy quân tử v.v. Kiểu gì thì kiểu, ngay cả những nhà văn danh giá nhất đôi khi vẫn cứ phải chung lưng đấu cật, "ba cùng", vẫn cứ phải đối thoại, đùa cợt, chơi bời với các đồng nghiệp bất đắc dĩ của họ, cùng lý tưởng nhưng khác hạng" (chữ của Victor Hugo). Không khí dung tục suy đồi "đương thời" cũng chính là không khí sống, không khí sáng tác - mặc nhiên là thế - bởi vậy nếu từ chối đối thoại nghĩa là anh tự làm cho mình khó thở, tự giam cầm mình. Trước mặt tôi đây là một giò hoa thủy tiên thơm ngát. Này hoa thủy tiên lạc loài, ngươi có biết rằng rồi sẽ có ngày chẳng còn ngươi, cũng sẽ chẳng còn ta nữa không?

Trong bài viết Thời của tiểu thuyết tôi đã nói đến văn học tự sự và tôi vẫn còn coi nó như một hình thức nghiêm cẩn nhất, chính trực nhất trong tư chất nghệ sĩ mỗi nhà văn. Gì thì gì, khi đọc một số nhà văn trẻ "tự sự" ở Trung Quốc gần đây như Miên Miên, Vệ Tuệ, Cửu Đan… không phải tôi mà hầu hết bạn đọc đều có sự vì nể với họ bởi cách dấn thân (hoặc là vô tình, hoặc là vô ý của số phận họ) với văn học - và với cuộc đời nói chung. Nhân nói về sự dấn thân, tôi rất lạ khi thấy một số nghệ sĩ trẻ, họa sĩ, nhà văn trẻ coi rằng: bỏ nhà đi bụi, đi lang thang, ngủ với gái điếm, uống rượu say sưa, truy hoan hành xác - đấy mới là sự dấn thân. Thật nực cười, thê thảm và nhầm lẫn. Hoàn toàn không phải thế! Mikenlănggiê mò vào nhà xác, mổ xác tử thi để học giải phẫu, giúp ích cho nghề nghiệp điêu khắc của mình, Victor Huygo chịu đựng lưu đày… đấy mới là những tấm gương dấn thân cổ điển, cần phải học tập. Trò chuyện với Nguyễn Việt Hà, tôi có nói với anh rằng: hãy sống với cuộc đời công chức một cách cẩn thận, quan sát nó, viết về nó cho hay - đấy cũng là một sự dấn thân "hiện đại". Thực tế đang ngày càng trở nên khắc nghiệt. Đừng tưởng rằng ở đấy không có trả giá, không có đau đớn, không có gì để viết. Nó là cả một bi hài kịch cuộc đời, có khi là cả một bi hài kịch một thời. Tôi rất buồn cười câu chuyện Nguyễn Việt Hà kể cho tôi nghe: ở công sở, có một tay trưởng phòng xây dựng cho xây toilet. Anh ta kích cỡ hơn người (cao tới 1m 78) nên chỗ đi tiểu ở cơ quan anh ta luôn cao hơn những nơi khác tới 15 phân. Vì vậy, gần như mọi người đi tiểu ở đó đều bị nước tiểu bắn vào quần áo! Sự độc tài của một tay công chức cửa quyền thật lợi hại. Đặc quyền "lấy của mình ra đo" mà không quan tâm đến những số đo khác trong thiên hạ là như thế đấy.

Gần đây, đọc bài viết của Bùi Việt Thắng về tôi in trên báo Văn Hóa Xuân 2004 (được đặt dưới tiêu đề Trên đường đổi mới) không hiểu sao tôi cứ hình dung Bùi Việt Thắng giống hệt như tay trưởng phòng công chức xây dựng cửa quyền nọ. Anh lấy số đo của mình mà đặt tiêu chí để đo thiên hạ. Sự độc tài công chức và cách "cả nghĩ" của Bùi Việt Thắng khiến anh bất bình với cuốn tiểu thuyết của tôi. Bi hài kịch là "số đo" của anh có phần ngắn hơn cái bệ thẩm mỹ của bạn đọc đương thời…

Nhân đây, tôi cũng muốn nhắc đến một vài ý kiến về cuốn tiểu thuyết của tôi, khi họ đã có nhã ý đưa bài lên một số báo in và trên internet. Song, đối tượng đối thoại chủ yếu của tôi trong bài viết này gì thì gì (như nhan đề bài viết) vẫn cứ chỉ là giò hoa thủy tiên lạc loài trước mặt tôi đấy thôi!


Khi bị phụ tình người ta làm gì?

Đấy là câu hỏi mà bạn đọc Quốc Việt (talawas, 19.01.2004) và một vài người khác đặt ra. Họ coi việc tôi viết tiểu thuyết là sự "phụ tình" của tôi đối với bạn đọc "chung thủy". Tôi xuống cấp, trở nên lẩm cẩm, lộn xộn v.v. Những ý kiến không chuyên nghiệp đó khiến tôi không quan tâm nhiều. Năm ngoái, khi vào Sài Gòn, tôi rất kính trọng khi Nguyễn Khải cho ra mắt tiểu thuyết tự sự Thượng đế thì cười. Dù dư luận có "cảm giác" Nguyễn Khải không thành công với cuốn tiểu thuyết này nhưng người ta vẫn có thể học ở đó khá nhiều điều. Khi nói chuyện với Nguyễn Khải, tôi thấy rất rõ ông đã "ngửi" thấy lối đi của tiểu thuyết hiện đại, có điều khi viết, cảm hứng cười cợt về sự nhục nhã của kiếp người đã lấn át mất những ngọn lửa nhiệt thành khác trong lòng ông. Có nhiều bạn đọc đa sự cảm giác bị nhà văn phụ tình. "Ai bị phụ tình?" "Ai bị tình phụ?". Tôi đã đặt câu hỏi này trong bài viết về hiện tượng Vi Thùy Linh. Ngay cả trong trường hợp của Nguyễn Khải, mở rộng ra là cả Hồ Anh Thái (với tiểu thuyết Tự sự 365 ngày và Cõi người rung chuông tận thế) cũng đôi ba nhà văn khác nữa… Tôi vẫn muốn nhắc lại rằng: "Trước hết đó là sự phụ tình từ phụ tình của dư luận".

Sự phụ tình của dư luận đối với nhà văn thật ra cũng chẳng có gì đáng buồn đối với nhà văn. Muốn cho xã hội tiến lên, phải trao đổi, phải dân chủ, phải được in ấn, phải "cựa quậy" chứ. Trên đường đổi mới cơ mà! Khi tiến lên, những sự tìm tòi, lệch lạc (chắc gì đã lệch?) cũng giống như ta "giải phóng một mặt bằng để xây nên một đô thị mới" - cũng chẳng nên tiếc việc bỏ đi những "tác phẩm của lịch sử" và việc xây nhầm một vài ngôi nhà.

Tôi không muốn nói nhiều về cuốn tiểu thuyết của tôi (vì trên thực tế nó chưa được xuất bản) nên việc Bùi Việt Thắng và một số nhà bình luận có nói gì thì cũng như nói với đầu gối, không "danh chính ngôn thuận". Ở đây tôi muốn nói rằng: Viết ra được một tác phẩm không dễ. Viết hay thì lại càng khó. Nghề văn trong thời hiện tại là một nghề khó vào bậc nhất. Khi Internet phát triển, tác giả không thể tưởng tượng, "lừa bịp" hoặc "sáng tác" được. Thông tin để xử lý, cung cấp cho các chi tiết sự kiện văn học có quá nhiều. Nhà văn bắt buộc phải trở thành một nhà văn hóa, một nhà nghiên cứu. Anh buộc phải giỏi máy tính, giỏi ngoại ngữ, anh ta phải "tự tổ chức" viết lách và bán hàng. Anh ta phải trở nên chuyên nghiệp, không mất thì giờ vào những "chuyện tầm phào". Ngay cả chuyện tình phụ, phụ tình cũng là trò nực cười. Không có gì hết nếu anh không viết được hay, không bán được tác phẩm của anh cho người đọc.

Tôi sẽ bàn thêm về hai loại văn học: loại tự phát, rèn luyện mà thành, lập nghiệp tức không chuyên và một loại văn học "thượng đẳng thừa", viết để du hí chơi bời cũng như một số vấn đề khác của văn học trong phần hai của bài này.

Chưa bao giờ văn học ở nước ta có những cơ hội lớn như bây giờ nhưng cũng chưa bao giờ khó như bây giờ. Xã hội cũng phải thấy rõ sự đóng góp về mặt tinh thần, vật chất của nhà văn để ghi công cho họ. Trong một phát biểu gần đây, nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng: "Văn học tác động vào xã hội để ảnh hưởng đến chính trị. Sử học thì tác động vào chính trị để ảnh hưởng đến xã hội". Đấy cũng là một ý kiến đáng suy nghĩ. Một đất nước văn minh không thể không có văn học và sử học được. Trong thời hiện đại, công việc đào tạo nhà văn là rất cần thiết, cần phải xây dựng thành công một công nghệ. Nó cũng từa tựa như công việc đào tạo các cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp và các vận động viên thể dục có thành tích cao. Không thể trông chờ vào việc ăn may, trời cho để Việt Nam có một đội ngũ nhà văn đẳng cấp thế giới. Ngay cả việc có một "tốp" nhà văn cô chiêu cậu ấm để đối thoại hoặc làm những việc "hậu trường" cũng là cần thiết. Việc phải nâng cấp cho trường đại học viết văn Nguyễn Du để nó gần với thiên nhiên hơn, gắn bó với xã hội hơn là rất cần thiết (chứ không phải là nhốt nó trong một ngôi nhà chật hẹp giữa Thủ đô). Các giá trị văn học đương thời (thực sự có giá trị) cũng phải được biểu dương đúng mực. Trong bóng đá, người ta cũng đã phong thánh cho Pêle, Marađôna, Beckham… Ở Việt Nam, hình như truyền thống…đánh truyền thống, đố kỵ, dè bỉu, ghen tỵ, chê bai… vẫn thấy nhiều hơn ở trong sinh hoạt văn học so với việc hân hoan khi có một tác phẩm mới ra đời.

Trở lại hình ảnh Tô Hoài ở đầu bài viết này, tôi nghĩ dù ông có tự nhận mình là "cò con" thì hình ảnh của ông trong lòng bạn đọc trước sau vẫn là hình ảnh của một bậc tiểu thánh trong văn học Việt Nam hiện đại.

Khi bị tình phụ người ta làm gì?

Vậy khi nhà văn bị tình phụ thì họ làm gì?

- Họ không viết nữa.

- Có thể!

Tết Giáp Thân 2004

Ngày Nay, số 4, ngày 15/2/2004
Nguồn: eVăn
Đăng nhập để trả lời
0
Sự kiện Hoa thủy tiên [2] - phần 2 bài viết của Nguyễn Huy Thiệp
-
Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn (phần 2)
- Nguyễn Huy Thiệp -


1. Vẻ đẹp của văn học

Trong các bộ môn nghệ thuật, văn học thường được đặt lên hàng đầu bởi những đặc thù riêng của nó. Thế nào là một tác phẩm văn học đẹp? Xưa nay, trong các thông báo giải thưởng cho một tác phẩm văn học, nếu chú ý - chúng ta đều thấy người ta thường rất lúng túng và thường gán cho tác phẩm ấy những ý nghĩa có khi ở ngoài văn học. Cái đẹp - sự hoàn hảo trong một tác phẩm văn học rất khó xác định. Thế nào là đẹp? Rất ít khi người ta tâm phục khẩu phục một cách tuyệt đối một tác phẩm văn học, vì thế trong dân gian đã từng có câu "văn vô đệ nhất" (khác với võ: "võ vô đệ nhị").

Leonardo de Vinci đã từng phát hiện ra tỷ lệ vàng trong quy ước về cái đẹp của con người (1: 1,641). Nghiên cứu xã hội học về cái đẹp của phụ nữ người ta thường gắn với một loạt những tiêu chí như: khỏe mạnh, gợi tình, trẻ trung, thông minh v.v. Một tác phâm văn học đẹp có lẽ cũng phải có một số những quy định nào đấy về ngôn ngữ, cấu trúc câu, hình tượng, bố cục v.v. Ở ta, công việc của nhà nghiên cứu phê bình văn học chính là ở sự chỉ ra, hướng dẫn bạn đọc phát hiện ra cái đẹp trong những tác phẩm văn học liên quan rất mật thiết đến quan niệm thẩm mỹ của xã hội, của "không gian sống" đương thời, đến một yếu tố mà ta vẫn quen gọi là "hiện đại". Một hoa hậu của năm 2004 nhất thiết phải là một "cô gái chân dài" chứ không thể cứ lùn tịt như cô Thị Mịch của Vũ Trọng Phụng trong những năm 30 của thế kỷ trước. Một câu văn hay cũng khác, không thể biền ngẫu như là ngày xưa. Yếu tố mới lạ của ngôn ngữ được đưa vào tác phẩm hiện đại theo tôi phải là yếu tố số một cho việc đánh giá một tác phẩm văn học giá trị. Sự biến hóa của ngữ pháp, việc sáng tạo ra những cấu trúc phù hợp với cách cảm, cách nghĩ của Việt Nam hiện đại cũng là một tiêu chí phải xem xét. Khi người ta hỏi Nit-sơ rằng ông tự hào gì về các giá trị tinh thần vật chất mà ông đã có trong đời ông thì ông nói rằng ông thích nhất bởi ông đã viết ra được những cuốn sách bằng thứ tiếng Đức hay nhất. Một nhà văn xoàng khi viết ra một câu văn anh ta chỉ có chừng "ba búa": hai, ba cách đặt câu để cho anh ta lựa chọn mà thôi. Một nhà văn ngoại hạng không chỉ có "ba búa": anh ta có tới hàng chục, hàng trăm phương án khác nhau. Việc tìm ra một câu văn cho phù hợp đòi hỏi một cường độ suy nghĩ, cân nhắc hơn người: đấy chính là thứ "lao động nhân văn" chết người, nhọc nhằn và gian khó không phải ai cũng làm được.

Gần đây, trên báo Thể Thao Văn Hóa số ra ngày 6.2.2004 có bài viết Vì sao tôi đọc tiểu thuyết của Đoàn Minh Hà. Là nhà văn, tôi thích bạn đọc có ý kiến như thế. Họ hiểu rằng nhà văn sinh ra là để "kể chuyện". Kể chuyện hay! Có thế thôi. Giống như cầu thủ đá bóng: sinh ra là để đá bóng giỏi. Chúng ta trong nhiều năm thiếu những bạn đọc "sans souci". Hiện nay khi xã hội phát triển, tôi rất mừng vì bạn đọc đã có văn hóa hơn, "tử tế" hơn. Có câu rằng: "Dân thế nào, vua thế ấy". Có thể suy thêm: có những bạn đọc thế nào sẽ có những nhà văn thế ấy. Giở lại lịch sử ngày xưa, thấy tại sao trong thời mới Thịnh Đường ở Trung Hoa nảy nòi ra Lý Bạch? Thơ Lý Bạch được khen là thơ tiên phong vì phong độ, cốt cách, chí khí cao ngất. Ở thời ấy, dân chúng ấm no, sung túc. Lý Thế Dân là ông vua cao minh giữ được ổn định chính trị. Dân như thế, vua như thế, thời thế như thế thì sẽ có một thứ văn học tuyệt vời như thế: cho đến bây giờ, thơ Đường với những tên tuổi lừng lẫy vẫn là những đỉnh cao ở trên bầu trời văn học Phương Đông và thế giới.


2. Doping văn học

Trong bài phê phán tôi, Bùi Việt Thắng có chỉ ra chi chít những nhầm lẫn của tôi. Tôi không sợ, vì đơn giản nếu tôi sợ thì tôi đã chẳng phải là nhà văn. Nhà văn không đưa ra những bài học luân lý. Nhà văn chỉ kể chuyện. Phật tổ đã nói: "Mở miệng là đã sai rồi". Chúng ta luôn luôn sống trong những sự nhầm lẫn đan cài nhau. Bản chất cuộc sống, chân lý rốt ráo trong cuộc sống chính là sự nhầm lẫn. Chúng ta chỉ có được những giây phút ngắn ngủi của sự ổn định ôn hòa tương đối mà thôi, đấy chính là lý do để cho ta sống, ta mong muốn, ta tiến lên, ta hoàn thiện mình, nó chính là vẻ đẹp của cuộc sống vậy. Song song với việc kiếm sống để tồn tại, lấy vợ lấy chồng sinh con đẻ cái, loay hoay láng cháng với vài ba niềm vui nỗi buồn, vài vụ làm ăn, vài ba người tình, thấm thoắt năm, sáu chục xuân đã trôi qua, thế là hết một kiếp người "đứng đắn". Xét trên bình diện thời gian - đời người quả là phù du vô nghĩa. Trừ đầu trừ đuôi, thực ra đời sống tràn đầy sung mãn, sinh lực, trong sáng tuyệt với của con người ta có gì khác giò hoa thủy tiên trước mặt của tôi đây không: nở hoa thơm ngát được đôi ba ngày rồi tàn lụi, cái gì qua đi là qua vĩnh viễn, chẳng có cách chi lưu lại với đời. Sáng tạo văn học, nó cũng giống như bước nước rút trong các cuộc chơi thể thao. Trước đó người ta phải tập luyện, tích lũy. Chu trình đọc sách, "đi thực tế", suy nghĩ và viết lách đan cài nhau trong cuộc sống thường nhật như là thứ "lao động thường xuyên, thiếu nó sẽ không có cái thực sự vĩ đại" (A. Puskin). Khi ngồi vào bàn một vận động viên sung sức có đủ 100%, thậm chí 120% năng lực và phong độ. Nhà văn Lê Lựu đã từng ví việc viết văn như một ca sinh đẻ: người đẻ nhanh sao cho "mẹ tròn con vuông". Ý kiến đó đúng. Trong nhiều trường hợp, Lê Lựu vẫn luôn tỏ ra là một nhà văn không hào hoa lắm nhưng lại có những kinh nghiệm thực dụng không chê vào đâu được. Việc nhà văn chuẩn bị cho một tác phẩm mới ra đời là cả một chu trình lao động công phu đòi hỏi một sự tập trung cao độ. Những nhà văn trẻ ít kinh nghiệm thường không coi trọng bước chuẩn bị này, họ chủ quan tin vào "cảm hứng". Cảm hứng chỉ có thể giúp cho nhà văn trẻ làm ra được một thứ sản phẩm đèm đẹp, một cái gì đó ngắm "lâng lâng". Việc xây dựng một tác phẩm lớn, độc đáo đòi hỏi dứt khoát phải có tính hệ thống, một tư duy tổng hợp và khoa học thế nào đấy, tôi đã từng nói đến việc "tổ chức viết văn" ở một nhà văn của thời bây giờ: nào là sắp xếp nhà cửa, công việc, chuẩn bị tiền nong, sức khỏe, chuẩn bị tư liệu, chuẩn bị cảm xúc và nhiều thứ linh tinh khác. Không phải tự dưng có nhiều người viết trẻ tìm đến sự trợ giúp từ rượu, thuốc lá, ái tình và thậm chí ma túy. Nó giống như "doping" trong văn học. Sự căng thẳng trong tình cảm và cảm xúc, cũng như sự tập trung cao độ trong quá trình viết lách ở nhà văn khiến cho họ mệt mỏi. Tuy nhiên, không phải những chất "doping" ấy lúc nào cũng có kết quả. Theo quan sát của tôi - đa số nó phản tác dụng. Sự sáng tạo văn học thường không diễn ra giống như một cuộc thi đấu ngắn ngày như ở thi đấu thể thao. Sáng tạo văn học đòi hỏi cả một môi trường: nó là không gian sống, sự bình ổn nội tâm rất cao của người viết.

Gần như chẳng bao giờ có một không gian lý tưởng, có sẵn để cho nhà văn làm việc "như ý". Đa số nhà văn phải tự sáng tạo, tự dựng ra một không gian ảo giác cho mình để tiến hành công việc viết lách. Rất nhiều nhà văn đã làm việc một cách cô đơn, họ cố tình xa lánh những thứ rắc rối không cần thiết để tập trung vào công việc. Không phải tự dưng nhiều người vẫn coi nhà văn là những con sói cô độc khó gần. Sự khó hòa nhập với đám đông không có nghĩa là nhà văn không "nhập thế", không "ăn cùng nhân dân tôi, thở cùng nhân dân tôi", không hát bài ca của họ.

Khoảng hơn chục năm trở lại đây, ở Việt Nam không có những nhà văn có phong độ, khí phách lớn. Đến ngay cả nỗi buồn cũng không phải là những nỗi buồn lớn. Thái độ hời hợt của xã hội với văn học, cách tiếp nhận của xã hội đối với các giá trị văn học cũng làm mất đi cảm hứng ở nhiều nhà văn nhiệt thành. Đấy là chưa kể đến sự tráo trở và lạnh lùng của cơ chế thị trường vẫn chẳng nể nang gì ai cả.


3. Văn học hiện nay thiếu gì?


Câu hỏi đó do một nhà báo trẻ đặt ra với tôi. Tôi thấy rất khó trả lời. Nó có vẻ như một câu hỏi dành cho Hội Nhà Văn nhiều hơn là cho một cá nhân nhà văn nào đó. Trên bình diện chung, hầu hết chúng ta đều thấy như văn học thiếu vắng những tham vọng to lớn. Năm ngoái, khi đến Thụy Điển, tham dự Hội chợ sách Goterborg, tôi hết sức ngạc nhiên trước không khí văn học hăng say ở đó. Thật hệt như một giấc mơ! Niềm yêu mến với sách, với văn học là không chối cãi. Không thấy thái độ hoài nghi, khinh bạc với văn học. Không thấy thái độ hoài nghi, khinh bạc với cuộc sống nói chung. Trước giờ phút công bố giải thưởng Nôben văn học, tất cả bầu không khí tựa như ngưng đọng. Hầu hết mọi người đều căng thẳng và cảm động. Rõ ràng ở đây văn học có một vị trí xứng đáng trong đời sống cộng đồng. Ở Việt Nam, mấy năm gần đây văn học bị đưa ra đùa rỡn nơi công cộng và xem thường. Nhà văn bị ngờ vực. Việc biểu dương một số nhà văn trẻ "trong tầm tay" có một cái gì giả tạo. Văn học luôn tránh né một vấn đề nan giải khó nói nhất trong xã hội: không phải khó khăn kinh tế, không phải sex, không phải là tình cảm chiến tranh… Nó là vấn đề nhân tính. Văn học Việt Nam gần đây mất đi khả năng tưởng tượng, lãng mạn, mơ mộng và nhiệt huyết sống. Nó trở nên thực dụng, ê chề, lọc lõi, oái oăm, đôi khi đểu cáng.

Để có một nhà văn có giá trị nhân đạo cao phải dựa trên rất nhiều yếu tố. Người ta vẫn quen nghĩ rằng đó là do những nỗ lực cá nhân và chỉ là những nỗ lực cá nhân mà thôi. "Văn hay do cùng". Lối nghĩ đó vẫn phổ biến trong xã hội. Nó là lối đi tự phát, rèn luyện mà thành, lập nghiệp từ không chuyên, ỷ nhiều vào "năng khiếu". Có lẽ đã đến lúc người ta phải nghĩ đến một "typ" nhà văn khác: lớp nhà văn trí thức của một xã hội phát triển. Họ viết văn có bài bản, có lý luận, lý lẽ chứ không mò mẫm. Trước đây, ở Việt Nam hầu như chưa có những điều kiện xã hội để xuất hiện "typ" nhà văn này.

Trước mặt tôi đây là giò hoa thủy tiên thơm ngát. Tôi biết rằng cả đời tôi, rồi cả hoa cũng chẳng còn mãi trên đời này. Thời gian trôi đi, giống như sóng biển kia vỗ bờ, giống như dã tràng kia xe cát, sự sống rồi cứ tiếp nối nhau không ngừng như thế đầy, vô cùng vô tận.

- Mặc kệ chuyện thị phi

Tết Giáp thân 2004

Ngày Nay, số 5, ngày 1/3/2004
Nguồn: eVăn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-07-23 11:43:21Trương Củng>
Sự kiện Hoa thủy tiên [3] - phần 3 bài viết của Nguyễn Huy Thiệp



Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn (phần 3)


- Nguyễn Huy Thiệp -

1. Cái khó của nghề văn thời nay

Trong khoảng hơn một thập kỷ đổi mới, xã hội Việt Nam đã tiến những bước nhảy vọt về nhiều mặt, Việt Nam đã hoà nhập được với nhiều nước ở trong khu vực và trên thế giới. Quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra trên nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế và tri thức bất chấp những tư tưởng cục bộ và "sô-vanh" bất hợp tác. Về văn học, những cố gắng trong và ngoài nước đã làm cho nhiều nhà văn "thức thời" ở ta nhận ra được con đường gian khó nhưng cũng nhiều triển vọng ở trong nghề nghiệp của mình. Khi xã hội phát triển, nhu cầu hưởng thụ và làm ra những sản phẩm văn học nghệ thuật có phần nào tưởng như dễ dàng nhưng lại khó vô cùng. Tôi rất ngạc nhiên và không thích thái độ kỳ thị và xem thường việc xây dựng nên những công nghệ ở trong lĩnh vực giải trí, trình diễn như ca nhạc, tạp kỹ v.v.. Việc đào tạo, đánh bóng nhằm tạo ra những ngôi sao ca múa nhạc tạp kỹ hoặc thể dục thể thao lv.v.. là rất cần thiết. Ngay trong lĩnh vực văn học, đáng lẽ cần phải khuyếch trương, xây dựng thành một công nghệ đào tạo nhà văn mới thì vài năm trở lại đây lại có ý kiến bỏ đi trường viết văn Nguyễn Du. Bỏ thì dễ nhưng xây thì khó. Nhìn vào danh sách hơn 1000 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam người ta đều thấy đa số đều chỉ là những người già nua không có khả năng sáng tạo và hầu hết đều… "vô học", tự phát mà thành danh. Trong số này có tới hơn 80% là nhà thơ tức là những người chỉ dựa vào "cảm hứng" để tuỳ tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa, nhìn chung là lăng nhăng, trừ có dăm ba thi sĩ tài năng thực sự (số này đếm trên đầu ngón tay) là còn ghi được dấu ấn ở trong trí nhớ người đời còn toàn bộ có thể nói là vứt đi cả. Giai thoại có một nhà thơ nói về tình cảnh thơ ở trong bài thơ sau đây (tôi đã đưa chuyện này vào trong tiểu thuyết của tôi vì nó quá hay) khá tiêu biểu cho thực tế đó: "Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ/ Hôm qua nó bảo: Dí thơ vào l…/ Vợ tôi nửa dại nửa khôn/ Hôm nay lại bảo: Dí l… vào thơ!", tôi cũng không phủ nhận cảm tình của nhân dân đối với thơ nhưng quả thực trên thực tế cái danh nhà thơ là một thứ nhìn chung chỉ là nhăng nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó: nhà thơ đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa.

Tôi biết sẽ có nhiều người phản ứng lại điều tôi nói "trắng phớ" ra như thế nhưng ở đây nó là thực tế. Tôi chỉ nói ra một thực tế "tàn nhẫn" mà mọi người vẫn tránh né hoặc "không nỡ" nói ra mà thôi. Đã đến lúc người ta phải nhìn vào thực tế để thúc đẩy văn học cũng như thúc đẩy xã hội phát triển.

Trên kia tôi đã nói đến việc xây dựng một công nghệ đào tạo nhà văn, tôi ủng hộ ý kiến nên xây dựng một vài khoa viết văn ở các trường đại học ở ta. Viết văn phải trở thành một nghề nghiệp, một nghề nghiệp chuyên nghiệp chứ không thể nghiệp dư, tuỳ hứng được. Những nhà văn được đào tạo trong nền công nghệ đó phải có những tiêu chuẩn và trình độ chuyên môn nhất định. Nó không phải là toàn bộ chân dung văn học trong xã hội đó. Khi hoà nhập với thế giới bên ngoài luôn luôn có những sự trao đổi hợp tác giữa các nhà văn các nước. Lớp nhà văn cũ không còn phù hợp: họ không biết ngoại ngữ, không biết vi tính, họ chỉ có quá khứ, họ không thể trò chuyện và đối thoại "tay đôi" được với bên ngoài về những vấn đề của thời hiện tại. Trong sinh hoạt văn học, ở khía cạnh nào đó, việc viết ra được những "bài văn" cũng chỉ là một việc ngày nay người ta thực hiện một cách dễ dàng: đa số sinh viên đại học đều có thể làm được không khó khăn lắm. Khuôn mẫu " nhà văn cổ điển" chưa chắc đã là duy nhất đúng, phù hợp và nên noi theo đối với những thành niên tham gia vào công việc văn học trên tinh thần "xã hội hoá". Tôi đã thấy trong những chương trình " trò chơi âm nhạc" trên ti-vi, người xem cũng hát, cũng biểu diễn có khi chẳng kém gì những diễn viên chuyên nghiệp. Khi văn học "xã hội hoá" cũng sẽ xảy ra một cái gì tương tự như thế, nhất là khi Internet phát triển. Văn học - cũng như nhà văn sẽ ngày càng dân chủ hơn, thường hơn và vì vậy ngay cả những vấn đề về lý luận văn học cũng không phải cứ mũ cao áo dài và giữ nguyên cung cách chuyên chế, áp chế kiểu "các cụ" mãi được.

Trong xã hội phát triển, văn học rất thường nhưng để vượt lên, trở thành một cái gì đó ngoại hạng là rất khó. Hình mẫu thiên tài văn học ngày nay khác trước rất nhiều. Trong sách giáo khoa văn học người ta thấy rõ văn học đã bị đông cứng lại, cũ kỹ và "phản động": nó cứ ê a mãi những "song viết" và "song kiết", học sinh chỉ nghiên cứu và học tập "những thây ma cũ" hoàn toàn không được "tiếp máu" bởi những sinh lực văn học cường tráng và lành mạnh.

Nếu như khoảng 20 năm đến 30 năm nữa danh sách Hội viên Hội Nhà văn ở ta có tới hơn 80% nhà văn (chứ không phải nhà thơ) khoảng ở độ tuổi 25 đến 50 tuổi thì đấy mới là việc hợp quy luật. Ở ta vẫn có câu: "ốm tha, già phải". Văn học, đối tượng của nó là những người trẻ tuổi. Nó không phải là sân chơi của "đám giặc già lăng nhăng thơ phú". Trước Tết Nguyên đán tôi có ngồi dự một bữa tiệc tất niên ở nhà kỹ sư Đào Phan Long với nhiều tên tuổi văn nghệ sĩ khá lừng danh trên đất kinh kỳ. Nhà thơ Trần Ninh Hồ đọc một bài thơ phóng dật trong đó có câu: "Ông lão lục tuần đi trong sương gió/ Sương gió không biết ông lão lục tuần". Hay thì hay thật nhưng tôi cũng hơi sờ sợ những ông lão lục tuần … gân quá!


2. Trên con đường văn học

Thực ra, trên con đường văn học thì có rất nhiều lối đi khác nhau, "mọi con đường đều dẫn đến thành Roma", có người đến trước, người đến sau, người đứt gánh giữa đường, người đến đích hăm hở, người đến đích thân tàn ma dại, có người đến đích vinh quang, có người đến đích với cả bầu đoàn thê tử v.v… Tạo hoá tuyệt vời và rộng lượng sẵn lòng mở ra cơ hội cho tất cả mọi người không trừ ai cả. Nhưng cảnh giới văn học ở mỗi hạng cũng khác nhau và sự phong phú có vẻ vừa dân chủ vừa mất dân chủ ấy đã làm nên sự hấp dẫn chết người của văn học. Tôi không hề coi những ý kiến của tôi là chân lý, tôi chỉ nêu ra những suy nghĩ "nhầm lẫn" để mọi người trong giới văn học xem xét mà thôi. Văn học tác động đến xã hội bằng con đường ngầm, "phi chính phủ" và rất trực tiếp. Khi một nhà văn "phát sóng", những độc giả có cùng tần số "bắt sóng" ấy, tiềm năng trong họ được đánh thức và giời mới biết họ sẽ làm gì. Khi những phương tiện thông tin đại chúng phát triển, các môn nghệ thuật giải trí phong phú, chức năng giáo dục được trải rộng, nó không còn chỉ đặt lên mỗi đôi vai còm cõi của văn học ngày xưa nữa. Nếu chúng ta chú ý nhìn một chút thì sẽ nhận ra con trẻ ta ngốn những truyện tranh manga còn nhiều hơn sách văn học tỉ tỉ lần. Chúng không đọc " Những cánh buồm đỏ thắm" của Grimm, "Dế mèn phiêu lưu ký" của Tô Hoài nữa mà dành thời gian đó cho "Đôrêmon" hoặc các siêu nhân. Trong Hội nghị Lý luận văn học ở Tam Đảo năm 2003, chẳng thấy có một tham luận nào dành cho văn học thực sự. Không còn ai cứu trẻ con nữa. Tất cả những người "hành nghề văn học" ở ta đều muốn "dĩ hoà vi quý", đều muốn có nhưng cuộc chơi đèm đẹp, chơi có thưởng, không ai muốn " hy sinh" nữa. Trong chuyến về nước năm ngoái, nhà văn Phạm Thị Hoài nhận xét : "Ở trong nước, những người viết văn hiện nay sống sướng quá, nhà nước, xã hội yêu chiều, cưng chiều họ quá. Ở nước ngoài khó khăn khổ sở hơn nhiều, rất nhiều". Tôi nhận ra sự ngậm ngùi trong nhận xét của Phạm Thị Hoài. Nhận xét đó không hẳn đã đúng nhưng cũng là một ý kiến đáng để cho những nhà văn có lương tâm ở ta xét lại. Trên báo chí, thỉnh thoảng vẫn thấy các nhà báo "rồ lên" vì có tin nhà văn này, nhà văn kia "ẵm" các giải thưởng, nhận tiền tài trợ. Chuyện này hay dở thế nào chưa bàn. Nó cũng chỉ là một mặt " bề nổi" của văn học, theo tôi cũng là tốt. Nhưng - một khi dư luận văn học thực sự chỉ rồ lên vì cái "bề nổi" ấy thì cũng chưa hẳn đã "có lương tâm". Trong truyền thống, văn học đồng nghĩa với sự thanh đạm. Sinh hoạt văn học (nói rộng ra là cả sinh hoạt tinh thần) ở ta - ít nhất là ở Thủ đô - theo tôi hiện nay là thảm hại, chẳng có gì đáng để người ta quan tâm, say sưa. Tất nhiên trên thực tế, ở đâu có một cuốn sách hay, một bài viết hay những người quan tâm đến văn học đều cố tình đọc qua không bỏ sót. Rõ ràng văn học vẫn có cách tồn tại riêng của nó và vẫn âm thầm "đi những bước sấm đông rền" (Goethe) trên con đường hẹp, con đường định mệnh gian khó dành riêng cho nó. Văn học giá trị bao giờ cũng đề cao nhân tính. Một xã hội không có những tác phẩm văn học hay, không có những tác phẩm văn học giá trị nghĩa là nhân tính mất đi. Trách nhiệm đó không phải chỉ ở một người nào mà nó ở toàn xã hội.

Khi nói về nhân tính xưa nay các nhà lý luận văn học thường cũng chỉ mới đề cập một chiều đến lòng tốt, đến cách cư xử quân tử v.v... Người ta không nhìn thấy "bộ mặt thứ hai" của nhân tính mặc dầu "các cụ" ngày xưa cũng đều đã cảnh tỉnh cả rồi: "Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương" (Nguyễn Đình Chiểu), "Nơi thì lừa đảo nơi thì xót thương" (Nguyễn Du) v.v… Cái gì cũng có hai mặt (thậm chí vài ba mặt) kể cả "nhân tính". Độc giả có kinh nghiệm văn học rất dễ nhận ra những khuôn mặt ngụy quân tử trong các tác phẩm của các nhà văn. Dối trá, đạo đức giả - người ta chỉ đọc có vài ba trang là nhận ra liền. Không phải tự dưng mà các nhà văn cổ điển luôn luôn nói về sự trung thực ở nhà văn và trong lao động văn học. Thế nào là trung thực? Trung thực với mình, với người, với xã hội, với chữ nghĩa. Văn điêu, văn ma, phò nịnh, "nên thơ" v.v… là thứ rất dễ ngộ nhận. Có nhiều tác phẩm, người ta vẫn phải đọc, vẫn phải chấp nhận mặc dầu ai nấy đều cũng có "cảm giác" là nó thối tha, song - như tôi đã nói, thời đương đại bao giờ cũng có "không khí" suy đồi, cần phải có một thời gian rất dài thì những cái xác suy đồi mục nát ấy mới mất hết đi cái mùi ô uế của nó.

Biết làm sao bây giờ?


3. Lời kết thay cho hoa thủy tiên

Ngày Tết, đi mua giò hoa thủy tiên tôi mới ngã ngửa ra rằng tất cả giống hoa thủy tiên ở ta đều được nhập từ Trung Quốc. Không phải thủy tiên mà rất nhiều loài hoa khác nữa, thậm chí cả đào! Đi vào các hiệu sách, vẫn thấy văn học hiện đại Trung Quốc chiếm thượng phong ở trên giá sách. Về nhà mở ti-vi, phim truyền hình Trung Quốc vẫn thu hút người xem đông nhất. Văn hoá Việt Nam chịu ảnh hưởng của Trung Quốc tất nhiên rồi, xưa nay vẫn thế. Tôi ngắm nhìn giò hoa thủy tiên và nghĩ ngợi nhiều. Để hoa thủy tiên nở đúng vào lúc giao thừa là cả một nghệ thuật vun trồng, gọt tỉa công phu. "Chơi hoa nào đã mấy người biết hoa" vốn là thói đời phàm tục. Một tác phẩm hợp thời, ra đời đúng lúc cũng là một nghệ thuật, có người còn coi nó là số mệnh tác phẩm. Song le, những "tác phẩm đi trước thời đại" bao giờ cũng sẽ chẳng hợp thời. Ngồi buồn giở báo ra xem, thấy có mấy bác Hai Lúa ở Nam Bộ (Trần Quốc Hải, Lê Văn Danh) chế tạo ra máy bay trực thăng để phun thuốc trừ sâu cho mía mà cười ra nước mắt. Tôi thích câu kết của nhà báo Nguyễn Hồng Lam: "Tinh thần sáng tạo rất đáng khâm phục. Đáng tiếc, mơ ước ấy đã vượt quá sự cho phép của giới luật. Đột nhiên giật mình tự hỏi: trăm năm trước, anh em nhà Wiright đã gặp may vì không gặp các thứ luật định văn minh bó buộc. Nếu không, đến bây giờ chắc gì có ngành hàng không với những chiếc máy bay tung cánh bốn phương trời?" (báo An ninh thế giới ra ngày 19/02/2004). Trong văn học, không còn nữa những cuộc thí nghiệm giống như chuyện làm ra máy bay trực thăng. Để biết văn học đổi mới, chỉ cần dịch sách Trung Hoa xem là đủ. Nó cũng giống như giò hoa thủy tiên kia, nhập vào với giá rẻ như bèo chẳng phức tạp gì, thả sức chơi "te tua" trong thời gian Tết.

Này hoa thủy tiên, tôi ước chi đây là giống hoa của người Việt Nam trồng ra trên đất Việt Nam. Vệ Tuệ, Miên Miên, Cửu Đan… ước gì đấy sẽ là những tên tuổi của các nhà văn Việt Nam?

Xã hội Việt Nam đang ngày càng phát triển phong phú và đa dạng. Luôn luôn có những cơ hội dành cho tuổi trẻ. Trong lĩnh vực văn học cũng vậy. Vấn đề là phải có tình yêu với nó. Không có tình yêu thì chẳng làm gì được cả.

- Và với "một mẩu bánh mỳ con con" [1] nữa chứ?
- Tất nhiên rồi!

Tết Giáp Thân 2004

Ngày Nay, số 6, ngày 15/3/2004
_________________
[1] Thơ Phan Thị Vàng Anh thời trẻ:

"Hôm nay trời nắng chang chang
Mèo con đi học chẳng mang được gì
Chỉ mang một cái bút chì
Và mang một mẩu bánh mỳ con con."
Nguồn: eVăn
Đăng nhập để trả lời
0
Sự kiện Hoa thủy tiên [4] - bài viết của Trần Mạnh Hảo
-

eVăn: Gần đây, báo Ngày Nay có đăng làm nhiều kỳ bài viết của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp “Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn” (Ngày Nay, các số 4, 5, 6, ra các ngày 15/2, 1/3 và 15/3). Bài viết đang gây tranh luận gay gắt trong làng văn nghệ Việt Nam. Đến nay đã có rất nhiều ý kiến phản hồi của các nhà văn và nhà phê bình. Để giúp bạn đọc có thông tin về sự kiện này, eVăn chọn đăng những bài tiêu biểu đã được công bố trên các báo và tạp chí. Dưới đây là bài viết của ông Trần Mạnh Hảo trên báo Văn Nghệ, ngày 27/3.




Có thật đa số các nhà văn Việt Nam đều vô học, các nhà thơ đều lưu manh - hay là “hội chứng chửi có thưởng” thời nay?

- Trần Mạnh Hảo -


Những đặc tính có vẻ kém hay kia được gán cho hầu hết các nhà văn, nhà thơ thuộc Hội nhà văn Việt Nam (HNVVN) và gán cho những nhà thơ Việt Nam (VN) kể từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du trở xuống... không phải của người viết bài này, mà chính là lời của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp (NHT, cũng là một hội viên của HNVVN) trong bài Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn in liên tục trên 3 số báo Ngày Nay (cơ quan ngôn luận của Hiệp hội UNESCO Việt Nam) gồm các số: số 4 ngày 15/2/2004, số 5 ngày 1/3/2004 và số 6 ngày 15/3/2004. Chúng tôi sẽ lần lượt trích dẫn cụ thể những lời nói ngang ngược của nhà văn NHT, sau khi trình bày vài cảm nghĩ của mình về nhà văn này.


1. Thử lý giải hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp


Bản thân người viết bài này vốn từng rất quý trọng văn tài của nhà văn NHT. Nhà văn này đã góp cho nền văn học nước nhà ngót 10 cái truyện ngắn thật hay. Văn của anh Thiệp tuy là lối văn cũ nhất thế giới kiểu Truyện Tàu xưa, nhưng cái quý là chỗ anh đã biết dồn nén dung lượng đời sống vào nhân vật, vào ngôn ngữ như nén thuốc pháo, lại theo một góc nhìn lật mặt trái tấm huân chương... nên phần nào có thể làm mới được lối văn rất cũ này. Trước NHT, nhiều nhà văn VN đã viết theo lối văn xưa của Tàu, mà người thành công nhất là ông Vũ Hạnh. Hãy đọc lại truyện ngắn Bút máu, một tuyệt tác của Vũ Hạnh viết trước NHT gần 30 năm, ta sẽ thấy những Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết... của anh Thiệp có vẻ như là mô phỏng lối viết, lối nhìn, lối suy nghĩ, lối dùng ngôn từ cộc, gằn, chát, đắng, đau... với vẻ lạnh lùng khá tàn nhẫn mà Vũ Hạnh đã dùng trong Bút máu, in năm 1958 thời Ngô Đình Diệm...

Cách đây 18 năm, nhờ công cuộc đổi mới văn học do Đảng và Nhà nước chủ trương, một loạt truyện ngắn của NHT đã được in trên báo Văn Nghệ (tờ báo của HNVVN) tạo thành một hiện tượng văn học thật sự. NHT xuất hiện lúc đó quả tình như một cái van xả xú-báp của tâm lý xã hội, góp phần giải tỏa bao ức chế bị dồn nén của chiến tranh, nên được đông đảo người đọc đón nhận. Truyện ngắn có dư luận của anh Thiệp đầu tiên xuất hiện trên Văn Nghệ là truyện Tướng về hưu, rồi tiếp một loạt truyện mô tả một hiện thực khác là mặt trái xã hội, giống như cuộc tiểu phẫu các vết thương chiến tranh còn sót lại trong tâm hồn con người và trên cơ thể xã hội chưa chịu thành sẹo, còn mưng mủ hòa bình. Anh Thiệp đã xuất hiện đúng lúc để gãi ngứa cho giai đoạn ăn da non của vết thương chiến tranh thời hậu chiến. Vốn có thực tài, lại xuất hiện đúng lúc, trong mấy năm đầu công cuộc đổi mới văn học, cần phải ghi công NHT, bằng hội chứng văn học gãi ngứa, đã góp phần làm mau lành các lọai vết thương buổi giao thời ấy. NHT sau gần một chục truyện ngắn xuất sắc, đã để lại sau lưng một vệt các nhà văn trẻ thi nhau mô phỏng lối viết của anh. Khi bạn đọc trong nước đã cảm thấy có phần bội thực văn NHT, thì một loạt các đài báo, các nhà xuất bản của người Việt ở nước ngoài bắt đầu biểu diễn hội chứng đói Thiệp đến mức nhá hết cả thượng vàng hạ cám của nhà văn này, mà vẫn thấy kiến còn bò trong bụng. Khi đời sống xã hội trong nước đã khá lên nhờ cơ chế thị trường, các loại vết thương chiến tranh thời hậu chiến đã qua giai đoạn ăn da non, không còn cần công nghệ gãi ngứa vật chất và gãi ngứa tinh thần nữa. Nhưng NHT không nhận ra điều đó. Anh vẫn tiếp tục sản xuất văn chương gãi ngứa vết thương. Nhà văn này chừng như cố tình không nghe lời ta thán của độc giả: rằng cái ông này đùa dai, người ta đã hết ngứa từ lâu, mà sao hễ cứ nhìn thấy vết sẹo nào lộ thiên là ông lại lao vào gãi mãi thế? Những vết sẹo không còn ngứa nữa thì mình gãi làm gì, chỉ tổ cào rách miệng vết thương xưa thôi! Hay là ông nhà văn này bị bệnh đói các vết thương? Đây chính là bi kịch của văn tài NHT: khi cái thiên tài gãi ngứa của mình không còn hợp thời nữa, không còn đắc dụng nữa, anh bèn sinh ra nghề lập thuyết, viết lý luận dạy đời và chơi cả tiểu thuyết trên mạng Internet... Nhưng dù sao, chúng tôi cũng vẫn phải thầm cám ơn tờ báo Văn Nghệ: ngót 20 năm về trước đã khai sinh ra nhà văn NHT.


2. Văn hóa không dung nạp thói vô ơn và trò chơi "chửi có thưởng"!


Chúng tôi rất hoan nghênh tiêu chí của NHT in trên phần đầu bài báo đã dẫn trên Ngày Nay số 4-2004, tr.17, cột 2, dòng 10 kể từ dưới lên: "Nhà văn bắt buộc phải trở thành một nhà văn hóa, một nhà nghiên cứu". Có lẽ NHT muốn chứng tỏ mình đã trở thành nhà văn hóa như thế nào, bằng cách nào, nên anh đã gọi ngót 800 người đang là hội viên HNVVN ra mà nặng lời trên báo Ngày Nay số 6-2004, bài đã dẫn, tr.15, cột 2, dòng thứ 3 kể từ trên xuống:

"Nhìn vào danh sách hơn 1000 hội viên Hội nhà văn Việt Nam người ta đều thấy đa số đều chỉ là những người già nua không có khả năng sáng tạo và hầu hết đều... "vô học", tự phát mà thành danh. Trong số này có tới hơn 80% là nhà thơ tức là những người chỉ dựa vào "cảm hứng" để tùy tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa nhìn chung là lăng nhăng, trừ có dăm ba thi sĩ tài năng thực sự (số này đếm trên đầu ngón tay) là còn ghi được dấu ấn ở trong trí nhớ người đời còn toàn bộ có thể nói là vứt đi cả".


Tự dưng đa số hội viên HNVVN bị anh Thiệp gán cho là vô học, lại cẩn thận để chữ vô học trong nháy nháy: "vô học". Dù anh có để trong nháy nháy đi nữa thì nội hàm của từ này vẫn không có gì thay đổi, vẫn tuân thủ định nghĩa của từ điển: "vô học": (Người) không có học thức, không được giáo dục: Đám trẻ vô học. Đồ vô học. (tr.1826, Đại từ điển Tiếng Việt- Bộ GD&ĐT- Trung tâm Ngôn ngữ & Văn hóa Việt Nam xuất bản 1998).

Anh Thiệp nỡ lòng nào mắng cả HNVVN là đồ vô giáo dục, mắng các nhà thơ là phù phiếm, vô nghĩa, lăng nhăng, lưu manh, vứt đi cả...? Nên nhớ là trong số các hội viên HNVVN bị anh Thiệp nặng lời kia, chí ít cũng phải có đến 1/3 số người bị đụng chạm có cảm tình với các truyện ngắn NHT. Cả làng văn vốn lành tính không ai chòng ghẹo gì anh, không ai bắt trộm gà qué của anh, sao anh lại giãy lên đành đạch như đỉa phải vôi mà đứng chống nạnh xỉa xói làng nước thế? Chúng ta thử hình dung trong một làng có ngót 800 hộ dân vẫn hằng sống tử tế với nhau, bỗng sáng sớm có một ông hàng xóm cha căng chú kiết không hề mắc bệnh tâm thần, đường đột đến từng nhà, rồi mắng như tát nước vào mặt những người cùng làng vốn không hề gây thù chuốc oán với mình rằng: các anh là đồ vô học, đồ vô giáo dục, đồ lăng nhăng, phù phiếm vô nghĩa, lưu manh, đồ vứt đi... thì cái ông vua chửi này chưa chắc đã còn đường trở về nhà mình! Xem ra, mới biết nhà văn, nhà thơ nước ta hiện nay còn lành hơn cả đất!

NHT tiếp tục nâng cấp "bài ca" trên lên hàng thượng thừa, dám "dí" cả con chuột vi tính vào các thần linh thơ, kể từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương trở xuống, như sau:

"Giai thoại có một nhà thơ nói về tình cảnh thơ ở trong bài thơ sau đây (tôi đã đưa truyện này vào trong tiểu thuyết của tôi vì nó quá hay) khá tiêu biểu cho thực tế đó: "Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ/ Hôm qua nó bảo: Dí thơ vào l.../ Vợ tôi nửa dại nửa khôn/ Hôm nay lại bảo: Dí l... vào thơ!". Mặc dầu đã có "Ngày thơ Việt Nam", tôi cũng không phủ nhận cảm tình của nhân dân đối với thơ nhưng quả thực ở trên thực tế CÁI DANH NHÀ THƠ là một thứ nhìn chung chỉ là nhăng nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó: NHÀ THƠ ĐỒNG NGHĨA VỚI sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa"...


Chúng tôi xin mở cuốn Đại từ điển Tiếng Việt tr.1077 đã dẫn, xem cho rõ nhẽ nội hàm của từ "lưu manh" mà anh Thiệp vừa gán cho các nhà thơ VN: "Lưu manh: Hạng người chuyên lừa đảo, trộm cắp, làm ăn phi pháp: trừng trị bọn lưu manh. Bắt gọn toán lưu manh côn đồ".

Việt Nam là một dân tộc, một đất nước Thơ. Dân tộc ta vốn có 2 truyền thống chính để tự hào: một là ĐÁNH GIẶC, hai là LÀM THƠ. Nếu ta chỉ có những Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa mà thiếu Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương thì coi như dân tộc chỉ biết có cơ bắp, biết có thanh gươm mà thiếu tâm hồn, thiếu vẻ đẹp tinh thần, thiếu lãng mạn, thiếu thẩm mỹ. Những lời thóa mạ nguyền rủa THƠ CA một cách vô tiền khoáng hậu trên của NHT dành cho không chỉ các nhà thơ thời nay, mà còn cả các nhà thơ trong quá khứ. Nên nhớ rằng chúng ta mới có văn xuôi từ thuở chữ Quốc ngữ thông dụng vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ở Nam Kỳ; còn hơn 9 thế kỷ, cả nền văn học dân tộc đều đồng nghĩa với THI CA. Hồn Thơ của ca dao, của thơ Lý Trần, của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính... kia có thể ví như BÀ MẸ TINH THẦN CỦA DÂN TỘC. Việc làm trên của một người tự nhận là nhà văn, là một nhà văn hóa, một nhà nghiên cứu như NHT, có thể ví như hành vi của đứa con dám hắt nước vào chính mặt mẹ mình (!). Tờ báo Văn Nghệ vốn là nơi chôn nhau cắt rốn nghiệp văn NHT, giống như bà mẹ tinh thần của anh, anh đã không hề biết ơn, lại còn coi khinh như mẻ "cái máng cỏ" đã khai sinh ra văn minh thế? Văn hóa không hề dung nạp thói vô ơn, thói qua sông đấm bút vào sóng, dù đó là ông trời đi chăng nữa.

Không phải chỉ dân tộc ta, mà hầu như tất cả các dân tộc khác trên thế giới đều dạy trẻ thơ muốn thành con người đúng nghĩa phải có lòng nhân ái, yêu giống nòi, nhân loại, ghét thói gian tà, kiêu ngạo, hống hách, hung ác... biết yêu trẻ kính già. NHT đặc biệt khinh rẻ các nhà văn, nhà thơ cao tuổi, gọi "các cụ" là "đám giặc già" như sau: "Văn học, đối tượng của nó là những người trẻ tuổi. Nó không phải là sân chơi của đám giặc già lăng nhăng thơ phú". Đạo Thiên Chúa giáo coi khả năng phạm tội của con người nằm trong ba trạng thái: tư tưởng, lời nói và việc làm. Vô cớ nguyền rủa đồng loại, vu oan giá họa cho đồng loại là một trọng tội có thể bị sa địa ngục đấy! Bằng bài báo vừa dẫn, NHT như muốn bước ra khỏi những giới hạn luân lý, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc và loài người.

Đọc xong bài báo này của anh Thiệp - một nhà văn chúng tôi từng yêu mến, kính trọng mà bàng hoàng suốt mấy ngày liền, hỏi tại sao anh Thiệp lại hành xử với đồng nghiệp như vậy? Hay là anh bị hội chứng Freud? Hay do anh lao tâm khổ tứ sáng tạo, tìm cách leo trèo lên đỉnh "Linh Sơn" của Cao Hành Kiện, đặng hi vọng chinh phục cánh cửa sau của Hoàng Gia Thụy Điển mà bị stress toàn phần chăng? Nhưng qua Email và dây nói với bạn bè Hà Nội, chúng tôi biết anh Thiệp vẫn tỉnh như sáo, không hề có dây thần kinh nào bị rắc rối cả. Suy đi ngẫm lại, chúng tôi thấy việc xuất hiện bài báo trên của anh Thiệp là không hề bất bình thường, mà rất hợp với tính cách và những bước đi có tính toán của anh. Anh Thiệp đã là nhà "chửi học" số một Việt Nam từ lâu, chứ không cần đợi đến bài báo này mới lộ ra thiên tài của anh. Chúng tôi từng theo dõi hầu như tất cả các buổi trả lời phỏng vấn các đài nước ngoài phát tiếng Việt của NHT, ít nhất trong vòng 15 năm qua, thì mới thấy "HỘI CHỨNG CHỬI" của anh là có hệ thống, có cân nhắc tính toán hẳn hoi, chứ không phải là việc "nổi điên" do rượu chè quá chén, hay bốc đồng văng mạng chửi đổng chơi như có nhiều bạn bè lầm tưởng. NHT trong rất nhiều lần trả lời phỏng vấn, trò chuyện với thính giả trên các làn sóng phát thanh nước ngoài và in trên các báo chí, khi đề cập các vấn đề trong nước, thường thấy anh lặp đi lặp lại những chữ sau: "đểu cáng", "vô học", "lưu manh", "cứt", "phù phiếm", "khốn nạn", "điếm", "chó má", "nôn mửa", "tởm", "ngu như lợn", "thê thảm", "xỏ lá", "lừa bịp", "xỏ xiên", "lọc lõi", "lỗ mãng", "nham nhở", "nhảm nhí", "tiểu nhân", "ngụy quân tử", "phàm phu tục tử", "suy đồi"... Chúng tôi thấy một hiện tượng được lặp đi lặp lại nhiều lần thành quy luật: là mỗi lần NHT mở 1 "chiến dịch chửi" ở đâu đó xong, thế nào một thời gian sau anh cũng được trọng thưởng: nhận được vài ba lời mời đi du lịch nước ngoài không phải mất tiền, dưới danh nghĩa trao đổi văn hóa, giao lưu văn học. Với lần tung chiến dịch lớn này trên báo Ngày Nay, rồi ta sẽ thấy NHT gieo "hạt" trong chỉ vài ba tháng là sẽ có một mùa bội thu "sáng tác" ngay. Chắc rồi đây anh lại hơi bị bận vì sắp phải sang Âu-Mỹ trao đổi văn hóa? Mới biết "chửi" thời nay cũng là một nghề hay đấy! Khi việc này đã được định hướng theo công nghệ CHỬI CÓ THƯỞNG, giống như chuyện đố vui có thưởng, đi họp có thưởng, vật nhau có thưởng, đặt vòng có thưởng... thì nhà văn ơi, xin phục người sát đất.

Báo Văn Nghệ số 13, ra ngày 27.3. 2004
Nguồn: eVăn
Đăng nhập để trả lời
0
Sự kiện Hoa thủy tiên [5] - bài viết của Lê Văn Vọng trên báo Văn Nghệ
-

eVăn: Xung quanh “Hoa thủy tiên” vẫn tiếp tục có nhiều ý kiến tranh luận gay gắt. Dưới đây là bài viết mới nhất của ông Lê Văn Vọng trên báo Văn Nghệ.



  • Chân dung tự họa của Nguyễn Huy Thiệp


    - Lê Văn Vọng -



    Khi nói tới một nhà văn nào đấy người ta thường nghĩ nhiều đến cái phần văn hóa (hiểu theo nghĩa rộng) trong con người nhà văn đó. Nhà văn cũng là nhà văn hóa. Chúng tôi tán đồng ý kiến của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Đã là nhà văn thì nhất thiết từ hành động đến lời nói đều phải thể hiện cái văn. Văn ở đây hàm nghĩa rất rộng, đó là tốt, là đẹp, sự tài hoa, minh triếtm lịch duyệt v.v... Ăn nói hàm hồ, thô lỗ, coi khinh đồng nghiệp, coi thường người khác, các cụ ta ngày xưa gọi là thói hợm hĩnh, lăng loàn, chỉ có ở những ai mà lỗ hổng nhân cách quá lớn.



    Chúng tôi đã đọc bài Trò chuyện với hoa Thủy tiên và sự nhầm lẫn của nhà văn của Nguyễn Huy Thiệp đăng trên 3 số báo ngày nay: 4, 5 và 6/2004. Có thể coi bài báo đó là bức chân dung tự họa của anh với mấy nét lớn như sau:



    1) Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn mà chưa hiểu hết nghề văn.



    Ai cũng biết muốn làm thơ, viết văn phải có tài. Tài năng đó là thứ bẩm sinh, trời cho, người nhiều, người ít, cộng với sự lao tâm khổ luyện, sự lăn lóc trong trường đời mà thành ra nhà văn lớn, nhà văn nổi tiếng... Mỗi người có một con đường riêng, có người đi được xa, cũng không ít người do nhiều lý do mà “nửa đường đứt gánh”. Trái lại, không có tài thì dù có đem luyện như luyện linh đan cũng không thể thành nhà văn được.



    Trong bài Trò chuyện với hoa Thủy tiên... (báo đã dẫn), Nguyễn Huy Thiệp đã có một sự nhầm lẫn đáng tiếc khi viết: “Ngay trong lĩnh vực văn học, đáng lẽ cần phải khuyếch trương, xây dựng thành một công nghệ đào tạo nhà văn mới...” Vì nghĩ nhà văn có thể đào tạo được theo công nghệ nên anh đã dè bỉu, đánh giá thấp những nhà văn không được đào tạo theo công nghệ. Anh viết: “Nhìn vào danh sách hơn 1000 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (không hiểu anh “nhìn” vào đâu, chứ danh sách Hội viên Hội Nhà văn chỉ có 798), người ta đều thấy đa số chỉ là những người già nua không có khả năng sáng tạo và hầu hết đều... “vô học”, tự phát mà thành danh”.



    Ở đây chỉ xin nói về lớp nhà văn mà Nguyễn Huy Thiệp gọi là già nua không có khả năng sáng tạo. Cho đến hôm nay, đất nước ta đã trải qua nhiều giai đoạn: chiến tranh, hòa bình, xây dựng và đổi mới. Trong mỗi bước chuyển mình có một lớp nhà văn mới xuất hiện, vừa làm tròn bổn phận công dân, họ vừa thực hiện thiên chức nhà văn, xã hội luôn tạo điều kiện cho họ phát huy tài năng. Trong số 798 hội viên nhà văn, anh Thiệp cho rằng đa số là già nua thì hoàn toàn không chính xác; nhưng thôi, cứ “chiều” anh mà xếp những người trên 50 - mới bước qua tuổi trung niên vào lới già cho đủ cái “đa số” để bàn.



    So với những người cầm bút khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới thì lớp nhà văn chống Pháp và chống Mỹ quả là đông và “già” thật. Nhưng trong số họ chưa thấy ai buông bút cả. Nhiều người trong số họ đang là lực lượng chủ lực của văn đàn. Chỉ cần dạo một vòng qua các quầy sách ta sẽ thấy sức lao động, sáng tạo của họ không “già” một chút nào. Không ồn ào, không tuyên ngôn ầm ĩ, họ cứ lặng lẽ đóng góp vào kho tàng văn học Cách mạng bằng những tác phẩm. Chỉ riêng điều đó cũng đáng kính trọng lắm rồi.



    Nghề văn là một nghề đặc thù. Lao động nhà văn là lao động độc lập, tự giác. Nếu ai đó có thực tài, họ sẽ tự tìm thấy con đường phát triển chứ không chờ đến khi được học. Việc học đối với nhà văn cũng cần như tích lũy vốn sống, nhưng nó không mang tính quyết định làm nên tác phẩm. Cũng như các ngành khoa học khác, nghề văn có nhiều cách học, không nhất thiết phải tập trung, cắp cặp đến trường. Với một nhà văn, không có trường học nào quan trọng bằng trường đời. Chính đời sống làm nên nhà văn. Bậc thầy văn học M. Gooc-ki là một ví dụ.



    Dạo đó, trường viết văn Nguyễn Du có mời nhà văn Nguyễn Tuân đến nói chuyện “nghề nghiệp” với các học viên khóa I. Ông bước vào lớp với cái túi cói nhỏ trong có be rượu. Sau khi ngồi vào vị trí “giáo viên”, bằng những động tác hết sức lịch lãm, ông rót rượu vào cái chén hạt mít, vừa uống vừa quan sát lớp học. Hơn 40 gương mặt cả nam lẫn nữ, phần lớn đã thành danh, nhìn “thầy” chờ đợi. Câu đầu tiên, thay vì “giảng bài”, ông hỏi: “Các anh chị được học những gì?” Thay mặt ban giáo vụ anh Huỳnh Khái Vinh thưa: “Dạ học một số môn, trong đó có Triết học, Ngoại ngữ, Mỹ học...”. Nguyễn Tuân gật đầu: “Học là rất cần đấy, nhưng chưa có trường nào đào tạo ra được nhà văn đâu. Các anh, các chị cũng đừng nghĩ rằng sau khi có một số kiến thức thì mình sẽ trở thành nhà văn...”.



    Kể lại chuyện đó để thấy rằng viết văn là công việc hoàn toàn tự thân, viết do nhu cầu nội tại, để giải toả cảm xúc về một vấn đề gì đấy. Học chỉ như là yếu tố bổ trợ cho tri thức, để thắp sáng hơn cái phần tài năng vốn có. Nhưng điều đó có thể thực hiện bằng sự tích lũy. Vậy mà anh Thiệp lại mỉa mai cho rằng các nhà văn của ta hầu hết đều “vô học”, tự phát mà thành danh. Nhìn ra thế giới, các nhà văn lớn như: Vícto Huygô, Sếchpia, Sôlôkhốp, Lỗ Tấn, Hêminguê, Máckét v.v... đều tự phát mà thành chứ có ai qua trường lớp đào tạo nhà văn nào đâu. Ngay cả Nguyễn Huy Thiệp bước vào nghề văn cũng là “tự phát” đấy thôi.



    2) Văn hóa ứng xử vỉa hè và có tư chất Chí Phèo.




    Có thể có người cho rằng nói như thế là quá lời, là oan cho anh Thiệp, anh là nhà văn, cũng là Nhà văn hóa kia mà. Nhưng tất cả cái đó nó cứ phơi ra qua việc anh làm, qua lời anh nói như một tố cáo anh vậy.



    Là người Việt Nam, ai cũng hiểu đất nước ta là đất nước của thi ca, thi ca có một vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần của người Việt Nam. Thơ là tinh túy của văn hóa, ẩn chứa một sức mạnh tiềm tàng.



    Trong hai cuộc kháng chiến, thơ ca của ta đã có những đóng góp to lớn, khích lệ động viên tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ ngoài mặt trận, đem lại niềm tin thắng lợi cho người ở hậu phương. Sức mạnh của văn học nói chung, thơ ca nói riêng là không thể phủ nhận.



    Năm 1972 tại hậu cứ của một đơn vị Quân Giải phóng miền Đông Nam Bộ tôi gặp một sĩ quan cấp úy ngụy Sài Gòn. Anh ta thú nhận rằng chính anh đã bị những bài thơ trong buổi phát thanh dành cho binh sĩ Sài Gòn của đài Tiếng nói Việt Nam làm cho tinh thần rệu rã mà tìm đường ra đầu hàng Quân Giải phóng. Anh ta đã được những bài thơ của những người bên kia chiến tuyến "lôi" ra khỏi đêm dài u mê và cứu sống. Tất nhiên đó chỉ là một trong nhiều trường hợp mà thôi.



    Nhưng theo Nguyễn Huy Thiệp thì Các nhà thơ chỉ dựa vào "cảm hứng" để tùy tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa, nhìn chung là lăng nhăng... và nhà thơ đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa...



    Người ta vẫn nói đẹp như thơ, dịu dàng như thơ, trong trẻo và ấm áp như thơ. Chẳng phải ngẫu nhiên mà người đời gọi là nàng thơ. Đó là sự trân trọng, đề cao thơ, ca ngợi thơ... cao hơn là sự tôn vinh thơ. Nhưng với Nguyễn Huy Thiệp, một nhà văn, ta hãy xem anh "ứng xử" với nàng thơ như thế nào?



    Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ/ Hôm qua nó bảo: Dí thơ vào l.../ Vợ tôi nửa dại nửa khôn/ Hôm nay lại bảo: Dí l... vào thơ. Chẳng biết những lời tục tĩu đó của ai, nhưng Nguyễn Huy Thiệp đã sung sướng reo lên rằng: "Vì nó hay quá nên tôi đã đưa vào trong tiểu thuyết của tôi". Ấy vậy mà cũng trong bài viết đó anh Thiệp lại cao giọng dạy bảo người khác: "Nhà văn cũng là nhà văn hóa". Thật là mỉa mai (!?)



    Một trong những nét đẹp văn hóa của người Việt Nam là kính già, yêu trẻ, kính trên, nhường dưới. Ở nhà kính trọng cha mẹ, ra ngoài xã hội kính người cao tuổi. Nhưng trong con mắt của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp thì những nhà thơ cao tuổi chỉ là đám giặc già lăng nhăng thơ phú. Gọi những đồng nghiệp cao niên đáng kính là giặc. Nguyễn Huy Thiệp xác nhận tư cách và thành phần xã hội của mình rồi đấy!



    Ai đã đọc truyện Chí Phèo của Nam Cao chắc không quên được cái gã Chí Phèo lưu manh suốt ngày say rượu, chửi bậy. Làng Vũ Đại người dân sống hiền lành là thế nhưng cứ nốc rượu vào hắn réo gọi cả làng ra mà chửi. Hắn chửi một cách vô cớ, chửi mà không cần biết có người nghe hay không. Đúng là một gã lưu manh có hạng. Chửi làng chán, hắn chửi người đã sinh ra hắn. Xét về hành vi, Nguyễn Huy Thiệp chẳng khác Chí Phèo. Không ai thù oán, không ai trêu chọc, bỗng dưng anh lôi cả làng văn ra thoá mạ. Chí Phèo chửi trong cơn say rượu, còn Nguyễn Huy Thiệp tuôn ra những lời thô lỗ trong lúc tỉnh và có dụng ý hẳn hoi. Rồi đây anh ta sẽ được nhóm người thiếu thiện chí với dân ta, hay chọc ngoáy vào công việc của người khác bên trời Tây trả "nhuận miệng" bằng một chuyến mời sang đó du hí cho mà xem. Nhà thơ Trần Mạnh Hảo gọi đó là "Chửi có thưởng" quả không sai. Lợi dụng dân chủ để làm càn, chửi bậy và xúc phạm người khác, đó là hành vi phi văn hóa, nhưng chẳng hiểu sao có tờ báo lại đón lấy đăng tải như một sự bảo kê, nối giáo. Cần phải làm rõ trách nhiệm của người ấn nút cho những lời chửi rủa và phỉ báng Hội Nhà văn Việt Nam, và các nhà văn Việt Nam.



    3) Thái độ vô ơn, ăn cháo đá bát.



    Đất nước ta trải qua một cuộc chiến tranh vệ quốc kéo dài 30 năm. Đánh đuổi kẻ thù xâm lược, chúng ta giành lại sự vẹn toàn giang sơn Tổ quốc. Chiến thắng của ta là chiến thắng của văn minh chống lại dã man, tàn bạo, được những người tiến bộ trên thế giới ủng hộ. Chân lý đã rõ ràng nhưng giờ đây vẫn có người không muốn công nhận. Họ cố tình đánh tráo khái niệm kẻ đi xâm lược và người chống xâm lược, nhằm thay đổi ý nghĩa cuộc chiến đấu anh hùng, chính nghĩa của dân tộc ta. Chẳng biết Nguyễn Huy Thiệp có trong nhóm người này không mà anh có quan điểm rất lạ lùng. Trong lần cùng nhà thơ Trần Đăng Khoa sang dự Hội chợ sách Bắc Âu 9-2003, tại cuộc gặp nhà thơ Thụy Điển Saradid Man, người đã từng nhiều lần sang thăm Việt Nam khi đang có chiến tranh, người luôn ca ngợi cuộc chiến đấu của nhân dân ta, anh Thiệp đã nói rằng: "Đối với thế hệ chúng tôi, cuộc chiến tranh ấy thật đáng lợm mửa".



    Nguyễn Huy Thiệp không hề che giấu suy nghĩ của mình, anh cho rằng cuộc chiến đấu mà nhân dân ta tiến hành để giải phóng đất nước là cuộc chiến tranh "đáng lợm mửa". Tôi thật không thể ngờ một người tự nhận là nhà văn, một người cất giọng chửi rủa các đồng nghiệp của mình là lưu manh vô học, có nghĩa tự nhận mình là hoàn thiện và có học lại dám thốt ra những lời lẽ phản văn hóa, phản lương thiện, xúc phạm lên đất nước, nhân dân mình như thế? Đây là một thái độ vô ơn, vô đạo, không thể tha thứ được. Còn một điều đáng nói nữa là Nguyễn Huy Thiệp đã vơ đũa cả nắm, vu lên cả một "thế hệ" phản bội, vô ơn chứ không phải chỉ một mình anh. Đây không còn là vấn đề học thuật mà là tư cách của Nguyễn Huy Thiệp, nó cũng giống như "luận điểm" điên rồ, lạc lõng của vài kẻ háo danh thích nổi tiếng "thần kinh có vấn đề", cho rằng cuộc kháng chiến chống xâm lược của ta là không đáng có; rằng chúng ta vẫn có thể giành được độc lập mà không cần phải cầm súng, hao người tốn của.



    Không biết Nguyễn Huy Thiệp làm gì, ở đâu trong những ngày cả nước sôi sục không khí chiến đấu lớp lớp thanh niên gái trai nối nhau lên đường diệt giặc. Họ đã tự nguyện hiến dâng đời mình cho Tổ quốc. Có được cuộc sống thanh bình, hạnh phúc hôm nay hàng vạn người con ưu tú đã ngã xuống, trong đó có thể có cả bạn bè, người thân của anh Thiệp. Nhưng anh đã nhẫn tâm coi đó là những cái chết vô nghĩa, bởi vì đó là cuộc chiến tranh lộn mửa. Không có sự vô ơn nào lớn bằng sự vô ơn ấy.



    Nhớ hồi Nguyễn Huy Thiệp "cất tiếng chào đời" trong nghề văn, báo Văn nghệ, tờ báo của Hội Nhà văn Việt Nam đã làm "bà đỡ" nâng niu, chiều chuộng hết mực ngay từ truyện ngắn đầu tiên. Nhưng khi "đủ lông đủ cánh", được "người ngoài" để mắt tới, anh Thiệp vội quay lưng phỉ nhổ nơi đã nâng đỡ mình. Đây không còn là chuyện văn chương mà là vấn đề đạo đức, là tư cách của người cầm bút. Thật đáng buồn thay!



    Hà Nội, 1/4/2004



    Văn Nghệ, số 15 (2308), 10/4/2004
    ____________________

  • [*] Ghi chú: eVăn giữ nguyên cách trình bày văn bản của báo Văn Nghệ trong bài viết này (tên các tác giả nước ngoài, các đoạn chữ in nghiêng, in đậm...).
    Đăng nhập để trả lời
    0
    Sự kiện Hoa thủy tiên [6] - ý kiến của Đồng Đức Bốn
    -

    eVăn: Để giúp bạn đọc theo dõi sự kiện “Hoa thủy tiên”, eVăn tiếp tục đưa các bài viết và ý kiến in trên các báo, tạp chí khác. Chúng tôi xin lưu ý: Việc đưa bài này chỉ có mục đích thông tin chứ không phản ánh quan điểm của eVăn.



    Dưới đây là bài mới nhất của nhà thơ Đồng Đức Bốn trên báo Văn Nghệ Trẻ.



    Để phúc đức cho con cháu


    - Đồng Đức Bốn -


    Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp ơi: lửa to quá thì cháy nhà. Phở cho nhiều muối quá thì mất ngon. Còn khi bệnh nặng quá thì phải chết. (Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn). Tuy có những vấn đề đặt ra (dù không mới) chúng ta vẫn phải nghiên cứu xem xét lại. Nhưng cũng có những vấn đề không “tử tế” gì. Đây là một bài viết kém nhất của anh kể từ trước tới nay. Đất nước không bao giờ dung nạp thứ văn chương: hằn học, thô thiển và tục tĩu đến vậy. Nhưng cái đó lẽ ra không có trong văn Nguyễn Huy Thiệp. Nhưng cái đó người xưa làm sang trọng hơn. Nhưng dù có sang trọng hơn thì nó vẫn không tồn tại. Mất tiền thì ta chỉ mất ít thôi chứ mất nhân cách thì ta mất tất cả.

    Đã ăn thóc đồng bằng sông Cửu Long, uống nước sông Hồng thì ta phải nói theo lời của Thánh Gióng. Chỉ có những kẻ bất tài vô dụng mới đi ngược lại lợi ích của dân tộc. Dứt khoát xã hội không để cái xấu hiện hình.



    Anh vẫn thường bảo với tôi rằng: nhà văn phải đứng về phía nhân dân nhưng khi anh viết ra nhân dân cũng không chấp nhận được thì lấy chỗ đâu cho anh đứng:



    Núi cao bởi có đất bồi

    Núi chê đất thấp núi ngồi ở đâu

    Tố Hữu



    Anh vẫn thường bảo với tôi rằng: nhà văn là một nhà văn hóa. Nhưng làm gì có một thứ văn hóa mang bố mẹ, quê hương, đồng nghiệp ra chửi. Có nhiều người bảo anh là một Chí Phèo thời hiện đại. Tôi không nghĩ thế, nhưng không phải kẻ đốt đền nào cũng trở thành Êrôcrát mà anh chẳng đã từng tâm đắc với câu thơ này của Đồng Đức Bốn đó sao?



    Bao nhiêu là thứ bùa mê

    Cũng không bằng được nhà quê của mình



    Đất nước gian lao và vất vả nhưng vẫn rất cần có các anh hùng và các nhà văn. Đặc biệt những nhà văn có tài như Nguyễn Huy Thiệp chắc chắn sẽ cần hơn. Anh đã như những ngọn gió thổi vào cho nền văn học Việt Nam một sinh khí mới thì tôi cũng mong anh hãy làm mới luồng sinh khí ấy với tấm lòng yêu thương con người bằng trái tim thi sĩ. Công việc “tử tế” này nếu ta thực tài, thực đức đến khi nằm xuống có khi vẫn chỉ là niềm mơ ước.



    Cuộc đời này còn nhiều điều tốt đẹp lắm. Ta phải sống đẹp hơn để giành những giấc mơ đẹp cho mình, vừa là để phúc đức cho con cháu mai sau.



    Văn chương là thứ của trời cho. Nếu không tu nhân tích đức thì trời cũng lấy đi lúc nào không biết. Trời chỉ mượn ta để truyền đạt lại những ý tưởng và sự tiên đoán để con người hướng thiện, không ai có quyền cưỡng đoạt lại ý trời.


    Văn chương là trò chơi tinh anh của thượng đế nên nó rất cần sự sang trọng và minh triết.


    Ngọn lửa nhỏ không nên để cháy nhà!


    Văn Nghệ Trẻ, số 15 (385), ngày 11/4/2004
    Nguồn:eVăn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    Sự kiện Hoa thủy tiên [7] - bài viết của Nam Hà
    -

    eVăn: Để giúp bạn đọc có thông tin về sự kiện “Hoa thủy tiên”, eVăn tiếp tục đưa các bài viết và ý kiến in trên các báo, tạp chí khác. Chúng tôi xin lưu ý: Việc đưa bài này chỉ có mục đích thông tin chứ không phản ánh quan điểm của eVăn.



    Dưới đây là bài mới nhất của nhà văn Nam Hà trên báo Văn Nghệ Trẻ.


    Nguyễn Huy Thiệp tự bộc lộ mình
    - Nam Hà -

    Cổ nhân nói Văn tức là người. Đem câu đó đối chiếu với Nguyễn Huy Thiệp thấy đúng quá. Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện trên văn đàn bằng một loạt truyện ngắn gây dư luận, có người khen, thậm chí cho đó là một hiện tượng văn học, nhưng cũng có không ít người chê (khen, chê là quyền tự do của mỗi người). Đọc truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, những người chưa hiểu, chưa biết về Nguyễn Huy Thiệp đều có chung nhận xét rằng, cái anh Thiệp này chắc có gì bất mãn với đời, với cuộc sống, nên văn anh ta đầy dẫy sự chì chiết, nanh nọc, nhầy nhụa, tư tưởng của truyện thì hằn học, đập phá, sổ toẹt. Truyện anh ta viết thiên về cái xấu, cái ác, anh ta khoái trá khi viết nó - cái ác.

    Nguyễn Du viết Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Nguyễn Huy Thiệp dường như không có tâm và anh ta là một người ác (hồn vía những chuyện anh ta đã viết và bài tiểu luận mới nhất đăng trên tạp chí Ngày nay đã nói lên tất cả).

    Nguyễn Huy Thiệp viết: "Nhìn vào danh sách hơn 1000 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam người ta đều thấy đa số đều là những người già nua không còn khả năng sáng tạo và hầu hết đều vô học, tự phát mà thành danh...". Về số lượng hội viên, Nguyễn Huy Thiệp viết vậy là sai.

    Hạ bút viết cái câu thiếu sự thật, đầy kiêu căng, ngạo mạn, võ đoán trên đây, Nguyễn Huy Thiệp đã tự phơi bày con người mình về mọi phương diện trước độc giả, trước công luận. Nguyễn Huy Thiệp võ đoán hầu hết hội viên Hội Nhà văn là vô học, nhưng rõ ràng anh ta mới là người vô học nhất. Những người có học, có văn hóa, có tâm không bao giờ mắng nhiếc người khác là vô học, bởi cái sự học là vô cùng, vô tận. Hẳn Nguyễn Huy Thiệp biết rằng để trở thành nhà văn phải có ba yêu cầu cơ bản, một là phải có năng khiếu, phải yêu thích văn học, hai là phải có vốn văn hóa, đặc biệt là vốn sống, vốn sống tự đọc, đặc biệt là vốn sống của cá nhân tự trải nghiệm trong đời sống của mình và trong đời sống của xã hội, của dân tộc, và ba là lao động nghiệt ngã trong quá trình sáng tác. Nguyễn Huy Thiệp cũng biết rằng mỗi năm các trường đại học có thể đào tạo hàng ngàn kỹ sư, giáo viên, bác sĩ, nhưng không thể cùng một lúc đào tạo ra hàng ngàn nhà văn. Thực tế này không chỉ ở nước ta mới bắt đầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mà ở hầu hết các nước công nghiệp phát triển, các nước đã đi vào giai đoạn hậu hiện đại, đi vào nền kinh tế tri thức, cũng không nước nào đào tạo nhà văn kiểu như Nguyễn Huy Thiệp đề xuất.

    Trường đại học của Mácxim - Goócki là cuộc sống và đời sống, trường đại học của Nguyên Hồng cũng là đời sống và cuộc sống. Chính cuộc sống tạo ra nhà văn, và rồi nhà văn tái tạo cuộc sống bằng tác phẩm của mình. Trong tổng số hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, có 300 hội viên đã và đang mặc áo lính, 300 hội viên này đã nhập ngũ và trở thành người lính cầm súng, cầm bút chiến đấu qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Chính cuộc chiến đấu hào hùng của dân tộc đã tạo điều kiện cho họ trở thành nhà văn. Việc trong gần nửa thế kỷ chiến đấu, quân đội nhân dân Việt Nam đã xây dựng, phát triển, định hình được trên 300 nhà văn hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, là một hiện tượng có một không hai trên thế giới. Họ đều có văn hóa, đặc biệt có vốn sống phong phú, họ đã sáng tạo được nhiều tác phẩm văn học có giá trị. Vậy họ cũng là loại vô học như Nguyễn Huy Thiệp khẳng định sao?

    Chắc chắn Nguyễn Huy Thiệp thuộc thế hệ lớn lên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đó là cuộc chiến tranh giải phóng có quy mô và tầm vóc lớn nhất nửa cuối thế kỷ XX, chỉ đứng sau thế chiến thứ hai. Nguyễn Huy Thiệp đã làm gì? Đã đóng góp được gì vào cuộc chiến tranh giải phóng thần thánh của dân tộc? Mà anh ta tự cho mình cái quyền lên giọng phán xét, phỉ báng, nhục mạ lớp lớp nhà văn đã trải qua cách mạng và hai cuộc chiến tranh giải phóng?

    Nền văn học Việt Nam mang tính kế thừa, kế tục và phát triển. Mỗi thế hệ nhà văn sống và chiến đấu ở thời kỳ lịch sử nào đều có trách nhiệm và nghĩa vụ với thời kỳ lịch sử ấy. Nền văn học Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và máu.

    Coi hầu hết hội viên Hội Nhà văn Việt Nam là vô học, tự phát mà thành danh, tức là phủ nhận những thành quả sáng tạo của họ, cũng có nghĩa là phủ nhận và sổ toẹt cả một nền văn học. Nguyễn Huy Thiệp vĩ cuồng, ngộ nhận mình mới là nhà văn đích thực, là người thông thái, nhưng đọc bài viết của anh ta trên tạp chí Ngày nay, người đọc thấy anh ta thật thảm hại.

    Người đọc và công luận không hiểu vì sao Nguyễn Huy Thiệp căm ghét các nhà thơ Việt Nam đến thế. Nguyễn Huy Thiệp có quyền thích thơ hoặc không thích, thích người này hoặc không thích người kia, nhưng không được quyền mắng nhiếc các nhà thơ là "nhăng nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó, nhà thơ đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa." Nguyễn Huy Thiệp còn hết lời khen bốn "câu lục bát" bẩn thỉu, trích dẫn và đưa cả vào tiểu thuyết của mình. Qua đó, người ta biết quan điểm thẩm mỹ của Nguyễn Huy Thiệp như thế nào. Nguyễn Huy Thiệp còn mắng những nhà văn cao tuổi là đám giặc già, rõ ràng sự trắng trợn, sự bất chấp luân thường đạo lý,. bất chấp luật pháp ở Nguyễn Huy Thiệp không còn giới hạn. Tất cả những loại mũ anh ta chụp lên đầu các nhà văn Việt Nam, thì chính những loại mũ đó anh ta đã tự chụp lên đầu mình mà anh ta không biết. Buồn và thảm thay cho anh ta!

    Nguyễn Huy Thiệp phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước công luận, trước Hội Nhà văn và cả trước pháp luật, bởi anh ta đã xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm không chỉ một người nào mà xúc phạm toàn thể hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

    Văn Nghệ Trẻ, số 15 (385), ngày 11/4/2004
    Nguồn: eVăn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    Sự kiện Hoa thủy tiên [8] - phần 2 bài viết của Trần Mạnh Hảo
    -

    eVăn: Để giúp bạn đọc có thông tin về sự kiện “Hoa thủy tiên”, eVăn tiếp tục đưa các bài viết và ý kiến đã đăng trên các báo, tạp chí khác. Chúng tôi xin lưu ý: Việc đưa bài này chỉ có mục đích thông tin chứ không phản ánh quan điểm của eVăn.


    Dưới đây là phần 2 bài viết của ông Trần Mạnh Hảo trên báo Văn Nghệ.



    Có thật đa số các nhà văn Việt Nam đều vô học, các nhà thơ đều lưu manh - hay là “hội chứng chửi có thưởng” thời nay?

    - Trần Mạnh Hảo -

    (tiếp theo và hết)

    3) Ai viết "văn điêu, văn ma, văn phò nịnh"?


    Trên cột 2, trang 17, báo Ngày Nay số 6. 2004 sau khi xử lý các đồng nghiệp, Nguyễn Huy Thiệp bèn đi giảng dạy luân lý viết văn cho mọi người như sau: "... Thế nào là trung thực? Trung thực với mình, với người với xã hội, với chữ nghĩa. Văn điếu văn ma, phò nịnh, "nên thơ" là thứ rất dễ ngộ nhận...".

    Ở chỗ này, chúng tôi xin vỗ tay tán thưởng sự dũng cảm lên án kẻ "viết văn điêu, văn ma, phò nịnh" của Nguyễn Huy Thiệp. Nhưng nếu anh Thiệp dũng cảm thêm một milimét nữa mà lên án nốt vài ba kẻ đang căng tai ra nghe ngóng, đánh tiếng hắng giọng... đặng viết văn có "bà ngoại", "ông ngoại" thưởng (mà anh Thiệp gọi là "nhà văn thức thời"), thì chúng tôi đây còn bái phục anh bội phần! Giờ cho phép chúng tôi khảo sát tí ti về ngón nghề "văn điêu" ngay trong bài báo vừa dẫn của anh Thiệp. Anh Thiệp luận về tính trung thực thì phải nói không chê vào đâu được, nhưng khi cần phải biểu diễn sự trung thực thì xin lỗi, anh Thiệp lại "điêu" đến mức cũng không chê vào đâu được. Trong bài báo của anh, chúng tôi tìm thấy có rất nhiều cái "điêu" như sau:

    * ĐIÊU 1: Hội Nhà Văn Việt Nam (HNVVN) tính đến hôm nay mới có 798 hội viên, nhưng anh Thiệp đã nói thêm lên thành hơn 1000 hội viên.
    * ĐIÊU 2: Số hội viên làm thơ trong Hội Nhà Văn Việt Nam tính đến hôm nay giỏi lắm cũng không thế vượt quá tỷ lệ 50%; thế mà anh Thiệp lại nói dư ra thành 80%.
    ĐIÊU 3: Anh Thiệp từng bảo các hội viên cao tuổi là giặc già, thì dứt khoát những người cỡ trên dưới 55 tuổi như anh chưa thể được gọi là già; vì nếu xếp anh Thiệp vào loại già thì hoá ra. chính anh lại khó xử với mình lắm ru! Do đó, số hội viên nhà văn cao tuổi trong Hội Nhà Văn Việt Nam nếu cứ kể từ 60 trở lên, chắc chắn không thể vượt qua tỷ lệ một phần ba. Thế mà anh Thiệp lại nói tăng lên rằng: "Nhìn vào danh sách hơn 1000 hội viên HNVVN, người ta thấy đa số chỉ là những người già nua không có khả năng sáng tạo..."

    * ĐIÊU 4: Ai đã từng tham dự Hội nghị Lý luận phê bình văn học Tam Đảo trung tuần tháng 8. 2003 vừa qua, cũng như từng đọc hàng chục tham luận đăng trên báo Văn Nghệ, sẽ thấy kết luận này của Nguyễn Huy Thiệp là hoàn toàn sai sự thật: "... trong Hội nghị Lý luận phê bình văn học ở Tam Đảo năm 2003, chẳng thấy có một tham luận nào dành cho văn học thực sự..."
    * ĐIÊU 5: Nguyễn Huy Thiệp có một lối tranh biện "vui" không chịu được. Đó là cách anh "tiếp thu" phê bình và "trao đổi" lại với Bùi Việt Thắng khá trịch thượng, hợm hĩnh. Chủ trương đối thoại của anh Thiệp rất hay: "Muốn cho xã hội tiên lên, phải trao đổi, phải dân chủ"?...Từ chối đối thoại nghĩa là anh tự làm cho mình khó thở, tự giam mình." Chúng tôi xin chứng minh khả năng "khó thở, tự giam mình" của anh Thiệp thật vô bờ bến. Bùi Việt Thắng đã phê bình văn chương anh Thiệp trên báo Văn Hoá. Anh Thiệp ức lắm, bèn không đếm xỉa gì đến vấn đề cốt lõi của tranh biện là đúng sai, là nói có sách, mách có chứng, lại dùng một câu chuyện về cái bệ đứng đái của đàn ông mà hạ bệ Bùi Việt Thắng, nhằm xỉ nhục anh Thắng là đứng thấp hơn "cái bục đái thẩm mỹ" của mình:

    "Tôi rất buồn cười câu chuyện Nguyễn Việt Hà kể cho tôi nghe. Ở công sở, có một tay trưởng phòng xây dựng cho xây toilet. Anh ta kích cỡ hơn người (cao tới 1m 78) nên chỗ đi tiểu ở cơ quan anh ta luôn cao hơn những nơi khác tới 15 phân. Vì vậy gần như mỗi người đi tiểu ờ đó đều bị nước tiểu bắn vào quần áo! Sự độc tài của một tay công chức cửa quyền thật lợi hại. Đặc quyền "lấy của mình ra đo" mà không quan tâm đến những số đo khác trong thiên hạ là như thế đấy. Gần đây, đọc bài viết của Bùi Việt Thắng về tôi in trên "Văn hoá Xuân 2004" (được đặt dưới tiêu đề Trên đường đổi mới) không hiểu sao tôi cứ hình dung Bùi Việt Thắng giông hệt như tay trưởng phòng công chức xây dựng cửa quyền nọ. Anh lấy số đo của mình để đặt tiêu chí để đo thiên hạ. Sự độc tài công chức và cách "cả nghĩ" của Bùi Việt Thắng khiến anh bất bình với cuốn tiểu thuyết của tôi. Bi hài kịch là "số đo" của anh có phần ngắn hơn CÁI BỆ THẨM MỸ của bạn đọc đương thời...".


    Qua đoạn trích trên, ai ai cũng thấy lối "trao đổi", "đối thoại" của Nguyễn Huy Thiệp là không được tử tế cho lắm. Chúng tôi còn có thể lấy thêm hàng chục dẫn chứng để chứng minh lối viết "văn điêu" của Nguyễn Huy Thiệp trong bài là rất mả, rất tài. Nhưng vì khuôn khổ của bài báo có hạn, chúng tôi đành phải chuyển qua tiểu mục khác.


    4) Biết thì thưa thốt... hay trò leo dây của món "chân lý nhầm lẫn"?


    Nguyễn Huy Thiệp từng tuyên bố rằng phàm là nhà văn chân chính, phải phấn đấu để trở thành một nhà văn hoá, một nhà nghiên cứu chính cống. Trong những phần trên, chúng tôi đã trưng ra bằng chứng để bạn đọc thấy Nguyễn Huy Thiệp đã biết cách trở thành một nhà văn hoá ra làm sao! Nay, chúng tôi muốn khảo sát thêm về nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Thiệp. Đã nói đến "nhà nghiên cứu" là phải nói đến tính chuyên nghiệp, tính khoa học, khách quan, trung thực, uyên thâm, kiến văn dồi dào, trọng thị lẽ phải đặng tìm chân lý.

    Qua bài báo đã dẫn, chúng tôi thấy Nguyễn Huy Thiệp không hề có phẩm tiết nào của một nhà nghiên cứu đã đành, ngược lại, anh còn có nhiều lỗ hổng về kiến thức phổ quát. Xin hãy nghe Nguyễn Huy Thiệp định nghĩa về chân lý: "Bản chất của cuộc sống, chân lý rốt ráo trong cuộc sống chính là sự nhầm lẫn!". Xin xem qua nội hàm của khái niệm "Chân lý" (vérité) qua trang 325 của cuốn từ điển đã dẫn: "Chân lý: Sự phản ánh hiện thực vào nhận thức của con người, đúng như chúng tồn tại trong thực tế khách quan". Chúa ơi, với định nghĩa "Chân lý là sự nhầm lẫn": thật may mắn cho chúng ta, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp không có cơ hội để trở thành một tổng công trình sư chế tạo máy bay. Bởi chân lý của nhà sản xuất máy bay là: nhầm lẫn chính là chết, là hàng nghìn chiếc máy bay sẽ rớt như sung, kéo theo hàng triệu người tử nạn. Với định nghĩa động trời: CHÂN LÝ LÀ SỰ NHẦM LẪN trên của anh Thiệp, thì chân lý ơi, xin chào mi, xin mi đừng rơi vào tay các nhà văn như anh Thiệp; vì nhất định họ sẽ làm hại loài người hơn cả cái hại của việc nhầm lẫn khi chế tạo may bay. Bởi vì khi nhà văn mang cái CHÂN LÝ NHẦM LẪN để hành nghề mà nhầm lẫn thiện ác, đúng sai, hay dở, nhầm lẫn quỷ sứ và thiên thần, nhầm lẫn thú và người, nhầm lẫn phá hoại và dựng xây, nhầm lẫn hoà bình và chiến tranh, nhầm lẫn cái chết và sự sống, nhầm lẫn văn chương xu-hào, viết văn có "ngoại" thưởng với tự do sáng tác, thì than ôi, tai hoạ còn có cơ lớn hơn rất nhiều thảm hoạ bom hạt nhân; vì với những loại "tính văn" ấy, hàng triệu tâm hồn trẻ thơ rồi sẽ bị ô nhiễm, bị đầu độc. băng hoại. Mà việc gieo cái chết tâm hồn còn nguy hiểm hơn việc gieo cái chết thể xác.

    "Nhà nghiên cứu" Nguyễn Huy Thiệp rất nhiều khi muốn lập thuyết nhưng lại không hiểu vấn đề mình đang nói, bèn lấy ngộ nhận làm sở trường, còn hiểu biết lại là sở đoản của anh. Xin quý vị cùng đọc một kết luận khá lạ lùng của Nguyễn Huy Thiệp: "Khi ta đang sống (đương đại) nghĩa là ta đang tiếp cận cái chết (sự suy đồi ghê rợn nhất). Nghệ thuật đương đại, xét cho cùng chính là nghệ thuật suy đồi". Trong định đề này, anh Thiệp đã hiểu sai nội hàm thuật ngữ "suy đồi" (décadence). "Suy đồi" là một từ Hán Việt chỉ sự hư hỏng, đổ nát, cũng có nghĩa suy tàn, đồi bại ví như nói vua Lê Ngọa Triều dâm ô bệnh hoạn, bỏ bễ triều chính, đưa nhà Tiền Lê tới chỗ suy đồi. "Suy đồi" là một tính từ dành để chỉ hành vi, tính chất của một con người hay một xã hội, một triều đại trong quá trình suy vong. Cái chết tự nhiên của con người không phải là sự suy đồi. Không ai lại dùng từ "suy đồi" để chỉ những biến đổi tàn phai của tự nhiên. Ví dụ, thấy mùa thu tàn bèn bảo "mùa thu suy đồi", thấy dòng sông cạn hết nước lại bảo "dòng sông suy đồi", thì thiên hạ sẽ cười cho đấy! Khi bảo: "Cái chết là sự suy đồi ghê rợn nhất", thì có khác gì anh Thiệp nói cây ngô đồng rụng lá cũng là suy đồi, tuyết tan là tuyết suy đồi, hoa rụng là hoa suy đồi? Sinh diệt là biện chứng của Tạo Hoá mà con người không thể can thiệp. Quy luật sống chết là một chân lý khách quan của thế giới tự nhiên, tồn tại ngoài ý thức con người, áp dụng cho vạn vật, không cứ gì người.

    Khái niệm "nghệ thuật đương đại, xét cho cùng chính là nghệ thuật suy đồi" anh Thiệp đưa ra có thể chỉ đúng khi áp dụng vào một số nghệ thuật châu Âu sau thế chiến thứ hai; bởi những tàn dư của nghệ thuật tượng trưng, đa đa, siêu thực, tàn dư của các trường phái dã thú, lập thể, tiền phong, đã là tiền đề tạo ra nghệ thuật hậu hiện đại, tiểu thuyết mới, phê bình mới, hiện thực mới, hậu - Vacne, làn sóng mới, ấn tượng và hậu ấn tượng, cũng như phái "thế hệ bị đánh mất"... đều được gọi là nghệ thuật suy đồi. Nhưng khi vấn đề trên được khái quát thành thuộc tính để đồng nghĩa đương đại với suy đồi, nhất là để dùng khái niệm đặc thù châu Âu này cho các nước phương Đông như Việt Nam ta thì hoàn toàn sai.

    Trên cột 1, trang 16, Ngày Nay số 5. 2004, Nguyễn Huy Thiệp viết:

    "Giở lại lịch sử ngày xưa, thấy tại sao trong thời Thịnh Đường ờ Trung Hoa nảy nòi ra Lý Bạch được khen là thơ tiên vì phong độ, cốt cách, chí khí cao ngất. Ở thời ấy, dân chúng ấm no, sung túc. Lý Thế Dân là ông vua cao minh giữ được ổn định chính trị. Dân như thế vua như thế, thời thế như thế thì sẽ có một thứ vănhọc tuyệt vời như thế...".


    Anh Thiệp nói Lý Thế Dân cao minh, giữ được ổn định chính trị trong 23 năm thì đúng; tuy ông vua này nối nghiệp bằng sự tàn ác giết anh ruột, em ruột mình, bức cha cướp ngôi. Anh Thiệp bảo Lý Bạch sống trong thời Đường Thái Tông Lý Thế Dân là sai. Lý Thế Dân chết 52 năm sau Lý Bạch mới ra đời; khi ấy Võ Tắc Thiên cướp ngôi nhà Đường xưng là nhà Chu đã được 11 năm. Lý Bạch trưởng thành trong thời Đường Huyền Tông. Ông vua này cuối đời chìm đắm trong tửu sắc, lấy con dâu là Dương Quý Phi, bỏ bê chính sự thành ra loạn lạc, dân chúng khổ trăm bề. Từ năm 755 loạn An Lộc Sơn đến khi nhà Đường mất, suốt 152 năm dân tình bị đầy ải trong địa ngục chiến tranh, nghèo đói, khiến người chết đầy đường như rạ, là thời kỳ thảm khốc bi đát nhất của lịch sử Trung Hoa. Hãy đọc lại thơ Đỗ Phủ (712-770) người đồng thời với Lý Bạch, để thấy rằng Lý Bạch sinh ra và lớn lên mang tiếng là thời Thịnh Đường, nhưng thực ra nhà Đường đã suy vi, đã mạt vận, đã phản dân. Không phải vị thi tiên này được sống trong một thời thế tốt đẹp tuyệt vời mới có thơ tuyệt vời như sự lầm tưởng của Nguyễn Huy Thiệp.

    Nguyễn Huy Thiệp thường đưa ra những nhận định thiếu cơ sở khoa học. Ví dụ khi anh Thiệp khái quát: "Một xã hội không có những tác phẩm văn học hay, không có những tác phẩm văn học giá trị nghĩa là nhân tính ở đấy đang bị xáo mòn, đang bị mất dần đi..." là chưa thuyết phục. Trong lịch sử văn học thế giới và Việt Nam có rất ít thời kỳ mà mối quan hệ thịnh suy giữa thời đại và văn nghệ là tỷ lệ thuận, kiểu triều chính tốt sẽ sinh ra văn nghệ hay, và khi chưa có văn chương hay thì thời thế chắc phải thiếu nhân tính. Việc lịch sử văn học nước nhà có hai thời kỳ hoàng kim: cuối thế kỷ thứ XVIII đầu thế kỷ thứ XIX và thời kỳ văn học hiện đại của truyện ngắn, tiểu thuyết nở rộ bên cạnh đỉnh cao Thơ Mới 1932-1 945, đều xuất hiện trong những thời mạt của chính sự cả, chứng tỏ là kết luận của anh Thiệp chưa đủ cơ sở khoa học. Có thể lấy sự xuất hiện của Khuất Nguyên, Đào Tiềm, Lục Du, Kim Thánh Thán... và thời hoàng kim của văn học Nga cuối thế kỷ thứ XVIII đầu thế kỷ thứ XIX làm minh chứng thêm.

    Cho hay, cái nhiệt huyết ngùn ngụt của anh bội thực sách đôi khi cũng thật là đáng thương; chỉ đáng trách khi anh chưa tiêu hoá nổi sách đã mau mồm mau miệng triết lý, lập thuyết, muốn làm thầy thiên hạ, muốn cầm cái ba-toong của cụ tiên chỉ làng văn mà dứ dứ cả trời già như kiểu trên đây, thực tình còn nguy hiểm hơn việc cậu bé chơi con dao hai lưỡi. Nguyễn Huy Thiệp trong bài viết đã dẫn, còn nhiều nhận định rẻ rúng, khinh khi, miệt thị đồng nghiệp trong nước:

    "Văn học Việt Nam gần đây mất đi khả năng tưởng tượng, lãng mạn, mơ mộng và nhiệt huyết sống. Nó trở nên thực dụng, ê chề, lọc lõi, oái oăm, đôi khi đểu cáng?... Sinh hoạt văn học (nói rộng ra là cả sinh hoạt tính thần) ở ta - ít nhất là ở Thủ đô - theo tôi hiện nay là thảm hại, chẳng có gì đáng để người ta quan tâm, say sưa"?"...Có nhiều tác phẩm, người ta vẫn phải đọc, vẫn phải chấp nhận mặc dù ai nấy đều cũng có cảm giác là nó thối tha..."


    Xin anh Thiệp hiểu cho rằng mình viết văn thì cũng để cho thiên hạ viết với, mình tài, thì cũng để cho thiên hạ tài với. Thưa nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, với văn học, mọi chuyện phù phiếm, nham hiểm, vĩ cuồng, ngay cả hội chứng "chửi có thưởng" như hôm nay, rồi cũng sẽ qua. Nhưng ở đời, nhất là đối với nghiệp bút nghiên như chúng ta thì câu tục ngữ "trâu chết để da, người ta chết để tiếng" có lẽ là lưới trời đố ai thoát được? Xin anh Thiệp hãy thử ngó xuống mà nhìn một hình hài "bị" hoá "đá" đang đứng trên bục cao ở quảng trường giữa thủ đô Matxcơva: đại thi hào Puskin, dù đã thành tượng, vẫn cứ có vẻ run rẩy khép nép cúi xuống, cố gắng nhún mình, hạ mình xuống thấp hơn tí chút nữa, để tôn vinh đức khiêm nhường bao giờ cũng là khởi điểm của các thiên tài. Anh Thiệp dù có ghét Thơ đến mức xúc đất đổ đi chăng nữa, chắc cũng biết chuyện Nguyễn Du hơn 200 năm trước, từng rước linh hồn Tiếng Việt lên bệ thờ của hàng nghìn câu lục bát tuyệt vời do ông sáng tạo, rồi vội tìm chỗ thấp nhất, kín nhất, im re nhất để ngồi lẫn với thập loại chúng sinh, mà ca bài ca khiêm cung rằng: "Lời quê góp nhặt dông dài/ Mua vui cũng được một vài trống canh". Chúng tôi có thể cá với anh Thiệp rằng, chưa từng thấy thói huênh hoang, kiêu ngạo, độc ác, xỉa xói đồng nghiệp nào xưa nay lại có thể trở thành một tài năng văn học thật sự. Các nhà văn, nhà thơ, thậm chí cả nền thơ Việt Nam hôm nay vừa bị anh Thiệp gieo tiếng ác là vô học, là lưu manh, là đáng bị anh "dí" bút vào mặt đi nữa, cũng chẳng ai lấy đó làm điều mà đau buồn phát ốm. Các nhà văn ấy vốn có lòng vị tha, cốt cách nhã nhặn, dung nhan điềm đạm, lại hay khiếp hãi sự to tiếng, nên "tránh voi đâu xấu mặt nào" mà anh! Tôi rất ngạc nhiên, báo Ngày Nay là cơ quan của tổ chức UNESCO Việt Nam, một tổ chức mang danh khoa học, giáo dục, văn hoá lại cho in một bài báo phản khoa học, phản giáo dục, phản văn hoá như vậy.

    Thành phố Hồ Chí Minh, đêm 21/3/2004



    Văn Nghệ, số 14, 03/4/2004
    Nguồn: eVăn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    Sự kiện Hoa thủy tiên [9] - ý kiến của Nguyễn Hoàng Sơn
    -


    eVăn: Để giúp bạn đọc có thông tin về sự kiện “Hoa thủy tiên”, eVăn tiếp tục đưa các bài viết và ý kiến đã đăng trên các báo, tạp chí khác. Chúng tôi xin lưu ý: Việc đưa bài này chỉ có mục đích thông tin chứ không phản ánh quan điểm của eVăn.

    Dưới đây là bài phỏng vấn nhà phê bình Nguyễn Hoàng Sơn trên báo Văn Nghệ Trẻ.


    Nguyễn Hoàng Sơn: Thì ta nói thật với nhau


    PV: Thưa anh Nguyễn Hoàng Sơn, đáp ứng nhu cầu của độc giả, Văn Nghệ Trẻ xin phỏng vấn anh đôi điều, rất mong anh trả lời giúp, trả lời rất thật (dù sắp tới ngày "cá tháng Tư") về một hiện tượng đang được làng văn chú ý - bài viết của Nguyễn Huy Thiệp trên tạp chí Ngày Nay?

    Nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn (NHS): Ngày gì thì trong chuyện này ta cũng nên nói thật với nhau. Trong cuốn Tranh luận văn học (2000) của tôi, văn Nguyễn Huy Thiệp là văn mà tôi khen. Cuộc biến đổi văn học cuối thế kỷ trước, nếu nói không có Nguyễn Huy Thiệp là không có gì thì hơi quá. Nhưng, có thể nói: cuộc biến đổi văn học đó được khởi đầu bằng Nguyễn Minh Châu và kết thúc khá ngoạn mục với Nguyễn Huy Thiệp. Trong bài viết của mình vừa đăng trên báo Văn Nghệ số 13 (bài Có thật đa số các nhà văn Việt Nam đều vô học, các nhà thơ đều lưu manh- hay là "hội chứng chửi có thưởng" thời nay? -PV) anh Trần Mạnh Hảo có nói - hơi khe khắt, nhưng mà đúng - rằng: Nguyễn Huy Thiệp có khoảng "gần mười cái truyện ngắn xuất sắc". Một nhà văn có được một cái truyện hay đã là quý rồi, đằng này có được gần "mười cái"! Đánh giá thế là thỏa đáng chứ gì? Nguyễn Huy Thiệp, trong khoảng 10 năm, từ 1987 đến gần năm 2000 là một hiện tượng trong đời sống văn học nước ta. Nhưng mà, phải nói thẳng thế này: cuối những năm 90 thì văn Nguyễn Huy Thiệp đã đuối lắm rồi. Tôi còn nhớ có lần, vào dịp cuối năm, qua một biên tập viên, Nguyễn Huy Thiệp có gửi cho báo chúng tôi một cái truyện ngắn tên là Chuyện ông Móng. Cái truyện này có ấn tượng, độc đáo, đúng chất của Nguyễn Huy Thiệp nó tục tĩu. Trong chừng mực nào đó, cái sự tục tĩu ấy có thể chấp nhận được. Cũng như đời sống: đời sống nó có cả những phần tục tĩu của nó. Nguyễn Huy Thiệp ăn khách ở cái đoạn này. Vậy là Ban biên tập quyết định đăng số thường, số cuối năm, nhưng trả nhuận bút như số Tết. Mình nhớ năm ấy nhuận bút trả cho truyện ngắn này đâu như là một triệu đồng, bây giờ thế là cao. Sau đó Nguyễn Huy Thiệp liền chuyển cho chúng tôi ba bốn cái truyện ngắn nữa, trong đó có truyện Thổ cẩm, truyện Chú Hoạt tôi… Gửi liền ba bốn cái. Mình đọc, đọc hết và … gửi trả lại cho Nguyễn Huy Thiệp. Trả hết. Bởi vì: những cái truyện này không có gì mới mẻ. Mà lại …mô phỏng quá nhiều. Nguyễn Huy Thiệp có sự nhai lại của người khác! Có lẽ là vì lý do mưu sinh hoặc là vì lí do gì đó. Văn Nguyễn Huy Thiệp viết khéo, có nghề, lại mang đậm dấu ấn cá nhân… cho nên dù nó nhạt, nhưng vẫn đọc được - nếu như chỉ đọc một cái. Nhưng mà với người đọc khe khắt, thì cái truyện nhai lại thường gây phản cảm.

    Thưa anh, trước giờ vẫn có không ít những ý kiến tương tự về văn Nguyễn Huy Thiệp. Ý kiến chính thức và cả những câu chuyện bên lề… Trong trường hợp này, liệu có sự nhầm lẫn nào chăng?

    Truyện Thổ cẩm đã đăng trên một tờ báo ngành. Không phải vì truyện đã in báo rồi mà chúng tôi không in. Cái gốc của nó là: truyện ấy "cầm nhầm" tư tưởng, lấy hình tượng văn học của người ta. Chỉ có cái bối cảnh là Việt Nam thôi. Thổ cẩm của Nguyễn Huy Thiệp mô phỏng cái truyện Một đứa con của Mô-pát-xăng. Chuyện rằng; có một ông nghị, đi đến một vùng quê, thấy một cái thằng dị dạng, chuyên đi làm những công việc bẩn thỉu. Ông này mới nhớ lại, cái thời còn trẻ, đã cưỡng hiếp một cô hầu phòng ở đây. Cô ta đẻ ra cái thằng này… Thổ cẩm của Nguyễn Huy Thiệp na ná như thế. Truyện thứ hai là truyện Chú Hoạt tôi. Nguyễn Huy Thiệp rất tâm đắc với Mô-pát-xăng, có lẽ thế? Nguyến Huy Thiệp giấu, không nói cái gốc mà mình ảnh hưởng. Nhưng mà tôi nhận thấy trong cái vốn đọc không lấy gì làm nhiều lắm của Nguyễn Huy Thiệp thì có phần Mô-pát-xăng để lại dấu ấn. Tôi nói thế là vì tôi cũng đã đọc nhiều của ông. Tôi đọc và nhận ra ngay Chú Hoạt tôi của Nguyễn Huy Thiệp có… họ hàng với Chú Giuyn tôi của Mô-pát-xăng. Một gia đình trung lưu, có một ông chú phiêu bạt. Nhận được thư thì tưởng là ông ấy giầu có lắm. Đến khi đi chơi cùng với anh con rể tương lai thì gặp trên tàu thủy một lão rất nghèo hèn, làm cái nghề bán sò huyết. Chú Giuyn đấy! Truyện Chú Hoạt tôi của Nguyễn Huy Thiệp cũng đại khái như thế. Vì thế tôi mới gửi trả lại bản thảo, kèm theo một lời nhắn: "Em cứ nói thẳng với anh Thiệp rằng không phải ai cũng ít đọc như Nguyễn Huy Thiệp". Mấy cái truyện này sau rồi cũng thấy đăng ở báo này, báo khác. Nguyễn Huy Thiệp có cái tính vơ vào của người ta như thế. Không phải vì ghét anh mà tôi nói thế. Tôi quý cái tài năng của Nguyễn Huy Thiệp, nhưng cũng biết anh tài đến đâu.

    Vậy là, thưa anh, cái chuyện Nguyễn Huy Thiệp viết trên tạp chí Ngày Nay rằng nhà văn ta phần lớn "vô học", "thậm chí lưu manh" v.v… có khi là tự vấn, tự họa chân dung mình?!

    (cười) Tôi để ý trong cuộc sống có hiện tượng này: những anh "bất lực" ngồi đâu cũng nói chuyện sex; kẻ xuất thân hạ tiện thì suốt ngày khoe mình con ông cháu cha… Cái ngày Nguyễn Huy Thiệp mới nổi, đang rất nổi tiếng thì đã nói có người viết hẳn trên báo rằng Nguyễn Huy Thiệp là "cốt chuyện Tây, hành văn Tầu". Nói thế không phải là không có lý do đâu. "Chút thoáng Xuân Hương" của Nguyễn Huy Thiệp là biến tấu từ Nước mắt chim cu của Sucsin đấy chứ! Cái truyện Dòng máu của Nguyễn Huy Thiệp có những đoạn nguyên xi như trong Kim Bình Mai, ví dụ như cái đoạn xem tướng, Thiều Hoa đứng dậy đi đi lại lại… Dư luận rất tinh. Nhưng mà tôi vẫn nghĩ rằng: người ta có quyền vay mượn, và phải nhìn thấy cái phần ưu điểm là chính. Tôi là người ủng hộ những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Nhưng mà tôi cũng biết rằng dư luận có lý chứ không phải không. Rõ ràng là Nguyễn Huy Thiệp có vay mượn, mà không phải vay mượn đã khéo lắm đâu! Người đọc còn nhận ra ngay được, là không khéo. Vay mượn, thì cũng ối người vay mượn. Nhưng Nguyễn Huy Thiệp, cho đến hôm nay, điểm lại thì ra vay mượn hơi nhiều. Tôi cũng không coi chuyện này là cái nghề gì ghê gớm cả, sở dĩ nhắc lại để thấy rằng Nguyễn Huy Thiệp, trong bản chất, có cái tính vơ vào của thiên hạ như thế. Nhắc lại thể để nói tiếp cái chuyện hôm nay… Đó là ý thứ nhất.

    Thứ hai là…?

    Nguyễn Huy Thiệp là người thích phát ngôn, hay lộng ngôn. Tôi cũng kể lại một chuyện thật: một lần Nguyễn Huy Thiệp cùng đi với Nguyễn Hồng Hưng đến tòa soạn chúng tôi ở Hồ Xuân Hương. Nguyễn Huy Thiệp lúc đó rất đắc ý vì vừa in cái bài tên là Ai lấp đầy khoảng trống trong tâm hồn nhà văn. Tôi cũng biết rằng bài này được một số nhà văn trẻ hoặc không còn trẻ nữa nắc nỏm. Thì Thiệp đương mốt mà lại. Hôm ấy Nguyễn Huy Thiệp có nhắc đến cái bài ấy. Tôi lắc đầu bảo: "Anh cứ viết truyện đi. Truyện anh viết tôi thấy hay lắm. Trong đó có cái truyện Không có vua, theo tôi có thể là kiệt tác. Nhưng mà… anh không nên viết lý sự. Tôi nói với Nguyễn Huy Thiệp như vậy. Nguyễn Huy Thiệp không nên viết lý, bởi vì lý sự của Nguyễn Huy Thiệp nó đầy rẫy sự chủ quan, đầy rẫy vay mượn, đầy rẫy những lỗ hổng kiến thức. Những gì Nguyễn Huy Thiệp viết cho thấy anh đọc không nhiều, mặc dù có "ăn lãi" ở cái sự đọc của mình, như trên tôi đã nói. Cho nên khi chuyển sang lập ngôn về các vấn đề như chức năng, vai trò của nhà văn thì ý tưởng của Nguyễn Huy Thiệp nghèo nàn vô cùng. Vừa nghèo nàn, vừa cực đoan. Nghe chối lắm. Không thuyết phục được người ta. Nguyễn Huy Thiệp nói người khác "vô học", nhưng thực ra vốn văn hóa của anh lại rất vừa phải. Đọc ít, hiểu biết ít, mà thích nói, thích lập ngôn, lập thuyết, thích chăn dắt đệ tử là Nguyễn Huy Thiệp. Cái bài Trò chuyện với hoa thủy tiên… in trên tạp chí Ngày Nay vừa rồi nó thể hiện đúng cái chất Nguyễn Huy Thiệp: kiến văn hạn hẹp, suy tưởng chẳng lấy gì làm sâu sắc nhưng mà thích nói ngược, ngôn ngữ buông tuồng. Trần Đăng Khoa khái quát rất đúng: Nguyễn Huy Thiệp chỉ có mỗi võ nói ngược để gây sự chú ý, ở trong nước đã vậy mà ra nước ngoài cũng thế. Bài viết ấy làm cho nhiều người đọc bị sốc.

    Trong truyền thống văn hóa của dân tộc ta (mà không chỉ riêng dân tộc ta), nhà văn luôn có một vị trí xứng đáng, luôn được quý trọng, được tôn vinh. Nhiều độc giả đã rất bất ngờ về những điều Nguyễn Huy Thiệp viết trên Ngày Nay về nhà văn, làng văn ta…

    Trong tiếng Việt, có danh từ "làng văn". Thời Nho học còn thịnh, các cụ thường nhắc đến "Nho lâm" - làng nho với hàm ý kính trọng, kiêu hãnh. Trong một làng, dù là làng văn, nó cũng có những luật lệ của nó, có "hương ước" của nó. Không phải bạ ai cũng mang ra mà chửi được. Trong làng, làng nào cũng thế, cũng có đôi ba anh Chí Phèo, có vài thằng cha vua sừng vua sẹo. Nhưng mà những anh chàng này vốn không bao giờ tồn tại được một cách ngang nhiên. Khắc có trương tuần, khắc có lý trưởng hoặc một ai đó vả cho mấy cái. Làng văn của chúng ta có chưa đến 1.000 người, dân số đúng là cỡ một cái làng nhỏ thật. Có làng văn, còn có làng báo nữa. Làng văn, làng báo có luật lệ của nó. Có cái luật lệ bằng văn bản, như Luật Báo chí, Luật xuất bản, nhưng mà còn những luật lệ "bất thành văn", những quy ước ngầm hiểu với nhau. Những quy ước không thành văn nhiều khi còn quan trọng hơn luật thành văn. Những quy ước thiêng liêng ấy, chỉ có những anh vô sư vô sách, ba lăng nhăng, vô xỉ đến mức độ nào mới dám bước qua. Việc làm ấy khác nào việc anh xúc phạm đến bàn thờ tổ tiên, anh "bậy" ra cửa đình. Những chuyện ấy là không được! Trong làng văn ta, Nguyễn Huy Thiệp là một người bước qua cửa như thế? Anh Trần Mạnh Hảo viết thế là đúng. Và như thế mới thật đáng buồn.

    Thưa anh, nhiều bạn đọc trẻ cũng đặt vấn đề rằng vì sao Nguyễn Huy Thiệp lại có thể viết như vậy về nghề văn, làng văn?

    Trong phần đầu bài viết đã đăng trên báo Văn Nghệ, anh Trần Mạnh Hảo đã đặt vấn đề động cơ của Nguyễn Huy Thiệp khi viết Trò chuyện với hoa thủy tiên... "Chửi có thưởng" - anh Hảo lý giải như vậy và cho rằng Nguyễn Huy Thiệp viết thế là để trục lợi. Chắc Trần Mạnh Hảo đã kết nối những "cơn chửi" của Nguyễn Huy Thiệp và "phần thưởng" anh ta nhận được để đi đến nhận định ấy? Nhưng mà, tôi thấy cần phải nói thêm thế này: chửi bới cũng phải có quá trình. Người tử tế, luôn luôn tử tế thì không thể bỗng dưng lại trở chứng… nói bậy một cách ngoa ngoắt. Như trên tôi đã nói về cái tính cách, về kiến văn của Nguyễn Huy Thiệp … Động cơ hiện thời thì nó có lắm chuyện lắm. Động cơ đầu tiên của Nguyễn Huy Thiệp, như tôi nhận thấy, là chống lại sự quên lãng. Nguyễn Huy Thiệp là người rất sợ sự quên lãng - qua chuyện này có thể khẳng định như thế. Bởi vì thế này này: năm, bảy năm nay Nguyễn Huy Thiệp không viết được cái gì có thể để lại ấn tượng cho bạn đọc. Nguyễn Huy Thiệp đã bị cuộc sống vượt qua. Phải khẳng định như thế. Tôi nói thế không phải là chê Nguyễn Huy Thiệp, bởi vì tài anh thế thì anh chỉ được đến thế thôi. Được đến thế là nhiều rồi, là lãi rồi. Nguyễn Huy Thiệp bị đè nặng bởi mặc cảm cuộc sống văn đàn đã vượt qua mình. Sáng tác thì khó, đổi mới được mình còn khó hơn nữa. Con người ta, vào những trường hợp như thế thì nên bình tĩnh chịu đựng, tích lũy, để đến một giai đoạn nào đó thì có thể biến chuyển được. Nguyễn Huy Thiệp là người không bình tĩnh lắm và có máu làm ăn. Anh ta chẳng đã nhảy sang thương trường, bán hàng cơm đó sao. (cười). Ngày xưa Phạm Xuân Nguyên có làm cái quyển gọi là Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp. Gặp Phạm Xuân Nguyên, tôi có nói đùa: "Việc gì anh phải đi tìm. Đang ngồi bên Gia Lâm bán hàng cơm đấy"! (cười). Lại nữa, Nguyễn Huy Thiệp là người rất khao khát danh tiếng và rất sợ sự quên lãng. Cái đó cũng chính đáng thôi. Chống lại sự quên lãng thì cần xuất bản tiếp những tác phẩm gây dư luận. Nhưng mà hình như cái cuộc buôn bán Tuổi hai mươi yêu dấu của Nguyễn Huy Thiệp không thành công cho lắm. Không thành công lắm, có khi cũng bởi tiếp thị ghê quá. Nguyễn Huy Thiệp tuổi thì đã già, trên năm mươi thì cũng có thể gọi là già rồi, nhưng mà phương pháp thì lại trẻ. Tiếp thị tên tuổi ghê quá. Đấy mới là chuyện người bán.

    Còn người mua, thưa anh?

    Cái điều này cũng phải nói rõ: tờ tạp chí Ngày Nay mới ra. Những tờ báo sinh sau, đẻ muộn thì thường là phải tìm mọi cách để giành giật thị phần. Động cơ của họ là như vậy. Trong kinh tế thị trường thì điều đó cũng chính đáng thôi. Nhưng mà trong trường hợp này lại giành giật thị trường bằng cách in bài chửi đổng. Chửi đổng thì hẳn là gây sự chú ý rồi. Thuận mua, vừa bán, nên có Trò chuyện với hoa thủy tiên… của Nguyễn Huy Thiệp do Ngày Nay in thôi. Làm thế, vừa có tiền, lại vừa gây được dư luận.

    Đó là về động cơ gần, động cơ xa… Vậy còn ý kiến đánh giá của anh về hiện tượng này?

    Tôi cho rằng hiện tượng này là không lành mạnh. Chửi bới để có danh là hạ sách. Trong làng văn, nếu như so với các bậc tiền bối thì hành động đó thật đáng xấu hổ. Các nhà văn lớp trước, cũng có người tính cách thế này, thế khác… nhưng mà với văn chương, với đồng nghiệp thì các cụ rất trân trọng, cẩn trọng. Ví như cụ Tô Hoài, quá bát tuần rồi mà vẫn viết hết sách nọ đến sách kia, tồn tại bằng tác phẩm. Hay như cụ Nguyễn Huy Tưởng, tài năng thì tài năng rồi, xuất hiện với những Đêm hội Long Trì, Vũ Như Tô trong những năm còn rất trẻ… Lại tham gia cách mạng từ thời còn bóng tối… Mà nhiều khi còn chưa được hiểu đúng, chưa được đánh giá đúng. Nhưng cho đến lúc mất (1960) cụ ấy có nổi đóa lên hoặc chửi bới ai đâu? Người ta có nhiều lý do để mà sống bất cần đời. Nhưng tôi thấy các cụ không ứng xử như thế. Làng văn ta cũng còn nhiều chuyện tương tự, nhưng tôi không thấy ai ngồi xổm trên dư luận, mua danh một cách vội vàng, một cách chộp giựt như trường hợp chúng ta đang bàn đây.

    Xin cảm ơn anh đã dành thì giờ trả lời cho những câu hỏi của độc giả Văn Nghệ Trẻ!

    Hoàng Xuân Tuyền thực hiện

    Văn Nghệ Trẻ, 4/4/2003
    Nguồn: eVăn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    Sự kiện Hoa thủy tiên [11] - bài viết của Nguyễn Hoàng Đức trên Ngày Nay
    Thụ Nhân

    eVăn: Để giúp bạn đọc theo dõi sự kiện “Hoa thủy tiên”, eVăn tiếp tục đưa các bài viết và ý kiến đã đăng trên các báo, tạp chí khác. Chúng tôi xin lưu ý: Việc đưa bài này chỉ có mục đích thông tin chứ không phản ánh quan điểm của eVăn.

    Dưới đây là bài viết của nhà phê bình Nguyễn Hoàng Đức trên tạp chí Ngày Nay, số 8.


    Trao đổi với nhà thơ Trần Mạnh Hảo về bài viết của Nguyễn Huy Thiệp
    - Nguyễn Hoàng Đức -


    Trong hai số báo Văn Nghệ 13 và 14, 27/3 và 3/4/2004, có đăng một bài phê bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo nhan đề Có thật đa số các nhà văn Việt Nam đều vô học, các nhà thơ đều lưu manh - hay là hội chứng chửi có thưởng thời nay? dành rất nhiều tâm huyết (hai trang báo đầy) bàn về bài viết của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đăng trên tạp chí Ngày Nay (số 4, 5, 6/2004) có nhan đề Trò chuyện với hoa thuỷ tiên và những nhầm lẫn của nhà văn.

    Theo tôi, đây là một bài tiểu luận chính thức có quy mô lớn nhất của Nguyễn Huy Thiệp từ trước đến nay, với tư cách vừa là hội viên Hội Nhà văn, vừa là cây bút đã kinh qua hành trình trải nghiệm sáng tạo khá dài, khá thành công, đã nói thẳng nói thật về thực trạng văn học hiện nay.

    Bài viết của T.M.Hảo, chung quy xoáy quanh, lý giải, chụp mũ về một vài câu từ, có cả xí xoá nhận định của N.H.Thiệp về thực trạng văn học. N.H.Thiệp viết: “Ngay trong lĩnh vực văn học, đáng lẽ cần phải khuếch trương, xây dựng thành một công nghệ đào tạo nhà văn mới thì vài năm trở lại đây có ý kiến bỏ đi trường viết văn Nguyễn Du. Bỏ thì dễ nhưng xây thì khó. Nhìn vào danh sách hơn 1.000 hội viên Hội nhà văn Việt Nam, người ta đều thấy đa số đều chỉ là những người già nua, không có khả năng sáng tạo và hầu hết đều…’vô học’, tự phát mà thành danh. Trong số này có hơn 80% là nhà thơ tức là những người chỉ dựa vào ‘cảm hứng’ để tùy tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa nhìn chung là lăng nhăng, trừ có dăm ba thi sĩ có tài năng thực sự (số này đếm trên đầu ngón tay) là còn ghi được dấu ấn ở trong trí nhớ người đời, còn toàn bộ có thể nói là vất đi cả… Mặc dầu đã có ngày thơ Việt Nam, tôi cũng không phủ nhận cảm tình của nhân dân đối với thơ, nhưng quả thực trên thực tế cái danh nhà thơ là một thứ nhìn chung chỉ là nhăng nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó: nhà thơ đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa”.

    Tôi cho rằng, những nhận định của N.H.Thiệp là có phần thích đáng với nền thơ đương đại, thậm chí vẫn tìm cách nói nương nhẹ. Trong bài viết của tôi, hoặc nhiều bài sau, tôi sẽ tìm cách chứng minh một cách rõ ràng nhất về đánh giá này.

    Nhà phê bình Lại Nguyên Ân viết trong Văn Nghệ Quân Đội 2/1/1998: "Các ông kế toán, thợ ảnh thì lại rộn rịp làm thơ… Quang cảnh xuất bản thơ nhộn nhịp như thế lại trái với thực tế khác: suốt thời gian ấy làng thơ hầu như chưa có một tác giả nào có cái riêng về phong cách được thừa nhận rộng rãi… Thiếu hẳn bóng dáng của một người cầm chịch, hiểu biết thơ, có uy tín về thơ, có quan tâm đến phong trào lớp trẻ, dám thực hiện những cuộc phân loại, đề xuất một số tên tuổi, chê và khen thật nghiêm đối với sáng tác của họ.”

    Tại cuộc hội thảo Bàn tròn thơ do tuần báo Văn Nghệ TP Hồ Chí Minh tổ chức ngày 28/11/1998 đã thừa nhận: "Vấn đề nổi cộm nhất: công chúng đang quay lưng lại với thơ, trong khi thơ đang lạm phát… Thơ nhiều và nhạt, không có cao trào, không có đỉnh, không hết cỡ…”(Văn Nghệ Trẻ số 42/1998).

    Nhà thơ Trần Đăng Khoa, một thần đồng, một “đứa em trung hậu” của nền thơ thì thốt lên như sau: "Những bài thơ như Thăm lúa, Bài ca vỡ đất, Lên miền Tây… bây giờ những tác phẩm tầm cỡ như thế hoặc còn hay hơn thế nữa, thấy nhan nhản trên các báo tường, báo liếp, trên những tờ nội san trong các ký túc xá sinh viên...” (VNQĐ số 4/1997).

    Còn đây, một Trần Mạnh Hảo đã từng “vạch áo xem lưng” của nền thơ còi cọc: "Suốt một thời người ta không cho phép thơ được buồn, được đau, được cô đơn và được chết. Chúng ta thử hình dung ra một con người suốt một thời chỉ vỗ tay ca hát và nhe răng cườì hềnh hệch, con người đó thực sự là một con người đúng nghĩa của nó không?”(Thơ, Phản thơ). Và: “Thơ chỉ còn là những gói mì ăn liền rởm mà người ta bắt gặp hàng ngày trên hầu như ba trăm tờ báo của cả nước… Đó là thứ ‘thơ ca hò vè’.” Trong thứ thơ ca hò vè đó có thơ của Trần Mạnh Hảo không, đặc biệt là hàng chục bài thơ Tết mà anh ta cậy cơ số cửa quyền đăng vào mỗi dịp xuân về? Không hiểu Trần Mạnh Hảo có muốn nuốt lại những lời này không? Và nếu không nuốt lại thì có thừa nhận thơ chỉ là thứ đồ ăn rởm bắt người ta phải nuốt?

    Tại sao, như lời thừa nhận của báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh, công chúng lại quay lưng với thơ? Nhà thơ của ta đã đem đến cho công chúng cái gì khiến họ quay lưng lại?

    Chứng lý như vậy thiết nghĩ đã quá nhiều. Nay xin được bàn thẳng với “thầy cãi” Trần Mạnh Hảo, người muốn ngoảnh mặt trước toàn bộ sự thật trên.

    1 - Trước hết, xin được bàn về đại từ “chúng tôi” mà T.M.Hảo dùng bấy lâu nay, trong tất cả các bài, đại từ đó như muốn doạ nạt người khác rằng phía sau tôi còn những vị khác. Có triết gia đã nói: "Những kẻ nhát thường không dám đi một mình, mà phải tụ thành đám đông để băng qua đêm tối hay sa mạc”. Việc anh Hảo dùng đại từ “chúng tôi” là cách văn hoá vừa non bấy, lại vừa nhút nhát. Nếu anh Hảo tự coi mình là người đã trưởng thành, lần sau khi viết bất cứ bài gì xin anh dùng đại từ nhân xưng cho đúng. Đó là cái tối thiểu nhất của người cầm bút.



    2 - Tiếp theo Trần Mạnh Hảo bước vào tranh biện lý luận bằng cách rủ rê tình cảm, anh viết: "Cả làng văn vốn lành tính không ai chòng ghẹo gì anh, sao anh lại giẫy lên đành đạch như đỉa phải vôi mà đứng chống nạnh xỉa xói làng nước thế? Chúng ta thử hình dung, trong một làng có 800 hộ dân vẫn hằng sống tử tế với nhau, bỗng sáng sớm có một ông hàng xóm cha căng chú kiết… mắng như tát nước vào mặt những người cùng làng vốn không hề gây thù chuốc oán với mình rằng: Các anh là đồ vô học, đồ vô giáo dục, đồ lăng nhăng, phù phiếm vô nghĩa, lưu manh, đồ vứt đi… thì cái ông vua chửi này chưa chắc đã còn đường trở về nhà mình! Xem ra mới biết nhà văn, nhà thơ nước ta còn lành hơn cả đất”. Thật quá rõ ràng, một cách rất logic, sau khi dùng đại từ “chúng tôi” để dọa nạt, anh Hảo lại xuống giọng “đánh bài hoà” rằng chúng tôi có làm gì anh đâu mà anh chửi chúng tôi, theo lối muốn dễ người dễ ta. Sau đó, anh Hảo còn cao tay hơn khích bác các nhà văn nhà thơ khác đừng lành như đất mà hãy chứng tỏ “Nguyễn Huy Thiệp không có con đường để trở về nhà”. Người Trung Quốc có câu “nhân chi sơ tính bản thiện”, theo đó cũng có phần muốn nói, con người ta lúc nhỏ có thể lành như đất, nhưng khi đã trưởng thành thì chỉ có một cách được mọi người kính trọng là hãy biết hành động, biết làm tròn bổn phận của mình. Anh Hảo nói “các nhà văn, nhà thơ nước ta hiện nay còn lành hơn cả đất”, có phải đã cho rằng mọi người vẫn còn ở trong bào thai ấu nhi?

    3 - Trong rất nhiều bài, T.M.Hảo luôn dùng thủ pháp đem các danh nhân và lịch sử dân tộc ra làm lá chắn cho mình, trong bài này anh Hảo viết: "Nếu ta chỉ có Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa mà thiếu Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương thì coi như dân tộc chỉ biết có cơ bắp, biết có thanh gươm mà thiếu tâm hồn, thiếu vẻ đẹp tinh thần, thiếu lãng mạn, thiếu thẩm mỹ. Những lời thoá mạ nguyền rủa thơ ca một cách vô tiền khoáng hậu trên của Nguyễn Huy Thiệp dành cho không chỉ các nhà thơ thời nay, mà còn cả các nhà thơ trong thời quá khứ.” Quả là tháu cáy và nhập nhèm, rõ ràng N.H.Thiệp nói về các nhà thơ hiện tại, vậy mà T.M.Hảo cố tình lôi các thi hào Nguyễn Trãi, Nguyễn Du vào cuộc để làm mộc đỡ cho mình. Đứng đằng sau các thi hào, anh đã cố tìm cách để khi người ta có coi thường mình, theo kiểu nhổ bọt chẳng hạn, anh liền mang tên tuổi các thi hào ra che đỡ, còn lu loa lên là: Nó nhổ vào mặt các cụ tổ thi hào.

    4 - Chụp mũ chính trị. T.M.Hảo viết: "Chúng tôi thấy mỗi lần Nguyễn Huy Thiệp mở một ‘chiến dịch chửi’ ở đâu đó xong thế nào một thời gian sau anh cũng được trọng thưởng: Nhận được vài ba lời mời đi du lịch nước ngoài không mất tiền, dưới danh nghĩa trao đổi văn hoá, giao lưu văn học”. T.M.Hảo còn nói kháy rằng, đó là cách: "Viết văn có ‘bà ngoại’, ‘ông ngoại’ thưởng". Là người biết tự sỉ, thì nói người phải ngẫm đến ta, T.M.Hảo hãy nhìn lại cuộc đi Mỹ năm 2002 của mình “trà trộn” vào đoàn nhà văn, nhà thơ trẻ Việt Nam, xem có phải mình đã làm mọi cách để “sống văn” theo lối "ông ngoại thưởng" không? Chao ơi, lâu nay chúng ta vẫn có những tình trạng tiêu cực trong thể thao và văn hoá là khai gian tên tuổi để đi nước ngoài, nhưng đằng này T.M.Hảo có lẽ đã ngót sáu mươi tuổi mà vẫn trà trộn vào cùng đoàn với các cháu trên đôi mươi, ăn gian ngót ba chục tuổi, quả là một việc hi hữu chưa từng có trên đời. Người Việt nói “đem chuông đi đấm nước người”, trong buổi đọc thơ mình trước các nhà thơ Mỹ, anh Hảo đọc câu thơ, đại loại: Tôi muốn mình là "cái ấy" làm tình với trời xanh. Nghe xong câu thơ đó, một nhà thơ Mỹ liền tặng anh một đồng xu lẻ và nói: Đây là huân chương dành cho thơ của anh (Xin xem bài của nhà thơ trẻ Nguyễn Quyễn, người đi cùng đoàn với anh Hảo, đăng trên báo ANTG cuối tháng năm 2002).

    T.M.Hảo là Hội viên Hội Nhà văn sao phải đem tất cả các võ thập cẩm từ xuê xoa tình cảm, đến lu loa, đến doạ nạt để viết một bài, càng viết càng “lạy ông tôi ở trình độ này” đến vậy, thử hỏi, ông đang đứng ở chỗ nào?

    Để kết thúc bài tôi xin nói, trình độ nền thơ của chúng ta rất đáng báo động, từ lâu độc giả cũng như nhiều cây bút đã cảnh tỉnh, nhưng không ít các nhà thơ vẫn mũ ni che tai, nên tình trạng ngày một trầm trọng.

    Xin nhận lời trao đổi lại một cách khoa học của anh Trần Mạnh Hảo. Cám ơn!

    1/4/2004

    Ngày Nay, số 8-2004 (15/4-1/5/2004)
    Nguồn: eVăn
    Đăng nhập để trả lời
    0
    Sự kiện Hoa thủy tiên [12] - bài viết của Tàn Nguyệt trên Ngày Nay
    Thụ Nhân

    eVăn: Để giúp bạn đọc theo dõi sự kiện Hoa thủy tiên, eVăn tiếp tục đưa các bài viết và ý kiến đã đăng trên các báo, tạp chí khác. Chúng tôi xin lưu ý: Việc đưa bài này chỉ có mục đích thông tin chứ không phản ánh quan điểm của eVăn.



    Dưới đây là bài viết của tác giả Tàn Nguyệt trên tạp chí Ngày Nay.


    Trong cõi mông lung
    - Tàn Nguyệt -

    Mang danh xứ sở thơ ca, đàn ông đàn bà, người già con trẻ, người khỏe người yếu, có chữ và không có chữ... tất tật đều có khả năng bẻ vần thành thơ. Thời trước ra ngõ gặp anh hùng, thời nay ra ngõ gặp... nhà thơ. Sẵn thơ mà thành ra nhờn. Sẵn mà thành ra rẻ.

    Thế cho nên mới rồi có một bác hàng xóm nhà ta, bực lên bác ấy mắng đám nhà thơ rằng "cái danh nhà thơ chỉ là nhăng nhít, hữu danh vô thực, đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa".

    Ta điên tiết, thiếu chút nữa cúi nhặt củ đậu bay bên đường choảng ngay vào đầu bác ấy để chứng minh ba cái tiên đề bác ấy vừa nêu. Tím mặt, về nhà bóp trán nghĩ, bác ấy nói không phải là vứt đi cả.

    Ta ít có thời gian thực sự cắp sách đến trường. Ở nhà quê học chưa hết phổ thông thì đi lính, sau về công trường xí nghiệp, sau được đề bạt, được đi học bổ túc theo kiểu đi tắt cắt cúp, cuối cùng cũng có bằng cử nhân. Mấy ông thầy sợ nhất dạy học cho bọn dính tí hơi hớm thơ như ta: đầu óc lúc nào cũng mù sương, vẩn vẩn vơ vơ, chẳng bao giờ tập trung nổi vào một việc gì. Năng khiếu thơ phú là kẻ độc tài, nó đánh đuổi hết khả năng tư duy logic, tư duy khoa học tự nhiên, tư duy kinh tế, thậm chí cả khả năng tiếp cận ngoại ngữ. Ta đã thử nhòm sang lý luận để khỏi mang tiếng nhà thơ tự phát, đã thử kẹp nách mấy cuốn sách học tiếng Anh tiếng Pháp để khỏi mang tiếng trình độ quanh quẩn ao tù... nhưng càng thử nhòm càng váng đầu hoa mắt. Rốt cục ta giơ tay đầu hàng. Thôi, dại gì khổ học đọc nhiều, hẵng cứ thỏa mãn với cái danh nhà thơ, không lừng lẫy nhưng cũng nổi tiếng hơn ối người.

    Sự nghiệp thơ của ta theo một trình tự: ở đơn vị thơ thẩn báo tường, nâng cấp dần lên báo tỉnh, báo ngành, báo trung ương. Xứ sở thơ ca thì danh thiếp nhà thơ đồng nghĩa với việc có chữ hơn người. Cái các vidít ấy dường như đi cửa nào cũng dễ dàng hơn. Người ta phục thì ít mà tránh thì nhiều. Khác gì nhịn kẻ trấn đường uy hiếp ngọt. Cho đi cho nó xong. Cho một cái phong bì nằng nặng (bày ra việc ta bình thơ đọc thơ ở xí nghiệp của họ để họ có lý do mà cho phong bì), cho bằng cách tổng công ty mua giúp ta cả trăm tuyển tập thơ (có tuyển tập mấy trăm trang, ta vừa bán vừa kênh kiệu tuyên bố đang làm sứ mệnh cao cả phát triển văn hóa), cần thì cho thêm tí danh tí lợi tí địa vị, kết nạp làm thành viên danh dự của ngành, cho cái giải thưởng này nọ...

    Một đời làm việc thì khơi khơi, thơ phú lang mang mới là chính. Những bài thơ thù tạc làng nhàng đáng ra phải bị loại hết thì lại được ta gom lại, mỗi năm in vài ba tập. Khi đương chức ta được trên cho dưới biếu, có tiền in tới cả chục tập thơ. Khi hết chức quyền thì lấy tiền của vợ của con mà in thơ. Bây giờ bị bác hàng xóm mắng, ta mới nghiêm túc kiểm điểm, cũng có thế thật. Thơ ta cái tội to nhất là nó không hay mà không quá dở. Muốn tìm về bản sắc dân tộc thì làm thơ lục bát tuồn tuột biết đi đâu về đâu. Muốn ra vẻ cập nhật thời đại thì viết những câu văn xuôi ngắt dòng. Một tí ánh mắt người thương hương tóc người thương cho ra vẻ lãng mạn. Một tí thương xót người thua thiệt cho ra vẻ nhân văn cùng khổ. Một tí tình yêu quê hương xứ sở cho ra tầm dân tộc, cùng lúc quan tâm đến môi trường và cuộc chiến nơi xa cho lên tầm thế giới. Khi có thiên tai thì làm thơ đồng cảm khóc thương, khi chỉ số GDP tăng lên thì có thơ xưng tụng, khi hàng xóm láng giềng vứt rác sang lối đi nhà mình thì làm thơ ân oán thanh toán... Gì cũng vào thơ như thế, ta huyễn tưởng thơ ta bao trùm nhân loại, có giá trị nhân đạo nhân văn nhân tình nhân ngãi.

    Thơ ta như gừng, càng già càng cay. Tự ca tụng như vậy, mới càng thấy thơ bọn trẻ là dở. Nhà thơ ngồi với nhau mở miệng là chê bọn trẻ, như mấy bà mẹ chồng gặp nhau là chê con dâu, Ô-sin gặp nhau là nói xấu chủ nhà. Không tiếp nhận nổi cái trẻ cái mới tức là ta đã già cỗi tận lõi mà không tự biết. Chỉ biết ngày ba bữa tụ bạ đám già với nhau, đọc thơ bình thơ tự khen tự sướng. Sốt ruột chờ mãi, nhảy được lên diễn đàn đọc thơ thì thách đứa nào đuổi được ông xuống. Suy bụng ta ra bụng người, lòng vả cũng như lòng sung, nhà thơ anh nào cũng háo danh từng đồng xu lẻ. Gặp nhau ở quán nước, ở công sở, ở câu lạc bộ, ở chỗ khám bệnh, gọi điện thoại cho nhau lúc đêm hôm khuya sớm... vồ được cơ hội là "xuất bản miệng". Ngứa nghề là một lý do. Lý do nữa: mỗi cơ hội ấy là một đồng xu lẻ bỏ thêm vào con lợn ống tiền gom góp danh tiếng. Chẳng trách mà ta không thể ngồi yên khuất góc cô đơn cho đúng bản chất nhà thơ đích thực, ta sùng sục tìm cho ra cơ hội để phơi mặt trên báo, để véo von trên đài phát thanh và để lội ào qua cái ti vi quá mức bình dân.

    Phần ta, có chút tiếng bèn gồng mình tìm chút danh nhà thơ. Đám bạn thơ dẫn ta đi vận động tranh thủ tiến cử vào Hội Nhà văn. Hai ông hội viên sốt sắng ký đơn giới thiệu, cam đoan năm sau ta sẽ vào Hội. Ta biếu hai ông giày dép vật dụng cả mấy triệu bạc, coi như cái giá phải trả. Mùa xét kết nạp tới, không có tên ta, ta lồng lên như bị lừa bị cướp, ta đòi lại giày dép và vật dụng đắt tiền. Ta đâm đơn kiện Hội không có cặp mắt xanh, gửi lên ban trên bộ dưới. Phải đến thế ta mới được kết nạp. Người đời bao giờ cũng sợ kẻ to mồm, nhà thơ to mồm lại càng sợ.

    Một anh bạn thơ của ta thì có cách riêng. Mùa kết nạp anh lùng sục các ủy viên ban chấp hành để xin phiếu, các ủy viên tại chỗ thì anh viết báo ca tụng thơ văn họ, các ủy viên miền trung miền nam ra thì anh tổ chức gặp gỡ thù tạc pích ních du lịch hoặc bất cứ nhu cầu thiết yếu nào. Suốt ngày anh lảng vảng đến văn phòng hội cho đến lần người ta nhìn nhầm anh là kẻ đưa ông văn phòng Hội bị đột quỵ đi cấp cứu. Cả ban chấp hành khi xét kết nạp đều xúc động đột ngột về hành động cứu người độ thế của anh ta, tài thơ không bàn đến mà chỉ bỏ toàn phiếu thuận cảm động. Anh nhà thơ được kết nạp nhầm biết, cứ mặc kệ cho chấp hành nhầm, lại còn đi cảm ơn từng người đã nhớ đến "hành động cứu người" của tôi. Chỉ có ta biết anh ta là Lý Thông giả mạo, cướp công Thạch Sanh.

    Ta bị bác hàng xóm mắng, Hội bảo vệ quyền lợi cho hội viên bằng cách nhờ một bác khác đứng ra mắng lại bác hàng xóm kia. Ông thấy cây mà chẳng thấy rừng, ông thấy đũa mà không thấy cả nắm đũa, hắn ta chỉ là con sâu không thể làm hỏng cả bát canh to được. Bác này còn muốn cho ông hàng xóm bị điểm huyệt cấm khẩu bèn vu vạ: ông mắng thơ để lĩnh thưởng. Ta được bênh không có nghĩa ta mất cả sáng suốt, không thấy rằng cái lô gích bênh vực đang hại bác đi bênh. Theo cái lý ấy, chẳng hóa ra bác ta đang chửi lại cũng là để "lĩnh thưởng" ư, không phần thưởng của người này thì cũng của người khác, không hình thức này thì hình thức nọ, không thưởng cho mình vinh danh sách báo thì cũng cho vợ con được yên thân làm ăn mua đất xây nhà?

    Công bằng mà nói thì nhiều nhà thơ đâu có như ta. Nhưng cho dù không như ta, họ vẫn có một mẫu số chung: dù ít học hay đến trường nhiều thì thơ phú mông lung hoang tưởng vẫn che màn sương mù ngăn cách họ với tầm văn hóa mà nhà thơ phải có. Xứ sở đã quá thiếu người biết làm ăn lớn mà quá thừa nhà thơ. Thê thảm thay một xứ sở không thơ ca, mọi thứ đều thô thiển thực dụng thiếu vắng linh hồn, nhưng sẽ là một nhược điểm nếu lạm phát nhà thơ. Nhà thơ nhiều tuổi hay ít tuổi thì sáng tạo vẫn một màu đồng phục cũ, số người dám tìm tòi và có ý thức tìm tòi đổi mới phương pháp sáng tạo chỉ đếm trên đầu ngón tay - hầu như tất cả cánh thơ chúng ta, kể cả còn rất ít tuổi, cũng đã lười biếng, tự bằng lòng với danh tiếng tàm tạm của mình, chỉ thích an toàn, rất sợ phiêu lưu đi tìm cái mới trên con đường sáng tạo. Không hiếm gì người coi chút tài mọn của mình như một nước sơn, một lớp men bóng bẩy hỗ trợ cho nghề nghiệp chính. Những tập thơ bài thơ tặng sếp, tặng vợ con sếp trong dịp sinh nhật tân gia, tặng ngành, tặng bà con phường xã những dịp lễ lạt đều là những đồng xu gom góp cảm tình để tranh thủ thiện cảm, trót lọt cho những kế sách về sau. Có tiền có quyền rồi thì muốn tráng qua một lớp men thơ cho "có tầm nhân văn", cho "sang trọng". Người khác thì bổ vào thơ tìm lấy cái danh nho nhỏ, coi như gỡ gạc an ủi cho một đời công chức tư chức không mấy thành đạt...

    Thôi bác ơi, bác chẳng việc gì phải bênh. Chúng em cũng tự biết mình.

    Ngày Nay, số 8/2004 (15/4 - 1/5/2004)
    Đăng nhập để trả lời
    0
    Sự kiện Hoa thủy tiên [10] - bài viết của Đông La trên Ngày Nay

    eVăn: Để giúp bạn đọc theo dõi sự kiện “Hoa thủy tiên”, eVăn tiếp tục đưa các bài viết và ý kiến đã đăng trên báo, tạp chí khác. Chúng tôi xin lưu ý: Việc đưa bài này chỉ có mục đích thông tin chứ không phản ánh quan điểm của eVăn.

    Dưới đây là bài viết của nhà phê bình Đông La trên tạp chí Ngày Nay.


    Trò chuyện với Nguyễn Huy Thiệp và Trần Mạnh Hảo
    (Nhân đọc hai ông trên Ngày Nay và Văn Nghệ)
    - Đông La -

    Nghe nói Nguyễn Huy Thiệp (NHT) đã “chửi” cả hội viên Hội Nhà văn Việt Nam là vô học trên tạp chí Ngày Nay rồi bị Trần Mạnh Hảo (TMH) “chửi” lại trên Văn Nghệ, tôi thấy buồn cười, bởi một ông ngông ngạo lại đi “chửi” ông ngạo ngông thì cũng bằng hòa. Chẳng phải Trần Mạnh Hảo cũng đã từng cho nền phê bình văn chương nước ta khi mình chưa xuất hiện chỉ là "một cái ao tù", từng chê thơ ca cách mạng là một "Nền thơ lộ - thiên - ham - vui" (Thơ phản thơ, tr. 9) đó sao! Tất nhiên tôi quá hiểu cách phê bình của TMH nên không tin, nhưng cũng băn khoăn bởi chẳng ai lại có thể dựng đứng chuyện, khi không gắp lửa bỏ tay người như thế được. Nhưng chẳng lẽ NHT, dù có kiêu ngạo đến mấy cũng phải hiểu biết, mà đã hiểu biết thì không ai lại hành xử một cách ngông cuồng, mất tính người như TMH đã phê phán được: "Bằng bài báo vừa dẫn, Nguyễn Huy Thiệp như muốn bước ra khỏi những giới hạn luân lý, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc và loài người" (Văn Nghệ, số 13, 27/3/2004). Vốn thích văn anh Thiệp, đã viết một bài có lẽ thuộc hàng kỹ nhất về văn anh, được nhiều người thích, tôi sốt sắng mở Internet. Thì ra NHT đã viết một bài rất dài, khá công phu và khá sâu sắc. Khi đọc có hơi khó chịu một chút bởi cái giọng kiêu bạc, khinh mạn đặc trưng của anh, có gì đó thật tàn nhẫn khi anh xổ toẹt, nói "trắng phớ" ra cái sự thực tẻ nhạt của tình trạng văn chương hiện tại, chắc rất nhiều nhà văn Việt Nam thấy bị xúc phạm, nhưng tiếc thay tôi thấy anh phần nhiều là đúng. Thực ra người ta đã nói quá nhiều những điều anh viết đó, nhưng chỉ là chuyện gẫu tại bàn trà hoặc trong quán nhậu, chứ không ai đủ dũng khí dám nói toạc ra bằng giấy trắng mực đen trên báo như anh cả. Tôi thừ người trước màn hình máy tính, thấy lại rất rõ sự bất lực của mình, bởi chính bản thân cũng phải ngụp lặn trong cái môi trường viết lách tù đọng, từng muốn quẳng viết đi bởi không thể tìm đâu ra cái cảm hứng trong cái cuộc chơi chữ nghĩa đầy khó khăn cực nhọc nhưng lại vô tích sự và đầy bất trắc này. Một cuộc chơi không có trọng tài, nếu có họ lại cầm còi theo những điều luật chả có cơ sở khoa học nào cả. Chính họ là bà đỡ cho không ít tác phẩm văn chương được giải thưởng vô giá trị, hoặc trao giải thưởng cho không ít tác phẩm nhăng nhít trong những cuộc thi văn chương rất lớn, rất ồn ào. Tôi đã viết kỹ điều này trong cuốn Biên độ của trí tưởng tượng (NXB Văn học). Xã hội ta hiện nay đã có nhiều đổi mới và đạt nhiều thành tựu, với tôi thú vị nhất là thành tựu về dân chủ. Xem mấy “ông nghị” tranh luận nảy lửa trên ti vi thật thú vị; xem mấy ông cán bộ cao cấp ấp úng trước vành móng ngựa thật thú vị; xem chuyện một công dân kiện thắng báo Pháp luật TP HCM thật thú vị... Tiếc thay diễn đàn văn chương còn rất tụt hậu về dân chủ, còn lạc hậu rất xa so với nhiều lĩnh vực khác trong xã hội. Báo chí văn nghệ nhiều khi là phương tiện của một số người. Tôi viết cụ thể như vậy bởi tôi thấy sự loại bỏ tình trạng cửa quyền như trên chính là điều tiên quyết cho sự phát triển nền văn chương, bởi chính nó như khí hậu, thời tiết đối với vườn ươm cũng như cánh đồng văn chương rộng lớn. Nếu nền văn chương chỉ được định hướng theo mấy người biên tập hẹp hòi thì không thể phát triển được.

    Về bài của Nguyễn Huy Thiệp, Trần Mạnh Hảo đã có một bài với cái đầu đề đã mang tính phê phán rất gay gắt: Có thật đa số các nhà văn Việt Nam đều vô học...?; trong đó viết: "Tự dưng đa số hội viên Nhà Văn Việt Nam bị anh Thiệp gán cho là vô học"; rồi: "Anh Thiệp nỡ lòng nào mắng cả Hội Nhà văn là đồ vô giáo dục" (Văn Nghệ số 13, 27/3/2004). Ở đây TMH lại một lần nữa sử dụng cách bẻ queo văn bản, phê phán những ý không phải của tác giả. Nếu trích đầy đủ câu chữ ta sẽ thấy NHT nói đúng và TMH phê sai, dù rằng cái điều anh Thiệp nói theo kiểu "thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng", ai là nhà văn cũng khó nghe: "Ngay trong lĩnh vực văn học, đáng lẽ cần phải khuếch trương, xây dựng thành một công nghệ đào tạo nhà văn mới thì vài năm trở lại đây lại có ý kiến bỏ đi trường Viết văn Nguyễn Du. Bỏ thì dễ nhưng xây thì khó. Nhìn vào danh sách hơn 1000 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam người ta đều thấy đa số chỉ là những người già nua không có khả năng sáng tạo và hầu hết đều... "vô học", tự phát mà thành danh". Rõ ràng ở đây ý NHT nói hầu hết hội viên trở thành nhà văn không phải do được đào tạo ở trường viết văn mà chỉ thành danh một cách tự phát thì trong thực tế đúng quá còn gì nữa, chứ đâu phải là câu chửi "đồ vô học" chung chung mà chính cách phê bình của TMH đã gán cho NHT!

    Về điều này tôi thấy NHT nói các nhà văn "vô học" trong cái công nghệ đào tạo văn chương còn là nhẹ, tôi thấy còn có một thực tế cay đắng hơn, có những người viết vô học thực sự, vô học theo nghĩa đen kịt của từ này. Ngay cả lĩnh vực phê bình lý luận, cái lĩnh vực cần nhất sự học cũng có. Ví dụ như chính Trần Mạnh Hảo, nhân vật của bài viết này: một tác giả đang được cho là nhà phê bình hàng đầu, viết rất nhiều và được Hội Nhà văn trao giải thưởng rất nhiều; người từng phê bình hầu hết các giáo sư văn học (theo tôi điều này cũng bình thường bởi giáo sư cũng chẳng phải là thần thánh); bàn luận những vấn đề trọng đại là sách giáo khoa và ngành giáo dục. Thế nhưng đã có rất nhiều người phê phán trình độ của TMH. Riêng tôi thấy TMH không hiểu bản chất của vấn đề thuộc tính nền tảng của tri thức, nhiều chỗ thực sự là vô học. Tôi đã viết nhiều, ở đây bàn về sự vô học xin được nói lại, bởi đã nói về TMH thì phải bắt tận tay, day tận mặt, không thể nói suông được. TMH rất hay bàn về triết học, nhưng nhiều chỗ do không có nền học vấn, đã không hiểu những khái niệm tối cơ bản, như việc tác giả cho triết học phương Đông là "nhất nguyên" nhưng lại cho là "không có chữ DUY" (Văn học phê bình nhận diện, tr.73), điều này là buồn cười, bởi với triết học, đã nhất nguyên thì phải DUY! Rồi một chuyện buồn cười khác, khi muốn phê phán Lê Ngọc Trà, TMH đã tưởng tượng ra khái niệm không hề có và vô nghĩa trong triết học: "duy vật chủ quan" (Sách đã dẫn, tr.274)! Bởi trong triết học chỉ có chủ nghĩa duy tâm mới có chủ quan và khách quan, còn đã là duy vật thì phải khách quan, tức vật chất luôn tồn tại khách quan, không bao giờ phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người. Khi muốn phê phán thi ca phương Tây là "phân tích" để đề cao thi ca phương Đông, TMH cũng đã đồng thời đề cao quan điểm: "trong tâm có vật trong vật có tâm" (Văn học phê bình nhận diện, tr.73) mà không hiểu rằng, đây là quan điểm phản triết học và khoa học hiện đại. Trong phê bình văn học, cũng vì "vô học", TMH cũng đã không hiểu bản chất của những trường phái, đã lẫn "ấn tượng" với "tượng trưng"; không hiểu siêu thực là gì, nhưng lại đi phê phán lung tung, nên đã viết ra những điều mâu thuẫn, một mặt coi siêu thực như rác rưởi song lại cho "Thi ca phương đông những bài hay nhất đã rất siêu thực" (Thơ phản thơ, tr. 247), và viết những câu ngô nghê kiểu: "siêu thực và hiện thực là hai mặt của một thực thể" (Văn Nghệ, số 13, 1997). Mỗi thực thể chỉ tồn tại với những thuộc tính vốn có, tức chỉ có một mặt hiện thực, còn siêu thực không phải là thuộc tính tồn tại của sự vật mà là một quan niệm sáng tạo nghệ thuật với cái triết lý: "Định luật ngẫu nhiên là định luật bao trùm mọi định luật". Tại sao như vậy thì còn phải biết đến cả vật lý lượng tử nữa mới hiểu nổi.

    TMH nếu chỉ yếu về mặt tri thức còn có thể châm chước được bởi tri thức là vô bờ, không ai nói mạnh được. Nhưng tiếc là tác giả này lại quá ảo tưởng về sự học của mình nên mới dám ngông ngạo: "tôi nói với ông Hữu Thỉnh: "Có ai viết về tôi ông cứ cho in đi, in rồi tôi trị" (Thơ phản thơ). Ngoài học vấn, một phẩm chất khác quan trọng không kém của người viết phê bình chính là sự trung thực, nhưng với TMH, cũng đã có rất nhiều người phê phán về nhân cách, bởi khi viết TMH luôn chủ động bóp méo vấn đề để thoả mãn lối phê bình phê phán không vì sự đúng sai mà phê phán lấy được, với nhiều tiểu xảo, nhiều mánh lới dẫn dắt, lôi kéo được khá nhiều người đồng tình, thậm chí còn làm lạc cả hướng dư luận. Nhưng theo tôi, nếu diễn đàn văn chương dân chủ thực sự thì TMH không bao giờ làm được như vậy. Trong bài phê phán Nguyễn Huy Thiệp lần này, TMH cũng lại dùng miếng võ quen thuộc, một tiểu xảo (ý tôi là xảo thuật nhỏ nhen không trung thực) mà Nguyễn Hữu Sơn từng viết "TMH vờ tựa vào bàn thờ tính dân tộc, nền văn học dân tộc" nhằm lôi kéo dư luận, hại người.

    Trong bài viết, ở phần đầu mang tiêu đề nhỏ là Cái khó của nhà văn hiện nay, NHT chỉ nêu ra tình trạng thơ ca hiện tại kém cỏi, có thể bàn về độ chính xác cũng như thái độ đánh giá của anh: “Trong số này có tới hơn 80% là nhà thơ tức là những người chỉ dựa vào “cảm hứng” để tuỳ tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa nhìn chung là lăng nhăng trừ có dăm ba thi sĩ tài năng thực sự số này đếm trên đầu ngón tay vẫn còn giữ được dấu ấn ở trong trí nhớ người đời còn toàn bộ có thể nói là vứt đi cả ”, giai thoại gây cười tục tĩu tiếp đó cũng chỉ để nói rõ thêm ý này, chứ NHT hoàn toàn không có ý gì xúc phạm đến các bậc tiền bối trong lịch sử văn chương. Trong bài viết, NHT đã khẳng định rõ đó chỉ là “giai thoại nói về tình cảnh thơ” chứ không phải là nhận định nghiêm túc, vậy mà TMH lại dựng đứng lên như thế này: “NHT tiếp tục nâng cấp “bài ca” trên lên hàng thượng thừa, dám “dí” cả con chuột vi tính vào các thần linh thơ, kể từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương trở xuống”; rồi: “Những lời thoá mạ nguyền rủa THƠ CA một cách vô tiền khoáng hậu trên của Nguyễn Huy Thiệp dành cho không chỉ các nhà thơ thời nay, mà còn cả các nhà thơ trong quá khứ” (Báo Văn Nghệ đã dẫn). Tôi gọi kiểu phê bình này là vô lương tâm. Trong tranh luận, khi tức khí lên có thể chửi nhau cũng được, nhưng phải trung thực, phê phán đúng ý người viết. Còn từ không nói có, dựng chuyện, xuyên tạc, gắp lửa bỏ tay người thì đúng là trò lưu manh và vô lương tâm. Nhân đây tôi đề nghị TMH nên chấm dứt cái trò luôn lôi kéo các bậc tiền bối vào phe mình, biến các cụ thành công cụ trong các cuộc tranh luận để lôi kéo dư luận, hãy để cho các cụ yên nghỉ. Tôi cũng đề nghị TMH chấm dứt cái trò nhân danh những điều cao cả hại người, bởi đất nước là của chung, lịch sử là của chung, cha ông là của chung, không phải của riêng ai cả. Rất nhiều người, nhiều gia đình đã phải đổ máu để bảo vệ những điều thiêng liêng ấy.

    NHT viết: “... quả thực trên thực tế cái danh nhà thơ là một thứ nhìn chung chỉ là nhăng nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó: Nhà thơ đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa”. Nhận xét này cũng thật khinh bạc và ngông ngạo, nhưng nếu nhìn vào thực tế không phải không có phần đúng. Quả thực chỉ có một số vô cùng ít nhà thơ là hữu danh hữu thực mà thôi, bởi họ còn làm quan này chức nọ, truyền hình báo chí nhắc đến liên tục nên cái danh mới có giá trị, chứ còn nói chung người ta chỉ biết đến nhau trong hội đoàn, trong nhóm bạn, còn đối với xã hội mênh mông thì cái danh nhà thơ có nghĩa gì. Ví dụ đi đâu đó, người ta giới thiệu tôi là kỹ sư thì thấy tự tin, chứ còn lại giới thiệu là nhà thơ, nhà phê bình nữa thì thật khó nói chuyện. Vậy NHT có phần đúng chứ. Thế mà TMH mang cả từ điển ra tra từ lưu manh để phê phán NHT (cho có khoa học?!). Nếu phân tích chi tiết, câu vừa dẫn NHT viết “thậm chí còn lưu manh”, dùng chữ “thậm chí” và chữ “còn” nghĩa là nói đến số ít, số đặc biệt. Trong thực tế có nhà thơ lưu manh không? Ai chả biết nhà thơ Hùng Anh gì đó trộm cắp trong ngành dược đã vào tù, nhà thơ Nguyên Linh (tức thứ trưởng Nguyễn Thiện Luân) đang trên vành móng ngựa; còn cái chuyện có một ông kiện một nhà thơ nổi tiếng nhận đút lót một đôi giày và mấy triệu đồng mà không làm cho ông ta được vào Hội nữa... Quả thực chúng ta đã quen nghe những lời êm tai giả dối rồi nên khi phải nghe cái sự thật trần trụi cay đắng thì dễ bị dị ứng.

    Riêng về NHT, tuy phản đối TMH như trên nhưng tôi cũng không hoàn toàn đồng ý với bài viết trên Ngày Nay cũng như một số bài phê bình và phát biểu khác của anh. Trước hết phải nói NHT viết phê bình cũng rất lạ, rất ấn tượng, những ngôn từ hiện đại của anh chuyển sang ngôn ngữ của nhà Phật như thơ “trí năng”, thơ “ngộ năng”, “môn phái” thơ, “y bát” thơ... thấy ngồ ngộ và có nét thâm nho. Chính bằng cái thủ pháp này, anh đã thâm thuý hoá được nhiều điều bình thường, rất hợp với khẩu vị Đông phương, chính nó đã góp phần quan trọng mang lại thành công cho văn nghiệp anh. Vốn có cá tính mạnh, cái tôi quá lớn, NHT thường có những nhận xét cực đoan mang nặng tính chủ quan nên thiếu tính khách quan khoa học, theo kiểu hợp khẩu vị thì anh cho là: “giá trị không sao kể xiết”; là “bổng lộc của thần linh”; là “thiên thần”; còn không hợp thì anh cho là: “lăng nhăng, phù phiếm”, “vi khuẩn, suy đồi, đểu. Say rượu, đa dâm, hạ lưu”. Một nhà thơ hiếm hoi, có lẽ là duy nhất, được anh Thiệp bái phục chính là Đồng Đức Bốn. Có lẽ chưa ai đánh giá văn người khác cao như anh Thiệp viết về anh Bốn bởi anh đã cho thơ anh Bốn là bất tử. Nhưng đôi chỗ đọc mấy câu anh trích dẫn và cho là “thần tình và sâu sắc” thì tôi thấy anh bốc quá, bởi thực chất mấy câu này cũng chỉ có vẻ têu tếu và có phần xào xáo lại ca dao: “Nhà quê có cái giếng đình / Trúc xinh cứ đứng một mình lẳng lơ / Nhà quê có mấy trai tơ / Quần bò mũ cối giả vờ sang chơi. (Đồng Đức Bốn, Chuông chùa kêu trong mưa, NXB Hội Nhà văn). Khi anh Bốn viết: “Xong rồi chả biết đi đâu / Xích lô Bà Triệu ra cầu Chương Dương”, hai câu này thực chất là văn vần, nôm na nhưng anh lại tán thành loại thơ siêu đẳng, siêu phàm: “Qua cầu Chương Dương” phải chăng là: “từ bờ bên này sang bờ bên kia, TỪ BỜ MÊ SANG BỜ GIÁC NGỘ!”. Riêng về anh Bốn, tôi thấy thơ lục bát của anh đúng hay thật, nhưng cho là siêu đẳng còn thơ người khác lăng nhăng cả thì thật quá đáng và không công bằng. Với riêng tôi, mấy lần anh Bốn vào Sài Gòn cũng gặp vui vẻ và muốn tôi viết một bài, nhưng tôi vốn lười biếng, đã mất công viết là phải viết những điều ít người biết hoặc đang tranh luận bất phân thắng bại, còn cái hay của thơ anh Bốn ai cũng biết nên tôi không hứng viết. Nói chung bàn về cái hay cái dở, cái cao cái thấp của nghệ thuật là cực khó. Tôi đã nghiên cứu và viết trong bài Hành trình thơ ca (in trong Biên độ của trí tưởng tượng) cái điều là: ngay cả những nhà thơ đã trở thành bất tử trong nền thi ca của nhân loại cũng mỗi người nói về thơ một kiểu, thậm chí còn đối nghịch nhau. Vì thế, trong phê bình nghệ thuật, không nên nhận xét kết luận chủ quan một cách tùy tiện bừa bãi, mà cần phải lập luận chứng minh bằng toàn bộ sự hiểu biết của mình trước khi nói ra một điều gì. Chỉ có vậy chúng ta mới dần tiệm cận đến chân lý của nghệ thuật.

    Riêng về NHT, anh có tài thì đúng rồi nhưng tài có lớn không thì còn phải xem xét. Bởi phải xem thực chất về hình thức thì anh đã đưa ra được thi pháp gì mới? Về nội dung thì trong tầng sâu phía sau văn bản văn chương của anh, anh đã phát minh ra được những ý tưởng gì mới? Giống như những phát minh của khoa học tự nhiên vậy. Hình như không có. Văn anh chỉ được ở chỗ mạnh dạn viết bản chất vấn đề, dễ đọc vì không lê thê, nhiều chuyện, dí dỏm, có nét thâm nho dân dã, nói chung nó là loại văn hiện thực phê phán thời hiện đại. Anh đã được ca ngợi rất nhiều, hưởng những lộc vinh quang của văn chương, phải chăng vì thế mà anh có phần nào ảo tưởng ngộ nhận và chính nó đã đẻ ra cho anh cái giọng kiêu bạc, khinh mạn, bất chấp, hoàn toàn tự nhiên thoải mái, không giữ một chút ý tứ gì khi nói về bất cứ ai, bất cứ điều gì. Nghe nói hồi đầu chưa nổi khi đưa bài muốn được đăng anh cũng nhỏ nhẹ dễ thương lắm. Tôi biết người như anh thì góp ý là vô nghĩa nhưng đây là sự thành thực của tôi, bởi tôi thấy văn chương NHT, nhà văn NHT sẽ được yêu quý hơn rất nhiều nếu không có cái thái độ quá đáng, quá khích, cực đoan của con người NHT.

    Thành phố Hồ Chí Minh, 4/2004

    Ngày Nay, số 8, 15/4-1/5/2004
    Đăng nhập để trả lời
    0
    Sự kiện Hoa thủy tiên [13] - bài viết của Vương Văn Quang trên Ngày Nay


    eVăn: Để giúp bạn đọc theo dõi sự kiện “Hoa thủy tiên”, eVăn tiếp tục đưa các bài viết và ý kiến đã đăng trên báo, tạp chí khác. Chúng tôi xin lưu ý: Việc đưa bài này chỉ có mục đích thông tin chứ không phản ánh quan điểm của eVăn.

    Dưới đây là bài viết của ông Vương Văn Quang trên tạp chí Ngày Nay.


    Thử “trò chuyện với hoa thủy tiên” để hiểu “văn học gãi ngứa” hay “hội chứng chửi có thưởng”
    - Vương Văn Quang -

    Báo Văn Nghệ số 13 và báo Văn Nghệ Trẻ cùng số có đăng một loạt bài phản ứng dữ dội bài viết "Trò chuyện..." của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp (NHT). Đặc biệt bài viết của nhà thơ Trần Mạnh Hảo (TMH) khiến tôi cảm thấy bàng hoàng. Thôi chết! Cái nhà bác NHT bức xúc điều gì? Sao lại nói năng bừa bãi thế? Sau khi đọc xong bài viết của nhà văn NHT, tôi thở phào nhẹ nhõm. Hoá ra nhà văn chẳng nói năng bừa bãi tí nào, bác ta chỉ nói đúng (tất nhiên có một số quan điểm của NHT khiến tôi không được thoả mãn lắm). Có điều một vài từ bác nhà văn nói mà chẳng lựa lời cho nên chẳng được làm vừa lòng nhau đó thôi.

    Thử tìm hiểu thể loại "Văn học gãi ngứa"

    Ngay từ những dòng đầu tiên nhà thơ TMH đã khẳng định rằng mình quý trọng văn tài của NHT, nhưng đọc ngay xuống dưới mấy dòng thôi, tôi thấy không phải vậy. Một nhà thơ có tiếng như TMH sao lại đi trân trọng, quý mến cái thứ văn chương cổ lỗ về mặt hình thức và nội dung chỉ có tác dụng gãi ghẻ? Toàn bộ phân tích về văn chương của NHT mà TMH viết trong phần "Thử lý giải hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp", ta có thể hình dung rằng: Văn chương của NHT là thứ cổ lỗ, không có giá trị, văn mô phỏng, nhưng NHT xuất hiện đúng lúc cơ thể xã hội đang nhiều vết thương, vì là thứ văn chương "gãi ngứa" nên nó đắc dụng. Tóm lại NHT chỉ là kẻ gặp thời. Ngày nay, xã hội ta đã hết vết thương, không lấy đâu ra vết lở loét cho NHT gãi, cào nữa. Không còn vết loét thương cho NHT hành nghề, thành ra NHT quay ra viết tiểu luận chửi bậy. TMH gọi đây là "văn chương gãi ngứa".

    Nếu thực sự văn NHT là thứ "văn chương gãi ngứa", thì tôi nghĩ rằng bất kể nền văn học nào, xã hội nào cũng cần thứ văn chương ấy. Con người có thể hết đau khổ hay sao? Xã hội ta hiện không còn điều gì bất cập hay sao? Văn chương không viết về những cái đó thì viết về cái gì? Hay chúng ta đã sung sướng hạnh phúc quá rồi, xã hội chúng ta đã là thiên đường rồi, nhiệm vụ của nhà văn chỉ còn mỗi việc khen mưa to, khen trăng sáng? Văn đàn ta cứ xuất hiện vài tay "gãi ngứa" tầm cỡ đó cho đám độc giả chúng em được nhờ, chứ như tình hình văn chương hiện nay, độc giả chúng em cứ phải đọc những thứ mà sau khi đọc xong gấp sách lại chỉ thấy xót xa cho những tờ giấy trắng.

    Nhà thơ TMH còn ấn vào mồm độc giả rằng: "chúng tôi bội thực văn NHT rồi, sao mà ông đùa dai thế, người ta hết ngứa từ lâu, mà sao cứ nhìn thấy vết sẹo nào lộ thiên là ông lại lao vào gãi mãi thế...". Tôi tin rằng chẳng có độc giả nào nói thế đâu, đây chỉ là nỗi niềm của nhà thơ TMH mà thôi.

    Kết thúc phần "Thử lý giải hiện tượng NHT" nhà thơ TMH thòng một câu: "... thầm cám ơn báo Văn Nghệ, ngót 20 năm về trước đã khai sinh ra nhà văn Nguyễn Huy Thiệp". Nếu quả thật một tờ báo có thể đẻ ra được một nhà văn, thì phải chăng tờ Văn Nghệ là một người đàn bà nạ dòng quá ư là hiếm muộn?

    Thế nào là “Chửi có thưởng"?

    Sau một loạt phân tích, chứng minh hùng hồn, nhà thơ TMH kết luận rằng: "... cứ sau mỗi lần Nguyễn Huy Thiệp mở một "chiến dịch chửi" ở đâu đó xong, thế nào anh cũng được trọng thưởng: nhận vài ba lời mời đi du lịch nước ngoài không mất tiền, dưới danh nghĩa trao đổi văn hoá, giao lưu văn học". Ôi! Nếu quả tình có một thứ trò chơi như thế, tôi tin chắc, trong đó không thể thiếu TMH. Còn nhớ một loạt tiểu luận gần đây của nhà thơ, cũng ghê gớm lắm chứ, có thể cũng có thể gọi là "chửi" được. Song có điều, những vấn đề mà nhà thơ đề cập, nó không được sâu sắc lắm, nên không ai thưởng chăng(?!!).

    Bây giờ chúng ta thử xem lại nhà văn NHT "chửi bới" ra sao? "chửi bới" những gì?

    Toàn bộ bài viết "Trò chuyện với hoa thuỷ tiên...", có lẽ đoạn "Ngay trong lĩnh vực văn học, đáng lẽ cần phải khuếch trương, xây dựng thành một công nghệ đào tạo nhà văn mới thì vài năm trở lại đây lại có ý kiến bỏ đi trường viết văn Nguyễn Du. Bỏ thì dễ nhưng xây thì khó. Nhìn vào danh sách hơn 1000 hội viên Hội nhà văn Việt Nam, người ta đều thấy đa số chỉ là những người già nua không có khả năng sáng tạo và hầu hết đều..."vô học", tự phát mà thành danh. Trong số này có tới hơn 80% là nhà thơ tức là những người chỉ dựa vào “cảm hứng” để tuỳ tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa, nhìn chung là lăng nhăng, trừ có dăm ba thi sĩ tài năng thực sự (số này đếm trên đầu ngón tay) là còn ghi được dấu ấn trong trí nhớ người đời, còn toàn bộ có thể nói là vứt đi cả..." là có tính chất "chửi bới" nhất. Đọc đoạn này nghe thật đau đớn, nhưng đã có ai trong hội nhà văn thử suy nghĩ mà xem xét lại thực trạng văn học hiện nay một cách nghiêm túc chưa? Nếu có làm động tác này thì sẽ thấy, câu trên không phải là không đúng. Có điều, cùng nội dung ấy nếu như nhà văn NHT lựa lời mà nói, chắc sẽ làm vừa lòng mọi người. Nhưng nếu thế thì cũng bằng không, các nhà văn, nhà thơ trong hội nhà văn Việt Nam vẫn yên tâm về thực trạng hiện nay. Tôi nghĩ NHT quá thừa sức để chuyển tải cái ý tưởng kia bằng những lời hoa mỹ hơn. Nhưng nếu thế thì đã không phải là phong cách NHT. Một hội nghề nghiệp với cả ngàn hội viên, hùng mạnh quá. Nhưng thử nhìn lại cái không khí văn chương xem. Một cuốn sách hay hay, vui vui như cuốn "Chân dung và đối thoại" của Trần Đăng Khoa, vậy mà cũng hội nghị bàn tròn, bàn méo, thảo luận, mổ xẻ... Rồi cũng không thiếu những bài tiểu luận của các nhà... chửi bới ầm ĩ. Gần đây, một cây viết trẻ với một số chuyện ngắn gọi là đường được, so với mặt bằng chung có nhô lên chút đỉnh, vậy mà cũng xúm nhau vào mà tung hô, nào là hiện tượng này, hiện tượng nọ... Các nhà ấy tung hô nào là sâu sắc, nào là truyện đạt đến vẻ tự nhiên... Hỡi ôi, viết đạt đến vẻ tự nhiên mà được gọi là hiện tượng. Vậy những thứ không phải là hiện tượng có đáng "vứt đi cả" không?.

    Có bệnh thì phải uống thuốc, thuốc đắng mới dã tật. Cái cơ thể văn chương Việt Nam èo uột, ốm yếu như thế sao vẫn không chịu uống thuốc?.

    Nhà thơ Trần Mạnh Hảo dùng hình ảnh ví von, trong một làng có 800 hộ dân sống hoà thuận, bỗng đâu có một anh giở chứng mắng mỏ, rằng các anh là lăng nhăng phù phiếm vứt đi, là lưu manh, là vô học... Cái làng ấy hiền như đất chứ không thì nhà anh kia không có đường về nhà. Vậy tôi cũng bắt chước nhà thơ dùng hình ảnh, hình ảnh thế này: Một thằng thanh niên nọ, chỉ vào mặt vận động viên thể hình Lý Đức mà rằng: Sao tập tành tốn bao cơm gạo mà hom hem thế kia? Tôi tin chắc Lý Đức chỉ cười khẩy. Lại một hình ảnh thế này: Một thằng thanh niên nọ, rửng mỡ thế nào chỉ ngay mặt một cô gái điếm đứng đường mà rằng: Đồ con đĩ. Tôi tin chắc cô điếm kia sẽ tốc váy vào mặt thằng thanh niên, chứ cô quyết chẳng chịu để yên.

    Chúng ta có một thói quen rất dở là chỉ nghe những điều mình muốn nghe, và chỉ nói những gì người khác muốn nghe. Chính vì thế văn chương của chúng ta nó cứ nhợt nhạt thiếu cá tính, và cũng từ thói quen này sinh ra thói đạo đức giả. Lâu dần thói quen đó ngấm vào máu, ta làm sai mà chẳng biết, ta độc ác một cách hồn nhiên. Im lặng lắng nghe mới khó, còn kết tội nhẩy đổng bao giờ cũng dễ dàng.
    Xin phép "Trò chuyện với hoa thủy tiên"

    Về bài báo của nhà văn NHT theo tôi, loại trừ những câu chữ “trắng phớ” dễ khiến mọi người bị chạm tự ái, những vấn đề về thực trạng văn học mà nhà văn đưa ra nhìn chung là đúng. Nhà văn Chu Lai trong bài trả lời phỏng vấn đăng trên báo Công An Nhân Dân số ra ngày 1/4/2004 cũng cho rằng: “hai phần ba bài viết của anh Thiệp là có cơ sở. Nhưng càng về cuối bài anh Thiệp càng sa đà, càng ngoa ngôn, nói năng dễ dãi, bừa bãi...”. Chỉ có một số vấn đề nhỏ mà tôi thấy khó chia sẻ với nhà văn. NHT cho rằng cần gắn liền công nghệ với các loại hình nghệ thuật giải trí như ca - múa - nhạc... Với nghệ thuật, công nghệ cần nhưng chưa đủ, đôi khi lạm dụng công nghệ thì nghệ thuật chỉ còn là những trò nhố nhăng. Về văn chương NHT cho rằng rất cần những nhà văn chuyên nghiệp, được đào tạo trường lớp chính quy. Điều này cũng không hoàn toàn đúng, được đào tạo sẽ giúp cho phần kỹ thuật của nhà văn, nhưng chưa chắc những người trường ốc đã có ý tưởng hay hơn những kẻ amateur. Đôi khi kỹ thuật còn làm hỏng cả những ý tưởng lớn. Bằng chứng là những Vệ Tuệ, Xuân Thụ... đâu có phải dân trường ốc, thế mà họ đang làm đảo điên văn đàn Trung Quốc. Cuối cùng tôi muốn đề cập đến vấn đề, mà vấn đề này các bài báo viết trước đều có nhắc đến. NHT viết: “Văn học, đối tượng của nó là những người trẻ tuổi, nó không phải là sân chơi của "đám giặc già lăng nhăng thơ phú”. Tôi cho rằng, văn học, đối tượng của nó là tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác, hạng người. Kể cả người mù chữ. Ngày xưa, thời cha mẹ ông bà chúng ta, các cụ nông dân một chữ bẻ đôi không biết, song vẫn ngâm ngợi ca dao và kể chuyện cổ tích cho đám trẻ. Câu "giặc già lăng nhăng thơ phú" của nhà văn được cho vào nháy nháy, ở đây tôi cho rằng nhà văn nhắc lại lời của ai với hàm ý bông phèng. Cảm giác mọi người ra sao, tôi không biết. Chỉ biết, tôi là một người già (tôi về hưu 3 năm nay) và thỉnh thoảng cũng có làm dăm ba câu thơ "con cóc", chúng tôi cũng có hội thơ của riêng mình, toàn những người hưu trí. Khi đọc, tôi chỉ thấy buồn cười, thực tế là chúng tôi vẫn hay bảo nhau như vậy. Song, khi viết lên văn bản nhà văn nên cân nhắc kỹ lưỡng hơn, không phải ông già nào cũng dễ tính như tôi.
    Mấy lời kết

    Đã gọi là tranh luận, nhất là trong văn chương, thì rất có thể đi đến thống nhất quan điểm. Nhưng khó mà vẫn có thể thống nhất được, miễn là những người tham gia tranh luận thực sự thiện chí, và tranh luận dựa trên cơ sở khoa học. Nhưng ở ta lâu nay, có vấn đề gì cần tranh luận là các nhà văn nhà thơ của chúng ta rặt giở giọng hàng tôm hàng cá với nhau. Thế mới lạ. Cứ cho là bài viết của nhà văn NHT thật sự là một thứ chửi bậy, vậy thì bài viết của nhà thơ TMH có phải còn hơn thế không. Mang câu chửi tục để gọi câu chửi bậy thì xem ra cũng chẳng hay ho gì.

    Cuối cùng, với tư cách là một độc giả yêu văn chương cuồng nhiệt, tôi chỉ mong các nhà văn nhà thơ của ta, đừng nệ quá vào danh hão, mác nhà văn hay nhà thơ chẳng có gì quan trọng. Cái tối quan trọng là tác phẩm. Và cũng kính mong các nhà văn nhà thơ nên bình tĩnh và cân nhắc trước khi phát ngôn, hay tranh luận trên báo chí, để những độc giả như chúng tôi còn có hy vọng vào nhà văn nhà thơ như hiện thân của một điều tốt đẹp.

    Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4/2004

    Ngày Nay, số 8, 15/4-1/5/2004
    Nguồn:eVăn
    Đăng nhập để trả lời
    0