Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Lã Bất Vi

98 trả lời, 15.495 lượt xem — Trang 2 / 4
chào các bạn,

canary đã đánh xong phần của mình.
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
Dạo này bận cviệc quá, không hoàn thành nhiệm vụ với thư quán, ngại ghê nơi. Tuần tới lại họp hành, hết tuần, tới tháng, tới quý, luxubu, thôi sẽ cố gắng vậy.
Đăng nhập để trả lời
0
Không sao đâu Glacier ơi,
Nơi đây là do những tay hiệp sĩ, luyện nhất dương chỉ, hay những mạnh thường quân, nếu mà..... rãnh thì giúp một tay, không rãnh thì phải chịu thôi à Glacier

Chúc Glacier mau hết bận, để còn lo cho xong những truyện còn dở dang nhé

Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0
sao lâu rồi không thấy bài mới vậy bạn admin ơi?
Tớ là thành viên mới, cho tớ hỏi có phải muốn đánh máy thì bản thân mình phải có chuyện đó rồi đã, đúng không? Nhà tớ có mấy quyển truyện cũng được, không biết là gửi lên có được không nhỉ?
Thế ngoài truyện ra còn sách vở có không ạ?
Đăng nhập để trả lời
0
em dạo này cũng bận quá nên cũng ko làm được. Có lẽ để thời gian sau em sẽ cố gắng hoàn thành
Đăng nhập để trả lời
0
quote:

Trích đoạn: Hoa Tulip đen

HTLĐ xin tổng kết lại "tình hình" đánh máy truyện "Lã Bất Vi" cho đến thời điểm hiện tại nhé:

- Quyển 1 - 2: bạn sonzin đã nhận.
- Quyển 3: bạn glacier đang type.
- Quyển 4: bạn Hoa Tulip đen đã type xong.
- Quyển 5 - 6: bạn Canary đã type xong.
- Quyển 7 - 8: bạn LOng3ta đã nhận.

Tất cả đều đã có người nhận type rồi. Nếu Mãi Yêu Hoài Nhé muốn type truyện này thì có thể liên hệ với các bạn đã nhận type nhưng chưa thấy đăng bài để có thể share ra cùng type cho nhanh. Vậy nhé!

Còn sau đây HTLĐ xin đăng lại 1 phần Quyển 3 mà bạn glacier đã type và Quyển 4 vào luôn trong đây để


Chào các bạn

Hình như truyện Lã Bất Vi còn mấy trang chưa gõ xong như:
- Quyển 1 và 2 , do bạn sonzin nhận, nhưng không thấy đăng bài
- Quyển 3 của bạn Glacier nhận, nhưng cũng không thấy post vào??
- Quyển 7 - 8 do bạn Long nhận, nhưng cũng khg thấy gì cả

Vậy thì nhờ các hiệp sĩ phụ một tay nhé

Đăng nhập để trả lời
0
OK. Vậy thì CuLong tôi đây sẽ nhận type tập 1 và 2 nhé. Truyện này đọc hay lắm bà con ạ. Cố gắng mỗi người một tay đưa lên thư quán nhanh cho mọi người cùng đọc nhé.
Đăng nhập để trả lời
0
Vậy thì...hoan hô culong nhé

( bắt chước sư phụ Thái Nhi ) [8D]

Uống trà đá chanh cho đở khát nhé



📎 kem|tràđá
Đăng nhập để trả lời
0
Công tử Lỳ ơi, mình có mấy ngày rảnh rỗi, xin tham gia đánh máy truyện Lã Bất Vi cùng Thư Quán. Vậy làm ơn chỉ dẫn dùm mình làm thế nào để tham gia với, mình ko biết bây giờ bắt đầu từ đâu và load xuống như thế nào vì đây là lần đầu tham gia.

Cảm ơn trước nha
Tĩnh Tâm
Đăng nhập để trả lời
0
Chào Tinh Tam

Nếu Tinh Tam rãnh rỗi, thì nhờ gõ dùm
Lã Bất Vi còn lại 2 quyễn đó
Quyễn 3 và quyễn 7.

Vậy bạn cứ nhận quyễn nào thì nhớ nói, để Ct.Ly ghi vào

Muốn gõ thì bạn cứ ,
Bấm cái link Quyễn nào bạn muốn gõ
Xong, bạn muốn in vào giấy, hay gõ luôn trong mát thì tùy

Xong bạn đăng vào đây

Thay mặt Công tử Lỳ Ct.Ly xin cảm ơn bạn Tinh tam nhiều nhen [:D][8D]
Đăng nhập để trả lời
0
Tinh Tam ơi,

Quyển 3 bạn Glacier đã đánh máy được một phần rồi, HTLĐ cũng đã thay mặt Glacier đưa vào đây để các bạn dễ theo dõi rồi đó. Nếu Tinh Tam đánh máy Quyển 3 thì xem Glacier đánh tới đâu rồi Tinh Tam đánh tiếp theo nhé! HTLĐ sợ bạn không biết, đánh lại thì mất công quá, nên nhắc chút xíu đó mà. [:D]

Chúc Tinh Tam sớm "mã đáo thành công" nhé!

Thân
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
Mình thấy bài cuối của Glacier lâu lắm rồi. Vậy mình tiếp tục Quyển 3 từ đoạn "Tần Vương quay kiếm ra sau, rút ra đánh....". Nhờ các bạn cho mình cái link để load xuống với nhé.
Tĩnh Tâm
Đăng nhập để trả lời
0
Xin lỗi nhé, mình tìm thấy link quyển 3 ở trang 1 rồi (tại cái bệnh lười ko xem kỹ). Vậy mình đăng ký rồi, các bạn làm sao thông báo cho bạn Glacier biết ko trùng nhau thì phí công nhỉ.
Tĩnh Tâm
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-15 12:15:09ct.ly>
Lã Bất Vi (Tập 2, từ trang 1-17)

Khăn và các huynh đệ ở xa. Đây chính là khi giàu có thì thực thi ân đức, sau khi Phạm Lãi già yếu, giao cho con cháu nắm giữ cơ nghiệp, con cháu kế thừa sự nghiệp của ông, không ngừng phát đạt, cho tới khi già yếu lên tới triệu lạng vàng. Do đó, khi nói đến phú hào, mọi người đều nhắc đến Chu Công.
Lã Bất Vi như vật được chi bảo, bê bộ “Kế Nhiên” đã đem đến cho ông biết bao sự tin tưởng và bí quyết về Bồ Nương. Sự vui sướng của thành công ban đầu đã đem đến cho vị thương nhân trẻ tuổi lần đầu bước chân vào sự sinh nhai mạo hiểm một sự phấn khích và cổ vũ to lớn.
Lã Bất Vi mong muốn được gặp Hoàng Phủ Kiều, kể cho người con gái đã khiến ông xao xuyến từ lâu này quá trình buôn ngựa mang đầy màu sắc thần bí, kể về người biểu diễn rắn đối với ông ân trọng như núi nhưng bây giờ không biết ở đâu, lại cho nàng xem bộ sách dày kể những chuyện về buôn bán này, cuối cùng sẽ trao tặng nàng những vàng bạc tế nhuyễn đã mua cho nàng ở Hàm Đan. Hoàng Phủ Kiều sẽ đưa ánh mắt say sưa, đầy vẻ phấn khích nhìn mình, và không ngừng kêu lên: “Chà, nguy hiểm thế!”… Khi nàng trông thấy những món quà hậu hĩnh mà chàng mang về, nàng sẽ càng vui sướng và…
Nghĩ tới những điều này, Lã Bất Vi thấy trái tim mình rạo rực. Chỉ có điều chàng muốn những điều này sẽ diễn ra tại nhà mình. Chàng nghĩ: hay là mời Hoàng Phủ cô nương đến nhà, vừa thân mật lại thuận tiện, như vậy hai người sẽ không có cảm giác không tự nhiên thoải mái như ở nhà Phùng Quân Uý. Chàng có thể khua chân múa tay, có thể thoải mái bộc bạch…
Lã Bất Vi ôm ấp giấc mộng đẹp này trong suốt lúc đi dạo trong buổi chiều tà. Lã Bất Vi nhìn lên nền trời phía tây rộng lớn, những đám mây hình thù kỳ lạ, nhiều màu sắc, có cả hình long li quy phượng. Lã Bất Vi phấn chấn, rảo bước nhanh hơn trong ngõ nhỏ đang nhập nhoạng tối.
Đã có kế sách để làm giàu, hơn lúc nào hết Lã Bất Vi càng khao khát thứ tình cảm ngọt ngào với một người con gái.
Lã Bất Vi cùng Hoàng Phủ Kiều vai kề vai thong dong bước bên nhau. Hoàng Phủ Kiều hôm nay trang điểm rất kỹ lưỡng, hương thơm từ nàng toả ra khiến Lã Bất Vi thấy lòng xao xuyến, mơ màng. Chưa bao giờ chàng có cảm giác gần gụi với một người con gái như thế này, gần đến mức chàng cảm nhận được cả hơi thở lẫn nhịp tim của nàng.
Bất Vi lắng nghe Hoàng Phủ Kiều nói, chàng cảm nhận được sự lo âu tận đáy lòng qua giọng nói run rẩy của nàng.
“Lần này chàng đi biệt hơn hai mươi ngày, thiếp quả vô cùng lo lắng”
“Ta và người biểu diễn rắn ấy đều cưỡi ngựa, nếu đi bộ thì phải mất đến một năm rưỡi ấy chứ”.
“Gặp bọn Hung nô ấy, chàng có sợ không?”
“Sợ chứ, bọn chúng kẻ nào cũng cao to vạm vỡ, tanh hôi khủng khiếp. Khi ta và gã thích khách vào được hang ổ của Hữu Cốc Lãi Vương, ta thấy quân hung nô kẻ nào cũng dao gươm sáng loáng, mắt mũi trợn trừng. Người bình thường trông thấy ắt phải sợ đến hồn bay phách lạc, chẳng khác gì nơi hang hùm miệng cọp! Nhưng ta vẫn bình thản, không chút kinh hãi, đường hoàng tự tin tranh luận với chúng, đối đáp sắc sảo. Sau cùng, tất cả bọn chúng đều tròn mắt há miệng, ngoan ngoãn lặng im nghe ta nói. Lã Bất Vi cảm thấy những lời khoa trương tự mãn này của chàng, nói được cho Hoàng Phủ Kiều nghe, chàng thật hạnh phúc biết bao! Ánh trăng như dát bạc soi rọi bóng chàng và nàng bên nhau trên con đường mờ ảo.
Bước chân vào sau cánh cửa nhà mờ tối, Lã Bất Vi chợt cất giọng run run khẽ gọi “Hoàng Phủ cô nương”! Chàng biết, ngay lúc này và chính tại đây, tất cả đã chín muồi đủ để Hoàng Phủ Kiều đáp lại tấm tình cảm mà chàng sẽ biểu lộ với nàng. Và quả vậy, Phủ Kiều lặng lẽ quay nghiêng sang phía Bất Vi. Chàng biết, giờ đây, đôi tay chàng đang sắp đón đợi một niềm hạnh phúc.
Bất Vi giang tay ôm Hoàng Phủ Kiều vào lòng và cảm thấy bờ môi mình khao khát. Gương mặt Hoàng Phủ Kiều, từ sống mũi, nét môi đều nổi bật sáng rõ dưới ánh trăng. Bất Vi không kìm nổi lòng mình, áp khuôn mặt thô ráp bởi những sợi râu vào mặt Hoàng Phủ Kiều và đặt lên môi nàng một nụ hôn. Hai đôi môi nồng nàn gắn chặt vào nhau. Họ say đắm trong nụ hôn đầu…
Ánh đèn dầu soi tỏ tất cả căn phòng. Lã Bất Vi sau khi đã trấn tĩnh lại chậm rãi kể cho Hoàng Phủ Kiều nghe về quãng thời gian mà chàng đi buôn lụa kiểu “lũng đoạn” bất chấp bao khó khăn cực nhọc. Và đương nhiên, đối với Lã Bất Vi, anh chàng đã khổ luyện với văn chương thơ phú mười năm thì thêm thắt đôi lời khoa trương cho câu chuyện của mình thì không khó. Lã Bất Vi thấy Hoàng Phủ Kiều chăm chú lắng nghe, mắt mở to không chớp. Đến đoạn chàng đi tới vườn tử ở một thành ấp nghèo nọ, Bất Vi chợt cảm thấy dường như trống ngực Hoàng Phủ Kiều bỗng đập dồn dập, rồi nàng bật khóc, nức nở thành tiếng.
Lã Bất Vi ngạc nhiên, im bặt hỏi Phủ Kiều: “Hoàng Phủ cô nương, có chuyện gì vậy?”
Hoàng Phủ Kiều đứng dậy, bước tới bên cuốn sách “kế nhiên” đang mở, tay khẽ khàng vuốt nhẹ từng mặt trúc trơn láng, gọi: “Đại ca ơi, đại ca ơi!”
Lã Bất Vi càng kinh ngạc không hiểu, hỏi: “Đại ca? Ai là đại ca của nàng?”
Hoàng Phủ Kiều đáp: “Chính là người biểu diễn rắn ấy”
Lã Bất Vi bán tín bán nghi hỏi: “Anh ta đích thực là đại ca của nàng ư?”
Hoàng Phủ Kiều thổn thức kể: “Cái vườn tử nơi thành ấp nghèo nàn ấy chính là nhà thiếp. Thiếp còn nhớ ngày nhỏ thường cùng đại ca Hoàng Tử Nghĩa chơi đùa dưới cây tử thần cong ấy. Có một lần, anh ấy nhanh thoăn thoắt như khỉ leo lên trốn trên cây làm thiếp sợ phát khóc tìm kiếm khắp nơi… Bộ “kế nhiên” này là do một người bạn tên Tư Không Mã tặng đại ca thiếp bởi lẽ anh ấy vốn là người không ham hố chuyện buôn bán làm giàu mà chỉ thích đao thương kiếm thuật, dạy chó luyện rắn…
Lã Bất Vi áy náy: “Giá mà anh nàng không giấu tên giấu họ thì ta đã sớm giúp được hai người đoàn tụ rồi”.
Hoàng Phủ Kiều đáp: “Thiếp nghĩ, đại ca thiếp hẳn sẽ đi tìm Vệ Nguyên Quân báo thủ rửa hận, phanh xác, băm thây Nguyên Quần, con trai của hắn, thê thiếp của hắn làm trăm mảnh! Chúng tôi là gia tộc Hoàng Phủ, sống ở nước Tấn, ở cả nước Vệ, đại ca e liên luỵ đến họ và liên luỵ đến cả thiếp nữa!”. Lã Bất Vi hiểu ra gật đầu, cảm thấy thương cho hoàn cảnh của hai anh em Hoàng Phủ Kiều.
Hoàng Phủ Kiều hỏi: “Khi chia tay với chàng ở Hàm Đa, đại ca không nói sẽ đi đâu ư?”. Lã Bất Vi đáp: “Ta cũng hỏi nhưng anh ấy chỉ bảo, bốn bể là nhà, phiêu bạt giang hồ”. “Thiếp phải đi tìm đại ca của thiếp” Hoàng Phủ Kiều quả quyết.
Lã Bất Vi phát hiện, trong đôi mắt tuyệt đẹp của Hoàng Phủ Kiều ánh lên tia nhìn sắc nhọn mà chàng chưa từng bắt gặp.
Lại một lần nữa, Lã Bất Vi lang thang giữa thành Hàm Đan tấp nập người xe để tìm kiếm Hoàng Phủ Kiều, những ngọn lạnh buốt làm tuyết trắng bay đầy trời mang đến cho đô thành của nước Triệu một mùa đông đáng nhớ.
Khi mới nghe Hoàng Phủ Kiều nói: “Thiếp nhất định phải đi tìm đại ca của thiếp!” Lã Bất Vi cho rằng đó chỉ là lời nói gío bay của một nữ nhi dễ xúc động, đâu ngờ Hoàng Phủ Kiều lại nói sao làm vậy. Hôm đó là buổi chiều sau khi Hoàng Phủ Kiều đã rời nhà chàng đi được 3 ngày, có một người nô bộc của Phùng Quân Uý hớt hải đến tìm chàng. Phùng Quân Uý gửi cho Lã Bất Vi một mảnh lụa bạc, trên đó là dòng chữ nhỏ nhắn nắn nót: “Con đi Hàm Đan đây”. Phùng Quân Uý vừa giận vừa thương người con gái nuôi đã ra đi mà không một lời từ biệt. Lã Bất Vi miện an ủi Phùng Quân Uý nhưng trong lòng chàng đang nghĩ đến cảnh người con gái một thân một mình lang thang trên từng con phố nhỏ nơi đô thành rộng lớn xa lạ với bao mối hiểm nguy.
Lã Bất Vi biết rõ khắp đường phố ngõ ngách ở cái thành Hàm Đan đất rộng người đông này để hỏi một cô gái tên là Hoàng Phủ Kiều thì chẳng khác gì mò kim đáy bể. Mấy ngày trời đội mưa đội tuyết tìm kiếm mà dã tràng xe cát. Chàng vừa cảm phục ý chí người con gái trọng tình anh em, vừa giận hành động bướng bỉnh điên rồ của nàng khiến chàng phải lao tâm khổ tứ như thế này.
Có điều, Lã Bất Vi hoàn toàn chẳng thể ngờ rằng, chính bước chân tìm kiếm của chàng in dấu trên con đường phủ tuyết trắng đang dẫn chàng đến với một mảnh đất mới cho cái nghiệp làm thương nhân của chàng.
Khi ta men theo dòng chảy thời gian, cùng bước chân của Lã Bất Vi trên con đường tìm kiếm kế sinh nhai, tìm kiếm những mốc đáng chú ý của lịch sử, ta rút ra kết luận Lã Bất Vi là kiểu thương nhân luân có khả năng có phát hiện mới cho công việc buôn bán của mình.
Khi Lã Bất Vi đang ở Hàm Đan thì nước Triệu xảy ra một sự kiện chính trị quan trọng. Chính sự kiện này đã khiến cho Bất Vi hiểu được thế nào là món lời kếch sù do một viên ngọc nhỏ đem lại. Sự kiện xảy ra ở nước Triệu chính là cuộc đấu tranh ngoại giao xung quanh viên ngọc - ngọc bích họ Hoà.
Về lai lịch viên ngọc bích họ Hoà, “Hàn Phi Tử, Hoà Thị Bích”. Có viết như sau: trước kia có người nước Sở, tên là Biện Hoà, nhặt được ở núi Kim Sơn một viên ngọc quý vẫn chưa mài rũa mang hiến cho Sở Lệ Vương, Sở Lệ Vương sai người thợ ngọc xem thử, thợ ngọc nói là đá. Sở Vương cho rằng, Biện Hoà mang ngọc giả đến lừa dối mình, phán xử Biện Hoà tội hình, chặt của anh ta chân phải. Sau khi Lệ Vương chết, Sở Vũ Vương kế vị, Biện Hoà lại đem hiến viên ngọc, Vũ Vương sai thợ ngọc kiểm tra, thợ ngọc lại nói đây là một hòn đá, Vũ Vương lại chặt chân trái của Biện Hoà. Sau khi Sở Vũ Vương chết, Sở Văn Vương kế vị, Biện Hoà không dám mang ngọc đi tặng nữa mà ôm viên ngọc khóc ở núi Kinh Sơn ba ngày ba đêm, chảy khô cả nước mắt, chảy cả ra máu. Sở Văn Vương nghe được tin này cho người đến hỏi tại sao lại khóc thống thiết như vậy? Biện Hoà trả lời: “Tôi không phải bị chặt mất hai chân mà đau buồn. Tôi đau buồn vì tôi hiến ngọc cho đại vương rành rành là một viên ngọc quý, lại nói nó là đá; rõ ràng là kẻ trung thần thì lại nói là lừa dối. Đây là cái cớ vì sao tôi đau buồn!”
Vậy là Sở Văn Vương đem cho người thợ mài ngọc rũa, quả là một viên bảo ngọc màu sắc loá mắt, trên đời chỉ có một. Gọi nó là Ngọc Bích họ Hoà.
Thấm thoắt thoi đưa, đến năm 283 trước CN, Ngọc bích họ Hoà đã trở thành báu vật trong tay Huệ Văn Vương nước Triệu. Các nước chưa hầu và sứ thần của họ khi đến Hàm Đan đều yêu cầu Huệ Văn Vương mang Ngọc Bích họ Hoà cho họ xem, lấy làm no mắt. Phàm những ai đã xem qua viên ngọc này đều không ngớt lời ca tụng.
Khi đó nước Tần đã trở thành một trong thất hùng thời Chiến Quốc. Tần Chiêu Tương Vương rất ao ước có được Ngọc Bích họ Hoà, vì vậy ông ta phái sứ giả mang quốc thư sang bái kiến Huệ Văn Vương nước Triệu, nói muốn đổi mười năm thành trì lấy viên ngọc đó. Huệ Văn Vương xem xong bức thư bèn cùng đại tướng quân anh dũng thiện chiến Liêm Pha cùng các đại thần bàn bạc, muốn đem Ngọc Bích họ Hoà mang sang nước Tần nhưng lại sợ Tần Vương bội tín không giao mười năm thành trì, sẽ bị lừa; nếu không đem viên ngọc sang Tần lại sợ bị Tần Vương đánh. Huệ Văn Vương cùng bá quan văn võ bàn bạc đi bàn bạc lại nhưng vẫn không đưa ra được một kế sách vẹn toàn. Trong khi đó, việc đồng ý hay không đồng ý đem viên ngọc đổi mười năm thành trì nước Tần cũng phải trả lời sớm. Chọn đi chọn lại cũng không tìm ra ai đi sứ nước Tần. Huệ Văn Vương vô cùng lo lắng. Chính lúc đó, quan Tổng quản Diệu Hiền tiến cử một người với Huệ Văn Vương: “Môn khách tại hạ có Lạn Tương Như trí dũng song toàn, tôi thấy để người đó đi sứ nước Tần là hợp lý nhất”. Huệ Văn Vương bèn cho triệu kiến Lạn Tương Như tại cung tấu Dương, Huệ Văn Vương nói: “Tần Vương muốn đổi viên Ngọc Bích họ Hoà lấy mười năm thành trì, ông thấy thế nào?”
Lạn Tương Như thẳng thắn nói: “Nước Tần mạnh, nước Triệu yếu. Chúng ta không thể không đồng ý”. Huệ Văn Vương lo lắng hỏi: “Điều quả nhân lo lắng là nếu Tần Vương có được ngọc quý của quả nhân rồi lại không giao thành trì cho chúng ta nữa, lúc đó làm thế nào?”.
Lạn Tương Như đã có chủ định sẵn nói: “Nước Tần dùng mười năm thành trì đổi lấy viên Ngọc Bích họ Hoà của nước Triệu, Triệu không đồng ý tức là Triệu đuối lý, Triệu đem ngọc bích sang Tần, Tần không trao mười năm thành trì cho Triệu, vậy thì nước Tần đuối lý. Hai cái này cái nào hay hơn? Tôi thấy đem viên Ngọc Bích họ Hoà sang nước Tần vẫn là thượng sách. Tôi phụng chỉ đi sứ, nếu quả thật nước Tần đem mười năm thành trì trả cho Triệu, tôi sẽ để viên ngọc lại Tần và đem bản đồ mười năm thành trì về; nếu Tần không giao mười năm thành trì, tôi sẽ đem viên ngọc về nguyên vẹn”.
Huệ Văn Vương thấy Lạn Tương Như nói năng trôi chảy, có chủ kiến liền phái ông làm sứ thần mang ngọc đi sứ nước Tần. Tần Chiêu Vương triệu kiến Lạn Tương Như trong Chương Đài, Lạn Tương Như mang Ngọc Bích họ Hoà trình lên, Chiêu Tương Vương nhận lấy viên ngọc yêu thích không muốn rời tay, ngắm đi ngắm lại, rất vui sướng. Sau đó đưa cho bọn thị tì, cung nữ và ái thiếp xem. Mọi người đều vô cùng tán thưởng, đồng loạt chúc mừng TầnVương.
Một mình Lạn Tương Như bị bỏ quên dưới điện, đứng đợi rất lâu không thấy Tần Vương nhắc tới chuyện giao cắt mười năm thành trì. Lạn Tương Như nghĩ: “Tần Vương quả nhiên muốn chiếm đoạt viên ngọc họ Hoà này”. Ông bèn nói với Tần Vương: “Trên viên ngọc có một chút vết, xin để tôi chỉ cho Đại Vương xem”.
Tần Chiêu Vương đem viên ngọc đưa cho Lạn Tương Như nói: “Viên ngọc hoàn mĩ như thế này, sao quả nhân không thấy vết nứt của nó?”
Lạn Tương Như nắm chặt viên ngọc, lui lại mấy bước, sát vào cây cột trong cung, phẫn nộ nói với Tần Vương: “Đại Vương muốn có được viên ngọc quý này, sai người đưa thư cho Triệu Vương tôi, Triệu Vương triệu tập bá quan văn võ bàn bạc, mọi người đều nói: “Nước Tần lòng tham vô đáy, dùng thế mạnh bức người, muốn dùng mấy lời nói suông để lừa bịp nước Triệu lấy viên ngọc”. Vậy nên sau khi bàn bạc không muốn đem viên ngọc này đi. Nhưng tôi cho rằng, dân thường khi giao kết với nhau còn biết giữ tín nghĩa, không đến nỗi lừa dối nhau, huống hồ đường đường là quân vương nước lớn! Và lại vì một viên ngọc mà để mất hoà khí với nước Tần, như thế không tốt. Triệu Vương nghe lời tôi, trai giới năm ngày, trên triều đình đích thân giao quốc thư cho tôi, sai tôi mang ngọc bích sang Tần. Đây là Triệu Vương tôn trọng uy vong của đại vương, biểu thị đặc biệt tôn kính! Giờ tôi đã đến quý quốc, Đại Vương không tiếp kiến tôi tại triều đình mà ở cung thất tầm thường, lễ tiết đơn giản, thái độ ngạo mạn còn đưa ngọc cho bọn mỹ nhân làm trò đùa với tôi. Tôi thấy ý Đại Vương không muốn giao cắt mười năm hành trì, muốn đoạt không lấy viên ngọc. Nếu Đại Vương nhất định muốn bức ép tôi, tôi tự nguyện mang cả đầu mình lẫn viên ngọc đập nát trước cây cột này”. Nói xong, Lạn Tương Như bê viên ngọc, nghiêng mắt nhìn cây cột, nộ khí bừng bừng, dường như sắp lao vào cây cột.
Tần Chiêu Tương Vương vô cùng hoảng sợ, sợ rằng sẽ vỡ mất viên ngọc quý vội tạ tội với Lạn Tương Như, khuyên ông không nên làm như vậy. Lại giả nhân giả nghĩa sai người mang bản đồ đến, chỉ cho Lạn Tương Như xem, mười năm toà thành từ chỗ này tới chỗ này sẽ trả về Triệu. Lạn Tương Như biết Tần Vương lòng dạ gian trá, ông nói với vua Tần: “Ngọc Bích họ Hoà là vật báu trong thiên hạ, Triệu Vương tuy rất yêu quý nó nhưng sợ thế nước Tần mạnh nên không dám không hiến cho đại vương. Trước khi Triệu Vương giao viên ngọc này đã từng trai giới năm ngày, bây giờ Đại Vương cũng cần trai giới năm ngày, cử hành nghi lễ long trọng trong triều, khi đó tôi sẽ dâng viên ngọc lên Đại Vương”.
Tần Chiêu Tương Vương không thể chiếm đoạt, đành phải đồng ý.
Lạn Tương Như biết rằng, Tần Chiêu Tương Vương nhất định sẽ bội ước, đêm đó ông sai một tên tuỳ tùng mặt quần gai áo ngắn giả làm dân thường, bí mật đem viên ngọc họ Hoà trở về nước Triệu.
Năm ngày sau, Tần Chiêu Tương Vương cử hành nghi lễ trọng thể tại Triều đình, chuẩn bị tiếp nhận viên ngọc. Lạn Tương Như hiên ngang đi vào triều, nói với Tần Vương: “Quý quốc từ Tần Mục Công đến nay, trước sau đã hai mươi mấy vị quân vương, chưa ai giữ tín bao giờ. Tôi cũng sợ bị đại vương lừa gạt cho nên đã sai người đem ngọc về Triệu. Tần là nước mạnh, Triệu là nước yếu. Chỉ cần nước Tần có thành ý đổi mười năm thành trì lấy ngọc thì hãy sai sứ thần sang Triệu, Triệu Vương không thể không đồng ý. Tôi biết đã lừa gạt Đại Vương, không coi trọng Đại Vương, xin Đại Vương cứ trị tội tôi!”.
Tần Vương và các đại thần nghe xong nhìn nhau, vừa tức giận nhưng cũng không biết làm thế nào. Đành phải thả Lạn Tương Như về Triệu.
Lạn Tương Như trở về. Vua Trịêu thấy ông là người có công đi sứ sang nước lân bang không để nhục quốc thể bèn phong ông là Thượng Đại Phu.
Mặc dù cả ngày đi tìm kiếm trong xóm nhưng tối về tệ xá ông lại nghiền ngẫm chuyện Lạn Tương Như. Giá của một viên ngọc bằng mười năm toà thành, là một vị thượng đại phu, là danh tiếng lưu truyền muôn thuở… Lã Bất Vi quyết định buôn bán vàng ngọc.
Mấy đêm nay, dưới ánh sáng bập bùng của ngọn nến, với chất giọng trầm bổng, Lã Bất Vi ngâm lại bài thơ mà ông đã đọc trong Kinh Thi miêu tả về ngọc. Trong đêm khuya thanh vắng ở Hàm Đan, giọng ngâm thơ càng thêm sâu lắng, một cảnh tượng đẹp đẽ chiếu rọi lòng ông, nó làm nảy sinh những cảm giác mãnh liệt với những viên ngọc lạnh lẽo kia.
Nước sông Ki chảy bên trái
Bên phải là đầu của con suối
Chàng thiếu niên xinh đẹp
Tiếng ngọc réo rắt vang
Bốn con ngựa to khoẻ
Cao lớn khí hiên ngang
Hân Hầu vào triều kiến
Dâng ngọc khuê làm quà
Quỳ phục bái Chu Vương
Thưởng cho người lễ vật bằng ngọc
Người có Quốc Bảo phóng quang minh
Đi đi, Quốc Cữu đang chinh chiến
Giữ cho miền nam mãi thanh bình.
Ngâm xong, Lã Bất Vi lại nghĩ đến những thủ thuật cần phải có sau này khi buôn bán ngọc, nó khiến ông cả đêm không ngủ. Bản thân Lã Bất Vi rất cẩn thận, ít khi làm việc gì một cách phiêu lưu, thiếu suy nghĩ. Trong khi đi tìm Hoàng Phủ Kiều ở Hàm Đan, ông đã đến các tiệm châu ngọc để khảo sát việc buôn bán.
Đây là một tiệm hàng buôn bán vàng bạc lớn nhất thành Hàm Đan. Những gì bày trí ở đây lộ rõ sự hưng thịnh của cửa hàng. Lã Bất Vi bước vào bên trong, màu sắc, ánh sáng của vàng bạc, ngọc ngà bao bọc ông, ông thấy như đang đứng giữa thiên thường với các cây cối toàn là vàng ngọc. Các loại ngọc được bày trí theo thứ tự, lấp lánh trong tủ, Lã Bất Vi thấy loá mắt. Sự bày trí, sắp xếp các loại ngọc chứng tỏ chủ tiệm là người rất sành sỏi trong kinh doanh. Dãy đầu là các loại ngọc dùng trong tế lễ như Khuê Bích, Hoàng Bích, chúng thường dùng làm vật làm tin và đem lại sự may mắn như khi vào triều kiến vua, minh ước, dẫn cưới, phúng viếng… Loại khác là vật trang sức như Quyết, Hoàng, Xuyến… Ngoài ra còn có một số loại ngọc khác.
Có người đã mô tả thế giới ngọc mà Lã Bất Vi đã xem như sau: Hồng Bảo Thạch như ánh lửa đỏ rực, Lam Bảo Thạch như trời xanh biển biếc, Thạch Lưu Thạch màu vàng pha đỏ, ánh sáng rực rỡ, Thuỷ Tinh Thạch lung linh trong suốt, đá mắt mèo mai vàng xanh, Ngọc Dương chỉ trắng như tuyết, Trân Châu hạt nhỏ trong suốt, giống đẩu tinh đầy trời, Ngọc Phỉ Thuý màu xanh bích ngưng lại như muốn níu giữ mùa xuân, Mã Não màu sắc rực rỡ như bảy sắc cầu vồng, San Hô cành lá rậm rạp, giống cây quỳnh cành ngọc… nhìn những viên ngọc được chạm khắc tinh tế, tỉ mỉ khiến ta liên tưởng tới:
Ông Bàn Cổ khai thiên lập địa, vũ dũng dựng càn khôn.
Nữ Oa luyện đá vá trời, nhi nữ vá trời xanh.
Nghệ bắn cung chín mặt trời, chống hạn cứu muôn loài.
Để giết Xuy Long, ngăn gió mưa, giết ác thú.
Chim Vệ ngậm đá lấp biển, nghĩa trùm bể đông.
Na Tra nức tiếng anh hùng, bắt yêu long giết hà bá
Thái Công câu cá, thần sắc thư nhà, chí ở ngàn dặm.
Vũ Vương kéo xe, ôn tồn cung kính, lễ đãi hiền sĩ.
Những ngọc phẩm này hàm chứa những câu chuyện thần kỳ. Những truyền thuyết đẹp. Ngoài ra còn có công tử đi săn, ngự giả đánh xe, võ sĩ chinh chiến, nông dân đi cày, quý nhân vày nước, mĩ nhân dạo chơi, lưỡng long chầu mặt ngọc, tam dương khai thái, lồng ngọc gà vàng, du long hí phượng…
Lã Bất Vi sau một lúc choáng ngợp, tươi cười đến bên người bán hàng trẻ tuổi, hỏi giá cả, nguồn gốc và tính chất của từng món hàng. Lã Bất Vi thấy chàng trai này mặt mũi thanh tú, khi nói chuyện gần gũi dễ gần. Trong tiếng ồn ào của người mua kẻ bán, Lã Bất Vi cố gắng thâu tóm tất cả các lời lẽ mà người làm công này nói. Theo Lã Bất Vi nó là kỹ xảo bán hàng. Lã Bất Vi chú ý nghe chàng trai nói về sự khác nhau giữa hai viên ngọc: viên chuyền ngọc này được làm ra ở nước Ngô, loại ngọc này được tạo hình đẹp đẽ, mài mã tinh vi, đó là đồ ngự dụng trong cung đình nước Ngô. Đặc điểm cơ bản của loại ngọc hiện nay là hình rắn cuộn, chim muông và hoa văn mây tụ trên bề mặt. Ngọc cứng được chế tác dưới thời chu thiên tử thường thô ráp, phần lớn thường trang trí hình con quỳ. Lát sau chàng trai này lại chỉ cho Lã Bất Vi một bộ ngọc bội nói, tốt nhất là tiêu thụ một nhóm ngọc bộí sáu chiếc, bán một bộ hai chiếc.
Nghe người này nói năng rất lưu loát, trôi chảy, Lã Bất Vi trong lòng rất khâm phục. Lã Bất Vi nghĩ mình mở cửa hàng vàng bạc tiền vốn nhờ bán ngựa cũng tạm đủ, tính toán quản lý mình có thể tự lo. Bây giờ chỉ thiếu một người hiểu biết về ngọc, nếu thiếu điều này thì buôn bán khó mà phát đạt được. Nghĩ đến đây, trong đầu Lã Bất Vi nảy ra suy nghĩ: mời chàng trai này theo mình về Bồ Dương mở cửa hàng vàng bạc. Trong cửa hàng người ra vào đông đúc, hơn nữa vì có chủ tiệm ở đây nên không tiện nói ra lời này. Lã Bất Vi tin rằng, chỉ cần trả tiền công thật cao thì có thể mời chàng trai này về chỗ của mình. Đã đi làm thuê ai chẳng muốn kiếm được nhiều tiền; sau khi cảm ơn chàng trai, Lã Bất Vi mang những suy nghĩ của mình rời khỏi cửa hàng. Ông ngước nhìn mặt trời đang treo trên đỉnh đầu, biết giờ đóng cửa của cửa hàng còn lâu mới tới, ông liền đi lang thang trên phố, vào những cửa hàng khác thăm thú và nhân tiện kiếm tìm Hoàng Phủ Nghĩa. Mặt trời chếch về phía tây, Lã Bất Vi biết trời đã về chiều, ông bèn tới một góc khuất của tiệm vàng kia dõi mắt hướng về phía cửa hàng. Người mua thưa vắng dần, nhà hàng bắt đầu đóng cửa. Những người làm công từng tốp nhỏ vừa ra về vừa chuyện trò vui vẻ. Lã Bất Vi chăm chú tìm kiếm những nét quen thuộc của chàng thanh niên kia, ông như kẻ vô công rồi nghề nhìn theo những người làm tan vào trong ngõ vắng. Cuối cùng thì ông cũng nhận ra chàng thanh niên trên con đường tuyết ngập chân người. Tiếng bước chân của những người đi làm về đã xa dần. Lã Bất Vi và chàng trai. Kẻ trước người sau đi trên con đường đầy tuyết. Trời mỗi lúc một tối, khoảng cách giữa Lã Bất Vi và chàng trai càng lúc càng gần. Những áng mây chiều gom lại những tia sáng cuối cùng, trên nền trời, những vì sao bắt đầu lấp lánh. Chàng trai đã về đến nhà. Anh đẩy cánh cửa đi vào một gian nhà cỏ, Lã Bất Vi cũng lập tức vào theo.
Người thanh niên đã sớm quên người khách trong cửa hàng ban ngày vì hàng ngày anh tiếp xúc với rất nhiều khách hàng, rất nhiều gương mặt mà anh đã gặp nhanh chóng trở nên xa lạ. Với vị khách không mời mà đến này, anh cảm thấy rất kinh ngạc. Với vẻ mặt hồ nghi, anh ta nói với Lã Bất Vi: “Tôi không biết ông là ai?”. Lã Bất Vi giới thiệu với anh ta về mình. Chàng trai hỏi: “Lã tiên sinh có việc gì cần tôi giúp đỡ chăng?” Lã Bất Vi nói rõ ý định của mình và khẩn thiết mong anh ta chấo nhận. Cuối cùng ông nói: “Tôi sẽ trả công cho anh cao”.
Chàng trai nói: “Lã tiên sinh thật biết người, tôi là Triệu Khả Tín, là người ông có thể tin cậy, tôi đồng ý đi theo ông”.
Một buổi sớm cuối đông đầu xuân, người dân Hàm Đan không để ý đến hai người sau khi rời khỏi thành, băng đi trong gió tuyết mịt mù. Không ai biết trước được rằng, một trong hai người đó sau này chính là người sẽ đem đến sự diệt vong cho nước Triệu của họ - Lã Bất Vi
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của mùa đông, Lã Bất Vi và cha mình là Lã Hâm ngồi nói chuyện với nhau về việc buôn bán ngọc. Có lẽ vì cái lạnh hay vì xúc động khiến cho những lời Lã Bất Vi nói thiếu đi sự mạch lạc, Lã Bất Vi hỏi: “Làm ruộng có thể thu lãi mấy lần?”
Người cha nói: “Mười lần”. Lã Bất Vi lại hỏi: “Buôn bán vàng ngọc lãi bao nhiêu lần?”
Lã Hâm nói: “Trăm lần”
Quả thực với việc buôn bán vàng ngọc sắp tới, trên đường đi, dưới sự giúp đỡ của Triệu Khả Tín, Lã Bất Vi đã suy đi tính lại nhiều lần. Sở dĩ ông bàn bạc lại với phụ thân là vì ông không muốn để cha buồn, cho ông là đứa con độc đoán.
Thấy Lã Bất Vi không đưa được Hoàng Phủ Kiều về, Lã Hâm rất buồn rầu, uất hận. Vậy mà khi nghe kế hoạch buôn bán vàng ngọc quy mô mà Lã Bất Vi nói nỗi buồn hận trong ông đã vơi đi phần nào. Một thời gian sau, cửa hàng buôn bán vàng ngọc của Lã Bất Vi đã được khai trương trên một con phố đông người qua lại ở thành Bồ Dương, bên ngoài treo một tấm biển đem lại sự may mắn: “Long xướng quảng”. Lã Bất Vi mua được hàng với giá rẻ nhưng lại bán với giá cao, ông mua ngọc cũ của người trong thành, đem về chế tác lại sau đó bán ra. Ông còn đi sang các mỏ vàng ngọc tại các nước chư hầu, mua về những món đồ hợp với nhu cầu của mọi người.
Công việc của Lã Bất Vi ngày càng trở nên bận rộn, ông đi tìm mua ngọc khắp nơi, cứ ba ngày lại phải tính toán hàng hoá kiểm tra sổ sách. Trong con mắt của người dân Bồ Dương, người môn khách từng bị đại sư Vệ Hằng không nhận khi xưa, nay đang làm trò ảo thuật kiếm được tiền nhiều như nước, họ căng mắt nhìn tài sản của Lã Bất Vi đang đầy lên. Tất cả đã thay đổi cách nhìn với Lã Bất Vi. Cứ ba ngày lại có chiếc xe chở hòm to hòm nhỏ nặng nề dừng trước “Long xướng quảng”. Lã Bất Vi ra hiệu, chỉ trỏ cho những người làm của mình nhanh chóng vận chuyển vào trong. Chỉ ít lâu sau, người đến cửa hàng mua bán đông nghịt. Lã Bất Vi cũng thường dùng những kỹ xảo nhỏ khuyếch trương hàng hoá, ví như mua một món ngọc quý được tặng một gói trà sen thơ… phàm mua một bộ ngọc bội hai chiếc thì một chiếc chỉ bán một nửa giá; nếu không có tiền mặt thì cũng có thể đổi bằng lúa, gạo, đồ sứ, mai đồi mồi… Sau đó ông đem tất cả những hàng hoá đổi với giá thấp này bán ra với giá cao.
Việc buôn bán ngọc quý của Lã Bất Vi không ngừng phát đạt, vậy mà ông vẫn cảm thấy chưa thoả mãn. Ông không phải hạng phú thương chỉ biết bo bo giữ của, ông có tham vọng dựa vào tiền bạc để làm chính trị.
Lã Bất Vi đã chọn đất xây thêm một khu nhà mới, bên trong cùng là lầu son gác tía, chín khúc hồi lang rồi đến đó ở. Lã Bất Vi nhìn thấy ánh mắt khó chịu của chủ tơ lụa họ Tống đối với nhà mình. Cuộc sống hào hoa phú quý, áo lông, ngựa béo, mâm ngọc, sơn hào hải vị đã khiến ông vĩnh viễn từ biệt với cuộc sống quẫn bách và lạnh lẽo trước kia. Vị môn khách trước kia mà nhà Vệ Hằng không dùng thì giờ đây cũng đã có môn khách. Điều ông thấy buồn nhiều nhất là vàng bạc càng lúc càng nhiều thì thời gian trong tay mỗi lúc một ít. Mặc dù thời gian nhàn rỗi rất ít, ông vẫn tiếp tục nghiền ngẫm, nghiên cứu quyển “Kế nhiên”. Mỗi khi ngồi trước cuốn sách, Lã Bất Vi lại nghĩ tới người biểu diễn xiếc rắn Hoàng Phủ Nghĩa. Không biết bây giờ anh ta cùng con rắn của mình lăn lộn ở góc phố nào, biết đến bao giờ mới gặp lại vị hạo nhiên quân tử này? Mỗi khi đọc được một thiên “Kế nhiên…” Lã Bất Vi đều thấy được sức mạnh và tác dụng của sách vở. Từ sớm Lã Bất Vi đã manh nha ước vọng soạn sách, ông muốn cùng môn khách viết một bộ sách bao quát tất cả mọi sự vật trong thiên hạ, tập hợp mọi chước tác của bạch gia chư tử, lưu lại cho muôn đời sau. Chẳng phải đã có một bộ “Án Tử Xuân Thu” của học sĩ Nha Tử đã truyền tụng hay sao, ta cần phải viết một bộ sách như thế, sẽ lấy tên “Lã Thị Xuân Thu”. Ông thấy trong thời đại trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng này, có thể đưa ra được một giọng điệu riêng trong tư tưởng, cũng như một cuộc buôn bán vốn mỏng lãi lớn khiến ta sung sướng, ngây ngất.
Có một việc khác khiến Lã Bất Vi trong lòng bối rối, lo lắng không yên. Đó chính là Hoàng Phủ Kiều bỏ đi không để lại chút tin tức gì. Ông vừa mua bán vừa tìm kiếm. Thậm chí còn phái một số môn khách tới các nước chư hầu dân biển tìm kiếm. Trai lớn lấy vợ, gái lớn gả chồng, Lã Bất Vi đã đến cái tuổi lấy vợ sinh con, hơn nữa làm ăn buôn bán lại đang hết sức hưng thịnh.
Lã Bất Vi biết có ba thê bảy thiếp cũng là thói phong lưu thường tình của các bậc đại trượng phu. Vậy mà, Lã Bất Vi muốn đem vị chí danh chính ngôn thuận của người vợ chính cho người mà ông ngày đêm mộng tưởng – Hoàng Phủ Kiều. Nếu không tìm được tin Hoàng Phủ Kiều, Lã Bất Vi sẽ phải chọn người nào vào vị trí đó?
Một hôm, một người khách diện mạo bí hiểm đến cửa hàng, xem cách ăn mặc và giọng nói giống như người nước Triệu đến từ thành Hàm Đan. Ông ta kéo Lã Bất Vi sang một bên nói nhỏ: “Có ngọc khuê không?”. Lã Bất Vi lắc đầu. Người kia nói: “Tôi có thể trả giá cao”. Lã Bất Vi hỏi: “Ông có thể mua được bao nhiêu?”. Người kia trả lời: “Năm kiệu”.
Chà! Lã Bất Vi kinh ngạc. Như vậy phải dùng đến năm ngàn lạng vàng! “Ông mua nhiều ngọc khuê như thế để làm gì?”
Người kia cũng nhìn thái độ bán tín bán nghi của Lã Bất Vi nói rất thần bí: “Nói cho ông biết nhé, tôi đến từ Hàm Đan, phụng chiếu lệnh của Triệu Vương đi mua ngọc khuê, vì Triệu Vương sắp phong quan phong ấp”.
Lã Bất Vi trầm tư nói: “Được, một tháng nữa ông đến lấy hàng”. Người kia nói: “Được”.
Lã Bất Vi nói: “Tốt nhất ông để lại chút vàng làm tin”. Người kia lôi trong ngực ra một trăm lạng vàng. Lã Bất Vi nghe nói có nợ là Lạc Phượng Ba sản xuất ra loại ngọc khuê này, quyết định cùng Triệu Khả Tín đến đó.
Thương hải tang điền, trời đất đổi thay. Thân Hầu ngươi đã vì thiên tử năm nào vào sinh ra tử giúp đỡ thái tử Nghi Cữu làm chủ giang sơn xã tắc, bây giờ đã tuyệt tự. Mỏ ngọc đã trở thành sản nghiệp trong đất phong của một vị đại phu nước Tề. Ở đây bán cả loại ngọc thô và ngọc đã qua chế tác. Vị đại phu nước Tề này, trên bãi đất rộng rãi và bằng phẳng trước Lạc Phượng Ba đã cho xây thêm một kỳ đình mái hiên, đó là trụ sở quản lý các hoạt động chợ búa. Đứng trên kì đình có thể nhìn thấy xe cộ của thương nhân các nước qua lại không dứt, bụi bay mù mịt.
Đây là lần đầu Lã Bất Vi thấy một mỏ ngọc sản xuất sầm uất đến thế. Không thể kìm được sự trầm trồ thán phục. Triệu Khả Tín từ lâu đứng bên cạnh nói, hai năm trước qua đây, vẫn chưa thấy có sự thịnh vượng như vậy.
Trong nhà hàng để mẫu, Lã Bất Vi bị ánh sáng chiếu rọi của các loại ngọc xếp tầng tầng lớp lớp làm hoa cả mắt. Lã Bất Vi nhắm mắt bình tâm lại, sau đó mới tập trung được ánh mắt của mình quan sát vào thế giới của các loại ngọc.
Lã Bất Vi đang chăm chú quan sát một lô ngọc khuê đắt tiền. Quan sát hồi lâu, ông xoa xoa lên bề mặt những viên ngọc, chúng phát ra những âm thanh vang dài. Lã Bất Vi dùng mắt nói cho Triệu Khả Tín biết, ông đã tìm được chỗ ngọc ưng ý.
Triệu Khả Tín thì thầm với Lã Bất Vi một hồi lâu, Lã Bất Vi đã biết, Triệu Khả Tín nhắc Lã Bất Vi rằng chỗ ngọc này dùng để định tước vị vương công quý thích. Ở đây buôn bán thoải mái nhưng ở nước Vệ nghiêm cấm việc buôn bán và vận chuyển ngọc. “Chu Lễ, Xuân Quan, Đại Tông Bá” quy định: “Dùng ngọc định ra sáu bậc, phân loại quý tộc: Vương Cầm Trần Khuê, Công Cầm Hằng Khuê, Hầu Cầm Tín Khuê, Bá Cầm Cung Khuê, Tử Cầm Cốc Bích, Nam Cầm Bạch Bích… Qua đó cho thấy những ngọc khuê này không thể tuỳ tiện mua bán mà ngoài Vương, Công, Hầu, Bá, Tử, Nam ra thì những người khác cũng không được đeo và sở hữu.
Lã Bất Vi nói: “Ta có cách, mua về chúng ta sẽ không bán ở thành Bồ Dương”.
Lã Bất Vi thấy khi ông và Triệu Khả Tín nói chuyện với nhau, có ánh mắt thỉnh thoảng liếc xéo về phía họ. Lã Bất Vi chăm chú nhìn đôi mắt lia láu trên khuôn mặt kia một hồi lâu, ký ức bị ngủ quên mới tỉnh lại. Đó là một khuôn mặt dường như đã quen, Lã Bất Vi lục tìm trong ký ức một hồi lâu, cuối cùng vẫn không nhớ ra đó là ai.
Triệu Khả Tín không chú ý đến biểu hiện của Lã Bất Vi và người kia, anh ta nói với Lã Bất Vi: “Lã tiên sinh, buôn bán khuê bích dĩ nhiên là một vốn bốn lời. Nhưng ngộ nhỡ bị kiểm tra, hàng hoá bị thu, vốn đã mất lại còn chịu phạt nữa”.
Lã Bất Vi nói: “Người không phải lo trời sập như thế, ta khắc có cách”.
Lã Bất Vi đã bỏ ra một khoản tiền lớn để mua đầy hòm khuê bích. Vào một buổi sáng còn đẫm hơi sương ông cho xuất lên xe ngựa nhằm hướng Bồ Dương xuất phát.
Khi chiếc xe ngựa của Lã Bất Vi đang đi trên con đường núi quanh co thì một con tuấn mã cũng đang theo hướng đó phóng như bay. Người cưỡi trên ngựa chính là người đã nhìn trộm Lã Bất Vi ở tiệm ngọc, Lã Bất Vi không biết rằng, người này chính là em của Tống Kì, hàng xóm cũ của ông. Anh ta tên là Tống Hoảng. Vì người em này có nhiều đặc điểm giống anh trai của mình, cho nên Lã Bất Vi cảm thấy Tống Hoảng có nét gì đó rất quen. Nhà nạp thần Tống Kì xây được mọi người tán thưởng. Vệ Nguyên Quân rất hài lòng, phong tặng cho con của ông ta Tống Hoảng làm Tề nhân chuyên đặt mua các đồ ngọc khí cho cung đình. Do tính chất công việc khiến ông ta thường xuyên qua lại giữa các mỏ ngọc ở Lạc Phượng Ba và thành Bồ Dương.
Lã Bất Vi vừa tới đấy, Tống Hoảng đã nhận ngay ra ông. Ông ta trước mặt vua thì sợ hãi rụt rè nhưng, trong con mắt người khác lại là hình tượng uy quyền. Vừa thấy Lã Bất Vi trong nơi để hàng mẫu, ông ta đã thấy kẻ đối đầu với nhà mình trước kia đang mua ngọc mà nhà vua đã cấm. Ông ta quan sát rất lâu, không bỏ qua một cử động nhỏ nào của Lã Bất Vi.
Đợi cho xe của Lã Bất Vi về gần tới thành Bồ Dương. Vị Tư Khấu nắm hình phạt dẫn một nhóm quân sĩ đứng hai bên cổng thành đang chăm chú đợi xe của Lã Bất Vi chạy tới cổng thành thì bị chặn lại. Người có bộ mặt uy nghiêm là Tư Khấu chưa từng giáp mặt Lã Bất Vi mà mới chỉ nghe qua sự miêu tả của Tống Hoảng, giờ nhìn thấy một vị thương nhân có thân thể nở nang ngồi trên xe ngựa, thì nhận ra ngay là Lã Bất Vi.
Từ trên xe bước xuống, Lã Bất Vi kéo Triệu Khả Tín đang run rẩy ra phía sau lưng, sau khi chắp tay hành lễ, ông thẳng thắn hỏi: “Tư Khấu đại nhân, sao lại truy hỏi người thương gia như tôi?”
Tư Khấu nói: “Tôi muốn đợi xem xem quý thương gia mua được những thứ ngọc quý gì từ dốc Lạc Phượng”.
Lã Bất Vi chỉ tay vào hòm hàng trên xe nói: “Tuân mệnh”. Sau khi Lã Bất Vi để cho Triệu Khả Tín mở nắp hòm hàng, đám lính tay chân khua khoắng, cởi bỏ sợi dây buộc túi, tất cả ngọc đều bị đổ xuống nền đất; sau đó từng thùng, từng thùng cũng được mở ra. Những cơn gió mềm mại thổi lướt qua những viên ngọc lấp lánh ánh sáng, óng ánh như những dải lụa đang rủ xuống.
Lã Bất Vi nhìn thấy vẻ mặt đắc ý tự mãn của Tư Khấu cùng ánh mắt sắc nhọn ác hiểm của y.
Tư Khấu nói: “Những thứ ngọc khí này, vua đã cấm, các người đã phạm vào điều cấm, hãy đi theo bọn ta!”.
Lã Bất Vi cười khẩy nói: “Tư Khấu đại nhân, hòm hàng của tôi có hai tầng, không thể chỉ kiểm tra lớp thứ một mà không kiểm tra lớp thứ hai. Dưới lớp vách ngăn còn có món hàng nữa đấy!”
Tư Khấu có chút ngạc nhiên, sai đám lính lục soát lại lần nữa. Quả nhiên, một tên lính nhìn thấy có một lớp vách ngăn, sau khi mở ra thì không thấy vật gì cả, chỉ thấy một miếng thẻ tre. Tư Khấu lấy lên xem qua, chỉ thấy những nét chữ rất chỉnh tề viết: “Xin kính dâng lên đấng tối cao Vệ Nguyên Quân một chút ngọc mọn, gọi là có chút ít biểu thị sự chúc phúc. Đại phu Tề Quốc Trịnh Doanh. Tư Khấu mơ hồ hỏi: “Đại phu Tề Quốc Trịnh Doanh là ai vậy?”
Lã Bất Vi cười lớn nói: “Tư Khấu đại nhân hiểu biết ít cũng chẳng đáng trách, người có tiếng tăm lừng lẫy của dốc Lạc Phượng chính là ấp của ông ấy. Ông ấy do bận việc không có thời gian nên bảo ta chuyển lên cho Vệ Nguyên Quân. Tư Khấu đại nhân nghĩ xem, số ngọc khí này sẽ do tôi trình lên hay do đại nhân đưa vào cung đây?”
Trên mặt Tư Khấu có một chút ngượng ngùng, ấp úng nói: “Vẫn là người trình lên chứ”.
Lã Bất Vi lại thấy những viên quan uý đó cẩn thận liệm những viên ngọc đóng gói cẩn thận và xếp lại vào trong hòm.
Trên đường đi đến tiệm ngọc “Long xương quảng”. Triệu Khả Tín trong lòng chưa hết sợ hãi nói: “Tôi sợ toát cả mồ hôi thay cho Lã tiên sinh! Ngộ nhỡ bị bại lộ thì không dễ gì kết thúc chuyện này đâu”.
Lã Bất Vi nói: “Ngươi thử nghĩ xen, có ai lại dám đi hỏi vua, là có hay không đại phu nước Tề Trịnh Doanh đem ngọc quý cho đại vương”.
Triệu Khả Tín nói: “Ngược lại, tôi chỉ cảm thấy chuyện này rất nguy hiểm”.
Lã Bất Vi nói: “Làm ăn chân chất, há có mấy ai phát tài được? Muốn vơ vét của cải để trở nên giàu có thì phải dám lao vào chỗ mạo hiểm. Có những cái mạo hiểm nhìn từ bên ngoài thì kinh sợ, vào sinh ra tử, nhưng nếu từ bên ngoài quan sát kỹ xuyên vào bên trong, thì lại không phải là như vậy. Cứ nói đến chuyến đi đến dốc Lạc Phượng để mua những thứ ngọc quý này của chúng ta thì cũng chẳng giống như những hậu quả không thể tưởng tượng nổi mà ngươi lo lắng. Trừ những điều ta vừa nói, thì không có ai dám tới chỗ vua để hỏi xem có nhận được tặng vật của đại phu Tề Quốc Trịnh Doanh hay không? Ngươi thử nghĩ mà xem, Trịnh Doanh sống ở trong thành ấp của ông ta, cách dốc Lạc Phượng mấy trăm dặm thì việc điều tra cũng chẳng lấy gì làm dễ cả! Dù cho nhà vua có cho rằng đúng là có việc Trịnh Doanh tặng biếu ông ta ngọc bích, thì chỉ cần chúng ta bỏ ra vài kiệu biếu tặng ông ấy là có thể chuyển hoạ thành tốt.
Lã Bất Vi cũng chẳng đưa số ngọc bích trên về tiệm “Long xương quảng” mà lại ngầm mang về giấu ở đệ phủ của mình. Chỉ vài ngày sau là Trung Thứ Tử của nước Triệu sẽ cho người tới lấy số ngọc bích này, thế là Lã Bất Vi lại kiếm được khoản tiền lớn.
Được mấy ngày sau, tên quan uý họ Phùng hấp tấp chạy đến phủ đệ của Lã Bất Vi và nói với Lã Bất Vi rằng có người đặt lời gièm pha trước mặt Vệ Nguyên Quân, nói rằng ngài buôn bán phi pháp, vận chuyển ngọc bích mà vua cấm bán, Vệ Nguyên Quân vẫn còn chưa xác định được đúng hay sai. Nhân tình hình này, hãy cao chạy xa bay, tới các nước chư hầu khác để buôn bán. Chỉ cần có bản lĩnh thì tới đâu cũng có thể làm ăn phát tài được. Nhân tiện, còn có thể nghe ngóng tin tức của Hoàng Phủ Kiều.
Lã Bất Vi hỏi: “Không biết kẻ tiểu nhân ấy là ai?”
Viên quan uý họ Phùng nói: “Nghe nói là người giúp Vệ Nguyên Quân đặt mua ngọc bích của Tề nhân Tống Hoảng, anh ta có thể gặp vua bất cứ lúc nào, nói không ngoa với ngài rằng, ngài có đề phòng cũng không thắng được đâu. Không chừng, nếu lần này Vệ Nguyên Quân tin cho là phải mà giáng tội thì có hối cũng muộn rồi”.
Lã Bất Vi nói: “Lời của quan uý nói rất có lý. Thế giới vô biên, đất trời rộng lớn, chắc sẽ có chỗ để ta làm ăn chứ!”
Tên quan uý họ Phùng nói: “Vậy bây giờ ngài định đi đâu, việc này phải quyết sớm chứ không thể muộn được”.
Lã Bất Vi sau một hồi suy ngẫm, ông nói một cách quả quyết rằng: “Vậy thì tôi sẽ đi Đô thành Dương Trác nước Hàn!”
Tên quan uý họ Phùng nói: “Khi nào có tin tức của Hoàng Phủ Kiều, hãy lập tức báo cho tôi biết”.
Tổ tiên của người Hàn cùng với Chu Thiên Tử, cùng có họ Cơ. Con thừa kế của ông ta sau này phụng dưỡng vua nước Phổ, được phong Hàn Nguyên, gọi là “Hàn Vũ Tử”. Hàn Vũ Tử truyền ngôi được ba đời, Hàn Quyết làm thống soái ba quân cho nước Phổ giúp Phổ Cảnh Công đánh bại Tề Khoảnh Công và trở thành quan uý một trong sáu công thần hiển hách. Bắt đầu từ Hàn Quyết dùng phong ấp làm họ, không còn dùng họ Cơ nữa.
Khi Lã Bất Vi tới nước Hàn buôn bán, lúc bấy giờ Thái tử Cữu lên làm vua, chính là Hàn Li Vương. Đô thành Dương Trác của nước Hàn cũng là một thành ấp rất phồn hoa của thời Chiến Quốc. Lã Bất Vi chuyển tiệm bán ngọc của mình đến Dương Trác, ông vẫn dùng cái tên vốn có của nó là cửa hiệu “Long Xương Quảng”. Sống ở đất khách quê người, Lã Bất Vi vẫn kiên trì trên con đường làm giàu. Lịch sử làm giàu của Lã Bất Vi như là đề tài sống động dưới ngòi bút của rất nhiều nhà lịch sử học. Những nhà du thuýêt tung hoành thời Chiến Quốc đã viết: “Chiến Quốc sách. Người Bộc Dương Lã Bất Vi, nhà buôn ở Hàm Đan”. Tư Mã Thiên đời Hán viết cuốn “Sử ký. Lã Bất Vi liệt truyện”. Mã Túc đời Thanh viết cuốn “Dịch sử. Tướng Tần Lã Bất Vi”.
Trong những điển tích này đều không thể thiếu được những câu chuyện kể sinh động về những việc buôn bán của Lã Bất Vi ở Dương Trác và sự tích luỹ hàng ngàn lạng vàng của ông cho gia đình.
Nhưng ở tại Đô thành của người Hán, những truyền kỳ về sự gặp gỡ tình cờ giữa Lã Bất Vi và Hoàng Phủ Kiều càng làm xúc động lòng người hơn so với cuộc làm ăn buôn bán của ông.
Vừa mới tới, Lã Bất Vi vẫn chưa dốc toàn sức vào việc đi tìm Hoàng Phủ Kiều, người mà lâu rồi ông không được gặp mặt. Không phải là ông đã quên lãng người con gái có dáng vẻ dong dỏng, phong thái nhẹ nhàng đó mà là ông đang chìm sâu trong tình sâu nghĩa nặng với một người. Đối với việc cần phải thay đổi từ một phú ông giàu có tới một chức quan trong triều đình, ở vào hoàn cảnh không thân không sơ này thì Lã Bất Vi không thể dễ dàng bỏ qua một người khách thân cận với nhà vua tới từ nước Hàn được.
Ánh nắng của mùa đông giống như dòng nước lười nhác chảy vào cửa hiệu, những chiếc tủ kính bày bán ngọc trai lạnh lẽo được trùm lên một luồng khí ấm áp. Khi cánh cửa tiệm được mỏ ra, một vị khách ăn mặc lịch lãm bước vào. Lã Bất Vi nhìn ra phía ngoài, vị khách này tuổi tác có lẽ chỉ bằng ông hoặc hơn ông vài tuổi. Ông ta có dáng vẻ gày guộc, trắng xanh của một nho sĩ. Sau một hồi đi đi lại lại, Lã Bất Vi đã biết được tên ông ta là Hàn Trọng Anh. Ông ta là khách khanh kề cận bên cạnh Hàn Li Vương. Ở các nước chư hầu thì hạng khách khanh như thế này không được coi trọng lắm, nhưng ở nước Hàn thì lại có thể nhận được rất nhiều bổng lộc, chính vì thế trong bảng “quan chức tiên tần” viết: “Người nước Hàn rất coi trọng khách khanh và chức này chỉ có dưới Tướng quốc”.
Vị khách khanh có lối ăn nói trau chuốt này dường như có điều gì bí ẩn. Ông ta là người đến “Long Xương Quảng” nhiều nhất. Ông ta không cò kè thêm bớt giống với bất kỳ một người khách nào. Sau khi quan sát kỹ một hồi và hỏi rõ giá cả và trả tiền ngay. Ngày này qua ngày khác, Lã Bất Vi phát hiện ra rằng số ngọc bích mà ông ta mua toàn là thứ hàng rẻ nhất. Có một lần Lã Bất Vi lấy một viên ngọc quý - ngọc Toàn Cơ - và bán cho ông ta bằng giá của một viên ngọc bích. Ông ta từ chối nhiều lần vì lý do ông ta chẳng có công cán gì nên không tiện nhận. Để báo đáp tấm thịnh tình của Lã Bất Vi, ông ta đã mời Lã Bất Vi tới phủ đệ của mình dự yến tiệc.
Phủ đệ của Hàn Trọng Anh so với tưởng tượng của Lã Bất Vi thì rất khiêm tốn hơn nhiều và giản dị hơn nhiều so với ngôi nhà của ông. Trong cái bất ngờ đó, Lã Bất Vi vô hình chung lại có một cảm giác ưu việt. Sau khi vào tới phòng khách, thì ông mới thấy những tiên đoán của mình là đúng. Vị khách khanh mua ngọc khi này thực chất là để thu gom. Nhìn gia cảnh và những gì ông ta mua được, Lã Bất Vi mới biết được vị khách khanh này là người rất giàu có nhưng khiêm nhường. Hàn Trọng Anh dường như đã hiểu rõ nội tâm của Lã Bất Vi. Ông ta tự phân trần giảng giải: “Chút bổng lộc mọn ấy mà”.
Tuy không có gì là quý báu đẹp đẽ nhưng những người hầu của Hàn Trọng Anh vẫn bày ra một bữa tiệc khác thường. Trên bàn ăn thịnh soạn đầy rượu và thức ăn. Trong lúc Lã Bất Vi và Hàn Trọng Anh ngồi đàm đạo với nhau, từ chuyện bảo ngọc tới đạo đức văn chương, từ tình hình nước Hàn tới cục thế của thiên hạ, hai người đều cảm thấy đối phương của mình tài cán hơn người, là trụ cột của đất nước.
Hàn Trọng Anh thật thà nói: “Dựa vào những tài cán kinh doanh và học thức của Lã hiền đệ, hai chân không thể đi tới triều đình, chỉ có thể quanh quẩn vài bước trong ngoài quầy hàng, đúng là không được thoải mái, trí không được phát triển!”. Lã Bất Vi trầm tư: “Ở đời ai chẳng thích được tiến thẳng tạo công lập nghiệp, nhưng khổ nỗi là không có đường tiến và cũng không có chỗ bám dựa!”. Hàn Trọng Anh nói: “Nếu như hiền đệ thực sự muốn chen chân vào chốn cung đình, bước lên cửa rồng, có một người sau này sẽ giúp hiền đệ được!” Lã Bất Vi hỏi: “Người ấy là ai vậy?” Hàn Trọng Anh nói: “Lý Triển, con người này rất có chí hướng, văn võ song toàn, từng làm thầy dạy cho thái tử Hoàn, là người vạch mưu sách, tìm mưu kế cho thái tử, tình như thủ túc. Có một lần do sơ ý có lời đắc tội với Đại Vương đã bị bãi xuống làm dân thường. Rồi một ngày núi non như sụp đổ, đại vương băng hà, thái tử Hoàn lên làm vua, trao cho Lý Triển ấn Tướng quốc. Bây giờ Lý Triển phải sống ở nơi sông núi khốn quẫn, lấy việc kiếm củi câu cá làm nghề. Nếu như bây giờ hiền đệ khẳng khái mở hầu bao, lúc đói cho cơm, một ngày nào đó con rồng ở núi đông uốn mình trỗi dậy trở lại, tất sẽ phải báo đáp tri ân, tiến cử người hiền có năng lực, lúc đó cuộc sống quân thần của hiền đệ chắc chắn sẽ nhiều triển vọng lắm!”. Lã Bất Vi nói: “Nên làm như thế nào, xin huynh trưởng chỉ giáo cho vài điều”. Hàn Trọng Anh nói: “Lý Triển bây giờ đang ngụ tại thôn Tuyết Nê, đông thành Dương Trác. Trước tiên hiền đệ hãy đến hỏi thăm, dốc bầu tâm sự, kề gối nói chuyện với nhau là được rồi”. Lã Bất Vi nói: “Đến đó với hai bàn tay trắng thì còn gì là có ý kính trọng người ta nữa. Vậy nếu mang theo lễ vật đến có đường đột hay không?” Hàn Trọng Anh cười lớn và nói: “Các người là dân buôn bán, lời đi đôi với lợi, chuyện gì cũng lấy tiền bạc ra để nói. Nhưng vị Lý Triển tiên sinh này không giống như những người phàm tục khác, coi chuyện phú quý và quyền lực như cỏ rác. Hiền đệ đi tới đó, chỉ cần mang theo những lời thành thực là được rồi. Sau này hãy nói chuyện biếu xén, tuỳ cơ mà hành sự!” Lã Bất Vi hỏi: “Bèo nước gặp nhau, huynh trưởng có thể vì hiền đệ mà tiến cử một lần nữa được không?” Hàn Trọng Anh nói: “Có những cái hiền đệ chưa biết, Lý Triển tiên sinh dường như không xem trọng những khách khanh và hoạn quan kề cận bên cạnh Hoàng thượng. Ta và ông ấy không có hiềm khích cũng không có mối thâm giao. Nếu như tuỳ tiện tiến cử, sợ rằng lợi bất cập hại”.
Trời đã tối, Lã Bất Vi muốn đi nghỉ nhưng những lời nói trên cứ trở đi trở lại trong đầu ông. Khi ông thấy Hàn Trọng Anh không nói gì, hai mí mắt nhắm khép lại, ông nhớ lại ngày xưa hồi còn nhỏ ông đi bắt ngọc trai sông ở Bộc Dương.
Lắc lư cùng với chiếc xe ngựa đi trên con đường nhỏ gập ghềnh của bờ ruộng trong sương khói lờ mờ. Lã Bất Vi nhìn thấy mặt trời giống như lòng đỏ trứng gà cũng đang run rẩy lay động. Tiết trời khá lạnh, thỉnh thoảng ông lại thở ra đánh khà một tiếng, những hạt nước nhỏ giống như những hạt ngọc nhanh chóng đọng lại trên bộ ria cắt ngắn, cạnh khoé mép của ông.
Khi chiếc xe ngựa của Lã Bất Vi tiến vào thôn Tuyết Nê, ông thầm nghĩ: “Mảnh đất này đúng là giống với cái tên của nó, mỗi căn nhà giống như bị chôn vùi trong tuyết sương vậy”. Cái đầu tiên mà Lã Bất Vi nhìn thấy trong sân vườn nhà Lý Triển là con chó vàng rất béo. Cùng với tiếng sủa vang dội của nó, một vị trưởng giả bước ra. Khuôn mặt ông nề nề khiến người ta rất khó nói ra nét đặc trưng trên khuôn mặt ông. Trên chiếc áo thì vá chằng vá đụp giống như những cánh bèo nổi phồng phềnh trên mặt nước. Nhìn cách ăn mặc này, cũng lộ rõ thân phận dân thường ăn đói mặc rét của ông ta. Lã Bất Vi cảm thấy kỳ lạ ở chỗ: từng bước chân của ông ta vẫn mạnh mẽ và nhanh nhẹn, mỗi lần ông bước, tuyết ở dưới chân ông phát ra những tiếng chút chít, như những tiếng kêu cò vạc khi bị trói chân vậy.
Đợi khi vị trưởng giả tới gần, Lã Bất Vi nhìn thấy mắt ông ta rất sáng, hàm răng trắng tinh. Giọng nói của vị trưởng giả lạnh lùng như tuyết: “Tìm ai?” Lã Bất Vi đáp: “Lý Triển” Vị trưởng giả lại hỏi: “Người là bạn của ông ta” Lã Bất Vi đáp: “Không phải” Vị trưởng giả vẫn hỏi: “Người không quen cậu ta, không thân thiết với cậu ta, vậy tới tìm cậu ta có chuyện gì?” Lã Bất Vi nói: “Tôi ngưỡng mộ danh của ông ta mà tới, tôi muốn kết thành bạn của ông ta”. “Lý Triển không có nhà”. “Tôi sẽ đợi”. “Không biết khi nào cậu ta mới trở về”. “Ông ấy đi đâu vậy?”. “Rất khó đoán được. Nếu không lên núi đốn củi thì vào trong thành bán than”. “Vậy thì phiền lão bá phải tiếp tôi rồi. Tôi sẽ ở lại đây đợi Lý Triển tiên sinh”. “Tôi đã nói với ông rồi, không biết khi nào cậu ấy trở về đâu!”. “Vậy thì tôi sẽ cung kính đứng đây chờ đợi, mạn phép hỏi lão bá, ông là người như thế nào với Lý Triển?” “Ta là Lý Trọng, huynh trưởng của cậu ta!”
Lã Bất Vi cởi con ngựa ra khỏi xe rồi buộc nó vào gốc cây trong sân vườn. Lã Bất Vi thấy chỗ ở của Lý Triển giống như một lò than, có một cái võng vải giống như một chiếc lưới đánh cá được treo ở góc tường. Đây có thể nói là mảnh đất không yên ổn với hai anh em, ăn uống cũng chỉ là gạo nứt với đậu, lê, rau cỏ. Mức độ nghèo đói như thế này, quả là quá sức tưởng tượng của Lã Bất Vi.
Lý Trọng rất lạnh nhạt với Lã Bất Vi, chỉ ngồi trước cửa lò để đốt than, bên cạnh chẳng còn có ai nữa. Lã Bất Vi lấy một cái đôn bằng gỗ để làm ghế, ông ngồi lên đó và nhìn vào những tia sáng được hắt ra từ cửa lò; dưới sự phản chiếu của những tia sáng đó, Lã Bất Vi thấy mặt Lý Trọng đầy vết nhăn.
Khi trời nhập nhoạng tối, cũng chẳng thấy bóng dáng của Lý Triển đâu. Cho dù Lã Bất Vi bụng đói cồn cào nhưng cũng khó có thể nuốt được bát cơm thô kém mà Lý Trọng mang cho ông. Đợi Lã Bất Vi cố gắng nuốt hết bát cơm, Lý Trọng nằm vào trong chiếc võng vải ngửa mặt nhìn ra tứ phía. Lã Bất Vi nghĩ, người ngủ bên cạnh chiếc võng vải của Lý Trọng buổi tối hôm nay là một người buôn giàu có đến từ Dương Trác.
Buổi sáng hôm sau, Lã Bất Vi vẫn cứ chờ đợi trong sự suốt ruột và khô khát. Lã Bất Vi vẫn ngồi trên chiếc ghế đôn đối mặt với ánh sáng của bếp lò và một khuôn mặt dưới sự phản chiếu của thứ ánh sáng kia. Lã Bất Vi không thể chờ đợi hơn nữa. Ông tỏ ra rất bất bình với người có tên là Lý Trọng kia, người được coi là huynh trưởng mà không biết Lý Triển em trai mình đi đâu. Lã Bất Vi biết câu hỏi của mình có ý vị như hồi chuông báo thức: “Lý huynh trưởng, rút cục Lý Triển tiên sinh đã đi đâu, ông không thể đoán ra sao?” Lý Trọng nói: “Tối hôm qua ta đã nói rồi, nếu không lên núi đốn củi thì vào thành bán than”. Lã Bất Vi hỏi: “Lý huynh trưởng vừa nói, nếu không lên núi đốn củi thì vào thành bán than. Vậy thì xin mạn phép hỏi: ngọn núi đó là núi nào, thành đó là thành nào?” Lý Trọng nói: “Đó là núi Hùng Thoán Lĩnh và thành Dương Trác”. Lã Bất Vi lại hỏi: “Núi Hùng Thoán Lĩnh cách đây bao nhiêu dặm và đi bằng cách nào?” Lý Trọng nói: “Đi ra cửa, hướng về phía tây, có một khe hẻm to, đi tới đầu hẻm là đến, chừng khoảng mười dặm”. Lã Bất Vi vẫn hỏi: “Đã là anh em thì như da với xương, môi hở răng lạnh, xin lỗi tôi nói thẳng, tôi thấy Huynh trưởng không mấy quan tâm đến việc lành dữ của anh em mình lắm!” Lý Trọng chỉ cười đáp lại lời chỉ trích của Lã Bất Vi và phớt lờ như không có chuyện gì.
Lã Bất Vi buộc ngựa vào xe, và lại ngồi lên chiếc xe ngựa của ông chuẩn bị ra khỏi nhà họ Lý, hướng về phía Tây, đến Hùng Thoán Lĩnh xem sự thể rút cục là thế nào. Sau khi Lý Trọng biết được dụng ý của Lã Bất Vi ông nói với Lã Bất Vi đợi khi em ta về ta sẽ nói lại với cậu ấy.
Lã Bất Vi sau khi nói rõ mình là ai, liền quất ngựa cho xe chạy. Hai chiếc bánh quạnh quẽ, mòn vẹt lại bắt đầu chuyến đi hướng về phía trước, trên con đường phủ tuyết đầy gian nan. Khi Lã Bất Vi quay đầu lại để cáo biệt ngôi nhà như chiếc lò than ấy, ông nhìn thấy trên bộ mặt như hun khói của Lý Trọng xuất hiện một nụ cười rất khó hiểu. Một con người kỳ quái.
Con đường nhỏ rất bằng phẳng, tuyết trên đường đã bị ánh nắng mặt trời làm rắn kết lại, khiến chiếc xe ngựa như chạy nhanh hơn. Chiếc xe lắc lư như người say, phải khó khăn mới tới được đầu của khe hẻm, một chiếc dốc lớn, thẳng đứng đã cắt đứt con đường đi, Lã Bất Vi nghĩ, chẳng lẽ đây chính là Hùng Thoán Lĩnh mà Lý Trọng đã nói đó sao. Lã Bất Vi nhìn xung quanh, trên đỉnh núi trắng mờ chỉ toàn là cây cối màu xám. Lã Bất Vi gọi lớn, tiếng gọi vang vọng khắp núi rừng: “Lý Triển”. Chốn thâm sơn cùng cốc vang vọng đáp lại lời của chính mình: “Lý Triển”. Lã Bất Vi cảm thấy chút cô đơn, lẻ loi. Lã Bất Vi đánh xe chạy chầm chậm, men theo đường núi, đảo mắt tận thu cảnh vật xung quanh.
Khi Lã Bất Vi thất vọng tay không quay về Viên Lạc (nơi ở của Lý Triển), Lý Trọng dường như đã đoán ra được sự việc, tươi cười ra tận cửa đón Lã Bất Vi. Lã Bất Vi ngạc nhiên, hỏi: “Lý Trọng tiên sinh, hình dáng anh em ngài như thế nào? Ngày mai đến bán than ở thành Dương Địch, tôi nhất định đi tìm bằng được!”. Lý Trọng trả lời: “Cùng một mẹ sinh ra, ngài xem hình dáng phải như thế nào? Giống như tôi vậy!”
Hai ngày sau, Lã Bất Vi lại chở than lên thành Dương Địch tìm Lý Triển. Bán hơn mấy chục xe than mà khuôn mặt Lý Triển vẫn biệt tăm.
Lã Bất Vi quay về, vừa ra cửa thành thì gặp Lý Trọng, chào hỏi một hồi rồi hỏi Lý Trọng đến thành Dương Địch này có việc gì. Lý Trọng nói cũng đi tìm em. Bất Vi về phủ ngồi chưa ấm chỗ, đã thấy Lý Trọng theo phía sau, Bất Vi hỏi:
“Vẫn chưa tìm thấy em ngài sao?” Lý Trọng trả lời: “Tìm thấy rồi” Lã Bất Vi hỏi: “Ở đâu vậy?” Lý Trọng nói: “Ở trước mặt tiên sinh đó” Lã Bất Vi quay mắt nhìn xung quanh, trong phòng chỉ có Lý Trọng vội hỏi: “Là tiên sinh định trêu đùa tôi à?” Lý Trọng nghiêng mình thi lễ, trịnh trọng nói: “Người đang nói cùng Lã tiên sinh là Lý Triển đây” Lã Bất Vi ngẩn người hỏi: “Ngài không phải là anh của Lý Triển sao?” Lý Trọng nói: “Họ Lý nhà tôi cô quả, làm gì có anh em. Tôi thân mang trọng tội, ẩn mình nơi sơn dã, muốn tránh điều phiền phức nên phải lấy tên là Lý Trọng. Hai ngày nay thấy Lã tiên sinh hao tâm tổn lực, thành tâm tiếp kiến, giao tiếp bạn hiền, ngài vì tôi mà nhọc người mệt sức, thực bụng muốn tới tạ tội với ngài!” Lã Bất Vi thận trọng nói: “Lý Triển tiên sinh, xin ngài cẩn thận!” Rồi mời Lý Triển ngồi, sai người đem áo hoa lụa gấm cho Lý Triển thay, bày yến tiệc, mời cả Hàn Trọng Anh, ba người chén tạc chén thù, rất tâm đầu ý hợp.
Lã Bất Vi mời Lý Triển chuyển đến phủ của mình, rũ bỏ khó khăn, thiếu thốn. Lý Triển nói: “Tôi ở triều đường có bao nhiêu kẻ thù, nhất thủ nhất động đều bị người ta chú ý. Nếu thân ở Dương Địch, tiếng tăm thị phi tất sẽ lọt tới triều đường, quan quân lấy làm hiềm khích có khi không tránh nổi hoạ vào thân. Ẩn mình ở Tuyết Nê thôn, sinh sống đạm bạc có thể tránh khỏi mọi sự dòm ngó, càng thuận lợi cho việc hành sự sau này”. Hàn Trọng Anh cho biết Lý Triển nhìn xa trông rộng. Lã Bất Vi cũng cảm thấy rằng việc nhỏ không biết nhịn sẽ tổn hại tới đại sự, Lý Triển tính toán sâu xa quả là bậc kỳ tài.
📎 Tap2LaB..ng117
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-09 19:56:28ct.ly>
Sorry bà con, mình đang type tiếp thì mới phát hiện ra tập 2 được chia thành các chương khác nhau. Vậy mình gửi lại file để mọi người tiện hiệu đính nhé.


Khăn và các huynh đệ ở xa. Đây chính là khi giàu có thì thực thi ân đức, sau khi Phạm Lãi già yếu, giao cho con cháu nắm giữ cơ nghiệp, con cháu kế thừa sự nghiệp của ông, không ngừng phát đạt, cho tới khi già yếu lên tới triệu lạng vàng. Do đó, khi nói đến phú hào, mọi người đều nhắc đến Chu Công.
Lã Bất Vi như vật được chi bảo, bê bộ “Kế Nhiên” đã đem đến cho ông biết bao sự tin tưởng và bí quyết về Bồ Nương. Sự vui sướng của thành công ban đầu đã đem đến cho vị thương nhân trẻ tuổi lần đầu bước chân vào sự sinh nhai mạo hiểm một sự phấn khích và cổ vũ to lớn.
Lã Bất Vi mong muốn được gặp Hoàng Phủ Kiều, kể cho người con gái đã khiến ông xao xuyến từ lâu này quá trình buôn ngựa mang đầy màu sắc thần bí, kể về người biểu diễn rắn đối với ông ân trọng như núi nhưng bây giờ không biết ở đâu, lại cho nàng xem bộ sách dày kể những chuyện về buôn bán này, cuối cùng sẽ trao tặng nàng những vàng bạc tế nhuyễn đã mua cho nàng ở Hàm Đan. Hoàng Phủ Kiều sẽ đưa ánh mắt say sưa, đầy vẻ phấn khích nhìn mình, và không ngừng kêu lên: “Chà, nguy hiểm thế!”… Khi nàng trông thấy những món quà hậu hĩnh mà chàng mang về, nàng sẽ càng vui sướng và…
Nghĩ tới những điều này, Lã Bất Vi thấy trái tim mình rạo rực. Chỉ có điều chàng muốn những điều này sẽ diễn ra tại nhà mình. Chàng nghĩ: hay là mời Hoàng Phủ cô nương đến nhà, vừa thân mật lại thuận tiện, như vậy hai người sẽ không có cảm giác không tự nhiên thoải mái như ở nhà Phùng Quân Uý. Chàng có thể khua chân múa tay, có thể thoải mái bộc bạch…
Lã Bất Vi ôm ấp giấc mộng đẹp này trong suốt lúc đi dạo trong buổi chiều tà. Lã Bất Vi nhìn lên nền trời phía tây rộng lớn, những đám mây hình thù kỳ lạ, nhiều màu sắc, có cả hình long li quy phượng. Lã Bất Vi phấn chấn, rảo bước nhanh hơn trong ngõ nhỏ đang nhập nhoạng tối.
Đã có kế sách để làm giàu, hơn lúc nào hết Lã Bất Vi càng khao khát thứ tình cảm ngọt ngào với một người con gái.
Lã Bất Vi cùng Hoàng Phủ Kiều vai kề vai thong dong bước bên nhau. Hoàng Phủ Kiều hôm nay trang điểm rất kỹ lưỡng, hương thơm từ nàng toả ra khiến Lã Bất Vi thấy lòng xao xuyến, mơ màng. Chưa bao giờ chàng có cảm giác gần gụi với một người con gái như thế này, gần đến mức chàng cảm nhận được cả hơi thở lẫn nhịp tim của nàng.
Bất Vi lắng nghe Hoàng Phủ Kiều nói, chàng cảm nhận được sự lo âu tận đáy lòng qua giọng nói run rẩy của nàng.
“Lần này chàng đi biệt hơn hai mươi ngày, thiếp quả vô cùng lo lắng”
“Ta và người biểu diễn rắn ấy đều cưỡi ngựa, nếu đi bộ thì phải mất đến một năm rưỡi ấy chứ”.
“Gặp bọn Hung nô ấy, chàng có sợ không?”
“Sợ chứ, bọn chúng kẻ nào cũng cao to vạm vỡ, tanh hôi khủng khiếp. Khi ta và gã thích khách vào được hang ổ của Hữu Cốc Lãi Vương, ta thấy quân hung nô kẻ nào cũng dao gươm sáng loáng, mắt mũi trợn trừng. Người bình thường trông thấy ắt phải sợ đến hồn bay phách lạc, chẳng khác gì nơi hang hùm miệng cọp! Nhưng ta vẫn bình thản, không chút kinh hãi, đường hoàng tự tin tranh luận với chúng, đối đáp sắc sảo. Sau cùng, tất cả bọn chúng đều tròn mắt há miệng, ngoan ngoãn lặng im nghe ta nói. Lã Bất Vi cảm thấy những lời khoa trương tự mãn này của chàng, nói được cho Hoàng Phủ Kiều nghe, chàng thật hạnh phúc biết bao! Ánh trăng như dát bạc soi rọi bóng chàng và nàng bên nhau trên con đường mờ ảo.
Bước chân vào sau cánh cửa nhà mờ tối, Lã Bất Vi chợt cất giọng run run khẽ gọi “Hoàng Phủ cô nương”! Chàng biết, ngay lúc này và chính tại đây, tất cả đã chín muồi đủ để Hoàng Phủ Kiều đáp lại tấm tình cảm mà chàng sẽ biểu lộ với nàng. Và quả vậy, Phủ Kiều lặng lẽ quay nghiêng sang phía Bất Vi. Chàng biết, giờ đây, đôi tay chàng đang sắp đón đợi một niềm hạnh phúc.
Bất Vi giang tay ôm Hoàng Phủ Kiều vào lòng và cảm thấy bờ môi mình khao khát. Gương mặt Hoàng Phủ Kiều, từ sống mũi, nét môi đều nổi bật sáng rõ dưới ánh trăng. Bất Vi không kìm nổi lòng mình, áp khuôn mặt thô ráp bởi những sợi râu vào mặt Hoàng Phủ Kiều và đặt lên môi nàng một nụ hôn. Hai đôi môi nồng nàn gắn chặt vào nhau. Họ say đắm trong nụ hôn đầu…
Ánh đèn dầu soi tỏ tất cả căn phòng. Lã Bất Vi sau khi đã trấn tĩnh lại chậm rãi kể cho Hoàng Phủ Kiều nghe về quãng thời gian mà chàng đi buôn lụa kiểu “lũng đoạn” bất chấp bao khó khăn cực nhọc. Và đương nhiên, đối với Lã Bất Vi, anh chàng đã khổ luyện với văn chương thơ phú mười năm thì thêm thắt đôi lời khoa trương cho câu chuyện của mình thì không khó. Lã Bất Vi thấy Hoàng Phủ Kiều chăm chú lắng nghe, mắt mở to không chớp. Đến đoạn chàng đi tới vườn tử ở một thành ấp nghèo nọ, Bất Vi chợt cảm thấy dường như trống ngực Hoàng Phủ Kiều bỗng đập dồn dập, rồi nàng bật khóc, nức nở thành tiếng.
Lã Bất Vi ngạc nhiên, im bặt hỏi Phủ Kiều: “Hoàng Phủ cô nương, có chuyện gì vậy?”
Hoàng Phủ Kiều đứng dậy, bước tới bên cuốn sách “kế nhiên” đang mở, tay khẽ khàng vuốt nhẹ từng mặt trúc trơn láng, gọi: “Đại ca ơi, đại ca ơi!”
Lã Bất Vi càng kinh ngạc không hiểu, hỏi: “Đại ca? Ai là đại ca của nàng?”
Hoàng Phủ Kiều đáp: “Chính là người biểu diễn rắn ấy”
Lã Bất Vi bán tín bán nghi hỏi: “Anh ta đích thực là đại ca của nàng ư?”
Hoàng Phủ Kiều thổn thức kể: “Cái vườn tử nơi thành ấp nghèo nàn ấy chính là nhà thiếp. Thiếp còn nhớ ngày nhỏ thường cùng đại ca Hoàng Tử Nghĩa chơi đùa dưới cây tử thần cong ấy. Có một lần, anh ấy nhanh thoăn thoắt như khỉ leo lên trốn trên cây làm thiếp sợ phát khóc tìm kiếm khắp nơi… Bộ “kế nhiên” này là do một người bạn tên Tư Không Mã tặng đại ca thiếp bởi lẽ anh ấy vốn là người không ham hố chuyện buôn bán làm giàu mà chỉ thích đao thương kiếm thuật, dạy chó luyện rắn…
Lã Bất Vi áy náy: “Giá mà anh nàng không giấu tên giấu họ thì ta đã sớm giúp được hai người đoàn tụ rồi”.
Hoàng Phủ Kiều đáp: “Thiếp nghĩ, đại ca thiếp hẳn sẽ đi tìm Vệ Nguyên Quân báo thủ rửa hận, phanh xác, băm thây Nguyên Quần, con trai của hắn, thê thiếp của hắn làm trăm mảnh! Chúng tôi là gia tộc Hoàng Phủ, sống ở nước Tấn, ở cả nước Vệ, đại ca e liên luỵ đến họ và liên luỵ đến cả thiếp nữa!”. Lã Bất Vi hiểu ra gật đầu, cảm thấy thương cho hoàn cảnh của hai anh em Hoàng Phủ Kiều.
Hoàng Phủ Kiều hỏi: “Khi chia tay với chàng ở Hàm Đa, đại ca không nói sẽ đi đâu ư?”. Lã Bất Vi đáp: “Ta cũng hỏi nhưng anh ấy chỉ bảo, bốn bể là nhà, phiêu bạt giang hồ”. “Thiếp phải đi tìm đại ca của thiếp” Hoàng Phủ Kiều quả quyết.
Lã Bất Vi phát hiện, trong đôi mắt tuyệt đẹp của Hoàng Phủ Kiều ánh lên tia nhìn sắc nhọn mà chàng chưa từng bắt gặp.
Lại một lần nữa, Lã Bất Vi lang thang giữa thành Hàm Đan tấp nập người xe để tìm kiếm Hoàng Phủ Kiều, những ngọn lạnh buốt làm tuyết trắng bay đầy trời mang đến cho đô thành của nước Triệu một mùa đông đáng nhớ.
Khi mới nghe Hoàng Phủ Kiều nói: “Thiếp nhất định phải đi tìm đại ca của thiếp!” Lã Bất Vi cho rằng đó chỉ là lời nói gío bay của một nữ nhi dễ xúc động, đâu ngờ Hoàng Phủ Kiều lại nói sao làm vậy. Hôm đó là buổi chiều sau khi Hoàng Phủ Kiều đã rời nhà chàng đi được 3 ngày, có một người nô bộc của Phùng Quân Uý hớt hải đến tìm chàng. Phùng Quân Uý gửi cho Lã Bất Vi một mảnh lụa bạc, trên đó là dòng chữ nhỏ nhắn nắn nót: “Con đi Hàm Đan đây”. Phùng Quân Uý vừa giận vừa thương người con gái nuôi đã ra đi mà không một lời từ biệt. Lã Bất Vi miện an ủi Phùng Quân Uý nhưng trong lòng chàng đang nghĩ đến cảnh người con gái một thân một mình lang thang trên từng con phố nhỏ nơi đô thành rộng lớn xa lạ với bao mối hiểm nguy.
Lã Bất Vi biết rõ khắp đường phố ngõ ngách ở cái thành Hàm Đan đất rộng người đông này để hỏi một cô gái tên là Hoàng Phủ Kiều thì chẳng khác gì mò kim đáy bể. Mấy ngày trời đội mưa đội tuyết tìm kiếm mà dã tràng xe cát. Chàng vừa cảm phục ý chí người con gái trọng tình anh em, vừa giận hành động bướng bỉnh điên rồ của nàng khiến chàng phải lao tâm khổ tứ như thế này.
Có điều, Lã Bất Vi hoàn toàn chẳng thể ngờ rằng, chính bước chân tìm kiếm của chàng in dấu trên con đường phủ tuyết trắng đang dẫn chàng đến với một mảnh đất mới cho cái nghiệp làm thương nhân của chàng.
Khi ta men theo dòng chảy thời gian, cùng bước chân của Lã Bất Vi trên con đường tìm kiếm kế sinh nhai, tìm kiếm những mốc đáng chú ý của lịch sử, ta rút ra kết luận Lã Bất Vi là kiểu thương nhân luân có khả năng có phát hiện mới cho công việc buôn bán của mình.
Khi Lã Bất Vi đang ở Hàm Đan thì nước Triệu xảy ra một sự kiện chính trị quan trọng. Chính sự kiện này đã khiến cho Bất Vi hiểu được thế nào là món lời kếch sù do một viên ngọc nhỏ đem lại. Sự kiện xảy ra ở nước Triệu chính là cuộc đấu tranh ngoại giao xung quanh viên ngọc - ngọc bích họ Hoà.
Về lai lịch viên ngọc bích họ Hoà, “Hàn Phi Tử, Hoà Thị Bích”. Có viết như sau: trước kia có người nước Sở, tên là Biện Hoà, nhặt được ở núi Kim Sơn một viên ngọc quý vẫn chưa mài rũa mang hiến cho Sở Lệ Vương, Sở Lệ Vương sai người thợ ngọc xem thử, thợ ngọc nói là đá. Sở Vương cho rằng, Biện Hoà mang ngọc giả đến lừa dối mình, phán xử Biện Hoà tội hình, chặt của anh ta chân phải. Sau khi Lệ Vương chết, Sở Vũ Vương kế vị, Biện Hoà lại đem hiến viên ngọc, Vũ Vương sai thợ ngọc kiểm tra, thợ ngọc lại nói đây là một hòn đá, Vũ Vương lại chặt chân trái của Biện Hoà. Sau khi Sở Vũ Vương chết, Sở Văn Vương kế vị, Biện Hoà không dám mang ngọc đi tặng nữa mà ôm viên ngọc khóc ở núi Kinh Sơn ba ngày ba đêm, chảy khô cả nước mắt, chảy cả ra máu. Sở Văn Vương nghe được tin này cho người đến hỏi tại sao lại khóc thống thiết như vậy? Biện Hoà trả lời: “Tôi không phải bị chặt mất hai chân mà đau buồn. Tôi đau buồn vì tôi hiến ngọc cho đại vương rành rành là một viên ngọc quý, lại nói nó là đá; rõ ràng là kẻ trung thần thì lại nói là lừa dối. Đây là cái cớ vì sao tôi đau buồn!”
Vậy là Sở Văn Vương đem cho người thợ mài ngọc rũa, quả là một viên bảo ngọc màu sắc loá mắt, trên đời chỉ có một. Gọi nó là Ngọc Bích họ Hoà.
Thấm thoắt thoi đưa, đến năm 283 trước CN, Ngọc bích họ Hoà đã trở thành báu vật trong tay Huệ Văn Vương nước Triệu. Các nước chưa hầu và sứ thần của họ khi đến Hàm Đan đều yêu cầu Huệ Văn Vương mang Ngọc Bích họ Hoà cho họ xem, lấy làm no mắt. Phàm những ai đã xem qua viên ngọc này đều không ngớt lời ca tụng.
Khi đó nước Tần đã trở thành một trong thất hùng thời Chiến Quốc. Tần Chiêu Tương Vương rất ao ước có được Ngọc Bích họ Hoà, vì vậy ông ta phái sứ giả mang quốc thư sang bái kiến Huệ Văn Vương nước Triệu, nói muốn đổi mười năm thành trì lấy viên ngọc đó. Huệ Văn Vương xem xong bức thư bèn cùng đại tướng quân anh dũng thiện chiến Liêm Pha cùng các đại thần bàn bạc, muốn đem Ngọc Bích họ Hoà mang sang nước Tần nhưng lại sợ Tần Vương bội tín không giao mười năm thành trì, sẽ bị lừa; nếu không đem viên ngọc sang Tần lại sợ bị Tần Vương đánh. Huệ Văn Vương cùng bá quan văn võ bàn bạc đi bàn bạc lại nhưng vẫn không đưa ra được một kế sách vẹn toàn. Trong khi đó, việc đồng ý hay không đồng ý đem viên ngọc đổi mười năm thành trì nước Tần cũng phải trả lời sớm. Chọn đi chọn lại cũng không tìm ra ai đi sứ nước Tần. Huệ Văn Vương vô cùng lo lắng. Chính lúc đó, quan Tổng quản Diệu Hiền tiến cử một người với Huệ Văn Vương: “Môn khách tại hạ có Lạn Tương Như trí dũng song toàn, tôi thấy để người đó đi sứ nước Tần là hợp lý nhất”. Huệ Văn Vương bèn cho triệu kiến Lạn Tương Như tại cung tấu Dương, Huệ Văn Vương nói: “Tần Vương muốn đổi viên Ngọc Bích họ Hoà lấy mười năm thành trì, ông thấy thế nào?”
Lạn Tương Như thẳng thắn nói: “Nước Tần mạnh, nước Triệu yếu. Chúng ta không thể không đồng ý”. Huệ Văn Vương lo lắng hỏi: “Điều quả nhân lo lắng là nếu Tần Vương có được ngọc quý của quả nhân rồi lại không giao thành trì cho chúng ta nữa, lúc đó làm thế nào?”.
Lạn Tương Như đã có chủ định sẵn nói: “Nước Tần dùng mười năm thành trì đổi lấy viên Ngọc Bích họ Hoà của nước Triệu, Triệu không đồng ý tức là Triệu đuối lý, Triệu đem ngọc bích sang Tần, Tần không trao mười năm thành trì cho Triệu, vậy thì nước Tần đuối lý. Hai cái này cái nào hay hơn? Tôi thấy đem viên Ngọc Bích họ Hoà sang nước Tần vẫn là thượng sách. Tôi phụng chỉ đi sứ, nếu quả thật nước Tần đem mười năm thành trì trả cho Triệu, tôi sẽ để viên ngọc lại Tần và đem bản đồ mười năm thành trì về; nếu Tần không giao mười năm thành trì, tôi sẽ đem viên ngọc về nguyên vẹn”.
Huệ Văn Vương thấy Lạn Tương Như nói năng trôi chảy, có chủ kiến liền phái ông làm sứ thần mang ngọc đi sứ nước Tần. Tần Chiêu Vương triệu kiến Lạn Tương Như trong Chương Đài, Lạn Tương Như mang Ngọc Bích họ Hoà trình lên, Chiêu Tương Vương nhận lấy viên ngọc yêu thích không muốn rời tay, ngắm đi ngắm lại, rất vui sướng. Sau đó đưa cho bọn thị tì, cung nữ và ái thiếp xem. Mọi người đều vô cùng tán thưởng, đồng loạt chúc mừng TầnVương.
Một mình Lạn Tương Như bị bỏ quên dưới điện, đứng đợi rất lâu không thấy Tần Vương nhắc tới chuyện giao cắt mười năm thành trì. Lạn Tương Như nghĩ: “Tần Vương quả nhiên muốn chiếm đoạt viên ngọc họ Hoà này”. Ông bèn nói với Tần Vương: “Trên viên ngọc có một chút vết, xin để tôi chỉ cho Đại Vương xem”.
Tần Chiêu Vương đem viên ngọc đưa cho Lạn Tương Như nói: “Viên ngọc hoàn mĩ như thế này, sao quả nhân không thấy vết nứt của nó?”
Lạn Tương Như nắm chặt viên ngọc, lui lại mấy bước, sát vào cây cột trong cung, phẫn nộ nói với Tần Vương: “Đại Vương muốn có được viên ngọc quý này, sai người đưa thư cho Triệu Vương tôi, Triệu Vương triệu tập bá quan văn võ bàn bạc, mọi người đều nói: “Nước Tần lòng tham vô đáy, dùng thế mạnh bức người, muốn dùng mấy lời nói suông để lừa bịp nước Triệu lấy viên ngọc”. Vậy nên sau khi bàn bạc không muốn đem viên ngọc này đi. Nhưng tôi cho rằng, dân thường khi giao kết với nhau còn biết giữ tín nghĩa, không đến nỗi lừa dối nhau, huống hồ đường đường là quân vương nước lớn! Và lại vì một viên ngọc mà để mất hoà khí với nước Tần, như thế không tốt. Triệu Vương nghe lời tôi, trai giới năm ngày, trên triều đình đích thân giao quốc thư cho tôi, sai tôi mang ngọc bích sang Tần. Đây là Triệu Vương tôn trọng uy vong của đại vương, biểu thị đặc biệt tôn kính! Giờ tôi đã đến quý quốc, Đại Vương không tiếp kiến tôi tại triều đình mà ở cung thất tầm thường, lễ tiết đơn giản, thái độ ngạo mạn còn đưa ngọc cho bọn mỹ nhân làm trò đùa với tôi. Tôi thấy ý Đại Vương không muốn giao cắt mười năm hành trì, muốn đoạt không lấy viên ngọc. Nếu Đại Vương nhất định muốn bức ép tôi, tôi tự nguyện mang cả đầu mình lẫn viên ngọc đập nát trước cây cột này”. Nói xong, Lạn Tương Như bê viên ngọc, nghiêng mắt nhìn cây cột, nộ khí bừng bừng, dường như sắp lao vào cây cột.
Tần Chiêu Tương Vương vô cùng hoảng sợ, sợ rằng sẽ vỡ mất viên ngọc quý vội tạ tội với Lạn Tương Như, khuyên ông không nên làm như vậy. Lại giả nhân giả nghĩa sai người mang bản đồ đến, chỉ cho Lạn Tương Như xem, mười năm toà thành từ chỗ này tới chỗ này sẽ trả về Triệu. Lạn Tương Như biết Tần Vương lòng dạ gian trá, ông nói với vua Tần: “Ngọc Bích họ Hoà là vật báu trong thiên hạ, Triệu Vương tuy rất yêu quý nó nhưng sợ thế nước Tần mạnh nên không dám không hiến cho đại vương. Trước khi Triệu Vương giao viên ngọc này đã từng trai giới năm ngày, bây giờ Đại Vương cũng cần trai giới năm ngày, cử hành nghi lễ long trọng trong triều, khi đó tôi sẽ dâng viên ngọc lên Đại Vương”.
Tần Chiêu Tương Vương không thể chiếm đoạt, đành phải đồng ý.
Lạn Tương Như biết rằng, Tần Chiêu Tương Vương nhất định sẽ bội ước, đêm đó ông sai một tên tuỳ tùng mặt quần gai áo ngắn giả làm dân thường, bí mật đem viên ngọc họ Hoà trở về nước Triệu.
Năm ngày sau, Tần Chiêu Tương Vương cử hành nghi lễ trọng thể tại Triều đình, chuẩn bị tiếp nhận viên ngọc. Lạn Tương Như hiên ngang đi vào triều, nói với Tần Vương: “Quý quốc từ Tần Mục Công đến nay, trước sau đã hai mươi mấy vị quân vương, chưa ai giữ tín bao giờ. Tôi cũng sợ bị đại vương lừa gạt cho nên đã sai người đem ngọc về Triệu. Tần là nước mạnh, Triệu là nước yếu. Chỉ cần nước Tần có thành ý đổi mười năm thành trì lấy ngọc thì hãy sai sứ thần sang Triệu, Triệu Vương không thể không đồng ý. Tôi biết đã lừa gạt Đại Vương, không coi trọng Đại Vương, xin Đại Vương cứ trị tội tôi!”.
Tần Vương và các đại thần nghe xong nhìn nhau, vừa tức giận nhưng cũng không biết làm thế nào. Đành phải thả Lạn Tương Như về Triệu.
Lạn Tương Như trở về. Vua Trịêu thấy ông là người có công đi sứ sang nước lân bang không để nhục quốc thể bèn phong ông là Thượng Đại Phu.
Mặc dù cả ngày đi tìm kiếm trong xóm nhưng tối về tệ xá ông lại nghiền ngẫm chuyện Lạn Tương Như. Giá của một viên ngọc bằng mười năm toà thành, là một vị thượng đại phu, là danh tiếng lưu truyền muôn thuở… Lã Bất Vi quyết định buôn bán vàng ngọc.
Mấy đêm nay, dưới ánh sáng bập bùng của ngọn nến, với chất giọng trầm bổng, Lã Bất Vi ngâm lại bài thơ mà ông đã đọc trong Kinh Thi miêu tả về ngọc. Trong đêm khuya thanh vắng ở Hàm Đan, giọng ngâm thơ càng thêm sâu lắng, một cảnh tượng đẹp đẽ chiếu rọi lòng ông, nó làm nảy sinh những cảm giác mãnh liệt với những viên ngọc lạnh lẽo kia.
Nước sông Ki chảy bên trái
Bên phải là đầu của con suối
Chàng thiếu niên xinh đẹp
Tiếng ngọc réo rắt vang
Bốn con ngựa to khoẻ
Cao lớn khí hiên ngang
Hân Hầu vào triều kiến
Dâng ngọc khuê làm quà
Quỳ phục bái Chu Vương
Thưởng cho người lễ vật bằng ngọc
Người có Quốc Bảo phóng quang minh
Đi đi, Quốc Cữu đang chinh chiến
Giữ cho miền nam mãi thanh bình.
Ngâm xong, Lã Bất Vi lại nghĩ đến những thủ thuật cần phải có sau này khi buôn bán ngọc, nó khiến ông cả đêm không ngủ. Bản thân Lã Bất Vi rất cẩn thận, ít khi làm việc gì một cách phiêu lưu, thiếu suy nghĩ. Trong khi đi tìm Hoàng Phủ Kiều ở Hàm Đan, ông đã đến các tiệm châu ngọc để khảo sát việc buôn bán.
Đây là một tiệm hàng buôn bán vàng bạc lớn nhất thành Hàm Đan. Những gì bày trí ở đây lộ rõ sự hưng thịnh của cửa hàng. Lã Bất Vi bước vào bên trong, màu sắc, ánh sáng của vàng bạc, ngọc ngà bao bọc ông, ông thấy như đang đứng giữa thiên thường với các cây cối toàn là vàng ngọc. Các loại ngọc được bày trí theo thứ tự, lấp lánh trong tủ, Lã Bất Vi thấy loá mắt. Sự bày trí, sắp xếp các loại ngọc chứng tỏ chủ tiệm là người rất sành sỏi trong kinh doanh. Dãy đầu là các loại ngọc dùng trong tế lễ như Khuê Bích, Hoàng Bích, chúng thường dùng làm vật làm tin và đem lại sự may mắn như khi vào triều kiến vua, minh ước, dẫn cưới, phúng viếng… Loại khác là vật trang sức như Quyết, Hoàng, Xuyến… Ngoài ra còn có một số loại ngọc khác.
Có người đã mô tả thế giới ngọc mà Lã Bất Vi đã xem như sau: Hồng Bảo Thạch như ánh lửa đỏ rực, Lam Bảo Thạch như trời xanh biển biếc, Thạch Lưu Thạch màu vàng pha đỏ, ánh sáng rực rỡ, Thuỷ Tinh Thạch lung linh trong suốt, đá mắt mèo mai vàng xanh, Ngọc Dương chỉ trắng như tuyết, Trân Châu hạt nhỏ trong suốt, giống đẩu tinh đầy trời, Ngọc Phỉ Thuý màu xanh bích ngưng lại như muốn níu giữ mùa xuân, Mã Não màu sắc rực rỡ như bảy sắc cầu vồng, San Hô cành lá rậm rạp, giống cây quỳnh cành ngọc… nhìn những viên ngọc được chạm khắc tinh tế, tỉ mỉ khiến ta liên tưởng tới:
Ông Bàn Cổ khai thiên lập địa, vũ dũng dựng càn khôn.
Nữ Oa luyện đá vá trời, nhi nữ vá trời xanh.
Nghệ bắn cung chín mặt trời, chống hạn cứu muôn loài.
Để giết Xuy Long, ngăn gió mưa, giết ác thú.
Chim Vệ ngậm đá lấp biển, nghĩa trùm bể đông.
Na Tra nức tiếng anh hùng, bắt yêu long giết hà bá
Thái Công câu cá, thần sắc thư nhà, chí ở ngàn dặm.
Vũ Vương kéo xe, ôn tồn cung kính, lễ đãi hiền sĩ.
Những ngọc phẩm này hàm chứa những câu chuyện thần kỳ. Những truyền thuyết đẹp. Ngoài ra còn có công tử đi săn, ngự giả đánh xe, võ sĩ chinh chiến, nông dân đi cày, quý nhân vày nước, mĩ nhân dạo chơi, lưỡng long chầu mặt ngọc, tam dương khai thái, lồng ngọc gà vàng, du long hí phượng…
Lã Bất Vi sau một lúc choáng ngợp, tươi cười đến bên người bán hàng trẻ tuổi, hỏi giá cả, nguồn gốc và tính chất của từng món hàng. Lã Bất Vi thấy chàng trai này mặt mũi thanh tú, khi nói chuyện gần gũi dễ gần. Trong tiếng ồn ào của người mua kẻ bán, Lã Bất Vi cố gắng thâu tóm tất cả các lời lẽ mà người làm công này nói. Theo Lã Bất Vi nó là kỹ xảo bán hàng. Lã Bất Vi chú ý nghe chàng trai nói về sự khác nhau giữa hai viên ngọc: viên chuyền ngọc này được làm ra ở nước Ngô, loại ngọc này được tạo hình đẹp đẽ, mài mã tinh vi, đó là đồ ngự dụng trong cung đình nước Ngô. Đặc điểm cơ bản của loại ngọc hiện nay là hình rắn cuộn, chim muông và hoa văn mây tụ trên bề mặt. Ngọc cứng được chế tác dưới thời chu thiên tử thường thô ráp, phần lớn thường trang trí hình con quỳ. Lát sau chàng trai này lại chỉ cho Lã Bất Vi một bộ ngọc bội nói, tốt nhất là tiêu thụ một nhóm ngọc bộí sáu chiếc, bán một bộ hai chiếc.
Nghe người này nói năng rất lưu loát, trôi chảy, Lã Bất Vi trong lòng rất khâm phục. Lã Bất Vi nghĩ mình mở cửa hàng vàng bạc tiền vốn nhờ bán ngựa cũng tạm đủ, tính toán quản lý mình có thể tự lo. Bây giờ chỉ thiếu một người hiểu biết về ngọc, nếu thiếu điều này thì buôn bán khó mà phát đạt được. Nghĩ đến đây, trong đầu Lã Bất Vi nảy ra suy nghĩ: mời chàng trai này theo mình về Bồ Dương mở cửa hàng vàng bạc. Trong cửa hàng người ra vào đông đúc, hơn nữa vì có chủ tiệm ở đây nên không tiện nói ra lời này. Lã Bất Vi tin rằng, chỉ cần trả tiền công thật cao thì có thể mời chàng trai này về chỗ của mình. Đã đi làm thuê ai chẳng muốn kiếm được nhiều tiền; sau khi cảm ơn chàng trai, Lã Bất Vi mang những suy nghĩ của mình rời khỏi cửa hàng. Ông ngước nhìn mặt trời đang treo trên đỉnh đầu, biết giờ đóng cửa của cửa hàng còn lâu mới tới, ông liền đi lang thang trên phố, vào những cửa hàng khác thăm thú và nhân tiện kiếm tìm Hoàng Phủ Nghĩa. Mặt trời chếch về phía tây, Lã Bất Vi biết trời đã về chiều, ông bèn tới một góc khuất của tiệm vàng kia dõi mắt hướng về phía cửa hàng. Người mua thưa vắng dần, nhà hàng bắt đầu đóng cửa. Những người làm công từng tốp nhỏ vừa ra về vừa chuyện trò vui vẻ. Lã Bất Vi chăm chú tìm kiếm những nét quen thuộc của chàng thanh niên kia, ông như kẻ vô công rồi nghề nhìn theo những người làm tan vào trong ngõ vắng. Cuối cùng thì ông cũng nhận ra chàng thanh niên trên con đường tuyết ngập chân người. Tiếng bước chân của những người đi làm về đã xa dần. Lã Bất Vi và chàng trai. Kẻ trước người sau đi trên con đường đầy tuyết. Trời mỗi lúc một tối, khoảng cách giữa Lã Bất Vi và chàng trai càng lúc càng gần. Những áng mây chiều gom lại những tia sáng cuối cùng, trên nền trời, những vì sao bắt đầu lấp lánh. Chàng trai đã về đến nhà. Anh đẩy cánh cửa đi vào một gian nhà cỏ, Lã Bất Vi cũng lập tức vào theo.
Người thanh niên đã sớm quên người khách trong cửa hàng ban ngày vì hàng ngày anh tiếp xúc với rất nhiều khách hàng, rất nhiều gương mặt mà anh đã gặp nhanh chóng trở nên xa lạ. Với vị khách không mời mà đến này, anh cảm thấy rất kinh ngạc. Với vẻ mặt hồ nghi, anh ta nói với Lã Bất Vi: “Tôi không biết ông là ai?”. Lã Bất Vi giới thiệu với anh ta về mình. Chàng trai hỏi: “Lã tiên sinh có việc gì cần tôi giúp đỡ chăng?” Lã Bất Vi nói rõ ý định của mình và khẩn thiết mong anh ta chấo nhận. Cuối cùng ông nói: “Tôi sẽ trả công cho anh cao”.
Chàng trai nói: “Lã tiên sinh thật biết người, tôi là Triệu Khả Tín, là người ông có thể tin cậy, tôi đồng ý đi theo ông”.
Một buổi sớm cuối đông đầu xuân, người dân Hàm Đan không để ý đến hai người sau khi rời khỏi thành, băng đi trong gió tuyết mịt mù. Không ai biết trước được rằng, một trong hai người đó sau này chính là người sẽ đem đến sự diệt vong cho nước Triệu của họ - Lã Bất Vi
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của mùa đông, Lã Bất Vi và cha mình là Lã Hâm ngồi nói chuyện với nhau về việc buôn bán ngọc. Có lẽ vì cái lạnh hay vì xúc động khiến cho những lời Lã Bất Vi nói thiếu đi sự mạch lạc, Lã Bất Vi hỏi: “Làm ruộng có thể thu lãi mấy lần?”
Người cha nói: “Mười lần”. Lã Bất Vi lại hỏi: “Buôn bán vàng ngọc lãi bao nhiêu lần?”
Lã Hâm nói: “Trăm lần”
Quả thực với việc buôn bán vàng ngọc sắp tới, trên đường đi, dưới sự giúp đỡ của Triệu Khả Tín, Lã Bất Vi đã suy đi tính lại nhiều lần. Sở dĩ ông bàn bạc lại với phụ thân là vì ông không muốn để cha buồn, cho ông là đứa con độc đoán.
Thấy Lã Bất Vi không đưa được Hoàng Phủ Kiều về, Lã Hâm rất buồn rầu, uất hận. Vậy mà khi nghe kế hoạch buôn bán vàng ngọc quy mô mà Lã Bất Vi nói nỗi buồn hận trong ông đã vơi đi phần nào. Một thời gian sau, cửa hàng buôn bán vàng ngọc của Lã Bất Vi đã được khai trương trên một con phố đông người qua lại ở thành Bồ Dương, bên ngoài treo một tấm biển đem lại sự may mắn: “Long xướng quảng”. Lã Bất Vi mua được hàng với giá rẻ nhưng lại bán với giá cao, ông mua ngọc cũ của người trong thành, đem về chế tác lại sau đó bán ra. Ông còn đi sang các mỏ vàng ngọc tại các nước chư hầu, mua về những món đồ hợp với nhu cầu của mọi người.
Công việc của Lã Bất Vi ngày càng trở nên bận rộn, ông đi tìm mua ngọc khắp nơi, cứ ba ngày lại phải tính toán hàng hoá kiểm tra sổ sách. Trong con mắt của người dân Bồ Dương, người môn khách từng bị đại sư Vệ Hằng không nhận khi xưa, nay đang làm trò ảo thuật kiếm được tiền nhiều như nước, họ căng mắt nhìn tài sản của Lã Bất Vi đang đầy lên. Tất cả đã thay đổi cách nhìn với Lã Bất Vi. Cứ ba ngày lại có chiếc xe chở hòm to hòm nhỏ nặng nề dừng trước “Long xướng quảng”. Lã Bất Vi ra hiệu, chỉ trỏ cho những người làm của mình nhanh chóng vận chuyển vào trong. Chỉ ít lâu sau, người đến cửa hàng mua bán đông nghịt. Lã Bất Vi cũng thường dùng những kỹ xảo nhỏ khuyếch trương hàng hoá, ví như mua một món ngọc quý được tặng một gói trà sen thơ… phàm mua một bộ ngọc bội hai chiếc thì một chiếc chỉ bán một nửa giá; nếu không có tiền mặt thì cũng có thể đổi bằng lúa, gạo, đồ sứ, mai đồi mồi… Sau đó ông đem tất cả những hàng hoá đổi với giá thấp này bán ra với giá cao.
Việc buôn bán ngọc quý của Lã Bất Vi không ngừng phát đạt, vậy mà ông vẫn cảm thấy chưa thoả mãn. Ông không phải hạng phú thương chỉ biết bo bo giữ của, ông có tham vọng dựa vào tiền bạc để làm chính trị.
Lã Bất Vi đã chọn đất xây thêm một khu nhà mới, bên trong cùng là lầu son gác tía, chín khúc hồi lang rồi đến đó ở. Lã Bất Vi nhìn thấy ánh mắt khó chịu của chủ tơ lụa họ Tống đối với nhà mình. Cuộc sống hào hoa phú quý, áo lông, ngựa béo, mâm ngọc, sơn hào hải vị đã khiến ông vĩnh viễn từ biệt với cuộc sống quẫn bách và lạnh lẽo trước kia. Vị môn khách trước kia mà nhà Vệ Hằng không dùng thì giờ đây cũng đã có môn khách. Điều ông thấy buồn nhiều nhất là vàng bạc càng lúc càng nhiều thì thời gian trong tay mỗi lúc một ít. Mặc dù thời gian nhàn rỗi rất ít, ông vẫn tiếp tục nghiền ngẫm, nghiên cứu quyển “Kế nhiên”. Mỗi khi ngồi trước cuốn sách, Lã Bất Vi lại nghĩ tới người biểu diễn xiếc rắn Hoàng Phủ Nghĩa. Không biết bây giờ anh ta cùng con rắn của mình lăn lộn ở góc phố nào, biết đến bao giờ mới gặp lại vị hạo nhiên quân tử này? Mỗi khi đọc được một thiên “Kế nhiên…” Lã Bất Vi đều thấy được sức mạnh và tác dụng của sách vở. Từ sớm Lã Bất Vi đã manh nha ước vọng soạn sách, ông muốn cùng môn khách viết một bộ sách bao quát tất cả mọi sự vật trong thiên hạ, tập hợp mọi chước tác của bạch gia chư tử, lưu lại cho muôn đời sau. Chẳng phải đã có một bộ “Án Tử Xuân Thu” của học sĩ Nha Tử đã truyền tụng hay sao, ta cần phải viết một bộ sách như thế, sẽ lấy tên “Lã Thị Xuân Thu”. Ông thấy trong thời đại trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng này, có thể đưa ra được một giọng điệu riêng trong tư tưởng, cũng như một cuộc buôn bán vốn mỏng lãi lớn khiến ta sung sướng, ngây ngất.
Có một việc khác khiến Lã Bất Vi trong lòng bối rối, lo lắng không yên. Đó chính là Hoàng Phủ Kiều bỏ đi không để lại chút tin tức gì. Ông vừa mua bán vừa tìm kiếm. Thậm chí còn phái một số môn khách tới các nước chư hầu dân biển tìm kiếm. Trai lớn lấy vợ, gái lớn gả chồng, Lã Bất Vi đã đến cái tuổi lấy vợ sinh con, hơn nữa làm ăn buôn bán lại đang hết sức hưng thịnh.
Lã Bất Vi biết có ba thê bảy thiếp cũng là thói phong lưu thường tình của các bậc đại trượng phu. Vậy mà, Lã Bất Vi muốn đem vị chí danh chính ngôn thuận của người vợ chính cho người mà ông ngày đêm mộng tưởng – Hoàng Phủ Kiều. Nếu không tìm được tin Hoàng Phủ Kiều, Lã Bất Vi sẽ phải chọn người nào vào vị trí đó?
Một hôm, một người khách diện mạo bí hiểm đến cửa hàng, xem cách ăn mặc và giọng nói giống như người nước Triệu đến từ thành Hàm Đan. Ông ta kéo Lã Bất Vi sang một bên nói nhỏ: “Có ngọc khuê không?”. Lã Bất Vi lắc đầu. Người kia nói: “Tôi có thể trả giá cao”. Lã Bất Vi hỏi: “Ông có thể mua được bao nhiêu?”. Người kia trả lời: “Năm kiệu”.
Chà! Lã Bất Vi kinh ngạc. Như vậy phải dùng đến năm ngàn lạng vàng! “Ông mua nhiều ngọc khuê như thế để làm gì?”
Người kia cũng nhìn thái độ bán tín bán nghi của Lã Bất Vi nói rất thần bí: “Nói cho ông biết nhé, tôi đến từ Hàm Đan, phụng chiếu lệnh của Triệu Vương đi mua ngọc khuê, vì Triệu Vương sắp phong quan phong ấp”.
Lã Bất Vi trầm tư nói: “Được, một tháng nữa ông đến lấy hàng”. Người kia nói: “Được”.
Lã Bất Vi nói: “Tốt nhất ông để lại chút vàng làm tin”. Người kia lôi trong ngực ra một trăm lạng vàng. Lã Bất Vi nghe nói có nợ là Lạc Phượng Ba sản xuất ra loại ngọc khuê này, quyết định cùng Triệu Khả Tín đến đó.
Thương hải tang điền, trời đất đổi thay. Thân Hầu ngươi đã vì thiên tử năm nào vào sinh ra tử giúp đỡ thái tử Nghi Cữu làm chủ giang sơn xã tắc, bây giờ đã tuyệt tự. Mỏ ngọc đã trở thành sản nghiệp trong đất phong của một vị đại phu nước Tề. Ở đây bán cả loại ngọc thô và ngọc đã qua chế tác. Vị đại phu nước Tề này, trên bãi đất rộng rãi và bằng phẳng trước Lạc Phượng Ba đã cho xây thêm một kỳ đình mái hiên, đó là trụ sở quản lý các hoạt động chợ búa. Đứng trên kì đình có thể nhìn thấy xe cộ của thương nhân các nước qua lại không dứt, bụi bay mù mịt.
Đây là lần đầu Lã Bất Vi thấy một mỏ ngọc sản xuất sầm uất đến thế. Không thể kìm được sự trầm trồ thán phục. Triệu Khả Tín từ lâu đứng bên cạnh nói, hai năm trước qua đây, vẫn chưa thấy có sự thịnh vượng như vậy.
Trong nhà hàng để mẫu, Lã Bất Vi bị ánh sáng chiếu rọi của các loại ngọc xếp tầng tầng lớp lớp làm hoa cả mắt. Lã Bất Vi nhắm mắt bình tâm lại, sau đó mới tập trung được ánh mắt của mình quan sát vào thế giới của các loại ngọc.
Lã Bất Vi đang chăm chú quan sát một lô ngọc khuê đắt tiền. Quan sát hồi lâu, ông xoa xoa lên bề mặt những viên ngọc, chúng phát ra những âm thanh vang dài. Lã Bất Vi dùng mắt nói cho Triệu Khả Tín biết, ông đã tìm được chỗ ngọc ưng ý.
Triệu Khả Tín thì thầm với Lã Bất Vi một hồi lâu, Lã Bất Vi đã biết, Triệu Khả Tín nhắc Lã Bất Vi rằng chỗ ngọc này dùng để định tước vị vương công quý thích. Ở đây buôn bán thoải mái nhưng ở nước Vệ nghiêm cấm việc buôn bán và vận chuyển ngọc. “Chu Lễ, Xuân Quan, Đại Tông Bá” quy định: “Dùng ngọc định ra sáu bậc, phân loại quý tộc: Vương Cầm Trần Khuê, Công Cầm Hằng Khuê, Hầu Cầm Tín Khuê, Bá Cầm Cung Khuê, Tử Cầm Cốc Bích, Nam Cầm Bạch Bích… Qua đó cho thấy những ngọc khuê này không thể tuỳ tiện mua bán mà ngoài Vương, Công, Hầu, Bá, Tử, Nam ra thì những người khác cũng không được đeo và sở hữu.
Lã Bất Vi nói: “Ta có cách, mua về chúng ta sẽ không bán ở thành Bồ Dương”.
Lã Bất Vi thấy khi ông và Triệu Khả Tín nói chuyện với nhau, có ánh mắt thỉnh thoảng liếc xéo về phía họ. Lã Bất Vi chăm chú nhìn đôi mắt lia láu trên khuôn mặt kia một hồi lâu, ký ức bị ngủ quên mới tỉnh lại. Đó là một khuôn mặt dường như đã quen, Lã Bất Vi lục tìm trong ký ức một hồi lâu, cuối cùng vẫn không nhớ ra đó là ai.
Triệu Khả Tín không chú ý đến biểu hiện của Lã Bất Vi và người kia, anh ta nói với Lã Bất Vi: “Lã tiên sinh, buôn bán khuê bích dĩ nhiên là một vốn bốn lời. Nhưng ngộ nhỡ bị kiểm tra, hàng hoá bị thu, vốn đã mất lại còn chịu phạt nữa”.
Lã Bất Vi nói: “Người không phải lo trời sập như thế, ta khắc có cách”.
Lã Bất Vi đã bỏ ra một khoản tiền lớn để mua đầy hòm khuê bích. Vào một buổi sáng còn đẫm hơi sương ông cho xuất lên xe ngựa nhằm hướng Bồ Dương xuất phát.
Khi chiếc xe ngựa của Lã Bất Vi đang đi trên con đường núi quanh co thì một con tuấn mã cũng đang theo hướng đó phóng như bay. Người cưỡi trên ngựa chính là người đã nhìn trộm Lã Bất Vi ở tiệm ngọc, Lã Bất Vi không biết rằng, người này chính là em của Tống Kì, hàng xóm cũ của ông. Anh ta tên là Tống Hoảng. Vì người em này có nhiều đặc điểm giống anh trai của mình, cho nên Lã Bất Vi cảm thấy Tống Hoảng có nét gì đó rất quen. Nhà nạp thần Tống Kì xây được mọi người tán thưởng. Vệ Nguyên Quân rất hài lòng, phong tặng cho con của ông ta Tống Hoảng làm Tề nhân chuyên đặt mua các đồ ngọc khí cho cung đình. Do tính chất công việc khiến ông ta thường xuyên qua lại giữa các mỏ ngọc ở Lạc Phượng Ba và thành Bồ Dương.
Lã Bất Vi vừa tới đấy, Tống Hoảng đã nhận ngay ra ông. Ông ta trước mặt vua thì sợ hãi rụt rè nhưng, trong con mắt người khác lại là hình tượng uy quyền. Vừa thấy Lã Bất Vi trong nơi để hàng mẫu, ông ta đã thấy kẻ đối đầu với nhà mình trước kia đang mua ngọc mà nhà vua đã cấm. Ông ta quan sát rất lâu, không bỏ qua một cử động nhỏ nào của Lã Bất Vi.
Đợi cho xe của Lã Bất Vi về gần tới thành Bồ Dương. Vị Tư Khấu nắm hình phạt dẫn một nhóm quân sĩ đứng hai bên cổng thành đang chăm chú đợi xe của Lã Bất Vi chạy tới cổng thành thì bị chặn lại. Người có bộ mặt uy nghiêm là Tư Khấu chưa từng giáp mặt Lã Bất Vi mà mới chỉ nghe qua sự miêu tả của Tống Hoảng, giờ nhìn thấy một vị thương nhân có thân thể nở nang ngồi trên xe ngựa, thì nhận ra ngay là Lã Bất Vi.
Từ trên xe bước xuống, Lã Bất Vi kéo Triệu Khả Tín đang run rẩy ra phía sau lưng, sau khi chắp tay hành lễ, ông thẳng thắn hỏi: “Tư Khấu đại nhân, sao lại truy hỏi người thương gia như tôi?”
Tư Khấu nói: “Tôi muốn đợi xem xem quý thương gia mua được những thứ ngọc quý gì từ dốc Lạc Phượng”.
Lã Bất Vi chỉ tay vào hòm hàng trên xe nói: “Tuân mệnh”. Sau khi Lã Bất Vi để cho Triệu Khả Tín mở nắp hòm hàng, đám lính tay chân khua khoắng, cởi bỏ sợi dây buộc túi, tất cả ngọc đều bị đổ xuống nền đất; sau đó từng thùng, từng thùng cũng được mở ra. Những cơn gió mềm mại thổi lướt qua những viên ngọc lấp lánh ánh sáng, óng ánh như những dải lụa đang rủ xuống.
Lã Bất Vi nhìn thấy vẻ mặt đắc ý tự mãn của Tư Khấu cùng ánh mắt sắc nhọn ác hiểm của y.
Tư Khấu nói: “Những thứ ngọc khí này, vua đã cấm, các người đã phạm vào điều cấm, hãy đi theo bọn ta!”.
Lã Bất Vi cười khẩy nói: “Tư Khấu đại nhân, hòm hàng của tôi có hai tầng, không thể chỉ kiểm tra lớp thứ một mà không kiểm tra lớp thứ hai. Dưới lớp vách ngăn còn có món hàng nữa đấy!”
Tư Khấu có chút ngạc nhiên, sai đám lính lục soát lại lần nữa. Quả nhiên, một tên lính nhìn thấy có một lớp vách ngăn, sau khi mở ra thì không thấy vật gì cả, chỉ thấy một miếng thẻ tre. Tư Khấu lấy lên xem qua, chỉ thấy những nét chữ rất chỉnh tề viết: “Xin kính dâng lên đấng tối cao Vệ Nguyên Quân một chút ngọc mọn, gọi là có chút ít biểu thị sự chúc phúc. Đại phu Tề Quốc Trịnh Doanh. Tư Khấu mơ hồ hỏi: “Đại phu Tề Quốc Trịnh Doanh là ai vậy?”
Lã Bất Vi cười lớn nói: “Tư Khấu đại nhân hiểu biết ít cũng chẳng đáng trách, người có tiếng tăm lừng lẫy của dốc Lạc Phượng chính là ấp của ông ấy. Ông ấy do bận việc không có thời gian nên bảo ta chuyển lên cho Vệ Nguyên Quân. Tư Khấu đại nhân nghĩ xem, số ngọc khí này sẽ do tôi trình lên hay do đại nhân đưa vào cung đây?”
Trên mặt Tư Khấu có một chút ngượng ngùng, ấp úng nói: “Vẫn là người trình lên chứ”.
Lã Bất Vi lại thấy những viên quan uý đó cẩn thận liệm những viên ngọc đóng gói cẩn thận và xếp lại vào trong hòm.
Trên đường đi đến tiệm ngọc “Long xương quảng”. Triệu Khả Tín trong lòng chưa hết sợ hãi nói: “Tôi sợ toát cả mồ hôi thay cho Lã tiên sinh! Ngộ nhỡ bị bại lộ thì không dễ gì kết thúc chuyện này đâu”.
Lã Bất Vi nói: “Ngươi thử nghĩ xen, có ai lại dám đi hỏi vua, là có hay không đại phu nước Tề Trịnh Doanh đem ngọc quý cho đại vương”.
Triệu Khả Tín nói: “Ngược lại, tôi chỉ cảm thấy chuyện này rất nguy hiểm”.
Lã Bất Vi nói: “Làm ăn chân chất, há có mấy ai phát tài được? Muốn vơ vét của cải để trở nên giàu có thì phải dám lao vào chỗ mạo hiểm. Có những cái mạo hiểm nhìn từ bên ngoài thì kinh sợ, vào sinh ra tử, nhưng nếu từ bên ngoài quan sát kỹ xuyên vào bên trong, thì lại không phải là như vậy. Cứ nói đến chuyến đi đến dốc Lạc Phượng để mua những thứ ngọc quý này của chúng ta thì cũng chẳng giống như những hậu quả không thể tưởng tượng nổi mà ngươi lo lắng. Trừ những điều ta vừa nói, thì không có ai dám tới chỗ vua để hỏi xem có nhận được tặng vật của đại phu Tề Quốc Trịnh Doanh hay không? Ngươi thử nghĩ mà xem, Trịnh Doanh sống ở trong thành ấp của ông ta, cách dốc Lạc Phượng mấy trăm dặm thì việc điều tra cũng chẳng lấy gì làm dễ cả! Dù cho nhà vua có cho rằng đúng là có việc Trịnh Doanh tặng biếu ông ta ngọc bích, thì chỉ cần chúng ta bỏ ra vài kiệu biếu tặng ông ấy là có thể chuyển hoạ thành tốt.
Lã Bất Vi cũng chẳng đưa số ngọc bích trên về tiệm “Long xương quảng” mà lại ngầm mang về giấu ở đệ phủ của mình. Chỉ vài ngày sau là Trung Thứ Tử của nước Triệu sẽ cho người tới lấy số ngọc bích này, thế là Lã Bất Vi lại kiếm được khoản tiền lớn.
Được mấy ngày sau, tên quan uý họ Phùng hấp tấp chạy đến phủ đệ của Lã Bất Vi và nói với Lã Bất Vi rằng có người đặt lời gièm pha trước mặt Vệ Nguyên Quân, nói rằng ngài buôn bán phi pháp, vận chuyển ngọc bích mà vua cấm bán, Vệ Nguyên Quân vẫn còn chưa xác định được đúng hay sai. Nhân tình hình này, hãy cao chạy xa bay, tới các nước chư hầu khác để buôn bán. Chỉ cần có bản lĩnh thì tới đâu cũng có thể làm ăn phát tài được. Nhân tiện, còn có thể nghe ngóng tin tức của Hoàng Phủ Kiều.
Lã Bất Vi hỏi: “Không biết kẻ tiểu nhân ấy là ai?”
Viên quan uý họ Phùng nói: “Nghe nói là người giúp Vệ Nguyên Quân đặt mua ngọc bích của Tề nhân Tống Hoảng, anh ta có thể gặp vua bất cứ lúc nào, nói không ngoa với ngài rằng, ngài có đề phòng cũng không thắng được đâu. Không chừng, nếu lần này Vệ Nguyên Quân tin cho là phải mà giáng tội thì có hối cũng muộn rồi”.
Lã Bất Vi nói: “Lời của quan uý nói rất có lý. Thế giới vô biên, đất trời rộng lớn, chắc sẽ có chỗ để ta làm ăn chứ!”
Tên quan uý họ Phùng nói: “Vậy bây giờ ngài định đi đâu, việc này phải quyết sớm chứ không thể muộn được”.
Lã Bất Vi sau một hồi suy ngẫm, ông nói một cách quả quyết rằng: “Vậy thì tôi sẽ đi Đô thành Dương Trác nước Hàn!”
Tên quan uý họ Phùng nói: “Khi nào có tin tức của Hoàng Phủ Kiều, hãy lập tức báo cho tôi biết”.
Tổ tiên của người Hàn cùng với Chu Thiên Tử, cùng có họ Cơ. Con thừa kế của ông ta sau này phụng dưỡng vua nước Phổ, được phong Hàn Nguyên, gọi là “Hàn Vũ Tử”. Hàn Vũ Tử truyền ngôi được ba đời, Hàn Quyết làm thống soái ba quân cho nước Phổ giúp Phổ Cảnh Công đánh bại Tề Khoảnh Công và trở thành quan uý một trong sáu công thần hiển hách. Bắt đầu từ Hàn Quyết dùng phong ấp làm họ, không còn dùng họ Cơ nữa.
Khi Lã Bất Vi tới nước Hàn buôn bán, lúc bấy giờ Thái tử Cữu lên làm vua, chính là Hàn Li Vương. Đô thành Dương Trác của nước Hàn cũng là một thành ấp rất phồn hoa của thời Chiến Quốc. Lã Bất Vi chuyển tiệm bán ngọc của mình đến Dương Trác, ông vẫn dùng cái tên vốn có của nó là cửa hiệu “Long Xương Quảng”. Sống ở đất khách quê người, Lã Bất Vi vẫn kiên trì trên con đường làm giàu. Lịch sử làm giàu của Lã Bất Vi như là đề tài sống động dưới ngòi bút của rất nhiều nhà lịch sử học. Những nhà du thuýêt tung hoành thời Chiến Quốc đã viết: “Chiến Quốc sách. Người Bộc Dương Lã Bất Vi, nhà buôn ở Hàm Đan”. Tư Mã Thiên đời Hán viết cuốn “Sử ký. Lã Bất Vi liệt truyện”. Mã Túc đời Thanh viết cuốn “Dịch sử. Tướng Tần Lã Bất Vi”.
Trong những điển tích này đều không thể thiếu được những câu chuyện kể sinh động về những việc buôn bán của Lã Bất Vi ở Dương Trác và sự tích luỹ hàng ngàn lạng vàng của ông cho gia đình.
Nhưng ở tại Đô thành của người Hán, những truyền kỳ về sự gặp gỡ tình cờ giữa Lã Bất Vi và Hoàng Phủ Kiều càng làm xúc động lòng người hơn so với cuộc làm ăn buôn bán của ông.
Vừa mới tới, Lã Bất Vi vẫn chưa dốc toàn sức vào việc đi tìm Hoàng Phủ Kiều, người mà lâu rồi ông không được gặp mặt. Không phải là ông đã quên lãng người con gái có dáng vẻ dong dỏng, phong thái nhẹ nhàng đó mà là ông đang chìm sâu trong tình sâu nghĩa nặng với một người. Đối với việc cần phải thay đổi từ một phú ông giàu có tới một chức quan trong triều đình, ở vào hoàn cảnh không thân không sơ này thì Lã Bất Vi không thể dễ dàng bỏ qua một người khách thân cận với nhà vua tới từ nước Hàn được.
Ánh nắng của mùa đông giống như dòng nước lười nhác chảy vào cửa hiệu, những chiếc tủ kính bày bán ngọc trai lạnh lẽo được trùm lên một luồng khí ấm áp. Khi cánh cửa tiệm được mỏ ra, một vị khách ăn mặc lịch lãm bước vào. Lã Bất Vi nhìn ra phía ngoài, vị khách này tuổi tác có lẽ chỉ bằng ông hoặc hơn ông vài tuổi. Ông ta có dáng vẻ gày guộc, trắng xanh của một nho sĩ. Sau một hồi đi đi lại lại, Lã Bất Vi đã biết được tên ông ta là Hàn Trọng Anh. Ông ta là khách khanh kề cận bên cạnh Hàn Li Vương. Ở các nước chư hầu thì hạng khách khanh như thế này không được coi trọng lắm, nhưng ở nước Hàn thì lại có thể nhận được rất nhiều bổng lộc, chính vì thế trong bảng “quan chức tiên tần” viết: “Người nước Hàn rất coi trọng khách khanh và chức này chỉ có dưới Tướng quốc”.
Vị khách khanh có lối ăn nói trau chuốt này dường như có điều gì bí ẩn. Ông ta là người đến “Long Xương Quảng” nhiều nhất. Ông ta không cò kè thêm bớt giống với bất kỳ một người khách nào. Sau khi quan sát kỹ một hồi và hỏi rõ giá cả và trả tiền ngay. Ngày này qua ngày khác, Lã Bất Vi phát hiện ra rằng số ngọc bích mà ông ta mua toàn là thứ hàng rẻ nhất. Có một lần Lã Bất Vi lấy một viên ngọc quý - ngọc Toàn Cơ - và bán cho ông ta bằng giá của một viên ngọc bích. Ông ta từ chối nhiều lần vì lý do ông ta chẳng có công cán gì nên không tiện nhận. Để báo đáp tấm thịnh tình của Lã Bất Vi, ông ta đã mời Lã Bất Vi tới phủ đệ của mình dự yến tiệc.
Phủ đệ của Hàn Trọng Anh so với tưởng tượng của Lã Bất Vi thì rất khiêm tốn hơn nhiều và giản dị hơn nhiều so với ngôi nhà của ông. Trong cái bất ngờ đó, Lã Bất Vi vô hình chung lại có một cảm giác ưu việt. Sau khi vào tới phòng khách, thì ông mới thấy những tiên đoán của mình là đúng. Vị khách khanh mua ngọc khi này thực chất là để thu gom. Nhìn gia cảnh và những gì ông ta mua được, Lã Bất Vi mới biết được vị khách khanh này là người rất giàu có nhưng khiêm nhường. Hàn Trọng Anh dường như đã hiểu rõ nội tâm của Lã Bất Vi. Ông ta tự phân trần giảng giải: “Chút bổng lộc mọn ấy mà”.
Tuy không có gì là quý báu đẹp đẽ nhưng những người hầu của Hàn Trọng Anh vẫn bày ra một bữa tiệc khác thường. Trên bàn ăn thịnh soạn đầy rượu và thức ăn. Trong lúc Lã Bất Vi và Hàn Trọng Anh ngồi đàm đạo với nhau, từ chuyện bảo ngọc tới đạo đức văn chương, từ tình hình nước Hàn tới cục thế của thiên hạ, hai người đều cảm thấy đối phương của mình tài cán hơn người, là trụ cột của đất nước.
Hàn Trọng Anh thật thà nói: “Dựa vào những tài cán kinh doanh và học thức của Lã hiền đệ, hai chân không thể đi tới triều đình, chỉ có thể quanh quẩn vài bước trong ngoài quầy hàng, đúng là không được thoải mái, trí không được phát triển!”. Lã Bất Vi trầm tư: “Ở đời ai chẳng thích được tiến thẳng tạo công lập nghiệp, nhưng khổ nỗi là không có đường tiến và cũng không có chỗ bám dựa!”. Hàn Trọng Anh nói: “Nếu như hiền đệ thực sự muốn chen chân vào chốn cung đình, bước lên cửa rồng, có một người sau này sẽ giúp hiền đệ được!” Lã Bất Vi hỏi: “Người ấy là ai vậy?” Hàn Trọng Anh nói: “Lý Triển, con người này rất có chí hướng, văn võ song toàn, từng làm thầy dạy cho thái tử Hoàn, là người vạch mưu sách, tìm mưu kế cho thái tử, tình như thủ túc. Có một lần do sơ ý có lời đắc tội với Đại Vương đã bị bãi xuống làm dân thường. Rồi một ngày núi non như sụp đổ, đại vương băng hà, thái tử Hoàn lên làm vua, trao cho Lý Triển ấn Tướng quốc. Bây giờ Lý Triển phải sống ở nơi sông núi khốn quẫn, lấy việc kiếm củi câu cá làm nghề. Nếu như bây giờ hiền đệ khẳng khái mở hầu bao, lúc đói cho cơm, một ngày nào đó con rồng ở núi đông uốn mình trỗi dậy trở lại, tất sẽ phải báo đáp tri ân, tiến cử người hiền có năng lực, lúc đó cuộc sống quân thần của hiền đệ chắc chắn sẽ nhiều triển vọng lắm!”. Lã Bất Vi nói: “Nên làm như thế nào, xin huynh trưởng chỉ giáo cho vài điều”. Hàn Trọng Anh nói: “Lý Triển bây giờ đang ngụ tại thôn Tuyết Nê, đông thành Dương Trác. Trước tiên hiền đệ hãy đến hỏi thăm, dốc bầu tâm sự, kề gối nói chuyện với nhau là được rồi”. Lã Bất Vi nói: “Đến đó với hai bàn tay trắng thì còn gì là có ý kính trọng người ta nữa. Vậy nếu mang theo lễ vật đến có đường đột hay không?” Hàn Trọng Anh cười lớn và nói: “Các người là dân buôn bán, lời đi đôi với lợi, chuyện gì cũng lấy tiền bạc ra để nói. Nhưng vị Lý Triển tiên sinh này không giống như những người phàm tục khác, coi chuyện phú quý và quyền lực như cỏ rác. Hiền đệ đi tới đó, chỉ cần mang theo những lời thành thực là được rồi. Sau này hãy nói chuyện biếu xén, tuỳ cơ mà hành sự!” Lã Bất Vi hỏi: “Bèo nước gặp nhau, huynh trưởng có thể vì hiền đệ mà tiến cử một lần nữa được không?” Hàn Trọng Anh nói: “Có những cái hiền đệ chưa biết, Lý Triển tiên sinh dường như không xem trọng những khách khanh và hoạn quan kề cận bên cạnh Hoàng thượng. Ta và ông ấy không có hiềm khích cũng không có mối thâm giao. Nếu như tuỳ tiện tiến cử, sợ rằng lợi bất cập hại”.
Trời đã tối, Lã Bất Vi muốn đi nghỉ nhưng những lời nói trên cứ trở đi trở lại trong đầu ông. Khi ông thấy Hàn Trọng Anh không nói gì, hai mí mắt nhắm khép lại, ông nhớ lại ngày xưa hồi còn nhỏ ông đi bắt ngọc trai sông ở Bộc Dương.
Lắc lư cùng với chiếc xe ngựa đi trên con đường nhỏ gập ghềnh của bờ ruộng trong sương khói lờ mờ. Lã Bất Vi nhìn thấy mặt trời giống như lòng đỏ trứng gà cũng đang run rẩy lay động. Tiết trời khá lạnh, thỉnh thoảng ông lại thở ra đánh khà một tiếng, những hạt nước nhỏ giống như những hạt ngọc nhanh chóng đọng lại trên bộ ria cắt ngắn, cạnh khoé mép của ông.
Khi chiếc xe ngựa của Lã Bất Vi tiến vào thôn Tuyết Nê, ông thầm nghĩ: “Mảnh đất này đúng là giống với cái tên của nó, mỗi căn nhà giống như bị chôn vùi trong tuyết sương vậy”. Cái đầu tiên mà Lã Bất Vi nhìn thấy trong sân vườn nhà Lý Triển là con chó vàng rất béo. Cùng với tiếng sủa vang dội của nó, một vị trưởng giả bước ra. Khuôn mặt ông nề nề khiến người ta rất khó nói ra nét đặc trưng trên khuôn mặt ông. Trên chiếc áo thì vá chằng vá đụp giống như những cánh bèo nổi phồng phềnh trên mặt nước. Nhìn cách ăn mặc này, cũng lộ rõ thân phận dân thường ăn đói mặc rét của ông ta. Lã Bất Vi cảm thấy kỳ lạ ở chỗ: từng bước chân của ông ta vẫn mạnh mẽ và nhanh nhẹn, mỗi lần ông bước, tuyết ở dưới chân ông phát ra những tiếng chút chít, như những tiếng kêu cò vạc khi bị trói chân vậy.
Đợi khi vị trưởng giả tới gần, Lã Bất Vi nhìn thấy mắt ông ta rất sáng, hàm răng trắng tinh. Giọng nói của vị trưởng giả lạnh lùng như tuyết: “Tìm ai?” Lã Bất Vi đáp: “Lý Triển” Vị trưởng giả lại hỏi: “Người là bạn của ông ta” Lã Bất Vi đáp: “Không phải” Vị trưởng giả vẫn hỏi: “Người không quen cậu ta, không thân thiết với cậu ta, vậy tới tìm cậu ta có chuyện gì?” Lã Bất Vi nói: “Tôi ngưỡng mộ danh của ông ta mà tới, tôi muốn kết thành bạn của ông ta”. “Lý Triển không có nhà”. “Tôi sẽ đợi”. “Không biết khi nào cậu ta mới trở về”. “Ông ấy đi đâu vậy?”. “Rất khó đoán được. Nếu không lên núi đốn củi thì vào trong thành bán than”. “Vậy thì phiền lão bá phải tiếp tôi rồi. Tôi sẽ ở lại đây đợi Lý Triển tiên sinh”. “Tôi đã nói với ông rồi, không biết khi nào cậu ấy trở về đâu!”. “Vậy thì tôi sẽ cung kính đứng đây chờ đợi, mạn phép hỏi lão bá, ông là người như thế nào với Lý Triển?” “Ta là Lý Trọng, huynh trưởng của cậu ta!”
Lã Bất Vi cởi con ngựa ra khỏi xe rồi buộc nó vào gốc cây trong sân vườn. Lã Bất Vi thấy chỗ ở của Lý Triển giống như một lò than, có một cái võng vải giống như một chiếc lưới đánh cá được treo ở góc tường. Đây có thể nói là mảnh đất không yên ổn với hai anh em, ăn uống cũng chỉ là gạo nứt với đậu, lê, rau cỏ. Mức độ nghèo đói như thế này, quả là quá sức tưởng tượng của Lã Bất Vi.
Lý Trọng rất lạnh nhạt với Lã Bất Vi, chỉ ngồi trước cửa lò để đốt than, bên cạnh chẳng còn có ai nữa. Lã Bất Vi lấy một cái đôn bằng gỗ để làm ghế, ông ngồi lên đó và nhìn vào những tia sáng được hắt ra từ cửa lò; dưới sự phản chiếu của những tia sáng đó, Lã Bất Vi thấy mặt Lý Trọng đầy vết nhăn.
Khi trời nhập nhoạng tối, cũng chẳng thấy bóng dáng của Lý Triển đâu. Cho dù Lã Bất Vi bụng đói cồn cào nhưng cũng khó có thể nuốt được bát cơm thô kém mà Lý Trọng mang cho ông. Đợi Lã Bất Vi cố gắng nuốt hết bát cơm, Lý Trọng nằm vào trong chiếc võng vải ngửa mặt nhìn ra tứ phía. Lã Bất Vi nghĩ, người ngủ bên cạnh chiếc võng vải của Lý Trọng buổi tối hôm nay là một người buôn giàu có đến từ Dương Trác.
Buổi sáng hôm sau, Lã Bất Vi vẫn cứ chờ đợi trong sự suốt ruột và khô khát. Lã Bất Vi vẫn ngồi trên chiếc ghế đôn đối mặt với ánh sáng của bếp lò và một khuôn mặt dưới sự phản chiếu của thứ ánh sáng kia. Lã Bất Vi không thể chờ đợi hơn nữa. Ông tỏ ra rất bất bình với người có tên là Lý Trọng kia, người được coi là huynh trưởng mà không biết Lý Triển em trai mình đi đâu. Lã Bất Vi biết câu hỏi của mình có ý vị như hồi chuông báo thức: “Lý huynh trưởng, rút cục Lý Triển tiên sinh đã đi đâu, ông không thể đoán ra sao?” Lý Trọng nói: “Tối hôm qua ta đã nói rồi, nếu không lên núi đốn củi thì vào thành bán than”. Lã Bất Vi hỏi: “Lý huynh trưởng vừa nói, nếu không lên núi đốn củi thì vào thành bán than. Vậy thì xin mạn phép hỏi: ngọn núi đó là núi nào, thành đó là thành nào?” Lý Trọng nói: “Đó là núi Hùng Thoán Lĩnh và thành Dương Trác”. Lã Bất Vi lại hỏi: “Núi Hùng Thoán Lĩnh cách đây bao nhiêu dặm và đi bằng cách nào?” Lý Trọng nói: “Đi ra cửa, hướng về phía tây, có một khe hẻm to, đi tới đầu hẻm là đến, chừng khoảng mười dặm”. Lã Bất Vi vẫn hỏi: “Đã là anh em thì như da với xương, môi hở răng lạnh, xin lỗi tôi nói thẳng, tôi thấy Huynh trưởng không mấy quan tâm đến việc lành dữ của anh em mình lắm!” Lý Trọng chỉ cười đáp lại lời chỉ trích của Lã Bất Vi và phớt lờ như không có chuyện gì.
Lã Bất Vi buộc ngựa vào xe, và lại ngồi lên chiếc xe ngựa của ông chuẩn bị ra khỏi nhà họ Lý, hướng về phía Tây, đến Hùng Thoán Lĩnh xem sự thể rút cục là thế nào. Sau khi Lý Trọng biết được dụng ý của Lã Bất Vi ông nói với Lã Bất Vi đợi khi em ta về ta sẽ nói lại với cậu ấy.
Lã Bất Vi sau khi nói rõ mình là ai, liền quất ngựa cho xe chạy. Hai chiếc bánh quạnh quẽ, mòn vẹt lại bắt đầu chuyến đi hướng về phía trước, trên con đường phủ tuyết đầy gian nan. Khi Lã Bất Vi quay đầu lại để cáo biệt ngôi nhà như chiếc lò than ấy, ông nhìn thấy trên bộ mặt như hun khói của Lý Trọng xuất hiện một nụ cười rất khó hiểu. Một con người kỳ quái.
Con đường nhỏ rất bằng phẳng, tuyết trên đường đã bị ánh nắng mặt trời làm rắn kết lại, khiến chiếc xe ngựa như chạy nhanh hơn. Chiếc xe lắc lư như người say, phải khó khăn mới tới được đầu của khe hẻm, một chiếc dốc lớn, thẳng đứng đã cắt đứt con đường đi, Lã Bất Vi nghĩ, chẳng lẽ đây chính là Hùng Thoán Lĩnh mà Lý Trọng đã nói đó sao. Lã Bất Vi nhìn xung quanh, trên đỉnh núi trắng mờ chỉ toàn là cây cối màu xám. Lã Bất Vi gọi lớn, tiếng gọi vang vọng khắp núi rừng: “Lý Triển”. Chốn thâm sơn cùng cốc vang vọng đáp lại lời của chính mình: “Lý Triển”. Lã Bất Vi cảm thấy chút cô đơn, lẻ loi. Lã Bất Vi đánh xe chạy chầm chậm, men theo đường núi, đảo mắt tận thu cảnh vật xung quanh.
Khi Lã Bất Vi thất vọng tay không quay về Viên Lạc (nơi ở của Lý Triển), Lý Trọng dường như đã đoán ra được sự việc, tươi cười ra tận cửa đón Lã Bất Vi. Lã Bất Vi ngạc nhiên, hỏi: “Lý Trọng tiên sinh, hình dáng anh em ngài như thế nào? Ngày mai đến bán than ở thành Dương Địch, tôi nhất định đi tìm bằng được!”. Lý Trọng trả lời: “Cùng một mẹ sinh ra, ngài xem hình dáng phải như thế nào? Giống như tôi vậy!”
Hai ngày sau, Lã Bất Vi lại chở than lên thành Dương Địch tìm Lý Triển. Bán hơn mấy chục xe than mà khuôn mặt Lý Triển vẫn biệt tăm.
Lã Bất Vi quay về, vừa ra cửa thành thì gặp Lý Trọng, chào hỏi một hồi rồi hỏi Lý Trọng đến thành Dương Địch này có việc gì. Lý Trọng nói cũng đi tìm em. Bất Vi về phủ ngồi chưa ấm chỗ, đã thấy Lý Trọng theo phía sau, Bất Vi hỏi:
“Vẫn chưa tìm thấy em ngài sao?” Lý Trọng trả lời: “Tìm thấy rồi” Lã Bất Vi hỏi: “Ở đâu vậy?” Lý Trọng nói: “Ở trước mặt tiên sinh đó” Lã Bất Vi quay mắt nhìn xung quanh, trong phòng chỉ có Lý Trọng vội hỏi: “Là tiên sinh định trêu đùa tôi à?” Lý Trọng nghiêng mình thi lễ, trịnh trọng nói: “Người đang nói cùng Lã tiên sinh là Lý Triển đây” Lã Bất Vi ngẩn người hỏi: “Ngài không phải là anh của Lý Triển sao?” Lý Trọng nói: “Họ Lý nhà tôi cô quả, làm gì có anh em. Tôi thân mang trọng tội, ẩn mình nơi sơn dã, muốn tránh điều phiền phức nên phải lấy tên là Lý Trọng. Hai ngày nay thấy Lã tiên sinh hao tâm tổn lực, thành tâm tiếp kiến, giao tiếp bạn hiền, ngài vì tôi mà nhọc người mệt sức, thực bụng muốn tới tạ tội với ngài!” Lã Bất Vi thận trọng nói: “Lý Triển tiên sinh, xin ngài cẩn thận!” Rồi mời Lý Triển ngồi, sai người đem áo hoa lụa gấm cho Lý Triển thay, bày yến tiệc, mời cả Hàn Trọng Anh, ba người chén tạc chén thù, rất tâm đầu ý hợp.
Lã Bất Vi mời Lý Triển chuyển đến phủ của mình, rũ bỏ khó khăn, thiếu thốn. Lý Triển nói: “Tôi ở triều đường có bao nhiêu kẻ thù, nhất thủ nhất động đều bị người ta chú ý. Nếu thân ở Dương Địch, tiếng tăm thị phi tất sẽ lọt tới triều đường, quan quân lấy làm hiềm khích có khi không tránh nổi hoạ vào thân. Ẩn mình ở Tuyết Nê thôn, sinh sống đạm bạc có thể tránh khỏi mọi sự dòm ngó, càng thuận lợi cho việc hành sự sau này”. Hàn Trọng Anh cho biết Lý Triển nhìn xa trông rộng. Lã Bất Vi cũng cảm thấy rằng việc nhỏ không biết nhịn sẽ tổn hại tới đại sự, Lý Triển tính toán sâu xa quả là bậc kỳ tài.
Lúc chia tay, Lã Bất Vi phái người đánh xe đưa Lý Triển về tận thôn Tuyết Nê, trên xe chở nhiều lương thực và tiền bạc. Quay trở về, Lý Triển cởi bỏ áo gấm, khoác trên mình bộ quần áo rách rưới, bôi mặt nhọ nhem bẩn thỉu. Để tránh phiền phức, hàng tháng vào lúc nhá nhem tối hoặc đêm khuya Lã Bất Vi mới tới thôn Tuyết Nê.
Cha của Lã Bất Vi là Lã Hâm thấy con giao kết với hạng người khố rách áo ôm, nghèo nàn thì trách con: “Con nên bỏ công sức tiền tài vào việc buôn bán mới sinh lời phát đạt được” Bất Vi nói: “Xin cha tin con! Con giao kết với Lý Triển tiên sinh cũng là một vụ buôn bán hời đấy” Lã Hâm nói: “Vị đại công tử này chẳng phải là người bán than sao? Lẽ nào con dùng tâm sức, hy vọng sinh lời trong việc buôn bán than củi?. Lã Bất Vi mỉm cười, kể cho cha biết lợi ích thực tế việc kết bạn với Lý Triển. Lã Hâm cảm thấy lo lắng: “Con làm việc này không từ thủ đoạn, mưu cầu quan tước. Mai này nếu bại lộ, e miệng thế chê cười”. Lã Bất Vi rành rọt nói: “Ngày mai, giở mọi mưu kế, tìm trăm phương ngàn cách giành chức quan không phải là việc của phường tiểu nhân vong ơn bội nghĩa. Ngày xưa, người ta luôn kính trọng vua Nghiêu Thang Tuấn Vũ, tôn kính như bậc thánh thần, bây giờ xem ra chỉ như trò đùa thôi!”. Thấy con ngang nhiên chỉ trích, Lã Hâm kinh ngạc nói: “Từ cổ tới kim, chưa có ai nói Nghiêu Thuấn không tốt bao giờ”. Bất Vi nói tiếp: “Vua Nghiêu khi trị vì thiên hạ, sống ở nhà cỏ không che nổi sương gió, ăn lương khổ, uống canh rau rừng. Ông ta mặc cái gì? Quá lắm là tấm lông thú tránh rét mùa đông, tấm vải không choàng tạm mùa hè. Bây giờ hạng người bần cùng trong thiên hạ cũng còn sang hơn nhiều. Vua Nghiêu trị vì thiên hạ, tự tay cầm cuốc kiếm sống, nhọc công mệt sức không có nổi thịt ăn, tay dài hơn chân, so với bọn nô tì hầu hạ bây giờ còn kém vài phần. Vì thế có thể nói là, thời cổ đại, người ta trao ngôi thiên tử cho người khác dễ dàng vì cuộc sống của họ cũng chẳng khác mọi người, cũng phải lao động làm lụng nên ngôi báu trao tay không tiếc nuối.
Bây giờ tình hình đã khác xa rồi. Một huyện lệnh - chức quan thấp nhất cũng có ai bì được, không chỉ bản thân hưởng vinh hoa phú quý và ân trách còn lưu cho hậu thế, con cái đời sau được lên xe xuống ngựa, nên ai cũng xem trọng ngôi vị này. Vì thế, theo chuyện này mà nói, thời xưa nhường ngôi thiên tử dễ dàng, thời nay theo đuổi huyện lệnh cũng khó. Đó là chuyện lợi ích thực tế hoàn toàn khác nhau. Làm thiên tử chẳng lợi lộc, lại chịu khổ, ai muốn làm? Làm huyện lệnh lại khác hẳn, chắc chắn mọi người ai cũng cố theo đuổi.
Người sống nơi núi cao, phải xuống khe suối sâu lấy nước, mỗi lần gặp dịp lễ tiết lấy nước làm quà biếu tặng, người sống nơi ngập úng, chuyên khổ vị bị thuỷ tai lại muốn tiêu bớt nước đi. Vì thế đến mùa giáp hạt, đến cả anh em cũng không cho nhau nổi bữa cơm, mùa thu hoạch lương đống đầy đồng thì khách sơ giao cũng đãi tiệc, chẳng phải họ có lòng tốt hiếu khách quên tình cốt nhục mà vì của cải quá nhiều; ngày nay người ta sống phải tranh giành nhau không phải tâm địa hẹp hòi mà vì tài vật hiếm quý. Cổ nhân dễ thoái bỏ ngôi vị không phải vì lòng cao thượng mà vì quyền lợi ít ỏi, ngày nay tranh quan vô chức không phải hạng vô sỉ mà vì bổng lộc dồi dào”.
Lã Hâm ban đầu cảm thấy kinh ngạc sửng sốt, càng nghe càng thấy thán phục ý chí lớn lao của con, luôn miệng tán thưởng: “Diệu kế, thật diệu kế!” Bất Vi nói tiếp: “Xin cha đừng quá khen con, có một chút lời lãi nào đáng kể gì; chút lời ấy chỉ là tạm thời thôi, chưa có tiền đồ lớn nhưng phải buông câu được con cá lớn, có như thế lãi lời mới không đếm xuể được!” Lã Hâm hỏi: “Lý Triển có phải là con cá lớn không?” Lã Bất Vi dương dương tự đắc: “Tất nhiên rồi!”
Công lao của Lã Bất Vi quả là không uổng phí.
Năm 273 trước CN, liên quân hai nước Triệu, Nguỵ tiến công Hoa Dương nước Hàn, tình hình nguy cấp. Nước Hàn cầu viện nước Tần, xin binh ứng cứu, lúc đầu, nước Tần khoanh tay đứng nhìn, án binh bất động. Hàn Tướng quốc nói với Trần Thệ đang bị ốm nằm trên giường rằng: “Nay việc quân gấp gáp, hy vọng ngài dù lâm bạo bệnh cũng xin đêm tối đến Tần một phen”. Trần Thệ đến nước Tần gặp Nhương hầu Nguỵ Nhiễm. Nhương hầu nói: “Chẳng phải việc binh khẩn cấp sao? Vì thế mới cho ông đến đây!” Trần Thệ đáp lời: “Không gấp gì cả”. Nhương hầu nổi giận: “Ngài tới đây không phải làm sứ giả cho quân vương nước mình hay sao? Nước Hàn cho sứ giả đến không ngừng, báo với tệ quốc tình hình rất khẩn cấp, thế là tại sao?” Trần Thệ nói: “Nước Hàn muốn là khẩn cấp thì có thể thay đổi tình hình thuận theo quý quốc. Chính là vì chưa có nghiêm trọng mới sai tôi tới đây”. Nhương Hầu nghe xong lập tức nói: “Ngài không cần đến gặp Tần vương, tôi lập tức cho quân tiếp ứng”.
Quả nhiên, tám ngày sau, quân Tần đã tới núi Hoa Dương, đánh bại liên quân Triệu, Nguỵ. Năm ấy, Trịêu Li Vương qua đời, con là Hoàn Huệ Vương lên ngôi.
Ngày hôm sau, Hoàn Huệ Vương lập tức đến thôn Tuyết Nê đón thầy giáo Lý Triển hồi cung. Khổ tận cam lai, Lý Triển được phong làm Thái tể, đức cao trọng vọng. Lã Bất Vi trở thành khách khanh, hưởng hàm Tam phẩm, có thể ra vào cung vua. Hôm thiết triều, Lã Bất Vi thấy Hoàn Huệ Vương oai nghiêm khí phách, trong lòng xốn xang, ông biết, tự mình sẽ bước lên đài cao phay hầu bái tướng.
Lã Bất Vi tuy chỉ có tước hầu, không có quan chức nhưng được đoàng hoàng ra vào triều đường. Hoàng Huệ Vương bày yến tiệc, mời các chư hầu và sứ thần, có lúc mời cả Lã Bất Vi; vì thế chẳng bao lâu Lã Bất Vi thiết lập được quan hệ khá tốt với vài người trong triều, cho dù cẩn trọng trong từng lời nói song trước mắt vua, rốt cuộc vẫn chỉ là khách thương tầm thường. Ngày trước khi vào thành buôn bán, không ai chú ý tới Lã Bất Vi, chỉ nghỉ ở quán trọ thường hạng, bây giờ mọi việc đã khác mỗi lần tới đây đều có bè bạn. Ngoài việc buôn bán, Bất Vi thường vào cung vương hoặc nghỉ ngơi trong phủ tướng hầu. Đây chính là cơ hội để Lã Bất Vi nắm vững tình hình các nước chư hầu. Bất Vi không còn là thương nhân giống người khác nữa.
Sau khi chia tay ở Dương Quang, Bất Vi vẫn tiếp tục buôn bán châu ngọc ở xưởng “Long Xương Quảng”
Một hôm, khi Lã Bất Vi đang ngồi tính toán, có hai người một gày một béo cầm ngọc hỏi bán. Lã Bất Vi đồng ý mua nhưng muốn xem qua đồ bán. Người béo nhẹ nhàng lấy trong mình chiếc vòng ngọc đưa cho Lã Bất Vi.
Bất Vi sửng sốt, đây chính là chiếc vòng ngọc mà Bá Phụ tặng mình. Chính Lã Bất Vi đem tặng cho Hoàng Phủ Kiều, cớ sao lại lọt vào tay hai gã này? Bất Vi giật mình lo sợ, xem đi xem lại, đích thực là tín vật đã đưa cho Hoàng Phủ Kiều.
Bất Vi biết đã có chuyện xảy ra, cố nén nỗi sợ hãi, lấy giọng trấn tĩnh hỏi: “Chiếc vòng này có phải đích thực của các ông không?”
Người béo vội hỏi lại: “Không phải của chúng tôi. Hay là các ông không mua?”
Bất Vi lại hỏi: “Thế ở đâu ra?”
Người gầy gạt đi: “Ông không phải là quan phủ, không phải hỏi gốc tích ngọn nguồn, có không can hệ gì tới ông. Ông xem qua ngọc rồi, cuối cùng ông có mua hay không?”
Bất Vi nói: “Tất nhiên là mua”. Sau một hồi ngã giá, Lã Bất Vi trả tiền. Hai người mừng rỡ, cầm tiền ra về.
Họ vừa bước chân ra khỏi cửa, Lã Bất Vi cùng một người gia nhân bước vội theo sau. Bất Vi theo hút bóng áo đen của người béo, qua một lối rẽ, đột nhiên bóng áo ấy bước nhanh vào quán rượu ven đường.
Hai người bán ngọc sung sướng hả hệ gọi bày rượu thịt, bắt đầu chúc tụng nhau.
Bất Vi và người hầu ngồi kế bên cạnh, cũng vờ gọi cơm rau, lắng nghe từng lời hai người béo – gày nói chuyện. Họ nói rất nhỏ nhưng Lã Bất Vi không bỏ sót lời nào.
Người gày nói: “Anh, anh thật tinh đời, vừa nhìn biết cô gái ấy là con nhà trâm anh, lại còn mang ngọc quý bên mình”. Người béo nói: “Cô gái ấy thật kiều diễm. Ôi! Đôi mày thanh thoát, thật đáng quý tướng đài các!” Người gày nói: “Anh không cưới được cô ấy thà để em bán quách cho xong”. Người béo nói: “Nói dễ làm sao! Mày không nhìn thấy cô ấy chống cự quyết liệt thế nào à, chết cũng không thuận, chẳng phải đợi lên thành, trên đường mà thấy thì quan phủ sẽ gô cổ bọn mình hỏi tội đấy!”. Người gày nói: “Thế thì đem trói rồi nhốt nó vào nhà kho là thượng sách” Người béo: “Sự việc không thành, ta bắt nó phải chết, chiếc vòng này cũng đủ dùng rồi”. Hai người thì thầm nhỏ to, hồi lâu đứng dậy trả tiền ra về.
Bất Vi và người hầu nhẹ nhàng theo gót, thấy hai người liêu xiêu trên đường rồi rẽ vào sân bao quanh bởi bức tường rêu phong.
Bất Vi quan sát rồi nhớ kỹ vị trí ngôi nhà, bảo người hầu đứng đó canh chừng rồi chạy như bay đến phủ Tư Khấu, đưa ra vòng ngọc Long Vân, trình báo mọi chuyện đã nghe được. Tư Khấu biết Lã Bất Vi là khách khanh, hưởng hàm tam phẩm, lại muốn gần gũi hơn, vội phái người đến Dương Địch điều tra.
Rất nhanh chóng, đầu lĩnh mang quân đến bao vây ngôi nhà Bất Vi kể, bắt hai người một béo một gày về tra xét. Ban đầu, hai kẻ trốn tránh, quanh co chối cãi, sau khi đối chất với Lã Bất Vi đành cung khai nhận tội. Hôm qua đã vào nhà cô gái cướp bóc của cải, bắt cóc cô gái về làm vợ nhưng bị chống trả quyết liệt bèn trói cô giam vào trong nhà kho.
Bất Vi cùng vài tên lính tới nhà kho, chỉ thấy một mùi ẩm mốc xộc vào mũi. Bất Vi gọi liền mấy tiếng: “Hoàng Phủ Kiều, Hoàng Phủ Kiều”. Không có ai đáp lời. Bất Vi khom lưng chui vào trong, chỉ thấy mạng nhện giăng đầy, nhìn kỹ từng góc nhà cũng không thấy bóng dáng Hoàng Phủ Kiều đâu.
Quan binh trong kho nổi giận, thét hỏi anh em gày béo dấu cô gái chỗ nào. Hai người than khóc thấu trời, thề thốt rằng không biết việc gì xảy ra, không biết ai đã giúp cô trốn thoát.
Bất Vi quắc mắt nhìn họ, quan binh xin Lã Bất Vi giảm cơn thịnh nộ, xin giải hai tên giam vào ngục, nghiêm trị cực hình, xét xử bọn điêu dân xảo trá.
Thất vọng nặng nề, Lã Bất Vi lặng lẽ quay về phủ. Con đường vắng lặng lạnh lẽo nhưng càng làm tăng thêm nỗi mệt mỏi chán chường. Vừa vào tới cửa, gia nhân báo có hai người xin gặp. Một người là Hoàng Phủ Kiều, người kia tự xưng là Dương Tử đang nóng lòng đợi trong phòng khách.
Thật là tạo hoá khéo xoay vần, Lã Bất Vi vội bước, mọi việc xảy ra như sóng cồn gió dập, cuộc sống với bao điều ngẫu nhiên dễ thay đổi. Bước vào phòng khách, Lã Bất Vi vội đưa mắt nhìn hai người trong phòng.
Đầu tiên, Lã Bất Vi nhìn thấy Hoàng Phủ Kiều, ánh mắt rưng rưng chảy lệ chạy tới, rồi bóng dáng mảnh mai như lá mùa thu ào tới bên mình. Trên khuôn mặt còn vương nỗi sợ hãi của bao chuyện xảy ra, Hoàng Phủ Kiều kể cho Lã Bất Vi nghe. Cô vừa đến Dương Địch tìm anh thì bị hai người một béo một gày bắt giữ, trói rồi giam vào nhà kho.
Cô lấy hết sức bình sinh kêu cứu, một lúc lâu sau, có Dương Tử nghe thấy, chạy tới giải thoát cho cô. Cô từ lâu đã nghe thấy trong thành có một vị buôn bán vàng ngọc giàu lòng nhân nghĩa là Lã Bất Vi.
Lúc đó, Lã Bất Vi mới nhìn rõ người thanh niên gọi là Dương Tử. Đôi mày rậm, khuôn mặt lanh lợi hồng hào, bờ vai rộng dường như có thể mang tròn khối đá vạn cân. Bất Vi nói, nếu anh ta đồng ý sẽ lưu anh ta lại trong phủ làm người giúp việc với tiền công hậu hĩnh. Dương Tử gật đầu mỉm cười. Hoàng Phủ Kiều nói, cô cũng muốn ở lại, nhưng để vừa lòng cô, không phải là chút tiền công. Câu nói mang bao ý tứ sâu xa khiến môn khách trong nhà Lã Bất Vi đều bật cười.
Đêm dài nhiều mộng, tiết đông lạnh lùng dường như cũng chuyển sang xuân. Đêm ấy, người con gái xuân sắc hoa nhường nguyệt thẹn trở thành vợ của Lã công tử hào hoa.
📎 Tap2LaB..ongIII
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-15 09:46:12ct.ly>
Phần 3 (trang 236-241)

Lúc này Tần vương mới quay kiếm ra sau, rút ra đánh Kinh Kha, chém đứt chân trái của Kinh Kha. Kinh Kha cầm kiếm đâm về phía Tần Vương, nhưng không trúng, lại trúng vào cột đồng. Tần vương lại dùng kiếm tấn công Kinh Kha. Kinh Kha khắp người thương tích. Biết việc không thành, bèn dựa vào cột đồng cười, quỳ trên đất mắng chửi: “Sự việc không thành công, là do muốn bắt sống ngươi, để ép ngươi hứa hoàn trả đất đai, để báo thù cho thái tử”. Thế là mọi người dồn đến giết chết Kinh Kha. Tần Vương còn hoảng sợ một hồi lâu. Lúc này ở nước Yên, thái tử Đan cùng Dị Nhân bị giam hãm, lúc đầu không biết có một thích khách là Kinh Kha xuất hiện trong thanh cuối của cuộc đời mình, càng không biết sự cố của thích khách Kinh Kha mà mình đang chỉ huy đó, chấm một dấu chấm hết bằng một bi kịch. Thái tử Đan mãi về sau mới biết vị công tử bên cạnh chính là Tôn Dị Nhân, cháu của Tần Vương. Sự bắc cầu quen biết giữa hai người là con chó vàng của thái tử. Lúc đầu thái tử cũng không thích con chó đực không biết phục tùng này, trong lòng thái tử chỉ có một mục tiêu duy nhất, đó là trở thành một quốc vương có tài thao lược, chỉ huy thiên hạ an bang hưng quốc. Thái tử không muốn để các nước khác có chút mảy may hình ảnh nào. Khi tên nô tài thoạt đem đến trước mặt thái tử một con chó vàng, thái tử nổi giận mắng Hoạt một trận, nói anh ta đến Hàm Đan vẫn chỉ nghĩ chơi bời. Con chó vàng không biết xảy ra việc gì, nhìn thái tử đang lửa giận bừng bừng bằng ánh mắt sợ hãi, bất ổn. Hoạt nước mắt lã chã. Tên nô tài trung thành đến từ nước Yên này nói vẻ biết lỗi: “Nô tài mua con chó này không phải là để cho mình mà là vì thái tử điện hạ”. Thái tử Đan nói: “Vì ta? Sao lại là vì ta?” Hoạt nói: "Con chó vàng này rất tinh, có thể giúp thái tử giải sầu. Còn có thể làm vệ sĩ, một khi có việc nguy hiểm, nó sủa lên oăng oẳng mấy tiếng, cũng coi là báo hiệu. Vào lúc gay cấn còn có thể chiến đấu với kẻ thù nữa!" Điều tra sự trung thành của nô tài, đối với thái tử không có gì khó. Thái tử biết lời Hoạt nói là những lời từ tâm can. Thái tử dằn vặt không yên vì đã trách lầm Hoạt, liền xin lỗi: "Ta nghĩ sai rồi, ta nghĩ sai rồi. Như ngươi đã nói vậy, thôi hãy nuôi con chó vàng này". Hoạt cười bảo thái tử Đan đặt cho con chó một cái tên là "Võ Sĩ". Chẳng lâu sau, thái tử phát hiện "Võ Sĩ" quả là đáng yêu, là một người bạn giúp giải sầu. Có lúc Hoạt không ở trong phủ, bên ngoài có người gõ cửa, "Võ Sĩ" sủa mấy tiếng, thái tử Đan biết là có người đến, nói với nó "Đi, xem là ai?" "Võ Sĩ" cuống quýt chạy trước thái tử, đến cổng dùng mõm mở cửa, dùng thân mình chặn cửa để chủ nhân và khách vào. Có lúc thái tử Đan vùi đầu nghiên cứu điển tích, buồn ngủ quá "Võ Sĩ" liền lăn tròn qua lại đùa với thái tử, hoặc làm trò rất ngộ nghĩnh, khiến cho chủ nhân phải bật cười. Có lúc, những đồ vật của thái tử như bao kiếm chẳng tìm thấy đâu, Hoạt lo lắng đến nỗi mồ hôi nhễ nhại. "Võ Sĩ" dùng mõm gặm lấy twuf một góc nào đó ra, nhẹ nhàng đặt ra trước mặt thái tử. Dần dần, thái tử Đan thật sự cảm thấy nó là một người bạn thân không thể thiếu được. Có một lần thái tử múa kiếm mệt quá muốn gọi "Võ Sĩ" đến tiêu khiển, gọi nó một hồi lâu cũng không thấy tăm hơi con chó thính đâu cả. Thái tử Đan tìm kiếm một hồi khắp phòng, ngoài vườn, cũng không thấy tông tích, bèn ra ngoài ngõ tìm. Đúng lúc thái tử bước ra cửa ngó xung quanh, một loạt tiếng sủa oăng oẳng từ trong phòng ngay đó vang lên. Thái tử Đan theo tiếng sủa đi tìm, mở cửa phòng thấy "Võ Sĩ" đang đùa với một con chó cái ở trong vườn, sau đó hai con chó chạy nhảy, nô đùa lăn lộn trên mặt đất. Thái tử Đan cảm thấy vừa tức vừa buồn cười, mắng thầm "Gã này cũng biết ra ngoài tìm hoa bắt bướm rồi!"

"Con chó ghẻ nhà ai dám đến trước phòng ta sủa bậy cắn càn!" Dị Nhân bực bội từ trong phòng đi ra. Mấy hôm trước, thái tử Đan đã sớm nghe nói Tần vương Tôn Dị Nhân cũng đến Hàm Đan làm con tin. Hoạt còn miêu tả chi tiết hình dáng Dị Nhân. Thái tử Đan muốn đi thăm hỏi, chưa tìm ra lý do, bất chợt đến sẽ khiến người ta cảm thấy đường đột. Hôm nay nhìn thấy cặp lông mày của Dị Nhân, thái tử Đan đoán người này hai mắt lồi, hơi có chút gì đó không bình thường, có thể là Tần vương Tôn Dị Nhân, liền vội thi lễ nói "Làm phiền công tử, xin ngài xét tội". Dị Nhân lạnh lùng liếc thái tử Đan một cái. Sau khi thái tử Đan tự giới thiệu mình là ai, lòng khấp khởi đợi lời mời nhiệt tình của Dị Nhân. Thái tử Đan trong lòng nghĩ: "Hai số phận giống nhau đều là ở Hàm Đan làm con tin, có thể khiến họ vừa gặp mà đã như thân". Dị Nhân rời mắt khỏi thái tử Đan, nhìn về phía hai con chó nói: "Đáng ghét không biết chui từ đâu ra. Nhanh đem về đi!" Thái tử Đan thấy Dị Nhân đối với mình không thân thiện, vẫn cho rằng Dị Nhân chưa nghe rõ câu mình nói, lại hắng giọng nói: "Ta là thái tử Đan, cũng là con tin ở Triệu, ở ngay gần chỗ của công tử, chúc mừng công tử đã đến tệ xá". Dị Nhân nói: "Ta biết, tiên sinh chẳng phải là Hỷ Yên Vương đại công tử sao?" Thái tử Đan nói: "Vâng, vâng". Dị Nhân nói: "Thế tiên sinh đem chó về đi, hôm khác gặp lại". Thái tử Đan dắt "Võ Sĩ" về, trên đường về nghĩ vị Tần vương Tôn Dị Nhân này trông thần thái có chút gì đó không bình thường. Nghĩ một hồi, thái tử Đan cảm thấy mình hay đa nghi quá thôi, vẻ lạnh lùng của Dị Nhân, cũng có thể là do lần đầu gặp gỡ. Về đến phòng, thái tử Đan cười nói với Hoạt: "Vị Tần vương Tôn Dị Nhân này trông hình dáng thật phù hợp với tên, hai con mắt cứ hướng ra ngoài như mắt cá, hơn nữa lại không đều". Hoạt nói: "Thần vẫn chưa nhìn thấy ông ấy. Nhưng nghe mọi người nói họ chưa bao giờ nhìn thấy một con người có tướng mạo lạ kỳ như thế. Sau này có cơ hội, thần và thái tử điện hạ sẽ đi thăm hỏi vị Tần vương Tôn Dị Nhân này". Thái tử Đan hỏi Hoạt: "Ngươi nói xem, vị Tần vương Tôn này liệu có coi thường chúng ta không?" Hoạt nói: "Coi thường chúng ta? Hắn coi thường thần là lẽ đương nhiên. Một người là Tần vương Tôn, một người là lê dân nô bộc. Nhưng hắn làm sao dám coi thường điện hạ? Thái tử điện hạ là bậc vương giả danh chính ngôn thuận, đợi đến khi Yên vương nghìn thu, thái tử sẽ đường đường là vua một nước. Theo thần biết, Dị Nhân trong số hai ba Tần vương tôn là người kém cỏi nhất, việc lập làm thái tử e rằng không đến lượt hắn. Hơn nữa cùng cảnh tha hương như nhau, làm con tin nơi nước người, có gì là khác biệt, cao, thấp, sang, hèn đâu?" Thái tử Đan nói: "Ta cũng nghĩ như vậy, cùng cảnh ngộ xa quê hương, làm con tin nơi nước người còn phân biệt đâu là cao thấp sang hèn nữa! Cho nên khi ta bước ra, thành tâm mời hắn đến chỗ chúng ta chơi". Hoạt nói: "Thế thái tử điện hạ chuẩn bị sơn hào hải vị bày tiệc rượu, Tần vương Tôn Dị Nhân sao lại không thể đến thăm thái tử được?" Thái tử Đan thích giao du, kết giao với nhân sĩ trong thiên hạ, có thể kết bạn với người khác ở Hàm Đan, là điều vui. Cho dù hai nước Tần, Yên đã nhiều lần binh đao khói lửa, đã nhiều lần ân oán. Nhưng thái tử Đan nghĩ, đó là việc của thời cha ông họ. Cũng có thể sau này hai nước Yên, Tần còn giao tranh, nhưng bây giờ vẫn còn mưa tạnh gió ngừng. Kết bạn, nhiều bạn vẫn còn tốt hơn, sớm ngày nào hay ngày đấy. Huống hồ vị Tần Quốc Tôn Dị Nhân này vẫn là hậu duệ của quốc vương Tần hùng mạnh, một khi trở thành Yên Vuong, chắc chắn sẽ cần đến hắn chứ.

Thái tử Đan sai Hoạt mua về một ít rượu, cất vào bình đợi sẵn. Khi không còn việc gì, thái tử Đan đưa mắt nhìn ra phía cửa. Hoạt nói: "Thái tử điện hạ, ngài muốn gặp Tôn Dị Nhân đến mức mỏi mắt rồi!" Thái tử cười không nói gì. Một buổi trưa, thái tử Đan đang mải mê trong những câu kinh thư tuyệt đỉnh. "Võ Sĩ" cất tiếng sủa ròn giã khiến thái tử rời mắt khỏi cuốn sách nhìn ra cửa. Sau khi Hoạt mở cửa thì thấy Dị Nhân đi vào. Thái tử Đan vội bước ra, nhìn thấy vẻ lạnh lùng trên nét mặt Dị Nhân dưới ánh nắng, thái tử rất bất ngờ. Dị Nhân đùng đùng nổi giận nói với thái tử: "Thái tử Đan, ngươi đừng có bức hiếp người quá!" Thái tử Đang ngơ ngác không hiểu, không biết câu nói này từ đâu, liền vội gập người thi lễ nói: "Xin Dị Nhân công tử bớt giận, có chuyện gì từ từ nói." Dị Nhân nói: "Võ Sĩ" của ngươi nhiều lần lén vào trong phòng ta giao cấu với con "Thuyền Quyên" của ta, làm cho nó đẻ ra một lũ nhóc con, oăng oẳng suốt, thế mà con "Võ Sĩ" lại không thèm đếm xỉa gì, để ta phải chăm sóc lũ nhóc, làm gì có chuyện phi lý thế!" Thái tử Đan và Hoạt nghe xong đều cười ồ. Dị Nhân hỏi: "Các người cười cái nỗi gì?" Thái tử Đan nói: "Chỉ là trò của động vật với nhau thôi mà, sao lại nói là chúng ta bức hiếp người quá đáng!" Dị Nhân nói một cách bực tức: "Con chó đực của các ngươi nêu không đến gạ gẫm, thì con chó cái nhà ta sao có kết cục thế này! Tòi ra một đống "giẻ rách", đều do ta phải trông nom, sao vô lý thế?" Thái tử Đan ngừng cười, nghiêm túc hỏi: "Việc đã đến nước này, công tử điện hạ nói xem nên làm thế nào?" Dị Nhân nói: "Hoặc là giết chết "Võ Sĩ" hoặc là cấp tiền để nuôi lũ chó con, hai cách tùy thái tử chọn một. Dị Nhân nói câu này, thái tử Đan cảm thấy vô cùng bất ngờ, thái tử không ngờ đường đường một Tần vương ton lại nhỏ nhen đến vậy, một tên tiểu nhân với những toan tính vụn vặt. Thái tử không buồn tranh luận đôi co với hắn, bèn nói với Hoạt: "Lấy 500 quan tiền đưa cho công tử điện hạ, coi như tiền nuôi dưỡng lũ chó con." Rất nhanh, thái tử Đan thấy Dị Nhân đón lấy túi tiền nặng trịch, ra về vẻ mặt đầy tự đắc. Bước đi nhẹ tênh cùng túi tiền nặng trong tay, nhìn Dị Nhân tạo nên một sự tương phản mạnh. Trong lòng hắn nghĩ: "Xem ngươi một thái tử nước Yên bé nhỏ, còn dám ức hiếp một Tần Vương Tôn này nữa không?" Sau khi tỏ ra đắc thắng, Dị Nhân bước vào cửa lớn, Công tôn Càn hớn hở hỏi: "Dị đại công tử, trong túi là tiền hả?" Dị Nhân đáp: "Ta không lấy tiền thì còn lấy gì, không ít đâu!" Công Tôn Càn nói "Bao nhiêu? Có đến hai trăm quan tiền không?" Dị Nhân cười, nói: "Bốn trăm còn đủ!" Dị Nhân bước vào trong phòng, nhìn thấy bốn con mắt xanh ngọc như ánh lửa ma quái, sợ đến mức mặt mày méo mó. Hắn nhận ra đó là con "Thuyền Quyên" và "Võ Sĩ". Hai con chó nằm sóng đôi nhìn Dị Nhân. Trong ánh nắng buổi sáng rực rỡ, hai hàng lông mi của chúng chớp liên tục, mắt loé sáng. Dị Nhân chú ý đến ánh mắt của "Thuyền Quyên" và "Võ Sĩ" có sự khác biệt một trời một vực, như sự tương phản tự nhiên của ngọc bạch và sắt rỉ.

Khi Dị Nhân đẩy cửa bước vào, "Võ Sĩ" thè cái lưỡi như ngọn lửa liếm liếm, thể hiện sự thèm ăn. Dị Nhân chẳng thèm để ý đến no, mở cửa đi thẳng vào phòng trong. "Thuyền Quyên" và "Võ Sĩ" bắt đầu âu yếm nhau bằng những cử chỉ trìu mến mà tạo hóa đã ban cho từ muôn đời.
Tĩnh Tâm
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-15 09:47:04ct.ly>
(trang 242 - )

Chương 7

Trường Bình phong tỏa

Đúng vào lúc hai con "Võ Sĩ" của thái tử Đan và "Thuyền Quyên" của Dị Nhân đang giao hợp trong hưng phấn tột độ thì hai nước chư hầu lại tranh giành, xâu xé lẫn nhau như chó điên. Đầu xuân, cuối tháng mười hai năm 260 trước công nguyên, mười vạn đại quân Tần tấn công nước Hàn. Trên đường đi trời đang lúc giá lạnh, mọi thứ đóng băng cứng như đá. Vó ngựa và bánh xe quan Tần đi trên mặt đường, cày mặt băng bắn lên tung toé. Những con quạ đói đậu trên cành cây trơ trụi, thấy vó ngựa quân Tần như nước triều ầm ầm kéo đến liền vỗ đôi cánh đen xì bay toán loạn trên bầu trời, nhanh chóng mất hút. Mười vạn quân Tần thế như chẻ tre, không gì cản nổi. Đối mặt với thế tấn công hùng mạnh của quân Tần, vua Hàn là Hằng Huệ vương ruột như lửa đốt, khiếp sợ vô cùng.

Thám báo liên tục đêm ngày phóng ngựa đến Đô thành, tin thất trận tới tấp đưa đến ngự án của Hằng Huệ vương.

Thiếu Điển thất thủ!

Cao Bình thất thủ!

Cảnh Thăng thất thủ!

Năm 262 trước công nguyên, quân Tần dưới sự chỉ huy của Vũ An Quân Bạch đã tiến vào vùng phụ cận của quân thượng đảng. Nhanh chóng công phá thành Dã vương - bức bình phong của Thượng Đảng. Tin này như tiếng sét dội vào khiến Hằng Huệ vương hồn siêu phách lạc. Sau khi thành Dã vương thất thủ, quân Thượng Đảng giờ như bị cô độc với bên ngoài, trước mặt, sau lưng đều bị công kích. Đất của Thượng Đảng thuộc phía Nam Sơn Tây ngày nay. Khu vực phía đông lưu vực Tẩm Thủy, bố phòng trấn thủ quận ở Hồ Quan. Nhưng đất vốn dĩ của nước Hàn lại ở phần đông nam Sơn Tây và phần trung của tỉnh Hồ Nam ngày nay. Quân Tần chiếm được thành Dã Vuong liền chia tách quận Thượng Đảng và nước Hàn. Hàn Hằng Huệ Vương biết rằng quận Thượng Đảng khó giũ nổi, trong lòng nghĩ chi bằng bó tay dâng cho nước Tần, đổi lấy sự hòa hiếu với Tần. Thế là lệnh cho Dương Thành Quân đem ý chỉ vào Tần. Thế là bệnh cho Dương Thành Quân đem ý chỉ vào Tần, thấy tướng quốc Phạm Tuy yêu cầu cắt đất cầu hòa. Phạm Tuy di gặp Chiêu Tương vương, truyền đạt ý của Hằng Huệ vương. Chiêu Tương vương mừng đến nỗi vểnh cả râu, luôn mồm nói: "Hằng Huệ vương cắt đất cầu hòa, xem ra là người biết thời thế!" Phạm Tuy thấy Chiêu Tương vương vui mừng tột độ liền nhắc nhở: "Đại vương, Hàn Hằng Huệ vương tự động hiến thành là có điều kiện." Chiêu Tương vương không vui hỏi: "Điều kiện gì?" Phạm Tuy đáp: "Sau khi quân Thượng Đảng quy về Tần, quân Tần ngừng tấn công Hàn." Chiêu Tương vương mỉa mai "Đại tướng quốc của quả nhân ơi! Sao lại thông minh cả đời mà hồ đồ một lúc thế! Trước tiên lấy được Thượng Đảng, rồi sau đó sẽ hay. Hàn Hằng Huệ vương lẽ nào có thể trói chặt được mười đầu ngón tay của vạn quân của Vũ An Quân!" Sau khi được sự chấp nhận của Chiêu Tương vương, Hàn Hằng Huệ vương thở phào nhẹ nhóm, lại cử Dương Thành Quân đến Hồ Quan truyền đạt với tướng giữ thành là Cận Hoàng Trọng mệnh đầu hàng.
Tĩnh Tâm
Đăng nhập để trả lời
0
Sorry, tối qua mình buồn ngủ đánh nhiều lỗi, mình đánh lại đoạn trên (từ "Năm 262...")

(trang 244 - 254)

Năm 262 trước công nguyên, quân Tần dưới sự chỉ huy của Vũ An Quân Bạch đã tiến vào vùng phụ cận của quân Thượng Đảng. Nhanh chóng công phá thành Dã vương - bức bình phong của Thượng Đảng. Tin này như tiếng sét dội vào khiến Hằng Huệ vương hồn siêu phách lạc. Sau khi thành Dã Vương thất thủ, quân Thượng Đảng giờ như bị cô độc với bên ngoài, trước mặt, sau lưng đều bị công kích. Đất của Thượng Đảng thuộc phía Nam Sơn Tây ngày nay. Khu vực phía đông lưu vực Tẩm Thủy, bố phòng trấn thủ quận ở Hồ Quan. Nhưng đất vốn dĩ của nước Hàn, lại ở phần đông nam Sơn Tây và phần trung của tỉnh Hồ Nam ngày nay. Quân Tần chiếm được thành Dã Vương liền chia tách quận Thượng Đảng và nước Hàn. Hàn Hằng Huệ vương biết rằng quận Thượng Đảng khó giữ nổi, trong lòng nghĩ chi bằng bó tay dâng cho nước Tần, đổi lấy sự hòa hiếu với Tần. Thế là lệnh cho Dương Thành Quân đem ý chỉ vào Tần, thấy tướng quốc Phạm Tuy yêu cầu cắt đất cầu hòa. Phạm Tuy đi gặp Chiêu Tương Vương, truyền đạt ý của Hằng Huệ vương. Chiêu Tương vương mừng đến nỗi vểnh cả râu, luôn mồm nói: "Hằng Huệ vương cắt đất cầu hòa, xem ra là người biết thời thế!" Phạm Tuy thấy Chiêu Tương Vương vui mừng tột độ liền nhắc nhở: "Đại vương, Hàn Hằng Huệ vương tự động hiến thành là có điều kiện". Chiêu Tương vương không vui hỏi: "Điều kiện gì?" Phạm Tuy đáp: "Sau khi quân Thượng Đảng quy về Tần, quân Tần ngừng tấn công Hàn". Chiêu Tương vương mỉa mai: "Đại tướng quốc của quả nhân ơi! Sao lại thông minh cả đời mà hồ đồ một lúc thế! Trước tiên lấy được Thượng Đảng, rồi sau đó sẽ hay. Hàn Hằng Huệ vương, lẽ nào có thể trói chặt được mười đầu ngón tay của vạn quân của Vũ An Quân!" Sau khi được sự chấp nhận của Chiêu Tương vương, Hàn Hằng Huệ vương thở phào nhẹ nhõm, lại cử Dương Thành Quân đến Hồ Quan truyền đạt với tướng giữ thành là Cận Hoàng Trọng mệnh đầu hàng Tần. Cận Hoàng Trọng là một vị võ tướng anh dũng nghi ngờ việc quân Tần công thành, không chịu nghe triệu lệnh Hàn Hằng Huệ vương. Dương Thành Quân hung hăng dọa nạt: "Cận Thủ Thành, ngài làm quan cao hơn 20 năm, sao lại ngày càng hồ đồ thế! Chống lại quân lệnh, tội không thể tha!" Cận Hoàng Trọng khảng khái nói: "Mọi người thường nói "Khiết bình tam tri, bất thất thủ khí", tức là đã giúp người giữ một bình nước, không thể tùy tiện làm mất, huống hồ ta trấn thủ một vùng đất rộng lớn thế này! Xin Dương Thành Quân bớt giận sự cố chấp của bản tướng, quyết không thể bó tay đem dâng quận Thượng Đảng cho quân Tần lang sói. Thần khẩn thiết xin ngài truyền đạt đến đại vương. Thần nguyện dốc sức chống Tần". Dương Thành Quân cười lạnh lùng: "Thế không phải là lấy trứng chọi đá sao". Cận Hoàng Trọng đầy khí phách nói: "Nếu không chống được quân Tần, thì chết là cùng!" Dương Thành Quân lại nói: "Thường nói, thiên mệnh bất khả kháng, quân mệnh bất khả vi! Ta phụng mệnh, khuyên Cận Thủ Thành hãy nghĩ kỹ hãy hành động!" Cận Thủ Thành không hề nao núng nói "Ý thần đã quyết, dù thế nào cũng không thay đổi, không hối hận". Dương Thành Quân tức giận nói: "Cận Thủ Thành, ta nhắc nhở ông một chút những điều ta nói lúc nãy là triệu lệnh của đại vương!" Cận Thủ Thành rút kiếm chém bể một góc án, trợn mắt nói: "Dương Thành Quân nhanh chóng về kinh thành đi, nếu còn lôi thôi tiếp, sẽ như miếng bàn này đó!" Dương Thành Quân lập cập nói, đi khỏi Hồ Quan chạy miết về kinh thành. Hàn Hằng Huệ vương nghe nói Cận Hoàng Trọng không tuân lệnh, nổi giận lôi đình nói: "Việc cắt đất cho Tần đã nhận lời với Phạm Tuy, nếu không làm chằng hóa ra nói lời nuốt lời sao, thất tín với người. Tên Cận Hoàng Trọng đáng ghét này, làm hỏng việc lớn của Quả Nhân, thật đáng muôn chết. Ngự sử, truyền lệnh quả nhân, triệu Cận Hoàng Trọng về kinh chịu tội!" Dương Thành Quân vội nói: "Đại vương, hai nước Hàn, Yên đang chinh chiến, nếu làm vậy e sẽ gây nên biến ở Thượng Đảng". Hàn Hăng Huệ vương hỏi: "Một tên quan trấn thành nhỏ nhoi, lại dám to gan, không nghe theo lệnh Quả Nhân, nếu không nghiêm trị, chẳng phải sẽ làm gương xấu cho kẻ khác sao? Huống hồ, nếu nước Tần không chiếm được Thượng Đảng, sẽ dấy binh tấn công, kinh thành nước Hàn cũng sẽ bị vó ngựa quần nát!" Dương Thành Quân nói: "Đại vương, tiểu thần có một cách, theo ý thần, chi bằng cử một người thay Cận Hoàng Trọng, chấp hành lệnh của đại vương". Hàn Hằng Huệ vương hỏi: "Người nào có thể gánh vác được nhiệm vụ này?" Dương Thành Quân nói: "Phùng Đình Khả!"

Hàn Hằng Huệ vương nói: "Quả nhân sao không biết người này?" Dương Thành Quân nói: "Đại vương quên rồi sao? Người này đã từng làm quan, là một điển quan tuyệt vời, sau đó làm nhiệm vụ bên ngoài làm huyện lệnh. Ông ta tướng mạo đường hoàng. "Quả nhân nhớ ra rồi, người này được". Phùng Đình đến Hồ Quan vào một buổi sáng đẹp trời. Quân úy thủ thành thấy một người khẳng khiu như ống lửa cho rằng là ngự sử của Hàn Hằng Huệ vương. Đến khi biết Phùng Đình là quân thủ mới đến, thảy đều há mồm trợn mắt. Một người trông bộ dạng yếu đuối, trói gà không chặt thế này, có thể liệu có đủ uy phong thống lĩnh họ chống lại quân Tần được không? Rất nhiều người thấy đôi giầy bé nhỏ của Phùng Đình giắt ở bàn đạp yên ngựa, càng lộ rõ yếu nhược. Phùng Đình nghiêm nghị đi trên phố, nhanh chóng bỏ lại những lời bình phẩm sau lưng, tiến vào sở huyện.

Cận Hoàng Trọng đã cùng các quan lại cung kính chờ đợi nghênh tiếp tại trị Sở. Ông hiểu rõ dụng ý cử Phùng Đình đến của Hàn Hằng Huệ vương, thay ông chấp hành chiếu lệnh hàng Tần. Sau khi Cận Hoàng Trọng bái kiến Phùng Đình, rút kiếm nước mắt chứa chan nói: "Mưu đồ chống Tần giữ đất của ta coi như đã tiêu tan! Trở về, đại vương nhất định không tha cho ta tội chống lệnh; Hàng Tần rồi, quân Tần cũng sẽ trừng phạt gay gắt quân đội do ta thống soái. Đã vậy để ta tự kết liễu đời mình!" Nói đoạn rút kiếm định tự vẫn. Phùng Đình vội tiến đến giằng thanh kiếm trong tay Cận Hoàng Trọng, nói: "Ta nghe nói người tự vẫn sẽ đau đớn vô cùng, hay là để ta thay Thủ Quân thực hiện!" Phùng Đình giơ kiếm, lệnh cho đem đến một chung rượu, để Cận Hoàng Trọng giơ tay lên dùng kiếm rạch một nhát, để cho dòng máu đỏ tươi nhỏ vào chung rượu; sau đó cũng tự cắt tay mình để máu chảy vào. Trong lúc mọi người còn đang không hiểu chuyện gì, Phùng Đình nâng chung rượu lên, nói một cách đầy chí khí: "Bản Quận Thủ nguyện sống chết cùng Hồ Quan, quyết không hàng Tần!" tiếp đó nâng chung rượu uống một ngụm, sau đó đưa cho Cận Hoàng Trọng. Lúc này Cận Hoàng Trọng phấn khởi tiếp lấy chung rượu uống cạn, nói: "Tiểu thần Cận Hoàng Trọng nguyện cùng Quận Thủ đại nhân dù tan xương nát thịt quyết không từ nan!" Sau khi lễ ăn thề kết thúc, Quận Thủ mời Phùng Đình bắt đầu bố trí thủ thành chống Tần. Chiêu Tương vương lúc đầu nghe tin Hàn Hằng Huệ vương cắt đất bó tay xin hàng thì vô cùng vui mừng, mở tiệc ăn mừng cùng văn võ bá quan. Sau đó nghe tin Quận Thủ Phùng Đình chống lệnh, còn thề nguyện sẽ chiến đấu đến cùng. Chiêu Tương vương tức giận vô cùng trước sự nói nuốt lời của nước Hàn, lệnh cho Ngũ An Quân lập tức tăng tốc tiến công Hồ Quan. Ngũ An Quân đem quân đến vây chặt Hồ Quan, sau đó dùng thang tiến công thành từ bốn phía. Phùng Đình không kể ngày đêm luôn túc trực ở đầu thành chỉ huy quân dân trong thành dốc sức chống Tần. Ban ngày, Phùng Đình chỉ cần nhìn xuống dưới là thấy rõ quân Tần dày đặc bốn phương tám hướng. Trong tiếng chuông trống, la ó ầm ĩ, Phùng Đình hô hào chỉ huy quân sĩ trong thời gian dài, đến nỗi giọng khản đặc. Ông hiểu rõ lương thực đã bị cắt. Đường ra vào Hồ Quan đã bị quân Tần chiếm cứ, hown nũa ông đã chống lại mệnh lệnh hàng Tần của Hàn Hằng Huệ vương, sẽ không có bất cứ sự chi viện nào nữa của nước Hàn. Phùng Đình chỉ huy quân sĩ kiên trì thủ thành hơn hai mươi ngày, đẩy lùi hết đợt tấn công này đến đợt tấn công khác. Nhưng lương thảo và củi đốt trong thành Hồ Quan đã cạn kiệt, bắt đầu phải giết ngựa chống đói, dùng xương ngựa làm củi. Một hôm Phùng Đình đang bố trí quân phòng ngự ở đầu thành phía bắc, bỗng có một thiếu phụ đầu tóc rối bù, máu me ròng ròng bất chấp sự ngăn cản xông đến nhảy lên đầu thành quỳ phục trước mặt Phùng Đình, khóc lóc thảm thiết nói: "Tiểu nữ bẩm đại nhân nhà tiểu nữ có ba đứa con trai, con trai út đã bị người đàn ông lòng lang dạ sói đổi cho con trai nhà khác giết thịt ăn rồi, tiểu nữ đến nhà đó tìm con thì nó đã bị nuốt vào bụng bọn chúng từ lâu rồi". Phùng Đình sau khi nghe xong, kinh hãi, trong thành Hồ Quan đã bắt đầu ăn thịt lẫn nhau rồi! Người thiếu phụ đó dùng hai bàn tay run rẩy ôm lấy chân Phùng Đình nói: "Hãy mau cứu hai đứa con của tiểu nữ!" Trước lời thỉnh cầu ai oán của thiếu phụ, Phùng Đình lòng như dao cắt. Ông đỡ thiếu phụ dậy, cắt một ít thịt ngựa đưa cho thiếu phụ. Rồi ra lệnh không ai được ăn thịt lẫn nhau. Nếu ai trái lệnh sẽ bị chặt đầu.

Thế là, tuân theo quân lệnh, được truyền đi nhanh chóng mọi ngõ ngách trong thành. Nhà nhà bếp núc đều tắt, rất nhiều người đói chỉ còn thoi thóp. Quân lính giữ thành, mỗi ngày chỉ được húp hai bát cháo loãng để cầm hơi.

Trông thấy trước mắt chỉ là một đội quân đã mất đi khả năng chiến đấu như vậy, Phùng Đình trong lòng nóng như lửa đốt, liền đi tìm Cận Hoàng Trọng và một số bộ hạ thương lượng, quyết định mang quận Thượng Đảng hiến cho Triệu. Như vậy có thể khiến quân mũi nhọn của nước Tần quay sang nước Triệu, giảm nhẹ được áp lực về quân sự của Tần đối với nước Hàn. Nhân cơ hội mà kết giao với nước Triệu. Hàn Triệu hợp sức lại với nhau cùng đối phó với nước Tần.

Phùng Đình sau khi bàn bạc cân nhắc cùng bộ hạ của mình đã quyết định như vậy. Cận Hoàng Trọng nghi hoặc nói: "Hồ Quan sơn cùng thủy tận như vậy, cùng với Quận Thượng Đảng trong cuộc chiến đã trở thành đám tro tàn. Triệu Lý Thành Vương có dám giơ tay ra hứng không?"

Triệu Lý Thành Vương đứng trước vận may tự nhiên đến, nay cảm thấy lúng túng. Không phí một tân binh nào, cũng không mất một mũi tên nào, tự nhiên chiếm không được mười bẩy thành của Quận Thượng Đảng nước Hàn. Ông triệu tập quần thần lại bàn bạc. Khi vị quân vương cười, bộ mặt càng thêm dài ra. Ông lướt nhìn một lượt quần thần, nói giọng rất đắc ý: "Tên ngu ngốc Hàn Huệ vương nước Hàn này! Cũng không giữ nổi Hồ Quan, lại còn chuẩn bị mang mười bẩy thành ở Quận Thượng Đảng cống cho Chiêu Tang Vương nước Tần. Bọn binh sĩ không muốn theo Tần mà muốn theo Triệu Quốc. Phùng Đình đã phái người đến hiến thành rồi, các người xem làm thế nào đi tiếp nhận chúng đây".

"Đại vương, chúng ta không thể thu nhận Hiến thành của nước Hàn được". Triệu Lý Thành Vương dứt lời không ngờ lại bị Bình Dương Quân Triệu Báo Nhi tâu. Triệu Lý Thành Vương hỏi lại với giọng không vui: "Sao khanh lại nói như vậy?"

Bình Dương Quân Triệu Báo trả lời: "Tôi nghe thánh nhân có nói, đối với những vật vô duyên vô cớ mà đạt được thì nỗi lo sau này là vô cùng".

Triệu Lý Thành Vương hỏi lại: "Quân dân ở mười bẩy thành quận Thượng Đảng ngưỡng mộ nhân đức của quả nhân một lòng muốn theo Triệu Quốc, cam tâm tình nguyên theo ta, làm sao gọi là vô duyên vô cớ được".

Bình Dương Quân Triệu Báo phân tích: "Hồ Quan đã bị quân Tần bao vây hơn một tháng, lương thực đạn dược trong thành đều cạn kiệt, không được tiếp viện. Binh bại thành vỡ, gần đến chỗ tiêu vong rồi. Trong tình hình vô phương cứu vãn mới mang Thượng Đảng dân cho Đại Vương. Miếng mồi ngon đến miệng lại để người khác cướp mất, liệu Chiêu Tang Vương có chịu khoanh tay đứng nhìn không, nhất định sẽ mang quân khiêu chiến với nước Triệu ta. Phùng Đình không phải là có ý tốt mang đất đai dâng cho đại vương, mà là giáng họa cho chúng ta vậy".

Quần thần trên triều, bao gồm cả Thượng Khanh Phổ Tướng và đại tướng quân Liêm Pha đều cho rằng Triệu Báo nói rất có lý, chụm đầu vào bàn tán: "Bình Dương Quân nói rất đúng, rất đúng".

Triệu Báo phân tích kỹ hơn các lợi hại cho Thành Vương nghe: "Ngày nay, nước Tần đang mạnh, khí thế đang lên, bình hùng thế vượng, nước chư hầu nào mà dám chống lại thì như trứng chọi đá là tự tìm đến chỗ diệt vong".

Lúc này Triệu Lý Thành Vương đã bị cái lợi trước mắt làm mê hoặc, bỏ ngoài tai những lời trung nghĩa nghịch tai của Bình Dương Quân, khăng khăng làm theo ý mình nói. "Quả nhân đã dùng đến thiên binh vạn mã, công thành dã chiến bao lâu rồi, đã chiếm được một mũi tên, lại được mười bẩy thành. Nếu các khanh còn lo lắng do dự không muốn thì chẳng phải là ngốc nghếch đó sao? Rồi cười Ha... Ha... thông qua Thượng Khanh Lận tướng.

Lã Bất Vi biết được Triệu Lý Thành Vương chuẩn bị tiếp nhận mười bẩy thành của Quận Thượng Đảng. Lã Bất Vi dò hỏi cặn kẽ tình hình trên triều, thì cho rằng Bình Dương Quân có tầm nhìn xa trông rộng. Lận Tướng lòng vừa buồn vừa lo lắng nói với Lã Bất Vi: "Đại vương tiếp nhận mười bẩy thành quận Thượng Đảng thì nước Triệu sẽ lâm vào tình thế nguy cấp rồi!" Lã Bất Vi hỏi: "Sự việc lẽ nào lại không thể cứu vãn được? Lận Tướng Như nói Triệu Lý Thành Vương nhận của Ngài năm trăm lạng vàng, có cảm tình với Ngài, phiền Ngài vào dùng lý lẽ phân tích lại cho Đại vương một lần nữa. Lã Bất Vi lắc đầu nói: "Tôi thấp cổ bé họng, e rằng đi chỉ tìm thấy cái phiền phức thôi".

Lận Tướng Như nói: "Võ thì chết trận, Văn chết vì lời can gián. Ngài đi gặp Đại vương bàn về chuyện này, tôi nghĩ không thể co nguy hiểm gì đến tính mạng đâu".

Lã Bất Vi nói: "Không có tước vị, cũng không có mưu lược kế sách gì. Tôi chỉ là một thương nhân nước Vệ đến tạm trú ở Hàm Đan, đâu có thể tùy tiện tham gia vào chính trị của nước Triệu được."

Lận Tướng Như nói: "Ngài nói vậy là sai rồi, Ngài buôn bán ở Hàm Đan đã hơn mười năm, cũng coi như là thâm căn cố đế rồi. Nước Triệu có suy thịnh thì tài sản của ngài cũng không suy, nước Triệu mà suy vong thì chẳng phải việc kinh doanh buôn bán của ngài cũng đi xuống sao? Người ta nói, đây là suy thì cùng suy, thịnh thì cùng thịnh. Huống hồ, ngài còn dắt hơn năm trăm lạng vàng chỗ Đại Vương. Một khi Triệu Quốc có điều gì bất trắc, thì năm trăm lạng vàng đó của ngài cũng ra tro bụi sao? Đại Vương đã biết rõ con người ngài, đây chính là lúc ngài tận dụng cơ hội mà phát triển, lẽ nào ngài lại mong cho nước Triệu sa vào bẫy của Phùng Đình giăng ra. Tự đi tìm đến chỗ chết sao?" Kỳ thực, Lã Bất Vi không hề nghĩ như vậy, mấy câu ông nói vừa rồi chỉ là có ý thăm do Lận Tướng Như. Ông muốn biết, lúc phong vân bất biến này, Lã Bất Vi trong con mắt quần thần nước Triệu, có phải là nhân vật quan trọng không. Ông xem ra qua những lời bộc bạch của Lận Tướng Như vừa xong, Lã Bất Vi trong lòng cảm thấy rất mừng: "Ta trong con mắt Thượng Khanh của Triệu Quốc rất được coi trọng".

Nghĩ đến đây, Lã Bất Vi khiêm nhường nói: "Ý Thượng Khanh đại nhân đã như vậy, thì tôi cũng đến bái kiến Đại vương một chút xem sao". Lận Tướng Như nói: "Phiền ngài nhọc sức đến yết kiến Đại vương Hàn". Lã Bất Vi lần thứ hai lên điện yết kiến Triệu Lý Thành Vương, Triệu Lý Thành Vương đưa mắt chau mày nhìn Lã Bất Vi một cách rất thần bi. Triệu Lý Thành Vương hỏi: "Ngài đến đây là có việc gì muốn dậy quả nhân chăng?" Lã Bất Vi nói: "Tiểu nhân không dám, chỉ là tiểu nhân lo lắng cho Đại vương bận bịu việc triều chính, ảnh hưởng đến long thể, vì vậy mới mạo muội đến quấy quả Đại vương, muốn nói chuyện cùng ngài, mong Ngài nghỉ ngơi, tinh thần thư giãn, để sống lâu muôn tuổi".

Triệu Lý Thành Vương cười rất vui nói: "Vậy được, khanh hãy cùng trẫm trò chuyện đi".

Lã Bất Vi hỏi: "Không biết là đại vương đối với câu chuyện này có hứng thú không?"

Triệu Thành Vương hỏi: "Quả nhân thích nhất là nghe chuyện cười, những chuyện thần thoại như tinh Vệ lấp biển, Nữ Oa vá trời, Thường Nga bón nguyệt, những chuyện ngụ ngôn như: Giữ cây đợi thỏ, Hạ xe lập tội, Trương Quân Lý tái, v.v... quả nhân nghe trăm lần cũng không chán.

"Được, vậy tiểu nhân xin kể cho đại vương nghe một câu chuyện: Vợ chồng nhặt của rơi".

Lã Bất Vi cao hứng kể: "Có một đôi vợ chồng kia vào trong thành, trên đường trở về, nhìn thấy một thỏi vàng người ta đánh rơi. Người chồng cúi xuống nhặt, bị sức nóng của thỏi vàng suýt làm bỏng, nói với vợ: "Đi thôi, thỏi vàng nóng như vậy không lấy được". Người vợ hỏi làm sao. Người chồng nói: "Nóng như vậy, nhặt về không có chỗ để, không biết chừng còn rước họa vào thân". Người vợ nói: "Chàng sao mà nhát vậy, miếng ăn đến miệng còn không dám ăn sao?" Thế là người vợ dùng que gắp thỏi vàng bỏ giỏ mang về. Về đến nhà liền cất vòa cái hũ cẩn thận. Đến giữa canh ba, thỏi vàng phát hỏa thành một mồi lửa, thiêu trụi toàn bộ số tài sản của vợ chồng nhà nọ".

Triệu Thành Vương nghe xong câu chuyện của Lã Bất Vi, cười lớn: "Nhà ngươi thật túc trí đa mưu, ngươi đang châm biếm quả nhân, mang mười bẩy thành ở Quận Thượng Đảng, ví với thỏi vàng phát hỏa, đem quả nhân ví với đôi vợ chồng hám của kia sao?"

Lã Bất Vi hoảng hốt thưa: "Xin đại vương đừng trách tội, tiểu nhân đều nghĩ cho đại vương và nước Triệu mà thôi".

Triệu Thành Vương nói: "Thành ý của khanh rất đáng quý. Quả nhân không thể trách tội khanh được. Khanh có thể chưa biết, quận Thượng Đảng có ba vạn binh, dân binh trăm vạn, đất đai trăm mẫu. Nếu quả nhân không lấy, nhất định sẽ lại về tay Tần quốc, lúc đó đối với nước Tần há chẳng như hùm thêm vậy sao?"

Lã Bất Vi nói: "Thấy vàng phải nhặt, nhưng cần phải đợi, nếu không sẽ bỏng tay".

Triệu Thành Vương nói: "Vàng mà không bỏng tay thì mọi người đều muốn lấy, lúc đó còn đến lượt ngươi không?"

Lã Bất Vi nói: "Tiểu nhân lo rằng, được vàng rồi thì sẽ dẫn đến tự thiêu mình, khiến đội tinh binh nhuệ của nước Tần hướng sang nước Triệu".

Triệu Thành Vương đáp: "Tần quốc không dám tấn công nước Triệu đâu. Vì Tần vương có hoàng tôn là Dị Nhân đang bị áp giải ở Hàm Đan làm con tin rồi".

Lã Bất Vi nói: "Như tiểu nhân được biết thì Chiêu Tương Vương có 24 người cháu, Dị Nhân là một trong những tôn tử bất tài. Tần vương quyết không vì Dị Nhân ở đây mà chịu để mất quận Thượng Đảng về tay đại vương đâu".

Triệu Thành Vương nói: "Ý quả nhân đã quyết, khanh đừng nhiều lời nữa!"

Lã Bất Vi thấy Triệu Thành Vương khăng khăng quyết đoán như vậy, nhất thời không tìm ra lời nào để can gián, trầm tĩnh một lúc.

Triệu Thành Vương cho rằng Lã Bất Vi muốn nhắc đến số vàng năm trăm lạng mà mình mượn nhưng còn ngại do dự không dám nói ra, vì vậy thẳng thắn nói:

"Phải chăng khanh đang lo năm trăm lạng vàng của khanh? Quả nhân cũng nói thẳng với khanh, nếu Quận Thượng Đảng về tay ta bình an vô sự thì ta sẽ hoàn trả lại ngươi. Nếu như thật sự phải giao chiến với nước Tần, sau khi thắng lợi ta sẽ trả ngươi. Nếu bại..."

Không đợi cho Triệu Thành Vương nói tiếp, Lã Bất Vi liền cắt ngang: "Với tài nghệ mưu lược như thần của đại vương, thì nhất định là thắng. Hơn nữa nước Triệu lại có binh hùng tướng mạnh, đồng tâm tác chiến thì đánh đâu thắng đó, quyết không thể bại".

Câu nói này của Lã Bất Vi khiến Triệu Thành Vương rất vui, đắc ý nói: "Nếu quả thật đánh thắng được Tần rồi, ngoài năm trăm lạng vàng này ra, quả nhân còn ban thưởng thêm cho ngươi mỹ nữ và xe ngựa nữa".

Lã Bất Vi nói: "Đa tạ đại vương".

Lã Bất Vi bước thấp bước cao xuống mấy bậc đá ở trước cửa Tùng Đài, chiếc lá từ trên mái rớt xuống cắm vào lưng ông khiến ông đau nhói. Ông cảm thấy mồ hôi đổ ra ướt đầm, ông bình tĩnh lại, ngồi nghỉ một lúc. Đến lúc này, ông mới biết mình đã đổ rất nhiều mồ hôi. Trước vẻ uy nghiêm của Triệu Thành Vương, áp lực to lớn đã khiến ông quên đi sự sợ hãi. Rời khỏi đại điện rồi, ông mới bắt đầu thấy hoảng sợ. Mình đã ví Triệu Thành Vương với người vợ tham của, thật là gan to hơn trời. Thật kỳ lạ, vị hoàng thượng này lại không hề giáng tội Lã Bất Vi vì đã xuất ngôn phạm thượng. Ánh mặt trời chói chang chiếu rọi cả cung điện. Lã Bất Vi cảm thấy màu son đỏ tươi làm chói mắt trên cột trụ cung điẹn kia như tràn đầy sức sống. Lã Bất Vi đột nhiên nghĩ cột trụ này có thể giữ được dây cương của chiến mã quân Tần không? Nghĩ đến đây khiến ông thất kinh bởi ý nghĩ không lành này của mình.
Tĩnh Tâm
Đăng nhập để trả lời
0
(trang 254 - 265)

Lã Bất Vi biết, Triệu Thành vương một khi cử người đi tiếp nhận mười bẩy thành của quận Thượng Đảng, thì Triệu Tần sẽ xảy ra một trận chiến tranh long trời lở đất. Lã Bất Vi ra khỏi điện Tùng Đài với tâm trạng u uất liền đánh xe ngựa đến thẳng phủ Thượng khanh.

Lận Tướng lắng nghe từng câu mà Lã Bất Vi đã tâu với đại vương lúc yết kiến xong, thì thở dài than một cách rất đau buồn: "Nước Triệu đã đến ngày diệt vong rồi".

Mấy hôm nay, Lã Bất Vi lo lắng đứng ngồi không yên. Trước đây thì ông lo đêm lo ngày sợ vật cầm cố mà ông ký giao kèo với Triệu Quỷ Tử rơi vào tay quan phủ - từ sáng đến tối mất ăn mất ngủ không để tâm đến chuyện gì khác. Sự lo lắng này dần dần nguôi đi thì lại xảy ra việc Triệu Thành vương tiếp nhận Thượng Đảng, mang đến cho ông hết cái lo này tiếp cái lo kia. Năm trăm lạng vàng của ông, và cả cái tiệm vàng bạc đá quý "Long Xương Xương" kiaa, ông đều đổ vào chỗ Triệu Thành vương hy vọng thăng quan tiến chức, lẽ nào lại chỉ trong phút chốc tiêu tan theo mây khói.

Mỗi lần Lã Bất Vi suy tư ngổn ngang trăm mối trong lòng ra khỏi cửa là bọn Hoàng Phủ Kiều, Triệu Cơ, Tư Không Mã, Dương Tử và vài kẻ môn khách nô bộc trong nhà lại liếc nhìn nhau dò hỏi: "Lão gia nhà chúng ta làm sao vậy?"

Khi Lã Bất Vi quay về phủ mình, mọi tâm sự như thế hiện rõ trên khuôn mặt, môi mím chặt, bọn nô bộc, thuộc hạ cất lời chào, ông cũng không để ý, chỉ hừm một tiếng, khiến nhiều kẻ đã cảm thấy e ngại.

Lã Bất Vi bỏ bễ những công việc thường ngày như kê khai sổ sách, bàn chuyện mà tiêu hao thời gian vào việc ngồi trâm tư trong thư phòng. Ông ngồi bất động trước thư án, đưa ánh mắt xa xăm nhìn ra ngoài cửa sổ, bầu không khí trong lành như dồn về phía ông. Mây quang trời tạnh, tỏa khắp muôn nơi, mây bay trên cao lúc tụ lúc tản. Những án mây muôn hình đa dạng.

Bất giác ông liên tưởng ra những hình dạng kỳ quái như núi, cây, người,... Ông cũng không đếm nổi những áng mây, ông suy nghĩ về con đường của mình, ông tự nhủ với lòng mình: "Lã Bất Vi, sự việc xảy ra như ngựa đi trên tuyết vậy, có thể thấy rõ. Nước Triệu mà tiếp nhận quận Thượng Đảng của nước Hàn, thiên binh vạn mã của quân Tần sẽ tiến sang đoạt lại, đại vương sẽ điều binh đi cố thủ. Thế là máu chảy thành sông, cuộc chiến Tần Triệu mà kết quả là thây chất thành núi sẽ nổ ra". Tình thế của quận Thượng Đảng đã phát triển theo đúng phán đoán như thần của Lã Bất Vi.

Triệu Thành vương sai Bình Nguyên quân Triệu Thắng tiến vào Hồ Quan, tiếp nhận quận Thượng Đảng. Lúc này Tần Triệu chưa nảy sinh giao chiến, quân lính vây thành của quân Tần trông thấy chú của Triệu Thành vương là Bình Nguyên quân Triệu Thắng đều để yên.

Sau khi Triệu Thắng vào thành, liền đến doanh trại của quân cố thủ thành, ban thưởng cho những quân dân anh dũng giữ thành, và ban bố với trăm họ trong thành "Ba mươi vạn hộ do Phùng Đình quản lý ở Thượng Đảng, phong thưởng huyện lệnh đất đai nghìn hộ, Chư Sử ban thưởng tặng ba cấp quan. Dân trong thành phàm là những ai có thể giữ thành đều ban cho sáu lạng bạc, và vận chuyển lương thảo từ Hàm Đan sang tiếp viện.

Quận thủ Phùng Đình khấu đầu tạ ơn Bình Nguyên quân Triệu Thắng thưa: "Hạ quan có ba điều bất nghĩa, không dám nhận sự ban thưởng của Bình Nguyên quân".

Triệu Thắng hỏi: "Phùng đại nhân có công giữ thành, quy về Triệu vương nhân đức, sao lại nói là phạm ba điều bất nghĩa".

Phùng Đình nét mặt xấu hổ đáp: "Hạ quan đúng là phạm ba điều bất nghĩa, không thể chết để bảo vệ được thành là điều bất nghĩa thứ nhất, Hàn vương lệnh cho hạ quan giao thành cho nước Tần, nhưng hạ quan lại kháng lệnh quy về nước Triệu, là điều bất nghĩa thứ hai, hạ quan là mệnh quan của nước Hàn mà đem đất đai của nước Hàn dâng cho nước khác mà lại nhận sự ban thưởng là điều bất nghĩa thứ ba".

Những lời nói chân thành của Phùng Đình khiến Triệu Thắng rất cảm động, nói: "Phùng đại nhân có khí tiết cao cả như vậy, không thể tính là có tội, nhất định phải chỉ huy quân dân kiên trì cố thủ Hồ Quan".

Phùng Đình nói: "Kẻ bất nhân bất nghĩa khó mà phục tùng. Có điều bất nghĩa thứ nhất, không thể làm tướng, phạm điều bất nghĩa thứ hai thì không thể làm quan. Nay hạ quan phạm ba điều bất nghĩa trên, không còn mặt mũi nào làm quận thủ nữa rồi. Xin Bình Nguyên quân chọn người hiền đức khác thay hạ quan!" Phùng Đình nói xong, liền bỏ áo quan, lấy ấn tín giao lại Triệu Thắng. Cho dù Triệu Thắng níu kéo, thuyết phục thế nào, Phùng Đình kiên quyết không ở lại và thỉnh cầu: "Triệu Thắng Bình Nguyên quân đã vào Hồ Quan rồi, nhân dân Thượng Đảng cũng đã phục, tôi không có gì lo lắng nữa. Xin cho phép tôi ra khỏi thành, ẩn tích nơi thôn dã".

Bình Nguyên quân Triệu Thắng sau khi gạt lệ tiễn biệt Phùng Đình, cử Cận Hoàng Trọng làm quận thủ, bố trí quân đội trong thành. Thay những lá cờ thêu "Hàn" và "Phùng" đã bị rách tả tơi bởi tên, đạn bằng lá cờ mới thêu chữ "Triệu" và "Cận". Thống lĩnh quân Tần là Võ An quân ở ngoài thành lúc này mới vỡ lẽ, trông thấy cờ hiệu mới cắm trên thành Hồ Quan, mới biết được là quận Thượng Đảng đã rơi vào tay Triệu. Nhưng nếu khiêu chiến với Triệu, còn phải có chiếu mệnh của Chiêu Tương vương. Chiêu Tương vương khi biết miếng mồi ngon đến miệng lại bị rơi vào tay kẻ khác, vô cùng tức giận, liền hạ chỉ lệnh cho Võ an quân làm đại tướng quân, Ngũ đại phu Vương Linh làm phó tướng, tấn công Thượng Đảng.

Nước Triệu quả nhiên là đã rước họa vào thân. Quân Tần với thiên xa vạn mã, cờ xí tung bay ầm ầm tiến về phía Thượng Đảng như nước lũ. Số binh lính của Triệu cố thủ ở Thượng Đảng rất ít, thêm vào đó số quân Hàn cũng không bằng một phần mười số quân Tần. Quân Tần lấy thanh thế dễ dàng đè bẹp quân địch hướng Thượng Đảng tiến công. Quân Triệu bị đẩy lùi đến Trường Bình, thì phái người về xin Triệu Thành vương tăng viện.

Triệu Thành vương liền phong Liêm Pha làm chủ soái, thống lĩnh bốn mươi vạn đại quân, rầm rầm đến Trường Bình chi viện cho quân Triệu. Liêm Pha dùng kế sách "Giữ thành không chiến, lấy sức nhàn chống lại quân địch mệt mỏi" nhằm tiêu hao sức lực quân Tần. Quân Tần từ xa đến, đã mệt mỏi rồi. Sẽ rất bất lợi nếu quân Triệu quyết giữ thành đợi cho lương thực của quân Tần tiêu hao, hơn nữa một số binh lính của Tần không thích hợp với môi trường này nên bắt đầu sinh bệnh. Chiêu Tương vương thấy nếu tình hình cứ kéo dài như vậy sẽ gây bất ổn với quân đội Tần, liền sử dụng kế ly gián của Phạm Thư, phái Gian Điệp Huề mang nghìn lạng vàng, hối lộ cho cận thần của Triệu Thành vương và rêu rao rằng: "Liêm Pha quá già, không đủ sức lực để chỉ huy quân Triệu, đâu có dám giao chiến với quân Tần! Nếu như Triệu Quát trẻ tuổi dũng mãnh đi, thì đã sớm đánh cho quân Tần thất bại tơi bời rồi" Triệu Thành vương vốn đã thấy không vừa ý với kế sách "cố thủ không đánh" của Liêm Pha, nay lại nghe lời đàm tiếu như vậy, quyết định lệnh cho Liêm Pha hồi cung, phong Triệu Quát làm thống soái chỉ huy quân Triệu chống Tần.

Đừng xem Triệu Quát chỉ có hai mươi hai tuổi, nhưng gia thế nhà hắn thì lại có danh tiếng và lâu đời như mặt trời ở thành Hàm Đan này. Cha hắn, Triệu Xa nguyên là quan Điền bộ sử ở nước Triệu, phụ trách công việc trưng thu thuế đất, tài hoa cái thế của ông ta không được phát huy, chỉ là ngồi ngày ngày tính sổ sách. Sau đấy quen thân được với em của vua là Triệu Thắng, được tiến cử với Triệu Huệ Văn vương. Triệu Huệ Văn vương giao cho ông ta quản lý thuế má trong cả nước, ông ta làm rất xuất sắc. Năm đó, quân Tần tấn công nước Hàn, đội quân Hàn bị kẹt ở Yên Dư, lúc đó nước Hàn cầu cứu nước Triệu đem quân tăng viện, Triệu Huệ Văn vương phái Triệu Xa làm chủ soái, đem quân đi cứu viện. Kết quả là quân Triệu đã thắng lợi, quân Tần bị đại bại ở Yên Dư. Khi khải hoàn trở về, Triệu Huệ Văn vương phái Triệu Thắng cùng văn võ bá quan nổ trống đón ở cổng thành Hàm Đan. Huệ Văn vương rất ca ngợi Triệu Xa, ban cho hiệu "Mã Phục Quân", phong cho Kỳ Lam viên rộng ba trượng khiến nhiều hoàng thân quốc thích trong hoàng tộc cũng phải ghen tị. Ngoài ra còn ban cho rất nhiều vàng bạc gấm vóc, lương thực kiếm cung. Phu nhân của Triệu Xa, là người nhân hậu, biết nhìn xa trông rộng, nói với chồng đang rất vui mừng đắc ý: "Tiền bạc chỉ là thứ phù phiếm bên ngoài, không thể sinh sôi trong nhà họ Triệu được. Phu quân nếu một mình hưởng thụ hoang phí, thì sẽ tổn hại đến thân, hơn nữa kẻ khác lại đem lòng đố kỵ. Chi bằng hãy mang ban phát cho quân lính thuộc hạ, những vật này coi như mọi người cùng hưởng, có thể quân lính sẽ phục phu quân, quyết một lòng sống chết cùng chàng". Triệu Xa nghe theo lời nhân nghĩa của vợ, mỗi lần Đại vương Triệu Huệ Văn vương ban thưởng cũng đem ra ban cho thuộc hạ dưới quyền. Do đó, tiếng tăm công đức yêu quân như con của Triệu Xa lan rộng khắp thành Hàm Đan, lừng lẫy Triệu quốc. Triệu phu nhân không chỉ bày kế làm rạng danh cho chồng, mà còn sinh cho Triệu Xa một nhi tử thông minh lanh lợi, Triệu Xa rất hy vọng vào đứa con này, ông mong con trai mình sẽ thành một khanh tướng tài giỏi xuất chúng trong đám bá quan, vì vậy đặt tên là "Triệu Quát". Triệu Quát ngày một trưởng thành, nhưng lại phát triển không như Triệu Xa mong đợi. Triệu Quát từ nhỏ đã thích nghiên cứu sách binh pháp, thích bàn về chiến lược, nhưng một chút kinh nghiệm thực tiễn đối địch lại không có. Mỗi lần đàm đạo về cách dùng binh, đều giảng lưu loát, thao thao bất tuyệt không ngơi, đâu đâu cũng là đạo, không ai bì kịp. Lúc đó mọi người đều ví phong thái của Triệu Quát là "đàm luận binh pháp trên giấy", "nói suông" mà không hề có thực.

Triệu Thành vương nghe nói vị công tử này rất giỏi giảng binh pháp liền triệu vào cung để thử, không ngờ bị Triệu Quát làm lóa mắt trước tài nghệ thuyết giáo về binh pháp của mình, Triệu Thành vương khâm phục vô cùng, nói: "Thật đúng là Cao Tàng, Tôn Vũ tái thế". Triệu Thành Vương nghĩ đến cử Triệu Quát đi thay Liêm Pha, thì đúng là khiến quỷ thần cũng phải bại.

Sau đó, vì sự kiện Triệu Quát được phong làm chủ soái thay Liêm Pha đã làm náo động cả kinh thành Hàm Đan, nhân dân trong thành đều biết rằng Triệu Thành vương đã mang bốn mươi vạn quân giao cho Triệu Quát, một thằng nhãi "hỷ mũi chưa sạch", chưa hề biết giao chiến là gì mà đều cảm thấy kinh hoàng.

Triệu phu nhân, mẫu thân của Triệu Quát có linh cảm như sắp có đại họa giáng xuống đầu, vội đi yết kiếm Triệu Thành vương, dập đầu cầu xin không ngớt: "Xin đại vương thu hồi mệnh lệnh, đừng để con trai của tôi làm đại tướng, thống lĩnh binh mã của nước Triệu."

Triệu Thành vương nói rất nghi hoặc: "Triệu phu nhân, bà làm mẹ nhưng lại thật là kỳ lạ. Những bà mẹ khác khi thấy con trai mình được phong hầu phong tướng đều rất sung sướng hãnh diện, vậy sao bà lại buồn rầu đau khổ, hơn nữa còn cắt đứt cả đứa con mà mình đã rứt ruột đẻ ra?"

Triệu phu nhân nghẹn ngào nói: "Tôi đều lo nghĩ cho đại vương, cho nước Triệu. Khi phu quân tôi còn sống đã từng nói: "Đứa con này nói về binh pháp trong chiến tranh thì giống như rồng bay phượng múa, nhưng không hề có kinh nghiệm bản lĩnh, một ngày nào đó mang quân đi chiến đấu thì nhất định sẽ làm tổn hại đến quân đội nước Triệu ta." Nó và phu quân tôi hoàn toàn khác biệt. Triệu Xa khi tại thế, đối với thuộc hạ dưới quyền rất gắn bó, thân thiết như cá với nước vậy. Đại vương ban thưởng cho ông ấy vàng bạc châu báu, đồ ngon của lạ, ông ấy đều ban phát cho thuộc hạ cùng hưởng. Một khi nhận được lệnh của Đại vương thì đều dốc hết tâm lực báo đáp, không hề để ý đến việc nhà. Tiểu tử lại không được như vậy, vừa mới được phong làm đại tướng quân, đã dương dương tự đắc, không ai bằng, đối với bọn thuộc hạ thì nghênh ngang, không hề quan tâm. Đại vương ban cho nó vàng bạc, nó đều mang về nhà, mua đất đai ruộng vườn, chỉ tính toán cho riêng mình. Xem ra bọn thuộc hạ dưới quyền đều không can tâm tình nguyện theo nó. Tôi một lần nữa xin khẩn cầu Đại vương, thu hồi mệnh lệnh, đừng để tiểu tử đem binh đi!"

Triệu Thành vương nói: "Ý quả nhân đã quyết, không thể đổi được rồi." Triệu phu nhân nói: "Nếu Triệu Quát có làm điều gì sai trái, xin Đại vương cũng đừng trừng phát liên lụy đến cả nhà chúng tôi."

Triệu Thành vương đồng ý.

Triệu phu nhân cáo biệt Triệu vương quay về, trong lòng rối bời, bắt đầu dự tính hậu sự cho mình, phải bán "Kỳ Lâm Viên" làm chi phí mai táng cho mình theo chồng là Triệu Xa. Lúc đó nghe nói Lã Bất Vi là người giàu có, liền tìm đến cửa ông ta.

Lã Bất Vi vừa trông thấy một phu nhân đầu tóc bạc phơ đã nhận ra ngay là ai rồi.

Triệu phu nhân đang định giới thiệu mình, Lã Bất Vi đã vội vàng cung kính hỏi: "Dám hỏi Lão phu nhân có phải là mẫu thân của Triệu Quát không?"

Triệu phu nhân vui mừng nói: "Ngài có thể nhận ra ta, thật là vinh hạnh."

Lã Bất Vi nói: "Triệu phu nhân ở thành Hàm Đan này, tiếng tăm nhân đức tài mạo lừng lẫy ai mà không biết."

Triệu phu nhân nói: "Ngài quá khen rồi, tôi hôm nay đến là có chuyện cần giúp, tôi muốn bán phong ấp "Kỳ Lâm Viên", không biết ngài có ý định mua chăng?"

Lã Bất Vi nói: "Theo tôi biết, Kỳ Lâm Viên là miếng đất quý, phong thổ đều tốt, rất nhiều người mơ ước có nó mà không được, Đại vương đã ban cho Mã Phục Quân, lẽ nào đường đường là phu nhân Mã Phục Quân, phu nhân lại túng bấn vậy sao? Hơn nữa lệnh lang lại được Đại vương tin dùng, giao cho thống lĩnh đại quân nước Triệu, chức cao lộc hậu, tiền bạc đầy kho."

Triệu phu nhân nói: "Ngài nói như vậy, tôi không còn chỗ nương thân rồi. Mã Phục Quân khi còn tái thế, giữ gìn phép tắc, thanh liêm chính trực trong nhà không hề có tích trữ của cải, có lẽ tôi cũng sống không được lâu nữa, sẽ hội ngộ phu quân tôi dưới cửu tuyền, muốn có một ít tiền để xây lăng mộ sau này."

Lã Bất Vi nói: "Tôn phu nhân tinh thần minh mẫn, sức khoẻ dồi dào, làm sao lo liệu hậu sự sớm như vậy?"

Triệu phu nhân nói: "Ngài không biết đó thôi, có lẽ họ Triệu nhà chúng tôi sắp có đại họa rồi."

Lã Bất Vi mỉm cười nói: "Tôn phu nhân nói vậy khiến người ta kinh ngạc, khắp nơi xa gần chư hầu đều biết gia thế và tài đức của Triệu Xa."

Triệu phu nhân nói: "Ngài chỉ biết một mà không biết hai." Sau đấy đem những điều uẩn khúc trong lòng buồn rầu tâm sự với Lã Bất Vi. Triệu phu nhân nói một hồi, việc này khiến Lã Bất Vi không ngờ tới, một là ông chỉ nghe Triệu phu nhân là người hiền đức nhưng không ngờ phu nhân lại là người đại nhân đại nghĩa, sáng suốt lo cho dân cho nước như vậy, hai là ông cũng nghe Triệu Quát làm đại tướng quân sẽ làm tổn hại đến nước nhà. Nhưng hiểu con không ai bằng mẹ. Triệu phu nhân đã tiên đoán được kết cục của con mình và quân Triệu khiến ông bàng hoàng kinh ngạc.

Triệu phu nhân nói tiếp: "Đêm qua tôi có nằm mơ, cả một vùng hoa đào đua nhau nở đỏ như lửa, tôi đã đi hỏi người giải mộng, nhân nói hoa đào là tượng trưng cho máu, họ Triệu nhà tôi sẽ bị hủy diệt trong biển máu, tôi cảm thấy họa đã ở gần kề, không thể chần chừ được nữa. Trong lúc vẫn bình an vô sự này, mau chóng bán "Kỳ Lâm Viên" lo liệu hậu sự, nếu không sẽ chết không chỗ dung thân. Tôi khẩn cầu ngài mở lòng giúp đỡ."

Lã Bất Vi nói: "Phu nhân đã một lòng vì nước vì dân, đến trời cũng cảm động, nhất định dữ hóa lành, quyết không thể xảy ra cái họa lớn như vậy được, xin phu nhân hà tất nghĩ sự việc lại thê thảm đến thế, cũng hà tất phải bán "Kỳ Lâm Viên"."

Triệu phu nhân nói: "Lẽ nào đại nhân lại keo kiệt hay sao, không muốn giúp đỡ một người đàn bà sắp bị họa giáng xuống đầu như tôi?"

Lã Bất Vi nói: "Phu nhân quá lời rồi! Bao nhiêu tiền bạc ngọc ngà châu báu cũng không sánh được với khí tiết thanh cao nhân nghĩa của phu nhân. Chi bằng phu nhân đã quyết định như vậy, tôi có chút lòng thành xin biếu ít bạc năm mươi lạng, để giải nỗi phiền cho phu nhân. Còn Kỳ Lâm Viên xin phu nhân cứ giữ lại để phụng dưỡng tuổi già, thiên niên vạn thọ."

Lã Bất Vi nói xong, lệnh cho người mang ra năm mươi lạng bạc, mang đến Triệu phủ, Triệu phu nhân vội ngăn nô bộc của Lã Bất Vi lại, nói với Lã Bất Vi, bà quyết không thể không có công lại hưởng lộc được.

Lã Bất Vi nghĩ một lúc rồi nói: "Thưa phu nhân, phu nhân xem như vầy có được không? Nếu nhà họ Triệu vẫn bình yên vô sự, Kỳ Lân Viên vẫn thuộc về chủ cũ, nếu một khi gặp phải bất trắc, cần bán, thì tôi xin mua lại cho phu nhân, những về giá cả phu nhân đã định cả rồi thì chúng ta nên viết trước bản giao ước."

Triệu phu nhân nói: "Được, cứ như vậy, việc này tôi đã quyết rồi."

Sau khi Triệu phu nhân đi khỏi, Lã Bất Vi bất giác thấy lo lắng trong lòng, ông biết Triệu Quát hợp binh xuất chinh thì sẽ mang tai họa cho Triệu quốc là điều không còn phải nghi ngờ. Năm trăm thỏi vàng, cả cái tiệm vàng bạc đá quý Long Xương Xương của ông đều đã gửi gắm hy vọng vào tiền đồ chính trị của nước Triệu, có thể sẽ hóa ra tro bụi. Nhưng ông không cam tâm chịu thấy sự tranh đấu tổn hại bao tâm huyết của mình trong suốt mười mấy năm lại bị chôn vùi bởi một tên Triệu Quát.

Mấy hôm nay Lã Bất Vi không chợp mắt được, mơ mơ màng màng nằm trên giường mà trằn trọc không ngủ được, đành phải dậy đi dạo trong dinh viên.

Ánh trăng mờ mờ để lộ ra vầng trăng khuyết lúc ẩn lúc hiện vào trong những đám mây, trên bầu trời xanh thăm thẳm kia lấp lánh muôn vàn những ánh sao đêm, cái bóng như đuôi công nhạc vũ kia giống như bóng ma đang lướt trên mặt đất. Lã Bất Vi bất giác nghe thấy cả tiếng giày quét trên mặt đất, ông thơ thẩn thuận bước, bóng ông lúc như dài ra, lúc như thu lại. Lã Bất Vi đột nhiên trông thấy đằng xa một loạt tia sáng lướt trong không trung tiến lại gần hơn, dưới ánh trăng hiện ra một bóng người đang múa trong tay một thanh bảo kiếm, không biết là vị môn khách nào đang luyện kiếm đây. Lã Bất Vi tiến lại nhìn kỹ, thì ra là Tư Không Mã, Tư Không Mã nhận ra Lã Bất Vi vội vàng thu kiếm khấu đầu chào. Lã Bất Vi nói: "Luyện tiếp đi, ta xem."

Tư Không Mã nói: "Nếu đại nhân đã có hứng thú, thuộc hạ xin tiếp tục." Nói xong Tư Không Mã liền rút kiếm trình diễn, thanh kiếm trong tay Không Mã thay đổi muôn hình vạn trạng, lúc như thế "hạ lập sương điển", lúc lại như "bạch hầu triển kiên", có lúc lại như "Giao long đáo hải", chốc lại giống như "đa yến linh không", ánh kiếm điêu luyện lướt trong không trung như long vờn phượng múa, đẹp vô cùng. Dưới ánh trăng, Lã Bất Vi chỉ trông thấy một luồng sáng bạc loang loáng làm lóa mắt muôn thế uyển chuyển như những tia chớp giữa trời đen. Trước đây ông chỉ nghe nói Không Mã biết chút ít về kiếm thuật nhưng không ngờ lại đạt đến trình độ điêu luyện như vậy. Tư Không Mã biểu diễn xong một bài kiếm pháp nói: "Xin đại nhân chỉ giáo thêm."

Lã Bất Vi kinh ngạc nói: "Không ngờ Tư Không Mã lại là một cao thủ kiếm pháp như vậy."
Tĩnh Tâm
Đăng nhập để trả lời
0
(Trang 266 - 277)

Tư Không Mã nói: "Những môn khách như chúng tôi, bình thường nhàn rỗi được chúng tôi đối đáp cho ăn ở, một khi cần xông pha thì cũng phải có chút tài mọn báo đáp vậy. Nghe người phương bắc nói, Lã đại nhân có cừu thù nào, cần phải đưa chúng đến chỗ chết, tôi xin đi báo thù cho ngài."

Thấy Tư Không Mã biểu lộ sát khí mạnh như vậy khiến Lã Bất Vi phấn chấn hơn, quyết tâm nghĩ "nhất định phải giết chết Triệu Quát". Lã Bất Vi cảm thấy trong lòng ông như nghẹn lại, ông đã từng vào sinh ra tử, đi nam về bắc, buôn bán đủ loại, đã từng giao thương với nhiều đối thủ trên thương trường, nhưng bày mưu giết người thì đây là lần đâu tiên trong đời, hơn nữa kẻ phải giết lại là đại tướng quân rất được Triệu Vương tín nhiệm, có dễ ra tay không? Trước mắt Lã Bất Vi là người sẽ vì ta mà đi vào chỗ nguy hiểm, giết một mạng để giành lấy nghĩa chăng?" Nghĩ đến đây, Lã Bất Vi nhìn Tư Không Mã, ánh trăng chiếu xuống đầu anh ta tạo thành một vầng sáng lớn. Lã Bất Vi nhìn rõ khuôn mặt cương nghị và đôi mắt sáng long lanh của Tư Không Mã, cảm thấy đây chính là người có tấm lòng nghĩa hiệp, đáng để ông ta tin cậy.

Tư Không Mã hỏi: "Lã đại nhân, mấy ngày hôm nay, bọn môn khách và nô bộc chúng tôi đều thấy đại nhân không vui, không biết là ngài có tâm sự gì chăng?"

Lã Bất Vi bất giác thở dài rồi tâm sự với Tư Không Mã về việc lo lắng của mình trước sự kiện Triệu Quát đảm nhận chức Đại tướng quân sẽ gây họa cho dân cho nước.

Tư Không Mã nói: "Tôi cũng đã nghe triều đình và dân chúng bàn bạc về việc này, Đại vương đã không suy xét kỹ khi giao trọng trách đại tướng quân cho Triệu Quát, lẽ nào ngoài Triệu Quát ra, không còn ai đảm nhận trọng trách này sao?"

Lã Bất Vi nói: "Triệu Quát trẻ tuổi, trí dũng được Triệu Vương tín nhiệm, chúng ta không còn cách nào để ngăn chặn ông ta."

Tư không Mã nói: "Vậy thì cả thành Hàm Đan này đều bó tay vò sách giương mắt nhìn Triệu Quát đem 14 vạn quân đi sao?"

Lã Bất Vi muốn hét lên "phải giết hắn" nhưng chực thốt ra lại do dự. Nếu lộ ra thì đây là một tội lớn trong thiên hạ, chu di cửu tộc, không thể tùy tiện nói ra được.

Suy nghĩ một lúc, Tư Không Mã tự nhiên buột miệng thốt lên rất kiên quyết: "Hãy giết hắn đi." Tư Không Mã nói xong, nhìn Lã Bất Vi không nói liền quỳ xuống, giọng chân thành đầy nghĩa khí: "Tu Không Mã tôi tuy bất tài, nhưng nguyện hết lòng vì đại nhân, dù có phải đi vào chỗ chông gai lửa đạn tôi cũng không sợ, xin đại nhân đừng do dự."

Lã Bất Vi vội đỡ Tư Không Mã dậy, người môn khách này bình thường không thể hiện gì xuất sắc, nhưng đén khi cấp bách lại một lòng trung thành, dám mang cả tính mạng ra để báo đáp, khiến Lã Bất Vi cảm động đến rơi lệ, mang những kế hoạch của mình nói cho Tư Không Mã biết: "Tư Không Mã, ta đã từng có ý nghĩ là giết Triệu Quát, nhưng thích khách thì một phần sống, chín phần chết, có đi mà không có về, vậy thì có ai nguyện đi vào chỗ chết đây?"

Tư Không Mã khảng khái nói: "Đại nhân, hãy để Tư Không Mã này đi được chăng? Những hiệp khách luyện kiếm pháp như chúng tôi đã không màng gì đến sống chết rồi, trong trận muôn ngàn đao kiếm thì không tránh khỏi cái chết. Ví như Bỉ Diên, trốn được lần đầu đâu có tránh được lần sau, đã là cái chết thì hãy để kẻ sĩ chết vì người tri kỷ của mình. Hơn nữa, những việc tôi làm đều là vì bách tánh ở thành Hàm Đan này, một khi thân tôi có bị chôn nơi trận mạc thì cũng để lại trong lòng họ sự ngưỡng mộ và nuối tiếc đối với Tư Không Mã này."

"Tư Không tiên sinh, ngài đã hy sinh cả tính mạng mình để trừ bỏ lo lắng của ta, và giải nguy cho dân chúng nước Triệu. Xin hãy nhận của Lã tôi một lạy." Lã Bất Vi cung kính khấu đầu tạ ơn rồi nói tiếp: "Đã như vậy, chúng ta phải bàn bạc thật kỹ lưỡng, bí mật vạch kế sách, quyết đoán hành sự, sao cho vạn phần thắng một phần bại." Lã Bất Vi lao tâm khổ trí vạch mưu kế cả một đem trời mà vẫn không tìm ra kế sách hay, làm thế nào để Tư Không Mã tiếp cận được Triệu Quát đây, thật khó như lấy trăng trên trời vậy. Sáng sớm hôm sau, trong lúc vẫn mơ mơ màng màng, Lã Bất Vi nghe như có giọng nói trong trẻo nhu chim oanh hót bên tai, ông mở mắt nhập nhèm nhìn, thì ra là khuôn mặt mỹ miều của Triệu Cơ, bên tai ông phảng phất hương thơm ngây ngất và giọng nói ngọt ngào của nàng đang đứng bên cạnh giường: "Đại nhân đã canh ba rồi, phu nhân Hoàng Phủ lệnh cho thiếp vào gọi đại nhân dậy dùng món điểm tâm."

Lã Bất Vi trông ra cửa sổ, đúng là ánh mặt trời đã chiếu qua song, ông vươn vai ngồi dậy hít một hơi dài.

Triệu Cơ không hề xấu hổ ngắm nhìn cơ thể cường tráng của Lã Bất Vi, nói dịu dàng: "Để thiếp đỡ đại nhân dậy." Triệu Cơ lấy chiếc áo trong, giúp Lã Bất Vi mặc vào, rồi lấy chiếc áo ngoài khoác cho Lã Bất Vi. Bất giác ông liếc nhìn Triệu Cơ, tim đập xốn xang, thật là một tuyệt thế giai nhân khiến người ta mê mẩn. Những ngày này, rất nhiều chuyện không vui khiến Lã Bất Vi lo lắng không yên, đã làm ông không màng gì đến người kỹ nữ đón từ kỹ viện này về. Trong phút chốc, Lã Bất Vi không kiềm chế được ngọn lửa tình kéo Triệu Cơ vào lòng mình, một tay vuốt ve khuôn trăng hoa nhường nguyệt thẹn và bộ ngực đầy đặn của nàng. Nàng nhắm mắt hoảng loạn tiếp nhận. Nàng không cự tuyệt, mà nàng cũng không muốn cự tuyệt. Từ hôm ở ngoài thành, khi thấy Triệu Thành mang di chúc của cha mình về, nàng đã nghĩ để được Lã Bất Vi gần gũi là chuyện sẽ sớm muộn xảy ra mà thôi. Trong lúc Lã Bất Vi âu yếm Triệu Cơ, nàng đã kể với Lã Bất Vi chuyện nàng nghe được mọi người bàn luận trên phố khi nàng đi mua khăn, nghe đâu Thượng Khanh Lận Tướng vì chuyện của Triệu Quát được bổ nhiệm làm đại tướng quân mà lo nghĩ lâm bệnh rồi.

Lã Bất Vi nói: "Ồ, sao chuyện đó ta lại chưa nghe?"

Triệu Cơ nói: "Thật may, cũng có người trên phố nhìn thấy người nhà của Lận tướng Thượng khanh vào cửa hàng mua thuốc." Lã Bất Vi nói: "Thật là một vị Thượng khanh tốt, trung quân báo quốc, lo cho dân cho nước." "Sao đại nhân không đi tìm hiểu xem sao?" "Phải đi, phải đi."

Lã Bất Vi âu yếm Triệu Cơ hồi lâu, sau đấy mới trở dậy, rửa mặt và ăn sáng. Xong đâu đấy liền mang một ít lễ đến phủ Thượng Khanh. Lận tướng thật sự bệnh tình không nhẹ, trong ông yếu ớt nằm trên giường, hai má hóp lại, thân hình gầy rộc, da dẻ nhăn nhúm, bộ dạng như vừa trải qua một cơn sốc lớn. Trên đầu giường đặt bát thuốc đã sắc sẵn. Thấy Lã Bất Vi đến thăm, ông cố gượng dậy mà không đủ sức.

Lã Bất Vi hỏi thăm: "Lận khanh đại nhân, bệnh tình đại nhân thế nào, đã đỡ nhiều chưa?"

Lận tướng than thở: "Trời ơi, tổ tiên từ đời Triệu tạo dựng đến đời Chu Mục Vương, xã tắc cơ đồ của trăm họ gây nghiệp nay lại bị hủy diệt trong tay Triệu Quát."

Lã Bất Vi an ủi ông: "Chúng ta chỉ nhìn từ hành vi của Triệu Quát để võ đoán cái bại của nước Triệu, Triệu Quát phụng chỉ thật sự đi giao chiến, kết quả sẽ chết bởi tay ai hãy còn chưa biết."

Lận tướng nói: "Ngài không cần phải an ủi ta, tên Triệu Quát này vừa nhận chức đại tướng quân, còn chưa xuất quân mà đã ra oai bắt bách tính phải phục tùng, tiền hô, hậu ủng, khuếch trương quyền lực, làm sao mà đánh được đây?"

Lã Bất Vi nói: "Thượng khanh đại nhân đã vào khuyên nhủ đại vương rồi, nhưng đại vương vẫn không nghe ra, đúng là qua được mắt vua, mà không qua nổi mắt trung thần."

Lận tướng mím môi, nghiến răng căm hận Triệu Quát: "Ta hận là đã không sai thích khách giết chết ngươi."

Nghe Lận tướng nói vậy, Lã Bất Vi trong tâm nghĩ: "Đúng là anh hùng chung ý tưởng, nhưng ta cũng không thể để lộ kế hoạch của ta cho ông ta biết được, dù sao thì một khi ông ta mà hòa hảo với Triệu Quát, thì rốt cuộc bọn họ cũng đều là văn thần võ tướng của nước Triệu. Bây giờ có thể bọn họ có mâu thuẫn với nhau, nhưng một ngày nào đó bọn họ quay lại thì có thể đồng tâm hiệp lực mà đối phó với một thương nhân tha hương dị quốc như ta không biết chừng. Việc đại sự có liên quan đến tính mệnh này tốt nhất là thuận theo ý trời." Nghĩ đến đây, Lã Bất Vi hỏi: "Nếu thật sự bây giờ có thể giết hoặc trên đường hành thích Triệu Quát, đến lúc đó, không có ai thay thế, coi như là giải được mối lo rồi, không biết Thượng Khanh có mưu kế gì để giết được Triệu Quát chăng?"

Lận tướng bất lực nói: "Việc này không những quan hệ đến sự an nguy của xã tắc, mà phải hành động sao cho thần không biết quỷ không hay, tôi hiện nay lực bất tòng tâm, đâu có thể lại đi làm một chuyện lớn như vậy được?'

Lã Bất Vi từ chỗ Lận tướng còn biết thêm một tin quan trọng đó là Triệu Quát còn chiêu mộ quân sĩ trong dân theo hắn, đây là một cơ hội tốt để Tư Không Mã tiếp cận Triệu Quát, thật là trời giúp. Lã Bất Vi cáo từ Lận tướng ra về. Trên đường, khi đi qua con phố thì bị tắc xe, ông liền phái một thuộc hạ xuống điều tra mới biết được trước mặt là phủ đại tướng quân. Thì ra trước khi ra quân, Triệu Quát mở tiệc mời quan lại trong thành, trước cửa người ngựa, cờ xí tấp nập. Lã Bất Vi vội vàng quay xe về phủ, chuẩn bị một số vàng bạc mang đến phủ đại tướng quân, nhân cơ hội này tiến cử Tư Không Mã với Triệu Quát.

Trước cổng phủ đại tướng quân được tân kỳ sáng loáng đỏ rực sặc sỡ như màu đỏ làn môi của thiếu nữ, bên trong đèn hoa kết tưng bừng, nhạc tấu nổi lên rộn ràng. Quan lớn quan nhỏ đến chúc mừng nườm nượp, thê thiếp kẻ hầu người hạ phơi phới trong bộ xiêm y sặc sỡ màu sắc, lính gác mũ áo chỉnh tề ra ra vào vào, cảnh tượng thật tấp nập vô cùng. Lã Bất Vi phải ngồi đợi ở phòng khách rất lâu mới được gọi vào tiếp kiến.

Triệu Quát trẻ tuổi dáng vẻ rất đắc ý oai phong ngồi trên chiếc ghế đồi mồi phủ da hổ, khi biết trước mặt mình người diện kiến là Lã Bất Vi liền nói: "Ngài là một thương gia giàu có nhất đất Hàm Đan này, nay đến bái kiến bổn tướng nhất định là phải có lễ vật gì quý dâng lên phải không?"

Một câu nói này khiến Lã Bất Vi nhận ra Triệu Quát là một kẻ tiểu nhân tham lam, trong lòng nghĩ: "Nếu để một tên tham lam làm đại tướng quân thì ắt hẳn nước Triệu không chỉ bại trận mà nhất định còn bị diệt vong." Lã Bất Vi vội kêu thuộc hạ dâng kim ngân lụa là lên. "Đại tướng quân sắp xuất chinh, tiểu nhân có chút lòng thành dâng lên tướng quân "hai đôi ngọc trắng, 14 mét vải gấm, vàng thau 10 thỏi", tuy lễ vật nhỏ mọn, nhưng là tấm lòng của tiểu nhân, mong tướng quân đừng từ chối. Tiểu nhân chúc đại tướng quân xuất chinh lần này "kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công."

Triệu Quát rất hân hoan nhận lễ vật nói: "Được, được." Lã Bất Vi thừa cơ nói tiếp: "Nghe nói đại tướng đang chiêu mộ vệ sĩ theo cùng, trong đám môn khách của tiểu nhân có người tên là Tư Không Mã, nguyện được theo hầu hạ tướng quân." "Được, bổn tướng cũng đang thiếu một người coi giữ binh khí."

Lã Bất Vi nói: "Xin đa tạ đại tướng quân, tiểu nhân quay về sẽ lập tức truyền Tư Thông Mã đến nghe lệnh ngài."

Tư Không Mã thấy việc mình lấy thân phận là một kẻ giữ binh khí để tiếp cận Triệu Quát mà trong bụng cảm thấy hơi buồn cười. Tư Không Mã ngắm nhìn cây đoản đao của mình, ánh mắt chiếu xuống lưỡi dao sắc bén sáng quắc như đang nhảy múa, nhớ lại con dao này đã nhuốm máu bao kẻ. Tư Không Mã lấy ngón tay thử lên lưỡi dao, sau đó mài lên phiến đá, không ai biết được Không Mã dùng con dao này để làm gì, nhưng cũng không ai đến hỏi, nếu có người hỏi thì Tư Không Mã sẽ bịa ra một lý do, như để săn thú rừng phòng thân hay nhàn rỗi thì mang dao đi mài để giết thời gian. Khi Lã Bất Vi nói với Tư Không Mã, Triệu Quát đã quyết định cử chàng làm người giữ binh khí, thì không còn cơ hội nào có thể tốt hơn cơ hội này. Một đại tướng quân thống lĩnh thiên binh vạn mã nhất định là luôn mang theo khiên kiếm bên mình, không hề có sơ xuất nào, mọi nơi mọi chỗ đều bày bộ binh khí. Tư Không Mã dù có đi đâu cũng có tai mắt, thuộc hạ của Triệu Quát. Tư Không Mã nghĩ một khi đâm con dao này vào trước ngực hay sau lưng Triệu Quát, sau đó máu trong lồng ngực trào ra, vị đại tướng quân gục xuống như một khối tượng lớn. Nghĩ đến hình ảnh tang thương, kinh thiên động địa này đã làm người ta phải khiếp đảm rồi. Cuối cùng thì tất cả cũng không đáng gì. Chạy trốn ư? Bị bắt ư? Phanh thây ư? Thôi đành theo ý trời.

Trong đêm tối dưới ngọn đèn đuốc kia, Lã Bất Vi sẽ bày tiệc tiễn đưa chàng. Tư Không Mã mài xong cây đoản đao, thì mặt trời cũng vừa hé lên từ đằng đông, lúc này chàng còn đủ thời gian để thực hiện nốt những chuyện cần làm nốt. Chàng vẫn còn vương vấn một chuyện cần phải làm. Chàng rất nóng lòng muốn gặp Triệu Cơ. Chàng muốn nàng tự hào và cảm động trước một việc chính nghĩa, anh dũng mà chàng sắp làm. Mấy ngày hôm nay, mỗi lần nghĩ đến khuôn mặt kiều diễm của nàng là chàng lại cảm thấy bồi hồi không yên. Hình như người con gái tuyệt sắc giai nhân này đang cố ý tránh mặt chàng. Sáng sớm nay, chàng gặp Triệu Cơ đến bên giếng múc nước, chàng liền chạy lại xách giúp Triệu Cơ. Nàng thấy chàng dường như muốn tránh. Tư Không Mã vội vội vàng vàng bước thấp bước cao đến bên giếng. Nhân lúc này, nàng cố ý bước chậm lại để đôi tay rắn chắc của Tư Không Mã giữ lại đôi đòn gánh trên vai rồi cùng Tư Không Mã vai kề vai đến bên giếng. Nàng cúi đầu soi bóng xuống giếng, tâm thần hoảng loạn nhìn hai khuôn mặt đang cận kề sát nhau...

Tư Không Mã đã tìm mấy lần, cũng đều không thấy bóng dáng Triệu Cơ đâu.

Cho dù rất nhiều môn khách và nô bộc ở đây đều biết Tư Không Mã phải đến trướng của đại tướng quân chỉ làm một tên lính nhưng Lã Bất Vi khi bày tiệc tiễn Tư Không Mã cũng chỉ có hai người tham gia. Ngọn đèn được điều chỉnh độ sáng nhất, bóng đêm như bị đuổi đến tận nơi xa xăm, xung quanh bừng sáng như ban ngày. Trên bàn bày những món rượu thịt với hương vị tươi ngon, rượu nồng nàn rót tràn ly liên tiếp. Sau khi tiếp Tư Không Mã vài ly rượu, Lã Bất Vi bỗng nhiên hỏi: "Tư Không Mã tiên sinh đã sắp đến tuổi nhi lập chưa?" Tư Không Mã cảm khái muôn phần đáp: "Đại nhân hỏi tôi tuổi nhi lập ư? Đó là quá khứ rồi, tiểu nhân năm nay đã ba mươi hai tuổi rồi."

Lã Bất Vi nói: "Thật là thời gian qua nhanh thật, nhắm mắt đã qua bao nhiêu năm rồi. Tư Không Mã tiên sinh cũng xấp xỉ bằng tuổi tôi, vậy mà vẫn một mình, một bóng, chăn đơn gối chiếc, tiên sinh không có ý định lập gia đình sao? Đây đúng là phải trách ta là chủ nhân và không chiếu tố tận tình, thật xấu hổ, xấu hổ!"

Tư Không Mã đáp rất thẳng thắn: "Việc này không thể trách đại nhân được, đại nhân đã cho tôi gặp qua không ít thiếu nữ rồi, đều là do tôi từ chối cả thôi, lại còn mua nô tỳ về cho tôi, tôi cũng không nhận. Nói về sắc thì trên đời này làm gì có người đàn ông nào lại không yêu gái đẹp. Tôi không những yêu gái đẹp mà còn muốn là người đàn ông bình thường, nhưng những người như chúng tôi ngã đâu là nhà, sống chết bất thường, do vậy cũng không muốn để lại sau mình lại phải đèo bòng. Cho dù như vậy, thì tôi cũng đã từng nếm qua hương vị đàn bà, có thể nói đến chết cũng không nuối tiếc gì rồi! Đương nhiên không thể so sánh với Lã đại nhân là người hào hoa phong lưu."

Lã Bất Vi lại hỏi: "Tư Không Mã tiên sinh còn có người thân thích không?" Tư Không Mã lắc đầu nói: "Khi cha tôi mất, có nói với tôi có một người chú tên là Tư Không Ngõa trú tại Đại Lương, Quốc đô của nước Ngụy. Mấy năm trước, tôi thay tiên sinh đi mua hàng, có đến tìm ông, nhưng đến nơi thấy vườn không nhà trống, nghe đâu đã chuyển đến Sinh Đô nước Sở rồi. Tôi có nhờ người hỏi thăm, nhưng cho đến nay vẫn bặt vô âm tín. Ngoài người chú này ra, tôi chẳng hề có bạn bè thân thuộc nào hết."

Lã Bất Vi hỏi: "Tư Mã tiên sinh, nếu vạn nhỡ có gì bất trắc thì tiên sinh có điều gì gửi gắm Lã Bất Vi này không?"

Tư Không Mã đáp: "Tôi tin là người hiền thì luôn có trời phù hộ. Tư Không Mã phàm khi hành sự đều gặp dữ hóa lành. Nhưng thật sự nếu không thành công, thì chỉ xin tiên sinh mỗi năm giỗ tết đến phái người đến mộ tôi thắp cho tôi nén hương là được rồi."

Sau mấy tuần rượu, Tư Không Mã có phần say bí tỉ, đưa cặp mắt lơ mơ, ngà ngà nhìn Lã Bất Vi hỏi: "Lã đại nhân, những ngày tiểu nhân ở đây không còn nhiều, xin đại nhân lượng thứ cho tiểu nhân vô phép hỏi một câu được chăng?"

Lã Bất Vi nói: "Tư Không tiên sinh có điều gì cứ hỏi, đừng ngại." Tư Không Mã giọng say lè nhè hỏi: "Lã đại nhân, ngài sẽ lấy Triệu Cơ làm vợ chứ?"

Câu hỏi này khiến Lã Bất Vi hơi sững sờ, ấp úng đáp: "Việc này... việc này... Tư Không tiên sinh hỏi việc này là có ý gì?"

Tư Không Mã cố gặng hỏi cho tới cùng: "Ngài nói đi, ngài nói đi! Ngài đã rất yêu Triệu Cơ phải không? Ngài sẽ lấy nàng làm vợ chứ?"

Lã Bất Vi cố ý che dấu đáp: "Không phải vậy."

Tư Không Mã nói: "Vậy được, tôi có một lời thỉnh cầu, xin hãy cho Triệu Cơ múa hát cho tôi xem hôm nay được chăng?"

Nghe Tư Không Mã nói vậy, Lã Bất Vi bỗng nhiên như sôi lên, trong lòng rất khó chịu nhưng cố trấn tĩnh lại. Mãi sau mới bình tĩnh trở lại, Tư Không Mã nhất định là đã yêu thương Triệu Cơ rồi, Triệu Cơ với Tư Không Mã có tình ý và hẹn ước gì không? Trong thời khắc sống chết này, Tư Không Mã chỉ đơn thuần để nàng ca hát suốt đêm không? Tư Không Mã muốn chiếm được nàng, nhất định hắn muốn có bằng được nàng. Một bông hoa tươi sắp hé nở như vậy, lại bị kẻ khác hái đi trước mắt, làm hư hại như vậy. Vừa rồi tại sao lại nói là mình không thương yêu Triệu Cơ, không muốn cưới nàng chứ? Lã Bất Vi trách mắng cho sự giả dối của mình. Lẽ ra chàng không nên lừa một người bạn đã vì chàng mà hy sinh tính mạng để đi vào nơi nước sôi lửa bỏng. Người ta đã vì chàng mà bất chấp cả tính mạng của mình, vậy mà không đổi lại được một câu thành thật sao? Chàng thật đáng chết thê thảm, thật đáng đau khổ mất đi người mình yêu!"

"Mua bán còn phải đầu tư lấy một ít, huống hồ Tư Không Mã vì chàng mà đi vào chỗ chết!"

Nghĩ đến đây, Lã Bất Vi lấy hết sức bình tĩnh nói: "Được, để Triệu Cơ vào múa hát cho đại nhân một đêm thì có gì không được đây." Rồi liền sai thuộc hạ hãy đi gọi Triệu Cơ chuẩn bị múa hát cho Tư Mã tiên sinh thưởng thức.

Lã Bất Vi và Tư Không Mã tiếp rượu cho nhau cho đến mãi nửa đêm mới thôi.

Lã Bất Vi nhìn cảnh Tư Không Mã lảo đảo vào phòng của Triệu Cơ mà lòng đau nhức nhối, tâm trạng rối bời. Tư Không Mã gọi một tiếng rồi đẩy cửa vào. Dường như Triệu Cơ đã có sự chuẩn bị, nàng không hề kinh sợ. Dưới ánh nến sáng rọi, nàng đứng dậy nhường chỗ dâng trà cho Tư Không Mã, Tư Không Mã mặt đỏ bừng bừng, say mềm. Tư Không Mã lắc la lắc lư nói: "Triệu Cơ, hãy múa cho ta ngắm một bài đi." Triệu Cơ nói: "Tư Không đại ca, mau uống trà giải rượu rồi đi nghỉ đi."

Tư Không Mã chân nam đá chân siêu đến bên giường ngồi: "Bây giờ chỉ có nàng múa hát cho ta xem thì ta mới giải được rượu."

Triệu Cơ rất lấy làm kỳ lạ nói: "Đêm khuya yên tĩnh rồi, nếu Tư Không đại ca muốn, thì ngày mai thiếp sẽ múa cho chàng xem."

Tư Không Mã cười lớn: "Ngày mai ư? Tư Không Mã ta còn có ngày mai sao?"

Triệu Cơ nói: "Tư Không đại ca nhất định là đã uống quá chén rồi, nếu không sao có thể thốt ra những lời như vậy."

Tư Không Mã cười thở dài nói: "Tư Không Mã đại ca của nàng không say, Tư Không ta sẽ chẳng có ngày mai rồi!"

Triệu Cơ hỏi lại: "Chẳng phải là ngày mai chàng phải đi làm thuộc hạ của Triệu Quát đại tướng quân sao? Tại sao lại nói là không có ngày mai?"

Tư Không Mã nói: "Ta đi làm thuộc hạ của đại tướng quân ư? Ngày mai ta phải đi mưu sát hắn, dùng con dao mà ta đã mài sắc nhọn để giết hắn! Hắn chết rồi thì ta còn có thể sống chăng? Kiếp sau, ta cũng muốn trở thành phu ông, ta cũng muốn chiêu mộ nuôi dưỡng kẻ nô bộc, ta cũng muốn kẻ khác phải chết thay ta!"

Triệu Cơ bán tín bán nghi hỏi: "Không Mã đại ca, quả thật như vậy sao?"
Tĩnh Tâm
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-15 09:49:01ct.ly>
Ct.Ly ơi, CuLong đã gõ xong chương IV của tập 2 Lã Bất Vi rồi. Tuy nhiên, trong thời gian tới mình sẽ đi vắng một thời gian nên không lên diễn đàn được. Vậy có lẽ phần mình nhận gõ sẽ hơi lâu một chút so với mọi người.

Thông cảm nhé, bạn.




CHƯƠNG IV

SỐ PHẬN KHÓ LƯỜNG

Độc giả đọc tới chương này, giống như người đang xem một vở kịch mà trên sân khấu dần chuyển tới bối cảnh mới. Thành Hàm Đan năm năm sau, Lã Bất Vi đã khác xa với anh buôn ngựa xưa kia. Theo ngòi bút, tới những con phố lớn, bạn có thể gặp nhiều cửa hiệu của dân thường rất nguy nga. Ngựa xe tấp nập, thanh nữ ngày thêm nhuận sắc, tất cả đều nồng thắm, nét mặt ánh lên niềm hứng khởi. Từ quán lầu lớn vọng ra tiếng nhạc réo rắt mê hồn như ru lòng người vào cõi mộng. Tiếng rao bán của gánh hàng rong trên phố lại càng khiến người ta như muốn lạc bước ngơ ngẩn hồn xiêu phách lạc. Cuộc sống giàu có phù hoa khác hẳn với nước Hàn nghèo nàn vắng lặng.
Cuộc sống đã làm thay đổi cả cuộc đời Lã Bất Vi. Trong ngõ phố phồn hoa nhất thành Hàm Đan, một cửa hiệu biển hàng phấp phới, tấp nhập kẻ ra vào, nhìn kỹ là biển hiệu rất quen thuộc, không nói cũng hiểu, Lã Bất Vi đã tới thành Hàm Đan buôn bán, sinh lời bội phần ở xưởng “Long Xương Quảng”.
Bất Vi ở nước Hàn có chỗ đứng vững chãi, vây cánh đông đảo, tại sao còn dời tới nước khác, bỏ công phí sức làm gì? Chính vì Lã Bất Vi là người có nhãn quang chính trị rất sâu rộng. Lúc đó ở nước Tần, Chiêu Tương Vương tuổi cao, cầm quyền khá lâu, sủng ái vị Tướng quốc Phạm Thư. Phạm Thư thực hiện chiến lược “Viễn giao cận công” (gần thì đánh, xa thì giữ mối giao hảo). Bất Vi dự đoán, nước Hàn sẽ là mục tiêu đầu tiên để Tần quốc thực hiện đường lối này. Nước chư hầu này giống như chiếc lá vàng trong gío thu sớm muộn sẽ bị cuốn trôi. Vị trí nước Tần là: phía Bắc là nước Nguỵ, nước Sở phía Nam, nước Thục phía Tây, nước Hàn phía Đông. Trong bốn nước chư hầu này, đất đai giữa nước Hàn và nước Tần đan cài xen chéo, núi sông một dải vì thế nước Hàn trở thành mối hoạ bên trong của Tần quốc. Vì thế, nếu Tần khởi binh, nước Hàn sẽ là nước đầu tiên cần tiến đánh. Năm 265 trước CN, sau khi chiếm được Tiểu Khúc và Cao Bình của nước Hàn, Bạch Khởi được cử làm Nguyên soái thống lĩnh binh Tần. Đây là vị Tả đô Trưởng đa mưu túc trí, tàn sát không ghê tay, quyền lực lớn mạnh dưới Chiêu Tương Vương. Triều Tần nếu nào có quan hệ huyết thống, tông tộc với vua gọi là Đô Trường, còn không có họ hàng gì gọi là Tả Đô Trường. Vị Tả Đô Trường này có công lớn trong việc dẹp tan liên quân Hán, Sở, Nguỵ được phong là Vũ An quân. Mấy mươi vạn quân dưới sự thống soái của Bạch Khởi tiến quân ra trận làm quân Hàn chưa đánh đã tan, ùn ùn tháo chạy.
Lã Bất Vi biết rõ, lòng binh sĩ nước Hàn dao động, bất yên, lòng dân li tán. Nam đinh trong thành Dương Địch đều bị sung vào quân đội, số trẻ em phụ nữ còn lại lo sợ hoang mang. Có không ít người đã bỏ nhà, dời đến các nước chư hầu khác. Lã Bất Vi không thể khoanh tay nhìn bao châu báu ngọc ngà của mình bị mất. Bất Vi thấy rằng ở nước Hàn, đừng nói là phong hầu bái tướng mà kể cả quân vương, rốt cuộc cũng trở thành vị vua vong quốc “mỏi mắt trông tin nhạn, nơi miếu từ hát khúc bi ca” mà thôi.
Cho dù nước Hàn đang trong cảnh nước sôi lửa bỏng, chỉ cần nhìn thấy lợi, Lã Bất Vi vẫn không bỏ cơ hội kiếm tiền. Bây giờ, Lã Bất Vi đang cùng Triệu Khôi Tử bắt tay vào vụ buôn bán lương thực lớn.
Một hôm, người đến mua hàng lương thực vẫn ra vào tấp nập như mọi ngày, mấy người gia nhân mồ hôi như tắm đang tính toán giá cả lên xuống, gạo kê trong các thăng trắng như ngọc, long lanh như giọt mồ hôi của đám người làm. Bụi cám gạo, kê bốc lên như bụi đường, càng thu hút ánh mắt mọi người. Mấy ngày nay, mấy vạn thạch lương đã chất đầy trong kho của Triệu Khôi Tử. Người ở thành Hàm Đan luôn nhìn thấy dáng vẻ phương phi của Lã Bất Vi và dáng điệu gày ốm của Triệu Khôi Tử đứng nhìn kho lương thực, ánh mắt thoả thuê như người đàn bà chửa vớ được của chua. Chưa đầy vài ngày sau, giá lương thực bán ra đã cao vọt. Đầu mùa xuân, hạn hán kéo dài làm cho đất đai nước Hàn khô cằn nứt nẻ, người dân nước Hàn chỉ tuyệt vọng nhìn đồng ruộng hoang tàn, thu về những hạt thóc lép. Ở nước Hàn, đặc biệt tại thành Dương Địch, giá lương thực tăng vọt. Lã Bất Vi và Triệu Khôi Tử đã không bỏ lỡ dịp này.
“Không nhận nữa, không nhận nữa!”, một tiếng nói đanh gọn vang lên trong kho. Mấy người lau mồ hôi ngoảnh ra mới biết là tiếng của lão quản gia. Đó là Triệu Thành, mấy chục năm nay, chân chất phục dịch cho nhà Triệu Khôi Tử. Triệu Thành nhìn xung quanh với ánh mắt ngờ vực rồi dõng dạc nhắc lại một lần nữa: “Không nhận nữa, không nhận nữa!”. Đám gia nhân hiểu đó là chủ ý của Triệu Khôi Tử. Họ rút tay khỏi đấu thăng, đứng thẳng dậy, thở hổn hển.
Những xe lương xếp đống, xếp hàng trước cửa, theo lời của Triệu Thành không nhận lương thực, tiếng xì xào bàn tán rộ lên, lẽ nào họ thức khuya dạy sớm để xếp hàng bán đồ lại trở về tay không, tại sao lại không mua lương thực nữa?
Triệu Thành rỉ tai đám gia nhân vài câu rồi vội vàng quay về. Triệu Thành biết là Lã Bất Vi và chủ nhân của hắn đang nóng lòng chờ tin tức.
Quả nhiên, lúc này, Lã Bất Vi và Triệu Khôi Tử như đang ngồi trên lửa, họ ngồi trong phòng khách của Triệu phủ nhâm nhi chén trà, mỏi mắt chờ trông Triệu Thành đi phát lệnh trở về.
Khi ấy lưu truyền lại câu nói: “Xiêm áo ưa hát, tiền bạc mong buôn”. Lã Bất Vi và Triệu Khôi Tử vốn là những thương nhân giỏi giang, lại cùng nhau sinh lợi thật như hổ thêm cánh, rồng thêm vây. Hai người đang tính toán tiền lời trong vụ bán mua lương thực này, có một vị hộ vệ ngày đêm bên thành Triệu Hiếu Thành Dương, ngày thường cũng qua lại với Lã Bất Vi, báo cho Bất Vi một tin động trời: Nước Tần chuẩn bị xuất binh tiến đánh nước Hàn. Vua Trần Chiêu Tương Vương sai sứ giả đến nước Trịêu và các nước chư hầu không được cấp lương thảo và binh khí cho nước Hàn, nếu ai dám giúp nước Hàn, binh lính Tần sẽ quay lại tấn công ngay nước ấy.
Lã Bất Vi biết rõ, cho dù hiện tại Triệu Hiếu Thành Vương chưa chính thức tuyên triệu, cũng chưa xuất binh và lương thực giúp Hàn nhưng vị vua này không dám chống lại vua Tần bạo sát, uy danh lừng lẫy thiên hạ. Việc tuyên triệu làm theo ý chỉ của Tần Vương chỉ là chuyện sớm chiều mà thôi.
Tình hình thay đổi khiến Triệu Khôi Tử nao núng, lóng ngóng hỏi Lã Bất Vi: “Chúng ta giữa đường đứt gánh, không mua nữa nhé?” Nói xong, Triệu Khôi Tử nóng lòng như lửa, đi đi lại lại trong phòng. Bất Vi nhìn thấy vị thương nhân thường ngày đĩnh đạc nay sốt ruột như kiến gặp mưa thì cảm thấy buồn cườn. Nhưng Lã Bất Vi biết, lúc này mà cười sẽ khiến người ta tức giận, không chừng sẽ hỏng mọi việc, Bất Vi muốn thay đổi tình hình nhưng cố nén không muốn bộc lộ cảm xúc.
Bất Vi nói: “Còn mua gì nữa? Bây giờ còn chưa biết phải sắp xếp hơn trăm thạch lương ra sao đây?”
Triệu Khôi Tử nói: “Chúng ta không thể đứng giương mắt trông bụi phủ kho được!”
Bất Vi nói: “Triệu huynh đừng đùa! Không mất triệu thạch lương sao được? Theo lão đệ, trừ khi Triệu Vương không tuyên triệu, may ra mới đem số lương này về nước Hàn, chỉ còn cách bán lỗ để giữ vốn thôi”.
Triệu Khôi Tử nói: “Bán lỗ giữ vốn, định giở vai cho trời xem sao, hai lần tiền bỏ xuống sông biển à?”
Lã Bất Vi thấy thật hài hước, chỉ nói tới lỗ vốn, thì vị công tử ăn nói nho nhã hàng ngày đã biến thành hạng thô tục rồi. Triệu Khôi Tử thấy Lã Bất Vi như vậy bèn trách: “Lẽ nào Lã huynh lại ung dung tự tại, ngồi chờ buông câu! Tình thế này lại còn cười đùa. Theo ý tôi, nên dùng một số xe ngựa, mau chóng chuyển số lương này đến Dương Địch”.
Bất Vi nói: “Việc này không thể tuỳ tiện như vậy. Điều xe đánh ngựa chuyển hàng đi xa, sẽ không tới được cổng thành, Triệu Vương hạ lệnh bắt quay về thì mất cả chì lẫn chài!” Triệu Khôi Tử nói: “Từ Hàm Đan đến Dương Địch, quá lắm cũng chỉ mất bốn ngày đường, lệnh của Triệu Vương không thể tới nơi nhanh như thế!”
Bất Vi nói: “Đây là lời nói của quân vương, chỉ hạ lệnh thì nửa ngày cũng tới”.
Thấy Bất Vi dùng dằng, Triệu Khôi Tử nói: “Nếu là tôi thì ngay bây giờ sẽ điều chuyển xe chở lương”
Lã Bất Vi nói: “Không thể hồ đồ! Không thể hồ đồ như vậy! Nếu kháng lệnh chỉ, lời lãi đâu chưa thấy, còn nguy đến tính mạng”.
Khi Lã Bất Vi và Triệu Khôi Tử đang bàn đi tính lại cho việc bán buôn, thì nghề ca xướng kỹ nữ vẫn tiếp tục thịnh hành như không có chuyện gì xảy ra. Đây là nghề kỹ nữ kinh doanh thân xác phụ nữ, đem thân làm món hàng lại qua, song chỉ vài ba năm hương phấn đã phai tàn.
Ca kỹ vẫn là ca kỹ. Thời cổ đã có nhiều “xóm đào” kiểu này. Người đặt nền móng cho nghề này là Tề Hoàn Công. “Sách Đông Chu Chiến Quốc” viết: “Tề Hoàn Công quản năm sáu thành, xóm liễu đào có tới 700 nơi; sách “Hàn Phi Tử - Thuyết nan cũng viết: “Chư hầu Tề Hoàn Công quản hai thành với 300 xóm nữ ca. Xóm nữ ca mà Tề Hoàn Công đặt ra là có thật, chỉ có điều số lượng ghi trong cách sách không giống nhau. Ban đầu, nghề ca kỹ vốn chỉ ý là những người chuyên mua vui cho thiên hạ, họ sống trong các kỹ viện hoặc các “xóm liễu đào” gọi là kỹ nữ. Cư Chử Nhân “Kiên Hồ tập tục” có nói: “Quân tử trị tề, tri nữ lư tam bách, chinh kỳ dạ hợp chi tư, dĩ tư quốc dụng. Ti Khước giáo phường hoa phấn tiền chi thuỷ dã” ý chỉ là mục đích của Quản Trọng trong việc đặt ra xóm chị em đã chưng thuế làm giàu đất nước. Việc này cũng thường thấy ở các nước Quy Từ, Vu Điền (Tây Vực) và một số nước chư hầu sau này. Theo “Thập tam châu chí” ghi: “Phía Đong thông linh, con người háo sắc, Quy Từ, Vu Điền đặt xóm nữ thu tiền. “Nguỵ Thư – Quy Từ Tuyền” cũng nói: “Quy Từ thông thục, đặt chức quan thu thuế phường ca kỹ”.
Đây là Lạc Dương Cốc thay Triệu Hiếu Thành Vương quản lý kỹ viện. Người này thường mua lương thực cho xóm chị em nên cũng biết Triệu Khôi Tử song chưa từng gặp Lã Bất Vi. Triệu Khôi Tử giới thiệu: “Vị tiên sinh này là thương nhân buôn châu ngọc…”, không đợi Triệu Khôi Tử nói hết, Dương Cốc kính cẩn nói: “Nếu như tôi không nhầm, vị này chính là Lã Bất Vi danh bất hư truyền”. Triệu Khôi Tử bật cười sảng khoái: “Đúng là Dương cốc tiên sinh có con mắt tinh đời!” Bất Vi vội cúi mình hành lễ, nói với Dương Cốc: “Hân hạnh, hân hạnh được biết”. Dương Cốc nói: “Lã tiên sinh phong thái đường hoàng, từ trước tới giờ chưa từng lui đến xóm liễu đào này, thật đáng mặt một vị chính nhân quân tử”. Bất Vi cười, khiêm tốn trả lời: “Thực không dám. Lã Bất Vi không phải là chính nhân quân tử như lời Dương Cốc ngợi khen, chỉ là thương nhân tầm thường, không xứng với lời của Lạc tiên sinh”. Lạc tiên sinh nói: “Chỉ cần Lã huynh có nhã hứng, sau này có tuyệt sắc giai nhân tôi xin tặng lại cho Lã tiên sinh”.
Hàn huyên một hồi, Lạc Dương Cốc và Triệu Khôi Tử quay ra ngã giá lương thực. Vị này mỗi tháng đến mua một lần cho xóm chị em. Bất Vi thấy nét mặt phốp pháp, trơn bóng của Dương Cốc, dường như tự mình tìm được viên ngọc quý hiếm. Bất Vi biết tên “đại trân châu” này sẽ giúp mình tới bên Triệu Hiếu Thành Vương dễ như trở bàn tay. Vì chỉ là người thân tín của Thành Vương mới được giao trọng trách này.
Bất Vi thấy cuộc nói chuyện giữa hai người gần kết thúc, không bỏ lỡ dịp may hỏi Lạc Dương Cốc: “Nghe nói vua Tần đưa thư cho Triệu Vương, không cho phép xuất binh và lương thảo giúp nước Hàn, không biết Đại Vương chúng ta dự định như thế nào?” Dương Cốc nói: “Trong cung chưa thấy động tĩnh gì, nhưng xem ra Đại Vương không thể kháng lại ý chỉ của Tần Vương”.
Sau khi Dương Cốc ra về, Khôi Tử mời Bất Vỉ ở lại phủ uống rượu, bàn tính về cách giải quyết cho hơn một trăm thạch lương. Suy đi tính lại vẫn chưa có lối thoát. Tiệc rượu sắp tàn. Khôi Tử gọi con gái độc nhất của mình là Triệu Cơ ra múa hát mua vui.
Triệu Cơ chỉ trang điểm qua loa, thoa chút phấn hương, nhẹ nhàng bước ra, tới trước yến tiệc, phất nhẹ tay áo, múa nhẹ như bay. Năm nay Triệu Cơ mười tám tuổi, đang lúc dậy thì khoe hương. Lã Bất Vi nhìn sắc mặt hồng hào của Triệu Cơ tưởng như đá mã não mịn màng, đôi lông mày thanh tú, đôi mắt như hớp hồn người khác, đôi môi chúm chím hoa đào, chiếc mũi cao nhỏ nhắn, tất cả như nét điêu khắc tinh xảo trên khuôn mặt trái xoan kiều diễm. Cổ áo hơi rộng để lộ khoảng ngực trắng ngần gợi cho người ta lạc vào cõi mê với bao liên tưởng kỳ bí. Triệu Cơ dùng tiếng hát ngọt ngào ngân lên điệu ca réo rắt thu hồn Lã Bất Vi. Bất Vi biết từng tế bào trong con người đang thay đổi. Trước đây khi đến Triệu phủ cũng từng gặp mấy vị ở vườn hoa hay trong phòng khách. Không biết do tâm ý thô thiển hay do mải buôn bán mà Lã Bất Vi không hề có ấn tượng gì.
Hôm nay Bất Vi mới phát hiện vẻ đẹp quyến rũ của Triệu Cơ. Triệu Cơ vừa hát vừa múa:
Quan quan tư cưu
Tại hà tri châu
Yểu điện thục nữ
Quân tử hảo cầu
Tham sai hạnh thái
Tả hữu lưu chi
Yểu điệu thục nữ
Ngộ mị cầu chi…
Khoảng 23 năm sau, Triệu Cơ với Trường Tín Hầu thông dâm làm loạn nội cung, sau khi bình định phản loạn, Triệu Cơ bị chính Tần Vương Doanh Chính con đẻ của mình đày sang đất Ung hoang sơ vắng vẻ, cô độc với ngọn đèn thâm cung. Ba trăm lính hầu như một hàng rào vững chắc, Triệu Cơ trở thành vị thái hậu bị gông cùm. Lúc ấy, Lã Bất Vi cũng bị bãi chức Thừa tướng, sức tàn lực kiệt quay về thực ấp ở Hà Nam. Trước khi đi, một mình lặng lẽ tới Hàm Dương, muốn cáo biệt với người con gái bao lần chung chăn gối. Bất Vi nghe trong gió như lời ca của Triệu Cơ như oán như than, đúng là tiếng hát của Triệu Cơ. Tuy không còn trong trẻo như hồi trẻ nhưng tiếng ca vẫn réo rắt như dạo nào:
Quan quan tư cưu
Tại hà tri châu
Yểu điện thục nữ
Quân tử hảo cầu
Tham sai hạnh thái
Tả hữu lưu chi
Yểu điệu thục nữ
Ngộ mị cầu chi…
Bất Vi lắng nghe, bất giác rơi lệ, trong lòng rộn lên bao mối tơ vương, trong tim thốt bao tiếng nghẹn ngào: “Ôi, Triệu Cơ! Quyến rũ, si tình…”
Kẻ hầu người hạ trong cung Tấn Dương nhớ rõ ràng, Triệu Huệ Văn Vương triệu tập quần thần thảo luận về việc nên hay không giúp nước Hàn, không khí ảm đảm như bóng đêm giữa trời quang. Vị quân vương ngày thường oai phong đĩnh đạc lộ rõ vẻ bần thần. Ấn tượng sâu nhất của vua Triệu trong lòng kẻ hầu người hạ là hình ảnh quân vương quên cả đeo ngọc bội, quần áo mớ ba mớ bảy lôi thôi luộm thuộm. Họ hiểu rằng, vị đại vương này bị bức thư của vua Tần dồn vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Họ đoán không sai, vua Triệu bị bức thư ấy làm rối loạn tâm thần đứng ngồi không yên. Ông ta triệu tập đủ văn võ bá quan trong cung Tấn Dương hoành tráng nghị sự. Thiết triều có nhiều vị quan lớn như Tướng quốc, Bình Nguyên quân Triệu Thắng, Thượng khanh Lạn Tương Như, Đại tướng quân Liêm Pha, Tướng quân Triệu Xa… Trong số đó, Triệu Huệ Văn Vương coi trọng Bình Nguyên quân hơn cả.
Triệu Thắng ngoài ba mươi tuổi, tuổi quan đang độ, sớm quen việc triều đình. Đây là anh em với Triệu Huệ Văn Vương, trong đám huynh đệ, là vị công tử tài ba hơn cả. Bình Nguyên Quân thích nuôi môn khách, trước sau tới vạn người, Thời Chiến Quốc có rất nhiều tông phái, họ chủ trương: “nhân, nghĩa” hay tuyên truyền: “hình danh”, “vô vi”… Vì thế có các học phái Nho, Đạo Mặc… Kẻ sĩ đương thời là thế lực quan trọng trong xã hội, họ đều có sở trường và trình độ văn hoá nhất định. Chỉ dùng tấc lưỡi đi du thuyết các nước không từ quốc gia, tôn giáo hay địa vị chính trị, kinh tế. Đem tài năng của mình mưu cầu đãi ngộ, quan tước các nước chư hầu. Những người này vì mưu cầu phú quý, ra nước ngoài thường làm quân sư ở chư hầu. Trên đài chính trị, cũng có nhiều người thực tài góp công lớn. Các nước chư hầu muốn thực hiện sự nghiệp thống nhất thiên hạ, nên không tiếc công sức, hao tốn của tiền, đua nhau chiêu hiền đãi sĩ. Bấy giờ có bốn vị công tử nổi tiếng là: Mạnh Thường Quân (nước Tề), Bình Nguyên Quân (nước Triệu), Tín Lăng Quân (nước Nguỵ) và Xuân Thân Quân (nước Sở). Họ đều dùng bổng lộc, của cải của mình mà đãi ngộ khách, gọi là “thực khách”. Cả bốn vị này đều đua tài tranh sức, xem ai là người có nhiều môn khách nhất. Nghe nói, nước Triệu cho người khách què, chân khập khiễng ra múc nước, mỹ nhân của Triệu Thắng trên lầu cao trông thấy cười rộ. Hôm sau người què đến cửa nhà Bình Nguyên Quân nói: “Tôi nghe nói ngài yêu kẻ sĩ, sở dĩ kẻ sĩ không ngại xa ngàn dặm mà đến đây là vì ngài biết quý kẻ sĩ mà khinh thường bọn tì thiếp. Tôi không may bị tàn tật mà hậu cung của ngài lại cười. Tôi xin cái đầu của con người đã chế nhạo tôi.” Bình Nguyên Quân cười đáp: “Vâng” Người què đi ra, Triệu Thắng cười mà rằng: “Thằng kia lại muốn lấy cớ một nụ cười mà đòi giết mỹ nhân của ta, thật là quá đáng”. Rốt cuộc, Bình Nguyên Quân không giết.
Được hơn một năm, tân khách, môn hạ, xá nhân dần dần bỏ đi quá nửa. Bình Nguyên Quân lấy làm lạ nói: “Thắng đối đãi với các vị chưa hề dám thất lễ. Tại sao nhiều người bỏ đi như thế?” Một môn khách đứng ra nói: “Vì ngài không giết mỹ nhân đã cười nhạo con người què kia, vì ngài yêu sắc đẹp mà khinh thường kẻ sĩ nên kẻ sĩ bỏ đi đó thôi”. Bình Nguyên Quân bèn chém đầu mỹ nhân đã cười nhạo, đoạn thân hành đến nhà người què tạ lỗi.
Sau đó, môn hạ dần dần trở lại. Trong hàng vạn môn khách cũng có kẻ theo đám ăn tàn, gà què ăn quẩn cối xay, cũng có không ít người thực tài, có tầm nhìn xa trông rộng. Triệu Thắng cũng hội tụ nhiều tinh hoa, trở nên tiếng tăm lừng lẫy nước Triệu, vị quân tử có tài kinh bang tế thế.
Triệu Huệ Văn Vương đem nội dung bức thư của nước Tần thuật lại một lượt, sau đó nói: “Chư vị ái khanh, có diệu kế gì, xin nói để quả nhân nghe thử”.
Triều đường im lặng như tờ.
Thấy văn võ bá quan ngồi bất động, Triệu Huệ Văn Vương hai tay chống ngự án, lo lắng ưu sầu nói: “Tần vương không cho phép giúp nước Hàn thương thảo binh khí, thật khéo ép quả nhân lắm. Không làm theo, Tần vương động binh một lời nói ra không làm trái, không tránh nổi nạn can qua cho nước Trịêu. Nếu làm theo thì đắc tội với nước Hàn. Nếu nước Tần trở mặt đánh nước Triệu, nước Hàn khoanh tay đứng nhìn hay vỗ tay trợ giúp, chúng ta trở thành nhà cô nước lẻ…
Triệu Thắng tiến lên một bước nói: “Khởi bẩm đại vương, theo ý thần chúng ta nên đồng ý với vua Tần, không xuất binh và lương thảo giúp Hàn, không giao ước với Hàn nhưng nước Tần cũng phải đồng ý cho chúng ta điều kiện là nước Tần không được xâm hại nước Triệu, nếu Hàn cất quân báo thù Triệu, nước Tần phải ra tay giúp đỡ.
Triệu Huệ Vương trầm ngâm hồi lâu rồi nói: Thế cũng được nhưng chỉ y lòng người khó lường, nói rồi lại nuốt lời. Chuyện Ngọc Bích họ Hoà, nếu không có Lạn Tương Như đa mưu túc trí, mang ngọc trở về Triệu, chúng ta mới không bị lừa. Chuyện này Tần vương cũng có thể thề thốt nhưng lời nói gió bay, đến lúc vua Tần trở mặt, mình làm mình chịu, hắn đem lời thề ước ban đầu cho lên chín tầng trời, quả nhân không thể van xin hắn!”
Triệu Thắng quả quyết: “Chúng ta có thể xin Tần vương phái cháu con đến Triệu làm con tin. Nếu người đến thì họ thực tâm theo lời thề ước. Nếu người không đến, ta có thể đoán trước sự việc, tuỳ cơ ứng biến, tất sẽ phòng được!”
Nghe chủ ý của Triệu Thắng, Triệu Huệ Văn Vương cảm thấy như trút được gánh nặng, tấm tắc ngợi khen: “Thật là thượng sách, không gì sánh bằng!” Quần thần cùng đồng thanh: “Đúng là thượng sách!”
Triệu Huệ Văn Vương thấy như đám mây mù bấy lâu che phủ chợt tan biến, gánh nặng chất trên vai mấy hôm nay bỗng dưng nhẹ bẫng. Vương sung sướng hồ hởi nói: “Lạn thượng khanh, mau thảo một bức thư, đưa đến Tần quốc. Xin vua Tần phái người đến Triệu làm con tin, ta lập tức ra lời hiệu triệu, nghiêm cấm xuất binh và thương thảo giúp Hàn”.
Triệu Khôi Tử suy đi tính lại, thấy tốt hơn cả là nhân lúc Triệu vương chưa ra lời hiệu triệu, đang đêm xuất phát, vận chuyển số lương thực mà hắn cùng Lã Bất Vi đã mua về Dương Địch. Không muốn Bất Vi ngăn cản, tự mình điều hơn ba mươi chiếc xe ngựa, chất đầy lương thực, cùng Triệu Thành lặng lẽ đi trong đêm. Ba mươi chiếc xe ngựa lộp cộp đi trong đêm thanh vắng, giữa trời khuya lặng lẽ ở thành Hàm Đan nghe như quỷ hồn kêu hú làm cho người ta kinh khiếp ớn lạnh.
Lã Bất Vi biết nỗi sợ hãi bắt nguồn từ lời hiệu triệu của Triệu Vương. Buổi trưa sau hai ngày, Bất Vi đã tin đích xác vào lệnh của vua Trịêu, vội vã đến nhà của Triệu Khôi Tử. Bất Vi nhớ rõ, nắng ngập trên đường phố, từng tia từng tia như muôn ngàn ánh kim ngân nhảy nhót trước mặt. Trong ánh sáng huy hoàng ấy, bóng người ngựa dường như nhạt nhoà, mờ ảo.
Lã Bất Vi đến phủ của Triệu Khôi Tử, bị ánh mặt trời chiếu chói mắt cảm thấy xung quanh tối tăm mù mịt. Lã Bất Vi nhắm mắt, lắc đầu mấy cái sắc diện mới trở lại bình thường.
Nghe nói Triệu Khôi Tử đang đêm chuyển lương về nước Hàn, toàn thân như bị sốc nặng. Lã Bất Vi thấy như có muôn vàn con sóng lớn nhấn chìm mình xuống đáy sâu. Bất Vi sợ hãi, hoảng hốt, tim đập thình thịch. Kháng chỉ, tội phải rơi đầu, hắn lo cho tính mạng của nhà Triệu Khôi Tử, nghĩ tới mạng mình mà toát mồ hôi lo sợ.
Bất Vi hiểu rõ rằng bằng chứng về việc kháng chỉ giữa Lã Bất Vi và Triệu Khôi Tử nằm trong Trịêu phủ.
Đó là nửa phiến tễ nằm trong tay Triệu Khôi Tử là hợp đồng ký giữa Lã Bất Vi và Triệu Khôi Tử. Thời Xuân Thu Chiến Quốc, cái làm bằng chứng được sử dụng phổ thông nhất là khoán. Có loại khoán ngắn, khoán dài, loại khoán dài dùng trong các vụ mua bán nhỏ gọi là Tễ. Sách “Chất Nhân – Chu Lễ” có ghi:
“Phố lớn dùng Chất, phố nhỏ dùng Tễ”, nếu sau này phát sinh ra việc tranh chấp hoặc kiện tụng, quan phủ sẽ căn cứ vào Tễ, Chất để xử án. Chính Như – Chu Lễ, Tiểu Tề nói: “Trong bán buôn lấy Tễ, Chất”. Để tiện cho việc mua bán, người ta thườn dùng khoán. Cho dù trong trao đổi dùng Tễ, Chất hay Khoán, tất cả đều làm bằng thẻ tre. Đầu tiên họ viết hợp đồng hay các điều khoản lên thẻ, sau đó phân làm hai, người mua hoặc uỷ thác giữ nửa phải, người bán hoặc uỷ thác cầm nửa trái. Người mua hoặc uỷ thác cầm khoán phải yêu cầu người bán hoặc uỷ thác thực hiện hợp đồng, nên gọi là “cầm mảnh khoán làm chất”. Người mua và người bán thoả thuận các điều khoản và lợi tức gọi là “hợp khoán”. Nếu hai bên xảy ra tranh chấp hoặc kiện tụng, hai bên cầm “hợp khoán” đến quan phủ.
Lã Bất Vi và Triệu Khôi Tử cùng ăn chia trong vụ buôn bán lương thực này, nên mỗi người cầm một nửa thẻ Chất. Quan phủ, xem một nửa thẻ Chất, sẽ biết được tên họ hai bên, số lượng, mức tiền mua bán… Nếu Triệu Khôi Tử bại lộ, quan phủ đến Trịêu gia điều tra, tìm được thẻ Chất còn lại, sẽ tìm hiểu ngọn nguồn và cả Lã Bất Vi cũng phải vào ngục. Mới nghĩ đến đây, Bất Vi cảm thấy như ớn lạnh xương sống.
Làm thế nào đây? Tuân theo số trời? Thúc thủ chờ đợi? Bất Vi trong vườn hoa của Triệu gia thẫn thờ tự hỏi, lập tức Lã Bất Vi trấn tĩnh lại, không thể chờ ông trời tự sắp đặt hay buông tay chịu trói. Còn nước còn tát, phải tự cứu lấy mình. Lã Bất Vi nghĩ ra ngay một cách đối phó, lập tức quay về phủ, cầm mảnh Chất phải, rồi vội vã đến phủ họ Triệu, gặp Triệu Cơ nói hiện tại quan phủ đang xem xét vụ buôn bán, cần phải “hợp khoán”, mau tìm mảnh còn lại ghép với thẻ Chất phải của Lã Bất Vi.
Lã Bất Vi nhìn thấy đôi mắt đẹp của Triệu Cơ thoáng sợ hãi khi nghe nói xong, Triệu Cơ cùng Lã Bất Vi vào phòng ngủ của Triệu Khôi Tử tìm thẻ Chất. Triệu Cơ để Lã Bất Vi ngồi bên ngoài rồi vào phòng lấy ra một chiếc hộp khảm sừng tinh xảo, lấy ra từng chiếc thẻ Chất, xem qua mười mấy chiếc, vẫn không có chiếc nào hợp được với thẻ của Lã Bất Vi.
Bất Vi vô cùng hoảng hốt, tại sao lại không có? Vì Triệu Cơ cố ý không hợp khoán với Bất Vi hay Triệu Khôi Tử còn để ở chỗ nào khác?
Triệu Cơ rất lo sợ, khuôn mặt lấm tấm mồ hôi, Bất Vi quan sát sắc diện của nàng, biết không phải Triệu Cơ cố tình đùa giỡn. Bất Vi nhẹ nhàng nói: “Cô cố nghĩ lại xem, lệnh tôn có để thẻ ở chỗ nào khác không?”
Triệu Cơ khẽ lắc đầu.
Lã Bất Vi và Triệu Cơ lục tung cả phòng trong phòng ngoài vẫn không tìm thấy mảnh thẻ còn lại.
Vợ Bất Vi là Hoàng Phủ Kiều thấy chồng đờ đẫn cầm mảnh thẻ về phủ, lúc đó ánh trăng bị che lấp bởi những đám mây lớn âm u, Hoàng Phủ Kiều cảm thấy sắc diện của Lã Bất Vi cũng leo lét như ánh trăng trời.
Đi khá lâu mới nhìn thấy phong đài và cờ xí bay trên thành Biên Ấp, trong ánh hoàng hôn, đoàn xe ngựa lại càng nhạt nhoà. Triệu Khôi Tử thúc giục đoàn tuỳ tùng đi, đi liền không ngủ hai ngày hai đêm, cuối cùng cũng tới được biên giới nước Triệu và Hàn. Trên đường họ nghe nói chiếu lệnh của Triệu Vương đã ban truyền nhưng không hiểu tại sao vẫn chưa tới đây.
Tại một nơi cách Biên Ấp khá xa, Triệu Khôi Tử bảo gia nhân dừng lại, đem lương thực giấu trong rừng, rồi cùng Triệu Thành và hai người gia nhân, cầm vàng bạc và dao hộ thân. Hắn muốn vào xem xét tình hình trong thành, tuỳ cơ mà liệu việc. Có thể qua được thì qua, không qua được thì cũng có đường thoát thân.
Bốn người nhân lúc nhá nhem, tìm đường vào thành. Khi vào thành, họ bị hai người lính gọi lại, ba lần bảy lượt hỏi họ vào thành làm gì, họ nói là thương nhân nước Trịêu. Triệu Khôi Tử vừa nói vừa quan sát. Dưới chân thành, gươm kích chất thành đống, ánh sáng chói loà
Người lính hỏi bọn họ làm gì, họ đáp tới nước Hàn, lại hỏi có giấy phép qua thành không, họ trả lời có.
Lời qua tiếng lại, họ càng gần bọn lính hơn. Họ thấy rõ sau lưng người lính là thanh kiếm sáng rợn người, lại còn nhìn thấy một trong hai người bị khuyết chiếc răng cửa, có những âm thanh vang gọn từ xa vọng lại. Khôi Tử nhìn thấy có bốn tên lính quay lưng đứng bậy ở góc thành.
Hai tên lính nhanh chóng đi lấy những ống lương khô và dao kiếm của họ.
Triệu Khôi Tử hỏi: “Sao anh lấy lương khô của chúng tôi? Từ nửa đường chúng tôi đã đói lắm rồi?” Tên lính đáp: “Đại vương có lệnh, một hạt gạo cũng không được mang khỏi đất nước”. Triệu Khôi Tử nói: “KHông thể bao gồm cả lương thực mang đi ăn đường của thương nhân được”. Tên lính nói: “Cũng không từ, chúng tôi thấy lương là bắt lại”. Triệu Khôi Tử làm bộ thở dài: “Ngay cả lương ăn cũng không có, chúng ta đi làm gì, chúng ta quay về thôi”.
Khôi Tử cố nhìn lần nữa, trong thành tổng cộng có mười mấy tên lính. Lúc quay về, Triệu Khôi Tử không đi đường lớn mà vòng vào đường rừng. Thấy xung quanh thành ấp rất bằng phẳng, có thể đánh xe ngựa đi, tránh được sự kiểm soát của quan binh.
Về tới chỗ túc, Triệu Khôi Tử sai người bọc cỏ xung quanh có dao hộ thân, nguỵ trang xe lương, bọc vải vào móng ngựa, chuẩn bị nửa đêm sẽ qua biên giới. Trời khuya, Khôi Tử và Triệu Thành mỗi người mang một con dao, dẫn đầu đoàn xuất phát, ba mươi chiếc xe lặng lẽ không một tiếng động, ra đi trong đêm tối mịt mùng.
Xung quanh vô cùng yên tĩnh, thỉnh thoảng mới nghe tiếng thở phì phò của ngựa kéo xe. Gió mơn man lướt nhẹ trên mặt. Thảo nguyên bao la chan hoà ánh trăng.
Đoàn xe lương của Triệu Khôi Tử chưa đi xa thì bị quân tuần canh bắt gặp. Ngay lập tức, trong thành, những bó đuốc được thắp sáng, tiếng hò hét vang vọng bốn phương, quân đội nhất tề chuẩn bị xuất phát. Khôi Tử huy động cả mấy tay dao, không ngừng hô hào: “Không được lo lắng, không được cuống”. Rồi bảo gia nhân dừng ngựa, vạn nan cũng không được nản lòng, chuẩn bị nghênh chiến.
Quân đội mau chóng ập tới, lửa sáng lập loè, chiếu rõ mặt Triệu Khôi Tử và bọn gia nhân. Bọn lính hiểu ngay chuyện gì xảy ra, chỉ gươm hô giết. Một trận quyết chiến bùng nổ, Khôi Tử và bọn gia nhân chỉ có dao ngắn không thể chống lại gươm sắc kích dài của binh lính nhanh chóng thiệt mạng.
Tiếng vó ngựa dập dồn phi nhanh về hướng Hàm Đan. Bụi cuốn mù mịt che khuất cả mặt trời, cảnh tượng giống như đang xảy ra đám cháy lớn. Mọi người ngó ra cửa xem xét, biết đã xảy ra chuyện kinh thiên động địa gì.
Lát sau có tin rằng Triệu Khôi Tử chở lương chống lại lệnh chỉ, người bị giết, lương thảo bị tịch thu, quan quân đang ập tới đây để niêm phong tài sản, bắt hết người trong nhà, nô lệ, tì thiếp.
Nghe tin, Lã Bất Vi đang ngồi uống trà trong phủ giật mình kinh hãi, chén trà rơi xuống đất, vỡ tan tành.
Lã Bất Vi và mấy người tâm phúc biết rằng, nếu thẻ Chất - bản giao kèo buôn bán giữa Triệu Khôi Tử và Lã Bất Vi lọt vào tay quan quân có nghĩa là Bất Vi sẽ xếp vào hạng đầy phạm phải chịu tội cùng Triệu Khôi Tử. Mọi người nhất loạt khuyên Lã Bất Vi đi trốn vài ngày. Đợi tin tức xác thực, họ sẽ báo cho Lã Bất Vi. Lã Bất Vi cùng Hoàng Phủ Kiều đành nhân lúc trời tối ra miếu từ ngoài thành ẩn thân lánh nạn. Trước khi đi còn mang theo nhiều vàng ngọc châu báu, e sợ quan binh truy tìm gốc sẽ tịch biên gia sản, đưa tiền cho mấy người tâm phúc lo lót cho quan binh.
Trời sáng, Lã Bất Vi cùng Hoàng Phủ Kiều vừa đói vừa mệt, lại nơm nớp lo sợ, ngọn cỏ rung cũng thon thót giật mình. Mặt trời xuống núi, trời chạng vạng tối mới có người mang thức ăn tới. Lã Bất Vi sống ở đó, đếm thời gian dằng dặc trôi qua, hai ngày hai đêm sau mới một người tâm phúc của gia đình kể, trong nhà của Triệu Khôi Tử không phát hiện được tấm thẻ tre, làm Lã Bất Vi áy náy băn khoăn.
Khi Lã Bất Vi đầu bù tóc rối, thất thểu quay về, ngồi yên trong phủ hàn huyên cùng môn khách và gia nhân nhưng trong đầu vẫn đè nặng hình ảnh tấm thẻ tre.
Bất Vi mơ hồ nhận thấy rằng dường như thần linh đã lấy đi tấm thẻ nếu không tấm thẻ ấy có thể ở nơi nào…
📎 Tap2LaB..uongIV
Đăng nhập để trả lời
0
Trích đoạn: CuLong767805

Ct.Ly ơi, CuLong đã gõ xong chương IV của tập 2 Lã Bất Vi rồi. Tuy nhiên, trong thời gian tới mình sẽ đi vắng một thời gian nên không lên diễn đàn được. Vậy có lẽ phần mình nhận gõ sẽ hơi lâu một chút so với mọi người.

Thông cảm nhé, bạn.


Không sao đâu, culong cứ thong thả đi nhé ;
Khi nào rãnh thì nhờ culong phụ cho những hiệp sĩ một tay,

Chúc culong luôn vui

Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0
(Trang 278 - 301)

Không Mã nói: "Ta đã bao giờ nói dối Triệu Cơ cô nương chưa? Chỉ có Triệu Cơ cô nương không thành thật với ta, chứ ta quyết không lừa nàng! Lòng dạ nữ nhi bọn nàng giống như một chiếc giếng sâu vậy, những kẻ đàn ông ngốc nghếch như ta thật nhìn không rõ, mò không ra."

Triệu Cơ biết rõ, Tư Không Mã phát giác ra nàng có ý lẩn tránh chàng, từ khi nàng được đưa về tay của lão tướng gia Triệu Thành. Nàng đã trằn trọc thâu đêm suốt sáng. Nàng biết, Tư Không Mã đối với nàng tình cảm rất sâu sắc, muốn cùng nàng phượng loan vui vầy. Nàng rất cảm kích sự yêu thương của Tư Không Mã dành cho nàng, đặc biệt là trong kỹ viện Lạc Dương Cốc chàng đã phát hiện ra nàng. Nếu không thì bây giờ nàng đã sớm lưu lạc hồng trần. Còn ai coi trọng một người con gái đã bị chà đạp, từng trải đây? Nhưng nàng cảm thấy nếu cùng sống với Tư Không Mã thì trái với lời di chúc của phụ thân, có lỗi với vong linh ông nơi cửu tuyền, hơn nữa một môn khách như Tư Không Mã cả đời phiêu bạt giang hồ, lúc sang Tần khi về Sở, làm sao có thể lo cho nàng được một cuộc sống an nhàn, sung sướng đây! Lã Bất Vi thì khác, nhà cửa giàu có vinh hoa phú quý, nàng gửi thân vào đó thì nàng được ăn sung mặc sướng, tuổi xuân phơi phới, ca hát suốt ngày cho dù là thân phận đại phu nhân hay thê thiếp cũng chẳng có quan hệ gì! Sau khi nghĩ đi nghĩ lại, suy xét dày vò tâm can, cuối cùng nàng cũng đã quyết định tâm nguyện của mình, sau đó liền mang cái hầu bao thêu đôi chim uyên ương mà nàng định tặng Tư Không Mã ra cắt vụn rồi ném ra sau nhà, dùng đôi hài giày xéo lên quá khứ đẹp đẽ và giấc mơ đã tan vỡ.

Tư Không Mã luôn miệng cầu khẩn: "Triệu Cơ, nàng hãy vì ta mà múa một bài được không? Hãy vì ta mà hát một bài được chăng! Ta đã sắp thành người của diêm vương rồi."

Triệu Cơ hỏi một cách mơ hồ: "Không Mã đại ca, chàng biết rõ đi theo đại tướng quân là vào chỗ chông gai chín phần chết, một phần sống, vậy làm sao chàng vẫn cam tâm tình nguyện tìm đến cái chết?"

Tư Không Mã nói: "Ta cam tâm tình nguyện ư? Vớ vẩn, ta cũng là người, tại sao lại có thể tự mình tìm đến cái chết đây?"

Triệu Cơ hỏi: "Thì ra là Lã Bất Vi ép chàng ư?"

Tư Không Mã nói: "Lã đại nhân là người nho nhã lịch sự, thấu hiểu lòng người, làm sao có thể ép ta làm chuyện này được?"

Triệu Cơ nói: "Vậy thì thiếp không hiểu nổi, một chuyện nguy hiểm như vậy, lại không ai ép chàng, thì tại sao chàng nhất định phải đi?"

Tư Không Mã nói: "Bình thường ta ăn cơm nhà họ Lã, quần áo mặc trên người cũng là Lã đại nhân ban cho, ngồi xe ngựa của Lã đại nhân, một khi Lã đại nhân cần ta vào hang cọp, xả thân vì nghĩa, ta nhất định không thể từ chối, phải dũng cảm tiến lên thôi."

Triệu Cơ nói: "Đại nhân là người tốt như vậy, thì Tư Không Mã đại ca cũng không cần phải oán thán rồi." Tư Không Mã nói: "Triệu Cơ cô nương, nàng nói sai rồi, đây không phải là Lã đại nhân tốt, mà chính là tiền bạc của đại nhân rất giá trị, không chỉ có đại nhân, mà nào là Vương đại nhân, Châu đại nhân, Quách đại nhân, hay Hàn đại nhân đi nữa, bọn họ dùng tiền mua quần áo, nô tỳ, xe ngựa cho ta thì ta cũng đều vì bọn họ mà nhảy vào nơi nước sôi lửa bỏng, chết không oán thán. Giống như vậy, nếu ta có tiền bạc, ta cũng có thể sai khiến kẻ khác như sai khiến trâu ngựa vậy. Có tiền thì sẽ có nhân đức, có tiền thì sẽ có tình cảm."

Ngọn nến sáng rọi chiếu sáng thân hình yêu kiều, mềm mại của Triệu Cơ. Tư Không Mã trông thấy đôi mắt lanh lợi của Triệu Cơ như có làn sóng sáng chớp động trong bầu trời thu, lộ ra cái cổ trắng ngần với một chuỗi hạt dài. Trên thân hình người con gái chỗ nở, chỗ thon nuột nà. Hai con mắt Tư Không Mã nhìn thẳng vào Triệu Cơ. Không kìm chế nổi lòng mình bèn liên tưởng tới giấc nồng ngọt ngào với Triệu Cơ. Tư Không Mã cảm thấy các mạch máu trong người cứ cuộn sôi lên không ngừng, tiếng đập của trái tim như đang muốn nhảy tung ra.

Triệu Cơ ca xong, vừa ngồi xuống mép giường, Tư Không Mã như hổ đói vồ thức ăn lao tới. Triệu Cơ bị Tư Không Mã hành động bất ngờ sợ run cả người, tức thì thị đã hiểu được chuyện gì sắp xảy ra. Triệu Cơ dùng tay chặn trước ngực, cố gắng hạ thấp đôi tay to đang dấn sâu vào. Đôi tay đó có lực lớn thế như bẻ tre và đã đạt được mục đích dự định. Cùng với tiếng kêu "xoẹt", Triệu Cơ biết áo mình đã bị xé rách. "Hầy a, hầy a..." Triệu Cơ bất giác kêu lên.

Vừa may đội quân tuần đêm đi tới trước của sổ phòng Triệu Cơ, nghe thấy bên trong có tiếng "ùm ùm hầy a", biết trong phòng xảy ra chuyện không lành, ghé mắt nhìn vào trong phòng, thật kinh hoàng vội về bẩm báo với Lã Bất Vi.

Lã Bất Vi vẫn chưa thay áo ngủ. Khi ông trông thấy Tư Không Mã uống say tới mức mây khói che kín núi lao vào phòng Triệu Cơ, ông đau lòng khôn xiết, người ông như vừa xảy ra một trận dập hỏa hoạn. Lã Bất Vi biết, với thể xác chân tay của Tư Không Mã có thể nhẹ nhàng giành lấy thân xác của Triệu Cơ để thỏa mãn cảm giác khoái lạc của hắn.

Nghe đội tuần đêm bẩm báo xong, Lã Bất Vi biết rõ nơi đó đang hoặc sắp xảy ra chuyện gì, ông không muốn để ba người đứng trước tình thế khó xử. Từ khi ông đồng ý với Tư Không Mã để Triệu Cơ phục vụ hắn ca hát một đêm, ông như đã vứt bỏ một phần cơ thể mình. Đội tuần đêm không ngớt giục: "Lão gia, mau đi xem sao! Một kẻ như là kẻ vồ mồi, một kẻ như là thỏ né chim ưng vật lộn như đất lở trời nghiêng!" Câu nói này của bọn nha dịch làm Lã Bất Vi vừa cảm thấy khổ tâm, vừa thấy buồn cười, châm chích nói: "Hư trương thanh thế (giả làm khí thế lớn mạnh) biết rồi!"

Khi Lã Bất Vi vào phòng, Tư Không Mã và Triệu Cơ vẫn còn đang giằng xé chưa có kết quả. Ngay tức thì Lã Bất Vi trông thấy hai người tóc tai rối bời, áo bị xé rách, xấu hổ đứng như trời trồng.

Triệu Cơ đỏ mặt tía tai ấp úng đáp: "Lã đại nhân, Tư Không... Tư Không đại ca cũng thật quá đáng."

Lã Bất Vi mắng: "Nàng là phận đàn bà con gái không biết gì! Tư Không tiên sinh sáng mai còn bước vào trận với đại tướng quân Triệu Hoạt, chưa biết sống chết ra sao. Đêm nay, tất cả mọi hành động của tiên sinh không có gì là quá đáng cả!"

Triệu Cơ nước mắt như những hạt ngọc tuôn rơi, hàng hàng nối tiếp nhau. Nàng lấy từ trong hòm ra một vật mà cha nàng để lại cho nàng, đưa cho Lã Bất Vi nói: "Chàng xem trên đó khắc chữ gì!" Nói đoạn lấy đầu đẩy cửa, mất hút trong màn đêm dày đặc.

Lã Bất Vi đón lấy xem, đây chẳng phải là phần thưởng của Bất Vi và Triệu Ngụy Tử làm kinh doanh vụ hạt dẻ sao. Khi Bất Vi nhìn thấy phía trên có dòng chữ của Triệu Ngụy Tử để lại: "Cơ nhi gả cho Lã Bất Vi" đứng đờ người ra như pho tượng gỗ. Một lúc sau mới cầm cái Chất từ tay đưa lên cho Tư Không Mã.

Ngoại thành Hàm Đan ánh nắng chiếu rực rỡ gió lộng cờ bay. Nghi trượng của đại tướng quân Triệu Quát bầy ra trông thật hoành tráng, khói bụi do chân ngựa chạy và bánh xe như phủ kín bầu trời. Tư Không Mã tưởng tượng mình vác chiếc bô có chỗ đặt chân làm bằng gỗ dâu bước đi trong đội ngũ theo hầu của đại tướng quân đầy uy phong Triệu Quát ngồi trong kiệu hoa rực rõ có 8 con ngựa kéo, mười mấy vị phó tướng áo giáp chỉnh tề và đám bộ hạ, khuôn mặt đầy vẻ chân lý huyền diệu, cưỡi ngựa cờ dong đi hai bên xe kiệu. Đội quân bước đi rất nhanh, cũng giống như đội quân đi theo sau, Tư Không Mã dường như chạy mới theo kịp được đại đội người ngựa. Hắn ngoảnh đầu nhìn lại mấy lần, Ngụy Nga, thành Hàm Đan ngày càng lùi xa dần. Tư Không Mã vác lên thấy nhẹ như vác một lá cây. Nhưng đường xa trở nên nặng, chạy được một đoạn hắn cảm thấy như đang gánh trên vai một vật rất nặng. Vị quân y Triệu Hoảng chỉ đeo túi thuốc chẳng đáng mấy cân, thỉnh thoảng vác hộ hắn một đoạn.

Triệu Hoảng nhỏ hơn Tư Không Mã mười mấy tuổi, là cháu họ hàng xa với Triệu Quát. Vẻ mặt nó không chút suy tư. Trên đường đi cứ quay sang nói chuyện với Tư Không Mã rằng có thể đánh cho quân Tần vãi cả nước tiểu. Tư Không Mã hỏi nó chuyên khoa gì, nó huênh hoang nói có thể trị bách bệnh uống thuốc bệnh sẽ khỏi. Hành trình đi buồn tẻ nhưng nó vẫn có thể vui vẻ tán gẫu với Tư Không Mã. Đương nhiên, Tư Không Mã chỉ chú tâm quan sát những cử động của đại tướng quân Triệu Quát, cho nên chỉ dùng năm ba chữ tựa như "ừ ừ à à" để đáp lại Triệu Hoảng.

Triệu Hoảng hỏi Tư Không Mã: "Tôi thấy anh dường như trong lòng đang có chuyện gì?"

Tư Không Mã đáp: "Tôi cứ nghĩ Triệu Quát có đánh bại được quân Tần không?" Triệu Hoảng vẫn câu nói đó: "Tôi chẳng phải đã nói là Triệu Quát có thể đánh quân Tần chạy vãi nước tiểu ra."

Mỗi khi tới chỗ nghỉ, công việc của Tư Không Mã thật đơn giản. Đặt bô vào lầu đã dựng trước, sau đó ra bên ngoài lều chờ. Triệu Quát đi xong, hắn liền mang bô đi đổ. Sau đó dùng nước rửa sạch sẽ đặt về chỗ cũ. Những cục phân và nước tiểu kia rời khỏi bụng Triệu Quát chẳng theo một quy luật nào. Tư Không Mã không đoán chính xác được rốt cuộc khi nào Triệu Quát buồn. Khi Triệu Quát đến, thường có hai quân lính bảo vệ đứng hai bên tả hữu lều đợi. Triệu Quát chưa xong, quân lính bảo vệ này vẫn bất động. Khi đi ỉa ông ngồi rất nghệ thuật ở trên bô, còn đi tiểu thì rất tùy tiện, Tư Không Mã tìm thời cơ để ra tay.

Lúc sắp đến Quảng Thuận thì trời đã muộn, hoàng hôn buông xuống, Tư Không Mã trông thấy Triệu Quát từ trong lều bước ra không mang theo quân lính hộ vệ, một mình đến để đi xe. Tim Tư Không Mã đập thình thịch, bàn tay toát mồ hôi giữ chặt lấy đoản kiếm.

Tư Không Mã thấy Triệu Quát bước vào, bóng in bên ngoài lều, lắng nghe thấy tiếng phân rơi một hồi. Hắn như con khỉ đầy mẫn cảm nhanh như cắt lao vào. Khi mùi thối còn chưa bay vào mũi hắn đã cắm đoản kiếm vào sau lưng của Triệu Quát. Cùng với tiếng "ây a" một người nhanh chóng ngã gục xuống đống phân xanh. Tư Không Mã nghĩ, máu chảy đầy ra nền, vàng, xanh đỏ ba mầu ấy hòa quyện vào nhau có thể tạo nên sự tương phản.

Tư Không Mã chui ra khỏi lều, bốn bề vắng lặng, dường như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Hắn nhìn trước ngó sau, chẳng thấy động tĩnh gì, bèn đem vứt đoản kiếm kia vào dưới lùm cây nhỏ. Hắn không định bỏ trốn ngay. Hắn muốn xem quang cảnh hoảng loạn của đội quân như rồng mất đầu sau khi phát hiện ra Triệu Quát bị giết. Hắn quay về trại, xuay ngược xuôi không ngủ được nghĩ cách sau khi đã xem xong màn kịch mà hắn muốn xem thì sẽ trốn chạy như thế nào. Sáng sớm hôm sau, bên ngoài trại có tiếng bước chân toán loạn và tiếng va vũ khí, bất giác nghe thấy có tiếng người kêu: "Khiêng ra đây, khiêng ra, lau sạch máu... phong tỏa xung quanh để tìm thủ phạm."

Tư Không Mã hiểu mọi chuyện, họ đã phát hiện ra xác của Triệu Quát. Đây chính là cảnh mà hắn mong chờ được nhìn thấy. Hắn như chẳng có chuyện gì xảy ra bước ra khỏi trang trại. Cảnh tượng trước mặt giống hệt như những gì hắn nghĩ trong đầu.

Đám binh lính cầm gươm giữ giáo xếp hàng đứng lặng bên rừng, nhìn xa xa thấy thi thể cuốn vải bị khiêng đi.

Tư Không Mã quan sat một hồi, lượn quanh lều vừa định tẩu thoát, liền trông thấy một khuôn mặt. Hắn sợ tới mức hồn bay phách lạc. người đó chẳng phải là đại tướng quân Triệu Quát đó sao?

Triệu Quát được phó tướng và mộ liêu (bộ hạ) dìu đương khoa chân múa tay ra lệnh gì đó. Thế là thế nào? Lẽ nào tất cả xảy ra trong tối qua chỉ là trong giấc mơ? Lẽ nào mọi cảnh tượng sáng nay chỉ như gặp ma? Tư Không Mã cố gắng lục lại ký ức, từng động tác đêm hôm qua hiện rõ mồn một trong trí hắn. Hắn giả vờ đi dạo đến dưới lùm cây nhìn xem, vết máu trên đoản kiếm như bông hoa nở sáng rực rỡ. Tư Không Mã hiểu ra mình đã giết nhầm người. Tư Không Mã vẫn chưa hình dung ra hắn phải hành động như thế nào liền bị triệu tập đến một bãi cỏ cùng với rất nhiều tùy tùng thị vệ khác để nghe viên tướng xét hỏi. Tư Không Mã nghe thấy viên tướng đọc tên rất nhiều người trong đó có tên mình, sau đó nói các ngươi không còn phải phục vụ đại tướng quân Triệu Quát nữa, tức là đã trở thành quân lính ở trên xe chiến. Tư Không Mã không nghe thấy viên tướng đọc đến tên của Triệu Hoảng, có lẽ do nó có họ hàng với Triệu Quát nên được chừa lại.

Tư Không Mã tìm thấy Triệu Hoảng, cáo biệt y. Triệu Hoảng nói trong đám tùy tùng hậu vệ của đại tướng quân Triệu Quát có lẫn tên gian tế thích khách của nước Tần, đêm hôm qua đã giết chết một vị phó tướng của đại tướng quân. Tư Không Mã cùng rất nhiều quân lính bị áp giải đi, đi về phía tiền tuyến. Hắn không biết rồi vận mệnh trong đám thượng đảng đội quân đông đảo sẽ giúp hắn chuẩn bị được gì.

Tần và Triệu là hại đảng đối lập nhau, giằng co nhau, cơn giông trước lúc mưa nguồn (ý là trước khi xảy ra sự việc lớn thường có những biến cố báo hiệu bất thường).

Năm 260 trước công nguyên, Triệu Quát mang dấu chủ soái đến Trường Bình, thay Liên Pha thống lĩnh bốn mươi vạn đại quân. Ông dừng lại cách trước đây của Liên Pha, thay một số tướng lĩnh ở dưới, bãi bỏ việc phòng ngự, chuẩn bị rút quân đánh Tần.

Tần vương nghe thấy nước Triệu trúng kế, thay chủ tướng, trong lòng rất vui mừng, phong Bạch Khởi làm tướng quân, cho Vương Lĩnh làm phó tướng, tăng cường quân chi viện.

Bạch Khởi nhằm vào yếu điểm kiêu ngạo coi thường địch của Triệu Quát sử dụng kế dụ dỗ địch, cố ý đánh vài trận thua, liên tiếp lùi quân. Triệu Quát lấy thế làm đắc ý xuất binh đuổi đánh. Lúc này Bạch Khởi cử hai đội quân tinh nhuệ chặn đứng đường rút quân của Triệu, chia đại quân của Triệu Quát thành hai đoạn, đầu và đuôi không thể hỗ ứng được. Đồng thời cử năm nghìn quân nhằm thẳng vào doanh trại của nước Triệu đánh làm cho quân Triệu mất đi thế căn cứ. Quân Tần lại không ngừng cho quân tinh nhuệ tiến đến tập kích bất ngờ quân Ngụy. Quân Ngụy càng đánh càng thua đành phải xây dựng doanh trại ở tại chỗ, từ thế tiến công trở thành thế phòng thủ. Tin quân Tần bao vây quân Ngụy nhanh chóng truyền đến thành Cảm Dương nước Tần, vua Chiêu Nhưỡng vô cùng đắc ý đích thân đến Hà Nội, tập hợp toàn bộ nam giới từ mười lăm tuổi trở lên ở vùng đó thành quân đội, điều đến vùng cao phía đông bắc chiến trường Trường Bình, chặn đứng đường tiếp binh và chi viện lương thực của nước Triệu. Quân Triệu bị bao vây, cắt lương thực đã bốn mươi sáu ngày, binh sĩ đói chém giết lẫn nhau để lấy thịt ăn, tình hình cực kỳ nguy cấp. Triệu Quát tổ chức thành bốn nhánh phá vòng vây, thay nhau phá vây, mong mở được một đường thoát. Nhưng quân Tần bao vây chặt như tường đồng lũy sắt, phá vây bốn - năm lần mà không có kết quả. Cuối cùng trong sự tuyệt vọng, Triệu Quát đành phải đích thân dẫn đầu đoàn quân tinh nhuệ mặc áo giáp dầy, cưỡi ngựa chiến, tăng cường sức lực phá vỡ vòng vây. Không ngờ Triệu Quát vừa xuất hiện trước trận liền bị quân Tần bắn chết. Quân Triệu mất đi chủ tướng không có người chỉ huy, quân hoảng loạn. Quân Tần nhân cơ hội này tăng cường tấn công mạnh, quân Triệu đại bại đành phải đầu hàng. Bạch Khởi e là quân Triệu đầu hàng sẽ tìm cơ hội làm phản, chỉ cho hơn hai trăm người nhỏ tuổi thả về nước Triệu, còn lại hơn bốn mươi vạn quân bị chôn sống.

Trận chiến Trường Bình giữa Tần và Triệu là cuộc chiến đấu quy mô lớn thời hậu chiến quốc. Trong trận chiến lần này, nước Triệu bị tổn thất quá lớn, từ đó tạo điều kiện để nước Tần giành lấy thiên hạ. Bối cảnh nước Tần một mình nắm giữ thiên hạ bắt đầu hình thành.

Tư Không Mã tỉnh lại sau một trận gió đông bắc se se lạnh thổi tới, vừa mở mắt đã nhìn thấy ánh trăng đang tỏa sáng trên bầu trời sâu rộng. Cảm giác đầu tien của ông là cánh tay đau như lửa thiêu. Ông hồi tưởng lại mình đã bị dao chém bị thương hôn mê bất tỉnh khi cùng quân Tần chém giết. Ông cố gắng dùng tay xoa xoa lên vết thương vẫn còn hơi ướt, vết dính đó là vết máu.

Tư Không Mã dồn lực lẩy bẩy đứng dậy, lắc lắc lư lư cuối cùng mới đứng vững được. Chỉ một cơn gió thổi qua quét sạch trận địa sau cuộc chiến, dưới ánh trăng bạc khắp nơi đâu đâu cũng có cờ chiến, gươm vứt ngang dọc, càng xe, bánh xe, còn có cả xác người ngựa chi chít như sao đêm, mùi máu bay lên tanh tưởi làm cho Tư Không Mã phát nôn. Đến bây giờ ông mới hồi tưởng lại một số cảnh lúc trước và sau khi khai quân giao chiến. Lúc đó ông đang đứng trên một chiếc xe chiến, cùng với một trận hỗn loạn của quân Triệu chỉ nhìn thấy trước mặt bị chắn bởi lớp bụi, tên bắn như rừng. Xe chiến của quân Tần đều là xe có 8 ngựa kéo, xếp đều thành bốn hàng, giống như bức màn xanh rộng khắp núi đồi, không nhìn thấy bờ. Cùng với tiếng trống long trời lở đất, quân Tần với sức mạnh như vũ bão tiến thẳng tới trận địa quân Triệu đánh. Trận địa quân Triệu bị đánh tơi bời. Trong khi đó quân Triệu chém giết lẫn nhau, dường như chỉ còn cái chết. Con đường để họ thoát thân khỏi cái chết chỉ là lên trời.

Tư Không Mã tứ chi rã rời, vất vả lê bước, đi được một lúc lâu vẫn chưa đi ra khỏi trận địa này. Đợi đến khi ông bước lên ngọn núi bỗng nghe phía trước có tiếng gọi quanh quẩn đâu đây, lắng nghe thấy đó là tiếng gọi người rợn cả tóc gáy. Ông lắng tai nghe, đích thực là tiếng gọi thê thảm của một người chưa chết. Ông lặng lẽ bước tới thấy một người chưa bị chôn chết để lộ ra túi áo. Nhờ ánh trăng sáng, ông ghé sát nhìn, gương mặt của con người này có gì đó quen thuộc, nhìn kỹ lại một lần nữa. Đây chẳng phải là Triệu Hoảng sao? Tư Không Mã gọi liên tiếp, Triệu Hoảng cũng nhận ra Tư Không Mã, dồn hơi nói: "Tư Không... đại ca... cứu tôi với..."

Tư Không Mã tìm một con dao chiến có cán, đào bới, mãi một hồi mới lôi được Triệu Hoảng bị vùi chặt trong đất. Triệu Hoảng với giọng yếu ớt nói: "Đại tướng quân Triệu Quát bị mũi tên bắn chết rồi, bốn mươi vạn quân Triệu anh em chúng ta đã bị quân Tần chôn sống! Tôi có mối thù không đội trời chung với quân Tần."

Tư Không Mã nói: "Bây giờ chúng ta nói điều đó chẳng có ý nghĩa gì, mau quay về Hàm Đan đi!" Hai người đuối sức, bộ dạng nhếch nhác, dìu lẫn nhau đi, bắt đầu xuyên qua trận địa hậu chiến bị sương mù che phủ.

Họ đi tới sáng hôm sau khi ánh mặt trời chiếu sáng họ mới bỏ lại sau lưng trận địa đầy máu và sự khủng khiếp tột độ hướng tới một thôn trang nơi xa xăm. Họ không thể lê bước được nữa, cuối cùng cũng lê bước tới một nhà đầu tiên ngay sát gần con đường ở thôn trang. Gân cốt rã rời họ nằm ngay trước cửa mục nát cạnh đường đi tựa như cá xa nước đang há mồm đớp không khi. Một lúc sau, cánh cửa đẩy ra, một người còn gái xuất hiện, giật mình khi trông thấy Tư Không Mã và Triệu Hoảng, bèn hỏi: "Các vị bị làm sao thế?"

Nhìn trang phục của cô gái này và nghe giọng nói của cô, Tư Không Mã biết mình đã tới ranh giới nước Triệu.

Tư Không Mã nói: "Bọn ta là quân lính nước Triệu."

Nghe họ nói vậy cô gái vui vẻ mời họ vào nhà, tìm vải băng bó vết thương cho Tư Không Mã, bưng nước cho họ súc miệng rồi tìm cho họ hai bộ quần áo thường phục của nam giới để thay khỏi bộ trang phục đầy vết máu đã bị khô, sau đó nói: "Các vị nghỉ ngơi đi một chút, tôi đi làm cơm."

Tư Không Mã và Triệu Hoảng cảm ơn đại đức nhìn vào đôi mắt sáng trong hiền dịu của cô gái.

Chẳng bao lâu cô gái đã chuẩn bị xong cơm, cho dù chỉ là bữa ăn thường nhưng cũng có vị thơm, cay cay, nóng hôi hổi. Đối với hai kẻ đói sôi bụng thì đây chẳng khác gì là sơn hào hải vị khiến cho người ta thèm rỏ rãi.

Tư Không Mã và Triệu Hoảng ăn tới mức mồ hôi toát ra ròng ròng. Triệu Hoảng cứ ăn, ăn mãi và cảm thấy chưa đủ vị, vừa nhai nuốt vừa nói: "Cô gái à có rượu không?" Câu nói này dường như đã chạm vào nỗi đâu của cô gái, mắt cô rưng rưng lệ nói: "Các anh không được uống rượu, hôm nay là ngày giỗ..."

"Ngày giỗ?..."

Nước mắt cô gái cứ chảy ra từ vành mắt nói: "Hôm qua cha và hai người anh trai của tôi đều bị quân nhà Tần giết chết tại Thượng Đảng!"

Sau này Tư Không Mã mới biết cô gái với mái tóc hỉ nhi có đôi mắt thanh tú hiền dịu này tên là Khương Đào Hoa. Khi Tư Không Mã và Triệu Hoảng hồi phục lại được thể lực tiếp tục lên đường, Khương Đào Hoa đã đưa tiễn hai người một đoạn xa với ánh mắt chan chứa tình cảm.

Triệu Hoảng nói: "Chịu ơn người rơi lệ, tất có ngày hết lòng tương báo. Sau này chúng tôi phải quay lại báo đáp vị ân nhân cứu mạng này."


Chương 8

Món hàng lạ

Mặt trời xưa nay vẫn không thay đổi, hàng ngày đều chiếu tia sáng mới xuống thành Hàm Đan. Cảnh tang tóc bi thương giống như đám mây đen tầng tầng lớp lớp che phủ trên không trung nơi có vị đế vương này ngồi.

Từ Triệu Hiếu Thành Vương đến Ngõ làng nơi người dân áo vải trước cửa nhà đều treo cờ trắng, tiếng khóc tang. Người ra ra vào vào đều mặc áo tang đầu đội mũ trắng. Tiếng ai oán từ trong ra đến ngoài ngõ không dứt. Hơn 40 vạn quân lính nước Triệu bị quân Tần đào hố chôn sống, đa phần là người sống ở trong thành Hàm Đan. Mỗi hộ gia đình đều có một hoặc hai người con trai tử trận trên mảnh đất vùng Thượng Đảng. Triệu Hiếu Thành Vương hạ chiếu: cả nước để tang cấm uống rượu vui chơi, cấm mặc áo xanh áo đỏ.

Trong phủ Lã Bất Vi cũng đặt một linh đường đó để tế Tư Không Mã.

Mấy ngày nay Lã Bất Vi trầm ngâm không nói, không ra khỏi phòng, ngồi trong thư phòng gẩy đàn. Kẻ hầu ngoài cửa thường xuyên nghe thấy tiếng đàn ai oán, có lúc nghe như tiếng nước chảy ào ào, cuồn cuộn, chậm rãi, có lúc như sóng to gió lớn; có lúc tựa như trăm con sông đang chảy về, tuôn trào ngàn dặm, có lúc như tiếng gió vi vu, bao phủ khắp bầu trời. Lã Bất Vi cũng đã nhìn ra xu thế nước Triệu thất bại sau cuộc chiến Trường Bình. Năm trăm dật vàng (1 dật = 20kg) của ông sẽ hóa thành tro bụi. Việc kinh doanh châu báu của ông ở thành Hàm Đan, ở một số thành ấp khác của nước Triệu cũng gặp không ít trở ngại, ngoài ra còn ý tưởng chính trị thăng quan tiến chức của ông, cũng có thể bị lắng xuống, mình chỉ như một nhúm lông trên đám da bị lở loét thì còn tiền đồ gì nữa đây? Ông thường xuyên thở dài nói: "Sau này rong ruổi Thần Châu (Trung Quốc, cách gọi cũ) kẻ độc bá thiên hạ phi tần mạc sở!"

Từ khi nhìn thấy Triệu Ngụy Tử để lại Tả Chất thì tảng đá to trong lòng ông mới được gỡ xuống, không cần lo lắng việc vận chuyển lậu tới Hàn Quốc thì có gì rắc rối. Hơn nữa, Triệu Cơ, bông hoa như ngọc ngà, danh chính ngôn thuận trở thành thiếp của ông. Mấy đêm nay ông đều nghỉ qua đêm trong phòng Triệu Cơ, chung chăn chung gối, cử chỉ động tác mới mẻ của cô khiến cho ông đạt tới thỏa mãn cực đại trong khoái cảm. Triệu Cơ liền khoác lên mình chiếc áo mỏng xuống đất múa hát một hồi. Triệu Cơ thay Hoàng Phủ Kiều, quấn quýt quanh Lã Bất Vi, tạo cho cuộc sống của ông có sức sống, có một cảm hứng mới lạ. Đương nhiên ông và Triệu Cơ gắn bó với nhau như keo như sơn khiến cho Hoàng Phủ Kiều nổi cơn ghen và oán hận. Hoàng Phủ Kiều đập đồ, trách mắng nô tỳ. Có những lúc quần áo xộc xệch chạy qua đình qua viện, dùng tiếng xé lòng xé ruột gào gọi Lã Bất Vi. Hôm qua Triệu Cơ đến thư phòng lấy sách cho Lã Bất Vi, vừa hay chạm trán với Hoàng Phủ Kiều. Hai người lời ra tiếng vào, anh một câu chị một câu. Rốt cuộc đánh nhau to, sứt đầu mẻ trán, khóc lóc đến tìm Lã Bất Vi làm trọng tài phân định phải trái. Giữa thê thiếp không thể tránh khỏi hoảng loạn, Lã Bất Vi không rõ đầu đuôi. Hoàng Phủ Kiều khóc lóc không chịu nhận mình là người có lỗi thuật lại đầu đuôi để Lã Bất Vi thụ ý. Triệu Cơ đến trước mặt Hoàng Phủ Kiều đáp lễ nhận sai, lúc đó tình hình căng thẳng mới chấm dứt.

Triệu Cơ và Hoàng Phủ Kiều có hiềm khích đã lâu, mỗi lần hai người trông thấy nhau đều giả bộ cười nhưng trong lòng hậm hậm hực hực. Triệu Cơ trước mặt Lã Bất Vi cố gắng hạ thấp Hoàng Phủ Kiều, Hoàng Phủ Kiều gặp Lã Bất Vi cũng nói Triệu Cơ không ra gì. Điều này đã làm cho Lã Bất Vi tăng thêm sự phiền toái mới. Một hôm Lã Bất Vi đang ngồi trên lầu hai gẩy đàn bỗng nghe thấy tiếng chửi mắng ở dưới nhà không thể không chú ý nghe. Lã Bất Vi đứng lên dựa người vào thành lan can vọng xuống dưới nhìn trông thấy một nhóm người xúm xít vây quanh hai người đang đẩy đi đẩy lại, từ đông sang tây. Có kẻ ở bên ngoài xem còn dùng cả vỏ quả, đá ném vào hai người đó, bất giác kêu gào lên: "Đánh chết con cháu Tần Vương đi, đánh chết con cháu Tần vương này đi!"

Lã Bất Vi nhớ ra Dương Tử từ nước Tần quay về đã nói với ông cháu của Tần Chiêu Nhưỡng đã tới Hàm Đan nhưng ông không để ý tới việc này. Bây giờ nghe thấy dưới nhà có tiếng hò hét điếc cả tai, Lã Bất Vi nghĩ, hai người đang bị vây xung quanh trong đó tất phải có một là người lạ.

Dưới lầu, các đầu người chụm lại, hai người đó dùng tay áo né tránh những vật ném - Lã Bất Vi không nhìn rõ mặt hai người đó. Lã Bất Vi gọi Dương Tử lại bảo xuống nhà xem có chuyện gì.

Dương Tử xuống lầu.

Do có người lạ xuất hiện làm cho Lã Bất Vi bị xáo động và phấn khởi hồi lâu. Trong đầu ông đã nẩy ra một ý nghĩ mạnh mẽ: Người này sẽ là hàng quý có thể giữ lại. Một lúc sau, Dương Tử lại bước lên lầu nói với Lã Bất Vi: "Hai người đang bị bao vây dưới nhà đúng là cháu Tần vương vào người hầu nước Tần do hắn mang đi."

Lã Bất Vi hỏi: "Tại sao bị mọi người làm nhục trước đại đình vậy?"

Dương Tử đáp: "Số bạc mà người lạ này mang từ nước Tần đi đã dùng hết rồi, định tìm đến quán rượu vùng ngoại ô này làm công kiếm tiền. Khi đang đi trên đường bị người nhận ra. Gia quyến của những người bị chết trong trận ở Trường Bình vừa nhìn thấy cháu Tần vương là muốn đánh chết ngay để báo thù cho người thân đã bị chết."

Lã Bất Vi hỏi: "Mấy hôm trước, ngươi đến Thành Dương đã nghe thấy gì về người ta?"

Dương Tử nói: "Ở Thành Dương thuộc hạ đã được nghe rất nhiều điều về người lạ, lúc về thuộc hạ cũng đã nói với đại nhân, người lạ cháu Tần Vương đã tới Hàm Đan, đại nhân cũng không có hứng thú về việc này nên thuộc hạ cũng không bẩm báo với đại nhân."

"Thế bây giờ ngươi nói đi."

Thế là Dương Tử kể lại tỉ mỉ thân thế, quan hệ gia đình, lý do đến Hàm Đan của người lạ.

Lã Bất Vi nghe xong lại vọng xuống lầu dưới nhìn thấy đám người kia đi vẫn chưa xa. Lã Bất Vi và Dương Tử bước hai bậc một bước xuống dưới lầu, vội vã tới nhóm người vây chặt bên trong dùng tay che cho người lạ và người hầu đang bị sứt đầu mẻ trán, nói: "Các vị quân tử xin mọi người dừng tay!" Trong đám người có người nhận ra Lã Bất Vi, nói: "Đây chẳng phải là thương nhân lớn về châu báu Lã Bất Vi sao?" Có người chất vấn Lã Bất Vi nói: "Tần Chiêu Nhưỡng là con quỷ giết người không chớp mắt này, đã chôn sống hơn bốn mươi vạn quân lính nước Triệu chúng ta, đại nhân còn bảo vệ con cháu của hắn làm gì?"

Lã Bất Vi nở nụ cười hướng tới đông đảo mọi người, cúi mình đáp lễ nói: "Các vị tiên sinh, quân tử, xin mọi người đừng hiểu lầm. Tần Chiêu Nhưỡng là quân địch không đội trời chung với mỗi người dân nước Triệu ta. Tôi tại sao phải bảo vệ con cháu hắn? Việc là thế này, hai hôm trước người lạ đến cửa hàng châu báu của tôi mua đồ, sổ sách vẫn chưa tính rõ ràng, họ vẫn nợ tôi tiền, tôi tìm họ đã lâu rồi mà chưa tìm thấy. Bây giờ tôi phải tính sổ với hắn, đòi tiền hắn." Một người trong đám người phẫn nộ nói: "Đồ thối tha vô lại này mua đồ mà không chịu trả tiền, phải dạy cho bọn chúng một trận." Lã Bất Vi đưa ánh mắt đặc biệt về phía người lạ nói: "Đi đi, Dị nhân đến phủ của ta tính sổ cho rõ ràng."

Dị nhân nhìn về trước mặt thấy vị thương nhân tướng mạo ung dung hào hoa, phúc hậu hiền từ không thể nghĩ ra là đã đến cửa hàng của ông ta mua những đồ châu báu ngọc ngà từ khi nào. Hắn không hiểu dụng ý giúp hắn giải vây của Lã Bất Vi mà cho rằng hai nước Triệu, Tần giao chiến, hắn đến Hàm Đan là xúi quẩy, có người đến ép hắn.

Lã Bất Vi thấy Dị nhân lặng đi bất động liền thúc giục: "Đi mau, đến phủ ta tính rõ nợ nần."

Dị Nhân bằng ánh mắt phẫn uất nhìn Lã Bất Vi hỏi: "Thưa vị thương nhân, tôi mua châu báu của đại nhân từ bao giờ mà nợ nần đại nhân?"

Lã Bất Vi nói vội: "Đi thôi, đến phủ tôi nói sẽ rõ thôi."

Chu Kiểm ở bên cạnh nhìn thấy lạ lắm bèn nói với Dị Nhân: "Công tử điện hạ người đến phủ vị thương nhân này cũng có thể hiểu rõ được ngọn ngành."

Thấy người hầu Chu Kiểm nói giống với Lã Bất Vi, Dị Nhân cũng hiểu ra đôi chút, bán tín bán nghi tự nhủ: "Ta thực sự mua ngọc mà không trả tiền ư?"

Dưới con mắt trừng trừng của đám người Dị Nhân đi theo Lã Bất Vi thoát khỏi đám người. Sau khi vào phủ Lã Bất Vi thấy cửa nhà cao ráo, đường vào rộng rãi, chẳng bao lâu đi qua lối vào phòng khách có người hầu mặc áo mới sang trọng, Dị Nhân biêt Lã Bất Vi chắc chắn không phải là loại buôn bán nhỏ tầm thường.

Vừa bước vào phòng khách, Lã Bất Vi mời Dị Nhân ngồi xuống. Chu Kiểm hỏi: "Quý thương mời chúng tôi vào phủ chắc không phải để đòi tiền chứ?"

Lã Bất Vi nói: "Người ta thường nói trên đường gặp chuyện bất bình rút dao ra cứu giúp. Tôi thấy công tử Dị Nhân điện hạ vừa bị vây tấn công, bèn nghĩ ra cách đòi nợ để giải vây cho các vị. Xin công tử đừng lấy đó làm lạ."

Dị Nhân và Chu Kiểm cảm tạ xong, Lã Bất Vi nói: "Hai nước Tần Triệu vừa đánh xong trận Trường Bình, trong thành Hàm Đan có rất nhiều chuyện hỗn loạn, xin công tử điện hạ đừng đi lại tùy ý để tránh gây ra rắc rối khó tránh khỏi."

Dị Nhân nói: "Không sợ quý thương cười chê, tiền bạc chúng tôi mang đi từ Thành Dương đã tiêu hết sạch rồi, Triệu Hiếu Thành Vương lại không chịu cho gặp. Hai thầy trò chúng tôi quần áo rách rưới, thức ăn đã cạn, đành phải ra ngoài này xin làm thuê kiếm ít tiền."

Lã Bất Vi vội gọi Dương Tử lấy ra mười dật vàng, cầm hai tay dâng lên Dị Nhân nói: "Chút tiền nhỏ mọn này mong công tử điện hạ cầm tạm để giải quyết lúc nguy cấp, không nên ra ngoài làm thuê, vừa thấp hèn, vừa nguy hiểm."

Dị Nhân nhận mười dật vàng hỏi: "Vậy khi nào chúng tôi phải trả?"

Lã Bất Vi cười: "Công tử hỏi như vậy tôi đành phải nói hết. Tôi từ lâu đã hâm mộ danh tiếng điện hạ, sau khi tới Hàm Đan vẫn mong muốn được đến chào nhưng đáng tiếc là chưa có nguyên do. Hôm nay trời đất đã mang đến cơ may có vinh hạnh được gặp công tử điện hạ, quả thật cuộc đời tôi có vinh hạnh lớn. Lần này điện hạ tới đây địa thế hiểm trở có thể nhận mười dật vàng của Lã Mỗ đây cũng coi như là may mắn cho Lã Mỗ rồi. Sau này cần sai khiến Lã Mỗ này thì Lã Mỗ cũng nguyện làm trâu ngựa."

Dị Nhân nói: "Vậy phải cảm ơn quý thương rồi!"

Lã Bất Vi nói: "Không dám hỏi điện hạ sống ở nơi nào?"

Dị Nhân đáp: "Liễu Cảng."

Lã Bất Vi nói: "Nếu điện hạ cho phép, tới đây tôi sẽ tới nhà chào hỏi."

Dị Nhân đáp: "Hoan nghênh."

Sau khi Dị Nhân và Chu Kiểm đi, Dương Tử nghi hoặc hỏi Lã Bất Vi: "Lã đại nhân, bây giờ Dị Nhân cháu Tần Vương đang ở đây trong thành Hàm Đan này như đã có chuột chạy qua đường mọi người hô hào đánh. Đại nhân kết bạn với hắn, chẳng phải là lấy phân chuột dính lên người sao?"

Lã Bất Vi vẫn cười rạng rỡ hỏi Dương Tử: "Lợi hơn làm ruộng mấy lần?"

Dương Tử đáp: "Khoảng mười lần."

Lã Bất Vi lại hỏi: "Thắng vì châu ngọc mấy lần?"

Dương Tử đáp: "Đại nhân phải rõ hơn tôi, buôn bán châu ngọc chắc chắn được lợi hơn một trăm lần."

Lã Bất Vi hỏi: "Là vua của một nước thì thắng lợi mấy lần?"

Dương Tử lắc đầu, không trả lời được. Hắn nhìn khuôn mặt Lã Bất Vi một cách kỳ lạ. Hắn phát hiện da thịt trên khuôn mặt Lã Bất Vi căng tròn đến độ kinh ngạc, vui hay buồn đều không lộ rõ trên mặt.

Thấy Dương Tử không nói, Lã Bất Vi gặng hỏi: "Vua của một nước thì thắng lợi mấy lần?"

Dương Tử nói: "Tiểu nhân không biết lời nói vàng ngọc của đại nhân là gì?"

Lã Bất Vi nói: "Vậy thì để ta nói cho ngươi biết, Dương Tử là vua của một nước có thể thu được vô số lợi. Nhà ngươi không thấy sao, những dân áo vải kia, vất vả trồng ruộng, ăn không no, áo không đủ ấm giống như ta là thương nhân châu ngọc, tuy có thể đạt được tám mươi đến một trăm lần lợi nhưng cũng chỉ là kinh doanh nên đôi lúc cũng phải ngậm đắng nuốt cay. Nếu giúp một người thành vua một nước có thể nói một vốn vạn lời. Tham gia vào chính trị một nước, sáng lạn tổ tông theo đuổi hoài bão lớn, ân trạch con cháu."

Nghe Lã Bất Vi nói vậy, Dương Tử có phần hiểu ra hỏi: "Có phải Lã đại nhân định đầu tư vào vị Dị Nhân này?"

Lã Bất Vi nói: "Đúng là ý vậy. Chiến dịch Trường Bình đã lộ ra manh mối là nước Tần sẽ thống lĩnh thiên hạ. Thái tử của Tần Chiêu Nhưỡng vương có tất cả hai mươi ba người con, cho đến nay vẫn chưa lập người kế vị. Chỉ cần chúng ta chịu bỏ tiền bạc để Dị Nhân mở rộng quan hệ với chư hầu, hiểu rõ ân đức, lại đi Thành Dương gặp Tần Vương, hối lộ vua An Quốc, một số nhân vật quyết sách phu nhân Hoa Dương, Dị Nhân rất có hy vọng được lập thành người kế vị nước Tần.

Dương Tử nói: "Một khi Dị Nhân thành Tần Vương thì Lã đại nhân sẽ trở thành tướng quốc dưới một người trên vạn người."

Lã Bất Vi đầy niềm tin nói: "Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên." Chỉ cần chúng ta không tiếc sức để đi làm, thượng đế luôn phù hộ chúng ta."

Dương Tử để ý thấy mỗi khi Lã Bất Vi nói câu nói này, hai mắt loé lên tia sáng chiếu thẳng vào người đối diện.

Dị Nhân như chim sợ cành cong cùng với Chu Kiểm sống ở vùng Lư Cảng không rõ đâu đuôi đi về Liêu Cảng. Khi gần tới nhà nghỉ thì trời đã nhá nhem tối. Mặt trời vàng như quết lên ngôi nhà cỏ thấp lè tè một màu vàng nhuộm. Trong Lư Cảng quanh co phảng phất mùi hôi thối khiến người ta phát nôn. Dị Nhân hiểu mùi thối này không phải ánh sáng còn lại của ráng chiều mà nó được phát ra từ mùi phân người lẫn chó từ ngoài đường phố. Dị Nhân dò từng bước, né bên này tránh bên kia, cốt để giữ sạch đôi giày trước khi bước vào quán trọ.

Chủ quán Công Tôn Càn với khuôn mặt to đăm chiêu, nhăn nhó. Hắn trông thấy Dị Nhân bước vào, hàng lông mày dựng lên nói: "Tôi đã nói với công tử điện hạ biết bao nhiêu lần rồi, các người không được tùy tiện đi các nơi. Đây không phải là Công Tôn Càn làm khó các ngươi mà đây là lệnh của Đại vương. Vừa rồi tôi vừa vào nhà cỏ đi vệ sinh quay ra đã chẳng thấy các ngươi đâu! Tôi phải nhấn mạnh với các ngươi một lần nữa, nếu các ngươi vẫn ra đi mà không nói, tôi sẽ phải đến gặp Đại Vương phạt trị các ngươi."

Dị Nhân đầy khí thế nói: "Bây giờ chúng ta phải e dè nhưng cũng không thể dương mắt nhìn mình bị chết vì đói!"

Chu Kiểm cũng họa thêm nói: "Chúng tôi không thể trừng mắt đợi người chết!"

Khi Dị Nhân mới đến, Công Tôn Càn còn đối xử khách khí với họ, cho dù thế nào đường đường là con cháu Tần Vương, không thận trọng không được. Nhưng mấy ngày nay, do trận giao chiến giữa hai nước Tần, Triệu ở Trường Bình, Triệu Hiếu Thành Vương sai người bảo Công Tôn Càn phải quản nghiêm ngặt Dị Nhân. Đặc biệt là sau khi đã chôn sống 40 vạn quân Triệu, Công Tôn Càn cảm thấy Triệu Hiếu Thành Vương muốn giữ Dị Nhân để hả giận. Vì vậy, họ rất cẩn thận, nếu để Dị Nhân có một hai sai lầm, Triệu Hiếu Thành Vương có thể lôi họ ra hỏi tội.

Công Tôn Càn và Dị Nhân, Chu Kiểm đôi co vài lần, liếc nhìn sang bên cạnh, mỗi người đều bận công việc riêng của mình. Dị Nhân có được mười dật vàng của Lã Bất Vi lúc đi ngang qua phố để Chu Kiểm đến cắt về mấy cân thịt, lại mua về một ít rượu, bây giờ hai người ngồi trong quán trọ cải thiện đồ ăn nhạt mấy hôm nay, đối mặt với thịt rượu. Uống mãi, uống mãi, Chu Kiểm bỗng nghĩ tới mối nhục bị bao vây tấn công lúc ở trên đường, trong lòng không khỏi tủi, bất giác rơi nước mắt.

Dị Nhân buồn buồn hỏi: "Ngươi làm sao thế?"

Chu Kiểm kìm nước mắt lắc lắc đầu.

Dị Nhân hỏi bằng giọng rượu: "Nhớ nhà à?"

Chu Kiểm cười gượng nói: "Nhớ nhà có tác dụng gì? Tần, Triệu đánh lớn, chôn sống hơn 40 vạn quân nước Triệu, nói không chắc chứ hôm nào đó Triệu Hiếu Thành Vương sẽ trừng trị chúng ta thôi."

Dị Nhân nói: "Hôm nay có rượu, hôm nay chúng ta phải suy nghĩ nhiều như vậy cũng không giải quyết được việc."

Chu Kiểm nói: "Công tử điện hạ, bây giờ Tần Triệu quay lại thành thù, chúng ta không nên lưu ở đây để người nào đó đến ám hại xâu xé làm nhục!"

Dị Nhân nói: "Ta cũng nóng lòng về nhà, nhưng về Thành Dương đâu phải là dễ. Chủ quán Công Tôn Càn kèm chặt người của thành Hàm Đan cũng giữ chặt như nhà lao, dù là con ruồi cũng không bay qua nổi thì chúng ta làm sao thoát đây?"

Chu Kiểm nói: "Trời không tuyệt đường của con người, chỉ cần chúng ta dày công suy nghĩ sẽ tìm ra cách."

Dị Nhân nói: "Ta thấy có lắp thêm cánh cũng khó thoát!"

Khi Dị Nhân và Chu Kiểm uống rượu, Công Tôn Càn cũng chẳng có việc gì, ngồi một lúc rồi đi đi lại lại.

Chu Kiểm nghe thấy tiếng động, cầm một miếng thịt, bưng bát rượu đinh mang cho Công Tôn Càn. Dị Nhân sầm mặt không cho mang đi. Chu Kiểm nói: "Vào thời điểm này, chúng ta cần phải cố gắng lấy lòng kết bạn với mọi người. Có thêm một người bạn tức có thêm một con đường!"

Nghe nói vậy, Dị Nhân cũng không ngăn cản nữa. Chu Kiểm bước tới hành lang trước, dâng thịt rượu lên Công Tôn Càn nói: "Công Tôn tiên sinh, trời đã muộn, xin uống chén rượu nhạt sưởi ấm thân."

Mấy tháng nay Dị Nhân và Chu Kiểm đến Hàm Đan do thân phận đặc biệt của Chủ quán, giữa họ và Công Tôn Càn có ý hiềm khích bản năng. Dị Nhân và Chu Kiểm sống ở trong phòng bên cạnh hành lang. Công Tôn Càn nghỉ tại phòng bên ngoài cửa. Bình thường khi gặp mặt nhau chỉ chào hỏi nhau qua loa, sau đó thì đường ai nấy đi, mà không hề qua lại trò chuyện. Trước chiến dịch Trường Bình, Công Tôn Càn cũng không lưu ý tới những việc sai ở quán trọ của y. Việc ra vào của Dị Nhân và Chu Kiểm, Công Tôn Càn thường để họ tự do đi lại. Hắn không phải là ngủ mê mệt trong phòng thì lại ra đường ngắm hoa ngắm cảnh. Buổi đêm, cũng không nghỉ trong quán. Sau chiến dịch Trường Bình, tình cảnh không còn như lúc trước nữa. Vị Công Tôn Càn này cảm thấy thần hồn nát thần tính, sợ bóng sợ gió. Không còn dáng vẻ mơ ngủ, lớp thịt đắp đầy lên hai bờ mắt giống như con chó trước khi đi săn đầy vẻ cảnh giác.

Thấy Chu Kiểm bưng rượu thịt mời, cảnh giác hỏi: "Hôm nay các anh có chuyện gì thế?"

Chu Kiểm nói: "Hôm nay ngẫu nhiên gặp người bạn cũ, trợ giúp cho ít bạc lại mua cho tôi và công tử điện hạ chút đồ nhắm thỏa cơn thèm."

Công Tồn Càn lạnh nhạt đứng ở đó không chấp nhận.

Chu Kiểm một lần nữa cung kính mời: "Đây chẳng phải là rượu quý hiếm, mời Công Tôn tiên sinh uống cho, nếu không tôi và công tử điện hạ làm sao có thể yên tâm cầm đũa ăn được."

Công Tôn Càn đành phải nhận bát rượu, uống một ngụm hết sạch, lau lau miệng, không ăn thịt cũng không nói với Chu Kiểm nữa.

Quay về phòng, Chu Kiểm nói với Dị Nhân: "Chúng ta muốn trốn khỏi Hàm Đan thì không thể thiếu được sự giúp đỡ của Công Tôn Càn."

Dị Nhân không thèm để ý nói: "Hừm, loại người như Công Tôn Càn làm sao có thể giúp được chúng ta, nếu là Lã Bất Vi thì còn tạm được. Tình cờ gặp nhau, thoạt cái đã tặng
Tĩnh Tâm
Đăng nhập để trả lời
0
Báo cáo ct. ly, mình đã xong phần được giao. Có chút nhận xét về bản gốc: rất nhiều lỗi câu chữ bị sai, ở trang 286 đột nhiên bị chuyển nhầm từ nước Triệu thành Ngụy, rồi Tần cũng thành Ngụy. Mình đã tự sửa theo mạch văn, các bạn xem lai giúp nhé.

Sắp tới lại bận rộn không tham gia đánh máy được với các bạn, hẹn một dịp khác rỗi rãi nữa nhé.
Tĩnh Tâm
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-15 09:40:05ct.ly>
Công tử Lỳ thân mến,
Mình đã cố gắng để hoàn thành xong tập 2 LBV nhưng lực bất tòng tâm. Hiện nay mình đang chuyển sang chỗ làm việc mới và ở đây công việc của mình rất bận, không có điều kiện tham gia cùng thư quán. Rất mong mọi người thông cảm cho. Sau đây mình xin gửi nốt chương V, chương này vẫn còn dở dang. Mong mọi người trong thư quán xúm vào hoàn thiện hộ mình nốt.
Thanks các bạn nhiều.
Mình thực sự rất tiếc khi phải tạm thời rời xa thư quán một thời gian.
Chúc mọi người luôn vui vẻ, hạnh phúc và ngày càng lên "tay"
Bye[sm=17.gif][sm=17.gif][sm=17.gif]


CHƯƠNG V

CON TIN DỊ NHÂN
Hàm Dương, thành đô nước Tần. Đây là thành ấp bắt đầu được xây dựng vào năm mười hai đời Tần Hiếu Công. Vì phía Nam có núi Li Sơn, phía Bắc có sông Vị Thuỷ, núi nước đều hướng về phía mặt trời nên tên cổ gọi là: “Hàm Dương”. Chữ Hàm có nghĩa là đô thành, là đều tất cả.
Nước Tần đã định đô ở đất Ung và Lạc Dương nhưng vị trí và quy mô đô thành không thể sánh nổi với Hàm Dương. Hàm Dương gần sông Vị Thuỷ. Những con đường lớn trải dài dọc theo hai bờ Đông – Tây. Một dòng nước xanh mềm mại chảy uốn quanh trong thành phố. Men theo bờ sông là những toà vương phủ nguy nga và nhà cửa san sát của dân thường. Mấy con đường lớn phân thành phố thành những khu đối xứng như khu nhà của các quan, của dân và khu chợ. Người Tần làm nông nghiệp, lấy pháp luật trị quốc. Cảnh tú ở Hàm Dương cũng thể hiện rõ điều này. Ta thường nhìn thấy nam nữ Tần ăn mặc giản dị, vác cày cuốc đi trên đường. Trong chợ, ngoài những sản vật của sáu nước xunh quanh, nhiều nhất là trâu bò béo tốt phục vụ cho nghề nông, rồi gà chọi, chó săn, gia súc gia cầm, trống kèn, đàn sáo rất ồn ào náo nhiệt, không hề giống như Hàm Đan, Lâm Tri, Bộc Dương hay Dương Địch. Con gái trang điểm nhẹ nhàng, cử chỉ khoẻ khoắn khác hẳn với vẻ tô son điểm phấn, phiêu du thanh thoát như con gái nước Triệu. Trên đường, người ngựa đi lại tấp nập, đan xen như mắc cửi. Hai bên đường là vô số những cửa hàng, quán trọ, hàng trà, tiểu lầu, khách điếm… đây thường là nơi tập trung của thương nhân, người từ nước khác đến.
Trong toàn thành Hàm Dương, Chương Thái cung nguy nga hoành tráng hơn cả. Chiêu Tương Vương Doanh Tắc văn võ song toàn, đến hơn sáu mươi tuổi mà đã già nua ốm yếu. Mỗi lúc lâm triều, khệ nệ bưng chiếc đai lưng khảm thiều châu ngọc lung linh. Trong các vua nước Tần, đây là vị vua sống lâu và nắm quyền binh dài nhất. Nắm quyền chấp chính đã năm mươi sáu năm mà đến bảy mươi tư tuổi vẫn chưa đành lòng xuôi về nơi an nghỉ.
Người hầu trong cung Hiếu Văn Vương Trang Tương Vương đều nhớ rõ hình ảnh Chiêu Tương Vương trai tráng anh hùng hoạt bát như thế nào.
Vương trưởng thành cao lớn đường bệ, tiếng nói sang sảng như chuông. Mỗi lần cầm quân đánh giặc trở về, không biết mệt mỏi vẫn luyện tập cung nỏ, mũi tên bắn ra bách phát bách trúng. Tiếp đãi chư hầu, có thể uống liền hơn mười vò rượu không say. Chốn hậu cung, đêm đêm có thể ngự lãm một lúc vài thiếu nữ. Sau cuộc mây mưa, ai cũng khai hoa nở nhuỵ.
Thế nhưng hôm nay lại khác hẳn, Chiêu Tương Vương đang cảm thấy lực bất tòng tâm. Trước mắt vương đang khó xử bởi việc phái con tin đến nước Triệu. Ông có hai mươi ba đứa cháu có thể thoải mái chọn lựa nhưng phái ai đi đến Triệu thật khiến ông đứng ngồi không yên, suốt đêm không ngủ.
Con tin trước thời Xuân Thu dùng làm vật tin lấy lòng quỷ thần. Khi Chu Vũ Vương bị ốm, Chu Công Đản phụ tá của Vũ Vương lập đàn tế trời cầu mong cho Thiên tử khỏi bệnh rồi lấy mình làm vật tín. Nhưng đem người làm con tin giữa các nước chỉ bắt đầu từ thời Chu Thiên Tử, Vương muốn giữ chữ tín với Trịnh Vũ Công, đã phái con mình sang nước Trịnh làm tin. Lần trao đổi với nước Trịnh ấy đã làm cơ sở cho việc làm con tin giữa các nước chư hầu thời Xuân Thu - Chiến Quốc. Thời Xuân Thu, các chư hầu rất trọng chữ tín, việc đổi người không nhiều, con tin ở các nước rất an toàn, không có gì nguy hiểm. Nhưng đến thời Chiến Quốc, chư hầu luôn bội tín, nhân nghĩa đức tín chỉ như gió thoảng mây bay. Vì thế, việc phái con tin ngày càng nhiều, con tin đến nước chư hầu đều rất nguy hiểm. Người làm con tin có thểlà Thái tử hoặc Công tử, cũng có cháu của vua hoặc quan đại thần. Những người này khi ở trong nước đều được tôn kính, sống giàu có sung sướng, liệu ai can tâm đến nước khác mà hứng lấy gian khổ hiểm nguy? Vì thế họ đều xem việc đi làm con tin như một đại hoạ, tất cả đều sợ hãi như thú bị dồn tới bước đường cùng.
Phái đứa cháu nào đến nước Triệu làm tin đây? Chiêu Tương Vương sau khi thao thức mấy đêm liền gọi thái tử An quốc dân Doanh Trụ đến trước điện, nghiêm giọng nói: “Ngô nhi, nước Triệu đã đồng ý với phụ vương không kết giao với Hàn, không phụ giúp lương thảo, binh khí nhưng tất nhiên phải có điều kiện, phái một vương tôn đến Hàm Đan, con hãy chọn trong số hơn hai mươi nhi tử lấy một người đến đó.
Đây là vấn đề khó khăn, Doanh Trụ không đồng ý với quyết định này liền tìm cớ thoái thác: “Đây là chuyện lớn, xin phụ vương nghĩ kỹ lại”. Nghe con nói như vậy, Chiêu Tương Vương sa sầm nét mặt nói: “Ta đến tuổi xưa nay hiếm, sắp đến lúc sức tàn lực kiệt, không bao lâu nữa sẽ nhường ngôi cho con, con cũng nên quen dần với việc triều chính, xử lý đối đáp việc chính sự trong ngoài, không nên lúc nào cũng đắm mình trong đam mê tửu sắc.”
Doanh Trụ ấm ức nhìn Chiêu Tương Vương trong lòng tự nhủ: “Con đã cao tuổi như thế này, chẳng có việc gì làm, không tìm khoái lạc chốn hậu cung thì biết làm việc gì?”
Doanh Trụ ấm ức, không nghe. Chiêu Vương Thái tử không phải là Doanh Trụ mà là Doanh Diệu. Doanh Diệu sức khoẻ ốm đau, sớm yểu mệnh nên Doanh Trụ được lập làm Thái tử. Có một chút tài năng Doanh Trụ muốn đem ra thi thố, đăng vị ngôi báu, trị sự quốc gia. Nhưng Chiêu Tương Vương tuổi cao song sức còn tráng kiện, Doanh Trụ đã hơn 40 mà Chiêu Tương Vương vẫn còn trong cung Chương Thái phê chuẩn tấu biểu, tiếp đãi sứ giả. Thái tử nước khác đến tuổi này đã tự mình nắm giữ ngôi cao vậy mà Doanh Trụ đã qua tuổi “bất hoặc” (không mê muội) mà Chiêu Vương vẫn không có dấu hiệu của tuổi già. Doanh Trụ biết cái ngày đăng đài của mình còn quá xa vời, đành đắm mình trong truỵ lạc với đám cung nhân, trong hậu cung có không biết bao nhiêu mỹ nữ đã qua tay Doanh Trụ. Thái giám và kẻ hầu trong hậu cung biết rằng, ngay cả bậc đá hay ngọn đèn cũng quen thuộc bước chân Doanh Trụ. Doanh Trụ có 23 con trai, 20 con gái, từ đám con đông đảo ấy có thể tưởng tượng được thời gian và công sức mà Doanh Trụ dành cho hậu cung là lớn như thế nào.
Chiêu Tương Vương nhìn thấy Doanh Trụ có vẻ chần chừ liền hối thúc: “Chuyện này gấp lắm rồi, con phải mau chóng quyết định đi!” Doanh Trụ liếc nhìn Chiêu vương hỏi: “Thế phụ vương định chọn ai?” Chiêu Vương khoát tay nôn nóng: “Con tự quyết định đi, chọn ai báo cho ta một tiếng!”
Thấy phụ vương có vẻ bực bội, Doanh Trụ vội vã cáo từ, quay về Loan Minh, nơi có phu nhân Hoa Dương yêu dấu của mình.
Lúc đó, Hoa Dương phu nhân cùng với anh là Hoa Dương Quân đang nóng lòng chờ Doanh Trụ quay lại. Hoa Dương còn sai người hầu là Tiểu Song ra tận cửa đón trông. Vì gần đây nước Tần đánh nhau với nước Sở, thu được Kinh Thành. Kinh Thành là đất phồn hoa, rất nhiều công tử vương tôn muốn Kinh Thành là thực ấp của mình. Hoa Dương Quân qua em mình muốn xin Chiêu Tương Vương ban cho Kinh Thành làm thực ấp. Vừa ngồi nói chuyện với Doanh Trụ và chị em Hoa Dương thì có người đến báo Chiêu Vương cho triệu Thái tử. Chị em Hoa Dương nhân cơ hội, càng cố xúi giục Doanh Trụ nói xin Chiêu Tương Vương.
Trong đám cung nga nơi hậu địên, Doanh Trụ sủng ái nhất là Hoa Dương phu nhân. Nàng chưa đầy 30 tuổi, có sắc đẹp lộng lẫy. Dáng người yểu điệu, da trắng như ngà ngọc. Nét mày như liễu, đôi mắt hồ thu hút hồn người khác. Gò má cao ửng hồng như trái đào chín mọng, gợi bao vẻ xuân tình. Nàng có thể chiếm vị trí số một trong cung vàng không chỉ vì là mỹ nhân khuynh quốc, nàng còn là cháu gái của Tuyên Thái hậu. Tuyên Thái hậu vốn là người nước Sở, tên là Mễ Bát Tử. Tuy không là chính cung hoàng hậu của Huệ Văn Vương nhưng vì sinh hạ ra Chiêu Vương Doanh Tắc mà được hiển quý. Sau khi Huệ Văn Vương chết, Doanh Tắc còn nhỏ nên Thái hậu nhiếp chính. Lúc bà nắm quyền mười mấy năm, họ Mễ trở thành đại gia có thế lực trong triều. Nguỵ Nhiễm làm tướng quốc, hai anh em khác cũng được phong hầu bái tướng. Cho dù sau này Thái hậu bị phế truất, Nguỵ Nhiễm bị bãi chức thì họ Mễ vẫn có ảnh hưởng không thể thay thế trong vương triều Tần.
Hoa Dương phu nhân sau khi trở thành Thái tử Phi thì anh là Dương Hoa Quân cũng được thơm lây, trở thành tướng quân thống soái mười mấy vạn đại quân.
Thấy Doanh Trụ thẫn thờ trở về, anh em Hoa Dương đồng thanh hỏi: “Thế nào, đại vương ngài có đồng ý không?”
Doanh Trụ thở dài nói: “Việc xin kinh thành làm lạc ấp của Hoa Dương quân, ta chưa có cơ hội nói với phụ vương”
Hoa Dương phu nhân hỏi: “Thế phụ vương năm lần bảy lượt triệu kiến ngài có việc gì thế?”
Doanh Trụ nói: “Mọi người đều biết ta với nước Hàn giao chiến, phụ vương sợ Hàn Triệu liên minh, không muốn Triệu giúp Hàn binh khí, lương thực, Triệu vốn đồng ý nhưng muốn ta phải phái người đến Triệu làm con tin”.
“Thế đại vương bảo ai?” Hoa Dương quân hỏi.
“Muốn bảo ai thì người ấy đi” Hoa Dương phu nhân nói thờ ơ.
Cho dù Thái tử suốt ngày quanh quẩn bên nàng nhưng Hoa Dương phu nhân vẫn giữ được dáng người thon gọn. Vì chưa có con nên giọng Hoa Dương rất lạnh nhạt.
Doanh Trụ nghe Hoa Dương liền nói: “Phái ai đi? Nàng bảo ai cũng được?”
Hoa Dương phu nhân mặt lạnh như tiền, cười nhạt: “Thiếp không phải là phụ vương, làm sao dám nói ai đi hay không? Thiếp bảo thái tử điện hạ đi, bảo Hoa Dương quân đi, bảo Tiểu Song đi?” Nói xong, Hoa Dương phu nhân đưa mắt nhìn mọi người.
Doanh Trụ vội nói: “Phụ vương bảo ta tìm một nhi tử. Bảo ta quyết cũng không phải là bảo nàng quyết hay sao?”
Hoa Dương phu nhân và Hoa Dương quân kinh ngạc thốt lên: “Cho Thái tử điện hạ quyết định à?”
Doanh Trụ nói : “Đúng vậy”
Hoa Dương phu nhân đảo mắt nhìn quanh rồi bảo nữ tỳ Tiểu Song: “Ngươi ra ngoài trước đi!”
Tiểu Song đáp dạ, lui ra.
Hoa Dương phu nhân và Hoa Dương quân đưa mắt nhìn nhau rồi nói: “Thái tử điện hạ, người xem nên phái công tử nào đi”.
Doanh Trụ nói: “Ta cũng chưa có chủ ý”
Hoa Dương phu nhân mượn dịp nói: “Thế thì chọn con cả của ngài là Tử Hề đi, nó không muốn làm thái tử sao? Đây là lúc tạo tiền đề vì nước mà hiến thân!”
Hoa Dương quân cũng tiếp lời: “Phạm Thư, Đỗ Thương hay đưa chuyện, có gì không hay lại sai Từ Hề đi gặp đại vương, để Từ Hề đi, xem hai người ấy còn chọc gậy bánh xe nữa không”.
Phạm Thư là tướng quốc. Đỗ Thương cũng đảm nhiệm chức trọng thần, lại là thầy dạy của Tử Hề - con trưởng của Doanh Trụ. Một mặt họ gia sức hạn chế quyền lực của gia tộc họ Mễ, một mặt nỗ lực cho việc lập Tử Hề làm thái tử, trở thành người kế vị của Doanh Trụ. Vì thế chị em Hoa Dương với họ không thể đội trời chung.
Doanh Trụ hiểu rõ là chuyện trong cung có quan hệ rất phức tạp, tuy Vương sủng ái Hoa Dương nhưng cũng không muốn gây thù oán với Phạm Thư, Đỗ Thương.
Hoa Dương phu nhân lại càng hối thúc: “Thái tử điện hạ, người quyết định cho Từ Hề đi, vì quốc gia mà đứng mũi chịu sào, đảm nhiệm trọng trách này!”
Hoa Dương quân cũng nói: “Thái tử điện hạ, đây cũng là lý do chính đáng để công bố giữa triều chính”.
Doanh Trụ chần chừ nói: “Để ta xem xét kỹ!”
Bóng hình nhỏ nhắn của Tiểu Song trong đêm như tấm lụa mỏng lặng lẽ đi về hướng phủ tướng quốc.
Hoa Dương phu nhân bảo Tiểu Song lui nhưng cô gái xinh đẹp này thực ra không quay gót, cô nép ở cửa nghe trọn câu chuyện của Doanh Trụ và chị em Hoa Dương. Nhớ lại ban đầu, Tiểu Song vốn là người nước Sở bị bắt sang Tần làm nô tỳ, phải làm công việc phục dịch quét dọn trong cung vô cùng cực khổ. Một lần, tướng quốc Phạm Thư thấy cô gái nhỏ nhắn xinh đẹp làm việc vất vả, bèn động lòng thương gọi cô đến và nói: “Còn nhỏ như cô mà phải kiếm sống khổ cực, cô tên là gì?” Tiểu Song quỳ xuống thi lễ rồi kể cho Phạm Thư nghe về thân phận của mình. Phạm Thư nói: “Từ nay cô không phải làm công việc khổ cực như thế nữa, hãy đến cung Thái Tử phi làm người hầu ở đó!” Tiểu Song vô vàn cảm tạ chịu ơn, Phạm Thư dặn dò: “Ở cung Thái tử phi nghe hoặc nhìn thấy việc gì lạ, lập tức bí mật đến phủ tướng quốc báo ngay cho ta”. Tiểu Song tâm niệm ghi nhớ, cô biết việc gì cần gấp rút báo với Phạm Thư. Tiểu Song đến Loan Minh Các, lúc đầu chỉ ở vườn hoa, chăm sóc cây cỏ, nhưng vì chịu khó lại nhanh nhẹn nên sớm được Hoa Dương để ý và cho vào cung làm người hầu tâm phúc của mình.
Tiểu Song đến phủ tướng quốc, mau chóng đến thư phòng gặp Phạm Thư đang ngồi đọc sách.
Vị tướng quốc nước Tần quyền cao chức trọng, râu tóc đã điểm bạc, mắt hằn nét chân chim. Nghe Tiểu Song nói, thốt lên một tiếng “À”. Xem qua thì biết đây là người đầy mưu sâu kế hiểm. Ông bảo người nhà mang vài lạng bạc tới thưởng cho Tiểu Song và nói: “Mau về đi!”.
Tiểu Song đi khỏi, ông không kịp mặc quan phục, một mình một ngựa đi đến Tử Hề.
Phạm Thư vốn là người nước Nguỵ, thông hiểu thi thơ lễ nhạc, chí lớn ngút trời. Phạm Thư đi du thuyết ở các nước chư hầu, ý muốn giúp việc cho vua Nguỵ nhưng vì nhà nghèo, không có gì để làm vốn đành phải giúp việc cho trung đại phu nước Nguỵ - Tu Giả.
Một lần Tu Giả vâng lệnh Nguỵ Chiêu vương đi sứ nước Tề, Phạm Thư cũng đi theo. Hai người ở Tề mấy tháng vẫn không có kết quả gì. Vua Tề Vương nghe nói Phạm Thư có tài biện luận, bèn sai người biếu 10 cân vàng cùng thịt bò và rượu. Thư từ chối không dám nhận. Tu Giả biết được giận lắm, cho rằng Thư được những tặng phẩm ấy là đem những điều bí mật của nước Nguỵ nói ra với Tề nên sai Thư nhận rượu, thịt và đem vàng trả lại. Sau khi về nước, Giả giận Thư nên đem nói với tướng quốc nước Nguỵ là Nguỵ Tề. Nguỵ Tề cả giận, sai môn hạ lấy roi đánh Thư. Đánh gãy xương sườn, rụng răng. Thư giả vờ chết, bị người ta lấy chiếu bó lại bỏ trong nhà xí. Khách uống rượu thịt no say, thi nhau đái lên người Thư, cốt làm nhục Thư để răn dạy những người sau đừng nói bừa bãi.
Thư nằm trong chiếu nói với người giữ nhà xí: “Nếu ông có thể đưa tôi ra thì thế nào tôi cũng hậu tạ”.
Người nước Nguỵ là Trịnh An Bành biết Phạm Thư là người có tài bèn cứu. Phạm Thư chạy trốn rồi đổi tên là Trương Lộc. Lúc bấy giờ Tần Chiêu Vương sai người yết giả là Vương Kê sang Nguỵ, Trịnh An Bành giả làm lính hầu hạ Vương Kê, tiến cử Phạm Thư. Vương kê nhìn thấy Phạm Thư nói chưa hết buổi, biết Phạm Thư là người giỏi. Sau khi quay về Hàm Đan tiến cử với Tần Chiêu Tương Vương, vua Tần gặp Phạm Thư cùng nhau bàn chuyện thiên hạ, thấy Phạm Thư là người mưu lược tài giỏi, phong ông làm tướng quốc, Phạm Thư sau khi thành tướng quốc, hoạch định chính sách, chiến lược trị quốc, tăng cường luật pháp làm cho nước Tần ngày càng trở thành hùng mạnh.
Phạm Thư làm tướng quốc vẫn lấy tên là Trương Lộc. Nước Nguỵ không biết cho rằng Phạm Thư đã chết từ lâu. Vua Nguỵ nghe tin vua Tần đem quân sang đánh hai nước Hàn Nguỵ, sai Tu Giả đến nước Tần cầu hoà. Phạm Thư nghe vậy, cải trang mặc quần áo lam lũ, đi bộ đến nhà khách yết kiến Tu Giả. Giả thấy Thư liền kinh ngạc hỏi: “Phạm Thư, ngươi vẫn chưa chết sao?” Phạm Thư đáp: “Phải!” Tu Giả cười hỏi: “Ngươi đến nước Tần làm thuyết khách phải không?” – “Thưa không. Trước đây Thư có tội với tướng quốc nước Nguỵ, cho nên bỏ trốn đến đây, đâu dám làm thuyết khách?” “Nay ông làm việc gì?” “Tôi làm thuê cho người ta”. Tu Giả trong lòng thương hại, giữ lại cùng ăn cơm và nói: “Ngươi có biết tướng quốc nước Tần là Trương Lộc không? Nghe nói ông ta được nhà vua yêu quý, việc trong thiên hạ đều do thừa tướng quyết định. Nay việc của tôi phụ thuộc vào Trương quân. Ngươi giúp ta gặp tướng quốc được không?”
Phạm Thư nói: “Ông chủ của tôi quen biết ông ta nên tôi có thể bái yết. Thư này xin giúp ông gặp Trương quân”.
Phạm Thư về lấy xe tứ mã đưa cho Tu Giả, đánh xe đưa vào tướng phủ. Trong phủ mọi người nhìn thấy tướng quốc đều ẩn nấp, trốn lánh. Tu Giả thấy làm lạ. Đến cửa nhà thừa tướng, Phạm Thư nói với Tu Giả: “Ông chờ một lát để tôi vào báo trước”.
Tu Giả ngồi ngoài đợi hồi lâu vẫn không thấy Phạm Thư bèn hỏi người môn hạ: “Phạm Thư không ra là tại sao?”. Người môn hạ nói: “Không có ai là Phạm Thư cả. Người mà ông cùng đi xe là tướng quốc Trương Lộc của chúng tôi”.
Tu Giả cả kinh biết mình bị lừa, bèn cởi trần đi bằng đầu gối, nhờ người môn hạ vào xin tha tội. Bấy giờ Phạm Thư bày màn trướng nghiêm chỉnh, kẻ hầu người hạ rất đông, Tu Giả cúi đầu nói: “Tôi không ngờ ngài có thể tự mình lên tới mây xanh. Tôi phạm tội đáng chết. Từ nay không dám đọc sách thiên hạ, bàn việc thiên hạ nữa. Giả có tội phải bỏ vào vạc nước sôi, cúi xin ngài đuổi đến nơi man rợ, sống chết tuỳ ngài định đoạt”.
Phạm Thư không giết Tu Giả, đem chuyện kể với vua Tần, xin thả Giả về Nguỵ quốc. Tu Giả tới từ biệt Phạm Thư, Phạm Thư bày tiệc lớn, mời sứ giả các nước chư hầu đến dự. Bắt Tu Giả ngồi dưới thềm, sai người đặt máng ngựa ăn trước mặt, sai hai tội nhân bị chạm vào mặt đứng hai bên, cảnh tượng y như người ta cho ngựa ăn vậy.
Phạm Thư nói với Tu Giả: “Ngươi về quê nói với vua Nguỵ, mau mang đầu Nguỵ Tề tới đây. Nếu không ta sẽ làm cỏ thành Đại Lương”.
Tu Giả trở về báo với Nguỵ Tề. Nguỵ Tề sợ hãi, trốn đến nước Triệu, ở nhờ Bình Nguyên Quân.
Tần Chiêu Vương biết chuyện, muốn báo thù cho Phạm Thư, giả vờ viết một bức thư đưa cho Bình Nguyên Quân: “Quả nhân biết ngài là người cao nghĩa, muốn ngài làm bạn áo vải, nếu may mắn được ngài tới, xin uống rượu với ngài mười ngày”.
Bình Nguyên Quân sợ Tần, vả lại cũng cho là phải bèn đến Tần yết kiến Chiêu Vương. Chiêu Vương cùng Bình Nguyên Quân uống rượu mấy ngày rồi nói với Bình Nguyên Quân: “Xưa Chu Văn vương được Lũ Thượng cho làm Thái công. Tề Hoàn Công được Quản Di ngô cho làm trọng phụ. Phạm Quân cũng là bậc thúc phụ của quả nhân, kẻ thù của thúc phụ ở nhà ngài, xin cho người về lấy đầu hắn đem lại đây, nếu không ta không cho ngài qua cửa ải!”.
Bình Nguyên quân nói: “Tuy mình sang nhưng kết bạn với người là người không quên cái nghĩa lúc mình còn thấp hèn. Tuy mình giàu nhưng chơi với người ta là không quên cái lúc mình nghèo túng. Nguỵ Tề là bạn của tôi, nếu ở nhà tôi, tôi nhất định không đem ra nộp, lại rằng ông ta không ở nhà tôi”.
Chiêu Vương đưa thư cho vua Triệu nói: “Em trai của nhà vua ở Tần, kẻ thù của Phạm Thư là Nguỵ Tề hiện đang ở Bình Nguyên Quân. Nhà vua mau sai người đem đầu hắn đến đây, nếu không ta sẽ đem binh đánh Triệu, không cho em nhà vua qua ải đâu”.
Triệu Hiếu Thành vương xem xong thư cả kinh, đem binh lính đến vây nhà Bình Nguyên Quân rất gấp, đang đêm Nguỵ Tề trốn ra, ra mắt tướng quốc nước Triệu là Ngu Khanh. Ngu Khanh xem chừng không can nổi vua, bèn cởi ấn tướng quốc, cùng Nguỵ Tề bỏ trốn. Nghĩ không thể trốn tránh ở nước chư hầu nào bèn chạy về Đại Lương muốn nhờ Tín Lăng quân để chạy sang nước Sở. Tín Lăng quân nghe tin, sợ Tần, do dự chưa quyết, bèn hỏi: “Ngu Khanh là người như thế nào?”
Hầu Doanh bên cạnh nói: “Con người không dễ biết hết. Biết người cũng không phải là dễ. Ngu Khanh đi giày rơm, mang ô đi yết kiến vua Triệu lần thứ nhất, được thưởng một đôi thạch bích, một trăm cân vàng. Lần thứ hai được phong làm Thượng Khanh. Lần thứ ba được cử làm Tướng quốc, phong vạn hộ hầu. Trong thiên hạ đua nhau muốn biết ông ta. Thế mà khi Nguỵ Tề cùng khốn đến nhà ông ta, Ngu Khanh không dám cho tước lộc là tôn quý, cởi ấn tướng cùng Ngụy Tề trốn chạy. Công tử, người nói xem. Ngu Khanh là người như thế nào?”
Tín Lăng quân nghe xong cả thẹn, sai người ra ngoại thành nghênh đón. Nguỵ Tề nghe nói Tín Lăng quân lúc đầu ngại đón mình nên cả giận tự đâm cổ chết. Vua Triệu nghe tin, lấy đầu của Tề đưa cho vua Tần. Tần Chiêu Vương cho Bình Nguyên quân về nước.
Chiêu vương rất thân cận và gần gũi với Phạm Thư, cho phép ông được đánh xe ra vào cung vương.
Tử Hề là con cả của An Quốc quân, năm nay tuổi đã trưởng thành. Tử Hề không giống kẻ phàm nhân tục tử, không dễ để người khác biết được suy nghĩ tâm sự của mình. Hình dung oai phong, hiên ngang khí phách. Vẻ ngoài luôn như ngây dại nhưng tâm trí rất sâu xa. Tuy cả ngày trong phòng đọc sách nhưng không hề hứng thú với chuyện cay đắng cuộc đời. Thi thơ lễ nhạc giúp Tử Hề hiểu rằng trong cung đình luôn xảy ra tranh đoạt tước quyền. Tử Hề cảm thấy rằng, quan tước mê hoặc con người giống như bông hoa hồng, tuy đầy sắc hương nhưng cũng lắm gai nhọn. Muốn thưởng hoa phải cầm cả hai tay, hoa mới không gây đau đớn. Tử Hề muốn sớm trở thành thái tử của An Quốc quân, mau chóng gánh vác việc thiên hạ, lại có tướng quốc Phạm Thư ủng hộ. Tuy nhiên bên cạnh cha luôn có người đẹp Hoa Dương sớm hôm kề cận, lời nói xúc xiểm, thêm Vũ An quân Bạch Khởi quyền cao chức trọng, tấn cử Dị Nhân trước mặt vua Tần, nói Dị Nhân trí dũng song toàn, trí tài tuyệt đỉnh, không ai sánh bằng, lại nói sợ trở thành thái tử của An Quốc quân. Tử Hề căm giận xiết bao những con người ấy.
Người hầu trong phủ Tử Hề thấy tướng quốc quần áo xộc xệch, tự đánh xe tới phủ, biết có chuyện chẳng lành. Đến phủ, tướng quốc sửa sang quần áo, gấp rút vào thư phòng gặp Tử Hề. Nhìn bộ dạng Phạm Thư, Tử Hề bíêt xảy ra chuyện lớn. Phạm Thư thấy Tử Hề và thái phụ Đỗ Thương, bèn đem chuyện anh em Hoa Dương muốn Tử Hề tới nước Triệu làm con tin một lượt.
Tử Hề hỏi: “Chẳng phải vua cha không đồng ý sao?”
Phạm Thư nói: “Bây giờ An Quốc quân chưa có chủ ý gì nhưng ngài cũng biết, Hoa Dương phu nhân nói sao thì An Quốc quân theo vậy mà”. Đỗ Thương nói: “Phạm tướng quốc, ngài tiến cử với đại vương một vương tôn khác, như vậy sẽ sớm thoát khỏi chuyện này”.
Phạm Thư nói: “Đại vương không muốn tốn công phí sức đã để cho An Quốc quân quyết định chuyện này”.
Tử Hề nói: “Để ta đi? Như thế có quá lắm không? Hai mươi ba con trai tất cả đều hưởng phúc lộc phú quý vinh hoa, tại sao lại chọn ta?”
Đỗ Thương nói: “Mọi người có thể viện lý do ngài là con trưởng”.
Tử Hề nói: “Con trưởng lớn lên làm thái tử, lẽ nào định không cho ta được thế sao?”
Phạm Thư nói: “Tình hình này không nên oán trách hay đổ lỗi cho ai. Chúng ta nên nghĩ kế chu toàn không để Tử Hề tới Hàm Đan làm con tin nước Triệu”.
Tử Hề nói: “Tôi ăn không ngon, ngủ không yên, hay thoái thác ốm đau mấy tháng cho yên chuyện?”
Đỗ Thương lắc đầu: “Ngài cáo ốm, người ta bảo là ngài trốn tránh, sai thái y đến thăm bệnh thì vỡ lở mọi chuyện!”.
Phạm Thư đi đi lại lại trong thư phòng và hỏi: “Hôm nay là ngày bao nhiêu?” “Hôm nay là ngày 19 tháng 6, tướng quốc không nhớ sao?” Đỗ Thương cảm thấy vì chuyện con tin đã làm cho Phạm Thư bấn loạn tâm trí. Phạm Thư bấm tay phấn khởi: “Phải, hôm nay là ngày 19, sau bảy ngày là ngày 26”.
Tử Hề và Đỗ Thương thấy vị tướng quốc túc trí đa mưu bộ dạng như vậy biết Phạm Thư có chủ ý rõ ràng.
Phạm Thư sung sướng nói: “ngày 26 tháng 6 là ngày sinh nhật của vua Sở là Khoảnh Tương Vương. Nếu ta nhớ không nhầm, năm nay ông ta 52 tuổi. Ngày ngày 2 năm về trước, ta là sứ thần Tần quốc đến chúc thọ ông ta”.
Đỗ Thương nói: “Tướng quốc đại nhân, lúc này nước sôi lửa nóng lại còn nhớ tới ngày sinh của vua Sở hay sao? Thật là không đúng lúc chút nào!”
Phạm Thư nói: “Thái phụ, cứ theo như chuyện này, bảo Tử Hề viết thư cho Khoảnh Tương Vương, nói với vua Sở rằng Tử Hề rất muốn đến chúc thọ Tương Vương vào ngày 26 nhưng chưa có lời mời của đại vương nên không dám thất lễ. Nhất định Tương Vương sẽ phái người tới mời Tử Hề. Tương Vương và An Quốc quân là chỗ tình thân, nhất định vì việc chúc thọ này mà phái người khác đến Hàm Đan làm con tin.”
Đỗ Thương vô cùng thán phục: “Quả là diệu kế! Tử Hề thay mặt nước Tần tới chúc thọ Tương Vương, tránh việc đến Hàm Đan, thật nhất cử lưỡng tiện”.
Đỗ Thương theo kế Phạm Thư, đọc thư để Tử Hề viết đưa tới vua Sở. Ngày hôm sau bèn phái một viên Tả Đồ nắm công việc trong cung thất mang thư diện kiến Chiêu Tương Vương, mời Tử Hề đến Sính Đô tham dự tiệc mừng thọ vua Sở Khoảnh Tương Vương. Chiêu Vương đem quốc thư của nước Sở giao cho Phạm Thư xử lý việc này.
Phạm Thư tiếp quốc thư, trong bụng mừng thầm. Sự việc đã bộc lộ rõ kết quả mà ông dự liệu. Ông cầm quốc thư, mặt mày rạng rỡ, cùng Tử Hề đến từ biệt An Quốc quân Doanh Trụ.
Doanh Trụ mấy hôm nay cùng Hoa Dương phu nhân cân nhắc xem rút cục phái công tử nào tới Hàm Đan.
Phạm Thư mang quốc thư của Sở Vương đến trước mặt Doanh Trụ lắc lư nói: “Đại vương đã ân chuẩn để Tử Hề đi sứ nước Sở” Tử Hề mừng ra mặt, cúi đầu thi lễ nói: “Hài nhi cung kính từ biệt phụ vương và vương phi nương nương”. Hoa Dương phu nhân không nén nổi tình cảm hỏi: “nói như vậy, Tử Hề không thể đến Hàm Đan làm con tin được sao?”
Phạm Thư không hề giữ ý nói: “Tử Hề mang gánh nặng trên vai, không hổ với sứ mệnh, sẽ nhanh chóng lên đường”. Hoa Dương phu nhân nhìn cái vẻ đắc ý của Phạm Thư và Tử Hề, phẫn nộ hỏi một câu: “Việc này ngoài Tử Hề không còn ai gách vác được sao?” Phạm Thư không chút e dè đem quốc thư đưa cho Hoa Dương nói: “Trong này mời đích danh Tử Hề đi, chúng tôi tự tiện thay người, chính là phạm tội bất hiếu với nước Sở!”
Doanh Trụ nói: “Phạm tướng quốc, người xem tốt nhất nên để ai đi làm con tin?”
Phạm Thư nói: “Còn hai mươi hai công tử nữa, ai đi cũng được. Dị nhân rất thích hợp. Đây chỉ là thiển ý của tại hạ mà thôi, cuối cùng vẫn phải do Thái tử điện hạ định đoạt”
Tử Hề đi sứ nước Sở, có quốc thư của Khoảnh Tương Vương, lại có lệnh của Chiêu Tương Vương, Hoa Dương phu nhân cũng chỉ còn cách nghe theo.
Vậy mà chẳng bao lâu Hoa Dương phu nhân đã vén được bức màn bên trong việc Tử Hề đi sứ. Hoá ra vị Tả Đồ phụng mệnh Khoảng Tương Vương mang bức thư chẳng biết đầu cua tai nheo thế nào lại có chút quan hệ thân thuộc với Hoa Dương quân. Rời khỏi cung Chương Đài chỗ Chiêu Tương Vương, liền đến thăm chỗ Hoa Dương quân. Chẳng biết lòng dạ để đâu lại đem việc Tử Hề yêu cầu đi Sính Đô mừng thọ Sở Vương và Sở Vương phái ông ta mang quốc thư đi sứ như thế nào nói ra hết.
Khi Hoa Dương quân và người này nói chuyện với nhau, mau chóng đã hiện ra tình cảnh người nói vô ý, người nghe hữu tình. Hoa Dương quân thấy rõ việc này Phạm Thư đã làm tay chân. Hoa Dương quân nghĩ: “Phạm tướng quốc, tiếc rằng ông không thể qua được con mắt của Hoa Dương quân này”.
Sau khi vị Tả Đô này rời khỏi chỗ của Hoa Dương quân lại lên lầu Loan Ô bái kiến Hoa Dương phu nhân. Hoa Dương phu nhân vì việc Tử Hề đi sứ nước Sở mà trong lòng tức tối, nên tiếp đãi vị Tả Đồ đến từ quê hương mình với vẻ mặt lạnh lùng. Tả Đồ thấy vị thái tử phi
📎 Tap2LaB..huongV
Đăng nhập để trả lời
0
Mình thấy Quyển 7 và 8 bạn LONg3ta đăng ký mà chưa thấy đâu hết. Bây giờ mình cũng đang rảnh rỗi, nên sẽ nhận đánh máy Quyển 8 dùm bạn 1 tay nha!

Hy vọng sẽ sớm hoàn thành.
Đăng nhập để trả lời
0
Quyển 1 chưa thấy ai đánh hết,mình xin đăng ký đánh quyển 1 nha. Nếu không ai có ý kiến gì thì mình bắt đầu đánh nhé!

Thân.
Đăng nhập để trả lời
0
QUYỂN 8


........ lệ mạnh mẽ, hôm đầu đã đánh cho quân Triệu phải chạy trốn vào vùng đồng hoang lùi xa đến 20 dặm mới dám dựng trại. Thanh quả phụ từ khi nhậm chức thiếu nội Tần Quốc thì rất mực trung thành làm tròn trách nhiệm, thành tích hết sức cụ thể nhận được sự tín nhiệm sâu sắc của Doanh Chính. Gần đây Thanh quả phụ chủ trương tăng thu thuế khóa một số hàng hóa giao dịch ở các chợ và được Doanh Chính. Còn con số cụ thể thì để Thanh quả phụ và Lã Bất Vi bàn bạc thỏa thuận. Bà ta tìm Lã Bất Vi mà rằng: mức cao quá thì gây tổn hại công nông, thương mại thưa thớt không có lợi cho dân cho nước. Mà mức thấp quá thì dân lợi nhiều nhưng triều đình thì lợi ít cũng khó lòng thu. Cuối cùng Lã Bất Vi và Thanh quả phụ quyết thu thuế là 25% rồi làm tờ trình xin sự đồng ý của Doanh Chính xong sẽ thực hiện ở các chợ.
Lã Bất Vi đang bận tối mắt tối mũi về việc này thì thấy Lao Ái mặt mày ủ rủ đến tìm ông ta. Trên người Lao Ái đầy trang sức và quần áo sang trọng hào hoa, điều đó thật tương phản với khuôn mặt vốn đen sạm của hắn ta. Lúc đó Lã Bất Vi mới sực nhớ đã mấy ngày nay ông ta không gặp Lao Ái rồi. Xem ra hắn ta nhất định được Triệu Cơ trọng thưởng cho không ít thứ, toàn thân hắn rực rỡ hẳn lên, không còn là một tiểu sa nhân nghèo nàn bấn túng nữa.
Lao Ái bẩm với Lã Bất Vi rằng: “ Thái hậu không chỉ muốn hắn ta đồng sáng hành lạc với bà ta mà còn bảo hắn ta ban ngày cũng phải hầu hạ phục dịch. Lao Ái cảm thấy một người to lớn mày râu năm tấc như hắn mà lại ngang nhiên đi lại huyênh hoang nơi hậu cung là trái với quy chế của đại Tần. Nếu hắn ta không làm theo thì thái hậu không chấp thuận, nếu hắn ta làm theo thì lại sợ Tần vương truy xét, hoạ hề cạnh thân.
Lã Bất Vi nghe xong thì trầm ngâm chốc lác và bảo Lao Ái hãy cứ về. Lã Bất Vi lao tâm khổ tứ tìm tòi nghĩ cách mất mấy ngày và cuối cùng ông đã nghĩ ra một diệu kế.
Một hôm trong thành Hàm Dương truyền đi một tin mới: Sá nhân Lao Ái của tướng quốc Lã Bất Vi dám cưỡng dâm một nhà quyền quý giữa ban ngày ban mặt và bị quan phủ truy xét bắt tội để xử lý. Lã Bất Vi vì đại nghĩa mà bỏ tình riêng sẽ thi hành án phủ hình đối với Lao Ái . Viên quan thi hành phủ hình tên gọi Khương Khoái vốn tham của ham lợi. Trước khi thi hành, Lã Bất Vi cho gọi Khương Khoái đến phủ. Lã Bất Vi hỏi: Ngươi là Khương Khoái phải không? Khương Khoái không dám ngẩng đầu và quỳ xuống trả lời là phải. Bỗng nhiên một thỏi vàng sáng loáng rơi trước mặt hắn ta khiếm hắn ta giật mình, hắn ngẩng đầu lên nhìn. Lã Bất Vi đang nhìn hắn bằng đôi mắt nghiêm khắc. Lã Bất Vi nói: Vàng này là đẻ thưởng cho ngươi, ngươi hãy cầm lên đi. Khương Khoái cúi đầu nhặt vàng và cho vào trong tay áo. Lại “binh” một cái - lại một thỏi vàng nữa rơi xuống trước mặt hắn. Lã Bất Vi lại bảo hắn nhặt vàng lên. Hắn vừa nhặt vàng lên và cất xong thì một thỏi vàng khác lại xuất hiện trước mặt hắn. Lã Bất Vi vẫn bằng một câu nói: “Ngươi hãy nhặt lên đi”. Lần này hắn không dám nhặt nữa, tim đập thình thịch ngẩng nhìn Lã Bất Vi . Lã Bất Vi nói: “Ngươi hãy nhặt lên đi, ta có việc muốn ngươi làm”. Khương Khoái nói: “tướng quốc đại nhân có chuyện gì xin cứ dạy bảo, tiểu nhân nguyện bỏ sức trâu ngựa để làm. Lã Bất Vi nói: Khi thi hành phủ hình với Lao Ái nhà ngươi phải làm theo lời ta. Lã Bất Vi cúi xuống ghé sát vào tai Khương Khoái nói chách làm như vậy. Khương Khoái gật đầu vâng dạ lia lịa. Khi Khương Khoái đi, Lã Bất Vi bảo hắn rằngL sau khi xong việc còn có thưởng.
Ngày hôm thi hành, khoảng đất trống trước ngục giam có rất nhiều người tập trung ở đó. Cùng với tiếng hò hét “Dẫn Lao Ái ra” của viên đinh uý, Lao Ái bị trói gô cổ và chéo đánh sau lưng bị dẫn ra. Dưới sự áp giải của lính ngục hắn bị nhấc lên một tấm sàn. Lính ngục trói chặt chân tay hắn vào cột sàn. Lao Ái thì ngửa mặt lên trời không thể cựa quậy nổi. Vừng thái dương lơ lửng giữa thiên không như bị đóng đông chắc lại, phủ một vệ sáng loang lổ trước mắt Lao Ái. Cho dù Lã Bất Vi đã dặn dò Lao Ái rằng đó chỉ là đóng kịch thôi nhưng trong lòng hắn vẫn cứ nặng trĩu. Mặt trời khiến hắn bị lóa mắt, hắn không mở to được mắt mà chỉ có thể nhìn ti hí được thôi. Khi hắn nhìn thấy Khương Khoái tay cầm dao sắc từng bước một tiến đến gần hắn thì tim hắn dường như sắp sửa bật lệ tận cổ họng vậy. Hai bên lính ngục lách ra một nơi thật xa còn Khương Khoái thì bước đến trước tấm sàn thi án. Mồn hắn thì ngậm lưỡi dao sắc,hai tay hắn thì cởi đa khố của Lao Ái . Lao Ái nói như cầu khẩn mong hắn hãy để ý chứ dừng có cắt thật. Khương Khoái thì không để ý những lời đó mà đặt dao xuống phần bụng dưới chi chít những lông của Lao Ái và sau đó thì dùng sống dao ấn mạnh xuống một cái khiến cho Lao Ái sợ hãi dường như vỡ tim rách phổi kêu lên một tiếng: ái yo, Trời ơi! Khương Khoái nhanh tay nhanh mắt xối túi máu gà giấu trong tay áo vào giữa hai bên bẹn Lao Ái và làm một động tác kiểu cắt khoét rồi sau đó giơ cái túi dư đựng máu gà có vết máu hãy còn loang lỗ lên không trung lắc lắc mà gào lên rằng:
“Cắt đi rồi này!”
Đám đông vây quanh liền bung ra một trận gào thét.
Vào một buổi chiều gió thu xào xạc, các cung nữ và hoạn quan trong điện Chiêu Thanh phát hiện ra trong đội ngũ của họ lại có thêm một đồng nghiệp mới: Người bạn mới này to cao vạm vỡ khác người, chỉ có điều anh ta bước đi có phần loạng choạng. Chính bởi đêm qua anh ta lại làm bạn với thái hậu một đêm. Thái hậu đùa vui vẻ đến mức anh ta không chợp mắt được một tí nào, nên ngày hôm sau tinh thần anh ta có phần hoảng hốt. Thế nhưng, điều đó lại chẳng có ai hay biết. Những người trong điện Chiêu Thanh chỉ biết rằng anh ta tên gọi Lao Ái, do phạm luật lệ nên bị tịch thân và trở thành hoạn quan hầu hạ thái hậu. Quả trên cột phía hiên cung điện lại có thêm một cái quả nữa. Trong mỗi quả có đựng dương vật của một hoạn quan. Sau khi hoan quan chết thì dương vật được đựng trong quả cũng được chôn xuông đất và như thế thì gọi là “hoàn thân”. Khương Khoái khắc trong túi nhỏ họ tên của Lao Ái đựng vào đó một nhánh cây khô của cây ô cựu mà chẳng ma quỷ nào hay biết. Mọi người thấy rằng Lao Ái nhẵn nhụi không có lấy một sợi râu. Điều đó đã để lại một ấn tượng đặc biệt sâu sắc cho những người trong điện Chiêu Thanh, họ đoá`n rằng có lẽ anh ta đã là hoạn quan từ lâu rồi. Chỉ có điều khi qua lại trong điện Kỳ Niên họ không nhìn thấy mà thôi. Mãi về sau, mọi người trong điện Chiêu Thanh mới biết lai lịch của Lao Ái.
Trong ánh mắt chăm chú của mọi người, Lao Ái vừa mừng lại vừa lo. Hắn là hoạn quan thân chận của thái hậu rồi, ngoài việc hằng đêm hắn được đùa vui bỡn cợt thoải mái trong phòng thái hậu ra thì hắn còn khiến cho những người cùng nghề phải nhìn hắn bằng ánh mắt khác. Mà chưa biết chừng một ngày nào đó hắn lo lắng đó là cái thứ lúc mềm lúc cứng lúc Lao Ái lúc lắc giữa hai bên bẹn kia của hắn hãy còn đó – đó là cây cột cho hắn được yên thân gửi phận. Hắn sợ để lộ thiên cơ nên thường thót bụng lại để đi lại. Đặc biệt là khi cái thứ đó không được nề nếp thì hắn lại càng không thể sơ suất một tí nào.
Lao Ái giả bị thiến nên khi ở bên Triệu Cơ được thăng quan tiến chức nhanh chóng.
Khoảng 100 năm sau có một người bị hoàng đế thi hành cung hình (thiến) thật khi viết truyện về Lã Bất Vi, người này liền chú ý đến chi tiết giả thi hành cung đình hày và ông ta có viết rằng: “Thuỷ hoàng đế dần dần trưởng thành, nhưng hành động dâm loạn của thái hậu vẫn không ngừng ngớt. Lã Bất Vi sợ tình gian bị phát giác thì tai họa sẽ giáng xuống đầu ông ta nên ông ta đã tìm kiếm được Lao Ái người có dương vật đặc biệt to để làm môn khách cho ông ta và thường xuyên phóng túng hành lạc. Lã Bất Vi để thái hậu biết chuyện Lao Ái luồn dương vật của hắn vào bánh xe được làm từ gỗ cây ngô đồng và đẩy cho bánh xe đi để dụ dỗ thái hậu. Thái hậu nghe xong quả nhiên muốn giành lấy Lao Ái . Lã Bất Vi liền tiến củ Lao Ái đồng thời giả cho người tố giác ông ta về sai lầm so sơ xuất khi thi hành nhục hình. Lã Bất Vi lại bí mật nói với thái hậu rằng: “Có thể để Lao Ái giả thi hành phụ hình là hắn có thể phục vụ hầu hạ nàng ở hậu cung rồi”. Thái hậu liền ngầm tặng cho viên quan chủ trì nhục hình để hắn giả như đế để trị tội Lao Ái, nhổ hết râu ria của Lao Ái và để Lao Ái đội lốt thành hoạn quan. Và thế là Lao Ái có thể được hầu hạ thái hậu. Thái hậu liền thả sức thông gian với Lao Ái và bà ta rất thích Lao Ái”.

CHƯƠNG XVIII
BỊ TRỤC XUẤT KHỎI KINH THÀNH


Trung thu năm 239 trước công nguyên Thành Tề em trai Doanh Chính đã làm phải đầu hàng quân Triệu ở tiền tuyến quân sự khi tấn công Triệu quốc, đồng thời hắn đã giết chết Hồi Mã Thương của nước Tần.
Bá quan văn võ cả triều hãy còn nhớ cái tin bất hạnh đó đã giáng xuống ngự án của Tần Vương trong điện Kỳ Niên cùng với gió thu se lạnh. Khi quân hầu vội vã mang sớ từ tiền tuyến về dâng lên Tần Vương. Doanh Chính nhận lấy và xm thì là một bài hịch truyền bá rộng rãi việc thảo phạt Tần Vương. Biết bao năm sau, Doanh Chính hãy còn nhớ rõ câu mở đầu: “Trường an quan Thành Tề thông báo cho thần dân gần xa được biết”.
… Tay Doanh Chính run run như thể chiếc lá đang run lẩy bẩy trong gió. Sau đó Doanh Chính nếm tờ hịch đó xuống đất. Tiếng thẻ trúc rơi và tiếng gần gào của Doanh Chính hòa vào nhau lan ra phủ ngọc vỡ dội vào tai các đại thần.
Các đại thần thấy gương mặt đó của Doanh Chính không sáng sủa như tiền vừa đúc khiến người ta phải động lòng như thuở ngày xưa nữa. Vì quân vương việc gì cũng nhất định phải tự làm này đã rất mệt mỏi rồi. Hàng ngày, Doanh Chính phải đọc duyệt đến một trăm mấy mươi câu thẻ tre.
Tần chương bên ngự án từ khi còn chưa thấu ánh nắng mặt trời. Gương mặt Doanh Chính dần dần chuyển sang màu vàng giống như sương sớm lướt trên lá cây vậy. Chỉ có đôi mắt sắt bến và trong suốt như mắt đại bàng kia là vẫn còn rực sáng.
Đang khi cơn thịnh nộ của Doanh Chính còn chưa giảm bớt thì quân hầu của Tần quốc lại về bẩm báo hai thành Hồ Quan và Chường Tử của Tần Quốc dưới sự tán công dữ dội của phản quân Thành Tề đã bị chiếm đóng rồi. Doanh Chính nghe xong rồi dường như không hẹn mà gặp, ông và các đại thần của mình đều thốt lên kinh ngạc.
Doanh Chính gọi: “Tướng quốc Lã Bất Vi, nghe mỗi lời quốc vương nói đều khiến người ta thấy sổn gai ốc. Bản thân Lã Bất Vi cũng có cái cảm giác này một cách nhanh chóng. Lã Bất Vi bước ra một bước từ trong hàng ngũ đại thần quỳ xuống dưới ngự và nói “Có thần”.
“Ngươi tiến cử Thành Tề làm phó tướng ra tiền tuyến đốc quân thúc sư. Hắn ta đã làm phản đầu hàng Triệu quốc rồi, như thế là sao vậy”. Đây là lần đầu tiên Doanh Chính chất vấn Lã Bất Vi trước đông đủ triều thần. Mấy vị đại thần đứng gần Lã Bất Vi thấy Văn Tín Hầu quyền lực một thời lúc này đang mặt đỏ tía tai. Lã Bất Vi lấy lại bình tĩnh. Ông biết rằng lúc này phải thể hiện ra thái độ không tự hào quá mà cũng không tự ti thì mới có thể giữ được nét tôn nghiêm của ngày trước.
Quỳ lạy xong, Lã Bất Vi đứng dậy đáp lời to rõ ràng mà rằng: “Khởi bẩm đại vương, xưa nay lòng người khó lường. Thành Tề do đâu mà làm phản, không phải chỉ có thần mà e rằng kể cả đại vương cũng khó lòng minh xét. Theo như ngụ ý của thần thì đang lúc việc gấp, không nhất thiết phải minh xét duyên do Thành Tề làm phải mà hãy hỏa tốc xuất quân, hăng hái bình định quân phản nghịch, thu hồi đất đai bị mất”.
Các quần thần thấy việc đang khẩn cấp trước mắt như Lã Bất Vi vừ nói thì gật đầu tán thành đồng chủ ý của Lã Bất Vi.
Doanh Chính cũng thấy được thái độ của bá quan văn võ thì xuống giọng nói: “Được rồi, quả nhân không truy cứu trách nhiệm tiến cử Thành Tề nữa. Lã Bất Vi ngươi hãy nói xem ai sẽ là người dẫn quân bình định quân làm phản, thu hồi đất đai bị mất”.
Lã Bất Vi biết Doanh Chính bảo thủ cố chấp, không thể trái ý nên gần đây bất kể việc gì Lã Bất Vi điều che giấu chủ kiến và tài năng. Lã Bất Vi nói: “Đại vương nhìn xa trông rộng có con mắt nhìn người, xin đại vương hãy tự quyết định”.
Doanh Chính đưa mắt nhìn quần thần một lượt hỏi: “Ai có thể thay quả nhân thống binh bình định phản quân, thu hồi đất đai bị mất?”.
Dưới sự im lìm, bá quan văn võ nhìn nhau không có ai xung phong đảm nhiệm. Thành Tề dẫn người ngựa hàng Triệu, ai mà không biết rõ rằng: Nếu phản quân và Triệu quân tự hội lại thì thế như chẻ tre khó mà địch nổi. Trong tình thế đó các bá quan văn võ điều không dám tùy tiện thống binh.
Doanh Chính lại lên giọng hỏi: “ Ai có thể thay quả nhân thống binh bình định phản quân thu hồi đất đai bị mất?.
Dưới ngự vẫn cái không khí nặng trĩu im lìm của lúc trước. Ý nghĩ như chiếc cối xay uốn lượn đang chuyển động trong đầu Lã Bất Vi. Việc Thành Tề ra tiền tuyến uý quân đốc sư là do ta tiến cử. Thành Tề đã làm phản ta, ta cũng không thoát được những ràng buộc có liên can, cần phải lập công chuộc tội, thống binh đi bình định.Và quan trọng hơn cả là quan hệ huyết thống giữa ta và Quốc vương. Nếu ta không dám anh dũng hăng hái ra đi cứu nguy cho đất nước thì còn đợi ai đây?”.
Lã Bất Vi cân nhắc kỹ lưỡng rồi cuối cùng ông nói: “Khởi bẩm Tần vương, hạ thần nguyện đem quân đi bình định phản quân, thu hồi đất đai bị mất”.
Điều đó thật bất ngờ đối với Doanh Chính. Lúc đó, vị quốc vương này trông mòn con mắt, mong có người bước ra nhưng ông ta hy vọng rằng người đó là Lã Bất Vi. Từ khi còn rất nhỏ Doanh Chính đã tai nghe mắt thấy mối quan hệ giữa Lã Bất Vi và Triệu Cơ. Doanh Chính không muốn mẫu hậu cao quý phải dây máu ăn phần vì người khác. Doanh Chính có đầu sự thù hận ghi xương khắc cốt nhục của Lã Bất Vi mà ông cho rằng những lời đồn kia chỉ là những lời đồn đại vô căn cứ. Doanh Chính hãy còn nhớ rất rõ rằng trong mười năm, khi mình chưa đích thân chấp chính, vị “trọng phụ” chuyên quyền này rất kinh mạng và hay bắt ép ông. Có những chuyện mà bây giờ nghĩ lại thì vẫn như còn sờ sờ trước mắt. Hãy còn trong một thời gian tương đối dài, một số bá quan văn võ cứ hễ nói là gọi Lã tướng quốc hoặc quân hầu như thể vị vua một nước như Doanh Chính chỉ để làm gì mà thôi.
Lúc đó, nếu là một triều thần khác chủ động xin đi đánh giặc thì Doanh Chính sẽ khen ngợi cổ vũ và điều cho 20 vạn quân. Bây giời lại là Lã Bất Vi người mà Doanh Chính vốn không thân cận. Doanh Chính không có lý do gì để phải đối việc Lã Bất Vi thống quân. Doanh Chính hy vọng quân làm phải của Thành Tề sẽ bị tiêu diệt như hoa đàn vừa nở đã tàn, nhưng Doanh Chính không muốn phần thắng nằm trong tay Lã Bất Vi. Và chí ít thì Doanh Chính không thể đểLã Bất Vi dễ dàng chiến thắng trở về.
Doanh Chính đưa mắt nhìn các quần thần một lượt rồi nói: “ Chiếu của quả nhân, do Lã Bất Vi thống soái năm vạn quân ra tiền tuyến Đồn Lưu”.
Nếu là một vị hoàng đế khác điều năm vạn binh mã thì nhất định Lã Bất Vi sẽ phân trần này kia. Năm vạn binh mã thì ít quá. Hậu kỳ Chiến quốc. Tần quốc mỗi lần dụng binh đối ngoại đều thiết lập mặt trận có quy mô lớn, cứ động một tí là dùng đến mười hai vạn binh mã. Lã Bất Vi biết rằng giờ đây ông bỏ sức lực ra vì con trai mình, thế nhưng đứa con đó thì lại trăm phương ngàn kế kìm chế ông ta. Ông như kẻ câm ăn hoàng liên vậy, thấy đắng mà không nói ra được. May thay đã có Mông Ngạo - người mà ông đã từng tin dùng chỉ huy ba mươi vạn binh mã. Khi tác chiến với Triệu quốc Lã Bất Vi có thể nhờ cậy vào bộ phận binh lực này.
Nghĩ đến đây Lã Bất Vi thản nhiên nói: “ Tuân chỉ, xin đại vương chờ đợi tin lành”.
Sáng ngày hôm sau, trong mưa thu lúc dày lúc mỏng, Lã Bất Vi ngồi trên chiêu xa thống lĩnh năm vạn binh mã ra khỏi thành Hàm Dương. Đến khi xuất phát đến tiền tuyến và dùng binh đối phó Triệu quốc thì đã là lúc trời quang mây tạnh buổi chiều ngày hôm sau rồi. Những người từng được Lã Bất Vi dìu dắt như tướng quân Mông Ngao, phó tướng Vương Tiễn, Lý Tín, Nội Sử Đằng đều rất nhiệt tình thiết đãi Lã Bất Vi từ xa đến. Trong quân tướng được viền lên bỏi ánh sáng còn lại của buổi hoàng hôn. Sự ấm áp của ánh vàng tràn trề đó khiến người ta cảm thấy ở đây dường như không phải là một chiến trườmg gươm đao đấu chọi mà là gia đình của một vương hầu dìu dắt ti sáo bên tai. Các tướng quân nhận thấy sự lạnh buốt rõ rệt bao phủ trên gương mặt Lã Bất Vi. Mí mắt ông mọng lên che đi đôi mắt vốn tràn đầy niềm vinh dự. Thần thái đó nơi Lã Bất Vi khác xa so với tưởng tượng của họ. Tướng quốc của họ có bao giờ không ngẩng đầu sải bước, mặt mày hớn hở đâu. Sao giờ đây lại trầm mặc không nói, ngổn nganh trăm mối tơ lòng?
Chắc chắn là việc quản quân của Thành Tề là một tảng đá đè lên lòng ông. Tiếng va chạm chén uống rượu như con sâu nhỏ đang luồn vào mang tai ông. Với mỗi chén rượu được chuốc ông đều uống một hơi hết sạch. Tuy lòng ông nặng nề nhưng cũng không thẻ làm mất hứng của mọi người. Sau khi “ Thửu chí tam tuần, thái quá ngũ vị”. Lã Bất Vi nói số binh mã ông thống lĩnh ít quá. Còn chưa để Lã Bất Vi nói hết, Mông Ngao đã vỗ to ngực nói: ba mươi nghìn binh lích của Tần quốc chỉ làm theo ý của tướng quốc thôi.
Ngày hôm sau năm vạn binh mã của Lã Bất Vi và ba mươi vạn binh mã của Mông Ngao hội tập làm một rồi rầm rộ tiến về Đồn Lưu. Trên đường qu alại thành Chương Tử và Hồ Quan, quân làm phản không chịu nổi một đòn đánh phải tan rã tan tành trong giây lát. Tin tức truyền đến Đồn Lưu , Thành Tề một mặt bố trí phòng thủ, một mặt thì xin Triệu quốc viện trợ.
Ba mươi lăm vạn đại quân Tần quốc cắm trại ở Hộ Thành Hà – Đồn Lưu . Các lều trại cái này nối cái kia như gò đồi chi chít vây chặt lấy Đồn Lưu.
Đang khi Lã Bất Vi muốn phát binh tấn công thì có một quân úy tên gọi Dương Đoan Hòa của quân Tần xin gặp Lã Bất Vi. Dương Đoan Hòa gặp Lã Bất Vi thì nói: Trước đây thần là một môn khách của Thành Tề. Lã Bất Vi nhìn kỹ mặt mũi người này thấy hơi quen. Khi Dương Đoan Hòa nói vậy thì ông mối nhớ là đã gặp người này ở chỗ Di Hồng. Dương Đoan Hòa nói: Tiểu nhân có một kế có thể lấy Đồn Lưu. Đợi ông ta nói xong Lã Bất Vi thấy có thể thực hiện kế đó thì dặn dò Dương Đoan Hòa phải xử lí cẩn thận.
Gần trưa, Phan Dương Dư Kỳ ra khỏi thành giao chiến với quân Tần. Dương Đoan Hòa và một đội quân Tần thay mặt phục trang của quân Thành Tề và đợi đến khi quân của hai bên giết nhau lẫn lộn thì băng qua Hộ Thành Hà và lọt vào Đồn Lưu. Dương Đoan Hòa bảo các tuỳ tùng đợi ở ngoài cổng thành rồi một mình ông ta vào gặp Thành Tề. Việc Lã Bất Vi thống soái ba lăm vạn đại quân tiến đến tấn công khiến cho Thành Tề sợ vãi đái. Thành Tề giờ đây chẳng khác nào kiến gặp lửa cứ vòng ra vòng vào trên mặt đất. Thành Tề không ngừng sai ngườilên thành xem xét, xem xem Phàn Dư Kỳ có đánh thắng không, xem quân viện trợ của Triệu quốc đã đến chưa. Khi Thành Tề gặp lại Dương Đoan Hòa, môn khánh ngày trước của hắn thì cũng là lúc hắn đang ngổn ngang trăm mối. Thành Tề hỏi Dương Đoan Hòa đến đây bằng cách nào. Dương Đoan Hòa đáp rằng: đến cùng đại quân của Lã Bất Vi. Thành Tề lại hỏi Dương Đoan Hòa đến gặp ta hắn có yêu cầu gì. Dương Đoan Hòa nói: Lã tướng quân mời ngày ra ngoài thành nói chuyện với ông ấy. Thành Tề và Dương Đoan Hòa lên thành thì thấy binh mã hai bên đang giết nhau lẫn lộn. Bụi đất bị vó ngựa tung lên mù mịt, ánh hào quan của qua kích thì giống như vảy cá rợp trời kín đất. Thành Tề không nhìn rõ Lã Bất Vi ở chổ nào. Đang lúc Thành Tề muốn xem Lã Bất Vi đang ở đâu thì chỉ thấy Dương Đoan Hòa giật một lá cờ trắng từ trong tay áo ra. Trên lá cờ có thêu chữ: “giáng” (hàng) nổi bật một cách rỏ ràng.
Dương Đoan Hòa xông lên hành khản cổ gào to: “Trường An quân hầu đã lệnh cho toàn thành đầu hàng rồi!”. Đến khi Thành Tề hiểu rõ mọi chuyện thì đoản kiếm trong tay Dương Đoan Hòa đã đặt lên gáy hắn ta rồi.
Phàn Dư Kỳ đang ra sức chém giết ở dưới thành cho rằng Thành Tề đã đầu àhng thật thì ngửa cổ than rằng: “Nhữ tự bất túc phụ dã” (Không thể trông cậy vào con trẻ!). Sau đó mở một đường máu chạy về Yên Triệu. Quân làm phản thấy chủ soái chạy trốn vào vùng đồng hoang thì lộn xộn rối bời. Có người thì quy phục xin hàng, có kẻ thì quan đầu chạy trốn như chuột lủi.
Quân Tần theo Dương Đoan Hòa vào thành chiếm cứ lấy cổng thành đồng thời nghêng đón đại quân do Lã Bất Vi và Mông Ngao hiên ngang tiến vào thành Đồn Lưu. Thành Tề thấy thế lớn không còn nữa thì đành phải buông tay chịu trói.
Niệm Thành Tề là em trai của Tần Vương. Lã Bất Vi muốn xử lý nhẹ giáng chức Thành Tề làm thứ dân, sung quân Ba Thục; Quân làm phản và cư dân Đồn Lưu thì đều giáng làm nô lệ đầy đi biên tái: Lã Bất Vi sai quân uý về Hàm Dương xin chiếu Doanh Chính. Quân uý mang chiếu của Tần Vương từ thành Hàm Dương đến một cách nhanh chóng. “Phản tặc không giết chết thì cốt nhục của hắn cũng sẽ mưu phản mà thôi! Thành Tề, quân làm phản và dân cư Đồn Lưu toàn bộ chu di”. Lã Bất Vi thấy cư dân Đồn Lưu vô tội, nếu giết hại hàng loạt thì thật tàn nhẫn quá giả mệnh đem Thành Tề và quân làm phản ra xử chảm hết thảy. Còn cư dân Đồn Lưu thì chuyển về địa bàn Lâm Thao xa xôi hẻo lánh.
Nghi thức nghênh đón phía ngoài thành Hàm Dương vô cùng đơn giản sơ sài - điều đó cũng không nằm ngoài dự tính của Lã Bất Vi. Ánh nắng nhàn nhạt của mùa thu rớt trên đám ngựa xe cờ quạt và dân chúng thưa thớt. Một số đại thần và quân uý chú ý thấy trên khuôn mặt phong trần của Lã Bất Vi không hề có một vẻ đắc ý hay vui mừng của một người thắng lợi. Ánh nắng nhạt đã chuyển thành màu trắng nơi mặt của Lã Bất Vi.
Lã Bất Vi về đến phủ tướng quốc thì các môn khách và gia nhân trong phủ nhiệt liệt đón mừng đã kể cho ông nghe nhiều tin tức. Lã Bất Vi vô cùng kinh ngạc khi thấy thái độ lạnh nhạt của họ khi họ kể đến chuyện Tần Vương bị nhiễm bệnh, họ hoàn toàn không tỏ thái độ đau đớn tuyệt vọng hay sự luống cuống sợ hãi. Trong câu chuyện hỗn tạp đủ các loại của các môn khách, Lã Bất Vi được biết việc làm phản của Thành Tề đã khiến Doanh Chính bị độc hoả công tâm, miệng lưỡi lở loét, mông đít lở loét thối rữa. Nghe vậy Lã Bất Vi chẳng quản nhọc nhằn vội đến điện Kỳ Niên hỏi thăm nhà vua.
Khi Lã Bất Vi bước vào trong điện thì liền ngửi thấy mùi thuốc sắc kỳ quái khó ngửi đang bay đầy trong điện. Trong phòng của Doanh Chính, các ngự y chân tay cuống quýt vây quan giường bệnh của nhà vua. Lã Bất Vi hướng đôi mắt dịu dàng thắm thiết mơi má Doanh Chính. Khi ông nhìn thấy khuôn mặt xanh xao tiều tuỵ của Doanh Chính thì sự khó chịu dường như đã trở thành sự lo lắng trong ông. Lã Bất Vi bắt đầu hỏi thăm và an ủi Doanh Chính bằng những lời lẽ thành thật dễ lọt tai.
Đăng nhập để trả lời
0
CT.Ly à, mình lại có thể giúp thu quan tiếp rồi. Vậy bạn để chương 2 đấy mình sẽ hoàn tất nốt nhé.
Vui quá, hoá ra mình khéo thu xếp thì vẫn có thể tham gia thu quan được.
Đăng nhập để trả lời
0
Bạn Long3ta à, mình thấy bạn đăng ký gõ quyển 7,8 của LBV nhưng chưa thấy bạn đưa lên phần nào cả. Bạn bận quá chăng? Hay là mình sẽ gõ quyển 7 giúp bạn nhé. Thông tin lại cho mình nếu bạn có thể.
Thanks
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 4 » »»