Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Đâu phải vì yêu - Debbie Macomber 🔒

23 trả lời, 6.879 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-07-07 22:30:47Thanh Vân>
Đâu phải vì yêu

Tác giả: Debbie Macomber






Bạn đọc thân mến,
 
Chào mừng đến với vịnh Cedar, Oa-sinh-tơn. Tôi hy vọng các bạn thích thú khi gặp gỡ những người bạn mới của tôi. Và tôi hy vọng rằng khi gặp, các bạn sẽ cảm thấy dễ chịu với Olivia, Grace, Charlotte, Cecilia, Jack, Ian, Seth và tất cả những người khác như những người hàng xóm nhà bạn. Các bạn thấy đấy họ là những người bạn của tôi. Vân không hẳn vậy. Vịnh Cerda nằm ở thị trấn cảng Orchard quê hương tôi, Oa-sinh-tơn, nhưng các nhân vật và câu chuyện của họ hoàn toàn là hư cấu từ trí tưởng tượng của tôi. Tuy nhiên, nếu ai đã từng bước qua những con phố của cảng Orchard, sẽ đều nhận ra những tòa nhà và những sự kiện tôi đã miêu tả. Thư viện, Tòa thị chính mới, và cả cuộc thi nhại tiếng chim Hải Âu đều là một phần và là hiện thực cuộc sống ở cảng Orchard.
Sau khi viết những câu chuyện liên quan đến Alaska, Texas và Bắc Dakota, tôi đã nhận được hàng chục lá thư với những gợi ý về các cốt truyện ở những thành phố khác. Và  trong khi quyết định, tôi chợt nhận ra chẳng có nơi nào tôi có thể yêu thích hơn bang Oa-sinh-tơn xinh đẹp quê hương tôi. Trong suốt những năm qua, mọi thị trấn hay thành phố nhỏ tôi từng tạo ra đều là một phần cuộc sống tôi từng biết – cuộc sống chính tôi từng trải nghiệm khi kiếm tiền nuôi cả gia đình tôi ở ngay cảng Orchard này. Với xê-ri truyện về vịnh Cerda, tôi đã chính thức đưa cuộc sống này lên trang giấy.
Trước khi các bạn kịp hỏi liệu Vịnh Cerda là một tác phẩm bộ ba hay là một xê-ri tám tập truyện khác, tôi sẽ kể cho các bạn nghe. Câu trả lời là tôi không biết. Để kể hết những câu chuyện, sẽ như bao nhiêu cuốn khác thôi. Lúc nào cũng vậy, mục tiêu của tôi là giúp các bạn cầm cuốn sách đầu tiên hay cuốn thứ mười lên và ngay lập tức trải nghiệm cảm giác mình được chào đón.
Vì vậy, xin hãy nán lại và cùng thưởng thức một chút lãng mạn, một chút huyền bí và một chút từng trải xuyên suốt cả tác phẩm. Hãy nán lại và cùng làm quen với cả cộng động những người bạn mới. Tôi biết, tất cả bọn họ đều đang náo nức muốn được tự giới thiệu mình với bạn.
 
1
 
Cecilia Radall đã nghe kể về những người, mà nếu cho họ một điều ước, họ sẽ muốn sống lại chính cuộc đời của mình. Nhưng cô thì không muốn như vậy. Cô hài lòng với giai đoạn mười hai tháng kể từ khi cô bước sang tuổi hai mươi hai.
Mười hai tháng đã trôi qua.
Tháng Giêng vừa rồi, ngay sau Tết, cô đã gặp Ian Jacob Randall, một anh chàng hải quân, một thủy thủ tàu ngầm. Cô đã phạm phải  một sai lầm nghiêm trọng – đó là để mình dính bầu. Rồi cô làm rối tung mọi chuyện lên bằng một sai lầm nữa, là làm đám cưới với anh chàng này.
Đó là lỗi thứ ba và từ đó, cô ngày càng lún sâu hơn vào những sai lầm nối tiếp nhau. Cô thật ngốc nghếch, ngây thơ trong tình yêu -  và tệ hơn cả - là cô quá lãng mạn. Bởi thế mà anh chàng hải quân và cuộc sống của anh ta đã nhanh chóng hấp dẫn cô.
Cô con gái nhỏ Allision Marie của họ bị sinh non trong khi Ian đang công tác ngoài biển. Đã thế cô bé còn bị chứng tim bẩm sinh. Đến khi Ian trở về, Allision Marie đã qua đời. Lúc người ta hạ chiếc bình đựng tro hỏa táng nhỏ xíu của con gái mình xuống đất ướt lạnh lẽo của vùng Tây bắc Thái Bình Dương, Cecilia cô đơn đứng nhìn, gió mưa không ngớt táp vào mặt cô rát buốt. Cô buộc phải có những quyết định giữa sự sống và cái chết mà chẳng có lời khuyên nào của gia đình hay sự động viên an ủi của chồng mình. Mẹ cô sống ở vùng bờ biển phía Đông và vì có một cơn bão tuyết nên bà không thể bay tới Oa-sinh-tơn. Cha cô ủng hộ cô theo cách của ông – và nó quá ít ỏi. Ý tưởng “có mặt ở chỗ con gái” của ông chỉ là gửi cho cô tấm thiệp, và viết vài dòng bày tỏ sự cảm thông sâu sắc trước nỗi mất mát lớn lao của cô. Biết bao đêm cô thẫn thờ choáng váng và khóc ròng bên chiếc nôi trống của con, cô yêu đứa con bé bỏng tội nghiệp của mình biết bao. Những người vợ hải quân khác cố an ủi cô nhưng Cecilia không cảm thấy thoải mái với người lạ. Cô từ chối sự cảm thông giúp đỡ và tình bạn của hộ. Vì mới ở vịnh Cerda trong một thời gian ngắn nên cô chưa kịp có bạn bè thân thiết. Do đó cô càng cảm thấy mình cô đơn trống vắng hơn.
Khi Ian trở về, anh cố giải thích sự chậm trễ của mình là do các thủ tục trong nghành hải quân. Nhưng Cecilia đã quá mệt mỏi rồi. Chỉ có một hiện thực đau đớn tồn tại trước mắt cô: con gái cô đã chết. Chồng cô không thể biết và không thể cảm nhận được những gì cô đã phải chịu đựng trong một thời gian anh đi vắng. Vì anh ở trên một chiếc tàu ngầm hạt nhân nên trong suốt thời gian làm nhiệm vụ, tất cả các cuộc liên lạc chỉ được giới hạn trong những chữ “các bức điện từ gia đình”. Nhưng cũng chẳng thể làm được gì vì đúng thời điểm đó, con tàu lại bị kẹt dưới một mỏm băng. Cô đã báo cho anh về sự ra đời và cái chết của Allison. Cô đã viết về nỗi đau giằng xé trái tim mình trong những tin nhắn ngắn ngủi đó ma chẳng hề biết rằng chúng bị nhân viên hải quân kiểm soát chặt chẽ. Vì vậy mà mãi đến khi chuyến đi mười ngày kết thúc, viên sỹ quan trên tàu mới chuyển thông tin đến anh. Anh không biết, Ian khẳng định nhiều lần như thế. Chắc chắn là cô không thể buộc anh phải chịu trách nhiệm rồi. Tuy nhiên cô vẫn nghĩ là anh cũng có lỗi trong tất cả mọi chuyện. Mặc dù có thể điều đó là không công bằng, nhưng Cecila không thể tha thứ cho anh.
Bây giờ cô muốn chấm dứt. Chấm dứt cuộc hôn nhân của cô, chấm dứt những cảm giác tôi lỗi và hối tiếc, chỉ duy nhất là chấm dứt. Cách trốn thoát duy nhất là ly dị Ian. Ngồi ở hành lang gần phòng xử, cô cảm thấy quyết tâm của mình mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Chỉ cần một nhát búa dứt khoát của người thẩm phán là cô có thể bỏ lại sau lưng cơn ác mộng đã qua. Và cuối cùng, cô sẽ quên rằng cô từng gặp Ian Randall.
Allan Harris, luật sư của Cecilia bước vào phòng giải lao bên ngoài phòng xử ấn hạt Kitsap. Cô thấy anh nhìn quanh cho tới lúc bắt gặp cô. Anh giơ tay ra chào rồi bước tới chỗ cái ghế gỗ nơi cô đang ngồi và ngồi vào chỗ trống bên cạnh.
“Hãy cho tôi biết chuyện gì sẽ xảy ra”, cô hỏi bởi muốn chắc chắn rằng cuộc đời mnhf sẽ thay đổi, chí ít cũng trở về gần như cách đây một năm. Allan đặt chiếc va li của anh lên đùi. “Chúng ta hãy chờ tới khi thông báo. Thẩm phán sẽ hỏi xem chúng ta đã sẵn sàng chưa. Tôi sẽ nói là chúng ta đã sẵn sàng và chúng ta sẽ được cấp số.” Cecilia lặng người đi, cô chậm rãi gật đầu.
“Chúng ta có thể được cấp một con số bất kỳ giữa số một và số năm mươi”, luật sư của cô tiếp tục. “Rồi chúng ta đợi đến lượt mình.”
Cecilia lại gật đầu và cô hy vọng sẽ không bị kẹt ở tòa án cả ngày trời. Phải ở đây đã là tệ lắm rồi, tệ hơn nữa là cả Ian cũng có mặt. Cô vẫn chưa nhìn thấy anh. Có thể là anh đang gặp gỡ luật sư của mình ở đâu đó để bàn về chiến lược – cô không muốn anh chống lại việc ly dị. “Sẽ không có vấn đề gì chứ?”. Lòng bàn tay cô ẩm ướt và trán lạnh toát mồ hôi. Cô muốn sự việc này nhanh chóng kết thúc để cô có thể sắp xếp cuộc sống của mình. Cô tin là chỉ khi đã hoàn tất thủ tục ly hôn, cô mới có thể làm được điều gì đó. Và chỉ đến khi đó, nỗi đau đớn trong cô mới dần tan biến.
“Tôi không thấy có gì vướng mắc, đặc biệt là khi cô đã đồng ý chia sẽ tất cả các khoản nợ”. Allan hơi nhíu mày. “Năm trước cô đã ký thỏa thuận”. Cecilia cmar thấy hơi nhói đau ở bụng và cô ôm cái túi vào lòng thật chặt. Cô tự nhủ, chẳng bao lâu nữa, chẳng bao lâu nữa cô có thể bước ra khỏi những cánh cửa này và bắt đầu một cuộc sống mới.
“Đó là một thỏa thuận hơi…bất thường”,  Allan lẩm bẩm. Nghĩ lại, thỏa thuận đó lại là một phần của rất nhiều sai lầm mà cô đã mắc phải trong năm ngoái, nhưng theo luật sư, cô có thể dễ dàng sửa lại. Trở lại thời gian một năm trước, việc ký thỏa thuận này của họ đã rất có ý nghĩa. Để cố gắng chứng mình lòng chân thành, họ đi đến một thống nhất là người nào muốn ly dị thì sẽ phải thanh toán không chỉ chi phí tại tòa mà còn phải trang trải tất cả nợ nần trong suốt quá trình hai người chung sống. Bản thỏa thuận này có thể được xem như một cách trừng phạt hoặc ngăn cản việc ly hôn, nhưng giờ đây nó đã gây ra nhiều phiền toái hơn. Cecilia tự trách mình đã ký vào bản thỏa thuận ấy. Lúc ký nó, cô muốn chắc chắn rằng Ian không lấy cô vì bắt buộc.
Vâng, có thai là chuyện ngoài kế hoạch, nhưng cô sẽ sẵn sàng và thoải mái khi tự mình nuôi nấng đứa con. Cô thích điều này hơn là bị mắc kẹt trong một cuộc hôn nhân bất hạnh – hoặc bắt Ian phải ở trong một mối quan hệ mà anh không muốn.
Tuy nhiên, Ian rất kiên quyết. Anh đã thề rằng anh yêu cô, yêu đứa con chưa ra đời của họ và muốn cưới cô.
Lúc lên mười tuổi, cả thế giới của Cecilia tan nát khi cha mẹ cô ly dị. Cô không muốn làm thế với chính đứa con của mình. Trong suy nghĩ của cô, hôn nhân là vĩnh viễn, vì vậy, cô muốn họ phải xác định rõ ràng trước khi cam kết sống với nhau cả đời. Giờ thì cô nghĩ là mình thật ngây thơ. Thật ủy mị. Thật lãng mạn. Ian cũng nói rằng anh muốn cuộc hôn nhân của họ sẽ là mãi mãi nhưng một năm vừa qua, đã cho thấy điều đó chỉ là ảo ảnh mà thôi. Anh nói Cecilia cần tin anh, tin vào sức mạnh của tình yêu, tin rằng tình yêu đó sẽ giúp cô vượt qua đớn đau.
Cuối cùng, mờ mắt trước niềm tin vào một người chồng sẽ hoàn toàn gắn bó với mình và hy vọng vào một cuộc sống hạnh phúc, Cecilia đã kết hôn  - với một quy định. Đó là một thỏa thuận. Vì nghĩ rằng cuộc hôn nhân của mình sẽ kéo dài đến chừng nào cả hai còn tồn tại, nên họ soạn ra một thỏa thuận nhằm giúp cả hai cùng giữ đúng lời thề hẹn của mình. Trước hôn lễ, họ soạn xong bản hợp đồng và đem đi công chứng. Cô đã quên khấy bản hợp đồng này và đến khi hẹn gặp Allan Harris, anh hỏi trước đám cưới có ký thỏa thuận nào không, cô mới nhớ. Rõ ràng đó không phải là loại tài liệu chauanr, nhưng Allan cho rằng họ vẫn cần đưa nó ra cho tòa xem xét.
Cuộc hôn nhân của cô đáng ra sẽ không kết thúc thế này, nhưng sau khi đứa con qua đời, dường như mọi thứ đều bị vỡ nát. Nỗi mất mát đã xóa nhòa tình yêu mãnh liệt của hai người. Đáng ra đứa trẻ không chết – dù là đẻ non. Mọi cảm giác về sự công bằng và đúng đắn dường như biến mất khỏi thế giới của Cecilia. Cuộc hôn nhân vốn giúp cô duy trì cuộc sống lại trở thành cội nguồn của tội lỗi và đau khổ. Kinh nghiệm đã dạy cô rằng cô chỉ nên sống một mình.
Cô không thể nghĩ về chuyện này thêm một chút nào nữa. Cô buộc mình hướng suy nghĩ vào việc khác.
Các luật sư đang tụ tập bàn bạc với thân chủ của mình, và cô nhìn quanh, hy vọng tìm thấy Ian. Cô cố gồng mình lên để sẵn sàng với cuộc đối đầu không thể tránh khỏi này. Trong bốn tháng qua, cô không hề nhìn thấy hay nói chuyện với anh mặc dù luật sư của họ thường xuyên liên lạc với nhau. Cô ngạc nhiên không biết liệu có phải tất cả những người này đều ở đây vì những lý do buồn chán như nhau không? Hẳn phải như vậy rồi. Nếu không thì ai ra tòa làm gì chứ? Không thực hiện lời hứa, không đúng thỏa thuận. Và rất nhiều nguyên nhân khác.
“Thẩm phán Lockhart sẽ xử vụ của chúng ta”, Allan cắt ngang dòng suy nghĩ của cô.
“Bà ta là người thế nào?”
“Chị ấy rất công bằng.”
Cecilia chỉ cần có thế. “Đây chỉ là một nghi thức phải không?”
“Phải rồi”. Allan mỉm cười động viên cô.
Cô xem đồng hồ. Kết luận của tòa dự kiến sẽ được công bố vào lúc chín giờ và chỉ còn năm phút nữa. Ian vẫn chưa có mặt ở đây.
“Nếu như Ian không tới thì sao?”, cô hỏi/
“Thì chúng ta sẽ đề nghị kéo dài thêm.”
“Ồ”. Đừng có trì hoãn thêm nữa, cô thầm cầu nguyện.
“Anh ấy sẽ đến.” Allan khẳng định. Brad bảo tôi rằng Ian cũng muốn sớm kết thúc như cô thôi”
Tim cô lại nhói đau. Điều này sẽ rất dễ dàng thôi, cô tự nhủ để trấn an mình.
Cô đã trải qua phần khó khăn nhất – sự cô đơn và đau đớn, sự khổ sở và thất vọng về một cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Tòa xử chỉ là hình thức. Allan đã nói vậy. Chừng nào hủy bỏ được thỏa thuận đó, vụ ly dị này sẽ nhanh chóng được giải quyết và cơn ác mộng sẽ lùi lại phía sau cô.
Rồi Ian xuất hiện.
Cecilia cảm nhận thấy sự hiện diện ấy trước khi nhìn thấy anh. Cô cảm nhận được cái nhìn của anh lúc anh lên cầu thang và vào phòng giải lao. Cô quay lại. Ánh mắt họ bất chợt gặp nhau rồi cả hai vội vã quay đi.
Gần như đúng lúc anh đến thì cửa phòng xử án bật mở. Mọi người đứng dậy, hối hả tràn vào trong bất chấp mọi lời giải thích. Allan bước bên cạnh Cecilia qua cánh cửa đó. Ian và luật sư của anh theo sau. Họ ngồi ở phía đối diện của phòng xử.
Ngay lập tức, chấp hành viên bắt đầu đọc tên những người tham dự phiên tòa. Mỗi khi đọc đến ai thì người đó trả lời và ký nhận số. Mọi việc diễn ra nhanh đến mức Cecilia gần như không nghe thấy chính tên mình.
“Radall”.
Đến lượt mình, cả Allan Harris và Brad Dumas đều trả lời rất to. Cecilia không nghe thấy số của họ.
Khi Allan ngồi xuống cạnh cô, anh viết con số ba mươi lên tờ giấy vàng.
“Ba mươi?”, cô thì thầm, ngạc nhiên khi nhận ra rằng trước cô người ta đã xử hai mươi chín vụ.
Anh gật đầu. “Đừng lo, sẽ nhanh thôi mà. Có lẽ chúng ta sẽ ra khỏi đây trước mười một giờ, Tùy vào việc tòa quyết thế nào”.
“Tôi có phải ở đây không?”
“Không cần thiết. Cô có thể chờ bên ngoài nếu cô muốn.”
Cô chọn phương án chờ. Căn phòng tạo ra cảm giác ức chế không thể chịu nổi. Cô đứng dậy, ra khỏi phòng xử và vội vã bước vào căn phòng trống như muốn trốn chạy.
Chỉ còn hai bước trước khi bước vào phòng nghỉ, cô sững lại – chỉ để tránh không đâm sầm vào Ian.
Cả hai đều chôn chân tại chỗ, họ trân trối nhìn nhau. Cecilia chẳng biết nói gì; Ian cũng vậy. Trông anh rất đẹp trai trong chiếc áo xanh hải quân, điều này khiến cô nhớ lại lần đầu tiên gặp gỡ. Anh cao, dáng người thon chắc và có đôi mắt xanh mê hoặc nhất mà cô đã từng thấy. Cecilia nghĩ rằng nếu Allison Marie còn sống, hẳn con bé cũng sẽ có đôi mắt giống bố.
“Sắp xong rồi.” Ian hạ giọng nói và cố giấu cảm xúc của mình.
“Vâng”, cô đáp lại. Sau một thoáng im lặng, cô nói thêm. “Em không đi theo anh ra đây”. Cô muốn anh biết điều đó.
“anh cũng đoán vậy”.
“Em cảm giác như những bức tường đang khép lại với em”.
Anh chẳng nói gì và thả mình xuống một trong những chiếc ghế gỗ chạy dọc tường bên ngoài phòng xử. Anh cúi về phía trước, tay ôm lấy gối. Cô ngồi ở đầu kia của ghế, cảm thấy cực kỳ khó chịu. những người khác rời khỏi phòng xử đông đúc. Họ biến mất hoặc tìm một góc khuất để trao đổi với luật sư của mình. Tiếng thì thào của họ vọng vào tường đá.
“Anh biết là em chẳng tin anh nhưng anh xin lỗi đã để sự việc đến thế này,” Ian bảo cô.
“Em cũng vậy”. Rồi cô nói với anh, “nhưng cần phải thế”.
“Anh đồng ý với em”. Anh ngồi thẳng dậy, khoanh tay trước ngực, lưng anh thẳng tắp. Anh chẳng hề nhìn lại cô.
Tệ thật – cả hai lại ngồi đây trong hoàn cảnh này. Nhưng nếu như anh có thể giả vờ là cô không ở đó thì cô cũng có thể làm tương tự. Mệt mỏi, cô tựa lưng vào ghế. Sẽ phải chờ lâu đây.
 
“Chào ông”, Charlote Jefferson vui vẻ chào khi bước vào căn phòng riêng ở Trung tâm An dưỡng vịnh Cedar.
“Tôi biết ông là người mới đến.” Ông già tóc bạc trắng vươn người ra từ trong xe lăn và nhìn bà bằng đôi mắt nâu. Mặc dù tuổi cao và bệnh tật nhưng bà vẫn có thể nhận ra đây từng là một người đàn ông đẹp trai. Dáng người ông không thể lẫn vào đâu được.
“Ông không cần trả lời đâu”, bà bảo ông. “Tôi biết ông là một bệnh nhân đột quỵ. Tôi chỉ muốn tự giới thiệu. Tôi là Charlotte Jefferson. Tôi ghé qua đây để xem có thể giúp gì dược ông thôi”.
Ông chậm rãi ngước lên nhìn bà rồi cố hết sức lắc đầu.
“Ông không cần phải nói tên. Tôi đã đọc ngoài cửa rồi. Ông là Thomas Harding”, bà ngừng lại.
“Janet Lester – người phục vụ ở đây đã nhắc tới ông cách đây vài ngày. Tôi rất thích cái tên Thomas”, bà vui vẻ. “Tôi đoán bạn bè gọi ông là Tom”.
Một nụ cười yếu ớt hiện ra chứng tỏ bà đã đoán đúng.
“Là tôi nghĩ vậy thôi”. Charlotte không có ý tự đề cao, nhưng bà biết chắc chắn cái cảm giác một mình đến thành phố lạ, lại chẳng quen biết ai, thì một trái tim đơn lẻ sẽ rất cô đơn. “Tôi có người bạn thân ở đây đã nhiều năm và thứ năm tuần nào tôi cũng đến thăm bà ấy. Nó đã trở thành một thói quen. Đến mức sau khi Barbara lên thiên đàng, tôi vẫn tiếp tục thói quen ấy. Tuần trước, Janet bảo tôi là ông vừa tới. Vì vậy tôi quyết định hôm nay tới đây để giới thiệu bản thân mình với ông”.
Ông cố nhấc tay phải của mình mà không được.
“Ông muốn lấy gì để tôi giúp ông?” bà ân cần hỏi.
Ông lại lắc đầu rồi run rẩy chỉ vào cái ghế đối diện với ông.
“À, tôi hiểu rồi. Ông đang muốn bảo tôi ngồi xuống”.
Ông cố mỉm cười, mặc dù rất khó khăn.
“Vâng. Mấy con chó này đang sủa đấy”.
Bà nói đùa một cách hài hước, rồi ngồi xuống ghế và chỉ vào đế giày của mình nơi phát ra những tiếng kêu cót két.
Tom theo dõi bà, mắt ánh lên vẻ thích thú.
“Tôi đoán ông muốn biết một chút về vịnh Cedar. Ơn Chúa là ông được chuyển đến đây. Janet bảo ban đầu ông đề nghị được chuyển đến vịnh Cedar nhưng lại bị đưa đến Trung tâm ở Seattle. Tôi đã nghe về những gì xảy ra ở đó. Tôi chỉ có thể nói là thật đáng xấu hổ”.
Theo Janet, Trung tâm An dưỡng trước của Tom đã bị đóng cửa vì một số vi phạm nghiêm trọng. Các bệnh nhân, hầu hết là những người được bảo trợ, đã được chuyển đến một số đơn vị chăm sóc nằm rải rác ở Oa-sinh-tơn.
“Tôi rất mừng vì ông đã đến vịnh Cedar này – đó là một thị trấn nhỏ rất thú vị Tom à”, bà cố nhắc đến tên ông. Bà muốn ông có cảm giác mình được công nhận. Ông đã phải chịu đựng một thời gian ở cơ sở điều trị không đạt tiêu chuẩn. Thực ra, Janet đã bảo bà rằng đội ngũ nhân viên ở đó rất tắc trách. Charlotte thấy giật mình, bà không thể hiểu nổi điều đó. Không thể tưởng tượng được người ta lại có thể đối xủa tồi tệ với một người dễ bị tổn thương như Tom. Không thể tưởng tượng được người ta lại có thể sao nhãng với ông, để ông nằm cả ngày trên một cái giường bẩn thỉu và chẳng ai nói chuyện cho ông khuây khỏa.
“Từ đây, ông có thể ngắm bến du thuyền”, bà nói hết sức nhiệt tình. “Chúng tôi rất tự hào về bến cảng này. Mùa hè, sẽ có một lễ hội tuyệt vời. Còn tất cả các ngày thứ bảy lúc nào cũng vậy khu “Hội chợ nông dân” gần thư viện kín đặc xe đỗ. Thuyền đánh cá neo đầy cầu tàu để bán hàng. Ôi! Tôm ở kênh đào Hood khi còn tươi rói trên thuyền ngon cực kỳ! Chẳng thể có gì sánh được!”
Thấy Tom có vẻ đang lắng nghe, bà dấn thêm: “Nào! Tôi biết bắt đầu kể từ đâu cho ông nghe về vịnh Cedar nhỉ!”, bà có vẻ hơi lúng túng. “Đây là một thị trấn nhỏ. Dân số có lẽ chưa đến năm nghìn người. Chồng tôi, Clyde, và tôi đều đến từ vùng Yakiama ở phía Đông của bàng này và chúng tôi chuyển đến đây sau chiến tranh Thế giới thứ hai. Lúc đó, vịnh Cedar là nơi duy nhất trong hạt có đèn giao thông. Đó là cách đây năm mươi năm”. Năm mươi năm rồi. Sao ngần ấy thời gian có thể trôi qua nhanh thế nhỉ?
“Vịnh Cedar đã thay đổi đôi chút nhưng vẫn giữ được những nét đẹp ban đầu”, bà nói. “Rất nhiều người ở đây làm việc cho xưởng đóng tàu Bremerton từ những năm bốn mươi. Và lẽ dĩ nhiên, nghành hải quân có tác động lớn lên kinh tế của thị trấn.
Hẳn là Tom cũng đoán thế khi xưởng đóng tàu Bremerton của Hải quân nằm phía bên kia cũng đoán thế khi xưởng đóng tàu Bremerton của Hải quân nằm phía bên kia của vịnh. Hàng loạt tàu hàng không mẫu hạm (1) khổng lồ xếp hàng ở bến cảng và cả các dãy tàu ngầm nữa chứ. Những chiếc tàu ngầm hạt nhân đỗ ở khu tàu ngầm ngoài khơi Bangor. Vào những ngày trời u ám, đội tàu nhỏ màu xám như hòa quyện với màu đen xám của bầu trời.
Tom để tay phải lên trái tim mình.
“Ông từng ở trong quân đội à?” Bà hỏi/
Người đàn ông yếu ớt gật đầu.
“Chúa ban phước cho ông”, Charlotte thốt lên. “Người ta bảo rằng chúng ta là thế hệ vĩ đại nhất khi đã sống qua thời kỳ suy thoái và chiến tranh. Và ông biết không? Họ nói đúng. Giới trẻ ngày nay chẳng biết ý nghĩa của từ hy sinh là gì. Chúng có mọi thứ quá dễ dàng, nhưng mà này, đó chỉ là quan điểm của tôi thôi”.
Mắt Tom mở to và Charlotte có thể nhận ra là ông đồng ý với bà.
Không muốn lạc chủ đề, bà ngừng lại, cắn môi dưới. “Bây giờ, tôi có thể kể gì với ông nữa nhỉ?” , bà lẩm bẩm: “À, có điều này rất hay, thể thao ở vịnh Cedar rất mạnh. Mùa thu, vào các tối thứ sáu, nửa thị trấn tham gia vào các trận bóng của trường trung học. Thời điểm nảy trong năm là mùa chơi bóng rổ. Cách đây hai năm, đội bóng của vịnh đã giành được giải Quán quân toàn bang đấy. Cháu trai lớn nhất của tôi…”. Bà ngập ngừng và nhìn xa xăm, chìm vào dòng suy nghĩ: “Jordan rất có triển vọng  để trở thành một cầu thủ bóng chày giỏi, nhưng nó bị chết đuối cách đây mười lăm năm”. Bà không biết điều gì khiến bà nhớ tới Jordan và bà ước gì mình đừng cảm thấy nhớ nó đến thế. Một nỗi buồn quen thuộc xâm chiếm trái tim bà: “Tôi không nghĩ là tôi có thể quên cái chết của thằng bé”.
Tom yếu ớt vươn về phía bà như thể muốn đặt tay lên tay bà.
Đó là một hành động đầy thiện chí. “Tôi xin lỗi,” bà thì thầm. “Tôi không cố ý nói về chuyện này. Con gái tôi sống ở vịnh Cedar”, bà cố tỏ ra vui vẻ trở lại. “Nó là một thẩm phán – thẩm phán Olivia Lockhart -  và tôi rất tự hào về nó. Khi còn nhỏ, Olivia gầy giơ xương, nhưng lớn lên nó lại cao lớn. Ngạc nhiên thật. Bây giờ hơn năm mươi tuổi rồi và nó vẫn làm công việc lao động trí óc. Chỉ nhìn nó thôi ai cũng có thể nhận ra nó là người quan trọng. Đó là con gái tôi, một thẩm phán. Nhưng với tôi, nó luôn là cô bé mắt nâu nhỏ bé. Tôi rất thích ngồi trong phòng lúc nó xử án”. Bà lắc đầu. “Thế là tôi đang nói về bản thân tôi chứ đâu phải vịnh Cedar”. Nếu có người hỏi để bà trả lời, Charlotte sẽ thấy dễ dàng hơn nhiều, nhưng thật không may là Tom lại không thể hỏi được. “Chúng ta chỉ cách thành phố Seattle một chuyến phà nhưng chúng ta lại là một cộng đồng ở nông thôn. Tôi sống trong thị trấn là thật nhưng vẫn có rất nhiều người nuôi gà và ngựa. Tất nhiên, đó là ở ngoại ô”.
Tom nhìn về phía bà gật đầu.
“Ông đang hỏi tôi à?”
Nụ cười của ông cho bà biết là bà đã đoán đúng. Charlotte mỉm cười hơi bối rối. Bà đưa tay lên đầu vuốt ve những lọn tóc xoăn mềm mại. Bảy mươi hai tuổi, mái tóc bà đã trắng xóa. Nhưng chính mái tóc ấy lại rất hợp với bà. Gương mặt bà ít nếp nhăn; bà vẫn tự hào về nước da của mình – phải chăng bà là một người phụ nữ hơi tự mãn?
“Tôi là một phụ nữ góa chồng”, bà bắt đầu “Clyde mất đã gần hai mươi năm. Ông ấy chết trẻ quá, vì bị ung thư”. Mắt bà nhìn xuống. “Ông ấy làm việc ở xưởng đóng tàu của hải quân. Chúng tôi có hai đứa con, William và Olivia. Ông biết đấy, Olivia là thẩm phán. William thì làm trong nghành năm lượng và đi khắp nơi trên thế giới. Olivia đã lấy chồng và định cư ngay ở vịnh Cedar này. Con gái nó cũng học cùng tường Trung học với nó. Nhà trường treo ảnh các khóa tốt nghiệp hàng năm lên tường, nên nhìn lại những gương mặt trẻ đang tươi cười đó rồi nhìn lại chúng khi đã có tuổi khá là thú vị”. Charlotte trở nên trầm ngâm.
“Justine cũng có ảnh ở đó. Nó là chị em sinh đôi với Jordan và, ôi, tôi thấy lo lắng về con bé. Bây giờ nó hai mươi tám tuổi và đang hẹn hò một người đàn ông đứng tuổi mà cả tôi và mẹ con bé đều không thấy tin tưởng”.
Charlotte dừng lại không nói gì thêm. “James là con út của Olivia và nó đang ở trong nghành Hải quân. Tất cả chúng tôi đều sốc khi nó ghi danh vào nghành này. William và vợ nó thì quyết định không sinh con và thỉnh thoảng tôi lại tự hỏi không biết bây giờ chúng có tiếc nuối không. Tôi nghĩ William thì có nhưng Georgia thì không”. Mặc dù cả hai người con đều đã bước sang tuổi năm mươi nhưng Charlotte vẫn thấy lo lắng. Mắt Tom đang nhắm lại bỗng mở choàng ra.
“Ông mệt rồi”, Charlotte chợt nhận ra là bà đang nói về nỗi lo lắng đối với con cái và các cháu mình nhiều hơn là miêu tả cho Tom biết về vịnh Cedar.
Ông lắc nhẹ đầu như thể không muốn bà rời khỏi đó.
Charlotte đứng dậy và đặt tay lên vai ông.
“Tom, tôi sẽ trở lại thăm ông sớm. Ông nên ngủ đi. Hơn nữa cũng đến giờ tôi nên đến tòa án rồi. Sáng nay Olivia có phiên tòa và tôi sắp đan xong một cái chăn cho trẻ con.” Biết là mình nên giải thích, bà nói thêm. “Ở tòa án, tôi đan hiệu quả nhất. Tờ Bản tin vùng vịnh Cedar đã viết một bài về tôi cách đây hai năm và chụp cả hình tôi nữa đấy. Trong bức ảnh đó, tôi đang ngồi ở tòa với đôi kim đan và cuộn len. Tôi nhớ rồi, nếu ông thích nghe tin tức, mỗi lần đến chơi tôi sẽ mang theo báo địa phương và đọc cho ông nghe. Tuần này, tôi chỉ có số báo ra ngày thứ tư. Tờ báo này mới được phát hành và người ta mới chỉ tìm được một biên tập viên. Họ phát hành hai số một tuần. Ông thấy hay không?”
Tom mỉm cười.
“Đây là một thị trấn nhỏ đáng yêu”, Charlotte nói cúi xuống đặt tay lên tay ông. “Ông sẽ rất thích nơi này”.
Bà đi ra ngoài cửa và nhận thấy người bạn mới của mình không có lấy một vạt áo choàng. Những căn phòng này quá lạnh, đặc biệt là trong suốt mùa đông khắc nghiệt ở vịnh Cedar. Người đàn ông này sẽ thật buồn nếu chẳng có ai quan tâm xem ông có được thoải mái không.
“Tôi sẽ sớm quay lại”, bà nhắc lại. Tom gật đầu cười hài lòng. Ôi, thời trai trẻ chắc chắn ông là một người đàn ông rất quyến rũ.
Khi bà bước ra cửa chính, Janet ngăn bà lại. “Bà đã tự giới thiệu mình với Tom Harding chưa?”
“Rồi. Thật là một người đàn ông đáng yêu”.
“Cháu biết bà sẽ nghĩ vậy mà. Bà chính xác là người ông ấy cần đấy.”
“Ông ấy không có gia đình à?”
“Trong hồ sơ của ông ấy không ghi. Ông ấy bị đột quỵ gần năm năm rồi và chẳng bao giờ có người đến thăm”. Cô ngừng lại, nhíu mày. “Nhưng cháu không biết chúng ta có thể tin tưởng được vào việc lưu giữ hồ sơ ở Trung tâm dưỡng lão Haven không”.
“Ông ấy đã ở đó bao lâu?”
Janet nhún vai. “Cháu không biết chính xác. Ít nhất là năm năm sau khi ông ấy ra viện”.
“Ôi, người đàn ông tội nghiệp. Ông ấy…”
“Ông ấy cần một người bạn”. Janet kết thúc câu nói hộ bà.
“Đúng, ông ấy đã tìm được một người bạn rồi”, Charlotte nói. Bà vẫn luôn là người biết nói chuyện. Clyde thường bảo rằng bà có khả năng làm bạn với cả bức tường. Ông nói vậy là có ý khen và bà vui vẻ nhận lời khen ấy của ông.
Ngẫm nghĩ một lúc, bà quyết định sẽ không để những người phụ nữ ở trung tâm đan áo choàng cho Tom nữa. Bà sẽ tự làm ngay sau khi đan xong chiếc chăn cho em bé. Lần vào thăm tới, bà sẽ có quà tặng ông, một thứ giúp ông ấm áp – chiếc áo choàng …và tình bạn của bà.
 
Thẩm phán Olivia Lockhart cũng gặp nhiều khó khăn trong các vụ xử ly hôn – công việc mà chị ít hứng thú nhất trong tòa án. Chị đã ngồi trên chiếc ghế quan tòa hai năm và đã chứng kiến rất nhiều câu chuyện, nhiều gương mặt đau khổ vì hôn nhân tan vỡ. Cũng có những vụ tương tự như vụ này.
Ian và Cecilia đang đề nghị hủy bỏ bản thỏa thuận viết tay đã được công chứng của họ. Ngay khi không còn bản thỏa thuận ấy, cuộc hôn nhân của họ sẽ chấm dứt. Luật sư ngồi ngay phía trước cô, bên cạnh thân chủ của họ.
Olivia nhìn hồ sơ và để ý thấy là nó được ghi ngày và ký cách đây chưa đầy một năm. Chị không thể hiểu nổi tại sao một cuộc hôn nhân lại có thể tan vỡ nhanh đến thế. Chị ngẩng lên và nhìn kỹ đôi vợ chồng. Họ còn trẻ quá và cả hai đều đang nhìn chăm chú xuống chân mình. Ian Randall có vẻ là một thanh niên có trách nhiệm, nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên anh xa nhà, xa gia đình để vào quân ngũ. Người vợ này là một người phụ nữ mong manh, gầy guộc với đôi mắt đen thẳm. Mái tóc nâu thẳng ôm lấy khuôn mặt hình trái tim và dài chấm vai. Chắc là do căng thẳng nên cô ta cứ quấn đi quấn lại lọn tóc ở cạnh tai.
“Tôi phải nói rằng đây là bản gốc”, Olivia lầm bẩm đọc lại vài dòng. Nội dung rất rõ ràng. Theo thỏa thuận này, một trong hai người vợ hoặc chồng nộp đơn xin ly hôn sẽ phải trang trải toàn bộ nợ nần.
Chắc chắn trái tim và tình cảm của họ đã thay đổi. Olivia liếc qua danh sách tóm tắt các khoản nợ tồn đọng và thấy rằng hai người đã chia đều. Tất nhiên, nếu cuộc hôn nhân này kéo dài hơn nữa, những khoản thế chấp, có lẽ là để trả tiền mua xe hơi chẳng hạn…Olivia cho rằng việc đó sẽ khiến cặp vợ chồng đang mâu thuẫn này tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân. Những khoản nợ này lên tới bảy nghìn đô la. Ian Randall chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ những hóa đơn sử dụng thẻ tín dụng; còn Cecilia Randall đã nhất trí là thanh toán toàn bộ những hóa đơn sử dụng dịch vụ, bao gồm một hóa đơn điện thoại ba trăm đô la và thật kỳ cục, cả một khoản hai trăm đô la cho một cửa hàng hoa. Chị nhận thấykhoản nợ lớn nhất là chi phía trả cho việc an táng và cả hai người đều thống nhất chia đều.
“Cả hai bên đều đi đến một thỏa thận liên quan đến các khoản nợ tích tụ trong thời gian hai người lấy nhau”, Allan Harris khẳng định.
Rõ ràng trong tình huống này, chỉ xem giấy tờ thôi là chưa đủ. “Trong gia đình có ai chết à?”, Olivia hỏi, và hướng về vị luật sư vừa nói.
Allan gật đầu. “Một đứa trẻ”.
Olivia nhói đau. “Tôi biết”.
“Con gái chúng tôi bị đẻ non và bị tim bẩm sinh”, Cecilia Randall nói chỉ đủ nghe. “Tên nó là Allison”.
“Allison Marie Randall”, anh chồng thủy thủ nói thêm. Olivia thấy hai vợ chồng họ liếc nhau. Cecilia quay đi nhưng Olivia vẫn kịp nhận ra nỗi đau đớn, giận dữ và buồn khổ trong ánh mắt của cô ta. Chị cảm nhận được điều đó vì chị cũng đã từng trải nghiệm những cảm xúc này khi cuộc hôn nhân của chính mình tan vỡ.
Cả hai tiếp tục chờ đợi quyết định của Olivia. Vì mọi thứ đều theo đúng trật tự và cả hai đều nhất trí nên chẳng có mấy lý do để trì hoãn quy trình xử án. Phiên tòa này đơn giản chỉ là một hình thức để họ có thể chấm dứt cuộc hôn nhân.
“Bảy nghìn đô la là khoản nợ khá lớn trong vòng vài tháng”, Olivia cố kéo dài thời gian chờ đợi của họ.
“Tôi đồng ý, thưa Quý tòa”, Brad Dumas nhanh chóng chen vào, nhưng cũng có trường hợp có tình tiết giảm nhẹ”. Olivia bắt gặp ánh mắt của mẹ mình ở trong phòng xử án. Bà thường ngồi ở hàng trước, luôn bận bịu với đôi kim đan và cuộn len. Nhưng lúc này Charlotte lại không đan nữa. Bà ngừng lại, những ngón tay bà xiết nhẹ đôi kim đan như thể bà cũng hiểu tầm quan trọng của những gì đang diễn ra.
Olivia ngập ngừng, điều này chẳng giống tác phong của chị chút nào. Chị vốn nổi tiếng là người nhanh nhẹn và quyết đoán. Những gì đôi vợ chồng này cần là một bàn tay dịu dàng và yêu thương để dẫn dắt họ vượt qua khổ đau. Kết thúc cuộc hôn nhân của họ chẳng giải quyết được vấn đề gì, kinh nghiệm cá nhân đã dạy Olivia như thế. Nếu vợ chồng nhà Randall kiên quyết ly dị, Oliva sẽ dọn giúp họ con đường một chiều để đến với đau khổ và tội lỗi. Bởi về mặt pháp lý, chị chẳng có lý do gì để hủy bỏ thỏa thận của họ. Nhưng…
“Tôi sẽ ngừng lại mười phút…để xem xét lại thỏa thuận này”, Olivia thông báo. Và rồi trong khi mọi người chưa kịp bàng hoàng, chị đã đứng dậy và đi về phía phòng mình. Sau lưng chị, mọi người vội vã đứng dậy và thì thào to nhỏ.
Olivia ngồi ở bàn, ngả lưng vào chiếc ghế da và nhắm mắt lại. Chị bất giác liên tưởng chuyện của bản thân mình với chuyện của Cecilia Randall. Cách đây mười lăm năm, Olivia đã mất đứa con trai lớn. Những năm tháng đó đã qua đi, nhưng nỗi đau về cái chết của Jordan chưa bao giờ phai nhạt và có lẽ cũng chẳng bao giờ có thể xóa nhòa trong chị. Mười hai tháng sau khi cậu con trai bị chết đuối, cả thế giới của Olivia tan vỡ. Đầu tiên là mất con, và sau đó là mất chồng. Mới đầu,những vấn đề nhỏ nhặt bắt đầu len lỏi vào vào cuộc sống hôn nhân của chị - chẳng có gì lớn lao, chẳng có gì quá sức hay không bình thường, chỉ là những căng thẳng đặc trưng mà bất cứ một cặp vợ chồng nào cùng đi làm và có ba đứa con cũng phải trải qua. Nhưng sau cái chết của Jordan, sự căng thẳng mâu thuẫn tăng lên gấp mười lần, tới mức không thể vượt qua được. Olivia chưa kịp đánh giá những gì họ đang làm thì đã chia tay. Không lâu sau đó, Olivia và Stan ra tòa, và thẩm phán đã chính thức chấp thuận cho họ ly hôn. Ba tháng sau, Stan khiến Olivia và mọi người sửng sốt vì anh ta đã tái hôn. Rõ ràng trước đó anh đã chia sẻ những vấn đề của mình với người phụ nữ kia và giữ bí mật mối quan hệ đó mà Olivia không hề hay biết.
Có tiếng gõ cửa, Olivia chưa kịp trả lời thì bà Charlotte đã bước vào. Olivia ngồi thẳng lên. Chị biết mẹ sẽ tận dụng cơ hội này để nói chuyện với mình. “Chào mẹ”.
“Mẹ không làm phiền con đấy chứ?”
Olivia lắc đầu. Charlotte biết rõ đối với bà, cánh cửa phòng con gái luôn rộng mở.
“Ôi, tốt rồi”. Ngay lập tức, Charlotte đi thẳng vào vấn đề. Thật đáng tiếc, cặp vợ chồng trẻ đó muốn thoát ra khỏi cuộc hôn nhân, vì họ hầu như không có cơ hội để hiểu nau”.
Olivia cũng nghĩ vậy.
“Mẹ cảm thấy chẳng ai trong số họ muốn ly hôn. Có thể mẹ sai, nhưng…
“Mẹ, mẹ biết là con không muốn bàn về trường hợp của con”.
“Ừ, mẹ biết, nhưng đôi khi mẹ cũng không thể giúp được chính mình.” Charlotte bắt đầu nhìn ra cửa; rõ ràng bà đã quyết định nói thật mọi chuyện. “Mẹ không biết mẹ từng nói với con chuyện này chưa, nhưng năm đầu tiên, mẹ và bố con cũng chẳng hòa hợp với nhau”.
Câu chuyện này hoàn toàn mới mẻ với Olivia.
“Clyde là người đàn ông cứng đầu cứng cổ và như con đã biết, mẹ cũng là người mạnh mẽ. Trong năm đầu tiên, bố mẹ toàn cãi nhau”, Charlotte kể. “Và rôi, mẹ chưa kịp hiểu thì đã mang thai anh con, và ừ…, bố mẹ đã hiểu ra mọi chuyện. Bố mẹ đã có nhiều năm hòa hợp với nhau”. Tay bà xiết chặt ví và cái túi đan. “Bố con là tình yêu của đời mẹ”. Dường như bà đã nói nhiều hơn những gì mình định nói. Charlotte bước ra khỏi phòng và nhẹ nhàng đóng cánh cửa phía sau lưng mình.
Olivia mỉm cười đứng dậy. Mẹ đã nói chính xác những gì chị cần nghe. Chị trở lại phòng xử, chị đã biết mình phải quyết định như thế nào. Ngay khi chị vừa ngồi xuống, vợ chồng nhà Randall và luật sư của họ tiến đến ghế của mình. Cecilia Randall bước về phía trước, mắt mở to nhìn chằm chằm một cách vô hồn vào khoảng không. Ian Randall thì cứng rắng và có vẻ không nao núng, như thể anh đã chuẩn bị trước để sẵn sàng.
“Tôi có thể khẳng định,” Olivia bắt đầu, “rằng các bên tham gia vào bản thỏa thuận này sau khi đã cân nhắc kỹ lưỡng vấn đề được đưa ra trước phiên tòa này – vấn đề ly hôn. Rõ ràng họ đã ký một bản thỏa thuận với giá trị lớn cho cuộc hôn nhân này và đó là một bản hợp đồng. Mục đích của họ là tránh hậu quả như hiện nay – ly hôn một cách dễ dàng. Vì vậy, tôi sẽ không đặt thỏa thuận này sang một bên và bỏ qua nó. Vấn đề này cần giải quyết ở tòa. Đồng thời, tôi đề nghị các bên nên đi tư vấn hoặc nộp đơn đề nghị lên Trung tâm giải quyết tranh chấp để làm rõ vấn đề này”. Cả hai vợ chồng và luật sư của họ đều tiến gần hơn như thể họ đã không nghe được chính xác những gì thẩm phán đang nói.
Allan Harris và Brad Dumas lập tức xem lại phần ghi chép của mình. Cảnh tượng thật tức cười khi hai luật sư vội vã đọc lại bản thỏa thuận tiền hôn nhân của thân chủ.
“xin lỗi, thưa Quý tòa”. Brad Dumas giơ tay lên phản ứng trước.
“Cả hai bên đều chấp thuận ký bản thỏa thuận này”, Allan Harris đưa ra lý lẽ.
“Ông Randall đã nhất trí gạt thỏa thuận sang một bên và sẵn sàng chia sẻ trách nhiệm nợ nần”.
“Bà thẩm phán nói gì?”. Cecilia Randall nhìn Allan Harris hỏi.
“Tôi muốn làm sáng tỏ, thưa Quý tòa,” Brad Duams có vẻ bối rối.
“Thỏa thuận đúng như trong văn bản, không có điều gì cần làm sáng tỏ nữa”, Olivia khẳng định.
“Tòa sẽ không quan tâm đến bản thỏa thuận chứ?” Allan Harris ngập ngừng hỏi. Anh có vẻ lúng túng.
“Không, các luật sư, tôi sẽ không đặt nó sang một bên vì những lý do tôi vừa nêu ra.”
Allan Harris và Brad Dumas chăm chú nhìn Olivia.
“Có vấn đề gì không, các quý ông?”
“À…”.
Olivia ra hiệu cho họ lui sang một bên. “Hãy gặp thư ký và lên kế hoạch vào một ngày xử khác”.
“Điều này có nghĩa là chúng ta không thể xử ly hôn vụ này?”, Cecilia hỏi luật sư của cô.
“Anh cũng muốn ly hôn như em”, Ian Randall khăng khăng.
Olivia gõ búa. “Không tranh cãi trước tòa”, chị nhắc. Nếu cặp vợ chồng này muốn tranh cãi, họ có thể làm điều đó ở chỗ khác.
Allan Harris và Brad Dumas cầm giấy tờ và va-li lên rồi đi như thể họ đang bị sốc một cách nặng nề.
“Có phương án nào khác không?” Cecilia Randall hỏi Allan Harris khi họ bước ra phía cửa.
“Chúng ta có thể kháng cáo, nhưng…”
“Nhưng như thế lệ phí càng cao”, Ian đứng ngay phía sau luật sư của anh và phản đối. Rõ ràng Brad vẫn còn chết điếng chưa thể mở miệng được.
“Tôi không hiểu những gì đang diễn ra”, Cecilia lẩm bẩm ngay khi cô ra tới cửa phòng xử.
“Chúng ta không thể làm gì đó sao?”
“Thẩm phán đã nói rằng chúng ta phải đưa việc này ra trước tòa?”. Ian Randall có vẻ hoài nghi. “Việc này sẽ tốn kém đến thế nào nhỉ?”
“Rất tốn đấy”. Allan Harris trả lời ngay như thể rất thích thú khi nắm thóp được chồng của thân chủ mình.
“Nhưng đó không phải là những gì tôi muốn”, Cecilia thốt lên.
“Vậy tôi gợi ý cô nên làm những gì thẩm phán đã nêu ra. Cô hãy đi tư vấn hoặc liên lạc với Trung tâm giải quyết tranh chấp”.
“Tôi sẽ không đưa vấn đề của mình ra trước một đám người lạ”.
Ian Randall vừa nói vừa bước ra khỏi tòa án. Brad Dumas bước theo thân chủ mình nhưng không quên ném về phía Olivia một cái nhìn khó chịu.
Allan Harris thì đứng đó lắc đầu, anh có vẻ hoài nghi.
Vị chấp hành viên đọc con số tiếp theo và Allan vẫn đứng như trời trồng ở đó.
Cecilia quay đi, nhưng không kịp giấu nước mắt đang giàn dụa. Olivia cảm thấy hơi nhói con tim, và chị tin là mình đã hành động đúng.
“Sao có thể thế được?” Cecilia hỏi.
“Tôi không hiểu”. Olivia nghe thấy Allan Harris lẩm bẩm. “Kỳ cục thật”
Cecilia Randall lắc đầu. “Anh nói đúng”. Cô nói khẽ và nhún vai,  thu mình trong chiếc áo choàng. “Những điều như thế này không nên xảy ra, nhưng nó xảy ra rồi đấy thôi”.
 
 
(1)              Là chiếc tàu được thiết kế để triển khai và thu hồi lại máy bay, có vai trò như một căn cứ không quân trên biển. Nó còn được gọi là tàu sân bay.
Chipmuck
snow_2101@yahoo.com
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-06-19 10:30:40Ct.Ly>
Truyện

Đâu phải vì yêu
Tác giả: Debbie Macomber


Đang cần các bạn đánh máy giúp

Xin các bạn nên ghi lại địa chỉ email  , để dễ gửi bản scan đến các bạn

Cảm ơn các bạn

Nhím nhimstyle10389 = đã gửi
0
Theo mình ai nhận chương nào thì nên đăng ký để đỡ gõ trùng nhau. Không lại mất công.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-06-20 16:27:33nhimstyle10389>
Tiếp phần 1 ( từ trang 48 đến trang 67 )


Jack đợi cho đến khi người phục vụ đi rồi mới nói. “ Tôi chỉ muốn cô hiểu ý tôi - tôi ngưỡng mộ hành động của cô tuần trước. Không dễ chút nào đâu ”. Olivia nhắc lại rằng chị không thể bàn luận về những vụ xử ở tòa của mình, nhưng Jack ngăn chị lại và lắc đầu. “ Tôi biết. Tôi biết rồi. Nhưng theo tôi, cô đã có một quyết định sáng suốt và tôi không thể bỏ qua điều đó ”.
Olivia sẽ thích hơn nếu Jack không phơi những ý kiến của mình lên mặt báo để cho cả thị trấn bàn bạc. Tuy nhiên, chị chẳng thể nói gì hay làm gì để thay đổi những điều người ta đã đọc được sáng nay.
“ Anh ở vịnh Cedar bao lâu rồi? ” , chị hỏi.
“ Ba tháng ”, anh trả lời. “ Cô cố tình muốn đánh trống lảng phải không? ”.
Olivia cười. “ Chắc chắn rồi ”, chị đáp. “ Vậy anh có một cậu con trai à? ”.
“ Eric. Nó hai mươi sáu tuổi và sống ở Seattle. Lúc lên mười tuổi, các bác sĩ chuẩn đoán nó bị một bệnh ung thư xương dạng hiếm. Chẳng ai nghĩ là nó sống được... ”. Mặt anh ạm lại trước ký ức buồn.
“ Nhưng cháu vẫn sống ”, Olivia tiếp lời anh.
Jack gật đầu. “ Nó vẫn sống và mạnh khỏe, tôi rất lấy làm mừng vì điều đó ”. Anh tiếp tục kể rằng Eric làm việc cho hãng Microsoft và đang làm việc rất tốt. Bất chợt, Olivia nhìn xuống ngón tay đeo nhẫn của anh. Jack chỉ nhắc đến con rai chứ không nhắc đến vợ anh.
Rõ ràng anh không để ý thấy cái liếc rất nhanh của chị. “ Eric đã sống sót dù mắc bệnh ung thư ”, anh nói, “ nhưng thật không may, cuộc hôn nhân của tôi thì không ”.
Vậy là anh đã hiểu ở một mức đồ khá chi tiết về những gì xảy ra trong cuộc đời chị. “ Tôi rất tiếc ”.
Anh nhún vai. “ Cách đây lâu lắm rồi. Cuộc sống vẫn tiếp diễn và tôi cũng vậy. Cô cũng ly hôn rồi à? ”.
Mặc dù anh hỏi, nhưng Olivia hiểu rằng anh đã thừa biết câu trả lời.
“ Cách đây mười lăm năm ”.
Sau đó câu chuyện diễn ra chân tình, Olivia thậm chí chưa kịp nhận ra điều đó thì đã phỉa về để ăn trưa với mẹ. Với lấy chiếc ví, chị đứng dậy và đưa tay ra cho Jack.
“ Tôi rất vui được biết anh ”.
Anh đứng dậy, để tay người phụ nữ trong lòng bàn tay mình. “ Cả tôi cũng vậy, Olivia ”. Anh xiết nhẹ những ngón tay chị như thể giữa họ đã có một mối quan hệ sâu sắc. Hôm nay, trước lúc họ gặp nhau, Olivia còn rất tức giận, nhưng Jack đã tìm cách hạ hỏa cho chị. Lúc bước ra cửa, Olivia cảm thấy mình đã có một người bạn. Chị cảm thấy rất rõ rằng Jack Griffin không phải là một người đàn ông bình thường. Và chị biết mình sẽ không sai lầm mà đánh giá thấp anh.
Ian Randall ngồi trong xe bên ngoài khu chung cư vợ anh ở, nghĩ về những gì sẽ phải đối mặt. Thẩm phán đã kết luận rằng sẽ không hủy bỏ thỏa thuận đó. Giờ thì sao đây? Cecilia là người muốn ly hôn. Cô cũng là người đầu tiên thuê luật sư. Khỉ thật, cô đã nhét ý tưởng ngốc nghếch đó vào anh. Cô muốn thoát ra. Được thôi. Nếu cô không muốn ở bên anh nữa, thì anh sẽ chawrg việc gì phải cố gắng làm chồng của cô. Nhưng giờ đây muốn chấm dứt cuộc hôn nhân này cũng không xong nổi. Tất cả chỉ vì họ đã làm một bản thỏa thuận nhằm bảo vệ những lời ước hẹn khi cưới nhau. Phải quyết định thôi. Chẳng chờ đợi thêm làm gì nữa. Anh ra khỏi xe và chầm chậm đi vào khu nhà, tiến đến căn hộ tầng một nơi họ từng chung sống.
Ian thấy bực mình khi anh phải bấm chuông nơi từng là nhà của mình. Sau khi ly thân, anh đã phải chuyển đi. May mà bạn anh, Andrew Lackey đã cho Ian để một số đồ ở nhà anh ta. Anh cố nuốt giận. Thả tay ra khỏi núm chuông, anh lùi lại một bước và so vai. Anh dồn nén cảm xúc theo cách đã từng được dạy trong các khóa huấn luyện cơ bản. Anh không muốn để Cecilia nhận thấy bất kỳ suy nghĩ hay cảm xúc nào của mình.
Vợ anh mở cửa, cô nhíu mày khi thấy anh đang đứng đó.
“ Anh nghĩ chúng ta nên đi đến một quyết định ”, Ian nói bằng giọng dứt khoát. Mặc dù đã nhiều lần tự nhủ rằng không nên để cô thấy mình xúc động, nhưng anh vẫn không thể, Anh không thể đứng cùng cô trong căn phòng mà lại quên cảm giác họ từng làm tình với nhau thế nào hay cảm giác khi đứa con đầu tiên của họ dần lớn lên trong bụng cô. Anh cũng không thể quên được nỗi đau đớn khu đứng bên mộ con mà chưa từng một lần được bế Allison hay âu yếm nói với con bé rằng anh yêu nó đến nhường nào.
Cecilia giữ cửa mở. “ Được thôi ”.
Giọng cô không giấu nổi vẻ ngập ngừng. Ian theo cô vào trong căn phòng khách và ngồi xuống rìa ghế sô-pha. Họ đã mua bộ ghế này sau đám cưới. Ian đã không cho Cecilia cùng khiêng nó vì lúc đó cô đã có thai được ba tháng. Bộ ghế cũ này chứng kiến nhiều kỷ niệm vui buồn giống hệt cuộc hôn nhân ngắn ngủi của anh.
Cecilia ngồi khoanh tay đổi diện với anh, khuôn mặt cô lạnh lùng.
“ Anh phải nói với em rằng phán quyết của thẩm phán thật sự đã gây sốc ”, anh mở đầu câu chuyện.
“ Luật sư của em bảo rằng chúng ta có thể kháng cáo ”.
“ Ồ, chắc chắn rồi ”.Ian bực bội lẩm bẩm. “ Và tiêu phí một khoản năm hay sáu trăm đô la lệ phí nữa. Anh chẳng có ngần ấy tiền mà đốt, và em chắc cũng vậy ”.
“ Anh nói thế là vì anh không biết tình trạng tài chính của em ”. Cecilia đốp lại.
Cuộc nói chuyện của họ cũng bắt đầu như vậy đấy. Ban đầu họ rất trịnh trọng, gần như quá lịch sự, nhưng cứ vừa tranh luận là mọi thứ lại bùng nổ không thể kiểm soát. Dạo này, hay ít nhất là từ khi Allison Marie được sinh ra - rồi mất đi, dường như họ càng dễ dàng trở nên giận dữ. Ian thở dài với cảm giác vô vọng. Với tình trạng như hiện nay, khó mà tin rằng họ từng là vợ chồng đầu gối tay ấp.
Ian nhớ tới một thời họ từng có cuộc sống yêu đương cực kỳ hạnh phúc và hòa hợp. Hai người chẳng mấy khi không được hài lòng trên giường. Nhưng đó là trước kia...
“ Chúng ta có thể làm như luật sư của em đã gợi ý ”.
“ Và đó là gì vậy? ”. Ian không hề có ý định nghe theo lời khuyên của Allan Harris. Người đàn ông đó chỉ nói theo ý thích của vợ anh chứ không phải anh.
“ Allan gợi ý rằng chúng ta hãy làm theo lời thẩm phán đã nói và đưa những bất đồng của chúng ta ra Trung tâm giải quyết tranh chấp ”.
Ian nhớ là thẩm phán Lockhard đã nhận xét và anh nhớ phản ứng của chính anh lúc đó. “ Chính xác thì như thế để làm gì nhỉ? ”, anh hỏi và cố để tìm ra câu trả lời có vẻ hợp lý.
“ Vâng, em không thể nói chắc chắn, nhưng em nghĩ mỗi chúng ta nên đưa quan điểm của mình ra trước một bên thứ ba không thiên vị ”.
“ Chi phí sẽ mất bao nhiêu? ”
“ Mọi thứ đều bị anh quy ra tiền hết à? ”. Cecilia hỏi.
“ Đúng, thực tế là như vậy ”. Vụ ly dị đã khiến anh mất khá nhiều tiền. Anh không phải là người muốn ly hôn trước, anh khăng khăng tự nhắc mình thế. Sau khi Allison chết, họ đã cãi nhau rất nhiều nhưng anh chẳng thể ngờ là nó lại dẫn đến tình trạng này.
Cecilia chưa bao giờ thông cảm vì việc anh không thể về để kịp thời an ủi và chia sẻ nỗi đau, mặc dù anh đã cố giải thích nhiều lần. Mãi đến khi kết thúc chuyến đi, anh mới nhận được “ bực điện gia đình ” của cô. Viên sỹ quan đã giữ lại thông tin về đứa con mới sinh của anh và cái chết của cô bé vì lý do không có chuyến bay nhân đạo nào và vì chẳng có cách nào để liên lạc với Cecilia. Cuối cùng khi về đến căn cứ, anh cũng chẳng có cơi hội để hiểu sự thực về nỗi mất mát lớn lao của họ. Vợ anh nhìn anh căm phẫn. “ Anh còn gợi ý nào không? ”, cô cao giọng hỏi khiến anh phải nghiến răng lại. Cô biết, anh rất ghét khi cô nói với anh như thể là anh còn là một cậu học sinh.
“ Sự thật là anh có một đề nghị ”, anh nói và đứng lên.
“ Tốt, em có thể chờ để nghe ”. Cecilia khoanh tay dằn dỗi.
“ Anh nói đơn giản là chúng ta cứ sống cuộc sống của chúng ta ”.
Cecilia cau mày. “ Thế là có ý gì? ”.
“ Em có ý định tái hôn không? ”.
“ Em... em không biết. Có thể một ngày nào đó ”.
Về phần mình, Ian hiểu rất rõ. Anh sẽ chẳng bao giờ gắn bó đời sống tinh thần với bất cứ một người phụ nữ nào nữa. “ Anh thì không. Anh đã cưới em, đã có em, đã có đủ cả mớ lộn xộn này rồi ”.
“ Để em xem liệu có thể hiểu những gì anh đang nói không ”.
Cecilia cũng đứng dậy và bắt đầu bước qua bước lại trong căn phòng nhỏ ngay trước mắt anh. Anh thoáng thấy làn hương thơm từ nước hoa cô dùng và tất cả những gì anh có thể làm chỉ là nhắm mắt lại và hít hà mùi hương đó. Anh rất bực vì cô vẫn còn sức cám dỗ để làm anh yếu đuối, để anh thèm muốn...
“ Chắc chắn là em hiểu, anh đảm bảo như thế ”. Ian cố tình mỉa mai vì lúc này anh đang tức giận. Anh không thể ở gần Cecilia mà không cảm thấy oán giận. Không phải là giận cô mà là giận chính mình vì những cảm xúc đang cứ trào dâng lên trong lòng.
Cecilia tảng lờ thái độ của anh. “ Anh đang gợi ý là chúng ta không ly dị phải không? ”.
“ Đại loại thế ”. Ian không muốn cô cho rằng anh đang tìm kiếm giải pháp hòa giải. Như thế không ổn. Anh thừa biết điều đó. Những tháng sau cái chết của Allison, cả hai đều cố thoát khỏi tình trạng đau đớn mà không được.
“ Đại loại thế? ”, cô nhắc lại rồi đưa tay về phía anh. “ Hãy nói thêm. Ý tưởng này của anh làm em chưa hiểu ”.
“ Chúng ta có thể giả vờ rằng chúng ta đã ly hôn ”.
“ Giả vờ? ”. Cecilia chẳng buồn giấu nỗi tức giận. “ Đó là ý tưởng ngốc nghếch nhất mà em từng nghe thấy. Giả vờ ”, cô nhắc lại và lắc đầu. “ Anh cho rằng chúng ta có thể lờ đi toàn bộ những vấn đề của chúng ta và giả vờ là chúng không tồn tại chắc ”.
Anh theo dõi thái độ của Cecilia. Cô có vẻ không tin những lời anh đang nói và cho rằng anh đang muốn né tránh vụ ly hôn này.
“ Anh luôn trốn tránh mọi rắc rối bằng cách giả vờ như nó chưa bao giờ xảy ra ”, cô đau đớn thốt lên.
Anh có thể có nhiều nhược điểm nhưng vô trách nhiệm thì không. Ngành Hải quân còn tin tưởng anh với cả con tàu ngầm hạt nhân trị giá nhiều triệu đô la - điều đó không chứng tỏ anh là một người đáng tin cậy sao? Khỉ thật, anh được đào tạo để đáp ứng mọi nghĩa vụ, để biết giữ lời cơ mà.
“ Nếu anh cố tình trốn tránh trách nhiệm, anh đã chẳng bao giờ cưới em ”. Vừa thốt ra lời, Ian biết ngay anh đã phạm sai lầm.
Cecilia lượn qua lượn lại trong phòng. “ Em không bao giờ muốn anh cưới em vì Allison! Chúng mình đã rất hạnh phúc... ”. Cô rơm rớm nước mắt và bất chợt nhìn đi chỗ khác. “ Em không cần anh ”...
“ Ồ! Em vẫn cần, chí ít là về mặt sức khỏe mà ngành hải quân đem lại cho anh, vợ con anh vẫn cần anh chứ ”.
“ Anh sẽ chẳng bao giờ cưới em nếu không phải vì em mang thai ”.
“ Không đúng ”.
Cô gạt những sợi tóc vương trên khuôn mặt. “ Em không thể tin được. Em ngốc quá ”.
“ Em! ” , Ian gào lên. Rõ ràng, Cecilia nghĩ rằng cô là người duy nhất hối tiếc. Anh cũng hối hận chứ và cả người đều thế.
“ Allison và em đã... ”, cô ngập ngừng rồi bống nín lặng.
“ Chúng ta... ”.
“ Allison cũng là con gái của anh, và anh không sao kể xiết cho em biết hết được về cảm xúc của anh. Đừng ngồi vào đầu anh hay xem nhẹ tình cảm của anh đối với con. Chỉ vì anh không ở đây khi con ra đời, điều đó không có nghĩa là anh không quan tâm và không đau đớn khi con đã mất. Vì tình yêu Chúa, lúc em trở dạ, anh đang ở dưới núi băng. Anh thậm chí không biết cho đến khi... ”.
“ Giờ thì anh trách cứ em đi ”. Cô giơ tay lên che miệng để kiềm chế cảm xúc. Chẳng hay ho gì nếu nói chuyện tiếp. Tệ thật, anh đã cố, đã cố gắng nhưng chẳng đi đến đâu. Anh không thể tìm được điểm chung với cô. Anh lao ra khỏi căn hộ để bớt khổ sở. Cánh cửa đập mạnh phía sau lưng và anh không biết là do mình đóng hay Cecilia nữa.
Ian giận dữ bước ra khỏi ngôi nhà và ngồi vào xe. Với tình trạng như lúc này, Ian nhận thấy mình không nên lái xe, nhưng anh không định ngồi bên ngoài căn nhà vì như thế Cecilia có thể nghĩ rằng anh ngồi đó chờ cô.
Anh nổ máy và bắt đầu lái xe. Lốp xe quay tít khi anh rú ga, làm cháy cả lớp cao su. Mới đi chưa được một phận tư dặm thì anh nhìn thấy đèn tín hiệu xanh đỏ của một chiếc xe cảnh sát đang nháy sau lưng mình.
Cảnh sát. Khỉ thật. Anh kiềm chế và hạ cửa sổ xe xuống. Khi viên cảnh sát đến chỗ anh, Ian đã lấy giấy phép lái xe quân đội của mình ra khỏi ví.
“ Chào ngài ”, anh nói và ngạc nhiên khi thấy mình diễn rất tốt.
“ Anh hơi vội phải không? ”, viên cảnh sát hỏi. Anh ta tầm tuổi trung niên, điệu bộ cứng nhắc và mái tóc cắt ngắn. Những điều đó nói lên rằng anh ta đã từng ở trong quân đội, và nó đồng nghĩa với việc anh ta sẽ không thích bất cứ một sai phạm nào - dù rất nhỏ.
“ Vội à? ”. Ian nhắc lại và cố thư giãn. “ Không hẳn ”.
“ Anh đang lái xe nhanh trong khu vực chỉ được lái hai-mươi-dặm-một-giờ”. Viên cảnh sát nhìn xuống tấm giấy phép lái xe rồi bắt đầu viết một tấm phiếu, rõ ràng là chẳng thấy ấn tượng gì trước việc Ian là quân nhận. Như thế là Ian sẽ không có cơ hội nói chuyện với anh ta để tìm cách thoát khỏi vụ này. Anh tính vội xem tấm phiếu này sẽ làm anh tốn bao nhiêu.
Cảm ơn, Cecilia, anh cay đắng nghĩ. Cái giá của cuộc hôn nhân ngày càng tăng lên.
 
 2.
 

Grace Sherman và Olivia Lockhart là bạn thân của nhau gần như suốt cuộc đời họ. Họ gặp nhau từ hồi lớp bảy, đó là khi học sinh cả trường tiểu học Nam Ridge và Mariner’s Glen đều bước vào trường phổ thông cơ sở Colchester. Grace là phù dâu trong đám cưới của Olivia khi chị lấy Stanley Lockhart ngay sau khi tốt nghiệp đại học. Và Grace cũng trở thành mẹ đỡ đầu của James, con trai út Olivia.
Mùa hè ngay sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, Grace lấy Daniel Sherman và họ nhanh chóng có hai cô con gái. Khi Kelly, con út của chị lên sáu, Grace đã đi học trở lại và lấy được tấm bằng cử nhân Khoa học thư viện. Sau đó, chị bắt đầu làm việc cho thư viện vịnh Cedar và trong vòng mười năm, chị được thăng chức thành thủ thư trưởng. Thậm chí ngay cả khi Olivia đang học trường danh giá nhất dành cho con gái ở Oregon và Grace thì đang là một bà mẹ ở nhà với hai đứa con nhỏ, họ vẫn rất thân với nhau. Họ đã luôn như thế. Vì cuộc sống bận rộn, họ đã tạo ra những thói quen để duy trì tình bạn. Mỗi tháng, họ đi ăn cùng nhau một lần. Và tối thứ tư tuần nào cũng vậy, cứ bảy giờ là họ lại gặp nhau ở lớp tập thể dục thẩm mỹ.
Grace đứng đợi bạn ở bãi đỗ xe sáng đèn. Khi rời khỏi nhà, chị không cảm thấy dễ chịu chút nào. Trong chị đang tràn đầy cảm xúc. Về thể xác, chị cảm thấy mệt mỏi, chị bị tăng cân và chị đã không còn kinh nguyệt nữa để mà đổ lỗi cho việc tăng cân ấy. Đã nhiều năm, chị cố gắng giữ số cân như thời còn đi học, nhưng trong vòng năm năm qua, chị không còn giữ được vóc dáng như ngày xưa nữa. Dù chị có cố gắng đến thế nào đi nữa vẫn không hạn chế được việc tăng cân đáng nguyên rủa ấy. Chị cũng chẳng hài lòng với những đặc điểm ngoại hình khác của mình. Nhất là mái tóc muối tiêu đã trở nên luộm thuộm, phờ phạc.
Nghĩ lại, có lẽ chị đã thờ ơ với chính cuộc sống của mình bởi những thói quen nguy hiểm. Chị cần thay đổi - mặc dù không tin là sẽ có nhiều khác biệt. Về mặt tình cảm, chị cũng không cảm thấy khá hơn. Sau ba mươi lăm năm chung sống, chị hiểu chồng mình như hiểu chính bản thân vậy. Có điều gì đó đang làm Dan khổ sở, nhưng khi chị nhẹ nhàng hỏi anh về chuyện đó, anh gầm lên và họ lại cãi nhau. Anh làm tình cảm của chị bị tổn thương ghê gớm và Grace chạy trốn mà chẳng dám đối đầu với vấn đề nữa. Dan làm nghề đốn gỗ hầu như trong suốt cuộc hôn nhân của họ. Khi ngành này gặp khó khăn, anh làm việc cho một người làm dịch vụ xén cây. Công việc này không ổn định và chẳng ai trong số họ thích nó, và họ luôn phải cố gắng xoay sở với số thu nhập của chị hoặc từ một khoản làm thêm nào đó. Hầu như họ chẳng bao giờ có chút tiền nào dư giả, nhưng với Grace thì điều đó chẳng hề hấn gì. Chị có chồng, có con, có bạn bè và có một mái che tươm tất trên đầu mình.
Chị nhìn Olivia lùi chiếc xe màu xanh sẫm vào chỗ đỗ và ra khỏi xe, tay cầm chiếc túi đựng đồ tập. Grace hỏi. “ Thế nào, cảm thấy là người nổi tiếng thế nào? ”.
“ Cậu biết không? ”. Olivia phàn nàn khi cùng Grace bước vào tòa nhà. Chị giữ cửa mở cho bạn. “ Tớ chỉ thấy khổ sở vì bài báo ngốc nghếch đó ”. Grace mỉm cười khi thấy má bạn mình đỏ ửng.
“ Tớ để anh ta hiểu thêm một chút về tớ ”. Olivia lẩm bẩm lúc họ đi qua một nhóm thanh niên về phía bể bơi. Vào trong phòng thay đồ, họ để túi lên ghế, cởi áo vào buộc dây giày. “ Cậu gặp Griffin à? Khi nào? ”.
“ Hôm thứ bảy ”.
Grace rướn lông mày. Chị thấy thích thú khi Olivia kể chi tiết câu chuyện. “ Ở đâu? ”.
“ Trong thị trấn ”.
“ Này, rồi thế nào nữa? ”.
“ Rồi à? Chẳng có gì ”. bạn chị đáp. “ Tớ chỉ tình cờ gặp Jack ở Safeway và bọn tớ... tán gẫu với nhau một chút ”.
“ Sao tớ lại có cảm giác là cậu giấu tớ điều gì đó? ”.
Olivia quấn ruy băng chắn mồ hôi quanh trán.
“ Tin tớ đi, không còn gì nữa đâu ”.
“ Tinh cậu à? ”. Grace nhắc lại rồi đi theo chị ra khỏi phòng thay đồ vào khu phòng tập.
Grace và Olivia phải dừng bước vài lần để tránh đường cho những người qua lại. “ Cậu có bao giờ để ý rằng mọi người hay bảo cậu tin họ trong khi có thể chính họ lại đang cảm thấy không nên tin vào mình không? ”.
Olivia ngừng lại rồi bắt đầu bài khởi động. “ Tớ không để ý, nhưng cậ nói đúng ”. Chị đặt chân lên thanh ngang và cúi xuống để trán chạm vào mặt cá chân.
Grace tựa vào thanh chắn và ghen tị với độ mềm dẻo của bạn mình. Cơ thể chị không thể mềm mại thế được. “ Cậu có biết là mọi người bàn về bài báo đó cả tuần nay không? ”.
“ Tuyệt ”.
Không để ý đến thái độ châm biếm của bạn, Grace tiếp tục, giọng mềm mại. “ Thực ra thì đa số là liên quan đến Jack Griffin ”.
Olivia ngẩng đầu lên. “ Có gì thú vụ không? ”.
Grace nhún vai rồi nới lỏng vòng bụng quần soóc. “ Ồ, vài chuyện ”.
“ Ví dụ? ”.
Grace không để Olivia dễ dàng khai thác thế. Chị nhớ ra rằng, Olivia chưa bao giờ bày tở sự tò mò và thích thú đến thế trước người đàn ông nào kể từ khi ly dị. Có lúc, Grace cảm thấy rằng bạn mình đang “ tuân theo luật ”, như lời mọi người vẫn nói. Một nhận xét chính xác, chị luôn nghĩ thế. “ Cậu muốn biết thật chứ? ”.
Xem chừng Olivia cần suy nghĩ nhiều về câu hỏi này. “ Thôi - quên nó đi ”. Nhưng hít một hơi, Olivia lại thay đổi. “ Được rồi. Tớ tò mò đấy. Cậu nghe thấy gì ? ”.
“ Anh ta chuyển đến vịnh Cedar cách đây ba tháng ”.
“ Tin cũ rồi ”, Olivia lẩm bẩm. “ Không lẽ cậu chỉ biết có thế... ”.
“ Từ khu vực Spokane ”.
Dường như đây là thông tin Olivia không biết.
“ Có gốc làm báo? ”.
“ Ừ, từ một tờ báo có số phát hành gấp mười lần tờ Bản tin vùng vịnh Cedar ”. Grace không phải là người hay buôn chuyện nhưng chị cũng muốn biết về jack từ khi chị đọc mục đầu tiên trên số ra thứ bảy của anh. Chị thích những gì anh bày tỏ trên mặt báo và rõ ràng là anh ủng hộ Olivia. Chị đã gặp anh ở cuộc gặp mặt của Phòng Thương mại ngay sau khi anh chuyển đến vịnh Cedar, nhưng hôm đó chị lại chẳng có một chút ấn tượng nào hết.
“ Tại sao một người đàn ông lại từ bỏ công việc ở một tờ báo danh tiếng để chuyển đến một thị trấn nhỏ như vịnh Cedar nhỉ? ”, Grace hỏi Olivia.
Bạn chị nhún vai. “ Tớ cũng chỉ đoán già đoán non như cậu. Có lẽ anh ta muốn ở gần con trai mình hơn ”.
“ Anh ta có con trai à? ”. Những người Olivia từng nói chuyện chẳng ai biết điều đó.
“ Eric. Cậu ta sống ở Seattle ”.
Thú vị thật. Nhưng Grace chưa kịp nói gì thêm thì huấn luyện viên Shannon Devlin đã bước vào phòng và vỗ tay để tập hợp các học viên.
“ Tin tớ đi. Thay đổi công việc thế này chắc chắn là để chạy trốn điều gì đó ”.
“ Tin cậu! ”
“ Ừ, tin tớ ”. Grace nói đùa.
Olivia cười và đặt tay lên hông rồi xoay eo sau đó cúi sâu xuống trong khi Shannon hướng dẫn cả lớp bài khởi động. “ Cậu đã quanh quẩn với những bí mật của thư viện quá lâu rồi ”. Chị thì thầm khi họ đứng trước gương.
Huấn luyện viên Shannon đang ở tuổi hai mươi. Đó là một chị gái xinh đẹp, thon thả, cơ thể không hề có một chút mỡ thừa nào. Cơ thể mình cũng từng thon thả và đẹp hoàn mỹ trước khi có hai con, Grace tự nhủ. Tiếng nhạc tưởng chừng như không thể to hơn được nữa khiến chị tập mạnh mẽ hơn. Chị vừa thích, vừa ghét lớp học này. Nếu không vì Olivia, có lẽ chị đã bỏ hàng chục lần rồi. Nhưng Grace cũng cần lớp học này để hít thở và kéo căng cơ thể. Mặc dù mỏi cơ, chị vẫn không ngại tập phần ngồi xuống đứng lên hoặc những bìa tập tương tự, nhưng chị không thích những bài tập nhảy nhót theo thói quen của Shannon.
Bước lùi, sang trái, qua phải... Olivia dường như không bao giờ gặp trở ngại với những động tác phức tạp; ngược lại, Grace thì thấy chúng thật khó khăn đối với mình.
Sau năm mươi phút toát mồ hôi và thở hổn hển cộng với bài tập thư giãn, họ kết thúc buổi vận động. Về phần Grace, năm mươi phút là hơi quá sức. Đến khi tắm và thay quần áo xong, Olivia mới lại đả động tới Jack. Việc chị muốn tiếp tục câu chuyện khiến Grace ngạc nhiên.
“ Cậu còn biết thêm gì về Jack Griffin? ”
Grace suy nghĩ. Sau buổi thể dục thẩm mỹ, bao giờ chị cũng phải mất một lát để bình tâm lại. “ Cậu biết về anh ta nhiều hơn tớ đấy ”, cuối cùng chị thốt lên.
Olivia với túi tập của mình. “ Tớ nghi ngờ điều đó ”.
“ Cậu thích anh ta phải không? ”.
Olivia cười trước câu đó. “ Ồ, không hề. Chẳng cần thêm mối quan hệ nào thì tớ cũng có quá đủ lo lắng rồi ”.
“ Lo lắng? ”. Chắc chắn Olivia có lo lắng, nhưng ai mà chẳng thế.
“ Mẹ tớ ngày càng già đi, còn Justine - tớ không thể nói chuyện với con bé nữa, và hai tuần trước tớ có tin về James ”.
“ Tớ nghĩ nó đang ngoài biển ”.
“ Đúng thế, nhưng nó vẫn có thể gửi thư điện tử cho tớ ”.
“ Được rồi, được rồi, chúng ta đều gặp vấn đề với con cái và bố mẹ chúng ta cũng là một mối lo ngại, nhưng như thế không có nghĩa là chúng ta dừng cuộc sống này lại ”.
“ Cậu nghĩ tớ dừng cuộc sống này lại à? ”. Olivia hỏi. “ Vì tớ không có người đàn ông nào trong đời mình ư? ”.
Grace biết câu hỏi này làm Olivia bị xúc phạm. Trước đây Dan cũng từng có cảm giác bị chị xúc phạm và bây giờ la fngười bạn thân nhất của chị; và Grace không có ý làm bất kỳ ai trong hai người buồn.
“ Tớ không có ý đó ”, chị trấn tĩn bạn mình. “ Tớ chỉ nghĩ là cậu nên cởi mở khi đến với Jack ”.
“ Tại sao? ”.
“ Bởi vì nên như thế ”. Và đó là toàn bộ câu trả lời mà Grace muốn nói, nhưng chị có cảm giác một cách sâu sắc rằng vị biên tập mới của tờ Bản tin vùng vịnh Cedar này sẽ mang tới những điều thú vị và mới mẻ cho Olivia.
 
 
 
3.
 
 
Vào buổi tối gặp Ian Randall, Cecilia đang làm phục vụ ở một nhà hàng có tên là Bếp Thuyền Trưởng, cô làm ở đó năm buổi tối một tuần. Cha cô, Bobby Merric, một trong những người đứng quầy bar đã lựa chọn công việc đó cho cô. Suốt thời niên thiếu, Cecilia luôn có cảm giác bị cha mình lừa dối và bỏ rơi nên cô rất thiếu thốn tình cảm. Do vậy, giờ đây khi thấy cha nhiệt tình giúp đỡ, cô cảm thấy mình được an ủi và quan tâm; nên cô lập tức đồng ý. Lúc bố mẹ ly dị, cô lên mười tuổi, Cecilia gần như chẳng bao giờ nhìn thấy cha mình và cô đã đón nhận cơ hội này để được ở gần bố. Bỏ qua lời cảnh báo của mẹ, cô gói ghém hành trang và chuyển từ New Hamsphire tới cộng đồng cảng nhỏ này ở Washington. Trong vòng ba tháng, cô đã biết mình sai lầm. Nhưng giấc mơ học cao đẳng của cô chỉ đơn giản thế. Chỉ là mơ thôi. Ý tưởng của Bobby về việc sắp đặt tương lai cho cô chỉ là nói chuyện với ông chủ của mình và cho cô một công việc ở nhà hàng nơi ông làm việc. Cecilia không muốn vài chục năm nữa vẫn chỉ là một người phục vụ, nhưng cô không biết làm gì để thay đổi điều đó. Do không định hướng trước nên cô đã để cuộc đời mình chệch hướng.
Giờ đây, cô chuẩn bị ly hôn, ngập đầu ngập cổ trong nợ nần và đau khổ. Cô vỡ mộng về cha mình và đàn ông nói chung. Bobby muốn trở thành bạn cô, nhưng thật tệ hại, Cecilia không cần một người bạn mà cô cần một người cha nhiều hơn. Cô thề, rồi một ngày, cô sẽ tìm cách để đi học, nhưng trước hết, cô phải làm thế nào để trả được học phí đã. Sau khi phải trả các lệ phí cho cuộc ly hôn và chi phí để chôn cất con gái, cô ngờ rằng phải đến ba mươi tuổi cô mới có thể đi học được. Về mặt tài chính, Bobby không thể giúp đỡ cô, ông đã tuyên bố thế. Để kiếm thêm tiền, cuối tuần cô phải làm thêm, phục vụ đồ uống ở quầy bar lúc mười giờ sau khi quán dừng phục vụ bữa tối. Khi cô nhận làm việc muộn tối thứ sáu, cô biết đó sẽ là một ca rất bận rộn. Chiếc tàu hàng không mẫu hạm Carl Vinson sẽ vào thị trấn, có nghĩa là sẽ có toàn bộ thủy thủ đoàn gồm hai nghìn năm trăm người. Bếp Thuyền Trưởng luôn phục vụ hải sản tươi ngon nhất trong khuc vực và là quán bar được yêu thích nhất.
Chính tại đây, tháng Giêng năm trước, một đêm, Ian đã đến uống. Anh đã để mắt đến cô và cô cũng say sưa nhìn anh. Rồi anh... Cô rùng mình. Cecilia không muốn nghĩ tới chồng mình nữa và cố đẩy anh ra khỏi tâm trí. Không thể nào.
Ko có con người nào là hoàn hảo .. ko có con người nào là ko có quá khứ .. và ko có con người nào chưa một lần phạm phải sai lầm !
0
Hiện tại Nhím đã nhận và đánh xong phần 1 trong file Mediafire bản scan của truyện Đâu phải vì yêu !
Đã bạn nào nhận phần tiếp theo chưa để Nhím biết đường đánh tiếp ạ?
Nếu bạn nào đã nhận và đang đánh phần nào rồi thì lên tiếng 1 câu ở đây báo trước cho mọi người biết đường đánh nha !
Thanks all !
Ko có con người nào là hoàn hảo .. ko có con người nào là ko có quá khứ .. và ko có con người nào chưa một lần phạm phải sai lầm !
0
Nhím nhận đánh tiếp phần cuối trong bản scan mà chị Ly gửi mail cho mọi người , tức là phần 12
Nhím báo để mọi người biết đường đánh tiếp ko lại trùng lặp mất công nhé !
Ko có con người nào là hoàn hảo .. ko có con người nào là ko có quá khứ .. và ko có con người nào chưa một lần phạm phải sai lầm !
0
Phần 7 ( từ trang 168 đến 187 )
Người đánh : flowerlegend
 
 
 
Một bài học quá cay đắng trong chuyện này. Rõ ràng Stan đã gặp người vợ hiền thời của anh ta trong khi đi làm ở Seattle. Grace không hề nghĩ anh ta lại có một mối ràng buộc tình cảm với Marge, nên chị đã bỏ ngoài tai hết mọi chuyện sau cái chết của Jordan và đã lên tiếng bệnh vực Stan. Mối quan hệ của anh với Marge là lòng thương nhiều hơn là dục vọng. Đó là lý do duy nhất giải thích tại sao anh ta kết hôn nhanh đến vậy. Olivia không trả lời câu hỏi ngay lập tức. Cầm chiếc cốc, chị tiến lại gần sô pha. “Điều gì khiến cậu nghĩ rằng Dan có ai khác?”.
Grace không tìm ra bằng chứng nào cụ thể. “Đó là theo cảm tính của tớ nhiều hơn”. Olivia nhún vai. “Hãy nghĩ lại sáu tháng trước xem, anh ta có tự nhiên quan tâm đặc biệt đến ngoại hình của mình, có thường tham dự hội họp vào những giờ đặc biệt đến ngoại hình của mình, có thường tham dự hội họp vào những giờ đặc biệt trong ngày hay đi buổi tối không?”
Đầu óc Grace trống rỗng. “Ôi… tớ không quan tâm đến mấy thứ ấy”. Olivia hỏi. “Có phải cậu nói anh ta đi săn hồi mùa thu năm ngoái không nhỉ?”. Grace gật đầu. Dan đã mặc bộ đồ thể thao sau một thời gian dài không động đến. Chị cảm thấy vui hơn khi anh tỏ ra yêu thích một hoạt động gì đó thay vì chỉ chúi mặt vào tivi. Anh bỏ đi trong một buổi chiều thứ sáu cuối tháng Mười và trở về vào tối chủ nhật. Anh đã nói một cách hào hứng về những lần lang thang trong rừng, và cứ liếng thoắng kể hết chuyện nọ đến chuyện kia.
“Anh ta đi một mình à?”. Olivia hỏi.
Dan không hề nhắc đến một ai khác, nhưng lúc ấy Grace không mảy may cho rằng điều đó là bất thường. Dan ít bạn bè và thường thích làm việc một mình hơn.
“Anh ta có mua trò chơi nào về nhà không?”.
“Không”.  Nhưng chi tiết này cũng có chút đáng chú ý vì hàng năm nay anh không hề đi săn. Đặt tách cà-phê xuống, Grace nhíu mày, nhớ lại ngày cuối tuần đó. “Cậu có cho rằng Dan đi cùng ai không?”.
Olivia nhìn chằm chằm vào mặt chị. Tớ không biết, nhưng sâu trong thâm tâm tớ nghĩ cậu có nghĩ thế đấy”.
Có lẽ đúng. Ngày cuối tuần tự do đó thật tuyệt vời với Grace. Chị đã dành cả hai ngày với Maryellen và Kelly, ba mẹ con cùng mua sắm tại một cửa hàng thời trang nhỏ ở Oregon. Đó là “ngày cuối tuần của mẹ và con gái” đầu tiên của họ và họ hi vọng việc này sẽ được lặp lại hàng năm. “Anh ta có vẻ… hạnh phúc”, Grace ậm ừ. Tâm trạng Dan hiếm khi vui vẻ như vậy, điều đó khiến chị thấy bất thường. Chị không tin được người đàn ông đó có thể bước ra từ chiếc giường của một phụ nữ khác và trở về ngôi nhà với vợ mình, mà không hề cảm thấy cắn rứt lương tâm. Chị không thể chấp nhận chồng mình có thể làm việc đó, nhưng…
Bên ngoài vọng vào tiếng ôtô, Olivia liếc nhìn qua cửa sổ phòng khách. “Troy kìa”.
Grace đã mở và đứng gần ngọn đèn khi Cảnh sát trưởng Davis đi tới. “Cám ơn anh vì đã đến”. Grace nói như biết ơn vì anh đã quyết định tự mình giải quyết vụ này.
Troy bỏ mũ khi bước vào nhà và gật đầu về phía Olivia.
“Tôi không biết gọi cho ai nữa.” Olivia giải thích.
“Chị đã làm đúng đấy”. Troy là một người đàn ông đẹp trai, học trước họ hai khóa ở trường và là người có trái tim nhân ái nhất vịnh Cedar. Anh phục vụ trong lực lượng vũ trang kể từ sau khi tốt nghiệp, sau đó làm việc tại văn phòng Cảnh sát trưởng. Trong suốt ba mươi tám năm qua, anh đã góp sức vào việc giữ gìn an ninh cho cộng đồng và được tiến cử thành Cảnh sát trưởng mười năm về trước. Mọi người đều yêu quý và tin tưởng Troy.
Grace mời Davis cứ tự nhiên như ở nhà và anh đã chọn ngồi vào ghế của Dan. Anh cầm sẵn sổ và bút.
“Tôi cho rằng anh đang định lập hồ sơ về người mất tích”. Olivia nói.
“Xin anh cố gắng giúp tôi”. Grace nghẹn ngào trong cổ họng.
“Nói cho tôi những gì chị biết đi”. Anh nhẹ nhàng nói.
Grace kể tất cả những gì chị nghĩ ra được, cho dù những điều đó khiến trái tim chị tan vỡ. Chị kể về cuộc đi săn và mối nghi ngờ chồng có người phụ nữ khác.
“Chị nghĩ là Dan có người phụ nữ khác à?”
Grace khoát tay vẻ chào thua.
“Mọi người thường nói như thế nào nhỉ? Vợ luôn là người biết cuối cùng”. Chị càng khẳng định giả thiết của mình thì cảm thấy sự thật càng dần hiện rõ. Chị tự nhủ Dan không làm thế với mình, với các con. Chị đã tin như vậy. Nhưng chị cảm nhận được có chuyện gì đó không ổn và nó đã manh nha từ lâu lắm rồi. “Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo?”, Grace hỏi khi bản ghi chép đã xong.
Troy liếc nhìn Olivia và quay lại chị, “Thật ra, chẳng có gì cả”.
“Không có gì?”. Grace thảng thốt.
“Tôi đã kiểm tra cả hai bệnh viện trong khu vực, nhưng không ở đâu ghi nhận có người bệnh tên Dan hay một ca không xác định danh tính nào cả”.
“Không”. Troy khẳng định. “Anh ta không ở chỗ tôi cũng như sở cảnh sát của bang.” Nói cách khác, không ai biết gì về Dan hay đoán được anh ta đã đi đâu. “Theo như những gì tôi vừa biết thì anh ta không có dấu hiệu ngoại tình”.
Grace gật đầu. Chị đã đi quanh ngôi nhà hàng chục lần đêm hôm đó, tìm kiếm từ những manh mối nhỏ nhất hầu suy đoán Dan có thể đi đâu. Chị đã lục tung túi, quần áo, mọi thứ của anh. “Thế nên anh giả thuyết Dan đã cố tình biến mất”. Troy nói bình tĩnh.
Bối rối, Grace nhìn sang bạn. “Troy vừa nói gì vậy”. Oliva nói, “Có phải một người trưởng thành chạy trốn thì không phạm tội phải không?”
“Người ta chạy trốn khi muốn bỏ rơi gia đình mình. Rất tiếc đó lại là điều thường gặp. Và đúng việc này không phải là hành động phạm tội”.
“Nếu đây là một trường hợp tương tự”. Grace ngắt lời, “thì Dan đã phải mang theo thứ gì đó, anh có nghĩ thế không? Tất cả những gì anh ta có chỉ là bộ quần áo đang mặc trên người”.
“Tôi nghĩ chi tiết đó không nói lên điều gì”. Troy tiếp tục.
“Không nói lên điều gì?”. Grace nhắc lại. “Thật lố bịch! Chồng tôi đã mất tích và cảnh sát chẳng làm gì để giúp tôi tìm anh ấy”.
Troy thấy chị đang nhìn mình chằm chằm. “Tôi xin lỗi, Grace, nhưng đó là pháp luật. Nếu ai đó nhìn thấy anh ấy, tôi sẽ cho chị biết”.
“Cảm ơn vì những thứ không đâu ấy”. Grace lẩm bẩm và khoanh tay lại trước ngực. Chị rất bực mình, đồng thời cũng cảm thấy bối rối và bất ổn mà không biết phải giải tỏa bằng cách nào. Chợt Grace nghe tiếng cánh cửa đóng lại phía sau. Sau đó, như thể chưa hề có chuyện gì xảy ra trên đời, chồng chị bước vào phòng khách. “Chuyện gì đang xảy ra thế này?”. Anh hỏi, hẳn là ngạc nhiên khi thấy Olivia và Troy cùng ở trong nhà mình.
“Dan!”, Grace như thở phào nhẹ nhõm khi thấy anh vẫn khỏe, chị bật khóc. “Ôi, Dan, Lạy Chúa tôi, anh đã ở đâu vậy? Em đã gần như mất trí vì lo lắng”.
Anh phớt lờ. “Có vấn đề gì phải không Troy?”. Giọng anh đanh lại.
“Không”. Vị Cảnh sát trưởng đứng lên, xé tờ báo cáo ra khỏi sổ và gấp làm đôi. Anh đưa nó cho Grace và đi thẳng ra cửa không một lời từ biệt.
“Có lẻ tớ nên chuận bị cho phiên tòa sắp tới”. Olivia nói. Chị đưa mắt lườm Dan và nhanh chóng, rời đi. “Em đã gọi Troy à?”. Dan nói ngay khi chỉ còn hai người. Anh gầm lên với chị như thể Grace đã làm việc gì sai trái.
“Anh đã ở đâu?”. Grace lại bật khóc, chị không thể kìm nén cơn tức giận cùng nước mắt đang tuôn trào. “Anh không biết là anh đã khiến em sợ hãi thế nào đâu?”
“Việc quái gì cô phải lo lắng rằng tôi đang ở đâu”.
“Cái quái là gì”. Chị hét lên. “Anh là chồng của tôi”
Dan bình tĩnh trả lời bằng một giọng tàn nhẫn. “Tôi không chấp nhận nổi cuộc hôn nhân như cái cùm trên cổ thế này”. Grace sững sờ, chị không thể kìm chế được bản thân nữa.
“Anh bỏ đi và dành cả đêm ở một nơi quỷ quái nào đó”. Chị hét lên, “rồi điềm nhiên về nhà như chưa có chuyện gì xảy ra sao? Anh mong em phải giả bộ mọi việc vẫn bình thường hay sao?”. Chị không thể làm như vậy. Chị là người chứ đâu phải là một vật vô tri giác.
“Tôi đã ở đâu và tôi đang làm gì là việc của riêng tôi”. Dan đi rầm rầm vào phòng ngủ. Grace chạy theo anh.
“Anh đã đi với một phụ nữ khác, phải không?”.
Trái tim chị nhói đau khi hỏi câu đó.
“Phải, Grace ạ, anh đã đi với một người”.
“Đó là ai?”.
Tiếng cười gằn của anh không hề có ý đùa giỡn.
“Em có quyền được biết”. Grace nói.
Dan không trả lời. Anh lẳng lặng đi đến ngăn tủ thay bộ đồ mới. “Anh không có thời gian cho chuyện đó”.
“Anh không có thời gian”. Grace lặp lại. Anh dám nói thế sau tất cả những việc quái quỷ anh đã gây ra sao? Bất chợt chị nghĩ mình sẽ lăn ra ốm mất.
Dan bước huỳnh huỵch vào nhà tắm. Grace đi về hướng ngược lại và đóng sầm cửa mạnh đến mức bức ảnh tốt nghiệp của các con rơi khỏi tường. Chúng rơi xuống sàn nhà gỗ cứng, kính vỡ tan.
Sợ hãi vì những gì vừa làm, Grace bắt đầu ngắm nhìn khuôn mặt đáng yêu của những đứa con và nghiến răng tức giận.
“Cút xuống địa ngục đi!”. Chị hét lên với chồng.
Cửa phòng ngủ bật mở và Dan đang đứng ở đó.
Anh nhìn chị bằng ánh mắt đăm đăm đầy khó hiểu. “Đến lúc rồi, Grace ạ. Em gọi ba lăm năm qua là gì đây?”.
*
Hôm nay Grace không đến lớp thể dục. Olivia đã biết mối quan hệ giữa bạn mình với Dan đã lung lay rất nhiều kể từ sau lần biến mất của Dan. Grace vẫn không cho chị biết về sự biến mất của Dan hay nơi anh đã đến, và Olivia cũng không cố hỏi. Nếu có thêm một người đàn bà nào khác thì vấn đề lại dễ giải quyết. Đằng này chẳng có gì rõ ràng cả… Olivia  không thể không lo lắng.
Bên cạnh đó, chị còn có những mối lo ngại khác. Điều quan trọng nhất trong tâm trí Olivia bây giờ là Justine.
Con gái chị đã tránh mặt mẹ, mặc cho những nỗ lực để hàn gắn mối quan hệ của Olivia với các con. Chị mong mỏi chúng sẽ gần gũi hơn, như chị với bà Charlotte vậy. Hay là đã quá muộn rồi chăng? Chị hi vọng là không. Chị vẫn sẵn sàng dồn thêm nỗ lực để hàn gắn. Chị thề với lòng mình rằng dù thế nào đi nữa chị cũng sẽ không bắt đầu chủ đề về Warren Saget nữa. Olivia chỉ ước mình và Justine có thể vui vẻ lại với nhau, chỉ vậy thôi. Chị đã mời Justine ăn trưa vào thứ Bảy, và Justine đã đồng ý. Chị đã chuẩn bị một trong những thực đơn ưa thích của mẹ với món chính là sa-lát gà. Thật ra, Olivia thích đi ăn ở nhà hàng hơn, quanh đây có rất nhiều nhà hàng ngon. Tuy nhiên khi ăn trưa ở nhà, họ sẽ thấy thoải mái hơn vì không khí gần gũi và riêng tư hơn. Ở nhà hàng, rất có thể họ sẽ đụng mặt một người quen và không tập trung được vào câu chuyện của mình.
Justine đến rất đúng giờ. Cô bé mang theo một bó hoa thủy tiên màu vàng nhạt nhỏ xinh và tặng Olivia một nụ hôn hời hợt vào má khi Olivia bước ra đón.
“Con chu đáo quá”. Olivia nói và đón nhận đầy thích thú. Chị tìm một chiếc lọ cắm hoa và đặt vào giữa bàn trong bếp.
“Lâu rồi mẹ con mình mới ăn với nhau đấy nhỉ”. Justine nói, vơ lấy một cái bánh mỳ que trên bàn.
“Quá lâu rồi con ạ”. Olivia lấy sa-lát trong tủ lạnh và đơm ra hai đĩa rồi mang lại bàn. Một ấm nước đã được chuẩn bị sẵn để phan trà sau bữa ăn.
Cô con gái xinh đẹp ngồi đối diện với Olivia và trái tim chị đột nhiên thúc giục chị nói với con gái rằng. “Mẹ không biết phải nói yêu con bao nhiêu lần mới đủ”.
Justine nhìn mẹ mỉm cười. “Lẽ ra phải có cả James nữa phải không mẹ”.
Không thể đúng hơn được nữa. Tuy nhiên, Olivia vẫn hỏi. “Ý con là gì?”
“Con biết đó là một cú sốc, nó đã đột ngột quyết định kết hôn như vậy, mà gia đình thậm chí không biết và không có mặt ở đó”.
“Không có gì phải băn khoăn về em trai con cũng như những gì chúng ta đã làm”. Olivia bỗng cảm thấy cáu với Justine và chính bản thân mình. Lẽ ra chị không nên cảm thấy quá khó khăn trong việc bày tỏ tình yêu thương với các con như vậy.
“Kìa mẹ, đừng bắt đầu như thế”.
“Bắt đầu gì cơ?”.
“Mẹ lo lắng khi thấy con và Warren…”.
“Mẹ cũng chẳng lo lắng về bạn trai của con đâu”.
Con gái chị cười lớn. “Bạn trai ư? Mẹ làm như con mới mười sáu vậy”.
“Justine”. Olivia nói, cố gắng kiềm chế cơn giận.
“Như mẹ đã nói, không phải vấn đề về em trai con, bạn trai con, hoặc công việc của con hay bất cứ thứ gì cả. Mẹ là mẹ của con, và mẹ chỉ muốn mẹ con ta có thể trò chuyện, chia sẻ với nhau những vui buồn và mẹ hy vọng con cũng mong như vậy. Mẹ thấy… mẹ không biết, những ngày gần đây chúng ta giống như là những người xa lạ vậy. Khoảng cách. Mẹ không biết tại sao lại như vậy, nhưng mẹ không thích thế. Mẹ yêu con”.
Nếu Justien trợn tròn mắt nhìn lại, Olivia thề rằng chị sẽ… ôi, chị không biết mình đang làm gì nữa. Cáu giận, có thể. Bộ mặt của Justine không bộc lộ sự khinh bỉ hay chỉ trích; ngược lại Justine có vẻ ngạc nhiên và khó nói nên lời. Chị ngồi ngây ra và sau một lúc, chị bắt gặp ánh nhìn trìu mến của Olivia và nhỏ nhẹ. “Con cũng rất yêu mẹ, mẹ ạ”. Olivia nuốt nỗi nghẹn ngào trong cổ họng và cầm dĩa lên. Mong muốn cuối cùng của chị là có thể gần gũi con gái hơn.
“Mẹ có muốn nói thêm về chuyện này nữa không?”. Justine hỏi. Olivia không chắc lắm. Chị nhanh chóng nhớ lại một loạt các chủ đề và dừng lại ở bài viết trên tờ báo hôm thứ tư. Không muốn đề cập đến chủ đề  có thể dẫn câu chuyện quay về mối quan hệ giữa con gái mình và Warrant Saget, chị hờ hững. “Năm nay con họp lớp kỷ niệm mười năm phải không?”. Justine đặt đĩa xuống thở dài. “Vâng, đúng ạ”. Mười năm ư? Thật khó tin được. “Con sẽ tham gia, chắc chắn thế rồi phải không?”. Olivia hỏi. Và chị ngạc nhiên khi thấy con gái mình ngập ngừng. “Thật ra thì con cũng không chắc lắm”.
“Sao lại không?”. Nhưng Olivia không cần câu trả lời của con. Đi cùng Warren, một người đàn ong đáng tuổi cha chú có thể khiến con bé xấu hổ. Hơn nữa, rất có thể Warren đơn giản là sẽ từ chối.
“Có lẽ con phải đi một mình. Thật tệ là con vẫn còn độc thân mà chẳng có cuộc hẹn hò nào hết. Con không biết lòng tự trọng của mình có thể chịu đựng được điều đó hay không”.
“Con còn mấy đứa bạn chưa có gia đình sẽ có mặt ở đó mà”
“Con nghĩ vậy”, Justine nói với vẻ không chắc chắn.
Việc này có thể giúp cô con gái sáng mắt ra. Olivia hy vọng rằng nếu Justine gặp gỡ bạn bè hồi trung học thì nó sẽ nhận thấy Warren đã đối xử hoàn toàn bất công với mình như thế nào.
“Trong tuần này con còn có một cuộc họp lớp nữa”, Justine nói.
Olivia nhớ rằng con gái mình từng là cán bộ của lớp. Chắc chắn con bé sẽ phải tham gia lên kế hoạch họp lớp. Vì Justine là quản lý của ngân hàng địa phương nên ban tổ chức họp lớp có thể sẽ cần đến chuyên môn tài chính của cô.
“Con sẽ giúp lớn chứ?”. Olivia thúc ép.
Justine thở dài. “Có thể”, con gái chị nói với giọng cam chịu. Rồi Justine chợt tươi tỉnh hơn. “Mẹ còn nhớ Julie Wyatt và Annie Willoughby không? Mấy năm rồi con không gặp hai người đó mặc dù họ sống ngay tại vinh Cedar này”.
Olivia nhớ rõ cả hai gia đình ấy.
“Seth Gunderson cũng sống trong thị trấn”, Justine lẩm bẩm.
Olivia nhớ Seth vì cậu ta là bạn thân của Jordan. Lúc con trai chị bị tai nạn thì cậu ta đang đi câu cá với bố ở tận Alaska. Olivia không bao giờ quên bức thư mà cậu bé mười ba tuổi viết cho chị và Stan khi cậu biết tin về cái chết của Jordan. Chỉ có vài dòng ngắn ngủi bày tỏ lòng thương tiếc và sự chia buồn nhưng nó đã làm chị xúc động đến tận tâm can.
“Mẹ luôn mến Seth”, Olivia trầm ngâm nói. “Dù có như thế nào đi nữa mẹ vẫn luôn quý cậu ấy”.
Justine nhún vai. “Con không chắc lắm. Con biết mùa hè nào anh ta cũng đi câu cá tận Alaska, điều đó có nghĩa là anh ta sẽ không ở nhà để họp lớp đâu”.
Điều đó khiến Olivia thấy buồn. Nếu chị phải tự tay chọn chồng cho con gái mình thì chị sẽ chọn một người như Seth.
“Ôi không, mẹ đừng thế chứ”. Justine lắc lắc ngón tay. “Con có thể thấy điều mẹ đang âm mưu trong đầu đấy. Mẹ muốn ghép con với Seth chứ gì, nhưng con không quan tâm đâu”.
“Với Seth thì sao nào?”.
“À, trước hết là anh ta chẳng có đầu óc gì cả”.
“Ôi, Justine, điều đó đâu có đúng”.
“Anh ta chỉ quan tâm đến thể thao thôi”.
“À, đúng thế, cậu ta đã rất giỏi thể thao”.
Seth từng là ngôi sao bóng đá và bóng rổ trong suốt bốn năm trung học.
“Mẹ đã tâng bốc anh ta quá đấy. Anh ta chỉ là một ngư dân thôi”.
Olivia nhíu mày; chị không dạy con gái mình trở thành một kẻ hợm hĩnh. “Cậu ta là một người lao động cần cù, Justine ạ, và điều đó chẳng có gì là không đáng quý hết”.
“Ngược với Warren đúng không?”
“Không!”. Olivia không muốn bị lôi vào cuộc tranh luận đó. “Chúng ta đang nói về Seth cơ mà”.
“Mẹ, anh ta sống  trên thuyền đậu ở bến. Con thích Seth, đừng hiểu nhầm ý con, nhưng anh ta là một gã ngốc to xác. Kể từ khi tốt nghiệp con vẫn chưa hề nói chuyện với anh ta và con ngờ rằng chúng con không có bất cứ điểm chung nào ngay từ hồi học trung học”.
Olivia thầm thở dài. “Con yêu, mẹ không có ý nói rằng Seth là người phù hợp với con”. “Chà, có chứ, chị đã có ý như vậy nhưng khó lòng thừa nhận điều đó với con gái. “Một ngày nào đó con sẽ tìm thấy người ấy và thực tế là con đã thấy rồi đó thôi”.
Chị buộc phải nghiến răng khi nói ra điều này. Nếu Justine nhất định cưới Warren thì Olivia sẽ phải cố gắng mà chào đón anh ta vào gia đình này.
Justine nhìn đi chỗ khác. “Lúc đầu khi James gọi điện báo cho con rằng cậu ấy sẽ cưới Selina – và cô ấy đã có bầu – thì con thấy nhẹ cả người”.
“Nhẹ người à?”. Sao lại nhẹ người nhỉ?
“Điều đó khiến con không còn thấy áp lực nữa. Con biết mẹ muốn có cháu. Con cũng muốn mẹ có cháu”. Justine ngồi thẳng dậy và nhìn vào mắt Olivia. “Nhưng thật không may là mẹ sẽ không có đứa cháu nào từ con đâu”.
“Justine”
“Mẹ, làm ơn hãy nghe con chỉ một lần này thôi. Con chưa từng có ý định lấy chồng hay có con cái. Con biết mẹ quan tâm đến quan hệ của con với Warren nhưng mẹ không cần lo sợ đâu. Anh ấy đối xử với con rất tốt và phần lớn thời gian con thích ở bên anh ấy, nhưng con không xác định là sẽ có một mối quan hệ nghiêm túc với anh ấy”.
“Con không muốn cưới à?”.
Justine lắc đầu. “Con biết con khiến mẹ thất vọng và con xin lỗi nhưng làm ơn hãy chấp nhận rằng con không quan tâm đến việc làm vợ hay làm mẹ”.
Olivia để những lời nói đó ngấm vào trong tim. Chị gật đầu.
“Trước đây mẹ đã nói rồi và mẹ nghiêm túc đấy. Mẹ yêu con Justine ạ, mẹ yêu con không phải vì việc con làm, mà vì chính con người của con”.
Justine chớp mắt ngăn những giọt lệ và cúi đầu che giấu cảm xúc của mình trước Olivia nhưng đã quá muộn. Chị đã nhìn thấy.
“Cám ơn mẹ”.
Rồi như thể chẳng có chuyện gì xảy ra, họ tiếp tục ăn món sa-lát.
*
Mỗi buỗi chiều khi đi làm, Cecilia nhìn qua vịnh Cedar ra xưởng đóng tàu Bremerton, nơi con tàu Geogre Washington đang neo đậu. Đã hơn một tuần trôi qua kể từ khi đi ăn tối với Ian, cô vẫn chưa nhận được tin gì của anh. Đêm đó trước khi ra khơi. Rõ ràng là chiếc tàu hàng không mẫu hạm vẫn đang được sửa chữa.
Cecilia biết mình không có quyền cảm thấy thất vọng vì anh không gọi điện. Anh chẳng có lý do gì để liên lạc với cô, ngoài trừ việc đưa cho cô chìa khóa xe của anh.
Bữa tối và buổi xem phim thật tuyệt vời, cả lần ân ái ấy cũng vậy. Cho đến khi anh đột ngột rời đi, Cecilia bắt đầu cảm thấy họ đã có bước đột phá trong quan hệ giữa hai người. Giờ đây cô không biết phải nghĩ thế nào nữa.
Cô hoảng sợ vì họ đã làm một việc ngốc nghếch là quan hệ mà không có bất cứ biện pháp tránh thai nào. Cứ cho là khả năng cô có bầu rất nhỏ. Tuy nhiên cô đã từng có được một bài học đắt giá. Đãng lẽ cô sẽ không mắc phải sai lầm nữa. Nhưng rõ ràng là cô chẳng rút ra được bài học nào cho mình cả. Khi nằm trong vòng tay Ian cô cảm thấy ham muốn và yên tâm. Rất an toàn là khác. Cho đến khi anh mặc quần áo rồi chạy đi như ma đuổi, cô mới tĩnh trí lại.
Và bây giờ là sự yên lặng này đây. Cecilia không hiểu gì hết. Có lẽ Ian đang đợi cô gọi cho anh. Cô không thể nhớ chính xác họ đã nói gì trước khi anh bước ra ngoài cửa. Cô thậm chí không thể nhớ được bất cứ điều gì dù là một lời. Tất cả những gì cô có thể nhớ là lúc đó cô không muốn anh đi nhưng cũng không thể bảo anh ở lại.
Càng nghĩ về việc gọi điện cho anh thì ý tưởng đó càng trở nên thôi thúc. Đến cuối ca trực đêm thứ hai, cô quyết định sẽ gọi điện cho Ian ngay sau giờ học ngày thứ ba.
Cả buổi sáng Cecilia thấy mình cứ xem đồng hồ suốt. Cô không biết lịch làm việc của Ian. Cô hy vọng anh sẽ rảnh rỗi, nhưng nếu anh không rảnh thì cô hoàn toàn có thể để lại nhắn cho anh.
Cô biết anh đang sống trong một căn cứ có điện thoại di dộng; cô đã ghi lại số điện thoại vào sổ cách đây hơn một năm rồi. Cô gọi từ một trạm điện thoại trong khuôn viên trường đại học. Điện thoại ren bốn lần và rồi cô nghe thấy giọng ghi âm của anh bảo cô để lại lời nhắn.
“Anh Ian”, cô nói và lo lắng rằng mình có thể đang làm một việc sai lầm. “Em Cecilia đây… Em không nhận được tin gì từ anh và đang băn khoăn không biết có phải là anh đã thay đổi quyết định của mình về chiếc xe… cũng tốt thôi. Ý em là em không cần nó hay bất cứ thứ gì. Xe của em vẫn còn tốt. Em sẽ nói chuyện với anh sau – tức là nếu anh còn muốn nói chuyện với em”.
Những lời cuối cùng nghe hơi phòng thủ. Trước đó có vẻ như anh đã rất muốn ở bên cô, nhưng rõ ràng cô thấy là anh chỉ muốn làm tình với cô. Cô nhanh chóng gác máy và cảm thấy mình thật ngốc, cô ước mình đã không bốc đồng như vậy. Khi cô đi làm chiều thứ tư, Cecilia đã tin rằng Ian chẳng còn gì với mình nữa. Gần sát đến giờ ăn tối và là lúc cô bận rộn nhất thì bố cô xuất hiện.
“Con có điện thoại đấy”
Tim cô đập rộn lên. “Thế ạ?”. Chắc hẳn là Ian. Chẳng ai khác có ý nghĩ sẽ liên lạc với cô ở đây hết.
“Con có thể nghe điện ở quầy bar”, ông nói với cô và liếc mắt dè chừng ông chủ.
Cecilia nhanh chóng gạt công việc sang bên và vội vã đi. Hai tay cô đẫm mồ hôi, miệng cô khô khốc vì mong chờ.
“Cecilia Randall nghe đây”, cô nói vào ống nghe và ngóng đợi giọng nói của Ian.
Không phải chồng cô ở đầu dây bên kia. Thay vào đó là tiếng Andrew Lackey trả lời.
“Chúng ta đã gặp nhau cách đây lâu rồi, em nhớ không?”
“Dĩ nhiên rồi, Anh Ian đâu ạ?”. Có thể anh lại bị thuyên chuyển rồi. Hải quân vẫn thường thế, chẳng có quy tắc nào hết – ít nhất là theo quan điểm của cô.
“Nghe này, anh nghĩ em nên biết, Ian đang nằm viện”.
Cô thở dốc. “Có chuyện gì thế?”.
“Không có gì nghiệm trọng quá đâu. Anh ấy bị ngã và trẹo lưng thôi mà. Anh ấy cũng bị va vào đầu và bị chấn thương. Các bác sĩ đang theo dõi”.
“Chuyện đó xảy ra lúc nào vậy?”
“Sáng hôm qua”.
“Ôi”.
“Không có gì phải lo lắng đâu. Anh chỉ nghĩ là em muốn biết thôi”.
“Vâng, cám ơn anh”.
Ngay sau khi kết thúc cuộc đàm thoại, Cecilia bước tới chỗ Bobby. “Ian bị thương… con đến bệnh viện đây. Bố tìm ai làm nốt chỗ việc của con nhé?”.
“Chắc chắn rồi. Con cứ đi đi, bố sẽ canh miếu cho”. Bobby nói kiểu đùa đặc trưng của mình.
Cô mỉm cười biết ơn và vội vàng ôm lấy ông. “Cám ơn bố”. Cô rơm rớm nước mắt.
“Này, đừng thế chứ. Nào, cho bố gửi lời hỏi thăm Ian và cho bố biết con có cần gì không nhé”.
“Vâng”, cô đáp và vội lấy áo khoác và ví tiền.
Đoạn đường tới bệnh viện Hải quân Bremeton có vẻ như dài vô tận. Chiếc xe của cô xả ra một đám khói dày khi cô đánh xe vào bãi đậu rộng rãi bên ngoài bệnh viện. Cô nhanh chóng biết mình cần đi đâu. Cecilia nín thở lao vào thang máy. Khi xác định được phòng của Ian, cô dừng lại trong hành lang một lát, đủ lâu để lấy một tay vuốt mái tóc và hít một hơi thật sâu. Rồi cô gõ cửa.
Không có ai trả lời nên cô mở cửa bước vào. Khi vừa nhìn thấy chồng, Cecilia không thể thốt lên vì bàng hoàng. Andrew đã khiến cô tin rằng Ian chỉ bị ngã nhe, rằng lý do duy nhất anh phải nằm viện chỉ là để nghỉ ngơi. Chỉ một cái liếc nhìn cũng đủ nói cho cô biết những vết thương của anh tệ hơn cô nghĩ rất nhiều. Ian nhấc cái đầu quấn đầy băng lên và khi nhìn thấy cô, anh rên rỉ.
“Chuyện gì đã xảy ra vậy?”, cô hỏi và bước hẳn vào phòng.
“Em làm gì ở đây thế?”, anh gặng hỏi như thể không bao giờ còn muốn nhìn thấy cô nữa.
“Em, em… Andrew đã gọi cho em, và…”
Anh cau mày khó chịu; không nghi ngờ gì nữa, anh đang rất đau đớn, cô nghĩ vậy. Một bên mặt anh sưng phồng và thâm tím. Mắt trái của anh hoàn toàn sưng húp và tay trái của anh quấn kín băng.
“Anh chàng nhỏ bé kia có bị làm sao không?”, Cecilia hy vọng cách đùa hơi quá của mình sẽ làm Ian thấy thư giãn.
Anh phớt lờ câu đùa ấy.
“Anh Ian… có chuyện gì thế?”
“Anh không yêu cầu em đến đây”, anh trở nên cộc cằn.
“Em biết. Em đến vì em muốn chắc rằng anh ổn”. Cô không nhắc tới chuyện mình đã mạo hiểm bỏ bê cả công việc của mình khi làm thế  này. Bố cô đã nói ông sẽ che giấu cho cô nhưng lúc vội vã cô đã không nói chuyện với ông chủ của mình và đã bỏ di mà không xin phép.
“Em thấy đấy, anh không ổn mấy, vậy nên bây giờ em có thể về được rồi”.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Ko có con người nào là hoàn hảo .. ko có con người nào là ko có quá khứ .. và ko có con người nào chưa một lần phạm phải sai lầm !
0
Jack đợi cho đến khi người phục vụ đi rồi mới nói. “Tôi chỉ muốn cô hiểu ý tôi – tôi ngưỡng mộ hành động của cô tuần trước. Không dễ chút nào đâu”. Olivia định nhắc lại rằng chị không thể bàn luận về những vụ xử ở tòa của mình, nhưng Jack ngăn chị lại và lắc đầu. “Tôi biết. Tôi biết rồi. Nhưng theo tôi, cô đã có một quyết định sáng suốt và tôi không thể bỏ qua điều đó”.
Olivia sẽ thích hơn nếu Jack không phơi những ý kiến của mình lên mặt báo để cho cả thị trấn bàn bạc. Tuy nhiên, chị chẳng thể nói gì hay làm gì để thay đổi những điều người ta đã đọc được sáng nay.
“Anh ở vịnh Cedar bao lâu rồi?”, chị hỏi.
“Ba tháng”, anh trả lời. “Cô cố tình muốn đánh trống lảng phải không?”
Olivia cười. “Chắc chắn rồi”, chị đáp. “Vậy anh có một cậu con trai à?”.
“Eric. Nó hai mươi sáu tuổi và sống ở Seattle. Lúc lên mười tuổi, các bác sĩ chẩn đoán nó bị một bệnh ung thư xương dạng hiếm. Chẳng ai nghĩ là nó sống được…”. Mặt anh sạm lại trước ký ức buồn.
“Nhưng cháu vẫn sống”, Olivia tiếp lời anh.
Jack gật đầu. “Nó vẫn sống và mạnh khỏe, tôi rất lấy làm mừng vì điều đó. Anh tiếp tục kể rằng Eric làm việc cho hãng Microsoft và đang làm việc rất tốt. Bất chợt, Olivia nhìn xuống ngón tay đeo nhẫn của anh. Jack chỉ nhắc đến con trai chứ không nhắc đến vợ anh.
Rõ ràng anh không để ý thấy cái liếc rất nhanh của chị. “Eric đã sống sót dù mắc bệnh ung thư”, anh nói, “nhưng thật không may, cuộc hôn nhân của tôi thì không”.
Vậy là anh đã hiểu ở một mức độ khá chi tiết về những gì đã xảy ra trong cuộc đời chị. “Tôi rất tiếc”.
Anh nhún vai. “Cách đây lâu lắm rồi. Cuộc sống vẫn tiếp diễn, và tôi cũng vậy. Cô cũng ly hôn rồi à?”.
Mặc dù anh hỏi, nhưng Olivia hiểu rằng anh đã thừa biết câu trả lời.
“Cách đây mười lăm năm”.
Sau đó câu chuyện diễn ra chân tình, Olivia thậm chí chưa kịp nhận ra điều đó thì đã phải về để đi ăn trưa với mẹ. Với lấy chiếc ví, chị đứng dậy và đưa tay ra cho Jack.
“Tôi rất vui được biết anh”.
Anh đứng dậy, để tay người phụ nữ trong lòng bàn tay mình. “Cả tôi cũng vậy, Olivia”. Anh xiết nhẹ những ngón tay chị như thể giữa họ đã có một mối quan hệ sâu sắc. Hôm nay, trước lúc họ gặp nhau, Olivia còn rất tức giận, nhưng Jack đã tìm cách hạ hỏa cho chị. Lúc bước ra cửa, Olivia cảm thấy mình đã có một người bạn. Chị cảm thấy rất rõ rằng Jack Griffin không phải là một người đàn ông bình thường. Và chị biết mình sẽ không sai lầm mà đánh giá thấp anh.
Ian Randall ngồi trong xe bên ngoài khu chung cư vợ anh ở, nghĩ về những gì sẽ phải đối mặt. Thẩm phán đã kết luận rằng sẽ không hủy bỏ thỏa thuận đó. Giờ thì sao đây? Cecilia là người muốn ly hôn. Cô cũng là người đầu tiên thuê luật sư. Khỉ thật, cô đã nhét ý tưởng ngốc nghếch đó vào anh. Cô muốn thoát ra. Được thôi. Nếu cô không muốn ở bên anh nữa, thì anh sẽ chẳng việc gì phải cố làm chồng của cô. Nhưng giờ đây muốn chấm dứt cuộc hôn nhân này cũng không xong nổi. Tất cả chỉ vì họ đã làm một bản thỏa thuận nhằm bảo vệ những lời ước hẹn khi cưới nhau. Phải giải quyết thôi. Chẳng chờ đợi thêm làm gì nữa. Anh ra khỏi xe và chầm chậm đi vào khu nhà, tiến đến căn hộ tầng một nơi họ từng chung sống.
Ian thấy bực mình khi anh phải bấm chuông nơi từng là nhà của mình. Sau khi ly thân, anh đã phải chuyển đi. May mà bạn anh, Andrew Lackey đã cho Ian để một số đồ ở nhà anh ta. Anh cố nuốt giận. Thả tay ra khỏi núm chuông, anh lùi lại một bước và so vai. Anh dồn nén cảm xúc theo cách đã từng được dạy trong các khóa huấn luyện cơ bản. Anh không muốn để Cecilia nhận thấy bất kỳ suy nghĩ hay cảm xúc nào của mình.
Vợ anh mở cửa, cô nhíu mày khi nhận thấy anh đang đứng đó.
“Anh nghĩ chúng ta nên đi đến một quyết định”, Ian nói bằng giọng dứt khoát. Mặc dù đã nhiều lần tự nhủ rằng không nên để cô thấy mình xúc động, nhưng anh vẫn không thể. Anh không thể đứng cùng cô trong căn phòng mà lại quên cảm giác họ từng làm tình với nhau thế nào hay cảm giác khi đứa con đầu tiên của họ dần lớn lên trong bụng cô. Anh cũng không thể quên được nỗi đau đớn khi đứng bên mộ con mà chưa từng một lần được bế Allison hay âu yếm nói với con bé rằng anh yêu nó đến nhường nào.
Cecilia giữ cửa mở. “Được thôi”.
Giọng cô không giấu nổi vẻ ngập ngừng. Ian theo cô vào trong căn phòng khách và ngồi xuống rìa ghế sô-pha. Họ đã mua bộ ghế này say đám cưới. Ian đã không cho Cecilia cùng khiêng nó vì lúc đó cô đã có thai được ba tháng. Bộ ghế cũ này chứng kiến nhiều kỷ niệm vui buồn giống hệ cuộc hôn nhân ngắn ngủi của anh.
Cecilia ngồi khoanh tay đối diện với anh, khuôn mặt cô lạnh lùng.
“Anh phải nói với em rằng phán quyết của thẩm phán thật sự đã gây sốc”, anh mở đầu câu chuyện.
“Luật sư của em bảo rằng chúng ta có thể kháng cáo”.
“Ồ, chắc chắn rồi”. Ian bực bội lẩm bẩm. “Và tiêu phí một khoản năm hay sáu trăm đô la lệ phí nữa. Anh chẳng có ngần ấy tiền mà đốt, và em chắc cũng vậy”.
“Anh nói thế là vì anh không biết tình trạng tài chính của em” Cecilia đốp lại.
Cuộc nói chuyện nào của họ cũng bắt đầu như vậy đấy. Ban đầu họ rất trịnh trọng, gần như quá lịch sự, nhưng cứ vừa tranh luận là mọi thứ lại bùng nổ không thể kiểm soát. Dạo này, hay ít nhất là tư khi Allison Marie được sinh ra – rồi mất đi, dường như họ càng dễ dàng trở nên giận dữ, Ian thở dài với cảm giác vô vọng. Với tình trạng như hiện nay, khó mà tin rằng họ từng là vợ chồng đầu gối tay ấp.
Ian nhớ tới một thời họ từng có cuộc sống yêu đương cực kỳ hạnh phúc và hòa hợp. Hai người  chẳng mấy khi không được hài lòng trên giường. Nhưng đó là trước kia…
“Chúng ta có thể làm như luật sư của em đã gợi ý”.
“Và đó là gì vậy?”. Ian không hề có ý định nghe theo lời khuyên của Allan Harris. Người đàn ông đó chỉ nói theo ý thích của vợ anh chứ không phải anh.
“Allan gợi ý rằng chúng ta hãy làm theo lời thẩm phán đã nói và đưa những bất đồng của chúng ta ra Trung tâm giải quyết tranh chấp”.
Ian nhớ là thẩm phán Lockhart đã nhận xét và anh nhớ phản ứng của chính anh lúc đó. “Chính xác thì như thế để làm gì nhỉ?”, anh hỏi và cố để tìm ra câu trả lời có vẻ hợp lý.
“Vâng, em không thể nói chắc chắn, nhưng em nghĩ mỗi chúng ta nên đưa quan điểm của mình ra trước một bên thứ ba không thiên vị”.
“Chi phí sẽ mất bao nhiêu?”
“Mọi thứ đều bị anh quy ra tiền hết à?”. Cecilia hỏi.
“Đúng, thực tế là như vậy”. Vụ ly dị đã khiến anh mất khá nhiều tiền. Anh không phải là người muốn ly hôn trước, anh khăng khăng tự nhắc mình thế. Sau khi Allison chết, họ đã cãi nhau rất nhiều nhưng anh chẳng thể ngờ là nó lại dẫn đến tình trạng này.
Cecilia chưa bao giờ thông cảm vì việc anh không thể về để kịp thời an ủi và chia sẻ nỗi đau, mặc dù anh đã cố giải thích nhiều lần. Mãi đến khi kết thúc chuyến đi, anh mới nhận được “bức điện gia đình” của cô. Viên sỹ quan đã giữ lại thông tin về đứa con mới sinh của anh và cái chết của cô bé vì lý do không có chuyến bay nhân đạo nào và vì chẳng có cách nào để liên lạc với Cecilia. Cuối cùng khi về đến căn cứ, anh cũng chẳng có cơ hội để hiểu sự thực về nỗi mất mát lớn lao của họ. Vợ anh nhìn anh căm phẫn. “Anh còn gợi ý nào không?”, cô cao giọng hỏi khiến anh phải nghiến răng lại. Cô biết, anh rất ghét khi cô nói với anh như thể anh còn là một cậu học sinh.
“Sự thật là anh có một đề nghị”, anh nói và đứng lên.
“Tốt, em có thể chờ để nghe”. Cecilia khoanh tay dằn dỗi.
“Anh nói đơn giản là chúng ta cứ sống cuộc sống của chúng ta”.
Cecilia cau mày. “Thế là có ý gì?”.
“Em có ý định tái hôn không?”
“Em… em không biết. Có thể một ngày nào đó”.
Về phần mình, Ian hiểu rất rõ. Anh sẽ chẳng bao giờ gắn bó đời sống tinh thần với bất cứ một người phụ nữ nào nữa. “Anh thì không. Anh đã cưới, đã có em, đã có đủ cả mớ lộn xộn này rồi”.
“Để em xem liệu có thể hiễu những gì anh đang nói không”.
Cecilia cũng đứng dậy và bắt đầu bước qua bước lại trong căn phòng nhỏ ngay trước mắt anh. Anh thoáng thấy làn hương thơm từ nước hoa cô dùng và tất cả những gì anh có thể làm chỉ là nhắm mắt lại và hít hà mùi hương đó. Anh rất bực vì cô vẫn còn sức cám dỗ  để làm anh yếu đuối, để anh thèm muốn…
“Chắc chắn là em hiểu, anh đảm bảo như thế”. Ian cố tình mỉa mai vì lúc này anh đang tức giận. Anh không thể ở gần Cecilia mà không cảm thấy oán giận. Không phải là giận cô mà là giận chính mình vì những cảm xúc đang cứ trào dâng lên trong lòng.
Cecilia tảng lờ thái độ của anh. “Anh đang gợi ý là chúng ta không ly dị phải không?”.
“Đại loại thế”. Ian không muốn cô cho rằng anh đang tìm kiếm giải pháp hòa giải. Như thế không ổn. Anh thừa biết điều đó. Những tháng sau cái chết của Allison, cả hai đều cố thoát khỏi tình trạng đau đớn mà không được.
“Đại loại thế?”, cô nhắc lại rồi đưa tay về phía anh. “Hãy nói thêm. Ý tưởng này của anh làm em chưa hiểu”.
“Chúng ta có thể giả vờ rằng chúng ta đã ly hôn”.
“Giả vờ?”. Cecilia chẳng buồn giấu nỗi tức giận. “Đó là ý tưởng ngốc nghếch nhất mà em từng nghe thấy. Giả vờ”, cô nhắc lại và lắc đầu. “Anh cho rằng chúng ta có thể lờ đi toàn bộ những vấn đề của chúng ta và giả vờ là chúng không tồn tại chắc”.
Anh theo dõi thái độ Cecilia. Cô có vẻ không tin những lời anh đang nói và cho rằng anh đang muốn né tránh vụ ly hôn này.
“Anh luôn trốn tránh mọi rắc rối bằng cách giả vờ như nó chưa bao giờ xảy ra”, cô đau đơn thốt lên.
Anh có thể có nhiều nhược điểm nhưng vô trách nhiệm thì không. Ngành Hải quân còn tin tưởng anh với cả con tàu ngầm hạt nhân trị giá nhiều triệu đô la – điều đó không chứng tỏ anh là một người đáng tin cậy sao? Khỉ thật, anh được đào tạo để đáp ứng mọi nghĩa vụ, để biết giữ lời cơ mà.
“Nếu anh cố tình trốn tránh trách nhiệm, anh đã chẳng bao giờ cưới em”. Vừa thốt ra lời, Ian biết ngay anh đã phạm sai lầm.
Cecilia lượn qua lượn lại trong phòng. “Em không bao giờ muốn anh cưới em vì Allison! Chúng mình đã rất hạnh phúc…” Cô rơm rớm nước mắt và bất chợt nhìn đi chỗ khác. “Em không cần anh…”
“Ồ! Em vẫn cần, chí ít là về mặt sức khỏe mà ngành hải quân đem lại cho anh, vợ con anh vẫn cần anh chứ”.
“Anh sẽ chẳng bao giờ cưới em nếu không phải vì em mang thai”.
“Không đúng”.
Cô gạt những sợi tóc vương trên khuông mặt. “ Em không thể tin được. Em ngốc quá”.
“Em!”, Ian gào lên. Rõ ràng, Cecilia nghĩ rằng cô là người duy nhất hối tiếc. Anh cũng hối hận chứ và cả hai người đều thế.
“Allison và em đã…”, cô ngập ngừng rồi bỗng nín lặng.
“Chúng ta…”
“Allison cũng là con gái của anh, và anh không sao kể xiết cho em biết hết được về cảm xúc của anh. Đừng nhồi vào đầu anh hay xem nhẹ tình cảm của anh đối với con. Chỉ vì anh không ở đây khi con ra đời, điều đó không có nghĩa là anh không quan tâm và không đau đớn khi con đã mất. Vì tình yêu Chúa, lúc em trở dạ, anh đang ở dưới núi băng. Anh thận chí không biết cho đến khi…”.
“Giờ thì anh trách cứ em đi”. Cô giơ tay lên che miệng để kiềm chế cảm xúc. Chẳng hay ho gì nếu nói chuyện tiếp. Tệ thật, anh đã cố, đã cố gắng nhưng chẳng đi đến đâu. Anh không thể tìm được điểm chung với cô. Anh lao ra khỏi căn hộ để bớt khổ sở. Cánh cửa đập mạnh phía sau lưng và anh không biết là do mình đóng hay Cecilia nữa.
Ian giận dữ bước ra khỏi ngôi nhà và ngồi vào xe. Với tình trạng như lúc này, Ian nhận thấy mình không nên lái xe, nhưng  anh không định ngồi bên ngoài căn nhà vì như thế Cecilia có thể nghĩ rằng anh ngồi đó chờ cô.
Anh nổ máy và bắt đầu lái xe. Lốp xe quay tít khi anh rú ga, làm cháy cả lớp cao su. Mới đi chưa được một phần tư dặm thì anh nhìn thây đèn tín hiệu xanh đỏ của một chiếc xe cảnh sát đang nháy sau lưng mình.
Cảnh sát. Khỉ thật. Anh kiềm chế và hạn cửa sổ xe xuống. Khi viên cảnh sát đến chỗ anh, Ian đã lấy giấy phép lái xe quân đội của mình ra khỏi ví.
“Chào ngài”, anh nói và ngạc nhiên khi thấy mình diễn rất tốt.
“Anh hơi vội phải không?”, viên cảnh sát hỏi. Anh ta tầm tuổi trung niên, điệu bộ cứng nhắc và mái tóc cắt ngắn. Những điều đó nói lên rằng anh ta đã từng ở trong quân đội, và nó đồng nghĩa với việc anh ta sẽ không thích bất cứ một sai phạm nào – dù rất nhỏ.
“Vồi à?”. Ian nhắc lại và cố thư giãn. “Không hẳn”.
“Anh đang lái xe nhanh trong khu vực chỉ được lái hai mươi-dặm-một-giờ”. Viên cảnh sát nhìn xuống tấm giấy phép lái xe rồi bắt đầu viết một tấm phiếu, rõ ràng là chẳng thấy ấn tượng gì trước việc Ian là quân nhân. Như thế là Ian sẽ  không có cơ hội nói chuyện với anh ta để tìm cách thoát khỏi vụ này. Anh tính vội xem tấm phiếu này sẽ làm anh tốn bao nhiêu.
Cảm ơn, Cecilia, anh cay đắng nghĩ. Cái giá của cuộc hôn nhân ngày càng tăng lên.
Grace Sherman và Olivia Lockhart là bạn thân của nhau gần như suốt cuộc đời họ. Họ gặp nhau từ hồi lớp bảy, đó là học sinh cả trường tiểu học Nam Ridge và Mariner’s Glen đều bước vào trường phổ thông cơ sở Colchester. Grace là phù dâu trong đám cưới của Olivia khi chị lấy Stanley Lockhart ngay sau khi tốt nghiệp đại học. Và Grace cũng trở thành mẹ đỡ đầu của James, con trai út Olivia.
Mùa hè ngay sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, Grace lấy Daniel Sherman và học nhanh chóng có hai cô con gái. Khi Kelly, con út của chị lên sáu, Grace đã đi học trở lại và lấy được tấm bằng cử nhân Khoa học thư viện. Sau đó, chị bắt đầu làm việc cho thư viện vịnh Cedar và trong vòng mười năm, chị được thăng chức thành thư trưởng. Thậm chí ngay cả khi Olivia đang học trường danh giá nhất dành cho con gái ở Oregon và Grace thì đang là một bà mẹ ở nhà với hai đứa con nhỏ, họ vẫn rất thân với nhau. Họ đã luôn như thế. Vì cuộc sống bận rộn, họ đã tạo ra những thói quen để duy trì tình bạn. Mỗi tháng, họ đi ăn cùng nhau một lần. Và tối thư tư tuần nào cũng vậy, cứ bảy giờ là họ lại gặp nhau ở lớp tập thể dục thẩm mỹ.
Grace đứng đợi bạn ở bãi đổ xe sáng đèn. Khi rời khỏi nhà, chị không cảm thấy dễ chịu chút nào. Trong chị đang tràn đầy cảm xúc. Về thể xác, chị cảm thấy mệt mỏi, chị bị tăng cân và chị đã không con kinh nguyệt nữa để mà đổ lỗi cho việc tăng cân ấy. Đã nhiều năm, chị cố gắng giữ số cân như thời còn đi học, nhưng trong vòng năm năm qua, chị không còn giữ được vóc dáng như ngày xưa nữa. Dù chị có cố gắng đến thế nào đi nữa vẫn không hạn chế được việc tăng cân đáng nguyền rủa ấy. Chị cũng chẳng hài lòng với những đặc điểm ngoại hình khác của mình. Nhất là mái tóc muối tiêu đã trở nên luộm thuộm, phờ phạc.
Nghĩ lại, có lẽ chị đã thờ ơ với chính cuộc sống của mình bởi những thói quen nguy hiểm. Chị cần thay đổi – mặc dù không tin là sẽ có nhiều khác biệt. Về mặt tình cảm, chị cũng không cảm thấy khá hơn. Sau ba mươi lăm năm chúng sống, chị hiểu chồng mình như hiểu chính bản thân vậy. Có điều gì đó đang làm Dan khổ sở, nhưng khi chị nhẹ nhàng hỏi anh về chuyện đó, anh sẽ gầm lên và họ lại cãi nhau. Anh làm tình cảm của chị bị tổn thương ghê gớm và Grace chạy trốn mà chẳng dám đối đầu với vấn đề nữa. Dan làm nghề đốn gỗ hầu như trong suốt cuộc hôn nhân của họ. Khi ngành này gặp khó khăn, anh làm việc cho một người làm dịch vụ xén cây. Công việc này không ổn định và chẳng ai trong số họ thích nó, và họ luôn phải cố gắng xoay sở với số thu nhập của chị hoặc từ một khoản làm thêm nào đó. Hầu như họ chẳng bao giờ có chút tiền nào dư giả, nhưng với Grace thì điều đó chẳng hề hấn gì. Chị có chồng, có con, có bạn bè và có một mái che tươm tất trên đầu mình.
Chị nhìn Olivia lùi chiếc xe màu xanh sẫm vào chổ đỗ và ra khỏi xe, tay cầm chiếc túi đựng đồ tâp. Grace hỏi. “Thế nào, cảm thấy là người nổi tiếng thế nào?”
“Cậu biết không?”. Olivia phàn nàn khi cùng Grace bước vào tòa nhà. Chị giữ cửa mở cho bạn. “Tớ chỉ thấy khổ sở vì bài báo ngốc nghếch đó”. Grace mỉm cười khi thấy má bạn mình đỏ ửng.
“Tớ để anh ta hiểu thêm một chút về tớ”. Olivia lẩm bẩm lúc họ đi qua một nhóm thanh niên về phía bể bơi. Vào trong phòng thay đồ, họ để túi lên ghế, cởi áo và thay giầy. Grace để một chân lên cạnh ghế và buộc dây giầy.. “Cậu gặp Griffin à? Khi nào?”
“Hôm thứ bảy”
Grace rướn lông mày. Chị thấy thích thú khi Olivia kể chi tiết câu chuyện. “Ở đâu”.
“Trong thị trấn”.
“Này, rồi thế nào nữa?”.
“Rồi à? Chẳng có gì”, bạn chị đáp. “Tớ chỉ tình cờ gặp Jack  ở Safeway và bọn tớ… tán gẫu với nhau một chút”.
“Sao tớ lại có cảm giác là cậu giấu tớ điều gì đó?”
Olivia quấn ruy băng chắn mồ hôi quanh trán.
“Tin tớ đi, không còn gì nữa đâu”.
“Tin cậu à?”. Grace nhắc lại rồi đi theo chị ra khỏi phòng thay đồ vào khu phòng tập.
Grace và Olivia phải dừng bước vài lần để tránh đường cho những người qua lại. “Cậu có bao giờ để ý rằng mọi người hay bảo cậu tin họ trong đó khi có thể chính họ lại đang cảm thấy không nên tin vào mình không?”
Olivia ngừng lại rồi bắt đầu bài khởi động. “Tớ không để ý, nhưng cậu nói đúng”. Chị đặt chân lên thanh ngang và cúi xuống để trán chạm vào mắt cá chân.
Grace tựa vào thanh chắn và ghen tị với độ mềm dẻo của bạn mình. Cơ thể chị không thể mềm mại thế được. “Cậu có biết là mọi người bàn về bài báo đó cả tuần nay không?”
“Tuyệt”
Không để ý đến thái độ châm biếm của bạn, Grace tiếp tục, giọng mềm mại. “Thực ra thì đa số lên quan đến Jack Griffin”.
Olivia ngẩn đầu lên. “Có gì thú vị không?”
Grace nhún vai rồi nới lỏng vòng bụng quần soóc. “Ồ, vài chuyện”.
“Ví dụ?”.
Grace không để Olivia dễ dàng khai thác thế. Chị nhớ ra rằng, Olivia chưa bao giờ bày tỏ sự tò mò và thích thú đến thế trước người đàn ông nào kể từ khi ly dị. Có lúc, Grace cảm thấy rằng bạn mình đang “tuân theo luật”, như lời mọi người vẫn nói. Một nhận xét chính xác, chị luôn nghĩ thế. “Cậu muốn biết thật chứ?”.
Xem chừng Olivia cần suy nghĩ nhiều về câu hỏi này. “Thôi – quên nó đi”. Nhưng hít một hơi, Olivia lại thay đổi. “Được rồi. Tớ tò mò đấy. Cậu nghe thấy gì?”.
“Anh ta chuyển đến vịnh Cedar cách đây ba tháng”.
“Tin cũ rồi”, Olivia lẩm bẩm. “Không lẽ cậu chỉ biết có thế…”
“Từ khu vực Spokane”.
Dường như đây là thông tin Olivia không biết.
“Có gốc làm báo?”
“Ừ, từ một tờ báo có số phát hành gấp mười lần tờ Bản tin vùng vịnh Cedar”. Grace không phải là người hay buôn chuyện nhưng chị cũng muốn biết về Jack từ khi chị đọc mục đầu tiền anh bày tỏ trên mặt báo và rõ ràng là anh ủng Olivia. Chị đã gặp anh ở cuộc gặp mặt của Phòng Thương mại ngay sau khi anh chuyển đến vịnh Cedar, nhưng hôm đó chị lại chẳng có một chút ấn tượng nào hết.
“Tại sao một người đàn ông lại từ bỏ công việc ở một tờ báo danh tiếng để chuyển đến một thị trán nhỏ như vinh Cedar nhỉ, Grace hỏi Olivia.
Bạn chị nhún vai. “Tớ cũng chỉ đoán già đoán non như cậu. Có lẽ anh ta muốn ở gần con trai mình hơn”.
“Anh ta có con trai à?”. Những người Olivia từng nói chuyện chẳng ai biết điều đó.
“Eric. Cậu ta sống ở Seattle”.
Thú vị thật. Nhưng Grace chưa kịp nói gì thêm thì huấn luyện viên Shannon Devlin đã bước vào phòng và vỗ tay để tập hợp các học viên.
“Tin tớ đi. Thay đổi công việc thế này chắc chắn là để chạy trốn điều gì đó.”
“Tin cậu!”
“Ừ, tin tớ”. Grace nói đùa.
Olivia cười và đặt tay lên hông rồi xoay eo, sau đó cúi sâu xuống trong khi Shannon hướng dẫn cả lớp bài khởi động. “Cậu đã quanh quẩn với những bí mật của thư viện quá lâu rồi”. Chị thì thầm khi họ đứng trước gương.
Huấn luyện viên Shannon đang ở tuổi hai mươi. Đó là một chí gái xinh đẹp, thon thả, cơ thể không hề có một chút mỡ thừa nào. Cơ thể mình cũng từng thon thả và đẹp hoàn mỹ trước khi có hai con, Grace tự nhủ. Tiếng nhạc tưởng chừng như không thể to hơn được nữa khiến chị tập mạnh mẽ hơn. Chị vừa thích, vừa ghét lớp học này. Nếu không vì Olivia, có lẽ chị đã bỏ hàng chục lần rồi. Nhưng Grace cũng cần lớp học này để hít thở và kéo căng cơ thể. Mặc dù mỏi cơ, chị vẫn không ngại tập phần ngồi xuống đứng lên hoặc những bài tập tương tự, nhưng chị không thích những bài tập nhảy nhót theo thói quen của Shannon.
Bước lùi, sang trái, qua phải… Olivia dường như không bao giờ gặp trở ngại với những động tác phức tạp; ngược lại, Grace thì thấy chúng thật khó khăn đối với mình.
Sau năm mươi phút toát mồ hôi và thở hổn hển cộng với bài tập thư giãn, họ kết thúc buổi vận động. Về phần Grace, năm mười phút là hơi quá sức. Đến khi tắm và thay quần áo xong, Olivia mới lại đả động tới Jack. Việc chị muốn tiếp tục câu chuyện kiến Grace ngạc nhiên.
“Cậu còn biết thêm gì về Jack Griffin?”
Grace suy nghĩ. Sau buổi thể dục thẩm mỹ, bao giờ chị cũng phải mất một lát để bình tâm lại. “Cậu biết về anh ta nhiều hơn tớ đấy”, cuối cùng chị thốt lên.
Olivia với túi tập của mình. “Tớ nghi ngờ điều đó”.
“Cậu thích anh ta phải không?”.
Olivia cười trước câu nói đó. “Ồ, không hề, Chẳng cần thêm mối quan hệ nào thì tớ cũng có quả đủ lo lắng rồi”.
“Lo lắng?”. Chắc chắn Olivia có lo lắng, nhưng ai mà chẳng thế.
“Mẹ tớ ngày càng gì đi, còn Justine – tớ không thể nói chuyện với con bé nữa, và hai tuần trước tớ có tin về James”.
“Tớ nghĩ đó đang ngoài biển”.
“Đúng thế, nhưng nó vẫn có thể gửi thư điện tử cho tớ”.
“Được rồi, được rồi, chúng ta đều gặp vấn đề với con cái và bố mẹ chúng ta cũng là một mối lo ngại, nhưng như thế không có nghĩa là chúng ta dừng cuộc sống này lại”.
“Cậu nghĩ tớ dừng cuộc sống này lại à?”. Olivia hỏi. “Vì tớ không có người đàn ông trong đời mình ư?”
Grace biết câu hỏi này làm Olivia bị xúc phạm. Trước đây Dan cũng từng có cảm giác bị chị xúc phạm và bây giờ là người bạn thân nhất của chị; và Grace không có ý làm bất kỳ ai trong hai người buồn.
“Tớ không có ý đó”, chị trấn tĩnh bạn mình.
“Tớ chỉ nghĩ là cậu nên cởi mở khi đến với Jack”.
“Tại sao?”.
“Bởi vì nên như thế”. Và đó là toàn bộ câu trả lời mà Grace muốn nói, nhưng chị có cảm giác một cách sâu sắc rằng vị biên tập mới của tờ Bản tin vùng vịnh Cedar nãy sẽ mang tới những điều thú vị và mới mở cho Olivia.
3
Vào buổi tối gặp Ian Randall, Cecilia đang làm phục vụ ở một nhà hàng có tên là Bếp Thuyền Trưởng, cô làm ở đó năm buổi tối một tuần. Cha cô, Bobby Merric, một trong những người đứng quầy bar đã lựa chọn cộng việc đó cho cô. Suốt thời niên thiếu, Cecilia luôn có cảm giác bị cha mình lừa dối và bỏ rơi nên cô rất thiếu thốn tình cảm. Do vậy, giờ đây khi thấy cha nhiệt tình giúp đỡ, cô cảm thấy mình được an ủi và quan tâm; nên cô lập tức đồng ý. Lúc bố mẹ ly di, cô lên mười tuổi, Cecilia gần như chẳng bao giờ nhìn thấy cha mình và cô đã đón nhận cơ hội này để được ở gần bố. Bỏ qua lời cảnh báo của mẹ, cô gói ghém hành trang và chuyển từ New Hampshire tới cộng đồng cảng nhỏ này ở Washington. Trong vòng ba tháng, cô đã biết mình sai lầm. Nhưng giấc mơ học cao đẳng của cô chỉ đơn giản thế. Chỉ là mơ thôi. Ý tưởng của Bobby về việc sắp đặt tương lai cho cô chỉ là nói chuyện với ông chủ của mình và cho cô một công việc ở nhà hàng nơi ông làm việc. Cecilia không muốn vài chục năm nữa vẫn chỉ là một người phục vụ, nhưng cô không biết làm gì để thay đổi điều đó. Do không định hướng trước nên cô đã để cuộc đời mình chệch hướng.
Giờ đây, cô chuẩn bị ly hôn, ngập đầu ngập cổ trong nợ nần và đau khổ. Cô vỡ mộng về cha mình và đàn ông nói chung. Bobby muốn trở thành bạn của cô, nhưng thật tệ hại, Cecilia không cần một người bạn mà cô cần một người cha nhiều hơn. Cô thề, rồi một ngày, cô sẽ tìm cách để đi học, nhưng trước hết, cô phải làm thế nào để trả được học phí đã. Sau khi phải trả các lệ phí cho cuộc ly hôn và chi phi để chôn cất con gái, cô ngờ rằng phải đến ba mươi tuổi cô mới có thể đi học được. Về mặt tài chính, Bobby không thể giúp đỡ cô, ông đã tuyên bố thế. Để kiếm thêm tiền, cuối tuần cô phải làm thêm, phục vụ đồ uống ở quầy bar lúc mười giờ sau khi quan dừng phục vụ bữa tối. Khi cô nhận làm việc muộn tối thứ sau, cô biết đó sẽ là ca rất bộn rộn. Chiếc tầu hàng không mẫu hạm Carl Vínon sẽ vào thị trấn, có nghĩa là sẽ có toàn bộ thủy thủ đoàn gồm hai ngìn năm trăm người. Bếp Thuyền Trưởng luôn phục vụ hải sản tươi ngon nhất trong khu vực và là quán bar được yêu thích nhất.
Chính tại đây, tháng Giêng năm trước, một đêm, Ian đã đến uống. Anh đã để mắt đến cô và cô cũng say sưa nhìn anh. Rồi anh… Cô rùng mình, Cecilia không muốn nghĩ tới chồng mình nữa và cố đẩy anh ra khỏi tâm trí. Không thể nào.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-06-21 07:51:03flowerlegend>
BỊ TRÙNG RỒI PHẦN 1 RỒI!

ĐỂ MÌNH ĐÁNH TỪ PHẦN 7 - ĐẾN PHẦN 11 NHÉ

CÁC PHẦN DƯỚI CÁC BẠN LO NHÉ (TỪ 2 - 6)
0
Trích đoạn: flowerlegend

BỊ TRÙNG RỒI PHẦN 1 RỒI!

ĐỂ MÌNH ĐÁNH TỪ PHẦN 7 - ĐẾN PHẦN 11 NHÉ

CÁC PHẦN DƯỚI CÁC BẠN LO NHÉ (TỪ 2 - 6)



OK, cảm ơn flowerlegend  đá nhận từ phần 7 đến 11

Nhưng phần 11 đã có nhím nhận rồi
Vậy đánh đến 10 thôi nhá

Nhờ cunhoi đánh phần 2 và 3 nhé

Và nhờ Thao đánh dùm phần 4 và 5

Con phần 6 , khi nào các băn nào đánh xong phần của mình, thì nhận sau nha
thành thật cảm ơn các bạn nhiều

Thân ái
0
Từ trang 268 đến trang 301
 
...gắng khuyên cô không nên bỏ học. “ Em muốn cảm ơn thầy ”.
“ Thế còn môn học kia của em? Môn gì ấy nhỉ? ”.
“ Tiếng anh thương mại ”, cô trả lời.
“ Em cũng có ý định bỏ à? ”.
Cô gật đầu, cầm chặt lấy cuốn sách hơn bao giờ hết. Trường sẽ trả lại một phần học phí nếu cô thôi học trước ngày cuối cùng của tuần này.
“ Thầy rất tiếc , Cecilia ạ ”, thầy lại nói.
“ Em cũng thế ”, cô khẽ đáp, thậm chí lần này còn khổ sở hơn.
“ Để đến cuối tuần được không? ”.
“ Vâng ạ ”, cô đồng ý nhưng cô đã quyết. Cô sẽ dùng số tiền học ấy để sắp xếp một cuộc hẹn với Allan Harris. Cô sẽ nhờ anh ta cố gắng thay đổi bản thỏa thuận trước khi kết hôn. Anh ta sẽ nói rằng họ có thể khẩn khoản yêu cầu thẩm phán Lockhart ra quyết định, và khi Ian còn đang ở ngoài khơi, thì đó là lựa chọn duy nhất của cô. Sau giờ học, Cecilia lái xe về căn hộ, hi vọng được chợp mắt trước khi đi làm. Thông thường cô bắt tay vào làm bài tập về nhà một cách hăng hái, nhưng hôm nay thì không. Vì rất có khả năng cô sẽ không trở lại trường Đại học Olympic sau ngày thứ sáu nữa.
Đèn trên máy điện thoại nhấp nháy. Cecilia miễn cưỡng bấm nút.
“ Cathy đây ”, giọng vui vẻ của người bạn vang lên.
“ Mấy người bọn mình định cùng nhau ăn tối hôm nay. Cậu có muốn tham gia không? Sẽ ăn ở nhà mình. Hi vọng cậu đến được. Hoặc hãy gọi lại cho mình. Mình rất mong cậu tới ”. Cathy đã trở thành một người bạn, một người bạn tốt , và tuần nào họ cũng gặp nhau. Đôi khi họ cùng gặp gỡ với các bà vợ khác của lính hải quân, nhưng thường là không. Họ đi khảo sát giá của ga-ra, xem phim, hoặc gặp nhau giữa buổi trong ngày chủ nhật. Nhưng tối nay thì Cecilia không thể, vì cô có ca làm ở nhà hàng. Cathy biết giờ làm của cô, nhưng vẫn mời cô, muốn cô tham gia. Cecilia không muôn phải giải thích, vì rõ ràng cô không thể đi được. Cathy nhấc máy ngay lập tức. “ Cecilia ”, cô hét lên, có vẻ rất vui khi nghe tiếng Cecilia “ Hãy nói cậu sẽ tới đi ”.
“ Mình không thể ”.
“ Nhưng nếu không có cậu thì sẽ không thể vui được ”.
“ Mình sắp phải đi làm, và giờ này thì không thể tìm ra người thay ”. Thế là đủ.
Cathy buông tiếng thở dài thất vọng. “ Có lẽ bọn mình sẽ tới thăm cậu. Cậu có biết châm ngôn - nếu Mohammet không lên núi...” . Cô không nói hết câu đã cười như thể vừa nói ra một câu khôn ngoan nào đó.
Cecilia không hưởng ứng. “ Có lẽ để lần sau ”, giọng cô uể oải.
Cathy do dự. “ Mọi việc vẫn ổn chứ? Không, đừng trả lời thế. Chắc chắn là không ổn. Có chuyện gì vậy? ”.
Không muốn cho Cathe biết toàn bộ sự thật, Cecilia chọn cách nói thật ngắn gọn. “ Mình sẽ thôi học ”.
“ Không được! Cậu thích các môn học kia mà ”.
“ Mình cần tiền ”.
“ Mình sẽ cho cậu vay ”.
Cecilia sốc khi người bạn mới quen chưa được bao lâu lại đưa ra một đề nghị như vậy. “ Cậu cũng làm gì có tiền ”.
“ Đúng, nhưng mình có thể... Mình nghĩ đã. Đừng lo, cùng lắm mình sẽ huy động của những người mình gặp tối nay. Chúng ta phải sát cánh bên nhau, đúng không? Nếu chúng ta không thể giúp đỡ nhau về mặt tinh thần thì ai có thể đây? Trong khi những người chồng của chúng ta đang ở ngoài khơi, thì chúng ta chỉ có nhau mà thôi ”.
Cecilia thấy phấn chấn hẳn lên, nhưng với Cathy thì điều đó là đương nhiên, tinh thần lạc quan và tính phóng khoáng của cô luôn đem lại hi vọng cho cuộc đời.
“ Mình sẽ liên lạc với cậu sau ”, Cecilia nói. Rồi bất chấp sự tuyệt vọng của mình, cô ngồi xuống bên cuốn Đại số và bắt đầu làm bài tập về nhà. Khi cô nhìn lên thì đã muộn giờ đi làm. Cô vội vã thay quần áo rồi lao ra cửa, và đến quán Bếp Thuyền Trưởng vừa kịp giờ giao ca.
Như thường lệ, Cecilia thò đầu vào phòng đợi để chào bố.
Bobby giơ tay lên và hỏi với theo. “ Tình hình thế nào? ” khi trông thấy cô.
“ Ổn ạ ”. Không nên giải thích sự phiền muộn của cô với ông, vì ông sẽ không biết phải nói sao nếu cô tâm sự.
“ Bố mừng khi nghe điều đó ”.
“ Vâng ” , cô khẽ nói.
Cecilia làm chưa được một tiếng thì người đưa thư tới cùng một bó hoa tươi rất to. Những bông cúc vàng, loài hoa yêu thích của cô, cùng những bông tu-líp màu hồng và mấy loại hoa nữa. “ Tôi muốn gặp Cecilia Randall ”, anh ta vừa nói vừa đọc mảnh giấy gắn kèm.
Vô cùng sửng sốt, trong thoáng chốc, Cecilia không cất nên lời.
“ Có cô Randall ở đây không ạ? ”, cậu ta nhíu mày hỏi.
“ Tôi là Cecilia Randall ”, cô đáp.
Người thanh niên, có lẽ là học sinh cấp ba, đưa bình hoa cho cô rồi đi. Cecilia không cần mở giấy bóng kính và đọc tấm thiệp cũng biết chúng là do Ian gửi. Đây là trò dối trá, hèn họ của anh, cô thấy thật tội lỗi. Quỷ thật, không thể để như thế. Cô không chịu để hành động ấy ảnh hưởng tới mình.
Đặt bó hoa xuống cạnh máy đếm tiền, Cecilia tháo lớp ni-lông và ném vào thùng rác gần đó. Rồi cô cầm tấm thiệp lên.
Mừng một năm ngày cưới. Anh yêu em. Ian.
Lòng chợt quặn thắt, Cecilia sợ mình sẽ ốm mất. Cắn nhẹ vào môi dưới, cô đợi cảm giác đó trôi qua.
“ Hoa cho ai đấy con? ”, bố cô tò mò hỏi, và bước vào nhà hàng.
Cô không trả lời ngay. “ Anh Ian gửi cho con ”, co khẽ nói.
“Thật sao? Nhận dịp gì đặt biệt à?”
Cô gật đầu. “Là... kỉ niệm ngày cưới của chúng con”.
“Ồ”.
Những giọt nước mắt lăn dài trên má Cecilia. Khi người bố nhận ra, ông vỗ nhẹ vào lưng cô rồi quay trở lại quầy bar.
 
 
 
Justine nhấp một ngụm rượu, giả vờ lắng nghe  Warren nói. Cô không biết anh ta đang nói đến đâu, nhưng việc cô đáp lại hay không đều không quan trọng. Bất kỳ lời bình luận nào, ngoại trừ lời khen hoặc câu xã giao, đều không được hoan nghênh. Justine biết vai trò của mình, cô như một vật trang trí. Trước đây, điều này không làm cô bận lòng và bây giờ cũng vậy. Cô hiểu Warren, hiểu các điều khoản thỏa thuận giữa họ.
“Rượu nữa nhé?”. Warren hỏi, nâng chai lên và rót vào cốc cô.
Bữa tối tại nhà hàng Settle năm sao này là để ăn mừng hợp đồng trị giá nhiều triệu đôla nào đó mà Warren vừa ký được. Cứ hai, ba tháng lại có một buổi ăn mừng như thế.
“Chà”, anh ta nói, nhìn cô đầy hi vong, “em đang nghĩ gì?”.
“Nghĩ gì à?”. Warren không hẹn hò với cô vì sự thông minh của cô và cũng không hứng thú với các quan điểm của cô; thực tế là anh ta tránh những câu chuyện về công việc của cô tại ngân hàng.
Anh ta chớp mắt. “Justine, em không nghe à?”
“Em... em e là tại rượu. Em thấy buồn ngủ. Em xin lỗi, anh yêu, anh đang nói gì vậy?”. Nếu cô nói rằng có một người đàn ông nào khác đang ở trong tâm trí cô, thì điều đó chắc chắn sẽ làm anh ta cụt hứng.
Những ý nghĩ về Seth Gunderson bám riết lấy Justine suốt ngày đêm, nhưng cô sẽ trở thành côn ngốc nếu bỏ Warren vì một người chỉ có cuộc sống trên thuyền. Seth làm cô tức điên lên. Lẽ ra anh phải rất hào hứng được ngủ với cô khi cô đã chủ động đến thế. Mỗi lần nghĩ tới cái đêm đó, Justine lại vô cùng giận dữ và thấy mình bị xúc phạm, cô muốn đập đầu vào tường. Ngu! Ngu! Ngu!
Vì yếu đuối, cô đã khuyến khích anh, và đó là sai lầm khủng khiếp. Seth tin cô sẽ bỏ Warren vì anh. Cô không thể, Warren cần cô, và theo cách của riêng mình, cô cũng cần anh ta.
“Anh đang nói về chúng ta”, Warren nhắc lại.
Cuộc nói chuyện sắp trở nên ngượng nghịu. Justine cảm thấy thế.
“Ồ, anh Warren, anh có thực sự nghĩ đây là lúc thích hợp không?”. Cô bĩu môi với anh ta.
“Có. Tối nay là bữa ăn mừng”.
“Em rất tự hào về anh”.
Warren nở nụ cười với Justine và tì người vào bàn, siết chặt lấy tay cô. Dùng ngón tay cái của mình vuốt ve mu bàn tay cô, anh ta nhìn cô âu yếm. “Em biết tình cảm anh dành cho em là thế nào rồi đấy”.
Đúng thế, Justine có thể hiểu điều đó nhưng cô không hề ngốc.
“Chuyển đến sống cùng anh đi”.
“Ôi, anh Warren”. Hai hay ba lần gì đó trong năm rồi, anh ta thúc cô quyết định việc này. Cho đến giờ, cô luôn tìn cách thay đổi chủ đề và xoa dịu để anh ta không còn khăng khăng “thực hiện bước đi tiếp theo” nữa. Hẹn hò với Warren là một chuyện; nhưng sống cùng anh ta lại là chuyện hoàn toàn khác. Cô chẳng bao giờ có ý định để quan hệ của họ đi xa đến thế.
“Trước hi em trả lời”, Warren nói, “ hãy xem thứ này”.
Anh ta rời mắt khỏi cô để tập trung vào túi áo bên và lấy ra một chiếc hộp nhung đựng nữ trang.
“Anh Warren?”
Vậy là áp lực ngày càng lớn. Không quan trọng. Cô sẽ không dễ dàng từ bỏ tự do của mình, bất kể đề nghị của anh ta là gì.
“Trước khi cho em xem, anh muốn giái thích”. Warren lại cầm tay cô, ánh mắt đầy vẻ nghiêm túc, rồi anh ta nhìn xuống bàn, khẽ nói. “Em chưa từng đòi hỏi bất kỳ cái gì ngoài những thứ anh tặng”.
Ý Warren là Justine chấp nhận sự bất lực của anh ta trong quan hệ chăn gối. Thực ra, cô không để tâm, thậm chí còn thích khi quan hệ của họ không hề liên quan đến xác thịt. Justine giữ bí mật cho anh ta; cô chấp nhận chuyện đó. Theo cô, rất ít người biết trục trặc của Warren. Rõ ràng đó là loại bệnh mà những viên thuốc tăng lực nhỏ màu xanh cũng chẳng có tác dụng.
“Em thích tự do”, cô nhẹ nhàng nhắc, không có ý muốn xúc phạm.
“Em cứ tự do, em yêu”.
“Làm sao có thể như vậy được”.
“Có thể chứ”, Warren thuyết phục. “Trên thực tế, em có thể có phòng riêng nếu em muốn”.
Anh ta đã gợi ý như thế vào lần cuối cùng đề xuất chuyện này. Khi ấy cô không quan tâm, và bây giờ cũng vậy.
“Đó là vì mẹ em, phải không?”. Warren hỏi.
“Không phải”. Justine biết đổ lỗi cho mẹ thật quá dễ. Bà là một thẩm phán, là một người quan trọng của thị trấn, nhưng Justine có lập trường của mình. Những điều cô làm với cuộc đời mình không phải là sự phản chiếu từ sự nghiệp của mẹ cô.
“Em sẽ từ chối anh?”. Warren từng mang gương mặt của một chàng trai mà cách đây hai mươi năm có thể là rất đáng yêu, nhưng ở tuổi này, trông nó thật thảm hại.
“Em xin lỗi. Anh biết là em chẳng bao giờ muốn làm tổn thương anh mà”.
“Tốt”. Warren cười tươi rói và mở nắp chiếc hộp nhung ra.
Justine ngộp thở. Đó là viên kim cương lớn nhất cô từng thấy trong đời, một viên ba hay bốn cara gì đó. Cô đưa tay bưng miệng, không thốt lên lời.
“Nó rất đẹp, phải không?”.
Cô chỉ đủ sức gật đầu.
“Anh muốn chúng ta kết hôn, Justine. Đây là nhẫn đính hôn dành cho em”.
“Kết hôn ư?”. Căn phòng bắt đầu quay tít và Justine cảm thấy hơi chóng mặt.
“Em là người phụ nữ có học, xinh đẹp. Mỗi khi có người nhìn thấy em đi bên cạnh anh, anh cảm thấy như mình là triệu phú. Chúng ta là một cặp trời sinh, em yêu ạ”.
Justine chằm chằm nhìn  Warren. Tính thiếu nhạy cảm của anh ta thật tức cười. Anh ta đang cố thuyết phục một người phụ nữ trở thành vợ mình bằng cách nói rằng cô đã nâng tầm hình ảnh của anh ta lên. Nói điều đó để thuyết phục cô lấy anh ta ư?
“Em từng nói với anh rằng em không muốn lập gia đình”, anh ta nói.
“Em không muốn”.
“Chà, thế thì hợp với cả hai chúng ta đấy”.
Justine nhẫn nhịn.
Anh ta liếc quanh rồi hạ thấp giọng. “Nếu em muốn ở riêng phòng sau khi chúng ta kết hôn, thì anh cũng chấp nhận”.
“Ôi, anh Warren”.
“Em hãy suy nghĩ”, anh ta nói. “Hãy nhận chiếc nhẫn này. Thử đi em”.
Cô làm theo lời anh ta, đơn giản vì cô muốn xem chiếc nhẫn kim cương bốn cara trông như thế nào trên ngón tay mình. Nhưng người đàn ông lãng mạn sẽ tận dụng cơ hội này để tự tay mình đeo nhẫn cho cô. Seth sẽ làm thế - cô chắc chắn - nhưng anh không có khả năng mua một chiếc nhẫn như thế này... dù là bây giờ hay mai sau, suốt cả cuộc đời.
Chiếc nhẫn vừa khít như thể nó được thiết kế riêng cho Justine vậy. Đó là món nữ trang lộng lẫy nhất mà cô từng thấy.
“Em hãy đeo đi”, Warren giục. “Nó được bảo hiểm rồi”.
Justine chẳm chằm nhìn chiếc nhẫn rồi miễn cưỡng tháo nó ra khỏi tay. “Em sẽ suy nghĩ nghiêm túc về lời cầu hôn của anh”, cô nói với Warren, và cô có ý đó thật.
“Em này, nếu bố mẹ làm em lo lắng thì anh sẽ nói chuyện với họ”.
“Em tự quyết định được, anh Warren ạ”. Justine rùng mình với ý nghĩ Warren đối mặt với cả bố và mẹ cô. Họ sẽ không hợp nhau, cô chắc chắn.
“Khi nào em sẽ có câu trả lời?”, Warren hỏi, đúng chất của một người kinh doanh. Anh ta không cho phép cô để mình phải mỏi mòn chờ đợi.
“Tuần sau”, Justine đáp. Thậ chí nếu cô từ chối lời câu hôn của anh ta, thì mối quan hệ của họ cũng sẽ vẫn như trước. Warren biết điều đó và cả cô cũng thế.
Ngay tối hôm sau. Seth gọi cho Justine từ Alaska. Cô không ngạc nhiên. Dường như anh luôn biết lúc nào cô chờ điện thoại?
“Chào em”, anh nói. Giọng anh khiến người ta tưởng anh đang ở bên kia đường chứ không phải cách cô hàng nghìn dặm về phía bắc.
“Chào anh, Seth”.
Một khoảng lặng theo sau lời chào của cô. “Hình như em không vui khi nghe tiếng anh”.
“Vâng”.
“Vì nguyên nhân gì?”.
Justine nhắm mặt lại và thở dài. Cũng có thể cô sẽ cho anh biết. Seth càng biết sớm, thì càng tốt cho cả hai bọn họ. “Tối qua Warren đã hỏi cưới em”.
Một thoáng do dự nữa. “Em đã nhận lời cầu hôn của anh ta chưa?”.
“Chưa”.
“Em có muốn không?”.
Cô không muốn, nhưng để Seth biết thì khác nào cô đã chính thức cắt đứt quan hệ với Warren.
“Em không biết”.
“Khi nào em sẽ biết?”.
“Sớm thôi”.
Seth không tranh luận hay cố thuyết phục Justine từ chối người đàn ông kia. Anh cũng không nói cô thật ngốc nghếch nếu đồng ý lấy Warren. Thay vào đó, anh hỏi. “Em có yêu anh ta không?”. Anh giữ giọng ở tư thế đàm thoại, như thể dửng dưng trước câu trả lời của cô.
“Em cũng vẫn chưa quyết định”. Cô thích Warren, nhưng so với ngọn lửa bao trùm lấy cô mỗi khi ở bên Seth, thì thích là một cảm xúc nhạt nhẽo.
“Em có đợi để anh quyết định giúp em không?”. Seth hỏi.
“Đừng nực cười thế”.
“Anh thấy có vẻ nên như thế đấy”.
Cô thở dài thành tiếng. “Em nói ra chỉ vì em nghĩ anh nên biết”.
Seth cười hinh hích, khiến cô càng thêm khó chịu.
“Thế là sao?”, cô hỏi.
“Em đã nói với bạn trai em rằng em đã kéo anh lên giường như thế nào chưa?”.
Đó là một cú đòn hèn hạ, và Justine không có ý định đáp trả.
“Warren biết anh”. Cô không chắc có đúng thế không, nhưng cô nghi đã biết. Việc anh ta bắt gặp cô ở bên Seth là nguyên nhân khiến anh ta xúc tiến lời cầu hôn.
“Anh cá là anh ta biết”. Cơn giận dữ của Seth nhanh chóng biến mất như khi xuất hiện. “Chà”, anh nói, rõ ràng đã chán chủ đề này, “anh đoán em sẽ phải ra một quyết định quan trọng”.
“Anh nói đúng”.
“Hãy gọi cho anh khi nào em quyết định xong”.
Justine cảm thấy anh chuẩn bị gác máy, và thật oái oăm, cô không muốn kết thúc cuộc nói chuyện của họ, không phải như thế này. Nhưng cô chẳng thể làm gì ngoài việc thuận theo. “Em sẽ gọi”, cô khẽ nói, vừa đau khổ vừa tức giận.
“Nghĩ đi nghĩ lại thì”, Seth nói, và cô nhận ra giọng anh đầy tự tin. “Đừng bận tâm. Cả hai chúng ta đều biết em sẽ quyết định thế nào mà”. Nói xong, anh gác máy. Justine bị bỏ mặc với ống nghe cầm trên tay, tiếng vo vo vang lên bên tai cô.
 
 
Mặt trời phản chiếu lên mặt nước trong xanh của Puget Sound khi chiếc phà rời khỏi cầu tàu Bremerton và từ từ đi qua Rich Passage, thực hiện cuộc hành trình twois Seattle. Đứng vịn vào thành phà cho gió thổi tung mái tóc đen, hít thật sâu mùi mặn của biển cả, Olivia quay sang mỉm cười với Jack.
“Chiều hôm nay thật đẹp”.
“Này”, anh đùa, “anh yêu cầu trời chỉ cho đẹp ngày hôm nay thôi đấy”.
Olivia nhìn quanh một lượt.
“Không đùa đâu”, Jack khăng khăng, vẻ mặt nghiêm túc đến mức Olivia phải phá lên cười. “Anh bảo, Chúc ơi, chiều chủ nhật này con có một cuộc hẹn quan trọng và con xin Người hãy ra tay giúp đỡ bằng cách ban cho thời tiết thật đẹp”.
“Anh đã nói thế à?”.
“Đúng”.
Olivia quay trở lại thanh vịn, tì khuỷu tay xuống và nóng lòng được thấy Seattle. Con trai của Jack, Eric, sẽ đón họ ở bến phà, ba người bọn họ sẽ cùng nhau ăn tối ở khu cảng. Đây là lần đầu tiên Olivia gặp Eric, Jack có vẻ căng thẳng hơn.
“Em đã đi du lịch vài lần trong mấy năm qua,” Olivia nói với anh, “và tới nhiều nước khác nhau, nhưng em chưa từng thấy nơi nào đẹp hơn Seattle khi mặt trời lên”.
“Mọi thứ đều rạng ngời đầy sức sống và xanh tươi mơn mởn”, Jack nói rồi cằn nhằn, “rõ là thế rồi vì vừa mới dứt ba tháng mưa phùn”.
“Có phải đã đến lúc anh ngồi dưới đèn hạnh phúc không?”, Olivia hỏi anh câu mình đã từng hỏi các con. Mỗi lần một ngày nào đó ảm đạm, và chúng phàn nàn vì không được ra ngoài chơi, Olivia lại bắt chúng ngồi dưới đèn đọc sách. James gọi đó là ánh đèn hạnh phúc vì cậu hiểu rằng cho đến khi cậu cười, mẹ mới cho cậu rời khỏi ghế.
“Ánh đèn hạnh phúc?”.
Olivia giải thích và họ trêu chọc nhau trong vài phút. Khi cả hai đều im lặng, chị nhận ra Jack căng thẳng đến thế nào. Anh rời khỏi thanh vịn, đo chiều dài của chiếc phà bằng bước chân, uống ba tách cà-phê, mang cho Olivia một tách và bồn chồn trong suốt chuyến đi từ bán đảo Kitsap tới vịnh Elliot.
Olivia nhận ra Eric là con trai Jack ngay khi trông thấy. Cậu cao bằng bố, dáng vẻ khỏe mạnh, ngoài cách ăn mặt, họ trông khá giống nhau.
“Chào Eric”, Olivia vừa nói vừa chìa tay ra.
“Đây là cô Olivia Lockhart”. Jack giới thiệu, đưa tay chỉ về phía Olivia.
Bố con Jack không ôm hôn hay bắt tay. Vì Stan là người thích biểu hiện tình cảm bằng hành động, nên Olivia hơi lấy làm lạ trước lối cư xử của nhà Griffin.
“Chuyến phà thế nào ạ?”. Eric hỏi khi họ bắt đầu đi bộ dọc khu cảng.
“Tuyệt lắm”, Jack nhiệt tình nói, cứ như họ vừa bước xuống một con tàu chứ không phải một chiếc phà đi mất một tiếng từ Puget Sound.
“Bố và cô có đói không?”, Eric hỏi tiếp.
“Đói cồn cào”.
Olivia liếc nhìn hai bố con, ngạc nhiên trước sự ngượng nghịu mà chị cảm nhận được.
Eric nói cậu đã chọn được một nhà hàng trước khi hai người đến và đã đặt chỗ. “Con hi vọng bố và cô thích cua”, cậu nói rồi dẫn đường.
“Tôi rất thích”, Olivia quả quyết.
Eric quay sang bố. “Bố thế nào cũng được”, Jack khẽ nói.
Rõ ràng Eric không quen với khẩu vị của bố mình. Điều đó cũng rất lạ. Nhà hàng mà Eric chọn chuyên về các món cua. Mỗi thực khách được cung cấp một cái vồ bằng gỗ và một chiếc yếm. Họ vừa nói chuyện vừa kẹp vỡ con con Dungeness còn đang bốc khói và nhúng miếng thịt vào bơ chảy, cuộc nói chuyện trở nên sôi nổi hơn nhờ những tiếng cười. Bữa tối thật tuyệt vời. Khi rửa tay xong, Eric đưa hai người trở lại phà. Một lần nữa, cậu bỗng tỏ ra khá trang trọng, và cuộc nói chuyện vốn diễn ra vô cùng thoải mái trong suốt bữa ăn bỗng trở nên cứng nhắc. Tay Jack vẫn để trong túi áo.
“Con rất vui”, Eric nói. Đó là tưởng tượng của Olivia hay đúng là cậu hơi ngạc nhiên trước tiết lộ đó nhỉ?
“Bố cũng thế”, Jack nói.
Trong giây lát, Eric không nói gì. “Bố có muồn lần sau chúng ta lại gặp nhau không?”
“Bố thích lắm”, Jack nói nhẹ nhàng.
“Con cũng thế”.
Eric mỉm cười với Olivia. “Thật vui là được gặp cô”.
“Cô cũng vậy, Eric ạ”.
Những chiếc ô tô bắt đầu rời bến phà Bremerton và đã đến lúc lên đường.
“Bố sẽ giữ liên lạc”, Jack nói, rồi đưa Olivia vào bến, qua trạm soát vé dành cho người đi bộ. Eric đưa tay lên vẫy tạm biệt rồi quay lưng chậm rãi bước đi.
Jack mua vé, và khi họ đã ở yên trên phà, anh nói. “Mọi chuyện diễn ra tốt đẹp, phải không?”
“Rất tốt đẹp”.
Olivia cảm nhận được sự thanh thản ở Jack và thấy thái độ của anh - toàn bộ thái độ của anh với con trai - hơi  khó hiểu. Vừa suy nghĩ về chuyện đó, chị vừa bước theo anh lên bậc thang để đén khoang giữa. Jack vội tiến lên trước chị, bước nhanh về phía thanh vịn và đứng đó, gió ùa vào mặt trong lúc anh nhìn ra khu cảng Seattle.
“Thằng bé kìa”, Jack gọi. Anh đặt tay lên môi và huýt sáo thật to. Eric giật mình quay lại, trông thấy họ và vẫy tay lần nữa.
“Thật là một chàng trai lịch thiệp”, Olivia khẽ nói.
“Nó thừa hưởng điều ấy từ mẹ”.
“Anh không ở bên con hồi nó còn nhỏ à?”
Điều đó giải thích sự ngượng nghịu giữa họ.
“Anh có ở gần nhưng... không thực hiện được vai trò của một người bố”.
Olivia hiểu anh đang nói gì. Giữa trường luật và các câu chuyện xen vào những năm đầu đời của Justine, Jordan và James, Olivia đứng ngoài khá nhiều bí mật. Chị luôn mong trở thàn một người mẹ tốt, và giờ vẫn vậy, nhưng một ngày có quá nhiều công việc phải làm trong những giờ đồng hồ ít ỏi.
“Anh tự hào là bố thằng bé”.
Đó có lẽ là lời khen tốt nhất mà một người bố dành tặng cho con trai, nhưng thật tiếc Eric không có mặt để được nghe.
“Anh có thường gặp con không?”, Olivia hỏi, cố tìm hiểu rõ mối quan hệ này.
“Bố con anh đang cố”, đó là những gì Jack thừa nhận. “Tuy nhiên, có rất nhiều vấn đề...”, anh nhăn nhó với từ anh vừa nói ra, “... bọn anh cần phải giải quyết”.
Chị mỉm cười khi nhớ rằng anh từng nói mình không thích cái gọi là cách nói khó hiểu.
Và anh cũng từng nói với chị hơn một lần rằng anh chỉ thích những cách nói đơn giản.
“Nhưng cả anh và Eric đều đang cố gắng”, Olivia nhẹ nhàng nói.
Jack gật đầu. “Đúng thế”. Rồi như thể tìm cách đổi chủ đề, anh hỏi, “Em có tin gì của Justine không?”
Olivia muốn kêu thật to. Cô con gái là mối lo lắng chính của chị lúc này. Mặc dù Justine không kể gì với Olivia, nhưng lời đồn đại về con bé và Seth Gunderson đã lan khắp thị trấn. Olivia thấy rất vui. Seth đúng là mẫu người mà chị hình dung, Seth rất hợp với đứa con gái bướng bỉnh của chị.
Rồi Seth tới Alaska, và đột nhiên có lời đồn rằng Warren Saget đã đặt mua một chiếc nhẫn kim cương rất lớn từ cửa hàng trang sức Berghoff. Warren đã cố tình chọn cửa hàng trang sức trong thị trấn, và lí do của sự lựa chọn ấy không qua được mắt Olivia. Anh ta muốn chị biết. Thật hèn hạ, Warren không có đủ dũng khí đối mặt với Olivia. Anh ta nhờ những kẻ ngồi lê đôi mách của vịnh Cedar thông báo ý định của mình với chị.
“Anh đã nghe chuyện?”. Olivia hỏi.
Jack hờ hững nhún vai. “Con bé đã đồng ý chưa?”
“Em không biết”. Thật đau lòng vì phải thừa nhận rằng cô con gái duy nhất của mình không bàn bạc chuyện hôn nhân với mẹ nó.
“Nếu con bé đồng ý, em sẽ làm gì?”.Jack hỏi, chăm chú nhìn Olivia.
“Làm gì ư?”. Cứ như Olivia được quyền lựa chọn vậy. “Em có thể làm gì đây? Em sẽ cười tươi và chấp nhận, nhưng em sẽ trải qua một quãng thời gian khủng khiếp vì phải gọi Warren là con rể, đặc biệt là khi bọn em xấp xỉ tuổi nhau”.
“Liệu Seth Gunderson có biết về... lời cầu hôn không?”
Lúc này đó là một bí mật. “Giá mà em biết”.
“Em có lo lắng không?”. Jack hỏi.
“Rất lo”, Olivia nói dứt khoát.
Jack vòng tay qua vai chị. “Mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi, em cứ chờ xem”.
Olivia cố nghĩ theo hướng tích cực, nhưng chị không biết Jack đang ám chỉ hoàn cảnh của chị hay của chính anh.
 
 
416417
[font="times new roman"][size=3] 
 
Trong thâm tâm, Charlotte tin rằng Tom Harding rất tin tưởng bà vì thế ông mới giao phó vật lưu niệm quý báu nhất đời mình cho bà. Ông biết là bà sẽ tìm được người thừa kế hoặc nếu không, bà cũng sẽ đưa nhưng vật có giá trị này đến trưng bày ở bảo tàng. Đó là bổn phận mà bà luôn tự nhắc mình phải thực hiện một cách nghiêm túc và không làm sai luật.
Charlott nghiền ngẫm rất nhiều ngày về những việc cần phải làm. Bởi vì Tom đang được chính phủ bảo trợ nên nỗi sợ lớn nhất của bà là yên ngựa, các loại súng, áp phích và các kịch bản truyền hình của ông có thể bị sung công và bán đấu giá để bù đắp cho số tiền đã dùng vào việc chăm sóc ông. Theo luật pháp của bang Washington, Tom chỉ được phép sở hữu hai nghìn đô la giá trị tài sản. Ít nhật thì đó cũng là điều mà Olivia đã nói.
“Chính phủ có quyền làm như vậy à?”. Bà hỏi con gái mình vào cái ngày cả hai khám phá ra bí mật của Tom.
“Thế đấy...”
Charllotte hiểu ý nghĩa của câu “thế đấy” và bất chấp những rủi ro, bà đã thực hiện những hành động mạo hiểm sau lưng con gái mình.
Đó là những quy định của bang... Nếu bà có thể xoay chuyển tình thế, thì bà vẫn sẽ làm.
Khi thấy Olivia ngày càng bận bịu với công việc ở tòa án, Charlotte không dám thật thà để nói cho con gái biết việc mình đã làm. Một buổi trưa thứ hai, bà quyết định tới thăm phòng làm việc của cô con gái thẩm phán. Vì Olivia luôn bận rộn, nên Charlotte không biết liệu bà có cơ hội để kể với con gái những việc mình đã lén lút làm không?
Charlotte lén nhìn vào bên trong và ngay lập tức bắt gặp mùi sách cũ và cả dầu chanh. Olivia ngạc nhiên ngước lên nhìn bà. “Chào mẹ”.
“Con có thể dành cho mẹ một phút không?”.
Chìm sâu vào suy tư, Olivia phải mất tới một lúc tập trung rồi mới trả lời được. “Để lúc khác mình nói chuyện được không mẹ?”.
“Mẹ muốn con biết là mẹ đã quay trở lại nơi lưu trữ tài sản của Tom và lấy một số thứ của ông ấy. Mẹ không thể để chúng ở đó thêm một chút nào nữa. Janet muốn chiếc chìa khóa đó”.
“Mẹ”, Olivia bịt tai gào lên. Con gái bà cực kỳ nhạy cảm và dễ xúc động.
“Đừng nói thế với mẹ. Mẹ đã cất chúng ở ngăn an toàn. Cả hai chúng ta đều biết điều gì sẽ xảy ra khi tổ chức Dịch vụ xã hội phát hiện ra Tom có thứ gì đó đáng giá”. Charlotte không cho phép điều đó xảy ra.
Olivia đứng dậy nhìn bà chằm chằm, rồi lại ngồi phịch xuống.
Cô thở dài. “Được rồi... Dẫu sao thì chỉ đến sau khi ông ấy chết, người ta mới mang xác định giá trị thực của những thứ này”.
Nghe có vẻ giống lý lẽ của một luật sự, tuy nhiên... lại là một lời biện hộ tuyệt vời, Charlotte thầm nghĩ và gật đầu hài lòng. Dù sao thì Charlotte cũng không lấy hết đồ đạc ở đơn vị lưu trữ đó.
Bà đã để lại những đồ đạc xấu và tồi tàn nhưng vẫn còn sử dụng được. Bà chỉ lấy những gì Tom muốn bà giữ để không ai có thể biết đến. Những thứ này đáng lẽ phải để ở gia đình của ông - nếu bà có thể tìm thấy.
“Đừng lo lắng”, Charlotte nói. “Mẹ kiểm soát được mọi thứ”. Điều làm bà thấp thỏm đó là Olivia đã nói rất ít. Có lẽ ở đây có nhiều nhánh pháp luật hơn bà hiểu, bà chẳng biết mình đã vi phạm luật của nhánh nào.
“Con lại lo lắng về những thứ mẹ cho rằng mình kiếm soát được ấy”, Olivia chua chát. Charlotte tảng lờ câu nói ấy. “Mẹ có lần ra được thành viên gia đình nào không?”.
“Không... không ai cả, nhưng mẹ sẽ tìm. Mẹ...”.
“Ôi, mẹ, đây là một trách nhiệm nặng nề”.
Charlotte nói như thể muốn nhắc nhở băn khoăn. “Mẹ cảm thấy đó là trách nhiệm của mình”. Bà thẳng thắn thú nhận. “Mẹ muốn con biết rằng mẹ đã giấu Roy McAfee để tìm ra bất cứ người nào đủ tư cách thừa kế Tom”.
“Mẹ đã làm gì?”
Olivia không thấy có vấn đề gì với điều chị vừa nghe thấy, vậy mà Charlotte lại không tả lời câu hỏi đó.
Olivia lại thở dài. “Roy đã nói gì với mẹ?”
Những ngón tay của Charlotte nắm chặt chiếc xắc đang để giữa hai đầu gối của bà. “Thực ra mẹ chưa nói với anh ta. Khi mẹ gọi điện để hẹn, Corrie và mẹ đã nói chuyện. Mẹ giải thích tại sao mẹ cần sự giúp đỡ của Roy. Mẹ sẽ gặp anh ta vào chiều hôm nay”.
“Me, xin mẹ đừng nói với bất cứ ai khác việc mẹ đã làm”.
“Ồ, không phải lo. Mẹ cũng không hề đề cập tới việc con và mẹ đã trao đổi với con đâu”.
Olivia lầm bâm: “Điều đó có thể thông cảm được”.
“Con có muốn mẹ nói cho con biết Roy tìm ra cái gì không?”, Charlotte hỏi, như có cảm giác là con gái mình không muốn biết. Có lẽ trong suy nghĩ của Olivia thì làm theo luật pháp là cách tốt nhất. Charlotte thấy ngạc nhiên khi tòa án thường bỏ qua lương tâm và thiên về lý trí cứng nhắc. “Con đừng để ý”. Charlotte vừa nói vừa đứng dậy. “Mẹ sẽ kể chi tiết với con sau”.
Rõ ràng Olivia đã có vẻ bớt căng thẳng. “Được rồi, cảm ơn mẹ”.
Một cách quyết đoán, Charlotte đi ra khỏi tòa án. Bà gặp Troy Davis khi ra đến đường phố. Troy Davis gật đầu với bà, chắc mẩm viên cảnh sát trưởng sẽ đoán rằng bà là tội phạm đang trên đường chạy trốn. May mắn thay, anh ta không nghĩ thế và chỉ đơn thuần là đi dạo qua. Thật dễ hiểu khi những người phạm tội luôn tìm cách trốn chạy.
Vào buổi chiều muộn cùng ngày, Charlotte đến văn phòng của Roy McAfee sớm ba mươi phút so với lịch hẹn. Bà lấy bộ đồ đan len của mình, ngồi ở phòng chờ và đan thoăn thoắt. Những hành động trái pháp luật thì đã rõ rồi, nhưng thú tội chúng vơi một cựu cảnh sát - vâng , quả là một thử thách đối với hệ thần kình của bà.
 
 
Corrie bận điện thoại và xin lỗi khi co kết thúc. “Hai mươi phút nữa Roy mới quay trở lại”.
“Ồ, không sao, tôi đã đến sớm”, Charlotte quay người lại.
Olivia sẽ bảo vệ bà khỏi sự trừng phạt của luật pháp - hoặc con gái bà sẽ nhận trách nhiệm về mình - nhưng bà không dám chắc Roy cũng sẽ hành động tương tự. Được thôi, thế đấy. Quyết tâm của Charlotte được củng cố bằng chính tinh thần của bà, mặc dù bà không biết chính xác mùi vị nhà tù sẽ là như thế nào.
“Vớ vẩn”, Charlotte lẩm bẩm. Đây là một cơ hội mà bà phải nắm lấy.
Corrie liếc nhìn lên. “ Bác nói gì ạ?”.
“Ồ, không có gì cả”, Charlotte nói kèm theo tiếng thở dài. Roy trở về sớm năm phút so với thời gian hẹn, đúng lúc Charlotte đang tự làm mình lo lắng đến phát sốt.
Corrie đang quan tâm tới lý do của cuộc viếng thăm, nhưng Charlotte tránh né câu hỏi của cô và muốn nói chuyện riêng với Roy.
Phải đến một phút sau, Corrie mới thông báo rằng Roy đã sẵn sàng gặp bà. Cất bộ đồ đan vào trong túi của mình, Charlotte đứng dậy.
Roy ngồi sau chiếc bàn rộng bằng gỗ sồi bề bộn tài liệu.
Chiếc máy tính đã tắt, còn tài liệu nếu không nằm trên bàn thì rơi ngổn ngang dưới mặt đất quanh anh. Charlotte không biết là thám tử tư lại nhiều việc đến thế, đặc biệt ở một thị trấn như vịnh Cedar.
“Tôi có thể giúp gì được cho bà?”. Roy hỏi thẳng vào vấn đề với giọng rất chuyện nghiệp.
Lúc này bà đang ở đây, Charlotte không biết nên bắt đầu từ đâu - có lẽ không phải bắt đầu bằng việc thú nhận tội lỗi, nếu thực sự những việc bà đã làm đó lại là tội lỗi thật. “Anh đã bao giờ xem chương trình bao bồi vào thứ Bảy khi còn là một cậu bé chưa?”
Roy cười lớn. Có chứ. Đó là chương trình tôi rất thích đấy. Anh ta đưa ngón tay lên và giả bộ như đang thổi khói bốc ra từ đầu súng.
“Anh có còn nhớ Tom Houston không?”, bà hỏi tiếp.
“Chàng cao bồi có khả năng đổi giọng phải không ạ?”.
Charlotte rạng rỡ. “Ồ! Vậy thì anh sẽ không khỏi ngạc nhiên đâu khi biết rằng ông ấy qua đời tháng trước, Tom đã sống ở đây, ngay chính tại vịnh Cedar này”.
Roy vươn người về phía trước và mắt anh ta mở to hết cỡ. “Bà nói đùa đấy à?”.
“Đó là sự thực!”, Charlotte khẳng định, mặt bà rạng ngời vẻ kiêu hãnh vì được biết sự thực này trước bất kỳ một người nào khác. “Chúng tôi đã là những người bạn tốt”.
“Bà và Tom Houston?”. Roy lộ vẻ ngạc nhiên.
“Đúng thế...”, bà trả lời trong tiếng thở dài. “Lúc đó, tôi không biết anh ta là Tom Houston. Ông ấy đến Cedar với cái tên Tom Harding”.  Bà giải thích chi tiết sự việc dẫn tới cuộc gặp gỡ của họ và mọi thứ đã xảy ra kể từ sau cá chết của Tom, bao gồm cả cuộc đột nhập của bà vào khu cất giữ đồ.
“Hiện tại bà để tất cả những vật lưu niệm ở nhà?”.
“Đúng vậy”. Charlotte tránh đề cập tới tên Olivia, nhưng bà nhận ra rằng Roy cũng đặt rất nhiều câu hỏi. “Tôi hiểu rằng những điều tôi làm là không tuân thủ theo luật pháp”, bà bắt đầu.
“Không hẳn”.
Charlotte nhớ lại toàn bộ rắc rối liên quan đến các điều luật. “Nhưng...”. Rồi bà quyết định nếu Roy không hiểu về những hành động bất hợp pháp của bà thì bà cũng không cần lo lắng nữa.
“Bà muốn tôi làm gì?”, Roy hỏi.
Charlotte nghĩ rằng điều đó đã rõ ràng. “Tôi cần tìm xem Tom có bà con thân thuộc nào không. Anh có thể giúp tôi việc đó chứ?”.
Roy không hề lưỡng lự. “Chắc chắn là tôi có thể làm được. Trong số những thứ Tom đưa, bà có thấy sổ bảo hiểm xã hội không?”.
“Không, nhưng tôi sẽ tìm ra”. Janet Lester chắc chắn nó có trong đống giấy tờ mà cô giữ cho Tom.  Bà cau mày, ngẫm nghĩ suy tính xem phải hỏi chính xác việc đó bằng cách nào. Bà quý mến và tin tưởng những người làm công tác xã hội, nhưng bà sẽ không nói cho Janet bất cứ điều gì liên quan đến việc này, kể cả sự thực rằng bà đã lấy đồ đạc trong kho của Tom. Không cần thiết phải kéo những người bạn vào tù cùng với mình, nếu mọi việc bị bại lộ.
“Có ai nữa biết Tom thực sự là ai không?”.
“Chỉ có duy nhất Olivia”.
Roy gật đầu tỏ vẻ hài lòng. “Hãy giữ kín điều này cho tới khi tôi có tin cho bà”.
Giữ im lặng về tất cả những điều này chẳng dễ dàng gì, nhưng Charlotte sợ rằng một khi câu chuyện bị lộ, những mối quan hệ họ hàng đã thất lạc từ lâu sẽ xuất hiện, và tất cả những kẻ hám của sẽ đòi hỏi quyền lợi.
“Việc này liệu mất bao nhiêu thời gian?”. Charlotte hỏi. Bây giờ bà chính thức thuê Roy và đã sẵn sàng đón nhận kết quả.
“Tôi không thể hứa chắc chắn về mốc thời gian”, Roy nói với bà. “Nếu sau hai tuần nữa kể từ bây giờ, bà muốn gặp tôi, tôi sẽ đưa cho bà một bản báo cáo về tiến triển công việc”.
“Anh không thể tìm kiếm thông tin trên máy tính được à?”, bà hỏi và chỉ tay về phía màn hình máy tính của anh ta.
“Tôi sẽ bắt đầu từ đó”.
Charlotte đã học lớp máy tính cơ bản vào cuối mùa hè vừa qua. Sử dụng chiếc máy tính cũ của Olivia, bà đã gõ các cột báo cho Jack - bởi vì anh ta cố nài nỉ bà. Nhưng phần bà thích nhất trong máy tính là chơi trò xếp tú-lơ-khơ, mặc dù chơi trên máy tính thì  không thể ăn gian được. Nhưng dù sao nó vẫn rất thú vị!
Bà sớm có kế hoạch mua một chiếc máy vi tính mới bằng số tiền kiếm được từ việc viết bài cho trang về người cao tuổi. Bà đã có rất nhiều ý tưởng cho các cột báo trong tương lai, khi nào xong, bà thậm chí còn viết về cuộc gặp gỡ với Tom...
“Hai tuần, sau đó thì?”. Roy hỏi.
“Tôi mong chờ đến lúc đó”, bà nói với anh ta.
Khi Charlotte bước ra, bà cảm thấy như trút ngay một gánh nặng lớn khỏi đôi vai của mình.
 
 
Cathy cười thích thú trước bức tranh biếm họa của Cecilia về người thợ làm tóc.
Chiều thứ tư trời mưa, Cecilia giúp Cathy tự nhuộm mái tóc hihgtlight nổi bật.
Kể từ lần đầu tiên làm quen với nhau bằng việc xem video và ăn bỏng ngô vào buổi tối tại nhà Cecilia, họ thường tìm ra nhiều lý do để gặp gỡ nhau. Cả Cathy và Cecilia đều không có nhiều tiền để tiêu, vì vậy họ thay nhau tạo ra những niềm vui nho nhỏ với chi phí thấp như xem phim hoặc ăn tối. Dần dần Cathy đã lôi kéo Cecilia tham gia vào các buổi tụ tập với những người vợ hải quân khcas. Vào buổi tối kỷ niệm ngày cưới của cô, cả nhóm đã tụ tập tại Bếp Thuyền Trưởng. Cuối tuần trước, Cecilia đã gặp Carol Greendale, một người vợ hải quân có cô con gái sinh cùng tháng với Allison. Điều khiến cô nàng đau đớn hơn là việc nhìn thấy mẹ con Carol quấn quýt bên nhau.
Cô phải xin lỗi để đi chỗ khác, nhưng Cathy đã kiên quyết thuyết phục cô ở lại bất chấp những kháng cự yếu ớt và xin lỗi nhẹ nhàng của cô. Bây giờ nghĩ lại, Cecilia thấy vui vì mình đã không bỏ về.
Cathy bước vào nhà tắm để gội đầu, trong lúc đó, Cecilia đọc các chỉ dẫn trong bộ đồ làm tóc.
“Cậu có mang theo đồ móc để đan không?”, cô hỏi khi Cathy xuất hiện trở lại với chiếc khăn tắm quấn quanh đầu.
“Không. Chúng ta cần một thôi chứ?”.
Cecilia không chắc chiếc móc nhựa nhỏ trong bộ đồ đan có dùng được không. “Không sao đâu, chúng ta sẽ xoay sở được”.
“Mình có nên chạy qua siêu thị K không nhỉ? Mình cũng có thể mua một bộ đồ khác để làm tóc cho cậu”.
“Lần này thì chưa cần”. Cecilia lắc đầu.
“Nhìn đây, mình phải rút những sợi tóc qua các lỗ ở trên mũ nhựa này...”. Cô nhíu mày xem xét kỹ lưỡng những đồ lặt vặt trong bộ đồ nghề đó.
“Mới đây cậu có nghe tin tức gì từ Ian không?”.
Cecilia lắc đầu. Đã gần ba tuần kể từ ngày kỷ niệm lễ cưới của họ, và cô vẫn chưa cảm ơn được anh vì đã gửi hoa tặng cô, cũng chưa báo cho anh là cô đã nhận được. Dù sao cô cũng không liên lạc với anh. Ian cũng chẳng viết cho cô mặc dù anh đã nhận được lá thư đó và hiểu được thông điệp của cô.
“Andrew nói họ sẽ sớm cập cảng”.
“Cập cảng ở Úc hả?”.
Cathy bật thở dài và tì cằm lên tay. “Mình luôn mơ ước được tới thăm Nam Thái Bình Dương”.
“Mình cũng vậy”.
“Trong bức thư vừa rồi, Andrew viết về bầu trời đêm”, Cathy nhẹ nhàng kể.
Cecilia thôi không đọc các hướng dẫn để lắng nghe bạn mình nói.
Ian yêu những vì sao và có kiến thức sâu rộng về những hành tinh cũng như các chòm sao. Cô nhớ những buổi tối mùa hè trong trẻo, ạnh chỉ ra chòm sao Chữ Thập Phương Nam và kể lại truyền thuyết của người Hy Lạp cổ đại về nguồn gốc hình thành chòm sao này. Cecilia đã bị mê hoặc - và cô đã phát hiện ra nhiều điều mới mẻ về chồng mình.
“Andrew nói ở đó có hàng tỷ ngôi sao hiện ta vào mỗi đêm”, Cathy mơ màng kể. “Mới đầu anh ấy đã thất vọng vì dường như có lớp mây mỏng che khuất tầm nhìn của anh ấy”. Cô dừng lại và mỉm cười.
“Rồi Ian bảo anh ấy rằng đám mây mà anh đang kêu ca kia thực ra là dải Ngân hà”.
“Chà”.
Cathy gật đầu. “Andrew kể anh ấy chưa bao giờ trông thấy bất kỳ thứ gì giống như thế”.
Cecilia nhìn bạn và ngạc nhiên khi nhận ra những giọt nước mắt lấp lánh trong đôi mắt cô. “Cậu nhớ anh ấy, đúng không?”. Cathy cắn môi và gật đầu. “Cecilia này”, cô thì thầm, với tìm tay bạn và xiết thật chặt.
“Mình lại mang bầu”.
Việc lại có bầu khiến Cecilia xúc động. Andrew và Cathy không có con.
“Hai lần trước mình bị sảy thai”, Cathy run rẩy giải thích. “Mình... không biết liệu mình có thể vượt qua nỗi đau này lần thứ ba không”.
Cecilia liếc nhìn về phía phòng ngủ và bức ảnh duy nhất của Allison. Đó là bức ảnh tồi tệ được chụp ngay sau khi con gái cô chào đời. Allison quá nhỏ, da dẻ vàng vọt. Bệnh viện đã gắn chiếc nơ nhỏ mầu hồng lên tóc cô bé và ai đó dã chớp được hình ảnh ấy. Đó là một kỷ niệm duy nhất về Allison mà cô có được, và cô trân trọng nó.
Cathy bối rối mở to mắt và nói: “Mình biết cậu hiểu”.
“Ồ, mình hiểu chứ”.
Họ ôm nhau thật chặt. Chiếc khăn tắm ẩm ước trượt xuống sàn nhà, và Cathy vùi mặt vào vai Cecilia.
“Mình hình dung điều gì sẽ xảy ra khi con tàu George Washington trở lại để sửa chữa”.
Cecilia cảm thấy mình thật may mắn khi không bị sảy thai ngay như trước đây cô đã dự đoán. “Cậu không định nói cho Andrew đấy chứ?”.
Cathy cau mày. “Sẽ chỉ làm anh ấy lo lắng mà thôi. Anh ấy đang ở cách xa nửa vòng trái đất và có biết thì cũng chẳng làm được gì?”.
“Cậu muốn có con chứ?”.
Cathy gật đầu, nhưng sự thừa nhận dường như làm cô đau đớn. “Hơn bất cứ thứ gì. Andrew cũng vậy. Khi mình sảy thai lần đầu tiên, chúng mình đã rất buồn, đến lần thứ hai, cả hai chúng mình đều tuyệt vọng. Mình không thể tưởng tượng được sẽ thế nào nếu mình sảy thai lần này nữa...”.
“Các bác sỹ đã nói gì?”.
“Mọi thứ đều bình thường và khỏe mạnh, nhưng lần trước họ cũng nói thế”.
“Nhưng có lý do về mặt sức khỏe nào dẫn đến việc sảy thai không?”.
“Không có. Đó là điều làm nản lòng bọn mình. Họ không tìm thấy bất cứ yếu tốt nào bất thường”.
“Ôi, Cathy...”. Cecilia không biết nói gì để bạn mình vơi nước mắt.
“Không ai có thể tìm thấy lý do. Đã hai lần rồi, lần nào mình cũng không thể giữ cái thai quá ba tháng”.
Cô cắn nhẹ môi dưới. “Mình đang ở tuần thứ chín và mình cảm thấy rất sợ”. Như thể bất chợt bị lạnh, Cathy gập tap ôm lấy người thật chặt. “Mình biết nghe có vẻ rất vô lý, nhưng ngay khi phát hiện rằng lại có bầu, thực sự mình xem như thế là hết”.
Cecilia không nói gì. Cathy cần tin vào chính bản thân mình, và đây không phải là lúc để phán xét hay tranh luận.
“Mình giữ suy nghĩ thà mình mất đứa bé sớm còn hơn nuôi hy vọng. Còn giờ đây mình nhận ra suy nghĩ thế thật lố bịch”. Cô cố gắng thở thật sâu. “Không ai khác biết mình đang mang bầu, thậm chí cả bố mẹ mình. Mình muốn để đến tháng thứ tư mới cho mọi người biết... nếu mình giữ được đến lúc đó”.
Cecilia có thể hiểu nỗi sợ hãi và sự hoài nghi của bạn mình.
Cathy không muốn làm tan vỡ hy vọng của riêng cô mà cả chồng cô, và cả gia đình cô nữa. Cecilia hiểu gánh nặng ấy thật khó khăn và nếu không chia sẻ được với ai, gánh nặng ấy càng trở nên khủng khiếp.
“Mình không thể đảm bảo với cậu rằng lần mang thai này sẽ khác hai lần mang thai trước”, Cecilia rất nghiêm trang và tiếp tục chăm chú nhìn Cathy. “Không một ai biết tương lai sẽ mang tới điều gì. Nhưng mình có thể hứa chắc chắn dù bất cứ việc gì xảy ra, mình cũng sẽ ở bên cậu”.
“Ôi, Cecilia, cậu không biết điều đó có ý nghĩa lớn lao như thế nào với mình đâu”. Cathy dùng các ngón tay của mình cọ cọ vào cằm. “Mình rấ dễ xúc động khi mang bầu”.
Cecilia cười chua xót. “Cậu và mình đều thế”.
Mấy tháng đầu mang thai Allison, cô đã khóc than cho những lý do vớ vẩn nhất. Một đoạn phim quảng cáo tình cảm cũng có thể làm cô rơi lệ đến mức ướt cả khăn tay. Thỉnh thoảng tình trạng đó kéo dài nhiều giờ đồng hồ.
Ko có con người nào là hoàn hảo .. ko có con người nào là ko có quá khứ .. và ko có con người nào chưa một lần phạm phải sai lầm !
0
Từ trang 302 đến trang 314
Cathy nắm lấy tay Cecilia “ Cậu cũng sợ sinh con lần nữa phải không ?”
Suy nghĩ ấy khiến Cecilia cảm thấy sợ hãi khủng khiếp .
“Mình….không sợ.Ian biết mình cảm thấy như thế nào .”Cecilia đừng lại một chút để thổ lộ , đây là một trong số những lí do đẩy cô tới việc ly dị.
“Phải có thêm thời gian”Cathy khuyên cô và một lần nữa họ ôm lấy nhau.”Trời ơi”, cô kêu lên và cố nở một nụ cười.
“Tóc của mình khô thật rồi”.
Chộp lấy chiếc móc bằng nhựa , Cecilia cầm lên và nói :”Mình chuẩn bị tra tấn cậu đây”.
“Nhớ rằng sau đoa đến lượt mình đấy”.
Buổi chiều trôi qua trong tiếng cười rộn rã , với những câu chuyện tán gẫu và bỏng ngô, và đến lúc Cathy về , Cecilia tuy mệt nhưng rất vui vẻ và thoải mái.Thế là cô đã làm được mái tóc với những lọn vàng.Nhưng quan trọng hơn nữa là mối quan hệ bạn bè giữa họ đã trở nên khăng khít và gắn bó hơn vì những gì Cathy chia sẻ .Cecilia hiểu tại sao Cathy giãi bày tâm sự với mình .Cathy biết rằng , trong tất cả những người phụ nữ của nhóm họ ,Cecilia là người duy nhất có thể thấu hiểu nỗi đau đớn khi mất một đứa con .
Đứa con chưa ra đời của Cathy đã chiếm trọn trái tim cô.
Tối đó , lúc chuẩn bị đi ngủ ,Cecilia nhìn chằm chằm vào tấm ảnh duy nhất chụp Alison.Bó hoa cưới đã khô được cô tạo thành hình một trái tim.
“Đó là của bố con tặng mẹ”.Cô thì thầm với con gái .
Sau đó , vì cảm thấy mệt mỏi và đau nhói nơi trái tim , Cecilia với lấy một tập giấy cùng một cây bút .
 
 Ngày 16 tháng 5
Anh Ian yêu dấu,
Em sẽ không gửi thư cho anh nữa .Có lẽ lúc này em cũng không nên viết .Cho đến giờ chưa có gì thay đổi và sau này cũng sẽ thế.Em nhận thấy hình bóng anh vẫn còn đang ở trong tâm trí em và em hy vọng chí ít chúng ta sẽ có thể làm bạn của nhau .
Ngày hôm nay em và Cathy Lackey ở bên nhau suốt. Anh đừng nói với anh Andrew rằng do em mà một phần tóc của vợ anh ấy đã được nhuộm vàng nhé. Trong lúc ở đây , Cathy có nói tàu George Washington sẽ cập bến ở cảng Sydney. Anh luôn bảo sẽ có lần anh được nhìn thấy chòm sao Chữ Thập Phương Nam. Chẳng phải đúng như mong đợi của anh sao ?Thật khó tin .Em sẽ thôi học . Vì thực tế em không thấy lợi ích của việc đeo đuổi các môn học này .Với tốc độ hai môn một kỳ , em sẽ phải mất một trăm năm mới lấy được một tấm bằng , nhưng rồi em nhận thấy có lấy được bằng thì cũng chẳng giải quyết được việc gì. Em thích đi học, thấy Cavanaugh nói kiến thức chẳng bao giờ là thừa. Em rất quý thầy Cavanaugh. Em ước sao bố mình là người giống như thầy, mặc dù phải thừa nhận Bobby đã cố gắng. Thật sự là ông đã rất cố gắng. Khi nhận được những bông hoa nhân dịp kỷ niệm một năm ngày cưới, em đã khóc, bố vỗ vỗ lưng em- rồi bỏ đi chỗ khác. Ôi …nhưng sau đó ông thú nhận rằng hàng năm cứ đến ngày ly dị của mình, ông lại uống rượu. Em nghĩ điều đó cũng đã phần nào an ủi được em. Thật kỳ lạ , thực tế đúng là như vậy. Bức thư này không phải là dài và em không chắc mình có gửi nó đi hay không. Em muốn cảm ơn anh về bó hoa và muốn nói với anh rằng :Chúc mừng một năm ngày cưới .
Chúc mọi điều tốt đẹp nhất sẽ đến với anh.
Cecilia.
 
Ngày 26 tháng 5
Cecilia yêu dấu,
Hiếm khi nào anh thấy vui như thế lúc mở hộp thư sáng nay. Anh đã nghĩ sẽ không còn nhận được tin của em. Anh Andrew bảo anh rằng mọi người ở tận tầng dươi cùng cũng nghe thấy tiếng anh hét. Cảm ơn em , cảm ơn em và một lần nữa cảm ơn em vì đã gửi lá thư đó. Em không biết anh khao khát được nhận thư em đến mức nào đâu. Anh rất mừng khi biết bó hoa đã tới tay em. Mừng kỷ niệm một năm ngày cưới, em yêu.Đã một năm trôi qua rồi,  phải không?Từ bây giờ trở đi, mọi việc sẽ tốt đẹp hơn. Em cũng cảm thấy thế, đúng không?
Anh đã thấy chòm sao Chữ Thập Phương Nam, và đúng là anh thấy xúc động hơn mình tưởng. Cảm giác đó chỉ có thể khác đi nếu em ở bên cạnh anh lúc đó. Anh không thể viết nhiều vì năm phút nữa anh phải làm nhiệm vụ mà anh thì lại muốn gửi bức thư này càng sớm càng tốt .
Còn một điều nữa anh muốn nói với em. Em có nói bố em uống rượu vào ngày ly dị hàng năm. Rõ ràng ông rất hối hận. Đừng mắc sai lầm giống như ông nhé, Cecilia. Chúng mình cần có nhau. Anh yêu em. Không có gì chúng mình không thể vượt qua. Không một chuyện gì hết. Em hày nhớ nhé.
Ian.
 
“Có tin gì không ạ?” Kelly hỏi đầy hy vọng lúc bước vào chỗ ngồi ở nhà hàng Pancake Palace. Nhà hàng này rất được dân địa phương ưa chuộng, ở đây có rất nhiều món ăn và lại rất ngon. Vào các sáng chủ nhật , dòng người đặt bàn kéo dài đến ra tận cửa. Con gái của Grace đã gọi điện cho mẹ từ trong tuần và họ thỏa thuận gặp nhau vào thứ Sáu sau giờ làm. Vì chẳng có lí do gì phải vội về, Grace thoải mái đi ăn tối. Nhưng cô cảm thấy nóng ruột muốn nhanh chóng về ngôi nhà trên đường Rosewood. Đó chỉ là một thói quen, cô khẳng định. Thói quen của ba mươi lăm năm.” Có tin gì về bố không mẹ ?”, Kelly hỏi.
“ Không có tin gì mới con ạ” Grace đáp.
“Mẹ , bố không thể biến mất khỏi trái đất. Hẳn phải có người biết điều gì chứ”.
Nếu đúng thế, thì hình như chẳng một ai buồn thông báo cho Grace. Nhưng có một điều Grace biết chắc là cô không thể thuê Roy McAfee thêm nữa. Anh ta đã gợi ý sẽ giúp cô lần ra dấu vết của người chồng mất tích, nhưng Grace đã rơi vào tình trạng bế tắc. Chán nản và thất bại , cô không muốn cố gắng nữa. Thậm chí nếu xác định được chỗ ở của Dan, thì cô có thể nói gì đây? Cô không thể van xin anh trở về.
Bồi bàn mang thực đơn ra và Grace chọn món Salat cùng ca-phê , còn Kelly gọi bánh San-wich kẹp thịt gà cùng một cốc sữa.
“ Tại sao bố lại hành động như thế?”. Kelly hỏi , cô đã hỏi câu hỏi ấy cả chục lần.Nếu Grace biết câu trả lời , chị đã không phải nghe những giọng nói ám ảnh vang lên trong đầu. Ngoài cảm xúc của chính mình, chị còn phải quan tâm đến cảm xúc của những đứa con. Maryellen đã phản ứng cùng với sự giận dữ, oán hận. Kelly còn bị tổn thương hơn, cô là đứa con gần gũi với bố nhất. Thậm chí hồi nhỏ, Kelly còn theo Dan đi khắp nơi; đến tuổi thiếu niên cô và Grace liên tục xung đột. Nhưng ngay cả lúc bất hòa , Kelly cũng vẫn ít khi mâu thuẫn với bố. Grace đợi đến khi cả hai ăn xong rồi mới đề cập đến chủ đề chị muốn bàn bạc.
“Bố con bỏ đi đến nay đã được sáu tuần”.
“Con biết “ , Kelly nói vẻ bực tức .”Mẹ con rất lo cho bố”.
“Mẹ cũng thế”, Grace nói mặc dù chị còn lo lắng hơn vì không biết sẽ phải làm gì nếu tìm thấy chồng. “ Mẹ muốn con biết mẹ đã gặp luật sư”.
Kelly nhìn mẹ chằm chắm vẻ không hiểu.”Một luật sư có thể giúp tìm bố ư?”
“Không.Mẹ đã quyết định nộp đơn xin ly dị”.
Kelly với cốc nước. Cô bé nhấp một ngụm và Kelly có thể thấy con gái đang cố hết sức giữ bình tĩnh.”Mẹ , đừng!Xin mẹ đừng làm thế. Bố sẽ trở về. Con biết thế ,và khi bố về , chúng ta sẽ biết chuyện gì đã xảy ra. Chuyện bố bỏ đi như thế ắt hẳn có lí do chính đáng”.
“Mẹ  làm điều này không phải để trừng phạt bố con.Đó là vì những lí do pháp lý”.
“Những lí do pháp lý?”, Kelly nhíu mày lặp lại.
Cô cho con gái biết về yêu cầu phải hủy mọi thẻ tín dụng của hai người và trách nhiệm của chị với một nửa số nợ của chồng. Điều Grace không nhắc tới là Dan đã dùng thẻ tín dụng để mua một chiếc nhẫn cho người đàn bà khác.Mỗi lần nghĩ đến việc chồng làm, hơn thế anh còn biết chắc là chị sẽ phát hiện ra khoản thanh toán này, chị luôn trào nước mắt và gần như suy sụp.
“Mẹ vẫn nghĩ bố có người tình phải không ạ?”
Grace nghe thấy sự phản đối trong giọng nói của con gái. Cô muốn bảo vệ các con, muốn giấu chúng sự thật, nhưng điều này với cô thật quá sức.Dan không quan tâm đến việc bảo vệ chị. Anh đã nhạo báng chị, để chị phải suy đoán và bối rối.
“Mẹ không được nghĩ bố có người khác”, Kelly khăng khăng.
“Đó chính xác là điều mẹ nghĩ”, Grace nói., không hề xin lỗi.”Mọi chuyện đã xảy ra khiến mẹ tin rằng ông ấy  có người đàn bà thứ hai”.
Kelly lắc đầu mạnh đến nỗi khiến hoa tai văng sang bên kia bàn.”Không phải”.
“Mẹ cũng không muốn tin”, Grace nhẹ nhàng nói lúc Kelly nhặt chiếc hoa tai lên.”Con nghĩ mẹ sung sướng khi nói với con rằng mẹ đang tìm cách ly dị chắc?Mẹ và bố con đã lấy nhau được ba mươi lăm năm. Đây không phải là quyết định dễ dàng với mẹ”.
“Từ từ đã mẹ”, Kelly van xin.
“Để làm gì?” Để nhẵn túi ư? Dan chồng chất các khoản nợ, và như chị đã giải thích, về mặt pháp luật, chị sẽ phải gánh một nửa các khoản nợ ấy. Cuộc ly dị sẽ giúp chị tránh khỏi tình trạng này.
“Mẹ hãy chờ tới khi đứa bé chào đời”, Kelly thì thầm , giọng lạc hẳn đi.
“Ôi, Kelly”.
“Chị Maryellen có biết mẹ muốn ly dị bố không?”
“Tuần trước mẹ đã nói chuyện với nó”.Grace không nói cho Kelly biết chính vì lí do này. Cho dù Dan có làm gì nên tội, Kelly sẽ đều tha thứ cho anh.
“Đứa bé chẳng liên quan gì đến chuyện ly dị cả”, Grace quả quyết. “Không liên quan gì hết”.
Đôi mắt xanh rất đẹp của Kelly chứa chan nước mắt.
“Mẹ hãy cho bố thêm thời gian. Mới chỉ có sáu tuần mà”.
Sáu tuần quái quỷ. Sáu tuần dài nhất trong cuộc đời Grace. Kelly rõ ràng không hiểu sự biến mất của Dan đã làm Grace khổ sở thế nào. Chị thấy xuất hiện trước mọi người thật không dễ dàng. Chị rất khó nở nụ cười với các độc giả khi cuộc đời cô đã mất đi một nửa. Grace thường bắt gặp ánh mắt thương hại của họ. Chị nghe thấy tiếng họ xì xào và biết họ đang nói về mình.
“Đứa bé này xứng đáng có một gia đình đầy đủ”, Kelly nói một cách bướng bỉnh.
Grace không biết liệu có ích gì không khi chị nói thẳng ra chị không phải là người đã chia rẽ gia đình này. Dan đã bước ra khỏi cuộc đời chị, chứ không phải là chị. Dan không còn ở bên chị nữa.
Rồi như thể đang đợi để nói ra điều quyết định cuối cùng, Kelly lục trong ví ra một tấm ảnh sáng bóng được cuộn lại.
“Cái gì thế ?”, Grace hỏi.
“Ảnh của cháu ngoại mẹ”.
Tim Grace bắt đầu đập nhanh hơn. “Con đã siêu âm?”
Kelly gật đầu. “Đây là cháu ngoại của mẹ, mẹ ạ”.
Kỹ thuật này chưa xuất hiện hồi Grace mang thai các con gái. Cô quan sát các đường ngan , dọc, xiên, thẳng và không thể xác định được hình dáng của đứa bé.
“Ôi, lạy Chúa tôi”, Grace thì thầm , ngạc nhiên trước tấm hình.
“Đó cũng là cháu ngoại của bố”, Kelly nói.
Trái tim Grace quặn thắt.
“Hãy nói với con rằng mẹ sẽ chờ cháu ngoại ra đời rồi mới nộp đơn ly dị”.
“Kelly….”
Grace thở dài. “Thôi được, nhưng ngay sau khi đứa trẻ chào đời thôi nhé. Đồng ý không?”
Kelly nhìn mẹ, mỉm cười vui sướng. “Đồng ý”.
 
 
Chương:13.
Olivia Lockhart bước xuống cầu thang máy của chiếc Boeing 767. Cô vừa tứ San Diego trở về sau một tuần đi thăm con trai, con dâu và đứa cháu nội mới chào đời. Isabella Dolores Lockhart sinh vào rạng sáng ngày Mười tám tháng năm. Ngay khi trời vừa sáng, Olivia lập tức đáp máy bay tới California. Trong bảy ngày ngắn ngủi cô đã dành trọn tình yêu thương cho đứa cháu nội đầu tiên của mình. Nhận hành lí xong, Olivea nhìn quanh, tự hỏi Justine có đến muộn không. Con gái cô đã tình nguyện đón mẹ ở sân bay Sea-Tac và thường rất đúng giờ. Cầm vali trong tay và không biết nên đứng đợi ở đâu, Olivia bước tới dãy buồng điện thoại công cộng.
“Tìm người quen hả?”, một giọng nói cất lên từ phía sau.
Olivia nhớ giọng của chồng cũ như nhớ giọng nói của chính mình vậy. “Stan anh đã làm gì ở đây?”
“Còn làm gì nữa, anh tới đón em”.
“Nhưng Justine…”
“Anh đã yêu cầu con bé nhường cho anh vinh dự này”.
Olivia không thể không ngạc nhiên. Cô hiếm khi gặp Stan và họ không thường xuyên nói chuyện với nhau. Ở tuổi năm mươi sáu, trông anh ta vẫn rất cường tráng và bảnh trai, cô mỉm cười lúc được anh hôn lên má, rồi cô đưa túi cho anh ta xách. Cô từng thề sẽ yêu người đàn ông này đến hết cuộc đời – và bất chấp cuộc ly dị, cô vẫn còn yêu anh tha thiết. Tình yêu ấy vẫn còn tồn tại cho đén ngày hôm nay. Vì những gì họ đã có- và cả những gì đã mất.
“Anh nghĩ đây là cơ hội để em kể cho anh nghe về con bé con của chúng ta. Thằng James thế nào rồi?”
Sau chuyến đi thăm, Olivia cảm thấy rất yên tâm. “Em nghĩ không cần phải lo cho James nữa”.
“Em có quý vợ nó không?”.
“Em rất quý con bé”, cô nói. “Em có ảnh cháu nội của chúng ta đấy. Anh Stan , con bé dễ thương kinh khủng”.
“Đừng nói với anh em sắp giống những người bà luôn nhét đầy ảnh cháu vào ví nhé”.
“Em rất xúc động. Em đã chờ điều này mãi. Và giờ nó đã thành hiện thực”. Hầu hết bạn bè họ đã lên chức ông bà từ lâu rồi.
Hai người đi về phía bãi đõ xe trong ngày ở tầng dưới của sân bay Sea-Tac, Olivia kể cho Stan nghe về đứa trẻ trong lúc họ sánh bước, cô gần như không để ý đến việc Stan trả tiền vé và dẫn đường xuống thang máy. Họ bước dọc theo dãy xe đang đỗ cho tới khi anh bất chợt dừng lại trước chiếc ô-tô mui trần màu đỏ.
Olivia kinh ngạc. Stan đi BMW? Một chiếc mui trần chính hiệu. Chồng củ của cô mua xe mui trần để đi trong một thành phố có ba tháng mưa liên tiếp trong năm!
“Anh mua khi nào vậy?”, Olivia hỏi, không hề giấu vẻ ngạc nhiên.
“Em có thích không?”
“Thật tuyệt vời. Anh sẽ hạ mui xuống chứ?”.
“Nếu em muốn”.
Stan mỉm cười trong lúc trườn vào ghế trước. Anh bắt đầu nổ máy và dần hạ thấp mui xuống. Cả hai cùng bật cười. “Chiếc xe này khiến em nhớ tới chiếc mui trần cũ nát anh từng đi hồi học đại học”, Olivia vừa nói vừa cười khúc khích.
“Em còn nhớ cái lần mui xe bị kẹt trong lúc bật lên không?”.
Họ vui vẻ nói chuyện suốt dọc đường đi. Trong lúc đợi đèn, Olivia cho chồng cũ xem những bức ảnh đàu tiên về cháu nội của hai người.
“Sinh ngày Mười tám tháng Năm”, Stan nhắc cô. “Đó là ngày ngọn núi lửa Saint Helens phun trào, đúng không?”
Họ sẽ không bao giờ quên cái ngày đặc biệt ấy. Hôm đó họ lái xe tới Portland vào ký nghỉ cuối tuần. Stan tham dự một buổi hội thảo kỹ thuật và trong lúc anh ngồi họp, Olivia đã đưa ba con tới trung tâm Lloyd. Khu mua sắm với sân trượt băng ở giữa này đã hấp dẫn cậu bé Jordan tám tuổi. Olivia cố ngăn cản, nhưng với ba đứa trẻ phải trông cùng một lúc, thì đó là nhiệm vụ không tưởng, và cuối cùng cô phải đầu hàng. Sau khi thuê giày trượt cho mình và các con, cô đã có một ngày vui chơi thỏa thích. Sáng sớm chủ nhật, khi họ lái xe về nhà, núi Saint Helens đột nhiên hoạt động trở lại. Các dòng khí nóng, tro bụi và đá bắn lên trời cao tới mười tám nghìn mét. Đám tro bụi rơi xuống đã khiến việc quay về vịnh Cedar trở nên vô cùng khó khăn. Suốt mấy tiến đồng hồ , họ bị kẹt ở ranh giới giữa hai bang cùng với ba đứa trẻ sợ hãi ngồi dúm vào nhau ở ghế sau. Olivia cũng sợ không kém.
“Em còn nhớ ngày 18 tháng 5 năm 1980 phải không?”, Stan hỏi.
Đáp lại, Olivia khẽ rùng mình. Chưa bao giờ chị trở về ngôi nhà của mình. Chuyến đi đúng là một cơn ác mộng, nhưng thời gian luôn có khả năng xóa nhòa những ký ức kinh hoàng. Những năm sau đó, mỗi khi nhắc tới chuyến đi ấy, họ đã kể lại một cách đầy hào hứng cùng những tràng cười giòn giã.
“Con bé xinh quá”, Stan nói và nhìn chằm chằm vào bức ảnh trong lúc chờ đèn xanh.
“James rất hạnh phúc, Selina quả là lí tưởng với nó, con bé đúng là mẫu người vợ nó cần”. Vì là con út James được chiều chuộng quá mức và trở thành đứa bé hư hỏng- đặc biệt là sau cái chết của người anh.
 
 
 
 
 
 
 
 


Có những người trong tình yêu luôn không ngừng chờ đợi, nhưng không phải chờ ngày ai đó có thể yêu họ mà chờ ngày họ có thể ngừng yêu ai đó.
Waiting Enternal
0
Từ trang 188 - 207
Lời của anh khiến cô nhói đau. “Như thế không hay lắm”.
“Nếu em không hiểu thì chính xác là anh không muốn gặp em”.
“Được thôi”, cô thầm thì và lùi một bước.
“Đi đi”, anh gần như quát lên. “Ra khỏi đây”.
Cô chớp mắt, Ian đã nói với cô theo cách này khiến cô đau đớn không thể chịu được. “Nếu đó là điều anh muốn, vậy thì…”.
“Đi đi”, anh hét lên và chỉ tay về phía cửa.
Cecilia quay gót chạy ra khỏi phòng. Nếu anh không muốn sự quan tâm của cô hoặc… hoặc tình yêu của cô thì việc đó với cô cũng ổn thôi.
“Cecilia!”, Ian gọi với theo nhưng cô kiên quyết phớt lờ anh. Cô lao vội tới thang máy và giận dữ nhấn nút thật mạnh. Rốt cuộc thì có lẽ đã đến lúc gặp luật sư. Cô không chấp nhận sống cùng với một người đàn ông đối xử tồi tệ với mình như vậy.
 
8.
 
Những cơn mưa tháng ba đã đến, Justine Lockhart chẳng bao giờ muốn ngồi tụ tập với nhóm bạn cùng lớp cũ để lập kế hoạch về một hoạt động mà mình chẳng muốn tham gia. Ban tổ chức họp lớ có ý nhờ cô trợ giúp về việc lập kế hoạch tài chính. Và trong lúc mềm lòng, cô đã đồng ý.
Chẳng may, Justine đã đưa ra một quyết định sai lầm khi giới thiệu ban tổ chức với Warren. Anh ta thậm chí còn không nghĩ đến việc sẽ tham gia cùng cô. Và kết quả là cô phải ngồi chết dí trong những cuộc họp chán ngấy nhìn anh tiếp chuyện qua loa với đám bạn bè của mình. Vậy mà cô đã hi vọng anh ta sẽ bỏ chút công sức giúp cô một việc nào đó dù nhỏ bé. Nhưng cô đã nhầm, anh ta chẳng bao giờ muốn giúp cô.
Anh ta cố gắng xoa dịu cuộc chiến tranh lạnh giữa hai người bằng một sợi dây chuyền sa-phi-a và một lời mơi ăn tối. Trước đây, Justine đã chấp nhận lời xin lỗi của anh với một món trang sức nạm ngọc và sau đó mọi chuyện lại trở về như trước. Justine dường như đã quen với những lần mắc lỗi của Warren, và cô thường học cách phớt lờ những điều đó. Anh ta có lẽ cũng là một người vô tâm, nhưng lại biết chiều chuộng cô để lấy lòng. Việc giảng hòa bằng những món quà đắt tiền hơi mang màu sắc toan tính, nhưng nó lại phù hợp với cả hai người. Nhờ sự giàu có của mình, Warren cũng có vài người bạn. Và chẳng ai trong số họ kéo dài được mối quan hệ ấy. Bởi đó là mối quan hệ được xây dựng trên những toan tính. Cuộc họp lớp của Justine đã được lên kế hoạch tổ chức ở nhà Lana Sullivan, vợ của Jay Rothchild. Cả chục năm sau khi tốt nghiệp, Justine chưa nói chuyện với Lana lần nào.
“Justine!”. Lana chào đón cô nồng nhiệt, ôm chầm lấy cô như thể họ là đôi bạn thân thiết đã mất liên lạc với nhau từ lâu lắm. “Vào đi! Seth và Mary đều đang ở đây!”
Justine liếc vào phòng khách và thấy Mary O’Donnell đã mang bụng bầu được mấy tháng rồi.
“Gặp cậu vui quá Mary ạ”. Justine vừa nói, vừa cười và gật đầu chào Seth.
Ngôi sao điền kinh của trường ngày nào trông vẫn như xưa, ít nhất là nhìn phong độ bề ngoài. Vẫn cái dáng cáo ráo với những cơ bắp cuồn cuộn; tuy nhiên giờ lại cộng thêm vẻ chững chạc, còn mái tóc thì vẫn vàng hoe. Cô không hề nhờ rằng anh có vẻ đẹp trai ấy, ký ức về những năm tháng học tại trường trung học của cô đã khá mờ nhạt.
“Dạo này các cậu thế nào?”. Mary hỏi.
Justine nhún vai. “Tớ làm ở Ngân hàng Quốc gia số Một”.
Justine đã tốt nghiệp với tấm bằng về lịch sử, nhưng cô chẳng phải dùng đến nó cho bất kỳ một kỹ năng nào của công việc hiện tịa.
“Anh nghe nói em đã lên chức quản lý”. Seth nói.
“Đúng vậy”. Cô khá ngạc nhiên khi Seth biết thông tin đó vì anh ta không phải khách hàng của cô.
Để khỏi lạc lõng, Justien tới chiếc ghế trước mặt Mary, ngồi xuống, giấu hai bàn tay dười đùi và nói chuyện xã giao với một nhóm khác trong khi nhâm nhi một tách cà phê. Cô không biết đến lúc nào không khí của những cuộc nói chuyện miễn cưỡng sẽ chuyển sang thân mật hơn. Và nó thực sự đã đến. Không lâu sau cô đã cười nói vui vẻ với những người bạn nhiều năm không gặp này.
Khi các kế hoạch đã được thông qua, và ban tổ chức được thành lập, cuộc họp kết thúc. Justine ra về cùng lúc với Seth.
“Em đã ăn gì chưa?”, câu hỏi của anh cất lên khiến cô thấy hơi sững lại.
Seth mân mê chiếc chìa khóa xe trong khi chờ câu trả lời. Justine nhận ra rằng đây không chỉ là một câu hỏi đơn thuần, đó là một lời mời. “Thực ra là em chưa ăn gì”. Warren đã bảo cô gọi anh ta khi xong việc, anh ta nói sẽ mời cô uống chút gì – nhưng cô tự thấy mình không nhất thiết phải gọi ngay bây giờ. “Anh có rủ thêm ai không?”. Cô hỏi. “Chắc chắn rồi”. Seth nói.
Như Justine đã nhận ra ngay khi mới gặp lại, Seth của hôm nay đã khác xa hình ảnh cô vẫn nhớ về anh hồi còn đi học. Trong ký ức của cô, anh vốn chỉ là một người nhạt nhẽo và không để lại cho cô nhiều ấn tượng. Nhưng hôm hay gặp lại, cô bị cuốn hút vào những trò đùa hóm hỉnh, sâu sắc và đặc biết nhất là điệu cười hết cỡ của anh. Cô tán thành những ý tưởng của anh về cuộc họp mặt, điều này cho thấy anh không hoàn toàn chỉ giàu trí tưởng tượng.
Hai người đi xe riêng đến nhà hàng D.D trên bờ vịnh – đó là một nhà hàng hải sản thời thượng trên bến tàu gần điểm đỗ du thuyền. Nhà hàng khai trương từ mùa hè và Justine đã đến ăn trưa ở đó vài lần nhưng chưa bao giờ ăn tối. Vì đã hơn tám giờ nên họ chọn một chiếc bàn bên cửa sổ trông ra bến cảng, từ đó họ có thể vừa thưởng thức bữa ăn vừa ngắm nhìn bến tầu Bremerton đang hiện lên trên mặt nước lung linh. Justine liếc qua thực đơn và chọn món ăn.
“Thật không thể tin được là chúng ta đã tốt nghiệp được mười năm rồi!”. “Trông ai cũng vẫn như xưa, chỉ trừ Mary…”
“Anh có cảm xúc lẫn lộn trong cuộc họp mặt hôm nay”. Seth thú nhận.
“Sao cơ?”, Justine hỏi với chút bối rối.
“Nếu anh không tham gia hội họp thế này thì anh sẽ vẫn mãi cô đơn thôi. Anh chẳng có ai để hẹn hò cả, như em đã thấy đấy”. Seth nhe răng cười khiến Justine cũng không thể nhịn được.
“Hồi còn học ở trường chắc chắn anh phải có hàng tá các cô gái vây quanh ấy chứ”
“Nhưng cô gái anh thích lại không nằm trong số đó”. Đôi mắt xanh của Seth ngây ngất nhìn Justine.
“Anh đang đùa đấy à? Ai mà có thể cưỡng lại anh được cơ chứ”.
“Anh không đùa với em đâu”. Seth nói nhưng ánh mắt vẫn không rời khỏi cô.
“Em à?”. Justine ngạc nhiên hỏi. “Anh muốn hẹn hò với em à?”
Đây hẳn là một trò đùa và nó không đáng cười chút nào. Cô toan nói như vậy, nhưng đột nhiên cô nhận ra rằng anh có vẻ nghiêm túc.
“Ý anh là sao?” Cô nói với giọng yếu ớt.
“Em là người làm anh bị “say nắng” nhất hồi ấy đấy. Liệu bây giờ em có đi chơi với anh nếu anh mời không?”.
Justine không hề có ý tưởng gì về chuyện này.
“Chắc em đã từng nghĩ về anh như một gã khờ, nhưng anh không trách em đâu. Vì mỗi khi ở gần em, anh rất lúng túng, anh không nói được thành lời. Mỗi khi em đến gần anh lại luống cuống nên chẳng làm được gì ra hồn. Và anh thấy mình như một tên ngốc, anh luôn tự dằn vặt mình hàng tuần sau đó”.
“Em không để ý những chuyện ấy chút nào”. Justine nói và lắc đầu.
“Ơn Chúa”. Seth tặc lưỡi và chuyển hướng chú ý vào quyển thực đơn như thể anh không muốn tiếp tục chủ đề đang đề cập.
Người phục vụ đến bên bàn mang theo giỏ bánh mỳ nóng hổi, ghi lại các món ăn họ yêu cầu rồi đi. Justine với tay lấy một lát bánh bột nhào chua. Rõ ràng là vụ say nắng đã chỉ là chuyện của quá khứ.
“Chắc em cũng sẽ tham dự hội lớp một mình thôi”. Cô ậm ừ.
“Em đi một mình à?”. Câu hỏi bật ra vẻ nghi ngờ. “Anh tưởng em và Saget là một cặp?”.
“Cũng… gần như vậy”. Justine không biết giải thích thế nào về mối quan hệ với Warren và quyết định rằng cũng không cần phải giải thích.
“Nếu không phải với Saget thì em đã hẹn hò với người khác rồi à?”.
Justine không muốn cho Seth biết mình vẫn chưa có ai. Sự thật anh vừa thổ lộ về tình cảm của mình đối với Justine đã có tác động mạnh đến trí tò mò của cô – nó khiến cô muốn phá lên cười. Suốt những năm trung học, cô vẫn luôn thấy cái dáng cao trội hơn mọi người của anh thật kỳ quặc. Còn cô thì lại là một học sinh xuất sắc luôn phấn đấu học tập để giành được số điểm cao nhất.
Seth xé một mẩu bánh mì và cười buồn. “Em không trả lời cũng chẳng sao. Anh đã làm em khó chịu phải không?”
“Không đâu”. Justine trấn an anh. “Tại em không biết phải nói gì thôi. Em chưa bao giờ nghĩ… Anh có thể hẹn hò với bất kỳ cô gái nào miễn là anh thích. Thời trung học anh rất nổi tiếng mà”. Cô gật đầu lần nữa. “Em không mấy khi hẹn hò vì hối đó là khoảng thời gian em cảm thấy không thoải mái”.
“Vì Jordan phải không?”.
Lâu lắm rồi mới có người nhắc đến người anh trai sinh đôi khiến Justine thấy một cảm giác thật buồn. Cô chờ cho nỗi buồn bất ngờ lắng xuống rồi mới trả lời. “Đó cũng là một lý do. Bọn em rất thân thiết, anh biết đấy và… mọi thứ đã hoàn toàn thay đổi sau cái chết của anh ấy”.
“Anh cũng vậy”.
Tự nhiên, Justine nhớ ra rằng Seth và Jordan đã từng là bạn thân của nhau, nhưng cô không tưởng tượng được cái chết của anh trai cô lại để lại ấn tượng lâu dài trong tâm trí anh như vậy.
“Anh vẫn luôn dằn vặt mình rằng nếu hôm đó anh đi cùng Jordan thì chuyện thương tâm đã không xảy ra”.
Khi Seth nói câu này, Justine nhớ ra rằng mình cũng từng nghĩ như vậy trong cái ngày đen tối ấy. Cô thấy mắt mình cay xè và vội quay đi chớp liên tục, cố nén những giọt nước mắt chỉ chực trào ra.
“Có lẻ chúng ta không nên nhắc lại chuyện về Jordan nữa”. Justine cố gắng kết thúc đề tài buồn trong khi ánh mắt vẫn nhìn xa xăm qua cửa sổ. Những ánh đèn loang dài trên mặt nước, bến tàu Bremerton tỏ mờ huyền ảo. “Tai nạn đã qua lâu rồi mà”. Đó thực sự là một bước ngoặt trong cuộc đời Justine. Cô không chỉ mất đi người anh trai sinh đôi với mình mà còn mất đi cả gia đình, mất sự yên ổn trong cuộc sống và hơn hết là mất ý thức về bản thân mình. Biến cố năm mười ba tuổi khiến cô mất thăng bằng trong cuộc sống, kể từ đó cô luôn mong mỏi tìm được mục đích sống, một điều gì đó giúp cô lấy lại tình yêu với cuộc đời này.
Không khí giữa hai người chùng xuống như thể từng người đang sống lại với một phần quá khứ của mình, rồi không ai bảo ai, họ cùng nhau cố gắng tiếp tục cuộc trò chuyện với những đề tài khác. Khi bữa ăn mang ra, họ lại cảm thấy vui vẻ và thoái mái. Cả hai người đều nấn ná bên cốc cà-phê, dường như chẳng ai muốn rời đi. Khi nhà hàng đến giờ đóng cửa. Seth rủ cô đi xem chiếc thuyền của anh mang tên Mỹ nhân Bạc và Justine đã đồng ý.
“Chiếc thuyền này cũng không đắt lắm đâu”.
Justine không quan trọng chuyện giá cả của  chiếc thuyền cô chỉ đơn giản là thấy tò mò. Họ dạo quanh bến thuyền. Justine so vai lại trước cơn gió lạnh thổi tới, trời bắt đầu trở gió từ khi họ còn ngồi trong nhà hàng. Hai người bước lên bến tàu đang loang loáng những hạt mưa. Anh điện lung linh phản chiếu trên mặt nước sóng sánh soi bước cho Justien. Seth đi trước dẫn đường, anh nhanh nhẹn và thành thục bước trên con đường dập dềnh vì sóng nước, Justine sợ hãi bước theo sau. Khi ngoái lại, Seth nhận thấy Justine tụt lại khá xa phía sau nên quay lại đưa tay cho cô. Lần đầu tiên được nắm bàn tay của một người lao động, Justine ngạc nhiên vì cảm nhận được rõ ràng sự rắn rỏi và mạnh mẽ. Điều này khiến cô nhớ lại những lời mẹ mình đã nói trước đây. “Cậu ấy là người rất chăm chỉ Justine à, và điều đó hoàn toàn không có gì là xấu cả”.
Qua cuộc trò chuyện lúc tối, cô biết được rằng Seth không chỉ sống ở khu vực bến tàu mà còn đảm nhận công việc quản lý trong suốt những tháng mùa đông. Mùa hè, anh bay tới Alaska và đánh bắt cá trên những con tàu lớn. Cả bố và ông nội anh cũng từng là dân chài lưới. Như Seth đã nói, đánh bắt cá đã ăn vào máu của anh.
Anh bước lên một chiếc thuyền và giúp Justine bước theo. Anh dẫn cô xuống boong tầu, ở đó tuy chật nhưng gọn gàng.
“Cà-phê nhé”. Anh vừa nói vừa với tay lấy ấm nước.
“Không, em đã uống đủ rồi”. Cô không muốn phiền anh và cũng không có ý ở lại lâu.
Seth đứng đó, hai tay đút vào túi quần sau, mắt nhìn vào vô định. Chuyến tham quan quanh ngôi nhà của anh vì thế chỉ mất một phút.
“Anh sẽ đưa em quay về xe”, anh gợi ý. Justine rất mừng vì cô phát sợ phải một mình quay lại con đường dập dềnh của con tàu trong đêm tối, cả hai chẳng nói thêm gì cho đến khi tới gần xe của Justine. Trước khi mở khóa xe, Justine không quên quay lại cảm ơn anh cô nhẹ nhàng nói. “Bữa tối rất tuyệt và em rất vui khi được tham quan con thuyền của anh”.
Seth lùi lại một bước. “Anh cũng rất vui khi được ăn tối cùng em. Những cuộc họp sau em cũng sẽ đến chứ?”
“Em không dám chắc nhưng cũng mong là sẽ đến được. Còn anh thì sao?”
“Anh sẽ tham dự nếu anh ở đây”.
“Vâng”. Seth sẽ đến Alaska đánh cá vào đúng thời điểm cuộc họp tới. Bỗng nhiên cô thấy buồn khi nghĩ rằng Seth sẽ không tham dự cuộc gặp mặt tới. Khi mới bước chân vào nhà Lana tham dự buổi họp mặt cô đã nghĩ rằng mình chẳng thể hòa nhập được với mọi người ở đó. Và cô đã thật vui khi thấy mọi việc lại không hề như cô nghĩ. Dù rằng cô cảm thấy vui chỉ với một người trong số đó…
“Em sẽ rất nhớ anh”. Cô nói.
“Thật vậy sao?”. Seth cúi xuống nhìn cô, Justine khẽ gật đầu.
“Anh rất vui khi em nói điều này”. Rồi không để cô có cơ hội đoán được ý định của mình, anh kéo Justine vào vòng tay và khẽ cúi xuống đặt một nụ hôn lên môi cô.
Justine cũng không thể ngờ được phản ứng của mình, cô khép đôi mi và đón nhận nụ hôn – một nụ hôn ướt át và nồng ấm. Trong vòng tay xiết chặt của anh, cô bỗng nhận ra rằng cô đang khao khát được dâng hiến, khao khát đến cháy lòng…
Nụ hôn của anh nồng nàn và êm dịu. Justine không thể ngời một người đàn ông vạm vỡ lại cho cô nụ hôn êm ái đến vậy, Seth Gunderson đã là cả một sự ngạc nhiên lớn trong buổi tối hôm nay.
*
Chiếc hàng không mẫu hạm George Washington đã rời bến mà không có tin tức gì của Ian. Anh đã đi mà không thèm biết tình hình của vợ như thế nào. Cecillia cay đắng tự nhủ với bản thân. Cuộc gặp cuối cùng thật khủng kiếp đến nỗi cô thậm chí không thèm mảy may nghĩ đến việc sẽ gặp lại Ian – người có lẽ sắp thành quá khứ của cô lần nữa.
“Con vẫn khỏe đấy chứ?”. Giọng bố cô cất lên khi Cecillia tạt qua nhà hàng để lấy hóa đơn.
“Sao bố lại hỏi như vậy ạ?”
“Chẳng sao cả”. Bobby vừa nói vừa khoát tay như thể không muốn mọi chuyện rắc rối thêm.
Cecillia không muốn trả lời những câu hỏi của bố, ông luôn tìm cách kết thân với con gái để gây dựng lòng tin nhưng tiếc là cả hai vai trò đó đều bị cô từ chối.
“Việc học hành thế nào con?”. Ông hỏi. Rõ ràng ông đang muốn khơi chuyện.
“Tại sao đột nhiên bố lại quan tâm như vậy?”. Cô muốn biết lý do. Suy nghĩ đầu tiên của cô về bố mình, là ông lại sắp đưa ra những lời nhận xét “tuyệt vời” về mọi chuyện.
“Chẳng vì sao cả”. Bobby lặp lại câu trả lời. Ông quay đi như thể muốn rút lại câu hỏi.
Cecilia thởi dài, cảm thấy khó hiểu chính bản thân mình. “Con xin lỗi… ý con không phải vậy đâu”. Bobby liếc nhìn con. “Con có điều gì phiền lòng phải không? Vài tuần gần đây tâm trạng của con có vẻ không tốt”.
“Không phải vậy đâu bố”.
Ông nhíu mày, như muốn chịu thua rồi lắc đầu. “Sao cũng được”.
“Chỉ tại con phải thức khuya và dậy sớm để đi học thôi mà”. Một lý do có vẻ ngớ ngẩn nhưng đó là tất cả những gì Cecilia nghĩ được. Việc thiếu ngủ có thể là lý do cho rất nhiều vấn đề nhưng không phải tất cả.
“Vậy là con vẫn đi học đầy đủ chứ?”. Dường như ông thấy cô có vẻ mất hết hứng thú vào cuộc nói chuyện rồi.
“Vâng, con vẫn đi học”. Và cố gắng vượt qua mọi chông gai dù đã cạn kiệt cả thời gian và sức lực.
“Ian vẫn thường xuyên hỏi han con phải không?”. Bobby dò hòi.
“Hoàn toàn không mà bố”. Cecilia hờ hững đáp lại. “Tàu George Washington đã rời cảng trước kế hoạch hồi đầu tuần rồi bố ạ”. Có vẻ như cô không thể phớt lờ sự thật ấy. Mọi phương tiện thông tin đại chúng từ báo chí, tờ Nhật báo Seattle cũng như tin tức truyền hình đã không ít lần nhắc đến việc chiếc hàng không mẫu hạm đã được sửa chữa và ra khơi lần thứ hai trong vòng một tháng. Không chỉ có vậy, đây cũng là đề tài được đề cập nhiều ở vịnh Cedar và quán ăn cô đang phục vụ.
“Con vừa nói chuyện với nó đấy chứ?”
Cecilia để ý thấy Bobby đang đứng cách mình vài mét. Dường như ông đã chuẩn bị tinh thần thoái lui nếu như cô tiếp tục lẩn tránh.
“Ian và con đang làm thủ tục ly dị mà bố”. Cecilia nhắc nhở bố.
“Bố biết chứ”. Bobby vội đáp. “Nhưng bố nghĩ, biết đâu các con có thể hòa giải”.
Cecilia cũng bắt đầu nghĩ đến khả năng đó. Sau buổi tối họ đi ăn cùng nhau và sau cuộc ân ái đó, cô đã tràn trề hy vọng. Cô thấy xốn xang. Y như cảm xúc cô có được vào lần đầu tiên họ gặp mặt. Nhưng khi anh rời khỏi căn nhà, mọi thứ đã đổi thay, cô cũng không thể hiểu tại sao.
“Bố mong các con sẽ làm được điều đó”. Bobby nói.
Nỗi bực tức lại bừng lên trong Cecilia. “Con cũng mong bố mẹ cố gắng như vây, nhưng mong muốn không thôi thì không giúp được cho con bố ạ”.  Nói xong cô vơ lấy tờ hoá đơn và xông thẳng ra khỏi cửa.
Cecilia bừng bừng tức giận, không vì lẽ gì. Bị bố chọc giận, bị đồng nghiệp làm phiền – mọi thứ khiến cô không còn là cô nữa. Bobby chỉ muốn hỏi han giúp đỡ cô nhưng ngay lập tức bị cô dội cho một gáo nước. Không phải vì có thai mà Cecilia trở nên thay đổi tâm tính như vậy. Lần này thì ko vì kỳ kinh nguyệt của cô vẫn đến đều đặn – ơn Chúa. Tâm trạng không tốt chẳng qua vì… không thể cảm thấy tốt thôi, cô nghĩ vậy.
Sau khi xử lý xong đám hoá đơn, cô đến tiệm rau quả và kiếm món. Mặc dù phải đắn đo với hầu bao của mình nhưng cô vẫn mua một bó hoa cho Allison. Cô đã không đến thăm mộ bé cả tháng nay rồi. Khoảng cách địa lý cản trở cô. Phải khó khăn lắm cô mới vượt qua được những dằn vặt vì không đến nghĩa trang thường xuyên thăm con. Cô muốn mình thể hiện vai trò một bà mẹ tốt và còn hơn thế nữa; cô muốn cho con gái tất cả mọi thứ mà cô có thể. Không chỉ là về vật chất mà còn là sự quan tâm, yêu thương và che chở. Nhưng sau tất cả mọi việc, hoá ra cô không thể cho bé điều quan trọng nhất. Đó chính là cuộc sống. Cô bé đã không có được điều đầu tiên đó và Cecilia cũng thất bại với tất cả dự định tốt đẹp của mình. Về mặt lý trí, cô biết cô không có lỗi, nhưng trong thâm tâm… Cô không thể vượt qua được cảm giác rằng chắc chắn có một điều gì đó cô không làm đã khiến cho bé bị như vậy. Một việc nào đó… mà lẽ ra cô phải làm. Bác sĩ nói rằng đó là tâm lý chung của những bà mẹ có hoàn cảnh như cô và khuyên cô nên tìm một bác sỹ tư vấn. Cecilia đã không thể đối mặt với sự thật đau đớn của cuộc sống.
Mãi đến nửa buổi chiều Cecilia mới đến nghĩa trang. Nước mắt ngân ngấn, cô bước qua con đường mòn dẫn đến ngôi mộ của Allison. Thỉnh thoảng cô dừng bước và ngạt những chiếc lá, cọng cỏ bám trên các bia mộ, nhìn từng dòng chữ đề tên và ngày tháng, băn khoăn về những mảnh đời đã khuất.
Khi đến bên mộ của Allison, Cecilia đã thấy một bó hoa tươi. Hoa cúc vàng, cũng chính là loài hoa cô yêu thích. Ian. Chỉ có thể là Ian mà thôi.
Anh ko gọi để báo cho cô rằng anh sắp đi xa, nhưng anh đã đến để thăm con gái. Cecilia cúi xuống đặt bó hoa bên cạnh bó hoa của chồng. Cô khẽ chạm những cánh hoa, tự hỏi không biết có phải đó cũng là thông điệp anh muốn gởi tới cô.
Không, cô quyết định phải thật cứng rắn với mọi sự lung lay trong tình cảm. Anh ta chỉ cần thân xác cô chứ không phải con người cô. Thông điệp đó đã rõ như ban ngày. Anh đã yêu cầu cô rời phòng bệnh bằng giọng điệu coi thường mà chắc chắn cô không thể hiểu nhầm. Anh cũng không gọi điện xin lỗi. Tốt thôi! Dù sao cô cũng chẳng cần xe của anh. Cecilia càng khăng khăng những lý lẽ mình đưa ra thật yếu ớt. Cô không thể không nghĩ đến anh. Anh là tất cả tội lỗi gây nên sự tức giận và buồn rầu nơi cô. Một lần nữa cô lại không ngăn cản được anh bước vào chiếc giường và trái tim của mình. Và giờ đây cô đang phải chịu hậu quả. Thật xót xa khi anh rời Bremerton mà không nói nửa lời với cô. Không tạm biệt, không xin lỗi, không gì cả. Anh thật thô lỗ và vô lý, đây cũng không phải là lần đâu tiên.
Quay trở về căn nhà nhỏ, Cecilia cố gắng làm bài tập tiếng Anh nhưng tâm trí cô cứ vẩn vơ về những điều mà cô không muốn nghĩ đến nữa.
Chuông điện thoại reo vang khiến cô giật mình. Sau tiếng thở dài, cô nhấc máy.
“Xin chào”, cô nói với giọng uể oải.
“Xin chào”. Một giọng phụ nữ vui vẻ cất lên. “Cậu không biết tớ đâu, nhưng tớ nghĩ rằng đây là tớ tự giới thiệu về mình. Tớ là Cathy Lackey”.
“Ai cơ?”.
“Cathy Lackey”.
“Vợ của Andrew – bạn của Ian, họ đã rời đi trong đợt dàn quân phải không?”.
“Được ba hôm rồi. Ian không hề gọi điện về sao?”
“Không”. Cecilia cố tỏ ra hờ hững mặc dù sự thực ấy vẫn làm cô nhói đau.
“Thật không phải chút nào. Tớ muốn đá cho hắn một cái”. Cathy lẩm bẩm.
Lần đầu tiên trong ngày, Cecilia nở nụ cười. “Cả tớ và cậu đều phải thế”.
“Nghe này, tớ thấy tuy mình chưa quen nhau nhưng tớ rất vui nếu chúng ta kết bạn. Andrew và Ian là bạn tốt của nhau với lại tớ vừa mới đến đây nên chưa quen nhiều người”.
“Tớ cũng chẳng quen nhiều bạn bằng tuổi đâu”. Đó là vì cô không tính đến mấy người bạn đồng nghiệp, Cecilia chưa bao giờ thấy hợp với nhóm bạn ở Bếp Thuyền Trưởng. Vì cô luôn có xu hướng rút về ẩn trong vỏ ốc của mình, tuổi thơ cô đã chứa đầy sóng gió và cô thấy khó khăn trong việc kết bạn. “Nhưng chắc chắn… lúc nào chúng ta sẽ gặp nhau nhé”.
Cathy có thể kể cho cô nghe về Ian; suy nghĩ đó vẫn đeo bám tâm trí cô.
“Tuyệt”. Cathy có vẻ hài lòng. “Tối nay cậu có làm gì không?”
Đây là một trong những tối thứ bảy hiếm hoi Cecilia không phải làm việc. “Cậu có ý tưởng gì à?”
“Tớ đang nghĩ chúng ta có thể xem một bộ phim và ăn bỏng ngô”.
Đó là ý tưởng mà túi tiền Ceciliacho phép. “Tớ tán thành. Vậy cậu đến nhà tớ hay tớ sẽ qua nhà cậu?”.
“Tớ sẽ tới nếu không phiền đến cậu”.
“Chắc chắn là không rồi”. Cecilia liếc nhìn quanh căn nhà xem mọi thứ đã gọn gàng chưa. Cô sẽ phải cần một chút thời gian để dùng máy hút bụi và sắp xếp lại chồng sách báo.
“Cậu có thể đưa tớ về nhà được không?”.
“Không thành vấn đề”. Cecilia nói. “Cậu có cần tớ qua đón không?”.
“Không, tớ có xe của Ian rồi”.
Câu nói khiến cô nghẹn ứ trong họng như có một chiếc gai nhọn. Trước khi cô kịp phản ứng, Cathy đã hỏi. “Sáu giờ có sớm quá không nhỉ?”.
“Được mà”, cô điềm tĩnh. “Nhưng…”.
“Tớ sẽ đưa cho cậu chìa khoá, bảo hiểm và mọi thứ cần thiết”. Cathy tiếp tục.
“Cái gì cơ?”.
“Giấy tờ xe của Ian. Tớ tưởng anh ấy đã gọi báo cho cậu nên tớ cứ chờ cậu liên lạc. Nhưng tớ lại chẳng thấy thông tin gì từ cầu cả. Tớ nghĩ anh ta lẩn thẩn mất rồi. Trời ạ!”. Cathy cười khúc khích còn Cecilia thì nhíu mày không thể hiểu nỗi những chuyện này.
“Ý cậu là anh ấy nói tớ sẽ đi xe của anh ấy?”.
“Anh ấy cứ khăng khăng vậy đấy”. Cathy đảm bảo.
Cecilia muốn tin đó là sự thật nhưng lại băng khoăn liệu có nên làm thế không. Ian đã cho cô đo ván một lần và cô chưa hết choáng váng về chuyện đó. “Anh ấy nói vậy trước hay sau khi vào viện?’
“Sau”. Cathy nói. “Anh ấy tự tay đưa chìa khoá cho tớ và yêu cầu tớ đảm bảo rằng sẽ giao xe tận tay cho cậu”.
“Ôi”. Cecilia thốt lên và hít một hơi dài. Cho dù cô đã từ chối không dùng xe của anh nhưng anh vẫn cố gắng làm mọi cách để cô có chiếc xe. Anh ấy quan tâm đến cô. Anh vẫn nghĩ về cô.
“Tớ sẽ gặp cậu lúc 6 giờ nhé. Và trên đường đi tớ sẽ thuê đĩa phim – phim hài nhé? Cậu thấy Notting Hill thế nào? Cậu xem chưa?.
“Chưa”. Cecillia trả lời. “Tớ thích xem phim hài”.
*
Món ăn gần đây nhất Charlotte vừa thử thực hành là món bánh hồ đào sôcôla ngon chưa từng
 
0
Trang 208 - 227
thấy. Bà đã ăn trong lễ tang bố ông hàng xóm. Mọi việc đều tốt đẹp. Bà không quá ngạc nhiên và cảm thấy buồn trước sự mất mát ấy. Ông Herbert đã sống ở vịnh Cedar cả tám mốt năm nay, như thế cũng là thọ rồi. Món bánh sẽ là món tráng miệng tuyệt hảo cho một bữa tối kiểu phương Đông. Bà cũng nướng thêm món bánh dừa quen thuộc. Cả gia đình bà chắc sẽ thích mặc dù bà chắc rằng cả Olivia và Justine không thật sự hiểu được bà đã mất bao nhiêu công sức cho món bánh đó. Charlotte vẫn tin vào cách làm cổ điển. Bà sẽ không dùng máy trộn bánh nếu không muốn sau này sẽ bị phụ thuộc vào nó. Ôi không, bà vẫn làm chiếc bánh từ đủ thứ nguyên liệu nguyên sơ nhất, y như cái thời mẹ bà vẫn làm. Thậm chí từ thời bà ngoại. Làm một chiếc bánh dừa vì thế phải mất đến ba ngày, bắt đầu là từ dừa tươi; nhưng kết quả luôn là những chiếc bánh với hương vị xứng đáng với tất cả những gì bà đã bỏ ra. Truyền thống luôn ăn sâu trong tiềm thức của bà.
Sáng thứ Năm, như thói quen thường lệ, Charlotte đến Trung tâm người cao tuổi để họp mặt cùng nhóm bạn đan len. Những người bạn thân nhất của bà cùng ngồi quanh chiếc bàn lớn, ai cũng chăm chỉ với sản phẩm của mình. Có người đan cho cháu, người khác lại đang cho những đứa trẻ trong trại trẻ mồ côi hoặc để làm từ thiện. Thật chẳng có gì đáng quý hơn một chiếc áo len hoặc chen len được đan bằng những đôi tay khéo léo và cả tình yêu nồng ấm.
“Xin chào Charlotte”, Evelyn hào hứng. Bà đã sắp hoàn thành chiếc ra phủ giường dành tặng con gái. Những hoạ tiết trang trí rất đáng yêu và sản phẩm cũng được hoàn thiện dần với sự trợ giúp của những người bạn khác. “Gần đây bà có gặp Jack Griffin không?”. Evelyn hỏi. Cho dù đã được trấn an nhưng bà vẫn không hết hoài nghi về biên tập viên của tờ Bản tin vùng vịnh Cedar này. Evelyn vẫn vậy – nhất là từ khi bà biết cách truy cập Internet. Bà thường xuyên hồ nghi tất cả mọi người, và trong hầu hết trường hợp Charlotte thường phớt lờ tính đa nghi của bạn.
“Chiều mai nhé”. Charlotte nói lấy lệ. Bà đã dành thêm nhiều giờ vào trang dành cho người cao tuổi và hài lòng với những gì mình làm được. Jack rất thích những ý tưởng của bà và gợi ý bà cách viết các chuyên mục hàng tuần cho báo. Lúc đầu Charlotte khá lúng túng. Bà không phải là một người viết giỏi và bà nghĩ rằng mình không thể tìm được đủ ý tứ cũng như thông tin để viết được chuyên mục hàng tuần. Nhưng niềm tin của Jack đã thôi thúc bà thử sức mình một lần xem sao. Bài báo đầu tiền của bà đã được đăng trên trang dành cho người cao tuổi số tuần trước, nội dung là về một thực đơn, vài mẩu về lịch sử địa phương và vài lời giới thiệu góp nhặt từ ý kiến của Grace – bạn Olivia vễ những cuốn sách trong thư viện. “Tôi đã nấu thử món ăn bà giới thiệu” Helen nói tay vẫn đan thoăn thoắt. Bà đang đan một chiếc áo dành tặng cô cháu gái mười lăm tuổi của mình.
“Bách bích quy và pho-mát dầy phải không?”. Khi thực đơn này được lên báo thì Charlotte đã thực hành nó từ ba tháng trước. Bà không bao giờ cạn kiến thức về những món bánh mới, bà còn thấy khó khăn không biết nên cho đăng món bánh nào trước. “Ôi, các bạn, hãy chờ đến khi nào tôi giới thiệu món bánh sôcôla và hồ đào tôi vừa thưởng thức tuần này”.
“Trong đám tang ông Herbert Monk phải không?”. Bess hỏi.
“Tôi đã từng nghe nói đến”. Helen nói. “Tiếng lành đồn xa mà”, “Tôi cũng chỉ mong có ai đó làm cho món bông cải hấp cà chua và pho-mát lúc lâm chung”. “Evelyn tếu táo. “Thế là ai cũng biết tôi qua đời và được lên thiên đường”. Charlotte tặc lưỡi.
“Ông Tom bạn của bà thế nào rồi?”. Helen chêm vào. Charlotte bỗng cảm thấy có lỗi khi nghĩ đến Tom Harding. “Cả tuần rồi tôi không gặp”, bà thú nhận. Trang báo dành cho người cao tuổi đã chiếm hết thời gian của bà và bà đã không đến Trung tâm An dưỡng.
Lần đến thăm gần nhất, Tom đã rất yếu, Charlotte đã cố gắng làm cho ông vui vẻ lên đôi chút nhưng dường như những nỗ lực ấy không thành công mặc dù ông vấn lắng nghe và thỉnh thoảng cũng đáp lại. Như mọi khi, Charlotte nói về đủ thứ chuyện. Bà kể rằng mình đã để chìa khóa của ông vào một nơi an toàn và điều đó dường như khiến ông an tâm hơn. “Tôi nghĩ ông ấy có vẻ ổn”. Laura nói. Laura luôn tỏ ra biết tuốt. Với cả thảy bảy đứa con sống quanh, bà ấy thậm chí còn nắm rõ tình hình trong vịnh Cedar hơn cả ông Thị trưởng.
“Thật không?”. Charlotte hi vọng sự việc không trầm trọng đến vậy. Nếu quả thật như vậy thì bà nghĩ Janet Lester phải báo cho bà rồi. “Chắc bà muốn trực tiếp đến thăm xem tình hình ông ấy thế nào”. “Tôi cũng định vào đó ngay chiều nay đây”. Charlotte nói mà có chút ấm ức vì Laure lại là người thông tin cho bà về tình hình bạn mình. Nhưng thực ra, bà chẳng trách ai ngoài chính bản thân. Chỉ tại gần đây bà đã quá bận rộn.
Bà nán thêm một tiễng nữa để hỏi thăm và đan, sau đó mới dọn dẹp các dụng cụ và đi đến Trung tâm An dưỡng. Không hề tạt qua phòng của Janet, bà tiến thẳng đến phòng của Tom.
Qua Janet bà biết được rằng cuối cùng Tom cũng chọn vịnh Cedar. Ông chưa bao giờ nói về lý do của sự lựa chọn ấy. Căn nhà kho vẫn còn là một bí mật. Ông không bao giờ giải thích gì thêm và nếu bà cố gặng hỏi thì ông lại giả vờ ngủ.
Charlotte mang theo bài báo của mình để đọc cho Tom nghe cùng với một lát bánh phần riêng cho ông. Bà hi vọng chúng sẽ thay bà nói lời xin lỗi cho sự xao lãng suốt hai tuần qua.
Charlotte ngạc nhiên khi thấy căn phòng của Tom trống không. Nghe nói ông cần làm vật lý trị liệu nên bà ngờ rằng ông đã được chuyển quá đó.
Lo lắng về tình hình của Tom, bà vội đi tới văn phòng của Janet. Charlotte lịch sự gõ cửa căn phòng hé mở.
“Charlotte”. Janet lập tức đứng dậy, lẩn tránh cái nhìn của bà. “Lẽ ra cháu phải báo sớm hơn”.
“Đương nhiên phải vậy”. Thật xấu hổ khi phải thông qua một trong số người bạn của mình, bà mới được biết về tình trạng sức khỏe ngày càng xấu đi của Tom.
“Cháu thực sự xin lỗi”.
“Nói cho bà biết có chuyện gì”
“Chúng cháu cho rằng đó có thể là một cơn đột quỵ”.
Charlotte hổn hển. Tội nghiệp Tom. Một cơn đột quỵ nữa chắc chắn sẽ đánh gục sức khỏe của ông ấy.
“Tình hình thế nào?”.
“Rất xấu ạ”. Janet ngồi phịch xuống “Bà không biết đâu”. Cô nói chậm rãi.
Charlotte lắc đầu, nhưng bà bắt đầu cố trấn tĩnh bằng suy nghĩ nó sẽ không tồi tệ như bà tưởng tượng. Bà kéo một cái ghế và ngồi xuống.
“Ông Tom đã qua đời đêm qua”.
“Qua đời?”. Đây là một cú sốc thực sự cho dù nó đến ở cái tuổi đó cùng với tình trạng sức khỏe hiện thời của ông. “Bà… không biết. Bà không…”. Ở lứa tuổi của bà, cái chết là điều không hiếm gặp. Và năm trước, chồng bà đã nằm xuống và hàng ngày, dường như bà đều nghe điều đó xảy đến với một ai đó quen biết. Nhưng cái chết của người đàn ông này khiến bà thấy nặng trĩu.
“Bà không sao chứ?”. Janet lo lắng.
“Tất nhiên”. Charlotte đáp rắn rỏi nhưng thực ra không phải vậy. Tay bà run lên, toàn thân lạnh toát.
“Cháu biết ông ấy rất trân trọng tình bạn với bà”.
Charlotte gật đầu, tay lần trong ví để lấy chiếc khăn lau những giọt nước mắt.
“Những lần đến thăm của bà có ý nghĩa rất lớn với ông ấy”.
“Đã hai tuần rồi. Đáng lẽ ra bà phải ở đây mới phải”.
“Charlotte, có thể bà đã không biết tình trang của ông ấy”. Janet an ủi.
Charlotte biết sự thật là như vậy, nhưng bà không thể không nghĩ rằng chính bà đã khiến cho Tom Harding buồn rầu mà chết. Khi chưa nhận công việc viết báo, tuần nào bà cũng tạt qua ít nhất một lần. Tom đã là người đầu tiên được nghe về bài báo đầu tay của bà. Bà đã đọc cho ông nghe, ông mỉm cười và tán thưởng những nỗ lực ấy. Jack Griffin thì ngược lại, luôn sửa bài viết của bà bằng mực đỏ, cắt bớt ý đi cho đến khi bà còn chẳng nhận ra đó là tác phẩm của mình. Nói cho cùng, bà không có kinh nghiệm trong việc viết lách, lại càng không phải chuyên gia trong lĩnh vực này, nhưng việc bài viết bị cắt xén khiến bà bị tổn thương. Khi bà than phiền với Tom, ông luôn dành cho bà những ánh nhìn cảm thông, và đó chính là những gì bà cần. Đó cũng là lần cuối cùng bà nhìn thấy ông. Janet lấy điện thoại gọi xuống nhà bếp nhờ pha ít trà. Năm phút sau, một nhân viên đã đưa khay trà vào văn phòng.
“Ông ấy là một người đặc biệt”. Charlotte nói trong khi đón nhận tách trà nóng tỏa mùi thơm dịu nhẹ. Nó giúp giải tỏa phần nào nỗi nghẹn ngào đang dâng lên trong bà.
“Đúng vậy ạ”. Janet đồng tình.
Janet liếc nhìn bà bằng cặp mắt xa xăm.
“Chìa khóa? Cháu còn nhớ ông ấy đưa cho bà chìa khóa căn nhà kho không?”.
Janet nhíu mày. “Cháu nghĩ nó sẽ giúp ích. Bà nên đến đó càng nhanh càng tốt”.
 
9
Jack Griffin đã bị Olivia Lockhart hớp hồn mất rồi. Anh nghĩ đó không phải là một dấu hiệu tốt. Mà không, có lẽ là tốt. Tuy vậy, nếu cứ cuốn theo sự hấp dẫn đó thì có nghĩa là anh sẽ mất đi sự độc lập về cảm xúc và anh không chắc mình thích điều đó. Mặc dù vậy nhưgn anh thấy mình vẫn cứ tìm cớ để gặp gỡ trò chuyện với chị. Để có thời gian suy nghĩ, sau buổi hẹn hò đầu tiên thất bại, anh chưa mời Olivia đi chơi thêm lần nào. Chủ yếu là vì anh sợ chị sẽ từ chối và thật ra anh cũng chẳng thể trách chị vì điều đó. Anh không muốn tạo cho bị bất kỳ một lý do nào để có thể từ chối mình. Chính vì thế anh tìm cớ để ở bên chị.
Jack Griffin dành nhiều thời gian ở tòa án vì mong được gần gũi Olivia hơn là vì yêu cầu công việc. Thêm vào đó, sáng thứ bảy nào anh cũng tới cửa hàng Safeway với hy vọng mong manh là được gặp lại chị. Chính ở nơi này anh đã có hai hay ba cơ hội và họ đi uống cà-phê với nhau. Thật tệ, nhưng anh mến chị. Thẩm phán Lockhart là người thực tế, thông minh và gợi cảm. Điều khiến anh thực sự bị chinh phục là không bao giờ Olivia tỏ ra tự kiêu về những ưu điểm của mình.
Chiều thứ sáu trên đường về nhà, Jack ghé qua cửa hàng giặt khô là hơi. Dưới trời mưa tầm tã, anh vừa lao từ bãi đậu xe vào cửa hiệu vừa nguyền rủa thời tiết qua hơi thở hổn hển. Cả tuần nay trời cứ u ám đến phát phiền với những cơn mưa rào không ngớt. Nói cho vui thì điểm sáng duy nhất ở chân trời chính là câu chuyện anh đang viết về “Cuộc thi Nhại tiếng hải âu” hàng năm sẽ được tổ chức vào đêm nay.
Jack lao vào cửa hàng và chút nữa thì đâm sầm phải Olivia. Ngỡ ngàng quá sức, anh chỉ thốt được một từ, đó là tên chị. “Olivia”.
Nụ cười của người phụ nữ quyến rũ tới mức khiến anh ngơ ngẩn. “Đừng có ngạc nhiên thế chứ. Em thường mang đồ đi giặt mà”. Ví của Olivia đang mở nằm trên quầy.
“Anh cũng vậy”. Trí thông minh biến đâu mất đi cả. Jack đờ người ra. Anh luôn là người dí dỏm duyên dáng với phái nữ, nhưng trước Olivia, anh thấy mình luống cuống vô cùng.
Chủ tiệm giặt là này là Duck Hwan Hyo, người Hàn Quốc, đến định cư ở Mỹ từ nhưng năm 1960. Jack đã viết một bài báo về Duck – Hwan ngay sau khi anh làm biên tập viên và đã rất ấn tượng với gia đình di cư chăm chỉ  này. Vừa nhìn thấy Jack, Duck Hwan đã sốt sắng phục vụ anh nhanh hết mức có thể, phớt lờ cả Olivia.
Jack thấy mình nên giải thích.
“Đừng lo”, chị trấn an anh. “Em có vội gì đâu”.
Jack lấy ví trả tiền mà cứ băn khoăn tự hỏi có phải câu trả lời của Olivia là cách chị cho anh biết rằng chị không có kế hoạch nào tối nay chăng. Gần như có vẻ chị đang bóng gió rằng anh nên mời chị đi chơi. Liệu có phải vậy không nhỉ?
Jack treo mắc áo vào ngón tay trỏ và đứng chờ Olivia.
“Ý em là em sẽ không đến nhà hát của trường trung học à?”.
Jack thấy đó là địa điểm tốt trong thị trấn để tổ chức sự kiện này.
“Cuộc thi Nhại tiếng hải âu sẽ được tổ chức vào tối nay phải không nhỉ?”.
Không kịp kiềm chế, Jack hỏi, “Em có muốn đi không? Với anh ấy mà?”. Jack hỏi rõ hơn để Olivia không hiểu nhầm là anh còn thừa một vé.
“Chắc chắn rồi”, chị đáp ngay lập tức.
Jack rất muốn hỏi lại xem chị có chắc không, đặc biệt là sau lần hẹn trước, nhưng anh quyết định sẽ không làm hỏng vận may của mình. “Tuyệt”, anh nói. “Tuyệt quá”.
“Em đã chờ anh mời em đi chơi từ lâu rồi”, Olivia nhẹ nhàng nói và bước về phía cửa.
“Mấy giờ mình đi nhỉ?”.
Cô ấy đang nói đùa, hẳn là thế, nhưng thay vì nhảy cẫng lên và đập gót vào nhau vì vui mừng thì Jack chỉ đơn giản xem đồng hồ. “Một giờ nữa có sớm quá không em?”.
“Được ạ”.
Vì anh đã may mắn một lần nên anh rất muốn thử lần thứ hai. “Sau đó mình đi ăn tối được chứ?”.
“Nhà hàng Taco Shack hả?”.
Jack có thể thấy là Olivia đang trêu chọc mình nhưng anh chỉ cười.
“Nếu em muốn. Còn anh thì đề nghị đến nhà hàng D.D. ở vịnh hoặc nhà hàng Bếp Thuyền Trưởng”.
“Em thì sao cũng được”, chị cười và nói. “Em sẽ để anh chọn”.
Có một điều Olivia không hề biết vì Jack không đủ can đảm nói với chị. Đó là, những bửa tối tại các nhà hàng trong vùng, kể cả những nơi sang trọng, chính là sự trao đổi với những mẫu quảng cáo. Tờ báo của anh thường quảng cáo miễn phí để đổi lấy thẻ nhà hàng; đó là một trong những lợi ích của công việc mà anh hay tận dụng. Lần hẹn hò trước là lúc nhà hàng Taco Shack nợ tờ báo đến mấy trăm đôla, và chỉ mình Jack thì ăn sao hết chỗ bánh thịt chiên giòn với ngần ấy tiền?
Họ chia tay bên ngoài cửa hiệu giặt là, Jach chạy vội về chiếc Taurus cũ kỹ của mình, bước chân anh nhẹ nhõm hơn so với nhiều tháng qua. Nhiều năm ấy chứ.
Bốn mươi lăm phút sau anh đã tắm, thay quần áo, rửa xe và lái tới nhà Olivia. Chị đã sẵn sàng trong bộ đồ jeans và áo len đan tay nhưng không hề mang theo ô. Đó là điều anh nhận thấy khi sống ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương này. Rất ít người mang ô. Ai mang theo ô sẽ tự nhiên được coi là du khách.
Khi họ đến thính phòng trường trung học thì nơi đây đã chật kín người. Jack làm ở tòa báo nên được dành cho hai ghế trên hàng đầu tiên.
Ngay khi họ vừa ngồi xuống thì Roy và Corrie McAfee bước qua. Jack biết cặp đôi này nhờ bài báo anh viết trước đó trong năm. Roy là một cảnh sát Seattle đã nghỉ hưu và mở văn phòng thám tử riêng; lý lịch và kinh nghiệm giúp anh trở thành một thám tử tư khá được ưa chuộng.
Vợ anh điều hành văn phòng kiêm trợ lý riêng cho chồng. Roy và Jack khá tâm đầu ý hợp và sau đó đã vài lần đi chơi cùng nhau. Roy đi bộ khá khỏe còn Jack là người không hoạt động nhiều lắm nên anh muốn thử sức mình. Roy lập tức tỏ thái độ ngạc nhiên và thú vị khi thấy Olivia đi cùng Jack.
“Này, Thẩm phán, cô làm gì với người như Griffin thế?”, anh trêu chị.
“Vui vẻ một chút. Xin chào Roy. Chào Corrie”.
Corrie ngồi vào chiếc ghế còn trống bên cạnh Olivia còn Roy ngồi cạnh Jack. Chẳng bao lâu sau, hai người phụ nữ mải mê thảo luận chủ đề gì đó còn Roy nói Jack bàn về tình hình chính trị của bang.
Đây không phải là điều Jack hình dung về buổi tối hôm đó. Anh phải chịu rất nhiều áp lực để đóng vai người ăn nói thông thái.
Ngay khi Thị trưởng Benson bước lên sân khấu, Olivia nghiên người về phía Jack thì thầm, “Roy và Corrie đi ăn tối cùng tụi mình được không?”.
Jack lưỡng lự. “Em thấy được chứ hả?”.
“Nếu anh thấy được thì em cũng được”.
Rõ ràng là Olivia không quan tâm xem Jack có đồng ý hay không vì chị đã nghiêng người về phía bạn mình và Corrie gật đầu. Đúng như anh đoán cuộc thi tối hôm đó khá hay. Jack thấy nó đã bắt đầu đem lại nụ cười cho mùa xuân xám xịt và ẩm ướt. Cuộc thi đã diễn ra nhiều năm rồi. Luật thi đấu rất đơn giản: không phân biệt già trẻ, trai gái, tất cả mọi người đều phải cố hết sức mình bắt chước tiếng kêu gắt gỏng của những con hải âu sống tại vịnh Cedar. Jack cười, hò hét, cổ vũ và la ó cùng với đám đông khán giả.
Người thắng cuộc là một cậu bé mười bốn tuổi. Cậu bé đã khiến mọi người ngạc nhiên với biệt tài bắt chước của mình và dễ dàng giành chiến thắng. Jack  và Olivia bước sát nhau ra khỏi thính phòng. Anh đặt một bàn tay ra dáng bảo vệ lên lưng Olivia – và ước mình can đảm làm hơn thế, là nắm lấy tay chị.
Vài phút sau họ gặp Roy và Corrie tại nhà hàng Bếp Thuyền Trưởng. Một phụ nữ trẻ có khuôn mặt nghiêm trang trông có vẻ quen thuộc dẫn họ tới bàn và đưa thực đơn cho họ. Gần như đã thuộc lòng, cô chúc họ ngọn miệng và rời đi.
“Ai thế?”. Jack hỏi.
Mắt Olivia mở to; chị đang ra dấu là mình không thể nói về việc này. Mãi sau anh mới nhớ ra. Người phục vụ bọn họ là người đã có mặt tại phiên tòa vào cái ngày anh gặp Olivia lần đầu tiên. Người phụ nữ đó đã không được chấp nhận đơn ly dị. Anh đã viết về cô ấy – cô ấy là người vợ “Bị từ chối ly di”.
“Làm một chai nhé?”, Roy gợi ý.
Mọi người đều đồng ý. Jack xem thực đơn và để Roy gọi đồ. Khi người phục vụ mang đến mấy ly rượu thì anh từ chối.
“Chỉ một ly thôi”, Roy nài nỉ.
“Không, cám ơn”. Anh không uống và cũng không giải thích tại sao.
Nhà hàng khá nổi tiếng và bữa ăn của Jack chắc chắn là xứng đáng với nó. Anh gọi sò rán còn Olivia gọi món fettuccine hải sản. Sau bữa tối ngon lành, Roy và Corrie về nhà còn Jack và Olivia ở lại uống thêm ly cà-phê.
Cô phục vụ trẻ đi qua bàn của họ và Olivia liếc mắt nhìn Jack. “Bây giờ anh nhận ra cô ấy rồi chứ?”.
Anh gật đầu và thấy cảm thông với người phụ nữ có vẻ vừa mới qua tuổi thanh xuân này. Anh đã dự phiên tòa và lắng nghe câu chuyện đầy bi kịch nhưng quá quen thuộc. Một câu chuyện anh từng trải qua, về một cuộc hôn nhân không vượt qua được cơn khủng hoảng. Hai người ấy chia tay vì những đau buồn của cuộc sống. Anh không biết chuyện gì đã xảy ra kể từ ngày diễn ra phiên tòa hay liệu họ có tiếp tục trình tự tố tụng hay không. Nhưng chỉ cần nhìn Cecilia Randall là anh có thể thấy cô rất không hạnh phúc.
“Em có nghĩ là cô ấy nhận ra em không?”, Jack hỏi.
“Em cũng đang băn khoăn”, Olivia lẩm bẩm.
Jack thấy Olivia có vẻ buồn phiền. “Em nghĩ mình đã quyết định sai lầm hả?”.
Olivia nhún vai và nhìn chằm chằm vào ly cà-phê.
“Cô gái tội nghiệp có vẻ đang mang gánh nặng của cả thế giới trên vai”.
“Có thể cô ấy chỉ trải qua một đêm tồi tề thôi mà”, anh nói.
“Có thể”, Olivia lặp lại nhưng Jack có thể thấy chị không tin điều đó; và anh cũng vậy.
*
Tuần đầu tiên của tháng Tư, Seth Gunderson đi Alaska, Justine cảm thấy đỡ căng thẳng. Như thế này tốt hơn. Cô nghĩ về anh quá nhiều, cô nâng niu từng phút giây họ bên nhau. Cô không muốn dính dáng đến Seth. Không muốn quan tâm đến anh và trên hết lên không muốn yêu anh, nhưng đó là điều đang xảy ra – đã xảy ra.
Sau buổi ăn tối tình cờ, cô từ chối lơi mời tiếp theo của Seth. Cô biết mình đã gặp phải rắc rối khi có cảm tình với anh, và cô biết đó chính là điểm yếu của cô. Anh muốn cô đơn còn cô, lạy Chúa cứu rỗi, cũng rất muốn anh. Nhưng Justine quá thông minh để không đầu hàng những khát khao ban đầu đó. Cô không phải là một phụ nữ bị tình cảm chi phối.
Tuy nhiên, Seth không phải mẫu người đàn ông dễ bị từ chối. Anh mở một tài khoản tại ngân hàng Quốc gia số Một và kiếm cớ đến đó ít nhất mỗi tuần một lần. Anh không gây áp lực cho Justine, không tranh cãi với cô, không làm bất cứ việc gì khác thường; anh chỉ ở đó. Rồi đến một ngày, Justine không thể chịu đựng tình trạng ấy lâu hơn nữa.
Cô theo anh ra ngoài. “Tại sao anh làm vậy?”, cô đứng trong bãi đậu xe, gặng hỏi, ánh mặt trời đang đốt cháy màn sương mù dày đặc, đe dọa sẽ xuyên qua nó bất cứ lúc nào. Justine bực đến phát khóc nhưng cô không đủ bình tĩnh để nói với anh rằng anh đã quấy nhiễu cô nhiều đến mức nào.
Seth không phủ nhận ý định của mình nhưng anh nói bằng một giọng nhẹ nhàng và điều đó chút nữa thì khiến tim Justine vỡ òa, nó ngược hẳn với cơn giận dữ của cô.
“Nếu em muốn anh dừng lại thì anh sẽ dừng”, đó là tất cả những gì anh nói.
“Dừng lại đi!”, cô hét lên và lao vào trong ngân hàng.
Một tuần sau, cô đi tìm anh sau bảy đêm không ngủ. Do không biết phải tìm anh ở đâu nên cô bước xuống bến du thuyền.
Gần như ngay lập tức, Seth xuất hiện và gặp cô ở ngoài cầu tàu trong trang phục áo jacket len dày và đội một chiếc mũ đan. Cô đứng tựa lưng vào rào chắn, Seth mỉm cười và không nói lời nào, chỉ áp bàn tay ấm áp của mình lên má lạnh cóng của cô.
Justine cưỡng lại ham muốn nhắm mắt và nghiên vào lòng bàn tay anh. “Em đến để nói cho anh biết rằng Warren Saget mới là người phù hợp với em”, cô nói.
“Không đâu, anh ta không hợp đâu”.
Justine muốn giậm chân tỏ sự bất lực giống như một đứa trẻ thường làm. Cô không hiểu tại sao mình lại đến đây nữa – để thỏa mãn mong muốn gặp Seth à? Hay để kết thúc chuyện này một lần và mãi mãi? Nhưng lúc này cô đã ở đây, cô biết đó là một sai lầm.
“Warren lớn tuổi hơn, chín chắn và giàu có, còn anh thì chẳng có những điều đó”.
“Ừ, anh không có”, anh đồng ý.
Cô ghét việc anh dễ dàng chấp nhận những lập luận của cô. Điều đó khiến mọi việc trở nên tồi tệ hơn gấp mười lần. “Warren là một doanh nhân được kính trọng”.
“Còn anh là một ngư dân”.
“Chính xác”, Justine gào lên và thấy giận dữ với bản thân nhiều hơn là với Seth.
“Nhưng anh mới là người em muốn”, anh nhẹ nhàng đáp.
Cô từ chối trả lời anh rồi luồn người dưới bến tàu chạy về làm việc. Kể từ đó cô không gặp anh nữa. Cô biết anh đã đi Alaska vì tuần trước cô đã nghe ai đó ở bờ biển có nhắc tới điều đó.
Chiều thứ sau Warren gọi điện đến văn phòng cho cô.
“Mình đi ăn tối nhé?”. Giọng anh ta có vẻ chắc chắn về câu trả lời của cô.
“Tối nay thì không được đâu, anh Warren”.
Một khoảng lặng ngắn không thoải mái. “Sao lại không được?”.
“Em thấy hơi mệt”. Điều đó có vẻ không đúng lắm.
Đúng ra cô có bị đau đầu nhưng chỉ cần vài viên aspirin và vài phút nhắm mắt là khỏi.
Warren hơi khó chịu vì bị Justine từ chối. Anh ta vốn quen với việc mọi người làm theo ý mình. “Em vẫn bực vì vụ họp lớp đó phải không?”.
“Không hẳn thế”. Lúc này thì Justine đã quyết định sẽ không đi. Seth có thể sẽ ở đó và anh khiến cô thấy mình vô cùng yếu đuối. Nụ hôn đã làm cô sụp đổ. Một nụ hôn ngu ngốc. Bây giờ, mỗi lần Warren cố chạm vào cô thì cô đều muốn lẩn trốn.
“Em đau đầu chết đi được”, cô bảo anh và thổi phồng lên để tránh sự cãi cọ.
“Anh giúp được gì không?”, Warren hỏi với giọng nhẹ nhàng hòa giải.
“Không. Anh cứ ăn tối đi, em sẽ nói chuyện với anh sau”.
“Thôi được rồi, em yêu. Em hãy tự chăm sóc mình nhé”.
“Vâng”. Justine cũng định thế.
Sau khi tan sở, cô đi thẳng về căn hộ của mình với một túi kem ngon lành ưa thích và thuê hai bộ phim.
Khi chuông cửa reo và người giao hàng đứng đó với một bó hoa khổng lồ trong tay, ý nghĩa đầu tiên của cô là chúng được Seth gửi tới. Rồi cô đọc thấy tên của Warren trên thiệp và bắt đầu khóc mà chẳng vì lý do rõ ràng nào.
Cô ấn bó hoa vào bồn rửa. Cô mặc bộ pijama cũ nhất của mình, ngồi khoanh chân trước chiếc tivi và ăn kem trong hộp bìa các tông.
Chuông cửa nhà cô lại reo vang. Justine chẳng có tâm trạng nào để tiếp khách. Cô cắm chiếc thìa vào hộp kem và hét lên. “Đi đi! Tôi đang bận”.
Người đang đứng bên ngoài nhất định không chấp nhận câu trả lời ấy. Justine đâm bực, cô đặt hộp kem sang một bên và chật vật đứng dậy. Loạng choạng vì khổ sở, cô bước tới cửa trước và giật mạnh ra. Seth Gunderson đứng bên ngoài. Justine giật mình nhìn anh rồi thở hổn hển.
“Justine?”.
Trông cô hẳn phải tệ lắm. “Đó là lỗi của anh!”, cô giận dữ. Sau đó cô đẩy cửa lưới và chộp lấy hai ve áo Seth bằng cả hai tay rồi giật anh qua ngưỡng cửa. Seth vấp chân lao vào nhà. Không để anh có thời gian lên tiếng trước khi lao vào vòng tay anh. Do không đứng vững nên Seth lảo đảo ngửa người ra sau, chút nữa thì mất thăng bằng trước khi vòng tay quanh eo Justine và ghì chặt lấy cô.
Họ hôn nhau điên cuồng và say mê. Môi cô lạnh cóng vì kem; môi anh nóng bỏng mong chờ. Anh mặc đồ đi ngoài đường. Justine gần như trần truồng dưới bộ pịama bằng vải mỏng dính. Tay cô vòng quanh người anh; tay anh kéo cô lại gần trái tim mình.
Justine vùng vẫy thoát ra và cởi từng chiếc khuy tròn lớn trên áo khoác của anh, rồi bằng những động tác vụng về, cô tuột nó ra. Tiếp theo là áo sơ mi của anh nhưng lần này thì những chiếc khuy có vẻ cứng đầu hơn và cô phải nỗ lực, cô nôn nóng và cảm thấy nóng bỏng đến chết đi mất, như thể cố sắp bốc cháy nếu anh không nhanh lên và đưa cô vào giường. Cả thân mình cô run lên vì ham muốn. Cô muốn anh như
 
 
 
 
 
0
(Từ trang 68 đến trang 88)
Cô không gặp và cũng không nghe thông tin gì về chồng kể từ khi anh chuyển ra khỏi căn hộ cách đây một tuần. Họ vẫn chưa có quyết định nào về việc sẽ làm gì tiếp theo. Anh là thế đấy, cô giận dữ nghĩ. Anh để mặc cho cô quyết định. Nếu họ ly hôn, giải pháp tốt nhất của họ là đưa ra Trung tâm giải quyết tranh chấp. Nhưng như thế, tranh chấp của họ cũng chẳng thể nào giải quyết nổi… cô thở dài. Rõ ràng cô phải hẹn gặp mới được. Cái gợi ý của Ian rằng họ giả vờ ly hôn thật buồn cười. Cực kỳ buồn cười.
Quán bar bắt đầu có người khi nhà hàng đóng cửa. Cecilia cầm khay và tham gia làm cùng Beverly và Carla, hai người phục vụ cốc tai khác. Phòng khách đầy khói thuốc và hơi bia. Tiếng nhạc chát chúa vọng ra từ một chiếc loa thùng. Cecilia cố nghe khách gọi. Một người đàn ông đang ngồi uống một mình có vẻ như cố tình nói nhỏ để cô buộc phải ghé sát vào hơn. Anh nhiều tuổi hơn cô, ít nhất cũng phải bốn mươi tuổi, và anh đã phát tín hiệu – anh thích cô. Anh cố lại gần cô nhưng Cecilia lờ đi. Cái cách anh ta dõi mắt theo cô khắp phòng khiên da cô sởn gai ốc.
Đến giờ đóng cửa, chỉ vài khách quen nấn ná ngồi lại, thật không may, người ngưỡng mộ Cecilia lại nằm trong số đó. Chân cô đau rã rời và mắt thì cay xè vì khói. Cô vội vàng lấy tiền boa để về nhà. Ngay khi cô tưởng buổi tối của mình đã xong thì Ian và Andrew Lackey, một thuỷ thuỷ khác bước vào quán. Cecilia cảm thấy căng thẳng, đặc biệt là khi cô để ý thấy vẻ bề ngoài của Ian. Rõ ràng Bếp Thuyền Trưởng là điểm dừng chân đầu tiên của anh. Chồng cô không uống được rượu, anh chưa bao giờ uống và thường tránh những gì mạnh hơn bia.
Cecilia chú ý tới Ian trong khi đáng ra cô nên lưu tâm đến người đàn ông ngồi một mình và đang dán mắt vào cô trong suốt bốn tiếng vừa qua.
“Cô muốn ăn không?”, một giọng đàn ông khô khốc vang lên phía sau cô.
Cecilia quay lại.
“Tôi là Bart, còn cô là Cecilia phải không?”.
“Đúng”. Cecilia nhìn Ian và bạn anh tiến vào quán bar. Chồng cô giả vờ như không thấy sự hiện diện của cô. Nhưng, đó là cách anh ta thường sử dụng để tiếp cận với tất cả những điều không dễ chịu? Cô quay về phía Bart. “Lần khá đi”.  Trong những giấc mơ của anh ấy, cô thầm nghĩ.
“Cô đói rồi phải không?”
“À…”.
Cuối cùng Ian cũng liếc về phía cô, và anh nheo mắt lại khi thấy cô nói chuyện với người đàn ông khác.
“Này, chẳng có gì to tát đâu. Ăn đêm, nói chuyện thôi”, Bart tiếp tục nhấn mạnh. “Dường như cô đang cần một người bạn và tôi có thể là một người bạn… rất tốt”. Cecilia thấy lo lắng về Ian hơn là tán chuyện với Bart. “Tôi không nghĩ vậy”. Cô nói. “Ngày mai nhé, chỉ anh và tôi”. Cô cố gắng kết thúc câu chuyện.
“Tôi…”, cô đưa mắt nhìn từ Bart sang Ian. Anh đang cau có giận dữ. Cô e rằng anh sẽ gây ra điều mà cô muốn tránh cho tất cả mọi người. Ian cúi về phía bạn mình và thì thầm nhưng Andrew lắc đầu. Cecilia có thể thấy rằng Ian đang muốn gây rắc rối và bạn anh đang cố gắng thuyết phục anh đừng làm vậy.
“Có lẽ để đêm khác”, Cecilia nói nhanh rồi để mặc Bart ngồi đó. Dường như đây là cách hay nhất để thoát khỏi anh ta trước khi Ian làm gì đó ngốc ngếch. Chồng cô bước ra khỏi quán bar. “Anh ta làm phiền em phải không?”, anh hỏi, giọng líu cả lại.
“Tránh ra”, Bart gầm lên giận dữ.
Hình như anh ta nghĩ rằng đang có tiến triển tốt với Cecilia. Điều đó không đúng, nhưng Ian không hề biết điều đó và cả Bart cũng vậy.
Andrew cố ngăn nhưng Ian gạt tay anh ra và tiến lên một bước. Anh chắc chắn mình sẽ không thua mặc dù Bart nặng hơn anh tới hai mươi cân. “Có thể là mày không biết, nhưng mày đang tán tỉnh vợ tao đấy”.
Bart nhìn Cecilia như thể muốn hỏi xem có đúng thế không. Cô không dám nhìn lại.
“Chúng ta ly hôn rồi, anh nhớ không?”, cô cao giọng nhắc chồng rằng chính anh đưa ra ý tưởng giả vờ rằng họ không còn là vợ chồng nữa.
“Chúng ta làm cái quái gì thế này?”.
“Chính anh đã bảo chúng ta nên sống cuộc sống riêng còn gì”.
“Anh… Anh…”, Ian lắp bắp tìm kiếm câu trả lời thoả đáng.
“Vậy sao anh lại dám khó chịu khi em hẹn hò với người đàn ông khác?”.
“Vì chừng nào thẩm phán chưa tuyên bố thì về mặt luật pháp em vẫn là vợ anh”.
“Em đã có chồng chưa?”. Bart hỏi khẽ.
“Rồi!”. Ian gầm lên.
“Ly thân rồi”, Cecilia đính chính lại.
Bart với áo khoác. “Thế thì chúng ta đi”.
“Đừng hòng đưa cô ta đi”. Ian bắt đầu lao về phía Bart nhưng Andrew đứng chặn giữa hai người.
“Để lúc khác”, Bart lầm bầm
“Với tao ngay bây giờ cũng được”. Ian nói và giơ nắm đấm lên.
“Ra khỏi đây”, Cecilia rên rỉ. “Cả hai anh! Tôi không hề có ý định đi đâu với bất kỳ ai trong số hai anh cả”. Cô chạy về phòng phía sau nơi cha cô vừa thấp thoáng thò mặt ra.
“Có chuyện gì thế?”, Bobby Merrick hỏi như thể ông chẳng biết gì về tính huống trờ trêu mà cô con gái vừa phải tự xử lý. Ian và Bobby bất hoà với nhau và Bobby tránh va chạm giữa hai người bằng cách không xuất đầu lộ diện.
Cecilia lắc đầu. “Không có gì đâu”.
“Mọi chuyện ổn chứ?”
“Ian đang ở đây và anh ấy định đánh nhau. Thế thôi ạ”.
Bố cô nhíu mày nhìn lại. “Bố không muốn có chút rắc rối nào ở đây. Bảo anh ta ra ngoài mà làm việc đó”.
“Vâng”. Cecilia thở dài đau khổ. “Con đã bảo rồi. Thôi con về đây”.
Cô lấy áo khoác, ví, và phần tiền boa của mình rồi bước ra cửa trước, hy vọng sẽ không thấy chồng mình đang gây gổ với người đàn ông đó. Nhưng trước sự ngạc nhiên của Cecilia, Ian vẫn còn đó. Hai người ở một phía của căn phòng, họ đang gườm nhau.
Beverly là người duy nhất còn lại trong quán bar, cô đang lúi húi kiểm tra tiền.
“Chúc ngủ ngon”, cô vẫn tập trung vào công việc của mình.
“Chúng tôi đóng cửa rồi”, Cecilia bảo Ian.
Anh chẳng thèm chú ý. “Em định rời khỏi đây với những đồng tiền bẩn thỉu ấy à?”.
Giọng anh đầy vẻ khinh bỉ.
“Đó không phải việc của anh”.
Anh nhìn cô một lúc lâu rồi quay ngoắt đi và bước ra khỏi cửa.
Cecilia cố kiềm chế để không đuổi theo anh. Hiện tại Ian sẽ không thể có tâm trạng nào mà lái xe. Cô ngập ngừng, tự đấu tranh với chính mình. Anh sẽ chẳng đánh giá cao sự quan tâm của cô. Chỉ vài phút trước đó, cô còn yêu cầu anh dừng bước chân vào cuộc đời cô. Việc tốt nhất cô có thể làm là theo lời khuyên của chính mình và tránh xa anh ra.
Cánh cửa bật mở, Cecilia ngước lên, hy vọng đó có thể là Ian. Nhưng không, là bạn anh Andrew có vẻ ngại ngần và bối rối. Cô gần như không quen anh chàng thuỷ thủ mới chuyển đến Bremerton kia.
“Vâng?”, cô hỏi.
“Tôi nghĩ cô nên biết, Ian sắp đi biển. Anh ấy chuyển sang tàu George Washington”.
Cô chẳng cảm thấy gì hết. George Washington là một tàu hàng không mẫu hạm. Ian là một thuỷ thủ tàu ngầm, một kỹ thuật viên điện tử hạt nhân cơ mà. “Anh ấy sẽ đi trong sáu tuần?”, cô lặng người, không hiểu sao anh lại chuyển.
“Sáu tháng thì đúng hơn”.
“Sáu tháng? Ôi”.
“Chính vì thế tối nay anh ấy mới đến. Anh ấy muốn cô biết”.
Cecilia chẳng biết nói gì lúc này.
“Anh ấy không có ý gây rối”.
Cecilia nghẹn ngào. “Thật sự… anh ấy không…”.
Andrew thò vai ra như thể nghe thấy ai đó gọi tên mình. “Tôi phải đi đây. Tôi chỉ muốn chia sẻ với cô rằng tôi thật sự tiếc trước việc con gái cô”.
“Cảm ơn anh”, cô cố nói. Nhưng anh đã đi rồi. Cô chờ một lát rồi quyết định rằng thanh thản còn quan trọng hơn lòng kiêu hãnh. Cô phải đảm bảo rằng Ian không lái xe. Cô vội vàng lao ra ngoài, đứng trên vỉa hè, tìm xe của chồng mình. Chẳng nhìn thấy anh đâu.
Một cảm giác mất mát và trống trải tràn ngập lòng cô. Ian ra biển sáu tháng và cô ghét nghĩ đến điều đó. Cô không muốn động lòng vì anh chút nào, nhưng không thể. Cô tự chế giễu mình, dù thế nào, vậy là anh đã thực hiện được ý nguyện của mình. – Ian đi biển, nghĩa là cô không thể tiến hành ly hôn được. Mệt mỏi và chán chường, Cecilia đi bộ về phía chiếc xe của cô, so vại lại vì lạnh. Đêm nay, cô có thể cảm nhận được mùi vị của biển và một làn sương ẩm thấp đang tràn vào từ ngoài vịnh. Một chiếc xe chầm chậm đi qua. Nhìn lên, Cecilia thấy đó là Ian. May quá, Andrew đang cầm lái. Đúng lúc cô nhìn lên thì bắt gặp cái nhìn của chồng mình. Cecilia sững sờ trước ánh mắt đầy mong chờ ấy. Cô phải kiềm chế để không gọi tên anh. Cô khao khát được chúc anh một chuyến đi an toàn và được tiễn anh mà không hề có tình trạng thù địch giữa hai người thế này.
Nhưng đã quá muộn. Quá muộn mất rồi.
 
 
Charlotte Jefferson mặc chiếc áo dài tay đẹp nhất và một chiếc váy dài trong lần tiếp theo bà tới thăm Tom Harding ở Trung tâm An dưỡng vịnh Cedar. Bà cuống cuồng đan tấm áo choàng cho ông và đó quả là một tác phẩm thủ công tuyệt vời.
Tom đang ngồi trên xe lăn thì bà ùa vào phòng. “Tôi đã bảo là tôi sẽ trở lại mà”, bà nói và mỉm cười thật ấm áp. Trông người bạn mới của bà khoẻ hơn. Màu má và màu mắt ông sáng lấp lánh. Tom gật đầu, rõ ràng là ông rất hài lòng khi gặp bà. Tay ông run rẩy chỉ vào chiếc ghế trống.
“Cảm ơn”, bà nói và ngồi xuống, một tay vẫn kẹp tờ báo. “Thường thì tôi không mặc những bộ đồ đẹp nhất trừ chủ nhật, nhưng tôi vừa đi dự đám tang một người bạn của chồng tôi”.
Tom nhìn bà vô hồn.
“Chúng tôi là bạn bè với gia đình Iverson đã nhiều năm”, bà tiếp tục. “Đó là một người đàn ông tốt. Ông ấy chết vì bệnh ung thu. Ông ấy hút thuốc nhiều như một cái ống khói”. Bà lắc đầu buồn bã rồi vắt chéo chân và tháo giầy bên trái ra. “Tôi đứng gần như suốt cả buổi chiều”, bà giải thích. “Tôi không còn trẻ trung như trước kia nữa và cái chết của Loyd Iverson thực sự khiến tôi choáng váng. Bà thở dài rồi nhìn ông. Tuần vừa rồi của ông thế nào?”.
Tom nhún vai.
“Họ có đối xử tốt với ông không?”.
Ông gật đầu như thể muốn nói ông chẳng có gì phải phàn nàn.
“Thức ăn thế nào?”.
Lại một cái nhún vai nữa.
“Nói về thức ăn”, bà rạng rỡ. “Tôi mới có một cách nấu món bông cải xanh ngon tuyệt. Tôi rất thích mỗi khi tìm được một cách nấu ăn ngon. Tháng trước, chúng tôi chôn cất Marison Parsons và một bà ở nhà thờ đã làm món salát mì trộn kem. Mỳ Ý với thục quỳ và kem. Ngon tuyệt”. Bất chợt bà nhận thấy hình như Tom không thích nghe chuyện về các món ăn.
“Tôi rất mừng khi nghe nói ông thích ở vịnh Cedar này”.
Ông lại gật đầu.
“Tôi nghĩ tôi sẽ làm món bông cải xanh đó và mang một nửa cho con gái tôi. Bây giờ nó sống một mình và tôi không nghĩ là nó ăn đủ rau xanh. Dù nó năm mươi hai tuổi rồi nhưng nó vẫn còn là một cô con gái nhỏ và tôi vẫn phải lo lắng về nó”.
Tom cười yếu ớt.
“Ông có muốn tôi mang cho ông một chút bông cải xanh không?”.
Tom lại cười lắc đầu.
“Ông không thích bông cải xanh phải không? Ông và George Bush. Chứ không phải George Washington. Tôi cũng chẳng biết ông ấy có thích bông cải xanh hay không”.
Tom lại lắc đầu lần nữa.
“Bông cải xanh tốt cho ruột. Chúng ta cần biết điều đó, đặc biệt là ở tuổi của chúng ta”. Bà cười vang, không hiểu Olivia sẽ phản ứng thế nào nếu nghe thấy lời bà nói lúc này.
Tom lê chân phải, nặng nhọc kéo lăn chiếc xe lăn đến chỗ cái bàn ở đầu giường.
“Ông có muốn tôi lấy gì cho ông không?”, bà hỏi.
Cái đầu bạc của ông lại lắc nhẹ.
“Bên trong ngăn kéo chỗ này phải không?”.
Đôi mắt nâu của ông căng thẳng và ông ra hiệu rằng bà đã đoán đúng.
Charlotte mở ngăn kéo và thấy một cái bút, một tập giấy và một cái túi đựng tiền xu có khoá kéo. Hồi trước, Clyde cũng có một cái tương tự. Nghĩ là Tom muốn mình viết gì đó nên bà lấy giấy và bút ra.
Ông nhíu mày và lắc đầu.
Bà với cái ví và liếc nhìn ông.
Tom mỉm cười và gật đầu.
“Ông có muốn tôi mở nó ra không?”.
Charlotte nhận ra rằng Tom muốn mở nó ra nên bà cẩn thận kéo khoá cái túi nhỏ. Bên trong là một tờ giấy vàng gấp lại, bà lấy nó ra. Bà để cái túi sang một bên và thấy bên trong tờ giấy có gì đó. Một cái chìa khoá. “Gì thế này?”, bà hỏi và rõ ràng là hết sức tò mò.
Tom ngồi lùi lại; có vẻ ông chờ đợi bà tự mình khám phá.
Charlotte mở tờ giấy ra và thấy đó là giấy biên nhận của một đơn vị lưu trữ ở ngay vịnh Cedar này. Sao ông có thể thu xếp được việc đó nhỉ, bà không thể đoán nổi. Phải hỏi Janet Lester thôi.
Không biết phải làm gì với cái chìa khoá, bà nhìn Tom dò hỏi. “Có vẻ mọi thứ đáng theo đúng trật tự”, bà nói cho ông yên lòng rồi lại để chìa khoá và tờ biên lai vào túi. Bà đang định cất nó vào ngăn kéo thì ông ngăn lại rồi cúi xuống và đặt tay lên tay bà.
Mắt ông cầu cứu.
“Ông không muốn tôi để nó lại chỗ này?”, bà hỏi.
Ông lắc đầu và thở hổn hển.
“Ông muốn tôi làm gì?”.
Ông nhìn thẳng vào cái xắc của bà đang nằm trên sàn cạnh cái túi đan len to.
“Tôi cầm theo ấy à?”.
Ông gật đầu.
“Ông đưa ai đó ở văn phòng này có phải hơn không? Chắc chắn như thế sẽ phù hợp hơn là fđể tôi giữ nó…”.
Ông lại lắc đầu với thái độ cương quyết.
“Được rồi, nhưng tôi cảm thấy là tôi nên nói với Janet về chuyện này”.
Ông nhún vai.
“Đừng lo, chìa khoá của ông đang ở trong tay một người tốt. Tôi đảm bảo sẽ không có chuyện gì xảy ra”. Bà cất vào trong xắc rồi với cái túi đan. “Tôi đã đan cho ông một cái áo choàng. Ông cần giữa ấm đôi chân. Vào những buổi sáng tháng Giêng này tiết trời rất lạnh phải không?” Bà choàng tấm áo quanh chân ông rồi lùi lại để ngắm.
Tom mỉm cười rồi run rẩy ra hiệu rằng ông rất cảm ơn vì tấm áo bà tặng.
“Không có gì đâu”, bà bảo ông.
Mắt Tom khép hờ lại và bà hiểu là ông mệt. Đã đến lúc đi rồi. “Thứ năm tuần tới tôi sẽ trở lại”, bà nói rồi thu dọn túi.
Ông gật nhẹ đầu.
“Ông không buồn phiền gì chứ. Ồ, tôi sẽ mang cho ông một chút món bông cải xanh tôi làm”.
Ông cười và lắc đầu.
“Được rồi, tôi sẽ vẫn để phần ông.”. Có lẽ Tom đang theo chế độ ăn đặc biệt. “Tôi hứa là sẽ giữ chiếc chìa khoá này cho ông”.
Ông thở dài và vỗ nhẹ vào tấm áo choàng.
“Tôi thấy rất vui vì đã nói chuyện với ông. Tạm biệt ông và hẹn tuần sau gặp lại.”
Bà rời khỏi căn phòng nhẹ nhàng hơn cả lúc vào và ngay lập tức tìm người nhân viên ở đó. Bà không muốn mang chiếc chìa khoá đi mà không cho ai biết. Janet đang nói chuyện điện thoại trong phòng. Khi nhìn thấy Charlotte, cô ra hiệu cho bà vào và một phút sau cô kết thúc cuộc điện thoại.
“Chào bà Charlotte, cháu có thể làm gì cho bà?”.
Bà giải thích về Tom Harding và chiếc chìa khoá. Janet kéo chiếc ghế đến chỗ tủ để hồ sơ và mở ngăn kéo trên cùng ra. Cô lấy một bồ hồ sơ ra và để lên bàn. Trong khi cô đọc qua bộ hồ sơ đó, Charlotte nhìn lại tờ biên lai của đơn vị lưu giữ đó. Bà nhận thấy nó mới được nộp lại và tiểu bang đã trả cho cả năm. Rõ ràng Tom đã hết tiền để trả cho việc chăm sóc mình và trở thành một người đang được bang bảo trợ. Những tài sản ông có được lưu giữ ở đây và đến khi ông mất sẽ được bán đi.
Janetn tiếp tục đọc qua hồ sơ. “Thật không may thông tin ở đây quá ít. Tom bị đột quỵ cách đây năm năm, nhưng chẳng có gì về gia đình và cũng chẳng có gì về gốc gác của ông ấy”.
“Có vẻ ông ấy muốn tôi giữ chiếc chìa khoá”, Charlotte nói và bà không biết mình nên làm gì.
“Vậy thì bà nên giữ. Cháu biết bà đã có chiếc chìa khoá đó và Tom cũng muốn vậy”.
“Được rồi, tôi sẽ giữ”. Thế là xong, Charlotte đứng dậy.
“Ông ấy là người rất đáng yêu”.
“Vâng, nhưng hơi bí hiểm”.
Charlotte phải đồng ý là thế và bà công nhận là trí tò mò của mình đang bị kích thích.
 
Grace Sherman lấy một bịch sữa để vào xe đẩy của mình rồi quay ra quầy thanh toán. Trong khí đẩy xe về lối cửa ra, chị quyết định đi đường vòng ngắn hơn và tìm khu trưng bày sách. Sách là niềm đam mê của Grace - tất cả các loại sách, từ sách bán chạy nhất cho tới loại sách nhàm chán nhất là hồi ký và lịch sử… và tất cả các thể loại. Vì thế Grace mới quyết định làm ở ngành thư viện. Chị rất thích đọc và thường đọc sách muộn ban đêm. Con gái chị cũng thích đọc sách, nhưng Dan thì lại chẳng bao giờ đọc.
Đến chỗ cửa ra, Grace thấy có rất nhiều người đang xếp hàng. Chị chọn một cuốn tạp chí “People” và đọc lướt qua trong khi chờ đợi. Tiến gần đến chỗ thanh toán, Grace chợt nhận ra một sự thật rằng mình sợ hãi vì phải trở về nhà. Điều đó khiến chị nghẹt thở.
Grace chọn một loại sữa gầy, không cần phải có một chuyến đi đặc biệt mới mua được loại sữa này. Chị có thể mua nó ở bất cứ nơi nào. Nhưng dù sao cũng đã đến đây rồi nên chị nhặt một hộp, vài túi mì, ít giấy vệ sinh và vài hộp sữa chua… như thể để chứng tỏ mình đã đi siêu thị. Hình như anh đang gặp phải vấn đề trong công việc, nhưng đó chỉ là phỏng đoán vì Dan từ chối không kể gì với vợ. Grace hỏi bất kỳ câu gì cũng chỉ nhận được câu trả lời có một từ. Dan thích xem tivi hơn là chia sẻ dù chỉ là một phần những câu chuyện của mình với vợ.
Grace muốn tìm hiểu xem đã có chuyện gì, nhưng cứ khi nào chị định hỏi thì anh lại khó chịu. Tối nào cũng vậy. Cứ từ cơ quan bước chân về đến nhà là chị lại thấy mình như đứng giữa một cơn giông tố; chẳng biết khi nào sấm chớp sẽ nổ ra. Vì Dan không muốn trò chuyện nên Grace phải nói huyên thuyên hết chuyện này đến chuyện khác, cố để anh bớt khó chịu – và ngăn để cơn giận của anh không bùng phát. Lâu nay, anh thường nổi cáu một cách vô cớ.
Dan lắng nghe những lời vợ nói, thỉnh thoảng gật đầu tán dương, thậm chí có lúc còn cười, nhưng anh chẳng hề tham gia vào câu chuyện. Anh càng im lặng, Grace càng cố gắng để đưa anh thoát ra khỏi tình trạng đó mà chẳng có chút hiệu quả nào.
Tối nào Dan cũng ngồi trước tivi và cho tới tận lúc lên giường, anh vẫn chẳng hề nhúc nhích.
Như thế chẳng phải là vợ chồng. Tình trạng giữa hai người giống bạn cùng phòng hơn. Cuộc hôn nhân của họ chẳng bao giờ được như mong đợi của Grace. Khi lấy Dan, chị mới mười tám tuổi và đang mang thai Marellen. Còn anh thì đăng ký nhập ngũ và ngay lập tức lên tàu sang Việt Nam. Hai năm xa nhà là hai năm trời khủng khiếp với cả anh và chị. Khi trở lại, Dan bỗng nhiên trở thành một con người khác xa với hình ảnh trai trẻ lúc ra đi. Anh đâm ra cay đắng, hoài nghi, và rất dễ nổi cơn thịnh nộ; anh cũng từng nghiện rượu và khi Grace không đồng ý, họ ly thân. Vì Marellen, họ đã cố gắng chịu đựng nhau cho tới khi Grace mang thai đứa con thứ hai. Sau đó, vì con Dan và Grace cố kéo dài cuộc hôn nhân của mình. Cuộc chiến tranh vẫn ám ảnh anh và dù đã nhiều năm trôi qua, đêm đêm Dan vẫn giật mình thảng thốt và hoảng sợ vùng dậy trong những cơn ác mộng. Anh không bao giờ kể về những điều đã qua. Mọi chuyện đều được giấu kín trong đầu anh. Trong suốt cuộc hôn nhân của mình, Grace luôn hy vọng tất cả sẽ tiến triển tốt.
Từ hồi các con đi học, rồi chính chị cũng học xong và vào làm việc ở thư viện, cho đến khi các con tốt nghiệp trung học – Grace cứ luôn mong mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn. Chị hy vọng năm này qua năm khác và mỏi mòn chờ đợi những dấu hiệu thay đổi…
Không phải lúc nào họ cũng ở trong tình trạng tồi tệ. Cũng có lúc họ rất vui vẻ. Khi các con bắt đầu đi học, Grace đã đến trường Olympic và sau đó chuyển đến Seatle để học ở trường Đại học Washington. Dan rất ủng hộ chị, anh làm hai việc một lúc và giúp vợ lo cho hai cô con gái. Maryellen và Kelly đều đang ở tuổi mới lớn nhưng đã trở thành những cô gái trẻ đầy trách nhiệm. Dan rất yêu hai cô con gái của mình. Grace chẳng bao giờ băn khoăn về những gì anh dành cho chúng nhưng chị ngờ rằng chồng chẳng còn tình yêu đối với mình. Những năm cuối hẳn đã rất là khó khăn với anh. Sự nghiệp của anh chấm dứt và công việc thì chẳng ra đâu vào đâu. Giờ đây, lương của Grace phải trang trải cho một phần chi phí lớn hơn và chị nghĩ rằng điều đó khiến anh buồn phiền - mặc dù anh chẳng nói ra. Nhưng họ chẳng bao giờ bàn về tiền nong, chủ yếu là vì chị muốn tránh những chủ đề có thể làm chồng buồn.
Grace về muộn hơn mọi khi nửa tiếng đồng hồ, nhưng khi chị bước vào bếp với những đồ đã mua, Dan cũng chẳng bình phẩm gì.
“Em về rồi đây”, chị hờ hững thông báo.
Dan cắm mặt vào cái tivi xem tin tức địa phương. Anh đã tháo ủng ra và đang đặt chân trên cái ghế để chân.
“Em nghĩ tối nay chúng ta sẽ ăn salat bánh thịt chiên giòn. Anh thấy thế nào?”.
“Tuyệt”. Anh hờ hững trả lời.
“Hôm nay anh thế nào?”
“Ổn”, mắt anh vẫn không rời khỏi màn hình tivi.
“Anh không hỏi gì em à?”, Grace chất vấn và bắt đầu thấy khó chịu. Ít nhất anh cũng phải bày tỏ chút quan tâm tới chị và cuộc sống chung của họ chứ, cho dù chỉ là giả bộ.
“Ngày hôm nay em thế nào?”, Dan lẩm bẩm đầy vẻ thụ động.
“Kinh khủng”.
Không một phản ứng gì.
“Anh không hỏi em tại sao à?”.
“Nếu thích thì em kể đi”.
Chung sống ba mươi lăm năm mà có thể hờ hững với nhau đến thế sao? Grace khó lòng chịu đựng thêm được nữa. Chị càng cố lôi anh ra thì anh lại càng kiên quyết từ chối. Nếu chị không hạnh phúc, đó là lỗi của chị, chứ không phải của anh – đó là lần cuối cùng tranh cãi khi Grace cố nói chuyện với chồng.
Bước vào phòng khách, Grace với chiếc điều khiển từ xa và tắt âm thanh đi. Chị ngồi đối diện với chồng trên chiếc ghế để chân.
“Gì vậy?”, anh hỏi, khó chịu vì bị vợ ngắt quãng bản tin.
Grace chăm chú nhìn chồng. “Anh có yêu em không?”
Dan cười to như thể cô đùa. “Yêu em à? Chúng ta lấy nhau đã ba mươi lăm năm”.
“Đó chưa phải là câu trả lời cho câu hỏi của em”.
“Vậy em muốn anh nói gì? Tất nhiên là anh yêu em. Anh không tin là em còn phải hỏi anh điều đó”.
“Anh có ai khác không?”.
Dan ngồi lại và nhìn xoáy vào vợ, rồi anh lắc đầu. “Đó là một câu hỏi nực cười”.
“Có không?”, Grace nhắc lại.
“Không. Khi nào thì bữa tối sẵn sàng?”.
Grace lại hỏi. “Anh có nhớ lần cuối cùng chúng mình làm tình với nhau là khi nào không?”.
Anh không phải là đồ ngốc. Trả lời câu hỏi này là mắc mưu chị. “Không, nhưng anh không thể nhớ. Em có nhớ không?”.
“Anh không thích khi bị em hỏi thế”. Anh đá cái ghế để chân văng ra rồi đứng dậy, đút hai tay vào túi quần. “Nếu chúng ta định tranh cãi, hãy nói về chuyện khác thì hơn. Anh không nhận ra là em cần anh nói rằng anh vẫn yêu em”.
“Những gì em cần là lời khẳng định rằng anh muốn tiếp tục cuộc hôn nhân này”.
“Anh không nghĩ là em lại hoang đường đến thế”. Dan bước sang căn phòng bên cạnh.
“Em không hề!”.
“Em có ý là anh đang ngoại tình”.
Grace không tin và thực ra, chị không có bằng chứng, nhưng chị cảm thấy có thể làm anh bị sốc nếu bắt anh để ý.
“Em muốn gì ở anh?”, Dan giận dữ hỏi.
“Muốn một dấu hiệu chứng tỏ tình cảm của anh”, Grace gào lên.
Dan nhìn vợ chằm chằm. “Em có bao giờ nhận ra rằng anh đang mệt mỏi không?”.
“Mệt đến mức không nói chuyện được à?”.
“Anh chưa bao giờ là người thích nói chuyện. Khi lấy anh em đã biết điều đó rồi còn gì. Ở giai đoạn này anh không muốn thay đổi. Anh không biết em khó chịu về điều gì, Grace, nhưng hãy bỏ qua đi”.
“Như thế không công bằng! Em đang cố để anh cũng gánh một phần trách nhiệm trong cuộc sống của chúng ta”.
“Em là người không hạnh phúc”.
“Bởi vì em muốn cuộc hôn nhân của chúng ta nhiều hơn thế này”. Grace huơ tay giải thích.
Dan nhíu mày. “Anh đã cho em tất cả những gì anh có thể”.
Anh ta thế đấy. Trời ơi, anh ta là thế đấy.
“Nếu như vậy còn không đủ, anh chẳng biết nói gì với em nẽa”.
Họng chị nghẹn lại. Tất cả là thế đấy. Tất cả chỉ có thể mà thôi, và vẫn chưa đủ. Có tiếng chuông điện thoại kêu và cả hai cùng hướng mắt về chỗ tường bếp. Nước mắt lăn dài trên gò má, Grace vừa vội lau vừa lao sang phòng khác.
“Kệ cái máy điện thoại”, Dan nói.
“Tại sao? Chúng ta có thể nói chuyện thêm một chút không?”.
“Không”, anh thẳng thừng.
“Em cũng nghĩ thế”. Cô với ống nghe điện thoại và hắng giọng trước khi nói.
“Alô”, chị cố giữ bình tĩnh khi lên tiếng.
“Mẹ? Mẹ à, mẹ không đoán ra phải không?”. Kelly gào lên. “Con có tin vui đây. Con có thai rồi”. Giọng con gái chị vui vẻ, trong vắt và ngọt ngào hơn bao giờ hết.
“Có thai à? Con có chắc không?”. Grace lại cảm thấy nước mắt ứa ra nhưng lần này là những giọt nước mắt hoàn toàn khác. Sau mười năm lấy nhau, Kelly và Paul luôn khao khát một đứa con. Chúng đã trải qua nhiều thử thách, và Grace chưa bao giờ từ bỏ hy vọng rằng con gái mình có thể thụ thai. Chị mong có cháu và dường như điều đó khó lòng xảy ra. Bởi vì hình như khả năng sinh sản của Kelly có vấn đề còn Maryellen thì đã ly dị. Thật là một tin vui tuyệt vời. Một tin tuyệt vời.
Dan bước vào bếp. “Kelly đấy”, chị vui vẻ che ống điện thoại. “Nó có thai rồi”.
Mắt Dan sáng lên và anh mỉm cười. Đó là nụ cười đầu tiên trên gương mặt anh mà nhiều tháng nay Grace mới nhìn thấy.
“Khỉ thật, tuyệt vời”.
“Ôi, con yêu, bố và mẹ mừng quá”.
“Cho con nói chuyện với bố”.
Grace đưa ống nghe cho chồng. Kelly luôn đặc biệt gần gũi với bố mình. Hai cha con nói chuyện chừng vài phút.
Dan đặt ống nghe xuống và đi ra chỗ lò vi sóng nơi anh đang nướng cái bánh cho hai người. Anh vòng tay xiết eo vợ và ôm chị từ phía sau.
“Anh yêu em”, anh thì thầm.
“Em biết. Em cũng yêu anh”.
“Mọi chuyện sẽ ổn”.
“Em biết”. Và sẽ ổn thôi. Grace tin là như vậy. Hy vọng thế. Và giờ đây, chị có lý do để tiếp tục hy vọng, một lý do để hướng tới tương lai tốt đẹp hơn. Cuộc hôn nhân này không phải là tất cả những gì chị muốn, nhưng thế là đủ. Chị sẽ khiến nó đầy đặn hơn. Chị đã chúng sống với Dan ba mươi lăm năm. Có những lúc tốt đẹp và có những lúc cơm chẳng lành canh chẳng ngọt. Đứa cháu sẽ cho chị niềm hy vọng vào một tương lai tươi sáng hơn.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-06-25 11:23:05flowerlegend>
Từ Trang 228 - 247
thể cô chưa từng muốn một người đàn ông nào khác trong đời.
“Justine, đừng”. Seth giữ cô cách xa một tầm tay, ngực anh đập mạnh với nỗ lực dừng những nụ hôn cuồng nhiệt của hai người.
“Đừng à?”, cô gào lên giận dữ. Anh đã thổi bùng ngọn lửa hoang dại đang rừng rực trong cô rồi giờ đây anh lại định dập tắt đám cháy đó.
“Không phải thế này, khi mà chẳng ai trong chúng ta biết mình đang làm gì”.
“Em biết chính xác mình đang làm gì”, cô cãi lại, hai nắm tay chống lên hông. “Anh đang từ chối em hả?”. Cô thấy dáng đứng của mình có thể giúp anh dễ dàng liếc trộm bộ ngực cô, và cô cố tình không làm gì để che nó lại.
Seth bước về phía chiếc ghế sô-pha và mệt mỏi ngồi xuống đệm còn Justine đấu tranh giữ lòng tự trọng đã bị ghiền nát của mình. Cô cố tạo vẻ can đảm nhưng cô biết mình đã tự biến bản thân thành một kẻ ngốc mất rồi.
“Chẳng có gì dễ hơn là kéo em vào giường rồi dành cả ngày ân ái với em”, Seth nói với cô bằng giọng nhỏ nhẹ.
Hai đầu gối Justine trở nên yết ớt và cô gần như – gần như – không đứng vững.
“Nhưng anh sẽ không làm vậy”, anh nói, “vì anh yêu em. Anh đã yêu em từ khi chúng ta còn trẻ con và anh sẽ không tạo ra một lý do nào để bất cứ ai trong hai chúng ta phá hỏng việc này”.
Vẻ can đảm của Justine nhanh chóng biến mất. “Sao anh lại ở đây?”.
“Anh không thể rời xa em”.
“Lúc này trông anh có vẻ gì là muốn gặp em đâu”, cô lẩm bẩm.
Seth tặc lưỡi rồi nói gì đó dưới nhịp thở khiến cô không thể nghe thấy.
“Anh nói gì cơ?”, Justine gặng hỏi và e ngại rằng Seth đang kín đáo cười mình.
Anh uể oải cười. “Tin anh đi, em không muốn biết điều đó đâu”,
Cô có muốn chứ, nhưng cô không hối thúc anh nữa.
Seth gắng sức thở dài và nhìn cô, mắt anh màu xanh lấp lánh. “Vậy em em nhớ anh hả?”.
“Đúng vậy, đồ khốn”.
Trong anh có vẻ quá hài lòng với sự thú nhận của Justine. “Anh cũng nhớ em”.
Cô liếc mắt đi chỗ khác chứ không nhìn vào mắt anh.
“Em vẫn hẹn hò với Warren Saget hả?”.
Justine mừng vì anh không thể trông thấy ánh mắt cô.
“Thỉnh thoảng”.
Câu trả lời của cô có vẻ khiến Seth hài lòng. Anh đứng dậy và nhặt áo khoác dưới sàn nhà. “Hãy cho anh biết khi nào em chấm dứt nhé”.
“Điều đó có nghĩa là gì?”. Cô không chấp nhận trở thành tài sản độc chiếm của Seth, anh xử sự cứ như cô chưa từng hẹn hò với Warren vậy. “Em sẽ gặp anh ấy bất cứ khi nào em muốn”.
“Anh biết”.
Tại sao anh không níu kéo cô mà lại luôn tỏ ra sẵn sàng đồng ý với những gì cô nói nhỉ?
“Trước đây anh đã nói với em rồi. Warren không hợp với em đâu”, anh nhẹ nhàng nói.
“Còn anh thì hợp hả?”.
Anh gật đầu như thể đó là chuyện đương nhiên. “Đúng thế”.
Rõ ràng là Seth cảm thấy mình đã nói xong mọi điều mà Justine cần nghe. Anh bước tới cửa mở ra. “Hãy cho anh biết khi nào em chia tay với Warren nhé, được không?”.
“Anh sẽ phải chờ lâu đấy”, Justine lạnh lùng đáp, cảm thấy giận anh và quyết sẽ không nhượng bộ dù chỉ một chút, cô sẽ không cho anh hy vọng. Nhưng không, cô không thể làm vậy. Mọi chuyện với Warren thế là đã hết và Justine biết điều đó mặc cho cô luôn mồm phủ nhận.
“Nếu em hiểu anh dù một chút thôi thì em sẽ thấy anh là người kiên nhẫn”. Sau câu nói đó, anh bỏ đi.
Justine tin rằng Seth ở trong thị trấn nhưng suốt thời gian còn lại trong tuần cô không hề nghe tin gì về anh.
Rồi anh gọi điện vào tối thứ bảy.
“Anh ở đâu thế?”, cô hỏi và thấy hối hận vì nghe giọng anh mà quên không giả vờ giận dữ.
“Alaska”.
“Anh không thể gọi điện cho em khi còn ở trong thị trấn hả?”.
“Không”, Seth đáp với giọng khàn khàn và mệt mỏi. “Như thế thì dễ dàng quá”.
“Anh lúc nào cũng cứ phải làm cho mọi việc khó khăn như thế phải không?”.
“Lạy Chúa lòng lành, anh hy vọng là không”, anh lẩm bẩm.
“Em nghĩ em nên cám ơn anh”, cô thì thầm, nhắm mắt lại, áp sát tai nghe vào má và run rảy ngồi xuống một chiếc ghế trong bếp. Seth đã ngăn cô phạm phải một sai lầm lớn hơn sai lầm tự lao vào vòng tay anh – đó là việc đến với Warren.
“Đừng cám dỗ anh”, giọng Seth đột nhiên trở nên bực tức. “Anh đã tự trách mình trên suốt quãng đường trở về đây. Lần sau anh sẽ không cư xử kiểu cao thượng chết tiệt như thế nữa”.
“Lần sau”, cô thì thầm: “em sẽ không cho anh cơ hội đâu”.
*
Grace mang hai túi rau quả nặng trích vào nhà và đặt chúng lên quầy bếp. Đó là buổi chiều thứ hai, sau mấy ngày cuối tuần khá tốt đẹp. Chị không hề biết mình mong đợi Dan điều gì nữa. Mặc dù gần đây tâm trạng cỏ vẻ ổn định hơn nhưng chị vẫn thoắt vui thoắt buồn.
Kelly và chồng đã đến nhà ăn tối chủ nhật và đó là một chuyến ghé thăm tuyệt vời. Tin con gái có bầu khiến cuộc sống của họ tươi sáng hơn. Grace từ lâu đã mong ngóng đứa bé này; chị hy vọng sẽ tìm thấy ở đứa cháu điều thiếu hụt trong cuộc hôn nhân của mình.
Ngôi nhà tối và tĩnh lặng. Grace chờ Dan trở về bất cứ lúc nào. Chị rời khỏi nhà sớm một giờ để đến gặp bác sỹ theo hẹn và việc này chỉ mất có vài phút.
Mừng vì có cơ hội sắp xếp lại bếp núc, Grace bắt đầu bỏ đồ trong túi ra rồi đột nhiên dừng lại. Có gì đó không ổn. Chị cảm nhận được nó. Giác quan thứ sau, một linh cảm, chị không chắc đó là gì. Chị nghiêng đầu về một bên lắng nghe. Ý nghĩ đầu tiên của chị là gạt bỏ cảm giác đó nhưng nó không chịu rời đi.
Grace cố gắng thở đều và bước vào phòng ngủ rồi bất ngờ dừng lại. Các ngăn kéo tủ mở toang; đồ đạc bên trong vương vãi ra ngoài và nằm rải rác khắp phòng. Ý nghĩ đầu tiên của Grace là có một kẻ đột nhập vào nhà, nhưng sau khi kiểm tra thì chị đã nhanh chóng biết là không phải. Chẳng có món gì quý giá bị mất cả. Đồ trang sức của chị vẫn nằm ngay trong tầm mắt.
Grace đi ra phòng khách và ném mình lên một chiếc ghế, chị nhắm mặt lại.
Dan chưa về nhà.
Anh ta lại chẳng mang theo thứ gì- chỉ mang theo quần áo. Anh ta đã bỏ lại tất cả mọi thứ.
Quần áo của anh ta, tài sản cá nhân, cuộc hôn nhân và gia đình của anh ta… Tất cả.
Grace không thể nói vì sao, nhưng chị cảm thấy chắc chắn rằng Dan đã thực sự bỏ đi. Chị không liên lạc với Troy Davis hay thậm chí cả Olivia; chị sẽ không nói với bất kỳ ai, ít nhất là phải vài ngày nữa.
Lần trước Dan đã rất giận dữ với chị. Anh ta đã chơi trò chơi nguy hiểm này, nó đã khiến chị lo lắng đến mức phát ốm và rồi anh ta tức giận vì chị đã gọi cảnh sát. Dan đã nói rằng chị khiến anh hổ thẹn.
Anh ta không hề để tâm xem mình đã bắt vợ phải chịu đựng những gì. Hai ngày cay đắng, yên lặng buồn thảm trôi qua rồi họ mới nói chuyện được với nhau. Giờ lại đến chuyện này.
Grace đã đúng. Dan không về nhà sau ngày làm việc, đêm đó anh ta cũng không xuất hiện. Dù cố đến mấy chị cũng vẫn không ngủ được. Những suy nghĩ mâu thuẫn trong chị cứ rối tung lên, cho đến lúc quá mệt thì chị thiếp đi trước khi chuông báo thức reo vang báo hiệu một ngày làm việc mới. Chị muốn gọi điện báo nghỉ ốm nhưng rồi quyết định sẽ không làm vậy. Ở nhà, đi đi lại lại lo lắng về việc chồng mình có thể ở đâu với ai sẽ càng khiến chị khó chịu hơn.
Chiều thứ ba, Grace tràn đầy hy vọng khi bước vào nhà và phát hiện nó vẫn lạnh lẽo và yên lặng. Dan vẫn chưa về.
Chuông điện thoại vang lên và Grace gần như giật nó ra khỏi tường vì nôn nóng nghe máy.
“Mẹ à, con chỉ muốn cám ơn bố mẹ đã mời con và Paul đến ăn tối”.
“Bố mẹ rất hài lòng mà”, Grace đáp và cố hết sức che giấu nỗi sợ của mình.
“Bố có tâm trạng tốt đấy”.
“Đúng vậy”, Grace nhắm mắt nỗ lực tập trung vào câu chuyện.
“Mè à”, Kelly thận trọng nói, “mọi chuyện vẫn ổn đấy chứ?”.
“Dĩ nhiên rồi…”. Chị sửa lại, “Mẹ cho là thế…”.
Điện thoại trở nên yên lặng. “Điều đó có nghĩa là gì?”.
Vì chẳng còn biết thổ lộ cùng ai nên Grace quay sang nói với con gái mình. “Mẹ không gặp bố con gần hai ngày nay rồi”.
“Mẹ không gặp bố à? Nhưng bố ở đâu?”. Kelly hỏi, nỗi lo khiến giọng cô trở nên sắc hơn.
“Mẹ… không biết”.
“Mẹ không gọi ai à?”.
“Lần đầu mẹ đã gọi cảnh sát và biết rằng…”.
“Việc này đã từng xảy ra à?”. Kelly la lên. “Sao mẹ không nói với con?”.
Bị con gái giận vì chuyện này là điều Grace không bao giờ muốn. Bởi Kelly đang mang bầu. Như thế có hại cho cái thai.
“Con sẽ đến”, Kelly cương quyết nói.
“Kelly, không, con không làm được gì đâu”.
“Marryellen có biết không ?”.
Grace rùng mình thở dài. “Mẹ… Mẹ không nói với ai”.
“Con sẽ đến”, cô con gái khăng khăng rồi dập điện thoại.
Hai mươi phút sau, cả Maryellen và Kelly cùng xuất hiện.
Họ lao vào nhà như những thiên thần báo thù.
“Chuyện gì đã xảy ra thế?”. Maryellen gặng hỏi. Hai cô con gái ngồi quanh chính chiếc bàn họ từng ngồi khi còn là những cô bé.
Grace kể với họ mọi chuyện đã xảy ra.
“Bô đi đâu được nhỉ?”.
Grace ép mình nhìn ra chỗ khác. Mặc dù không muốn thừa nhận khả năng đó nhưng chị cũng nói cho các con biết suy nghĩ của mình.
“Mẹ đoán rằng bố có một người phụ nữ khác”.
Cả hai cô con gái phản đối kịch liệt ý tưởng đó.
“Không”, Maryellen cất tiếng trước.
“Bố không bao giờ như thế”, Kelly phụ họa. “Sao mẹ lại nảy ra ý nghĩ ấy cơ chứ?”.
Dan cũng đã phủ nhận điều đó. Nhưng gần đây tình cảm của anh xa rời với chị quá, quá xa cách và lạnh nhạt.
Một người phụ nữ khác là lý do duy nhất hợp lý có thể giải thích cho những trình trạng ấy.
“Con không tin điều đó”, Maryellen khăng khăng.
“Vậy thì ông ta ở đâu chứ?”, Grace gào lên.
Cả hai cô gái không đáp lời.
“Suy nghĩ đi nào”, Kelly thúc giục.
“Bố còn có thể tìm kiếm điều gì nữa chứ?”. Maryellen hỏi. “ Mẹ nói là có vẻ bố tìm gì đó trước khi bỏ đi mà”.
“Nhưng ông ấy có lấy gì đâu”. Grace cẩn thận gấp quần áo của Dan rồi đặt lại vào ngăn kéo. Rõ ràng là anh ấy đã muốn tìm thấy thứ gì đó trong tình trạng nôn nóng như vậy, nhưng chị không thể phát hiện ra là đã mất thứ gì.
“Bố sẽ về”, Kelly nói. “Nếu không thì bố đã mang theo hành lý”.
“Dĩ nhiên là bố sẽ về”, Marryellen đồng ý như thể đó là điều chắc chắn.
“Mẹ chắc bố sẽ về thôi”, Grace nói. Anh ta đã làm việc này một lần, phải không nào? Điều đó khiến chị hy vọng mặc dù trái tim mách bảo chị một điều khác.
Sau đó họ yên lặng. Có vẻ họ chẳng còn gì để nói. Grace đưa tay nắm lấy tay các con gái bóp chặt và hy vọng làm yên lòng các con, trong khi chính bản thân chị cũng không có được cảm giác này.
“Tiếp theo chúng ta sẽ làm gì nhỉ?”. Maryellen là người thẳng thắn và luôn biết phải làm gì. Grace không biết phải nói với con gái mình thế nào nữa. Maryellen là đứa con gái gần gũi với chị nhất. Chị không thiên vị đứa nào nhưng Maryellen giống mẹ nhất về mọi thứ. Maryellen lập gia đình khi còn trẻ. Đó là một hành động thiếu khôn ngoan và quả nhiên sau một năm đã ly dị. Bây giờ đã ở tuổi giữa ba mươi, có vẻ như cô không muốn lặp lại trải nghiệm đó. Grace đã muốn con gái có một cuộc sống khác với chồng và con cái; nhưng Maryellen đang quản lý một phòng tranh địa phương và tỏ ra hài lòng với những gì mình có. Đó chính là điều khiến Grace lo lắng.
“Chúng ta nên báo cảnh sát”, Kelly nói.
Grace giải thích bài học được rút ra từ lần trước. Biến mất không hề phạm luật.
“Dù sao thì chúng ta cũng nên cho các nhà chức trách biết”, Maryellen lẩm bẩm.
“Chúng ta cũng nên in poster”, Kelly gợi ý.
Grace đứng dậy và bắt đầu đi đi lại lại.
“Không”. Grace cương quyết phản đối ý tưởng đó. Dan mà về thì anh ta sẽ giận điên nếu bị vợ trưng bộ mặt trên các tấm poster dán khắp thị trấn. “Bố con sẽ không muốn điều đó đâu”.
“Quá tệ. Vậy thì ông ấy đừng có bỏ đi”.
“Mẹ muốn chờ”. Grace nài xin thêm thời gian.
“Bau lâu ạ?”.
“Con chỉ cho ông ấy thêm một ngày nữa thôi”, Maryellen nói và nheo mắt lại.
“Nếu bố các con không về trong một hay hai ngày nữa thì có lẽ chúng ta nên liên lạc với các nhà chức tránh”, Grace tuyên bố và thắt nút một cái khăn giấy trong tay.
“Hơn nữa, mẹ cảm thấy chúng ta chẳng thể làm gì khác. Bố con đã muốn ra đi. Ông ấy đi vì ý muốn tự do của mình…”.
“Bọn con không tin điều đó”, Kelly phản đối.
“Điều đó đã từng xảy ra”, Grace lý luận. “Ông ta sẽ trở về nếu muốn. Và ông ấy sẽ trở về”.
Chị gật đầu. “Chúng ta sẽ chỉ phải chờ đợi thôi”. Dù khó khăn nhưng chị không biết làm gì khác.
“Con không biết bố ở đâu nhưng con tin là bố không bao giờ bỏ mẹ đi vì một người phụ nữ khác”, Maryellen nhẹ nhàng nói.
Grace ôm lấy các con gái và lưỡng lự rời chúng ra. Chị đứng trên hiên, khoanh tay lại khi chúng lái xe về nhà riêng.
Giờ đây chị lại cô đơn, chìm hẳn trong nỗi cô đơn.
Các con gái chị không chịu tin rằng Dan đã tìm thấy một người phụ nữ khác còn chị thì đã nghi ngờ điều đó từ rất lâu rồi. Chị cũng không muốn tin nhưng không thể nghĩ ra điều gì khác để giải thích cho những lần mất tích của chồng.
Olivia biết ngay là có chuyện khi gặp bạn tại lớp tập thể dục thẫm mỹ ngày thứ tư. Grace không cần phải thốt ra một lời nào Olivia cũng đoán được.
“Lại là Dan hả?”.
Grace gật đầu khi họ bước vào sàn tập.
“Lúc nào thế?”.
“Lần cuối tớ thấy anh ta là sáng thứ hai”.
“Từ đó không nghe thấy bất kỳ tin tức gì à?”.
“Không”.
Olivia thở hắt ra. “Cậu ổn chứ?”.
Grace cắn môi dưới. “Tớ có được lựa chọn không?”. Dan đã quyết tâm trừng phạt vợ vì một danh sách tội lỗi mà thậm chí chị còn không biết là mình đã mắc phải. Tuy nhiên, Garce mới là người cuối cùng kết thúc mọi chuyện. Chị không có ý định tiếp tục trò chơi hôn nhân này.
Hành động biến mất gần đây nhất của Dan khiến Grace không thể chịu đựng được thêm nữa. Chị sẽ tự giải thoát cho mình. Rất có thể Dan sẽ quay về, và khi anh ta về, chị sẽ đập vào mặt anh tờ giấy ly dị.
Mọi chuyện đã kết thúc.
 
10.
Chưa bao giờ Cecilia thấy vui sướng tự hào đến thế. Điểm A được ghi ở ngay góc trên của bài thi và thầy Cavanaugh, Giáo sư dạy môn Đại số của cô viết vào đó chữ Tốt! bằng mực đỏ ở góc bên kia. Cô đã đạt điểm tối đa. Sau buổi học, thầy Cavanaugh, người sắp bước sang tuổi sáu mươi, hỏi cô đã đi tư vấn xem nên học những môn gì cho kỳ tiếp theo chưa. Cô trả lời là chưa và thầy khuyên cô học sâu thêm về môn Toán, vì cô có năng khiếu trong môn học này.
Cecilia thấy hân hoan. Người đầu tiên cô muốn chia sẻ niềm vui là bố cô, người đã dành phần lớn đời mình ở nhà hàng Bếp Truyền Trưởng. Cô sẽ sớm gặp ông, cô quyết định thế. Người tiếp theo cô nghĩ tới là Cathy Lackey, nhưng có vẻ như cô sắp mắc bệnh khoe khoang, mà cô thì không hề muốn thế. Cảm thấy đã bớt phấn khích, cô đi thẳng về nhà, và nhặt thư ở ngoài hành lang. Cô đặt các lá thư lên mặt bàn ăn trong bếp rồi chùng vai thả chiếc ba-lô xuống. Chính lúc đó cô nhìn thấy là thư của Ian. Thật buồn cười khi một thứ nhỏ bé như lá thư lại có thể lập tức thu hút sự chú ý của cô. Cecilia nhìn chằm chằm vào nó mất cả phút rồi mới đưa tay nhặt lấy và thận trọng xé ra xem.
 
Ngày 12 tháng 4
Cecilia yêu dấu!
Tuần này Andrew đã nhận được thư của Cathy và cô ấy viết rằng gần đây hai người bọn em rất thân thiết. Anh đoán giờ này em đã nhận được chiếc ôtô và hy vọng em chịu lái nó.
Ian Randall là người có khiếu ăn nói, Cecilia đăm chiêu. Chồng cô ngang bướng hơn bất kỳ người đàn ông nào cô từng gặp. Và cô đã sử dụng chiếc xe của anh được gần một tháng rồi.
Anh biết em rất thất vọng về cách xử sự của anh lúc em đến thăm anh ở bệnh viện. Anh không trách em. Lý do duy nhất để giải thích cho cách xử sự đó là khi ấy anh đang rất đau khổ. Anh phát điên lên đến mức thành ra ngu ngốc. Chính sự bất cẩn của anh đã gây ra tai nạn ấy. Lẽ ra Andrew không nên nói với em, em không nhất thiết phải biết.
Cecilia không đồng ý. Cô là vợ của anh nên cô chắc chắn phải ở bên anh nếu anh bị thương. Cô rất biết ơn vì Andrew đã gọi điện báo.
Những tháng ngày qua, anh và em có không ít bất hòa, nhưng sau “cuộc gặp” của chúng ta, anh đã thật sự hi vọng cả hai có thể bỏ quá khứ lại phía sau. Nhưng rồi anh lại phải lên đường và điều này làm hỏng tất cả. Anh thành thật xin lỗi, Cecilia.
Phải mất một thời gian anh mới lên lời xin lỗi.
Và cô nhận thấy anh đã không hề nhắc đến chuyện làm tình của họ. Nếu anh sẵn sàng phớt lờ chuyện ấy, thì cô cũng vậy.
Anh biết em không có máy tính, nhưng anh vẫn ghi địa chỉ hộp thư điện tử của anh ở cuối thư, phòng khi em có cách liên lạc với anh qua mạng.
Anh sẽ rất vui nếu nhận được thư của em. Andrew nói em và Cathy đã trở thành bạn bè và bắt đầu kết bạn với một số người vợ của lính hải quân. Anh rất mừng. Em biết là hải quân không đến nỗi quá tệ mà. Ở đó có rất nhiều người tốt.
Cecilia hối hận vì trước đây cô đã từ chối chơi với những người bạn ấy.
Hãy kể cho anh nghe việc học của em – nếu em viết thư trả lời. Anh cá là em học giỏi nhất lớp.
Yêu em.
Ian
Randall – Ian HT2 iran-dall@bridge.navy.mil
Tái bút: Về chuyện tối hôm đó mọi chuyện ổn cả chứ? Em hiểu anh muốn nói gì mà.
 
Anh đang muốn biết liệu cô đã có thai chưa. Anh lo lắng là phải. Họ đã thật ngu ngốc và đây không phải là lần đầu tiên nhưng cô thề đó sẽ là lần cuối cùng. Cecilia đọc lướt qua lá thư một lần nữa. Một cảm xúc thích thú bao trùm lên cô. Bức thư không dài, nhưng cô biết Ian đã phải vật lộn với từng con chữ. Xin lỗi là một điều khó khăn với anh. Phải, cô xứng đáng được nhận một lời xin lỗi. Cô hài lòng vì anh đã hỏi thăm việc học của mình; cứ như thể anh đã biết chuyện cô được điểm A trong bài thi cuối kỳ vậy.
Chiều hôm đó, Cecilia đi làm sớm vài phút và lái xe thẳng tới thư viện. Thật may, một chiếc máy tính còn trống. Cecilia ngồi xuống ghế và lên mang. Lời nhắn của cô ngắn gọn và cô chọn cách viết đi thẳng vào vấn đề, vì cô không có nhiều thời gian và vì cô không chắc nó sẽ có hiệu quả.
Ngày 16 tháng 4
Anh Ian yêu quý!
Em đã nhận được thư anh chiều nay. Lời xin lỗi được chấp nhận. Em nhớ anh.
Cecilia
Tái bút: Những chuyện còn lại đều ổn cả.
 
Ngày hôm sau tính tò mò đã thôi thúc cô, cô trở lại thư viện và hồi hộp tìm xem có thư điện của Ian không.
Ngày 17 tháng 4
Cecilia yêu dấu!
Anh rất vui khi nhận được thư em. Ý em là sao, em nhớ anh? Có thật thế không? Anh không quan tâm điều đó là thật hay giả, nhưng anh ghi nhận điều đó. Gần như ngày nào Andrew và Cathy cũng viết thư cho nhau, cô ấy kể chuyện mời em đi chơi tối cùng các bà, các cô. Anh mừng vì em đã có những người bạn mới.
Cuộc sống trên tàu hàng không mẫu hạm rất khác so trên tàu ngầm. Anh không biết anh có thích không nữa, nhưng anh nghĩ mọi việc đều ổn cả.
Yêu em!
Ian
Tái bút: Có đúng là mọi chuyện đều ổn không?
 
Ngày 18 tháng 4
Anh Ian yêu dấu,
Em đã biết điểm thi cuối kỳ của môn Đại số và tiếng Anh, em được 4 điểm1 ở cả hai môn đấy. Em rất SUNG SƯỚNG!  Thầy Cavanaugh khuyên em học môn Đại số cao cấp, và em sẽ nghe theo lời thầy. Em vẫn làm việc vào các ngày cuối tuần, em phục vụ ở quầy bán cốc tai và sẽ dành riêng tiền thưởng của khách cho việc học.
Em biết anh chuyển sang tàu George Washington vì Allison, và vì em. Em hiểu rõ việc anh đã làm, nhưng anh Ian, quá muộn rồi. Nếu anh muốn trở lại tàu ngầm, thì đó đúng là việc anh nên làm. Đến giờ em phải làm rồi. Xin lỗi anh, giá mà em có thời gian để viết nhiều hơn. Em sẽ sớm viết cho anh một lá thư thật sự, em hứa đấy. Hai tuần nữa em sẽ bắt đầu môn học mới.
Hãy nghỉ đến em nhé.
Cecilia.
 
Ngày 19 tháng 4
Cecilia yêu dấu!
Em muốn anh nghĩ đến em – em đùa phải không? Lúc nào anh chẳng nghĩ  đến em. Em là vợ anh,cho dù luật sư có nói gì với anh đi chăng nữa.
Chúng ta vẫn sẽ ly dị sao? Chúa ơi, anh hi vọng không phải thế. Anh không bào giờ muốn điều đó. Em biết cảm giác của anh về chuyện này là thế nào rồi đấy. Xin lỗi em, anh không có ý nói đi nói lại. Anh sẽ sống cùng bất cứ quyết định nào của em. Em đã nhắc đến việc chuyển khỏi Atlantis của anh, và lý do tại sao anh lại làm như thế. Đây có lẽ là một cú sốc, và anh không làm điều đó vì em. Không hoàn toàn. Anh còn làm vì anh nữa. Lần cuối cùng bọ anh dàn quân và cũng là trước khi Allison chào đời, cả anh và em đều không hề lo ngại về chuyện sinh nở của em trong lúc anh xa nhà. Không một ai trong hai chúng ta có một chút lo ngại nào về những điều sẽ xảy ra. Nhưng lúc anh trở về thì con gái của chúng ta đã được chôn cất.
Em đã vô cùng đau khổ, và anh nhận ra rằng anh đã chẳng giúp được gì cho em, chủ yếu là vì mình anh cũng đang vật lộn với nổi đau của riêng mình. Anh thật sự không biết phải giúp em như thế nào. Em căm ghét hải quân, và anh có cảm giác em căm ghét chính anh nữa. Đó là khoảng thời gian không mấy dễ chịu với cả hai chúng ta. Anh chưa bao giờ nói với em – có lẽ nếu anh nói, chúng ta đã không rơi vào con đường chúng ta vừa đi – nhưng trong hành trình cuối cùng của anh trên tàu Atlantis, anh đã cố làm mọi thứ để thay đổi tất cả. Con gái anh đã chết còn cuộc hôn nhân của anh đang tan vỡ, và trong đời, anh chưa bao giờ cảm thấy mình bất hạnh đến thế. Anh không đỗ lỗi cho em, anh xin thề. Chỉ huy đã nói chuyện và sắp xếp để anh chuyển sang tàu George Washington. Trên hồ sơ có ghi đó là vì những lý do về mặt tâm lý.
Chúc mừng em về những thành tích đạt được. Anh tự hào về em. Chúng ta sẽ ăn mừng khi nào anh trở về. Tính đến giờ mới có gần năm tháng, vậy mà cứ như cả đời người rồi, nhưng thời gian sẽ trôi nhanh lắm. Anh yêu em và điều đó sẽ chẳng bao giờ thay đổi.
Ian.
Tái bút: Đừng sợ hãi khi anh nói với em cảm giác của anh. Đã lâu lắm rồi anh không nhắc đến cảm nghĩ của mình với em, vì có vẻ như em không muốn nghe. Có thể em vẫn chưa muốn nghe, nhưng anh hi vọng em sẽ hiểu những gì anh nói.
 
Ngày 22 tháng 4
Anh Ian yêu dấu!
Em phải đợi cho đến khi thư viện mở cửa mới có thể trả lời thư anh – đó là lí do giờ anh mới nhận được thư. Cathy bảo có rất nhiều nơi có máy tính chứ không chỉ thư viện, và sau khi chờ đợi mấy ngày cuối tuần trôi qua để viết thư cho anh, em sẽ thử đến những nơi ấy. Em rất nóng ruột. Nếu không, em đã có một cuối tuần vui vẻ. Tối thứ bảy nào em cũng được khách thưởng cho rất nhiều. Em biết anh không thích em làm việc cho quán bar. Em biết anh không quan tâm lắm, nhưng đó là cách duy nhất để em đảm bảo về mặt tài chính cho mình. Tiền thưởng rất hậu hĩ và bố Bobby luôn ở quanh đó, vì thế em không phải chịu đựng sự quấy rối của khách hàng. Anh tin hay không thì tùy, nhưng bố luôn bảo vệ em. Thậm chí tuần trước, bố còn dọa ném một gã ra ngoài! Bobby cứ như người cha yêu chuộng hòa bình của em vậy. Đó là thú nhận nho nhỏ mà em muốn nói với anh về công việc ở quán bar để đáp lại sự giải thích của anh về lý do chuyển từ tàu Atlantis sang George Washington. Anh nói đúng. Sẽ là rất có ích nếu chúng ta thường xuyên chuyện trò với nhau.
Em biết anh yêu em, anh Ian. Sau tất cả mọi chuyện, em hiểu cảm xúc của anh, nhưng đôi khi chỉ tình yêu thôi thì không đủ. Anh đã hỏi về chuyện ly dị. Em không biết bây giờ em liệu có muốn duy trì cuộc hôn nhân này hay không. Nhưng có một điều chắc chắn là em không muốn bất kỳ một đứa con nào nữa. Nỗi kinh hoàng vừa qua đã giúp em khẳng định được điều ấy. Em không tin chúng ta lại mạo hiểm lần nữa. Bài học sâu sắc mà em rút ra sau chuyện của Allison, là em chẳng bao giờ có ý định làm mẹ trở lại
0
4
“Tối nay con sẽ cầm lái”,  Olivia nói với mẹ. Lần trước chị ngồi trong xe do Charlotte lái và Olivia thề rằng đó sẽ là lần cuối cùng. Trông bà cụ đi ngoài đường thật đáng sợ. Olivia nghĩ rằng nếu Charlotte cứ lái xe như thế thì bà sẽ không bao giờ bị tai nạn mà chỉ gây ra tai nạn thôi.
“Nào, lần này đến lượt con mặc dù con phải thú nhận là con không thích lái xe buổi tối chút nào”.
Olivia lấy chiếc áo choàng đen treo ở cái tủ nhỏ trong phòng mình. Vậy là đã hết một tuần ở toà và buổi hẹn hò nóng bỏng tối thứ sáu của chị là dành cho mẹ. Nói cho đúng, chị ra ngoài ăn với bà Charlotte nhiều hơn bất kỳ ai khác. “Con không ngại lái xe đâu”, Olivia thuyết phục bà.
“Được rồi, nếu con nhất định thế”.
Nhất định Olivia phải lái. Lần lái xe mạo hiểm trước của mẹ thật khủng khiếp. Rõ ràng Charlotte đã mất khả năng quay cổ lại để nhìn phía sau. Bà điều chỉnh gương chiếu hậu sang phải sang trái loạn hết cả lên và bấm còi ầm ĩ trước khi ra khỏi nơi đỗ xe. Bà cũng thú nhận rằng mắt bà không còn tinh tường như trước nữa. Thật khó khăn, Olivia không muốn mẹ mình mất độc lập nhưng chị không nén nổi lo lắng.
“Hôm nay sẽ là một buổi tối vui vẻ của mẹ con ta”. Charlotte nói đầy vẻ hào hứng. “Nhưng mẹ phải về nhà trước mười một giờ. Harry sẽ sợ nếu mẹ không có ở đó”. Mẹ chị đang lo lắng cho con mèo.
“Không sao. Vở kịch bắt đầu vào lúc tám giờ. Như vậy sẽ kết thúc trước mười một giờ khá lâu”.
“Chúng ta ăn tối trước chứ?”. Bà Charlotte gợi ý.
“Chắc chán rồi, tại sao không nhỉ?”. Olivia đang muốn ăn mừng đây. Người bạn thân nhất của chị - Grace sắp lên chức bà. Cô con gái hai mươi bảy tuổi của Grace đã có thai. Ngay lập tức Charlotte kể về Tom, người bạn của bà ở Trung tâm An dưỡng với thái độ thương xót. Người duy nhất bây giờ không còn làm bà phải lo lắng nữa là Olivia. Chị đã sẵn sàng thay đổi, sẵn sàng chấp nhận rủi ro để bắt đầu một cuộc hò hẹn. Chị hy vọng Jack Griffin sẽ gọi và nói chuyện, nhưng anh chẳng hề gọi mà cũng chẳng xuất hiện trước toà. Rõ ràng anh ta chẳng quan tâm. Được, chị có thể xử lý việc đó.
Hai mẹ con có mặt tại nhà hát sau bảy rưỡi. Vở kịch được dựng ở nhà hát Cộng đồng nằm trên phố cảng, con đường chính dẫn ra trung tâm của thị trấn . Nhà hát cũ kỹ này vẫn chiếu lại. Rạp hát ở ngay bên trên rạp chiếu phim, ở một khu nhỏ hơn nhưng ấm cúng hơn. Mỗi khi Olivia xem những vở do địa phương dàn dựng, chị đều ngạc nhiên trước tài năng của người dân ở một thị trấn nhỏ như vịnh Cedar.
Rạp không đánh số ghế ngồi nên Charlotte chọn hàng thứ nhất. Họ vừa ngồi xuống thì Jack Griffin xuất hiện.
“Chỗ này có ai ngồi chưa?”. Anh hỏi và nhìn vào chỗ trống bên cạnh Olivia.
“Jack!”, chị thốt ra tên anh trước khi kịp kiềm chế sự vui thích.
“Jack Grinffin? Đây có phải là Jack Griffin không?”, Charlotte đứng ngay dậy. Olivia chưa kịp đoán ra mẹ mình định làm gì thì bà đã vòng tay quanh người Jack và ôm anh thật nhiệt tình.
Qua vai Charlotte, Jack bắt gặp cái nhìn của Olivia. Chị thấy anh ngạc nhiên và buồn cười vì được chào đón nhiệt tình đến thế.
“Ta rất mong được gặp anh”, Charlotte nói, rồi ngồi xuống và vỗ nhẹ vào chỗ trống bên cạnh bà. “Anh đã viết một bài rất tuyệt về Olivia. Ta chắc chắn là tất cả bạn bè ta đều đã đọc”.
Jack nhăn trán – như thể anh đang nghĩ rằng bà Charlotte ấn tượng bởi cách viết của anh chứ không phải vì anh viết về Olivia.
“Ta rất hài lòng với những gì anh đã viết về con gái ta. Nó là một thẩm phán cứng rắn và một người luôn nghĩ cho quyền lợi của người khác”. Charlotte tiếp tục.
Olivia cảm thấy xấu hổ, nhưng chị biết tốt hơn hết là không nói gì, vì vậy chị chỉ cười thật tươi và cảm thấy hai má nóng bừng.
Charlotte đã thu xếp để Jack ngồi giữa hai người. Olivia nhanh chóng nhận ra những gì đã diễn ra để né tránh. Chị vui vì ở Jack nhưng nếu không có mẹ thì chị sẽ thích hơn.
Không bao lâu sau, Jack và Charlotte đã nói chuyện sôi nổi. Có lúc Jack còn cười phá lên rồi quay sang nhìn Olivia, vừa nhìn vừa cười.
Olivia không hiểu có chuyện gì mà buồn cười thế. Chị đoán là có liên quan đến mình. Mẹ mình nói gì với anh ấy nhỉ. Chắc chắn là những chuyện buồn cười của chị từ hồi còn nhỏ.
“Mẹ em thật vui tính”, một lát sau Jack cúi về phía chị và nói.
“Đúng vậy”, Olivia chỉ biết gật đầu và Jack lại nhanh chóng quay sang Charlotte để tiếp tục câu chuyện. Trong khi đó, Olivia xem chương trình biểu diễn. “Giết con chim nhại” là một vở diễn mà đoàn kịch nhỏ này rất kỳ vọng. Và những ai đã từng xem cũng đều thích nó. Olivia nghĩ là Jack đến để viết bài. Chị đang nhìn quanh rạp hát thì Justine đi vào. Con bé mặc quần đen với một cái áo len màu xanh mềm mại, mái tóc đen dài thả chấm ngang lưng. Nó đang khoác tay Warren Saget và ngước đôi mắt mở to nhìn anh ta âu yếm. Olivia sững sờ. Chị không ưa Warren, chưa bao giờ ưa và chị rất ghét việc con gái mình hẹn hò với anh ta.
Warren đã chuyển đến vịnh Cedar cách đây hai mươi năm. Anh ta mua nhiều mảnh đất và xây dựng hàng loạt nhà. Những ngôi nhà này được xây bằng loại nguyên liệu có lẽ là rẻ tiền nhất nên chúng nhanh chóng xuống cấp. Trước hết là mái bị dột, rồi đến lớp ván gỗ ngoài bị mốc. Tầng hầm bị ngập, tường bị nghiêng, trần bị rạn. Hết vụ kiện này đến vụ kiện khác.
Olivia chẳng nhớ những vụ ấy được giải quyết thế nào. Cũng chính thời điểm đó, cuộc đời chị đang trải qua một loạt đau khổ - nhưng dù dao, Warren và công ty của anh ta vẫn sống sót. Nhưng không chỉ các hoạt động kinh doanh của anh ta làm Olivia khó chịu. Ai mà chẳng biết Warren đã lừa dối vợ ngoại tình lung tung cho tới khi cả người phụ nữ đều nộp đơn ly hôn và rời khỏi thị trấn. Cô vợ gần đây nhất, Saget đã bỏ đi được khoảng năm năm, để Warren tự lo đi lại giữa các cô gái trẻ như một đứa trẻ lang thang trong cửa hàng kẹo ngọt ngào. Olivia đau lòng khi thấy con gái mình ngã vào tay một gã đàn ông ghê tởm như vậy.
Rõ ràng Warren thích người phụ nữ của hắn phải trẻ trung. Càng trẻ càng tốt. Một người phụ nữ như Justine – cao, thông minh và xinh đẹp - điều đó sẽ càng củng cố hình ảnh của hắn. Trông con bé rất được so với hắn, và Warren biết điều đó.
Olivia không biết ý tưởng đi xem kịch là của ai. Chị không nghĩ “Giết con chim nhại” lại là loại kịch mà một người đàn ông như Warren sẽ chọn. Có lẽ, lại mà anh ta thích phải là “Nhà thổ nhỏ tốt nhất ở Texas” thì đúng hơn.
Rõ ràng Justine không nhìn thấy Olivia. Hoặc nếu có, con bé sẽ chọn cách phớt lờ mẹ và bà mình đang ngồi ở hàng ghế trước. Justine và Warren ngồi ở hàng ghế cuối cùng, nơi tối nhất và khó có thể nhìn thấy.
Ngay từ đầu, mối quan hệ này đã khiến Olivia lo lắng, không phải chỉ vì tuổi tác và tai tiếng của Warren.
Những năm qua, Olivia đã theo dõi và nhận thấy Justine thích người nhiều tuổi và đã từng có vài người, tất cả đều na ná như nhau. Mối quan hệ với Warren kéo dài lâu nhất. Cứ nghĩ đến việc con gái mình lấy người như Warren Saget là Olivia lại co rúm người lại. Nhưng ở tuổi hai mươi tám, Justine chưa hề tỏ ra muốn lấy chồng. Olivia cầu nguyện rằng Warren sẽ không phải là người làm con bé thay đổi ý định.
Trái tim mách bảo Olivia rằng thói quen hẹn hò với người hơn nhiều tuổi của con gái chị có liên quan đến cái ngày định mệnh tháng Tám năm 1986. Justine sợ nỗi đau mà sự gần gũi về mặt tuổi tác có thể tạo ra. Cô bé đã ở bên người anh trai sinh đôi khi thằng bé mất và tình yêu thương đã biến thành nỗi đau đớn. Trong lúc quá đớn đau, Olivia không nhận ra những tác hại từ cái chết của người anh sinh đôi đối với con gái mình.
Olivia nghĩ rằng do quá buồn, Justine đã tự dằn vặt mình. Con bé đã ra hồ với Jordan và một đám bạn mà không hề để ý đến anh mình. Thằng bé lặn xuống dưới một vũng tàu đậu, nó đùa giỡn và tự ngụp xuống. Tất cả đều bật cười trước anh chàng hài hước này. Đó là một buổi chiều nóng bức và cả thế giới dường như biến thành một thiên đường đẹp đẽ. Nhưng rồi chỉ trong vài giây, cuộc sống của chúng đã thay đổi. Chúng chẳng bao giờ vô tư được nữa. Làm anh hề cho các bạn, Jordan đã lặn xuống hồ và không bao giờ nổi lên. Đến khi bạn bè phát hiện ra đó không còn là một trò đùa nữa thì đã quá muộn. Jordan đã bị gãy cổ và chết đuối.
Justine bơi ra chỗ vũng tàu đậu và ngồi cạnh thi thể vô hồn của Jordan cho đến khi các nhân viên y tế tới, nhưng chẳng có hy vọng gì. Nhiều tuần sau đó, con bé tội nghiệp thức trắng đêm. Nó như người mất hồn và bị dằn vặt vì cho rằng đáng ra mình đã có thể làm gì đó.
Olivia thấy dằn vặt vì đã không quan tâm đến con nhiều hơn. Giá mà chị để ý hơn đến nỗi đau của Justine, khuyên nhủ con bé, dành thời gian giúp con bé bớt đau khổ… Nhưng tất cả những gì Olivia làm để duy trì cái gia đình nhỏ của mình chỉ là cố gắng quên đi nỗi đau ấy. Vì chồng và hai đứa con, chị đã phải cố gắng tỏ ra mạnh mẽ. Bận bịu với công việc hàng ngày, chị chẳng còn thời gian mà nghĩ nữa. Giả vờ thật sai lầm. Cuộc hôn nhân của chị sụp đổ và cô con gái xinh đẹp thì chẳng bao giờ trở lại như xưa được nữa.
“Anh định gọi cho em”, Jack cắt ngang dòng suy nghĩ của Olivia.
Đó là một tin vui. Olivia cho rằng con gái không nên gọi cho con trai – đó là một suy nghĩ truyền thống mà chị không có ý định thay đổi. Từ khi ly hôn, Olivia có hẹn hò nhưng không nhiều. Bạn bè đã cố giới thiệu cho chị nhưng chẳng thàng công đám nào. Jack có vẻ chờ đợi câu trả lời của Olivia, anh tỏ ý rằng chị nên chào đón cuộc gọi của anh.
“Tôi cũng mong được gặp lại anh”. Đấy, chị đã nói đấy thôi và đúng là như vậy. Chị thích Jack Griffin và rất thích được gặp gỡ cũng như trò chuyện với anh. Jack nhin Olivia với vẻ ngờ vực, như thể không biết có nên tin chị không . Anh đang định nói gì đó thì Bob Beldon bước lên giữa sân khấu. Bob và vợ anh ta, Peggy, quản lý nhà trọ Thyme and Tide. Bob là một người luôn tham gia tích cực vào đoàn kịch.
Ngay khi thu hút được sự chú ý của mọi người, Bob thông báo một chút về mã chống cháy nổ và chỉ cho mọi người các lối ra. Sau đó, anh giới thiệu vở kịch và các diễn viên. Trước khi rời khỏi sân khấu, anh nhìn Jack Griffin và Olivia – và rồi Bob đã làm một việc rất buồn cười. Anh nháy mắt với Jack.
“Thế là sao?”, Olivia hỏi anh.
“Bob là một người bạn của anh”.
“Anh biết anh ấy trước khi chuyển đến vịnh Cedar à?”.
Anh gật đầu lơ đãng trong khi mải theo dõi các diễn viên trên sân khấu. “Đó là cách Bob khuyến khích anh”, Jack lẩm bẩm.
“Để làm gì?”, Olivia nhấn mạnh.
Jack so vai lại. “Để mời em ăn tối”.
Anh liếc về phía chị. “Anh có đùa không?”. Rõ ràng đây là một lời gợi mở.
“Anh đã mời con bé chưa?”. Charlotte vươn người ra để nhìn cả hai cho rõ.
“Cháu vừa mới đấy ạ”, Jack trả lời.
“Mời gì cơ?”. Có ai đó Olivia không nhận ra giọng gọi to từ hai hàng ghế phía sau.
Xấu hổ quá, Olivia thụt vào ghế và so vai lại.
Jack cũng ngồi thụt vào ghế. “Em nhận lời chứ?”.
Chị gật đầu. Ừ, tại sao lại không nhỉ? Cô chẳng đã thú nhận rằng cô rất nóng lòng muốn nghe điện thoại của Jack đấy thôi. Giờ anh đã tiến thêm một bước nữa. Một buổi hẹn hò ăn tối. Cô sẽ có một khoảng thời gian rất thú vị.
 
Sáng thứ bảy, Cecilia thức dậy, cảm thấy hơi buồn bã. Ian chẳng gọi điện cho cô. Có thể anh đã ra biển. Cô không chắc liệu con tàu George Washington đã rời khỏi cảng chưa, nhưng làm thế nào mà cô biết được bây giờ? Cô nghe tin tức từ những lời đồn đại và từ tờ Bản tin vùng vịnh Cedar. Ian cũng chẳng hề nhắc đến việc bị chuyển từ tàu ngầm sang tàu hàng không mẫu hạm. Rõ ràng anh không nói với cô nhiều chuyện.
Lúc này, Cecilia ước gì cô đã kết bạn với những người vợ hải quân khác. Trước đây, cô đã cố gắng, nhưng luôn cảm thấy mình giống như một kẻ không mời mà đến. Những người phụ nữ này đã thành một hội và cô lại là người ngoài. Giữa công việc và thời gian mang bầu, cô không có thời gian hay tình cảm để hoà nhập với họ. Cô đã từ chối những lời mời ít ỏi mà họ đã dành cho cô.
Khi Allison ra đời, chẳng ai tới bệnh viện và sau cái chết của con gái, Cecilia từ chối mọi sự động viên của những người vợ khác, của gia đình Ian ở Georgia, của những người y tá và một cha xứ - nhằm giúp cô đối mặt với mất mát to lớn này. Về phần mình, cô thấy như thế là quá ít ỏi, quá muộn màng. Cha cô ghét những gì liên quan đến chết chóc và tránh cô hoàn toàn. Bên cạnh việc gửi thiệp chia buồn, tất cả những gì ông làm là vỗ vào lưng cô, lẩm bẩm một hai câu an ủi gì đó.
Và Ian… thì đã không có ở đó.
Nghĩ về Ian chẳng tốt chút nào, vụ ly dị vẫn đang lơ lửng, và quả khứ thì lại quá đau buồn, thế là Cecilia đi tắm và thay một cái quần sạch, mặc một cái áo thoải mái.
Thứ bảy được dành cho những việc lặt vặt nhưng hôm nay cô không đủ sức để làm gì nữa. Khi đến siêu thị, cô chỉ mua duy nhất một bó hoa.
Nghĩa địa nằm ở ngoại vi thị trấn. Một làn sương dày tràn tới khiến cô không thể nhìn thấy đường, nói gì đến phía bên kia vịnh và xưởng đóng tàu hải quân. Cecilia cố tình chọn chỗ chôn cất này vì nó nhìn ra căn cứ hải quân.
Có thể như thế chẳng có ý nghĩa gì, nhưng cô muốn con gái gần gũi với cha nó và đây là cách duy nhất Cecilia có thể làm để thực hiện điều đó. Bãi cỏ mềm và ướt, chân cô lún xuống đất khi bước tới bên nấm mộ. Cô quỳ xuống và phủi mấy chiếc lá khô ra khỏi tấm bia nhỏ. Cái bình nhỏ quá, không thể cắm hết chỗ hoa nên cô lựa những bông đẹp nhất để cắm vào trong lọ. Khi cắm xong, cô chia những bông hoa còn lại sang những nấm mộ khác cùng hàng.
Im lặng. Anh mặc chiếc áo mưa hải quân dày, đội mũ thuỷ thủ trắng. Tay anh đút trong túi áo, chống mạng sườn.
“Anh thấy em rời khỏi siêu thị”, Ian lẩm bẩm.
“Anh theo em đến đây à?”. Cô không thích việc đó.
Anh gật đầu. “Đó không phải là một thói quen nếu em nghĩ vậy. Anh chỉ tình cờ nhìn thấy em và muốn nói chuyện với em thôi”. Cecilia cho tay vào túi, chẳng biết nói gì.
“Anh không biết liệu em có đến đây không”. Ian tiếp tục. “Và anh đã đúng”. Anh ngừng lại, nhún vai.
“Anh nghĩ chúng ta có thể nói chuyện”.
Cô đờ người ra. “Nói về chuyện gì nhỉ?”. Lần cuối cùng cô gặp, anh đã say khướt và cãi cọ.
Ian thở dài, liếc qua cô rồi nhìn xuyên qua những nấm mộ. “Anh muốn xin lỗi vì đêm hôm trước đã hành động như vậy ở nhà hàng”.
“Andrew bảo em rằng anh sẽ rời sang tàu George Washington”.
“Ừ. Anh không giải thích rõ về việc chuyển tàu.
“Khi nào anh nhận nhiệm vụ bên chiếc tàu hàng không mẫu hạm đó?”
“Giá em không vội vàng nộp đơn ly dị, em đã biết câu trả lời rồi”, anh không giấu vẻ cay đắng.
“Chúng ta không thể - không thể - nói chuyện mà không mắng mỏ nhau”. Và rồi bây giờ, họ đau đớn khi hai người đứng hai bên nấm mộ của con gái.
“Có sao không?”, anh hỏi. “Anh ở trong ngành hải quân - điều đó không thay đổi”.
Cô lắc đầu. Lý do không quan trọng. Anh nợ cô một lời giải thích. Phòng thủ trở thành một phản ứng tất yếu, một cách khiến con người ta trở nên xa cách. Đặc biệt là anh…
“Tệ thật”, anh mất kiên nhẫn. “Sao nói chuyện với em mà khó khăn thế?”
Anh không biết thật hay sao? Cô còn có thể nói gì nữa nhỉ?
“Như anh đã nói, anh rất xin lỗi về đêm hôm trước. Việc này sẽ không bao giờ xảy ra nữa”. Anh quay đi, bước vội vã.
“Anh đi sớm thế à?”, cô gọi với theo vì không muốn anh bước đi xa.
Anh quay lại, nhìn thẳng cô và gật đầu.
“Em muốn biết về việc chuyển tàu”.
Anh nhìn chằm chằm xuống nấm mộ của con gái. “Anh đề nghị chuyển. Giá mà anh ở trên chiếc hàng không mẫu hạm lúc Allison ra đời, anh đã có thể bay về nhà. Anh đã có thể ở bên em… Anh không muốn rơi vào hoàn cảnh đó một lần nữa”.
Cô không hề biết là lại có thể chuyển như vậy.
“Anh sẽ đi sáu tháng”, Ian bảo cô.
Nghe dài đằng đẵng hơn cả một đời người. Hẳn là cô đã bộc lộ cảm xúc ra mặt khi nghe anh nói thế.
“Anh không thể chịu đựng được”, anh nói.
“Em biết”, cô thì thầm.
“Anh tưởng em lo lắng về việc ly hôn”. Anh luôn ám chỉ việc đó, nhấn mạnh vào đó là quyết định của ai. “Hoãn lại cũng chẳng sao”, cô bảo anh. “Mà em cũng chẳng còn tiền để trả lệ phí thuê luật sư”.
“Anh tưởng em muốn đưa việc của chúng mình ra Trung tâm giải quyết tranh chấp?”.
“Em định thế nhưng nếu anh ở ngoài biển, như thế là lãng phí thời gian, phải không?”. Cô có thể nhờ từ vấn một bên thứ ba không thiên vị, nhưng nếu Ian không có ở đó, sẽ chẳng giải quyết được việc gì.
“Trên luật pháp, chúng ta vẫn là vợ chồng – đúng không?”
Cecilia đoán cách anh nói vậy nghĩa là anh thấy hối hận về lời gợi ý giả vờ đã ly hôn tuần trước của anh.
“Vâng”, cô đáp lời anh. “Anh không cần lo lắng rằng em sẽ hẹn hò với một ai đó khác”.
Anh nhíu mày.
Có lẽ cô hiểu sai ý anh. “Anh định nói thế phải không?”. Cô không thể nhớ lại phản ứng của anh với người đàn ông trong quán bar.
Anh ngây ra nhìn cô. “Không, nhưng anh rất vui khi nghe em nói vậy. Chẳng người đàn ông nào thích nghĩ rằng vợ mình ở bên một người khác, dù là trong bất kỳ tình huống nào”.
Giờ thì Cecilia bối rối. “Chính xác là anh đang nói gì? Anh có muốn chúng mình là vợ chông không? Hay anh chỉ muốn em nhớ rằng trên luật pháp em vẫn còn ràng buộc với anh?”.
“Anh muốn em nhớ rằng chúng ta gắn bó với nhau - cả trên luật pháp và cả về tài chính cho đến khi nào làm rõ được mọi chuyện, thế được chưa?”
Cecilia khoanh tay, gật đầu. Cô cảm thấy không thích lý do anh đưa ra.
“Lần trước anh đi xa…”. Anh ngừng lại và liếc về phía mộ của Allioson. “Em thanh toán các khoản trả bằng thẻ tín dụng. Vì chúng ta vẫn còn là vợ chồng, về pháp lý, anh chịu trách nhiệm thanh toán những hoá đơn đó, vì vậy, nếu em nói cho anh biết thì tốt”.
Giá anh đấm cho cô một quả có khi còn đỡ đau lòng hơn.
“Ý anh là anh lo em sẽ tiêu nó trong thời gian anh ngoài biển à?”. Cô không thể tin được anh lại nói thế. “Từng xu em tiêu, từng xu lấy từ thẻ đó đều dùng vào việc chôn cất Allison”. Cecilia bắt đầu run lên, ban đầu là vì giận dữ, rồi nỗi giận dữ bùng lên. Sao anh dám? Làm sao anh lại dám! Nếu cô cần một lời nhắc nhở rằng tại sao cô lại không thể chịu đựng được cuộc hôn nhân này thì đây chính là một trong những lời nhắc nhở đau đớn nhất.
“Anh không có ý như em hiểu”, anh nói.
“Sẽ không xảy ra nữa đâu”, giọng cô lạnh tanh.
Ian lắc đầu. “Thậm chí anh cũng chẳng biết tại sao anh lại nhắc việc đó. Anh xin lỗi”.
Cô lờ anh đi. Cô chẳng việc gì phải trả lời.
“Lần nào cũng thế”, anh điên tiết. “Anh cố gắng nói chuyện với em, cố cởi mở mọi vấn đề và em phủ đầu anh như thể anh không có mặt ở đây”.
Tay cô chôn sâu trong túi, đầu cúi xuống. “Mỗi xu trong đó, em đều dùng vào việc chôn cất con gái chúng ta”, cô nhắc lại. “Và hoá đơn ba trăm đô la tiền điện thoại… em biết nó làm anh buồn, nhưng…”.
Bất chợt cô không thể nào kiểm soát giọng nói, cảm xúc của mình nữa.
“Nhưng đó là cho em!”. Cô gào lên, mắng chửi anh, lôi cả hai người vào nỗi đau đớn và giận dữ của cô. “Ngày hôm đó có tới hai đám tang chứ không phải chỉ có một. Một là đám tang của Allison và đám tang thứ hai là của chính bản thân em. Xin lỗi Ian, vì em quá yếu đuối, nhưng em không như anh. Em cần mẹ em… Em cần nói chuyện với ai đó. Bố em không thể xoa dịu em mà anh thì không có ở đây. Mẹ em…”. Vì không muốn anh nhìn thấy những giọt nước mắt tủi thân của mình, cô quay đi và bắt đầu cuống cuồng tìm trong tủi.
“Cecilia?”.
Cô đã tìm được thứ mình muốn và kéo cái cặp tài liệu nhỏ bằng nhựa ra. “Đây”, cô gào lên và lấy tấm thẻ tín dụng ra rồi vứt vào anh. Tấm thẻ rơi xuống nền cỏ xanh ẩm ướt. “Cầm lấy đi! Tôi không cần…”.
Anh ngập ngừng một lúc rồi mới nhặt lên. “Em hãy cầm để sử dụng trong những trường hợp khẩn cấp”.
Như thể cái chết của con gái cô không phải chỉ xảy ra một lần vậy.
Cô lắc đầu lia lịa. Có chết cô mới sử dụng thẻ tín dụng có tên của anh. Cô sẽ tự làm cho mình một cái. Một cái mang tên thời con gái của cô. Ian kiểm tra cái thẻ, tay anh lần lần trên những chữ nổi của cái tên Cecilia Randall.
“Anh không đến đây để lấy thẻ tín dụng”.
“Được, giờ thì anh có rồi đấy”, cô thẳng thừng trả lời anh mà chẳng thèm nhìn vào mặt chồng.
Ian không nói gì. Phải mất một lúc lâu. Cuối cùng anh thì thầm, “anh xin lỗi, Cecilia”.
“Lần này là vì cái gì?”
Lại im lặng. “Anh sắp đi xa sáu tháng trời”, anh lẩm bẩm. “Anh ước gì mình có thể giải quyết việc ly hôn trước khi đi, nhưng…”.
Họ đã từng chia tay nhau quá nhiều lần rồi.
“Anh muốn đi mà giữa chúng ta không có cảm giác buồn. Anh biết, em chẳng muốn là vợ anh thêm một chút nào, nhưng chúng ta không thể làm được gì khác trong chuyện này”.
“Và ý của anh là?”, cô đau khổ hỏi anh.
“Tệ thật, Cecilia, em có muốn lắng nghe anh nói không? Đây có phải là những gì em muốn không? Đây có phải là cách em muốn không? Anh thì không. Anh theo em đến đây bởi vì anh nghĩ… Anh hy vọng chúng ta sẽ có cơ hội để kết thúc chuyện này một cách thân thiện”.
“Chẳng có cuộc ly hôn nào thân thiện hết”.
“Em nói đúng, nhưng em có muốn không”.
Không hề. Cô biết vì sao anh tới. Ian sẽ ra biển trong ít ngày và khi ra đi anh không muốn trong đầu vẫn áy náy về cô.
“Tạm biệt Ian”, cô dịu dàng. “Chúc anh một chuyến đi tốt đẹp”.
Anh cau có như thể không biết có nên tin cô không. “Em nói thật không?”. Cô gật đầu “Em không muốn chiến tranh, em không bao giờ muốn. Anh cứ thanh thản mà ra đi. Khi anh trở về, chúng ta sẽ giải quyết mọi chuyện trước pháp luật”.
“Cảm ơn em”. Rõ ràng anh được giải thoát và khi quay đi, ánh mắt anh dịu lại. Cecilia nhìn anh biến mất trong làn sương và nhìn theo tới tận khi bóng anh khuất.
Cô nhắm mắt lại, tưởng tượng ra cảnh chia tay nếu Allison còn sống. Cô sẽ đứng ở cầu tàu với những người vợ hải quân khác và Ian sẽ hôn tạm biệt cô, hôn Allison và lại hôn cô lần cuối. Sau đó, anh chạy đến chỗ chiếc tàu hàng không mẫu hạm còn cô ôm con trong tay, giơ cánh tay nhỏ xĩu của Allison lên vẫy vẫy để con bé có thể tiễn cha mình đi. Nhưng thay vào đó, họ lại đang cố chia tay nhau khi đứng bên nấm mộ của đứa con thân yêu.
 
Những ngày cuối tuần, Justine tránh mẹ mình và cô có lý do. Cứ mỗi khi hai mẹ con ở gần nhau, Olivia lại chỉ trích Warren. Mẹ cô không nói thẳng mà cứ bóng gió xa xôi. Chẳng hạn, mẹ nhắc đến những chuyện nghe được về các bà vợ trước của anh ta. Hoặc nhắc tới những vấn đề những toà nhà mà công ty anh ta đã xây dựng.
Theo quan điểm của Justine, việc cô gặp gỡ Warren không phải là việc của mẹ. Đúng, anh ta có nhiều tuổi một chút. Và cô thú nhận rằng có những tai tiếng về anh ta, nhưng đó không phải là chuyện quan trọng nhất. Có những chuyện về Warren mà mẹ cô và hầu hết những người khác đều không biết và sẽ chẳng bao giờ được biết. Warren tin tưởng cô và với cô, niềm tin của anh ta cực kỳ có ý nghĩa. Lý do thứ hai cô trách mẹ mình là có liên quan tới James. Một năm trước, em trai cô lặng lẽ vào ngành hải quân. Lần đầu tiên xa nhà nên cậu ta rất nhớ gia đình. Mẹ rất bực về cậu. Giờ em trai cô đã có một quyết định thay đổi cả cuộc đời và cậu để chị mình thông báo với gia đình.
“Nói với mẹ hộ em”, cậu ta nài nỉ và vì yêu quý em nên cô đã ngốc nghếch đồng ý. Justine chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi sự giận dữ của mẹ mình. Sáng thứ hai, cô quyết định gọi cho bà ngoại và để bà Charlotte thông báo tin
0
Từ trang 363 tới trang 391
trấn của tôi đấy". Bob và Peggy đã được nuôi nấng ở vịnh Cedar. Họ cùng tốt nghiệp đại học, rồi Bob phải

đi lính, lên đường chiến đấu ở Việt Nam. Khi trở về anh bị những con quỷ săn đuổi - những con quỷ của kí

ức và của những điều đã trải qua trong cuộc chiến khủng khiếp đó. Chúng đã đẩy anh chìm trong rượu để

tìm sự quên lãng và thanh thản giả dối. Jack đã gặp Bob tại trung tâm cai nghiện, và từ đó họ bắt đầu một

tình bạn lớn dần theo năm tháng. Mặc dù đã mười năm rồi không uống rượu, nhưng những năm tháng

nghiện ngập đó vẫn để lại hậu quả cho tới tận bây giờ. Con trai anh, Eric, đã không chịu thừa nhận anh. Và

chỉ gần đây, nó mới bắt đầu tin tưởng và liên lạc với Jack.
"Tối nay chúng ta ăn ngoài hiên đi", Peggy đề nghị, và bước đến bên hai người đàn ông.
Jack rất ủng họ ý kiến đó. Sau một tuần đổ mưa liên tục, buổi tối hôm nay bầu trời thật quang đãng và ấm

áp. Một làn gió nhẹ từ mặt nước thổi vào, đem theo vị mặn phảng phất của biển.
"Toà soạn của anh thế nào rồi ạ?", Peggy vừa nói vừa ngồi xuống chiếc ghế đan bằng liễu gai cạnh Bob.
"Rất phát triển". Jack tự hào. Tám tháng qua anh đã tiến hành nhiều thay đổi, tăng thêm một số báo nữa

vào mỗi tuần và luôn hết mình cho công việc. Một trong những đổi mới được biết đến nhiều nhất của anh là

nhờ Charlotte Jefferson. Chuyên mục Người cao tuổi của bà đã trở thành tâm điểm của cả thị trấn. Mẹ của

Olivia đúng là có năng khiếu viết báo bẩm sinh. Mục chuyện phiếm của bà vào thứ Tư hàng tuần là những

mẩu tin về tình hình diễn ra ở thị trấn. Nếu Samuel, cháu trai bà tới thăm, Charlotte thông báo tin tức. Nếu

con chó nhà Robertson sinh con, bà viết về chúng, đảm bảo đó là lứa chó rất đẹp. Bà nêu cách làm và lời

khuyên cho những bà nội trợ truyền thông. Có ai biết giấm có rất nhiều công dụng không? Bà viết về quá

khứ, lịch sử còn đang tranh cãi của thị trấn, đặc biệt là những sự kiện diễn ra thời Thế chiến II. Và bà đưa

vào đó những nhận xét tinh tế của mình.
"Thế còn anh?", Peggy hỏi. "Anh dạo này thế nào?".
"Tôi ấy à?".
"Anh có hạnh phúc không?".
"Tôi khoẻ mạnh, không rượu chèm với tôi như thế là tốt rồi".
"Còn Olivia?". Bob hỏi.
Người bạn đã hỏi câu anh không hề muốn trả lời. Jack nhún vai.
"Có chuyện gì vậy?". Peggy ngạc nhiên. "Vài tuần trước, anh còn rất nhiều chuyện để kể về cô thẩm phán

của anh cơ mà".
"Cô ấy đang yêu chồng cũ", anh nói vẻ chán chường. Anh đọc được điều đó khi nhìn vào ánh mắt Olivia

vào cái ngày co trở về nhà sau chuyến đi tới California. Kể từ đó, anh chỉ còn nói chuyện với cô có một lần,

khi cô gọi điện huỷ cuộc hẹn của họ vào ngày thứ Tư kế tiếp. Sau lần ấy, họ không liên lạc với nhau nữa.

Anh thở dài, nhớ lại cảnh Olivia từ sân bay trở về cùng người chồng cũ. Họ ngồi trên chiếc ôtô mui trần

màu đỏ, và lái trong tiếng nhạc réo rắt. Họ chỉ đắm đuối nhìn nhau mà không quan tâm đến bất kỳ điều gì

khác. Bất cứ ai gặp họ cũng đều nghĩ họ là một cặp tình nhân. Jack không phải là người sợ thử thách,

nhưng anh đủ khôn ngoan để tránh sự thua thiệt - ví dụ như yêu người đàn bà mà người đó vẫn dành tình

yêu cho chồng cũ.
"Anh tưởng Stan đã lấy người khác", Bob nói, quay sang phía Peggy.
"Đúng thế mà".
"Điều ấy chẳng thay đổi được tình cảm của Olivia đối với anh ta", Jack khăng khăng.
"Anh đã hỏi cô ấy về chuyện đó chưa?".
Jack lắc đầu. Anh đổi sang chủ đề khác. "Hai người có tin tức gì của bọn trẻ không?". Bob và Peggy có

hai người con; Hollie, con cả, sống ở Seattle và Marc, con út, đang ở Kansas.
"Chúng đều khoẻ", Peggy nói. "Anh có tin gì của Eric không?"
Con trai anh không thèm giữ liên lạc với bố, nhưng anh không hề giận con vì điều đó. Ngay từ lúc Eric sinh

ra anh đã không ở bên con, mà cũng chẳng bao giờ động viên về mặt tinh thần. Nên việc nó tỏ thái độ lạnh

lùng xa cách anh cũng là điều dễ hiểu.
"Không nhiều lắm", anh thú nhận.
"Lần cuối cùng anh nói chuyện với thằng bé là khi nào?".
Jack nghĩ lại. Sau bữa tối của họ cùng Olivia, anh đã gọi điện mời Eric tới vịnh Cedar, nhưng con trai anh

từ chối, và đưa ra lí do rất hợp lý: cậu ta có hẹn. Đây không phải là lần đầu tiên Eric nhắc tới cô gái cậu ta

đang hẹn hò. Shirley hay Shelly - tên co gái ấy đại loại thế. Thấy Eric khá nghiêm túc trong mói quan hệ

này, Jack đã rất vô tâm mắc phải một sai lầm nghiêm trọng, là khuyên Eric rằng đã đến lúc nó nên nghĩ đến

chuyện lấy vợ để ổn định cuộc sống. Con trai anh đã nhìn anh với anh mắt vô cùng giận dữ và thất vọng.
Phản ứng của Eric hoàn toàn có lí do chính đáng. Cậu không còn khả năng làm cha nữa. Hàng đống thuốc

phải uống từ hồi còn nhỏ đã khiến cậu bị vô sinh. Cậu thậm chí còn không dám kể cho Shirley... hay Shelly

gì đó nghe về điều này vì sợ ta thất vọng. Bởi cậu hiểu là cô ta đang rất muốn có một gia đình cùng với

những đứa con đáng yêu của riêng mình. Cuộc nói chuyện đã kết thúc ở ký ức không mấy dễ chịu ấy, và

từ đó Jack cũng không gọi cho con trai nữa.
Rồi anh sẽ sớm gọi, nhưng anh biết Eric cần thời gian để có thể tha thứ cho những nhận xét bất cẩn của

anh. Anh mong mỏi một lối thoát cho cả hai cha con, chứ không phải là sự sụp đổ nền móng vốn rất mong

manh mà anh đã nhọc công xây dựng lên.
"Nửa tiếng nữa bữa tối sẽ sẵn sàng", Peggy nói, để hai người đàn ông lại với nhau. Một phút sau, cô quay

lại mang theo một đĩa sa-lát to.
"Để tôi giúp", Jack nói.
"Không cần đâu". Peggy gạt phăng đề nghị của anh. "Hai anh chơi bài kip-bi đi. Anh Bob đã chờ giờ phút

này suốt cả ngày hôm nay đấy".
Bob đã đặt sãn bảng ghi điểm trên bàn, và Jack ngồi đối diện với anh, quay lưng ra biển. Anh không muốn

bị phân tán bởi khung cảnh tuyệt vời ngoài kia. Bob chơi khá giỏi, đã thế lại còn nhanh và quyết đoán, nên

Jack phải hết sức cảnh giác.
"Peggy đang xảy ra chuyện gì vậy?" Jack hỏi sau khi Bob thắng ván đầu tiên.
Bob đặt xấp bài sang một bên rồi với lấy bảy quân bài. "Sao anh lai hỏi thế?"
Jack không biết. Peggy vẫn nồng nhiệt và cởi mở như thường lệ, nhưng anh cảm thấy cô đang có chuyện

gì đó.
Mặc dù tỏ ra chăm chú nghiên cứu những quân bài của mình, nhưng Bob vẫn lén quan sát người đan ông

trầm tư đang ngồi đối diện với mình.
"Tệ thế sao?". Jack đùa.
Bob nhíu mày ngượng ngùng.
"Ý tôi là những quân bài ấy", Jack giải thích.
"Không, không". Bob cười gượng gạo.
Jack đặt những quân bài sang một bên."Chuyện của anh là Peg vẫn ổn chứ?", anh hỏi, giọng đầy lo lắng.
"Sau ba mươi hai năm, anh nghĩ sẽ có chuyện không ổn sao?"
"Tôi không biết nữa". Anh rất muốn có bằng chứng về một cuộc hôn nhân vững chắc, chỉ để chứng minh

rằng chúng vẫn còn tồn tại trong thời buổi của những cuộc ly hôn dễ dàng này. Một cuộc hôn nhân nếu

vượt qua được giai đoạn khủng hoản thì sẽ trở nên bền chặt hơn bao giờ hết. Anh nghĩ đến người vợ cũ -

và nghĩ đến Olivia. Anh chưa bao giờ nghĩ về ai với ham muốn mãnh liệt đến thế.
"Jack?". Giọng Bob phá vỡ dòng suy nghĩ của Jack. Anh ngước lên.
"Anh định nhìn chằm chằm những quân bài cả buổi tối hay định đánh bài đây?"
"Dĩ nhiên là đánh chứ".
"Anh đang nghĩ gì à?". Bob hỏi.
"Nghĩ gì là nghĩ gì?". Jack nói.
Bob cười lớn, rõ ràng anh có khả năng nhìn thấu tâm tư người khác. "Ví dụ như Olivia".
Jack nhún vai. "Tôi dễ bị đọc suy nghĩ đến thế sao?".
Bob cười khùng khục. "Không hơn tôi và Peg là bao".
"Không có trục trặc gì, đúng không?". Jack không muốn nói ra những nghi ngờ của mình, nhưng ý nghĩ về

những rắc rối giữa Bob và Peggy cứ đè nặng trong tâm trí anh. Theo anh biết, họ là một cặp vợ chồng đã

tìm được hạnh phúc và sự gắn bó với nhau qua ba mươi hai năm. Trong ba mươi hai năm ấy họ đã cùng

nhau vượt qua bao khó khăn thử thách.
"Chúng tôi ổn. Còn anh?"
"Tôi không sao, chỉ hơi thất vọng".
"Về Olivia?"
Jack gật đầu, và không nói gì thêm.
Họ kết thúc ván bài thứ nhất đúng lúc Peggy làm xong bữa tối và sẵn sàng dọn bàn ra. Thức ăn ngon cùng

bạn hiền đúng là một điều tuyệt vời. Đó là bữa ăn ngon miệng nhất của anh trong mấy tuần qua, nhưng

Jack khẳng định bạn hiền còn quan trọng hơn cả thức ăn ngon.
Tai nạn trên tàu George Washington đã tạo nên những hàng tít lớn trên các tờ báo quốc gia trong mấy

ngày liền. Ngày nào Cecilia cũng liên lạc với Ian. Mấy hôm nay không ngồi vào máy tính nên Cecilia chọn

cách viết ra những suy nghĩ của mình. Những lá thư này sẽ phải mất một tuần hoặc lâu hơn mới tới được

tay anh, nhưng Ian nói rất muốn được đón nhận tin tức của cô ở bất kỳ hình thức nào. Vì chỉ mất hai buổi

để hoàn thành các bài thi cuối kỳ nên Cecilia có trọn một ngày không phải tới trường. Vì chiều muộn mới

phải làm nên cô quyết định lên kế hoạch dành cả buổi sáng cho Cathy.
Sau cuộc kiểm tra sức khoẻ ở bệnh viện hải quân, vị bác sĩ bảo Cathy rằng thai nhi khoẻ nhưng khuyên cô

nên thôi công việc thu ngân ở cửa hàng tạp hoá của thị trấn. Đứng suốt tám tiếng một ngày không tốt cho

cả cô lẫn đứa con. Vì không muốn liều lĩnh, Cathy ngay lập tức nghe theo lời bác sỹ.
Khi Cecilia tới nhà bạn, cô thấy Carol Greendale và con gái Amanda cũng tới chơi. Cecilia đổi ý và quay đi.

Nếu Allison còn sống, con gái của Carol chỉ hơn con bé một hoặc hai ngày tuổi. Cecilia sợ phải gặp đứa

trẻ này vì nó nhắc cô nhớ tới con gái bé bỏng của mình.
"Chào Carol", cô nói bằng một giọng thân thiện, giả vờ như mình đang rất vui vẻ. Cô bé Amanda chập

chững bước một cách vui sướng quanh căn hộ và khám phá những thứ nhìn thấy, nó với tay lấy cuốn

sách trên kệ, hay túm những thứ đồ lặt vặt mà nó nhìn thấy, rồi lôi rèm cửa.
"Lại đây, Amanda", Carol gọi, dang tay đón con gái. Đứa trẻ lập tức chập chững bước về phía người mẹ,

nó hét lên thích thú.
"Mình vui vì cậu đã đến", Cathy nói, nắm chặt tay Cecilia như thế muốn nói rằng cô hiểu Cecilia đang nghĩ

gì.
"Chúng tôi chỉ đang nói về tàu George Washington thôi", Carol giải thích, kéo đứa bé vào lòng.
"Carol vừa báo cho mình một tin mới đấy", Cathy nói.
"Tôi vừa được tin họ đang quay trở về", Carol tiết lộ.
"Tàu George Washington sẽ trở về xưởng đóng tàu ở Bremerton ư?". Cecilia muốn chắc chắn không có sự

hiểu nhầm nào. Địa điểm sửa chữa con tàu vẫn chưa được quyết định kia mà.
"Đúng!". Cathy vui mừng khẳng định.
"Khi nào họ về tới nơi?". Niềm vui cũng dâng lên trong giọng nói của Cecilia.
"Không lâu đâu".
Cecilia lại cảm thấy tràn đầy hy vọng về cuộc hôn nhân của mình, đặc biệt là sau vài tuần qua. Ngày nào

Ian cũng gọi điện về cho cô. Ban đầu, phần lớn cuộc trò chuyện của họ xoay quanh những câu chuyện bình

thường, những thông tin hàng ngày. Nhưng rồi mỗi tuần trôi qua, cả hai đều có chung cảm giác là mình đã

sẵn sàng đối mặt và dần vượt qua được nỗi đau khổ của quá khứ, về con gái họ và cái chết của cô bé.
Trong lúc nói chuyện, Cecilia nhân ra cô đã đổ quá nhiều lỗi cho Ian. Cô không có ý đó, nhưng vì quá đau

buồn và khổ tâm, cô đã mắng anh không tiếc lời. Lúc đó cô cũng biết mình thật vô lý, nhưng cô không ngăn

nổi những phản ứng ấy. Còn Ian, vì chính bản thân cũng bị sốc, nên anh không thể giúp gì nhiều cho

Cecilia. Gần một năm qua, mỗi người đều nhân ra những sai lầm của mình và ý thức được rằng điều đó đã

suýt nữa phá hỏng cuộc hôn nhân của họ.
"Để tôi lấy cho cháu bé chiếc bánh quy", Cathy vừa nói vừa đi vào trong bếp.
"Không cần đâu", Carol nói.
"Tôi thích thế mà".
Cathy nhìn về phía Cecilia.
"Lại giúp mình một tay", cô nói nhỏ.
Cecilia đứng lên đầy sốt sắng.
Carol có vẻ bối rối và hơi ngại khi nhìn thấy Cathy muốn tra đổi riêng với Cecilia. Cecilia cảm thấy không

nên, nhưng rõ ràng là Cathy đang có điều quan trọng muốn nói với cô.
"Andrew biết chuyện đứa bé rồi", Cathy thì thầm ngay khi họ bước vào trong bếp.
"Sao anh ấy lại biết được?"
"Mình đã nói. Mình cần phải nói. Anh ấy cần biết tại sao mình lại bỏ việc. Mình đã cố tránh sự thật, nhưng

bọn mình đã hứa sẽ chẳng bao giờ nói dối nhau, vì thế mình... mình đã giải thích rằng mình có thai".
"Và?"
Cathy nhìn chằm chằm xuống sàn nhà. "anh ấy sợ, giống mình, và thấy buồn vì mình đã không nói sớm

hơn".
"Mình chắc chắn anh ấy rất xúc động".
Cathy gật đầu. "Mình biết. Bọn mình rất muốn có đứa trẻ này".
Cathy sắp sửa đầm đìa nước mắt và chắc chắn sẽ bật khóc nếu Amanda không la toáng lên. Cô vội vã tìm

chiếc bánh quy rồi mang ra phòng khách.
Carol đang thu dọn dồ chơi. "Đến lúc tôi phải về rồi", cô khẽ nói.
"Chị vừa mới tới mà", Cathy phản đối.
"Tôi biết... chỉ là...". Cô liếc nhìn Cecilia, như thể muốn nói Cathy đã có bạn, và rõ ràng cô không được

chào đón.
Cathy hiểu ngay, cô lắc đầu. "Hi vọng chị thứ lỗi cho tôi vì đã thiếu tế nhị, nhưng tôi cần cho Cecilia biết

mọi chuyện. Tôi không có ý đuổi chị về".
"Tôi hiểu", Carol nói. Cô dang tay đón Amanda, nhưng cô bé lại tránh vòng tay mẹ và chập chững tiến về

phía Cecilia. Đứa trẻ chợt loạng choạng, theo bản năng Cecilia đưa tay về phía trước. Amanda cười toe

toét, nước dãi vương trên cái miệng xinh xắn. Cô bé đứng nhìn Cecilia chằm chằm, đôi mắt lộ vẻ thích thú.
Cecilia bất động, mắt không rời khỏi đứa bé mà lẽ ra trong hoàn cảnh khác cũng có thể trở thành con của

cô. Cô bé Amanda đáp lại ánh nhìn, rồi lại toét miệng cười và giơ tay ra như muốn Cecilia bế.
Một cách vô thức, Cecilia cúi về phía trước và bế đứa trẻ lên. Như hiểu được tầm quan trọng của giây phút

ấy, Amanda vòng cả hai cánh tay mũm mĩm quanh cổ Cecilia. Cecilia biết cô bé đang thích thú, nhưng cô

có cảm giác đứa trẻ này cảm nhân được trọn vẹn tình yêu trong trái tim cô dành cho Allison. Ôi! Con của

cô! Cô sẽ chẳng bao giờ được ôm lại nó trong vòng tay, chẳng bao giờ được hát ru hay hôm tạm biệt nó

trước khi đi ngủ nữa.
Cathy và Carol đứng lặng yên trong giây lát, quan sát phản ứng của Cecilia với Amanda. Cecilia nhẹ nhàng

hất mấy lọn tóc lưa thưa trước trán đứa trẻ, hôn lên đó, và đặt cô bé trở lại sàn nhà, Amanda loạng

choạng, rồi lấy lại thăng bằng bước chập chững về phía mẹ.
"Carol, tôi cũng sẽ cho chị biết điều mà tôi đã nói với Cecilia lúc trước", Cathy nói. "Tôi... tôi vừa thôi việc.

Lý do là tôi đang có thai".
Mắt Carol sáng ngời. "Tuyệt quá!". Nụ cười dần tắt khi cô nhận ra cả Cathy và Cecilia đều không vui mừng.

"Có chuyện gì thế?", cô hỏi, hết nhìn người này rồi lại nhìn người kia. "Chị không vui sao?"
Cathy nhanh chóng khẳng định với Carol rằng cô rất vui, nhưng cô giải thích thêm.
"Chỉ là hai lần trước tôi bị sảy thai, nên lần này tôi thấy sợ lắm".
"Nếu là chị tôi cũng sẽ thế". Carol đưa chiếc bánh quy cho Amanda; cô bé hài lòng ngồi trên sàn nhà gặm

bánh. "Tôi xin lỗi, Cathy. Thậm chí tôi còn chẳng tưởng tượng ra...".
Cô quay sang Cecilia. "Chẳng phải cô cũng vào viện sinh cùng với tôi sao?", Carol hỏi.
Cecilia gật đầu. "Con gái tôi được đặt tên là Ailison".
"Tôi nhớ. Tôi luôn muốn nói cho chị biết rằng tôi đã cảm thấy buồn như thế nào, nhưng cô... dường như cô

không muốn nói chuyện với ai".
"Giờ tôi thấy hối hận", Cecilia nói. "Lẽ ra tôi đã có thể có một người bạn như chị".
"Bản thân tôi cũng thế, lẽ ra tôi cũng đã có một người bạn", Carol nói.
Cecilia chợt nhận ra một điều rằng: đằng sau các vị anh hùng của quân đội luôn có những người vợ.

Nhưng người phụ nữa này - và cô cũng là một người trong số đó - luôn biết mình ủng hộ chồng làm tròn

nhiệm vụ với đất nước. Họ chính là nguồn động lực để những người lính hòan thành trọng trách của mình.

Và họ cũng luôn sẵn sàng quan tâm, chia sẻ và bao bọc lẫn nhau.
"Tôi không biết lần mang thai này sẽ như thế nào", Cathy nói, "nhưng tôi biết tôi và anh Andrew sẽ cùng

nhau vượt qua, cho dù có chuyện gì xảy ra chăng nữa".
Cho dù chuyện gì xảy ra, Cecilia trầm ngâm. Nếu bạn cô có thể dũng cảm đến thế, thì tại sao cô lại không

chứ.
Về nhanh lên, anh Ian, cô cầu mong. Hãy bình an và nhanh chóng trở về.
Chương 16
Nếu không vì Olivia thì Grace đã bỏ lớp học thể dục nhịp điệu tối thứ tư hàng tuần từ nhiều năm trước rồi.

Nhưng bây giờ, nguyên nhân khiến chị chăm chỉ tập luyện lại xuất phát từ sự biến mất của Dan. Bởi

Grace nhận ra rằng vận động là cách giải tỏa căng thẳng tốt nhất. Chị chưa bao giờ vã mồ hôi nhiều đến

thế. Từng phút giây vận động đều được chị thực hiện bằng toàn bộ sức lực và sự nhiệt tình trong mình.

Trước đây, chị luôn là người tụt lại phía sau; giờ chị vươn lên dẫn đầu lớp về sự hăng hái.
"Bắt kịp câu, tớ sẽ chết mất", Olvia phàn nàn khi theo Grace vào phòng tắm. "Gần đây cậu sao thế?"
Cứ nhu Olivia không hề biết chuyện gì đã xảy ra với Grace vậy. "Cậu còn phải hỏi?"
"À, ừ. Tớ hiểu cậu buồn về chuyện của Dan".
"Chưa đúng được một nửa".
Olivia dùng khăn lau mặt. "Cậu ăn tối chưa?"
Grace lắc đầu. Có một thân một mình nên chị chỉ cần ném đồ đông lạnh vào lò vi sóng một lúc là xong. Thứ

Tư hàng tuần, chị thường bỏ luôn cả bữa tối. Lúc về đến nhà sau buổi tập thể dục nhịp điệu, chị mệt đến

mức chẳng muốn ăn.
"Chưa".
"Cậu có muốn ăn Pancake Palace không?". Olivia gợi ý.
Grace không đói, nhưng chị cũng muốn đến một nơi vắng vẻ. "Được thôi".
Chị tận dụng thời gian tắm rửa và thay quần áo. Đã vài tuần nay chị chỉ tán gẫu với bạn bè, và giờ chị mong

có một cuộc nói chuyện nghiêm túc. Đương nhiên chị và Olivia rất hay gặp nhau, nhưng họ lai hiếm có cơ

hội nói chuyện trừ vài câu hỏi han qua loa.
Lúc Grace đến, Olivia đã tìm được một chỗ. Chị ngồi xuống, đối diện với Olivia và với tay lấy thực đơn để

sau hộp đựng giấy ăn.
"Chẳng phải đây là quán ăn phía sau trường học của chúng ta sao?". Olivia nói.
Grace phải nghĩ một lúc. Đúng không nhỉ? "Tôi không nhớ, nhưng chắc là thế".
"Cậu còn nhớ Kenny Thomas đã chia tay tớ như thế nào ở quán Pancake Palace này không?".
Olivia nhắc chị nhớ lại.
"Tên Sở Khanh".
Họ nhìn nhau mỉm cười, và cùng quay lại những ký ức ngày xưa. Nhưng Grace không thấy vui nữa khi

chợt nhớ đến những lần gặp Dan ở đây trong suốt thời gian học trung học. Cuộc sống của chị sẽ khác

như thế nào nếu anh chia tay chị, hay chị có can đảm trả lại chiếc nhẫn anh tặng. Thậm chí ngay cả sau

đó, khi vẫn đang tiếp tục học, Grace đã có cảm giác là họ sẽ không thể mang đến cho nhau những điều tốt

đẹp. Từ tận đáy lòng, Dan cũng hiểu điều đó. Nhưng ngay trước ngày tốt nghiẹp, Grace phát hiện rằng

mình có thai, Dan nói rằng anh muốn cưới chị và chị đã thuyết phục bản thân rằng đó là việc nên làm.
"Cách đây không lâu tớ và Kelly đã cùng ăn tối tại đây", Grace nói, tự phá vỡ dòng suy nghĩ của mình

trước khi rơi vào vực sâu của đau đớn và giận dữ. Đó là buổi tối Kelly thuyết phục chị không nộp đơn ly dị.

Chị đã hối hận vì quyết định ấy.
"Tớ ghen tị trước mối quan hệ của cậu với các cô con gái", Olivia thú nhận.
"Chẳng phải cậu và Justine cũng hòa thuận lắm sao?".
Olivia khẽ nhún vai. "Mẹ con tớ khong cãi nhau, nếu cậu muốn nói như thế, nhưng cũng chẳng cởi mở với

nhau. Theo thông tin tớ nhận được, Warren đã đề nghị con bé lấy anh ta, nhưng nó thậm chí còn không

thèm cho tớ biết chuyện anh ta cầu hôn nó".
"Chắc con bé biết cậu sẽ phản đối".
Olivia chuyển sang đâm chiêu. "Tớ đã thề là sẽ không phản đối, nhưng điều đó chẳng dễ chút nào".
Sự biến mất của Dan đã làm được một điều, đó là đưa Grace đến gần các con gái hơn. Họ nói chuyện với

nhau ít nhất một lần một ngày, phần lớn là để khuyến khích và động viên nhau. Sau cuộc nói chuyện gần

đây nhất, họ quyết định không thể kéo dài tình trạng không biết tin tức gì về Dan thêm nữa. Các con gái chị

sẵn sàng hỗ trợ phí tổn thuê thám tử tư; chúng rất muốn có câu trả lời, giống như Grace vậy.
"Tuần trước tớ lại thuê Roy McAfee". Grace từng nói chuyện với viên thám tử tư ngay sau khi Dan biến

mất, và sau cuộc điều tra sơ bộ của anh ta, chị đã quyết định là mình không đủ khả năng trả thù lao cho

anh ta. Nhiều tuần trôi qua, chị hiểu rằng cả chị và các con gái đều không thể không thuê anh ta. Họ cần

biết chuyện gì đã xảy ra với Dan, và dường như họ không còn cách nào khác. "Nỗi thất vọng khiến tớ phát

điên".
"Các con gái cậu có tán đồng không?"
Grace gật đầu. "Chính chúng bảo tớ làm thế. Chúng cũng muốn có câu trả lời hệt như tớ vậy. Chúng đủ

sức giúp tớ trả phí tổn". Thuê thám tử tư khá đắt, nhưng như Maryellen nói đùa thì, các hóa đơn thanh

toán tiền thuốc men cho chứng suy nhược thần kinh còn tốn kém hơn.
Grace đã thường trực trong trạng thái bồn chồn, lo lắng và giận dữ kể từ cái đêm chị dọn sạch tủ quần áo

của Dan. Lẽ ra chị phải đến phòng mạch khám bệnh. Chị đã quá căng thẳng, và ngay cả nếu chị không biết

thì các con gái chị cũng ngay lập tức nhận thấy điều đó.
"Roy nói sao?"
"Tớ cung cấp cho anh ta những thông tin tớ có, và anh ta hứa sẽ tìm ra câu trả lời".
"Cậu có cho anh ta biết những nghi ngờ của mình không?".
Grace thở dài, cầm chiếc dĩa và liếc nhìn vệt nước mờ mờ dính trên đó. "Anh ta không tán đồng mà cũng

không phản đối ý kiến của tớ. Nhưng tớ tin nếu Dan có người đàn bà khác, anh ta sẽ tìm ra kẻ đó là ai".
"Và", Olivia nói, rướn người về phía trước, "cậu đưa cho anh ta những bằng chứng gì?".
"Chẳng có gì cả", Grace đã tìm kiếm trong đống đồ của Dan và càng cảm thấy bối rối hơn. Dan mới cẩn

trọng và khôn khéo làm sao. Anh ta đã không để lại một mẩu chứng cứ nào để chị giao cho Roy.
"Nhưng linh tính mách bảo cậu có sự tồn tại của người đàn bà nào đó khác?".
Grace chậm rãi gật đầu. "Càng nghĩ lại, tớ lại càng chắc chắn về điều đó hơn".
"Ví dụ?".
"Cậu biết Dan rồi đấy. Anh ấy không chăm chút nhiều cho ngoại hình, nhưng gần đây tớ bắt đầu nhớ ra đôi

chút về lần đầu tiên anh ấy biến mất".
"Ví dụ?".
"Sáng hôm ấy tớ nhận ra anh ấy đã chải tóc và cạo râu. Dan thường cạo râu buổi tối. Vậy là anh ấy đã

thay đổi thói quen hàng ngày".
"Anh ấy đi gặp cô ta?".
"Đó là phỏng đoán của tớ".
"Thế còn lần này?".
Grace đã kể lại buổi sáng cuối cùng họ ở bên nhau cho mọi người đến một trăm lần hoặc hơn. "Tớ không

nhớ chính xác, nhưng tớ nghĩ thế".Chị nhớ được mùi nước hoa cạo râu thoảng qua trong lúc anh thu dọn

bữa sáng và đi ra ngoài.
"Tớ nhớ một năm trước, tớ đã hỏi liệu anh có cảm thấy có lỗi vì làm điều gì đó... lén lút không".
Grace nhớ rằng lúc ấy, Dan đã đột ngột nhìn vợ như thể vừa bị bắt quả tang. Tất nhiên, anh ấy phủ nhận

tất cả, và vì muốn tin chồng nên Grace cũng không nghi ngờ nữa.
"Cậu có tin tức gì của Roy chưa?"
Grace vo tờ giấy ăn trong lòng bàn tay. "Chiều nay anh ta đã gọi điện".
"Và?". Olivia mở to mắt dự đoán.
"Chẳng có gì cả. Anh ta nói nếu Dan đang có một công việc khác, anh ấy sẽ không dùng số thẻ an sinh xã

hội của tớ".
"Thế còn người đàn bà? Roy có cho cậu biết người đó là ai không?"
"Không. Anh ta đã hỏi tớ mấy câu, anh ta loại bỏ khả năng người đó sống ở Seattle những vùng quanh

đây, nhưng anh ta chưa đưa ra được một manh mối nào. Cho dù kẻ đó là ai, tớ tin là họ đã gặp gỡ nhau

trong nhiều năm rồi. Có thể cô ta mệt mỏi với sự bất lực của Dan trong việc đưa ra quyết định chấm dứt

với tớ và bảo anh ấy hoặc chọn tớ hoặc chọn cô ta. Và Dan đã chọn cô ta". Mặc dù Grace nói một cách

lãnh đạm, nhưng trong thâm tâm, chị thấy giận dữ. Bây giờ, chị ngày càng thấy rõ khi đó Dan đã chịu

nhiều áp lực. Về bản chất anh ấy không phải là con người tàn nhẫn, dù đôi lúc anh có thể nói và làm

những điều khiến người khác đau lòng. Cho dù người đàn bà này là ai, Dan chắc phải rất yêu cô ta.
"Cứ như là anh ấy đã biến mất khỏi trái đất ấy".
"Tớ biết". Grace nhìn chằm chằm xuống bàn. "Những gì tớ muốn là một câu trả lời", chị thì thầm. "Tớ biết

có thể khó tin, đặc biệt là sau những gì bọn tớ đã trải qua, nhưng tớ muốn Dan được hạnh phúc". Chị đã

chẳng bao giờ có thể lấp đầy khoảng trống trong anh. Mọi chuyện trở nên tồi tệ hơn sau khi Dan từ Việt

Nam trở về. Rồi Kelly ra đời, và đứa con gái thứ hai này đã làm trỗi dậy tình yêu của anh. Họ đã rất hạnh

phúc trong mấy năm liền. Dan đã khuyến khích Grace lấy tấm bằng đại học và anh trở thành một tài sản vô

giá với các cô con gái. Họ đã từng là một gia đình ngập tràn hạnh phúc. Nhưng giờ thì anh đã ra đi.
"Nếu cậu không có được những câu trả lời thì sao?", Olivia nhẹ nhàng hỏi.
Grace cũng đã cân nhắc đến chuyện đó. Khả năng ấy hoàn toàn có thể xảy ra. Dường như Dan không cho

Grace biết lý do anh bỏ đi - ít nhất thì anh không dám trực tiếp bày tỏ. Có lẽ vì thế mà anh chọn cách xuất

hiện trong giây lát ở vịnh Cedar. Anh muốn mọi người trong thấy mình. Có lẽ anh muốn nói với chị rằng anh

đang sống rất tốt và chị cũng nên như thế.
"Nếu khong tìm được câu trả lời, tớ sẽ coi đó như những chuyện bình thường khác trong cuộc sống".
Olivia lắc đầu ngưỡng mộ. "Cậu là người phụ nữ dũng cảm, Grace Sherman ạ".
Grace không nghĩ mình dũng cảm nhưng chị chấp nhận lời khen. "Này, khi nào chúng ta sẽ gọi đồ ăn

đấy?".
Olivia đặt hai ngón tay lên môi và khẽ huýt sáo. Chị luôn tự hào vì mình có khả năng này - và tất nhiên các

con chị rất ấn tượng về điều đó.
"Chờ chút!", người bồi bàn sáu mươi tuổi vui tính kêu to lên từ đầu kia nhà hàng. "Tôi chỉ có hai tay thôi".
"Pancake Palace vẫn thế", Grace cười vang. Có những thứ chẳng bao giờ thay đổi, và chị thấy dễ chịu vì

điều đó.
Tuần cuối cùng của tháng Sáu, Olivia đột nhiên nhận ra đã hơn một tháng rồi chị không nhân được tin tức

của Jack Griffin. Tính từ lúc đi California về cho tới khi bắt đầu lên kế hoạch tổ chức sinh nhật mẹ, Olivia

mới chợt nhân ra thời gian trôi nhanh đến vậy. Olivia không thể làm ngơ trước công việc bộn bề của tòa

án, những khúc mắc với Justine, gia đình mới của James, nỗi ám ảnh của Charlotte về Tom Houston và

những rắc rối của Grace. Chị gần như quên mất mình cũng có cuộc sống riêng.
Chiều thứ hai, từ tòa án trở về nhà khá sớm, Olivia tự nhiên thèm muốn một chút không khí gia đình, chị

chuẩn bị một mẻ bánh nướng xốp ăn sáng ưa thích theo công thức riêng mà mệ đã dạy cho. Vì đã lâu rồi

Jack không gọi điện tới nên Olivia quyết định hôm nay sẽ gọi cho anh. Chị không có thói quen gọi cho đàn

ông, nhưng mời. Không có số điện thoại bàn, chị bèn gọi đến cơ quan anh.
"Jack Griffin xin nghe", anh trả lời ngay khi lễ tân nối máy.
"Chào anh, Jack".
"Ồ, Olivia".
Xem chừng chị đã làm anh ngạc nhiên.
"Em đoán anh bất ngờ vì em gọi", Olivia nói.
"Có thể nói là đúng vậy". Giọng anh dịu dàng.
Olivia nghĩ rằng cách tốt nhất là vào thẳng vấn đề.
"Anh đã có kế hoạch gì cho ngày 4 tháng 7 chưa?"
"Còn tùy", anh có vẻ đề phòng. "Em có ý tưởng gì à?". Anh không chờ chị trả lời mà đưa luôn đề xuất của

mình. "Anh đang định viết một bài báo về Hội những người theo chủ nghĩa khỏa thân. Em có muốn đi cùng

không?".
Olivia cười thay cho câu trả lời.
"Đó là điều anh đã lường trước". Jack nói bằng giọng nhẫn nhục, và Olivia lại bật cười.ư
"Thực ra, ngày 4 tháng 7 là sinh nhật mẹ em", Olivia nói, "và em đang định tổ chức một bữa tiệc nhỏ đầy

bất ngờ".
"Nhỏ như thế nào?".
"Em, anh và mẹ". Justine cũng được mời, Warren thì tất nhiên là không. Nhưng chị nghĩ con gái chị sẽ

không nán lại lâu.
"Anh trả lời em sau được không?"
"Tất nhiên rồi". Họ nhanh chóng kết thúc cuộc nói chuyện, Olivia gác máy cùng cảm giác thất vọng. Có lẽ

chị đã xúc phạm Jack, mặc dù chị không biết mình đã nói gì để Jack thấy bị xúc phạm. Chị đã phải hoãn

lần hẹn hò gần đây nhất của họ vì cuộc gặp mặt với Hiệp hội luật sư, nhưng anh vẫn rất vui vẻ. Tuy nhiên kể

từ đó, hai người đã không liên lạc với nhau.
Năm phút sau, chuông cửa ngân vang. Khi mở ra, Olivia ngạc nhiên thấy Jack Griffin đang dựa lưng vào

khung cửa, trông anh chẳng khác gì Cary Grant trong phim Ngày thứ Sáu của cô bạn gái.
"Jack? Anh đang làm gì ở đây thế?".
"Anh đã nghĩ rồi", anh cười gượng gạo. "Anh muốn tới dự bữa tiệc của em".
"Tuyệt quá".
"Em mời anh vào nhà chứ?".
"Ồ, tất nhiên rồi". Olivia nhích sang bên cạnh, anh bước vào nhà, theo chị đi vào trong bếp, tại đó chị mới

pha một bình cà-phê, những chiếc bánh nướng xốp thì vừa ra khỏi lò.
"Đây là công thức truyền thống của gia đình", Olivia nói với Jack trong lúc đặt những chiếc bánh còn ấm

nóng lên đĩa. "Mẹ thường nhắc em loại bánh này tốt cho người lớn tuổi hơn như thế nào". Chị tròn mắt khi

nhìn thấy mình dùng từ lớn tuổi hơn.
"Bánh táo xốp nướng? Mẹ em đã nêu công thức này ngay ở một trong những số báo đầu tiên".
"Những bài viết rất hay và hữu ích". Olivia với tay lấy một chiếc bánh và cùng anh thưởng thức.
"Anh mừng vì em đã gọi", Jack nói. "Lâu rồi chúng ta mới nói chuyện với nhau".
"Anh có thể gọi cho em mà".
Jack do dự. "Anh không chắc đó là ý tưởng hay".
"Tại sao không?", Olivia hỏi một cách thẳng thắn.
Anh lại ngập ngừng, cân nhắc lời nói. "ANh biết em ly dị đã lâu... rằng em và chồng cũ là...?".
"Bạn bè".
Jack nhìn chị. "Còn hơn cả những người bạn", anh nói. "Em vẫn còn yêu anh ấy đúng không, Olivia?".
Olivia không cần cân nhắc lâu với câu hỏi này.
"Em và Stan sinh được ba đứa con. Chúng em sẽ luôn gắn kết với nhau qua chúng".
"Anh không hỏi em chuyện đó".
"Em biết". Chị ước có thể giải thích cảm nhận của mình về người chồng cũ, nhưng lòng chị đang rối bời và

ngay cả bản thân chị cũng cảm thấy khó hiểu. Chị hít thở thật sâu. "Anh nói đúng, chúng em đã ly dị. Em

yêu anh ấy, nhưng không phải tình yêu như hồi còn là vợ chồng".
Jack nhìn đi nơi khác như thể anh không hiểu câu trả lời. Hoặc anh có hiểu, nhưng không thich điều mình

vừa được nghe. Olivia cảm thấy chị nói vẫn chưa đủ. Mối ràng buộc giữa chị và Stan không chỉ ở những

đứa con mà họ đã sinh ra, không chỉ ở những đứa con mà họ đã sinh ra, không chỉ ở đứa con mà họ đã

mất, mà là ở những gì họ đã chia sẻ trong suốt quãng thời gian sống cùng nhau. Họ có thể hiểu nhau qua

từng hành động, cử chỉ nhỏ nhất. Về mặt pháp luật, họ đã ly dị. Stan đã có vợ mới và gia đình mới, nhưng

quyết định của tòa án không hoàn toàn chia tách được mối liên hệ giữa họ.
"Anh không hiểu", Jack nói, khuôn mặt tối sầm lại. "Anh tự hỏi em sẽ như thế nào với chồng cũ nếu trái

tim em đang có chỗ cho người khác".
Rồi hơi ngả người về phía sau, anh quyết định hỏi thẳng. "Thực ra, anh nên nói cụ thể hơn. Trái tim em có

chỗ dành cho anh không?".
Olivia không trả lời ngay. Jack lẩm bẩm, "Đó không phải là câu hỏi khó trả lời".
"Đúng", chị ngập ngừng. "Em rất muốn trái tim mình có một chỗ cho anh".
Jack chằm chằm nhìn chị. "Thật không?"
Olivia cười vang. Chị thấy Jack Griffin thật thông minh và hài hước, đôi khi anh lại nhiệt tình và hiếu thắng

như một đứa trẻ. Chị thích sự tự nhiên ở anh.
"Em thích anh, Jack ạ".
Jack rạng rỡ nhìn Olivia. "Anh cũng thích em. Rất thích. Có thể thừa nhận điều đó vào lúc này không hợp lý

lắm, nhưng anh không biết phải làm gì cả?"
Nói xong, anh rướn người về phía trước và hôn lên môi Olivia. Chị chắc chắn ý định ban đầu của anh chỉ là

một cái hôn thân thiện, một cái hôn nhẹ để chứng tỏ họ đã hiểu nhau. Nhưng lúc môi họ chạm nhau, do sự

ấm áp và mềm mại của đôi môi cùng hương vị cà-phê mới pha đem lại, nụ hôn bỗng nhiên trở thành say

đắm nồng nàn. Jack luồn tay vào tóc mình và nhích chân lại gần hơn. Olivia ôm chằm lấy anh.
Nụ hôn càng đắm đuối hơn khi môi anh quyện chặt vào môi chị. Đã nhiều năm rồi mới có một người đàn

ông chạm vào thân thể chị một cách gần gũi và say mê như thế. Chị đã bỏ qua những khát khao xác thịt,

để nó bị chôn vùi cùng với thời gian, và giờ Jack đã đưa nó trở về với cuộc sống.
Một tiếng động làm họ giật mình, Jack vội vàng buông Olivia ra. "Có người đến", anh thì thầm.
"Mẹ!".
Olivia vội lùi ra xa Jack, suýt nữa chị ngã ra khỏi ghế.
"Justine".
"Xin chào". Justine đứng ở cửa bếp. Cô soi mói nhìn hết Olivia rồi lại nhìn sang Jack. "Con không phá

ngang chuyện gì đấy chứ?".
"Không!", Olivia vội kêu lên. "Ý mẹ là...".Chị liếc nhìn Jack và thật tệ mặt chị đỏ bừng lên.
Trước sự ngượng ngùng của mẹ, cô con gái cười vang. "Mẹ ơi, con nói thật, không có gì to tát đâu. Nếu

hai người muốn tiếp tục việc đang làm, thì cứ tự nhiên nhé, con ủng hộ. Con sẽ quay lại vào lúc thích hợp".
 "À...".
"Anh nghĩ anh nên về", Jack hôn lên mấ Olivia. "Hẹn gặp lại em vào ngày mùng 4. Em có muốn anh mang

theo thứ gì không?"
Olivia lắc đầu, lúc này chị không thể nghĩ được điều gì cả. Chị không nhớ nổi họ sẽ làm gì vào ngày mùng

4. À, đúng rồi, sinh nhật của bà Charlotte. Jack đi né qua Justine, huýt một điệu sáo rồi rời khỏi nhà.
"Mẹ", Justine nói, hai tay khoanh trước ngực lộ rõ vẻ hân hoan và thích thú. "Con ngạc nhiên đấy".
"Đừng tỏ ra hào hứng thế con. Mẹ không già nua như con nghĩ đâu".
"Con biết chứ", Justine cam đoan, "nhưng con không chắc mẹ ý thức được điều ấy".
Olivia đứng đó mà như muốn ngồi thụp xuống. Nụ hôn của Jack khiến chị run rẩy hơn tưởng tượng. Chị

bước tới bên chiếc bình cà-phê, rót ra một tách, rồi rót luôn cả cho con gái. Lý do của chuyến viếng thăm

này là gì, chị không thể đoán ra.
"Mẹ và chú Jack có cảm tình với nhau bao lâu rồi?".
"Làm gì có chuyện đó".
"Chú ấy đã có mặt ở nhà mình lúc mẹ từ California trở về, mẹ nhớ không?" Justine nhắc.
"Ừ, mẹ biết". Olivia rất không thích khi bị những câu hỏi như thế này làm cho bối rối. Giữa cô và Jack chưa

có gì rõ ràng cả. Nhưng cũng không hẳn là hoàn toàn chưa có gì. Thôi được, họ đã đồng ý bắt đầu hẹn hò

với nhau, nhưng còn quá sớm để biết mối quan hệ của họ có kết quả hay không.
"Khi đó, con có hỏi chú Jack, chú ấy khẳng định hai người chỉ là bạn bè. Con thật ngốc vì đã tin chú ấy".
Tất nhiên Justine thích thú với chuyện này.
"Bọn mẹ là bạn bè".
"À, đúng rồi", Justine trêu mẹ.
"Justine!".
"Bạn bè, và sau đấy là như vừa rồi hả?".
Olivia lắc đầu. "Thôi được, nếu con muốn biết... mối quan hệ này mới nảy nở gần đây thôi".
"Gần như thế nào ạ?".
Olivia chỉ tay vào đồng hồ. "Hai mươi phút trước".
"Mẹ!".
"Thật đấy". Olivia cảm thấy vui và lạc quan hơn. Dù rằng không biết chuyện gì sẽ xảy ra, tất nhiên, đặc biệt

là khi họ chưa xác định được mối quân hệ của mình. Nhưng chị rất muốn biết nụ hôn sẽ đưa họ đến đâu

nếu không bị chen ngang.
"Chuyện về mẹ thế đủ rồi", Olivia bỗng nói. "Vì lí do gì mà con lại bất ngờ tới thăm mẹ thế này?".
"À", Justine ngồi xuống chiếc ghế mà vừa mới trước đây là chỗ của Jack, "con tới xem mẹ đã có kế

hoạch gì cho sinh nhật của bà chưa".
Đó chỉ là cái cớ; Justine hoàn toàn có thể hỏi qua điện thoại. "Mẹ nghĩ chúng ta sẽ có một buổi dã ngoại

nho nhỏ".
"Công viên Bến Cảng hả mẹ?".
"Mẹ chưa quyết định địa điểm, nhưng chỗ đó có vẻ hay đấy". Có thể đi bộ từ nhà bà Charlotte tới đó, và

vào ngày mùng 4, ở đó có rất nhiều hoạt động ngoài trời. "Con có đến được không?".
"Con có thể ghé qua khoảng một giờ hoặc hơn".
Không nhìn Justine, cô với tay lấy một chiếc bánh.
"Warren sẽ đi cùng con chứ?".
"Chắc là không, nhưng bọn con vẫn đang cặp với nhau".
Olivia thấy lo sợ. Chị muốn hỏi con gái về tương lai của Justine và Warren hơn bất cứ điều gì, nhưng lại

không dám nói vì sợ ảnh hưởng xấu đến mối quan hệ giữa hai mẹ con.
"Sự thực là gần đây, quan hệ của con và anh Warren không được tốt lắm".
Nghe con mình nói thế, một mặt Olivia cảm thấy vui mừng dù biết là mình đang hẹp hòi, mặt khác chị lại

thấy khổ tâm. Bởi nếu Warren đúng là người con bé cần, mà giữa hai người lại xảy ra chuyện thì chắc

chắn con bé sẽ đau khổ lắm. Có người mẹ nào lại không mong muốn con mình được hạnh phúc đâu?

"Nguyên nhân vì sao?", chị cẩn trọng hỏi.
"Con không biết". Justine thở mạnh. "Bọn con khác nhau quá".
Khác cả thế hệ nữa, nhưng Olivia không nhắc đến điều đó. "Để cải thiện tình hình, hai đứa hãy nhớ lại

những điều đã hấp dẫn mình từ lần đầu tiên gặp".
"Gần đây con đã nghĩ rất nhiều tới điều đó". Justine khoắng chiếc thìa trong tách cà-phê. "Con bị anh ấy

hấp dẫn ngay lập tức - anh ấy vô cùng lịch lãm và là người thành đạt. Con từng hẹn hò với nhiều người đàn

ông, và họ luôn gây áp lực cho con, họ luôn muốn quá nhiều từ mối quan hệ ấy". Chị lưỡng lự. "Cũng có

thể họ đơn giản hóa vấn đề quá". Nhấc tách cà-phê lên, chị nhìn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-06-29 05:37:32flowerlegend>
Gấp! Đã có nguồn pdf "Đâu phải vì yêu" bản full
Các bạn khoan đánh tiếp [:(]
0
Bạn ơi, cho mình xin nguồn ở đâu được ko vì trước khi gõ cuốn này  mình cũng đã tìm rồi đề phòng chỗ khác có mà mình mất công.
Giờ lại tìm thấy, hic hic, thật là tiếc công sức quá
Chipmuck
snow_2101@yahoo.com
0
[8|]ơ thế là ko đánh máy nữa ư?Mình đánh gần xong phần của mình ùi, tiếc quá đây là lần đầu mình tham gia đánh máy cùng mọi người. Hix, hix, buồn 5s.
[:(]
Có những người trong tình yêu luôn không ngừng chờ đợi, nhưng không phải chờ ngày ai đó có thể yêu họ mà chờ ngày họ có thể ngừng yêu ai đó.
Waiting Enternal
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-06-29 16:37:33Chipmuck>
Chào các bạn, bạn nào đánh đến đâu rồi thì vẫn gửi lên đây cho mình nhé. Vì bản tìm được là bản định dạng PDF, cũng ko post lên VNTQ được. phần còn lại các bạn chưa gõ thì mình sẽ chuyển lại từ pdf sang word.

Cảm ơn sự giúp đỡ của các bạn
Chipmuck
snow_2101@yahoo.com
0
[:)]Từ trang 315 đến trang 331 Stan đã rất lo lắng cho cậu con trai. Olivia biết điều đó, nhưng bây giờ James đã trưởng thành và có những quyết định của riêng mình. Olivia thường không đồng ý với sự lựa chọn của cậu, ví dụ như việc cậu bỏ đi nghĩa vụ quân sự.Lần đó cậu đã không nói một lời với bố hay mẹ mà lặng lẽ ghi tên đăng ký.Giờ thì cậu đã có vợ và trở thành ông bố trẻ. Đây cũng lại là một quyết định không có sự bàn bạc với bố mẹ.
“Anh rất mừng khi nghe em nói vậy”…Stan có vẻ phấn khởi. Olivia thấy quý con dâu ngay lập tức. Họ đã vài lần nói chuyện qua điện thoại, nhưng những cuộc nói chuyện ngắn ngủi ấy không giúp cô có được một hình dung rõ rệt về người vợ của con trai. Selina sinh ra trong một gia đình tốt bụng và giàu có, họ đã chào đón Olivia hết sức nhiệt tình, giống như cách họ chào đón James và đứa bé mới ra đời vậy. Trong thời gian Olivia ở lại, tối nào cũng có tiệc chiêu đãi. James thực sự rất hạnh phúc. Cậu và Selina sống trong một phòng lớn ở nhà bố mẹ vợ và thật ngạc nhiên, sự sắp xếp này không làm con trai cô hay bất cứ ai trong gia đình họ thấy ngượng ngập khó chịu. Olivia bị ấn tượng bởi vốn từ Tây Ban Nha mà cậu con trai học được từ khi gặp Selina. Cô nhanh chóng nhận ra rằng gia đình Selina có sức hấp dẫn rất lớn với con mình. James chỉ mới mười tuổi lúc vợ chồng họ ly dị, mặc dú cả Olivia và Stan đã rất cố gắng để cuộc chia tay không khiến họ trở nên xa cách, nhưng đứa con trai không tránh khỏi phiền muộn. Đứa trẻ nào chẳng thế. Hàng ngày , tại tòa án, Olivia đã được chứng kiến rất nhiều gương mặt ngây thơ đau khổ đến thất thần khi bố mẹ chúng chia tay. Điều đó khiến trái tim chị như bị ai đó bóp nghẹt.
“Justine thế nào rồi?”.Stan đột ngột đổi đề tài.
“Sao vậy?Con bé đã nói gì lúc hai bố con trò chuyện?”
“Không nhiều lắm”.
Stan có vẻ lo lắng cho con gái của họ. “Con bé vần đang hẹn hò với gã Saget?”
“Anh ta đã đề nghị con bé lấy anh ta”. Cho đến giờ, mọi người trong thị trấn đều biết về chiếc nhẫn kim cương mà Warren đã mua. Tuy nhiên Justine vẫn chưa kể gì với Olivia về lời cầu hôn này.
Stan chửi thề và rẽ vào làn đường khác. “Con bé sẽ đồng ý chứ?”
Olivia nhúng vai. “Con bé không tâm sự với em khi chuyện có liên quan đến Warren Saget”.
“Em hãy nói chuyện với con đi”. Stan giục. “Em là mẹ, con bé sẽ nghe lời em hơn là nghe lời anh. Lấy Saget thì đúng là tai họa”.
“Vâng, nhưng thuyết phục Justine không phải dễ”.
“Con bé bướng bỉnh hệt như mẹ nó vậy”.
Olivia bật cười trước câu pha trò của chồng cũ. Nhưng Stan trở nên nghiêm túc. “Con trai của Marge sắp ly dị. Cô ấy đang rất buồn”.
Họ hiếm khi nhắc tới vợ anh.
“Anh nghĩ”, anh ta nói tiếp, “một trong những điều đau đớn nhất của các bậc cha mẹ là đứng nhìn con cái mình mắc phải sai lầm, nhưng lại không thể làm được gì để giúp  chúng”.
“Em rất hối tiếc về chuyện của con trai Marge”, Olivia khẽ nói.
“Thật qua tệ”, Stan đáp. “Cậu ta có hai đứa con nhỏ và cậu ta sẽ bỏ chúng vì trót say mê một cô gái ở công ty”.
Olivia không biết chồng cũ của mình có thấy sự mỉa mai trong tình huống này không. Marge đã ly dị chồng và bỏ con vì Stan, giờ thì lịch sử lại đang lặp lại.
“Em sẽ nói chuyện với Justine”, chị nói. “Thật tiếc vì mẹ con em không hay chuyện trò với nhau. Nhưng chúng ta đã dạy cho con bé hiểu điều gì là tốt nhất cho bản thân và tự mình quyết định mọi việc, chúng ta phải tin con bé sẽ hành động đúng đắn nên”.
“Khó hơn ta tưởng đấy”.
Không cần Stan nói Olivia cúng hiểu được điều đó.
Lúc họ đến đường cao tốc Seattle, mặt trời đã khuất sau những đám mây.Gió và tiếng ồn ào của xe cộ khiến tiếng nói của họ bị át đi. Khoảng thời gian lái xe qua Tacoma và cây cầu Narrows trôi thật nhanh, đặc biệt là khi Stan bật đĩa nhac Rock & Roll của những năm 60 – loại nhạc họ đã cùng nhau khiêu vũ hồi còn học đại học. Olivia nhanh chóng chìm vào những ký ức hạnh phúc. Chị gần như cảm thấy hối tiếc khi anh lái xe ra đường Lighthouse.
“Ồ”. Olivia tỏ ra ngac nhiên khi thấy xe của Jack đỗ ngoài nhà, sau xe của Justine.
“Người quen của em à?”
“Jack Griffin. Anh ấy là biên tập của mục Bản tin vùng vịnh Cedar”.
Stan liếc nhanh về phía chị. “Anh ta là người em đã hẹn hò vào buổi tối anh gọi chứ gì? Có phải anh ta là…bạn trai của em không?”.
“Ồ, không, Jack chỉ là một người bạn”.
“Justine cũng đã nói thế khi lần đầu tiên anh hỏi con bé về Saget”, anh lẩm bẩm. “Thêm một điều nữa mà anh biết, là hiện giờ anh ta đang ép con bé đính hôn”.
“Em nghĩ anh không phải lo lắng chuyện em lấy anh Jack đâu”, Olivia cam đoan.
Stan đỗ xe bên lề đường và tắt máy, sau đó nói một từ vô cùng kỳ lạ. “Tốt”.
Tốt? Anh không muốn Olivia tái hôn? Đúng là phản ứn kỳ quặc, nhất là khi anh đã lấy Marge được mười bốn năm rồi. Trước khi Olivia kịp hỏi anh về chuyện đó, thì cánh của trước bật mở và Justine bước ra ngoài hiên, Jack đi ngay theo sau. Anh mỉm cười, đưa tay lên chào, nhưng ánh mắt anh dần rời khỏi Olivia mà hướng sang Stan. Stan và Jack nhìn nhau.
“Mừng mẹ về nhà”, Justine lên tiếng, cố tình phớt lờ sự căng thẳng giữa hai người đàn ông. Cô bé bước xuống bậc hiên chào mẹ.
Olivia ôm con gái, vòng tay qua eo Justine rồi bước vào nhà. Chị đã quá già để tỏ thái độ trước phản ứng của hai người đàn ông, chị tự nhủ. Nhưng mà, có thật sự chị đã già không?
“Thật tuyệt vì được trở về”, Olivia nói, để Stan và jack tự đi theo mình
“Con rất muốn được nghe kể về em bé. Mẹ không phiền khi bố đi đón chứ ạ?”
“Không hề:. Nếu Olivia có cảm giác gì thì  chỉ có thể là niềm vui.
Charlotte Jefferson nóng lòng đợi con gái từ California trở về. Bà có nhiều điều cần tâm sự. Mặc dù biết Olivia sẽ mệt sau chuyến đi, nhưng Charlotte không thể chần chừ thêm một phút nào nữa.
Trước khi đến bà cũng đã lường trước được rằng nhà Olivia sẽ có nhiều người. Bất cứ ai nhìn thấy cảnh nayfcungx đều nghĩ nhà Olivia đang rao bán ga-ra.
Tất nhiên bà nhận ra chiếc SVU của Justine, chiếc Taurus trông có vẻ là xe của Jack Griffin, nhưng chiếc BMW thì bà không biết.
Olivia ra mở cửa và rất vui khi trông thấy bà. “Mẹ”. Sau cái ôm hôn vội, Olivia đưa mẹ vào trong. Một hộp pizza đã mở sẵn trên bàn và còn có cả một chai rượu vang đỏ.
“Còn gì cho mẹ không?”. Bà đùa.
“Lấy cho bà một ly rượu”, Olivia bảo con gái.
“Stan!” Charlotte thấy vui khi gặp lại con rế cũ. Bà luôn yêu quý anh. Giống như con gái và các cháu, cuộc ly dị với bà thật khó chấp nhận.
“Đừng nói với mẹ chiếc mui trần màu đỏ là của con nhé?”
“Đúng đấy ạ”. Anh đặt ly rượu cạnh hộp bánh pizza.
“Con không thích ăn trong khi lái xe, nhưng con phải quay về Seattle rồi”.
“Đã phải đi rồi ư?”. Charlotte rất muốn trò chuyện với anh một lát.
“Để lần sau ạ”, Stan hứa. Anh cúi xuống hôn lên má Charlotte rồi ôm lấy Justine đang bận rót rượu. Hai người đàn ông bắt tay một cách vội vã và miễn cưỡng. Olivia tiễn anh ra cửa. Charlotte lập tức hiểu là Stan đã đón Olivia từ sân bay trở về. Bà còn nhận ra một điều khác nữa. Hai người đàn ông đó không ưa nhau. Điều này thật thú vị.
“Con cũng phải đi rồi”, Justine nói. Cô đưa ly rượu đầy cho Charlotte và hôn bà một cái rồi nhanh chóng biến mất.
Sau đó đến lượt Jack, người trước đó không hề cho thấy có dấu hiệu cáo từ. Chà, Charlotte cần nói chuyện với con gái, vì thế bà cố ý đợi anh ra về. “Kể cho mẹ nghe về đứa trẻ đi”, bà nói , rõ ràng có ý ở lại chơi lâu.
“James và Selina có thích cái chăn mẹ đan không?” Rồi bà nói tiếp với giọng ao ước, “Mẹ hy vọng con có ảnh mang về”.
“Có chứ ạ. Mẹ ơi, con bé xinh lắm”.
“Thứ tư mình gặp lại nhé?” Jack hỏi , có vẻ hơi chán nản.
Olivia lưỡng lự trong thoáng chốc rồi gật đầu. Rõ ràng chị đã đồng ý hẹn hò, điều đó khiến Charlotte rất vui. Bà không muốn Olivia sống một mình đến cuối đời, và bà quý Jack Griffin.
“Anh phải đi đây”, Jack miễn cưỡng nói như thể muốn Olivia giữ mình ở lại. Cái nhìn của Jack cho Charlotte biết anh muốn ở riêng với Olivia, nhưng bà không chịu nhúc nhích. Rồi anh cũng đành phải nhanh chóng ra về. Cuối cùng cũng được riêng tư. Charlotte thở dài. Olivia ngồi xuống cạnh mẹ cùng ly rượu trên tay, gác chân lên bàn uống trà. “Thế mà đã một tuần rồi đấy”.
“Mẹ cũng thấy nhanh thật”, Charlotte phấn khởi nói.
“Mẹ có tin gì của Roy không?”
Charlotte cười lớn. “Có, con đoán xem?. Tom có một cháu trai sống ở ngay Purdy”. Đó là một thị trấn nằm trên đường quốc lộ 16 chỉ cách vịnh Cedar có vài dặm. Charlotte thấy xúc động trước cái tin ấy. Trong thâm tâm, bà biết Tom đã chọn những ngày cuối đời ở vịnh Cedar vì lí do đó.
“Anh ta tên là Cliff Harding. Con đã bao giờ nghe nói đến anh ta chưa?”
“Con chưa”. Olivia dụi mắt, Charlotte biết con gái bà đang rất mệt.
“Anh ta nuôi ngựa”. Roy đã nói với bà như thế, cùng những thông tin khác mà anh ta phát hiện ra. Cliff là một ký sư chuyên về máy bay Boeing, sau đó anh ta xin về hưu sớm. Năm năm trước , anh ta chuyển tới bán đảo Kitsap.
“Mẹ đã ngờ rằng ông Tom có gia đình sống ở đây”. Charlotte cảm thấy rất tự hào.
“Vâng”.
“Mẹ không muốn đường đột, nên mẹ đã viết thư cho Cliff đề nghị gặp anh ta”. Lá thư được gửi đi ngay cái ngày bà nhận được tin, nhưng bà rất thất vọng khi chưa thấy hồi âm.
“Thế thì tốt quá rồi, mẹ”.
“Mẹ cũng nghĩ thế”, Charlotte uống nốt ly rượu, và sau đó, vì thấy con gái không có tâm trạng muốn nói chuyện thêm, nên Charlotte quyết định ra về.
Sau khi ngắm nghía những tấm ảnh của đứa cháu mới sinh, bà dọn dẹp các thứ. Nhưng Olivia ra dấu phản đối, rồi tiễn bà ra cửa.
“Mẹ mừng vì chuyến đi của con tốt đẹp. Mẹ rất vui vì chuyện của James”.
“Cảm ơn mẹ”. Olivia ôm lấy bà. “Mẹ có cảm thấy hãnh diện khi lần đầu tiên được làm cụ không?”
Sự kiện ấy cũng chưa phải là quá lâu để Charlotte có thể quên.
“Cặp song sinh, không thể vui hơn. Đó là một trong những ngày hạnh phúc nhất của mẹ”.
“Và cả của con nữa”, Olivia nói , nhưng nỗi buồn chợt dâng lên trong chị, nỗi buồn mà Charlotte cũng cùng chung cảm nhận khi họ nhớ đến Jordan, một cậu bé hoạt bát vô tư.
Trên đường lái xe về nhà, bà nghĩ về Cliff Harding. Chắc chắn anh ta đã nhận được thư của bà nhưng vì lí do nào đó nên không trả lời, hoặc tệ hơn, anh ta quyết định không trả lời.
Có lẽ bà sẽ phải gọi điện.
Đúng, đó là điều bà nên làm. Không thể chần chừ thêm được nữa, ngay khi bước vào nhà, Charlotte tìm số điện thoại của anh ta mà Roy đã đưa.
Chuông điện thoại reo bốn lần mới có người nhấc máy.
“Harding đây”, một giọng nam vang lên cộc lốc.
“Jefferson đây”, bà đáp bằng giọng tương tự. “Charlotte Jefferson”.
Im lặng.
“Tôi gọi điện để hỏi xem anh đã nhận được thư của tôi chưa”, bà giải thích. Bà biết chắc anh đã nhận được, nhưng có vẻ đó là cách mở đầu câu chuyện dễ dàng nhất.
“Tôi nhận được rồi”.
Charlotte dừng lại, hi vọng mình đã suy nghĩ thấu đáo về chuyện này. “Hình như đây không phải là lúc thích hợp?”
“Bây giờ hay bao giờ thì cũng thế cả thôi. Về cơ bản tôi không muốn liên quan gì đến ông ấy”.
Charlotte nhíu mày không đồng tình. “Tôi chắc chắn anh sẽ nghĩ lại khi thấy những thứ tôi đang giữ”.
“Nghe này bà Jefferson, tôi hiểu bà có ý tốt, nhưng…”
“Anh có biết ông của anh vừa qua đời ngay tại vịnh Cedar này không?”
“Thư của bà đã nói thế”.
“Anh Harding, tôi đã chấp nhận bỏ tiền của mình ra để tìm anh”.
“Tôi rất biết ơn , nhưng…”
“Tôi có thể vào tù vì những gì tôi đã làm và ở cái tuổi bảy mươi hai này, tôi không có ý định dành phần đời còn lại để cung phòng với một kẻ nào đó có tên Bertha Lớn”.
Anh bật cười. Sao người đàn ông này lại tỏ ra thích chí khi bà đang nghiêm túc nhỉ?
“Chính xác thì bà đã làm gì để đến mức có nguy cơ đối diện với Bertha Lớn?”
Charlotte không định kể chi tiết. “Tôi giấu mọi thứ dưới gầm giường”.
“Có thể đó là nơi đầu tiên cảnh sát sẽ lục tìm, bà không nghĩ thế sao?”
Charlotte nghi ngờ anh ta vẫn đang chế giễu bà, không nhiều thì ít, nhưng bà trả lời thẳng thắn. “Tôi đã nghĩ đến chuyện đó, nhưng đầu gối tôi quá mỏi nên không thể cứ trèo lên, trèo xuống bậc thang của tầng hầm”.
“Theo tôi bà nên giao cả cho bang. Hãy để các nhà chức trách bán nó và bà hãy thay mặt ông tôi nhận số tiền mà họ trả cho”.
“Anh không thể nói thế!” Charlotte giận dữ. “Chàng trai, đây là ông nội của anh”.
“Ông ấy chỉ là ông nội tôi và là bố của bố tôi trên danh nghĩa thôi. Nói cách khác, điều đó chẳng có ý nghĩa gì với tôi cả. Bố tôi gặp ông ấy tổng cộng ba lần trong đời. Còn tôi thì chưa bao giờ có vinh dự được gặp, và tôi cũng chẳng quan tâm đến việc ấy”.
“Giờ anh đã có cơ hội để hiểu ông ấy hơn rồi đấy”, Charlotte cố gắng thuyết phục.
“Nói thật nhé , tôi không quan tâm. Vì thế ông ấy có là diễn viên chuyên đóng phim cao bồi của những năm 40, 50 thì sao? Người cao bồi có khả năng đổi từ giọng trầm sang giọng kim à”, anh nói mỉa mai, “bà Jefferson thân mến, tôi cũng chẳng màng”.
“Máu của ông ấy đang chảy trong huyết quản của anh”.
“Tôi có muốn thế đâu. Như tôi nói, ông ta không đáng bâc làm cha, làm ông và toi nghĩ ông ta cũng chẳng mảy may quan tâm đến tôi”.
“Tôi không đồng ý”. Thường thì Charlotte không hay tranh luận như thế này. Nhưng bà không chấp nhận để con người kiêu ngạo kia quay lưng với tài sản của mình. “Anh rất giống ông mình, chàng trai ạ”.
Cliff cười thầm. “Tôi không nghĩ thế. Và tôi không còn trẻ nữa”.
“Chẳng phải anh có trang trại nuôi ngựa sao?” Đây là một trong những thông tin Roy cung cấp cho bà. “Theo anh thú nuôi ngựa từ đâu mà có?” , bà nhấn từng từ một.
Anh không trả lời mà chỉ nói “Tôi rất tiếc đã làm bà thất vọng”.
“Anh Harding, xin anh đấy. Hãy nghĩ đến mối nguy hiểm mà tôi đang đối mặt, chí ít anh cũng nên tới xem những thứ tôi đã cứu được chứ. Có thể ở đây có cái anh cần”.
“Ý là là chiếc cặp lồng đựng đồ ăn trưa của cao bồi hả? Không, cảm ơn bà”.
“Ý tôi là yên ngựa và súng lục của ông ấy”.
“Bà có yên ngựa?”
“Có”. Charlotte không hiểu đượng tại sao món đồ đó lại có sức hấp dẫn với cháu trai của Tom như vậy.
“Tôi biết rằng ăn cắp súng là vi phạm pháp luật của liên bang”.
Charlotte nổi giận. “Anh đang cố dọa tôi đấy à?”
Anh cười thầm. “Thôi được, nghe này”, anh nói như thế đã chịu nhượng bộ. “Tôi sẽ xem xét chuyện vớ vẩn này, được chưa?”
“Đây không phải là chuyện vớ vẩn”. Bà có thể hình dung ra các bảo tàng sẽ làm những gì để chớp lấy cơ hội được trưng bày một vài trong số những món đó mà bà đang để dưới gầm giường.
“À, điều này thì lại thuộc quan điểm của mỗi người”.
“Anh sẽ tới vịnh Cedar hay muốn tôi tới tìm anh?”
“Tôi không muốn mời những tên trộm đã biết mặt tới nhà mình”.
Charlotte không thèm trả đũa lại câu nói đó. “Vậy anh sẽ phải lái xe tới vịnh Cedar”.
“Thôi được, bà Jefferson. Tôi thấy bà không phải là kiểu phụ nữ chịu chấp nhận câu trả lời không”.
“Trong trường hợp này thì anh nói đúng”.
 
Grace thích công việc thủ thư của mình. Tính theo đầu người, thẻ thư viện ở vịnh Cedar được cấp nhiều hơn bất ký thành phố hay thị trấn nào trên toàn bang. Chị rất tự hào về điều đó.
Thư viện vịnh Cedar, với một bức bích họa vẽ bên ngoài tòa nhà cũ bằng gạch, là một trong những công trình hấp dẫn và độc đáo nhất của thị trấn. Nhân dịp lỷ niệm thị trấn một trăm năm mươi năm tuổi, phòng Thương mại đã đặt vẽ vài bức bích họa cho các tòa nhà quanh thị trấn. Thư viện ở khu cảng nằm trong số những công trình được chọn lựa; các họa sĩ đã phác họa quang cảnh công viên khu bến cảng của những năm 1800 với những người ăn vận theo trang phục thời đó đang vui chơi trong một buổi chiều hè, trẻ con và những chú chó nhảy lên vì vui mừng, còn các gia đình thì dắt nhau đi dạo, và tất nhiên có cả những người ngồi đọc sách nữa.
Cộng đồng trong thị trấn giống như một gia đình, Grace thường nghĩ vậy. Các chủ tiệm thường rất đoàn kết với nhau và luôn khuyến khích người dân của vịnh Cedar mua hàng địa phương. Giờ đây, khi những doanh nghiệp lớn ố ạt tiến vào những thị trấn nhỏ và phá vỡ thế kinh doanh độc lập, thì thị trấn vịnh Cedar lại càng phát triển. Thành quả đó có một phần nhờ thư viện, bến du thuyền, và nhờ có tòa thị chính mới của thị trấn, tòa nhà nổi bật nhất vịnh Cedar tọa lạc trên quả đồi phía trên bến cảng giống như thần hộ mệnh đúng canh gác cho thị trấn. Tiếng chuông điểm giờ luôn vang lên đều đặn; một số người thích tiếng chuông đó, một số khác lại không thích vì họ có cảm giác liên tục bị làm phiền.
Dan biệt dạng đã gần hai tháng nay. Cì cô độc, Grace lại càng thấy yêu thích công việc của mình hơn bao giờ hết, Ngoài những lí do về mặt tài chính, nó còn giúp chị bớt căng thẳng, bớt lo lắng về sự mất tích của chồng. Tám ngày vùi đầu vào công việc vừa qua đã chứng tỏ điều đó.
“Chào bà Sherman”, Jamine Jones, cô bé năm tuổi trông rất thông minh với hai chiếc răng cử bị sún, bước đến bên bàn và đặt hai tay lên mặt quầy.
“Bà cá cháu đến để nghe đọc truyện”, Grace nói.
Jamine gật đâu. “Hôm nay bà đọc hay bà Bailey ạ?”
“Thế cũng được, nhưng…”. Rồi như thể không muốn Loretta Bailey buồn nếu nghe thấy, Jamine nhỏ bé liếc ra đằng sau và thì thầm. “Bà đọc hay hơn”.
“Cảm ơn cháu”, Grace cũng thì thầm đáp lại.
Chiều thứ ba thường trôi qua một cách chậm chạp, và trong lúc Lorette đọc truyện cho lũ trẻ thì Grace trông coi ở bàn ngay ngoài cửa. Chị đang bận giải quyết một số giấy tờ liên quan đến khoản nợ giữa các thư viện thì cánh cửa kính bật mở và Maryellen lao vào.
Bất ngờ trước tiếng động, Grace ngước lên thấy con gái mình vô cùng xuac động và thở hổn hển.
“Có chuyện gì vậy?” Ý nghĩ đầu tiên thoáng qua đầu Grace là Kelly và đứa bé đã xảy ra chuyện gì đó.
Một cách khó nhọc, Maryellen lảo đảo tiến đến bên bàn. Cô đặt tay lên ngực như thể cần phải giữ chặt lấy tim.
“Bố”, cô gần như không nói nên lời.
“Sao?”, Grace từ sau quầy chạy ra.
“Bố đang ở đây”.
“Ở đây?”. Thật không thể tin nổi. “Ở đâu?”.
“Bến du thuyền”.
Grace đi ra cửa, Maryellen loạng choạng theo sau.
“Con đã trông thấy bố?”
Maryellen lắc đầu. “Chú John Malcom trông thấy”.
Trong lúc chạy từ bãi đỗ xe của thư viện ra bến cảng, Grace cố nhớ xem John Malcom là ai. Rồi cô cũng nhớ ra. John và Dan từng làm việc cùng nhau cách đây nhiều năm. John cũng là một thợ đốn gỗ, anh đã bị mất việc vì một lệnh cấm liên quan đến loài chim cú. Toàn bộ các khu rừng bị cấm khai thác gỗ nhằm cứu loài chim đang có nguy cơ bị diệt chủng ấy, điều đó đã cắt đứt kế sinh nhai dựa vào cánh rừng nhiệt đới Olympic của một nhóm người, trong đó có Dan và John.
“Bố đang ở đâu?”. Grace gào lên.
“Dưới chân bến phà”.
“Bố có lên phà không?”. Vì thở hổn hển nên gần như chị không bật ra thành tiếng.
“Không”, Maryellen hét lên đáp lời Grace. Thật không may, sáng đó Grace đi giày cao gót nên cô không thể chạy nhanh như mong muốn. Maryellen đi giày bệt nên chạy nhanh hơn, nhưng nhờ những buổi tham gia lớp tập thể dục nhịp điệu nên Grace cũng rất lanh lẹ. Máu dồn lên mặt, chị chạy thật nhanh trên vỉa hè, dốc hết sức để bắt kịp Dan trước khi anh lại biến mất. Đột nhiên, chị vấp ngã  do vướng phải một vòi nước. Chị ngã sấp xuống vỉa hè, đầu gối vô cùng đau đớn vì trầy xước. Nhưng Grace không cho phép mình dừng lại để kiểm tra vết thương.
“Mẹ!”
“Mẹ không sao.Đi đi! Đi đi!”. Tạm nén cơn đau , chi đứng dậy, chỉ dừng lại đủ để tháo giày rồi lại bắt đầu vừa chạy vừa tập tễnh. Lúc đến chân bến phà, Grace cảm thấy  như chân mình sắp sửa khụy xuống. John đang đứng đó, đi tới đi lui. Anh chạy lại ngay khi nghe tiếng gọi của Maryellen.
“Ông ấy đi rồi”.
“Đi rồi?”, Maryellen khóc. “Chú nói chú sẽ chặn bố cháu cơ mà”.
“Chú đã cố”, John tránh ánh mắt của Grace.
“Chú thực sự xin lỗi. Ông ấy đã đứng đây,
Có những người trong tình yêu luôn không ngừng chờ đợi, nhưng không phải chờ ngày ai đó có thể yêu họ mà chờ ngày họ có thể ngừng yêu ai đó.
Waiting Enternal
0
Đâu phải vì yêu - Debbie Macomber

Đã đem vào thư viện

Thành thật cảm ơn các hiệp sĩ

chipmuck, cunhoi, nhimstyle10389, flowerlegend, forever1401





0