Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Tạp chí Sông Châu

2 trả lời, 19 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-06-08 17:15:10sweet>
Tạp chí Sông Châu số 74
(Tạp chí sáng tác, nghiên cứu phê bình văn học nghệ thuật của Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam, 2 tháng 1 số)
 
Trước khi có trong tay cuốn tạp chí Sông Châu số 74 (số ra tháng 4 - 2009), tôi đã không tin khi nhiều người nói với tôi rằng, số tạp chí này chẳng khác nào một nồi lẩu thập cẩm, ăn cũng chẳng nổi, đổ đi cũng chẳng xong, thậm chí còn làm những người bình thường, chứ không tính những người kén ăn, cảm thấy thật nhạt nhẽo, vô vị.  Điều đó khiến cho nhiều người còn cảm thấy thật buồn lòng khi đầu bếp vẫn là những người trong Ban biên tập cũ. Nhưng quả thực, đọc xong, tôi có cảm giác chua chát, buồn và khá xấu hổ. Tạp chí Sông Châu của Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam đây ư! Trước đây, mặc dù chưa bao giờ nó được đánh giá là một tạp chí hay, nhưng trong mặt bằng chung của các Hội Văn học nghệ thuật địa phương, nhất là khu vực Đồng Bằng sông Hồng thì “cũng vào hàng trung bình, không đến nỗi nào” và cũng làm cho những người yêu văn học nghệ thuật Hà Nam cảm thấy tạm yên lòng. Thế nhưng bây giờ thì cả những người lạc quan nhất cũng sẽ cảm thấy lo khi mà đúng là tạp chí đang dần dần trở thành một tờ tập san của một Câu lạc bộ thơ cấp xã. Nếu dễ tính hơn, có thể nói là Ban Biên tập đã bắt đầu tỏ rõ sự bối rối, bất lực trong việc tổ chức bài vở khi mà tình trạng ăn đong từng số đã diễn ra nhiều năm và dù 2 tháng mới có một số, và số lượng bài vở gửi về văn phòng Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam cũng không đến nỗi nào, thậm chí khó thể ngồi đếm từng bài mà phải dùng cân lên từng bó với những vài lạng thơ, vài lạng văn xuôi mỗi ngày. Có thể nói, mỗi kỳ ra tạp chí, Ban biên tập nhận được hàng cân bản thảo. Vậy mà cũng chẳng thể dùng được bao nhiêu.
Tràn ngập tạp chí số này là Thơ, thơ và thơ. Hình như thơ dễ viết hơn thì phải, hay tại văn xuôi khó dùng nên rất vắng bóng các tác phẩm văn xuôi. Điều đáng nói là thơ hầu hết ở dạng vè, nôm na, dễ dãi, đọc xong chẳng thấy một chút cảm xúc nào, thậm chí thấy ngồ ngộ, thấy lơ mơ, kể cả thơ của các hội viên. 32 trang tạp chí thì có đến 8 trang thơ, trong đó có thơ của các hội viên: Bắc Môn, Nguyễn Hải Chi, Nguyễn Xuân Công, Trần Tiến Như, Trần Như Thức, Nguyễn Thế Vinh, Phạm Lê, Hoàng Văn Việt, Lê Trung Hợp, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Công Tứ, Đinh Kim Anh, Trần Văn Lộc và một trang giới thiệu thơ của hội viên Nguyễn Văn Thắng nhân dịp anh bảo vệ thành công xuất sắc luận án Tiến sĩ. Nhìn chung thơ nặng về gieo vần, nhẹ về câu chữ, nghĩa thơ nên người đọc khó có thể tìm thấy sự rung động trong cảm xúc.
Điều ngạc nhiên lớn nhất là mặc dù phát hành vào tháng Tư, một tháng có rất nhiều sự kiện lịch sử trọng đại như Kỷ niệm Chiến thắng 30 tháng 4, Ngày Quốc tế Lao động 1-5, Chiến thắng Điện Biên Phủ 7-5, 50 năm đường Trường Sơn huyền thoại 19-5... và còn nhiều sự kiện trước và sau đó nhưng tuyệt nhiên không thấy một dòng nào nói về các sự kiện trên. Hình như tạp chí số này tách rời khỏi đời sống chính trị trong nước! Cũng có thể Ban biên tập không kêu gọi được ai viết cho những sự kiện trên, bởi chính họ còn đang say sưa, mê mải với những bài viết về Lễ hội Tịch điền (Đọi Sơn - Duy Tiên) suốt từ ngày 7 Tết nguyên đán mà không biết rằng, bây giờ đâu còn cày bừa gì nữa vì lúa đang chín, chuẩn bị thu hoạch rồi (bài “Đọi Sơn - đất thiêng lễ trọngcủa Nguyễn Thế Vinh), họ còn la đà trong ngây ngất men thơ của ngày Thơ Hà Nam (suốt từ Rằm tháng Giêng) khi mà những người làm thơ đã dần quên cả ngày kỷ niệm đó vì cuộc sống có quá nhiều thứ khác phải quan tâm (bài “Ngày thơ Việt Nam trên quê hương Nguyễn Khuyếncủa N.Y.T. dài tới 2 trang), hay còn vẩn vơ triết lí về con trâu (bài “Tản mạn về trâucủa Đinh Cầm) khi mà cái năm Kỷ Sửu đã qua được một nửa… Họ như đi trên mây trên gió thế thì bảo sao tạp chí không có sức sống và hơi thở thời đại! Nếu không có truyện ngắn Người của một thời của Nguyễn Tiến Hoá viết về người lính sau chiến tranh với những số phận, những ngẫm ngợi, những trải nghiệm, những ký ức của một thời trận mạc thì những ngày tháng Tư lịch sử cũng chẳng có nghĩa lí gì. Ngay cả bút ký: Nơi đánh thức những tâm hồn ngủ quên sau thời trận mạc viết về đời sống của Trung tâm điều dưỡng thương bệnh binh tâm thần Ba Sao (Kim Bảng – Hà Nam) do tôi cất công viết khá kỹ lưỡng, nhưng khi in lên thì trời ơi, họ sửa đầu đề thành: Nơi đánh thức những tâm hồn sau trận mạc. Trời ạ, những tâm hồn sau trận mạc làm sao phải đánh thức, đánh thức để làm gì… Đọc xong, xấu hổ chín cả người!!!
Ghi nhận nhất ở tạp chí số này là sự xã hội hoá đã đến mức “bán đất” của tạp chí cho những tác phẩm câu lạc bộ ký sinh. Thực ra thì tôi hoàn toàn ủng hộ việc này bởi từ trước đến nay, mảnh đất của Sông Châu cũng như hầu hết các tạp chí địa phương khác, khá cục bộ khi mà nó chỉ dành cho văn nghệ sĩ trong tỉnh, vài cộng tác viên trong tỉnh và vài người của Hà Nam đang sinh sống, làm việc ở nơi khác, hi hữu lắm mới có vài tác giả không phải người Hà Nam. Thế nên, khi mở tạp chí ra cứ phải gật đầu lia lịa chào người quen đến mỏi cả cổ. Bây giờ thì những người quen phần nhiều đã trốn biệt tăm biệt tích, không biết do họ chê nhuận bút bèo bọt không thèm viết nữa hay hoài thai mãi chẳng sinh được đứa con nào! Thế nên, Ban biên tập phải xã hội hoá bằng cách từ số này, mỗi số đưa một trang thơ văn của các Câu lạc bộ thơ văn trong tỉnh lên để vừa có bài cho đỡ cháy, vừa để họ mua tạp chí, tăng tia-ra phát hành, tăng kinh phí in ấn cho đỡ lỗ. Với lại, việc đăng bài người khác, tỉnh khác chỉ làm tạp chí hay hơn, sang hơn và có nhiều bạn đọc hơn thôi chứ có mất gì đâu. Thế nhưng, tư tưởng tiểu nông của người Việt mình vốn ích kỷ mà, chẳng thể trách được. May mà nó sớm chấm dứt, chứ nếu không, tạp chí chẳng còn bài để in ấy chứ. Nhưng hào phóng đến mức in tới 3 trang thơ và một trang giới thiệu Câu lạc bộ thơ văn Núi Ngọc của huyện Kim Bảng thì quả là hi hữu. Những bài thơ của các tác giả Nguyễn Văn Ngọc, Đinh Quang Kiểm, Hồ Nức, Đinh Văn Thái, Nguyễn Thị Thanh Niềm, Hoàng Trọng Phê, Hồ Quang Luật, Lê Trọng Đẳng, Nguyễn Đức Khoán, Trần Ngọc Lộng, Lê Thị Xuân, Nguyễn Thị Vịnh, Nguyễn Anh Dũng… nếu được chọn lựa kỹ hơn, có lẽ họ sẽ được trọng vọng và yêu mến hơn, đằng này khá nhộm nhoạm, xộc xệch thật chẳng biết thế nào là thơ nữa! Thế có được gọi là xã hội hoá không, hay là “bán đất”, hay nói như một số người khó tính là lẩu thập cẩm!
Thơ lên ngôi thì văn xuôi xuống chiếu dưới là lẽ đương nhiên. Vì thế, những truyện ngắn số này cũng không có gì nổi bật lắm với Thông điệp tình yêu của Chu Thị Phương Lan chẳng biết thuộc thể loại gì và nói về cái gì dù tôi đọc đi đọc lại đến hoa cả mắt. Tản văn Đếm giây của Lê Thanh Kỳ cũng khá nhiều tâm trạng, nhưng phải kể đến công lao của Lưu Quốc Hoà với truyện ngắn Một kiểu trời đầy, dù không thật xuất sắc nhưng cũng vớt vát, cứu vãn cho tờ tạp chí để người đọc khỏi ném đi một cách không thương tiếc. Truyện đã in đi in lại ở nhiều báo chí và cả trên blog của anh. Ngoài ra, tạp chí số này còn có hai bản nhạc của Văn Hào và Quốc Huy, một bài nghiên cứu của Mai Khánh (Giám đốc Bảo tàng tỉnh Hà Nam) và một số tranh ảnh của hội viên.
Hy vọng, sau số này, Ban biên tập sẽ có thêm thời gian nhìn nhận lại và thu hoạch được nhiều hơn những bài tàm tạm cho tạp chí đỡ nghèo nàn và đơn điệu, thậm chí tránh được tình trang trở thành tập san của một Câu lạc bộ thơ văn cấp xã!
Tháng 4 - 2009
 
Hoàng Trọng Muôn
(In trong tập THỬ BÀN VỀ VĂN HỌC HÀ NAM ĐƯƠNG ĐẠI - Tiểu luận Phê bình – Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2010)
Hoàng Trọng Muôn
Đăng nhập để trả lời
0
Tạp chí Sông Châu số 75
(Tạp chí sáng tác, nghiên cứu phê bình văn học nghệ thuật của Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam, 2 tháng 1 số)
 
Dày dặn và phong phú bài vở hơn các số trước là cảm nhận đầu tiên khi đọc tạp chí Sông Châu số 75, được phát hành vào tháng 6 năm 2009. Tuy nhiên, nhiều người đọc lại khá thắc mắc là tại sao những sự kiện lịch sử của tháng 5 đã qua khá lâu, bây giờ lại được viết với khá nhiều bài, giống như một sự tiếc nuối lịch sử, hay nói bóng bẩy hơn là giống một chàng trai sau khi ở nhà bạn gái của mình về mới ngắm nghía lại dung nhan, quần áo, giày dép xem có ổn không. So với báo, tính thời sự của tạp chí ít hơn, nhất là tạp chí văn học hai tháng mới ra một số thì càng khó để cập nhật, nhưng dù làm gì, dù làm thế nào thì báo chí vẫn phải phản ánh mọi mặt đời sống xã hội trong những thời điểm nhất định và vì thế, việc bám sát các sự kiện lịch sử, nhất là những ngày lễ lớn là không thể thiếu. Việc bám sát này, lẽ ra nên đi trước đón đầu các sự kiện để người đọc hiểu hơn về sự kiện đó, về những tâm tư tình cảm, thái độ của mọi người với các sự kiện đó và vì thế mà tạp chí số này nên đi vào các sự kiện của tháng 6 và tháng 7 thì người đọc thấy thích hơn và thấy được sự hiểu biết, tầm tư duy, trí tuệ của tập thể ban biên tập, còn những sự kiện đã qua, nếu viết lại chỉ nên viết dưới dạng các tin hoặc các bài phản ánh ngắn để tổng kết sự kiện.
Điều mà nhiều hội viên tỏ ra khá bực bội là hai số gần đây, mỗi số đều có khá nhiều lỗi chính tả, lỗi trích dẫn thơ và số nào cũng có hội viên có đến hai bài viết đăng trên cùng một số tạp chí, trong khi đó nhiều hội viên khác không có bài được in, nhất là những bài của cùng một hội viên đó, chất lượng cũng chẳng xuất sắc gì nên nhiều người tỏ ra hoài nghi về sự minh bạch cũng như sự công tâm của đội ngũ Ban biên tập. Điều này trước đây chưa xảy ra. Và quả thực, nhiều người đặt câu hỏi: Hình như tờ tạp chí đã là của riêng mấy người trong ban biên tập để họ quý ai, thích ai thì dùng đến hai bài của người đó, còn ghét ai, bực ai thì gạt bài của người đó ra, chứ không phải là của chung cả Hội VHNT nữa. Thực lòng mà nói, những điều đó cũng gây ra ít nhiều dư luận không hay dù phải thừa nhận sự nỗ lực của ban biên tập khi in được một số lượng bài vở khá đáng nể, cũng như tăng số trang in từ 32 trang ruột lên 40 trang khiến tờ tạp chí bỗng nhiên có trọng lượng nặng hơn, cầm trên tay cũng thấy được sự tăng cân của nó. Và dù có không muốn để ý đến ý kiến của các hội viên, của dư luận khi mà Ban biên tập cho là thiếu tinh thần xây dựng và thiếu thiện chí đó thì Ban biên tập cũng nên có được những sự điều chỉnh tốt hơn vì điều này trước đây cũng đã làm rất tốt. Giá như ban biên tập đọc bông kỹ hơn để không xảy ra lỗi chính tả, những lỗi mà học sinh tiểu học có thể dễ dàng nhận ra và các thầy cô giáo có thể cho điểm không vì trừ hết lỗi chính tả thì tạp chí sẽ đỡ hơn những hạt sạn và người đọc, người viết cũng đỡ phải nhíu mày khó chịu, thậm chí cười phá lên như ma làm giữa đêm hôm khuya khoắt khi giở tạp chí ra xem.
Kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh50 năm đường Trường Sơn huyền thoại đã được các báo chí khác làm cách đây ít nhất là hơn một tháng khi ngày kỷ niệm đến gần, thì bây giờ khi người ta đang chuẩn bị cho những ngày kỷ niệm sắp tới, tạp chí Sông Châu mới quay lại đề cập khá đậm đặc trên tạp chí số 75 này với 7 trang in, trong đó đáng chú ý nhất là bài phát biểu của ông Trần Hổ - Phó Bí thư thường trực Tỉnh uỷ Hà Nam trong Lễ kỷ niệm 50 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh và bài “Về bộ đội Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh” của Phạm Bá Chức – Phó trưởng ban liên lạc bộ đội Trường Sơn tỉnh Hà Nam với những số liệu khá thú vị. Ngoài ra, còn có các bài viết về Bác của Đinh Cầm, Nguyễn Thế Nữu và các bài thơ của Lê Trung Hợp, Nguyễn Văn Nhuận, Nguyễn Công Tứ, Hoàng Văn Việt, Phạm Lê, Trần Như Thức.
Lùi xa hơn nữa, tạp chí còn tổ chức tới 3 trang in các bài viết về 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ khi mà các đồng nghiệp làm báo khác từ lâu lắm đã hoàn thành nghĩa vụ của mình trong việc phản ánh này. Đó là các bài viết kể lại kỷ niệm của người trong cuộc do Đại tá, nhà văn Lương Hiền viết, bài viết về hoàn cảnh ra đời bài hát Hò kéo pháo của nhạc sĩ Hoàng Vân và các bài thơ của Phạm Quyết, Lê Đức Quảng, Lương Sơn, Trương Văn Thơ.
Nếu chỉ có thế thì cũng không đáng bàn nhiều vì ngoài hai ngày kỷ niệm đã qua từ lâu được đề cập đến ở trên, hai ngày kỷ niệm khá tiêu biểu của tháng 6 này, được sự quan tâm của đông đảo dư luận xã hội và đang là đề tài nóng thì ban biên tập lại không biết lấy đâu ra bài, đành lấy một chùm tranh của thiếu nhi Hà Nam tham dự triển lãm tranh toàn quốc lần thứ Nhất để in với ý nghĩa Kỷ niệm ngày Quốc tế Thiếu nhi mà người đọc không thể đòi hỏi gì hơn, dù trẻ em đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước cũng như toàn xã hội. Đáng buồn hơn nữa là để kỷ niệm ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, một ngày của đội ngũ những người trong Ban biên tập mà Ban biên tập cũng không thể đào đâu ra bài viết ra hồn, đành giao cho nhà báo Nguyễn Văn Nhuận của tạp chí viết về những kỷ niệm của tạp chí Sông Châu với bạn đọc bằng một bài văn viết ẩu, trúc trắc, cấu tứ lỏng lẻo, câu chữ khô khan và nội dung thì… chẳng có gì! Bài viết được dàn mỏng ra với phông chữ to và thưa mới kín được một trang tạp chí!
Tiếp tục thực hiện chủ trương viết về cơ sở để phát hành tạp chí, số này, tạp chí Sông Châu có chuyên trang viết về các mặt đời sống xã hội của huyện Kim Bảng với một bài ký của Nguyễn Thế Vinh tổng hợp một cách chung chung các số liệu cơ bản trong bản báo cáo thường niên của một số ban ngành trong huyện Kim Bảng nên người đọc cũng khó thể hình dung người dân Kim Bảng đang sống thế nào, cái gì là điển hình, cái gì đang là trở ngại, thử thách và những cố gắng của họ thể hiện thế nào... Rất tiếc, tôi là một người con đang sống tại Kim Bảng với rất nhiều nguồn thông tin thì đang bị Ban biên tập ghét do bài viết về tạp chí số 74 nên không bảo viết bài. Ngoài ra, thì không có thông tin gì khác hơn, chỉ có một trang thơ của những người xưa viết về Kim Bảng và thơ viết về Kim Bảng của các tác giả đương đại như Minh Thuận, Nguyễn Anh Dũng, Nguyễn Xuân Công, cùng hai bản nhạc của Sỹ Thắng và Hạnh Phúc. Giá như làm kỹ hơn, có chiều sâu hơn thì Kim Bảng có rất nhiều tiềm năng, rất nhiều đặc sản, rất nhiều điểm văn hoá, tham quan du lịch, rất nhiều làng nghề, rất nhiều thành tựu trong xây dựng đường giao thông, xây dựng làng văn hoá, thuỷ nông… luôn dẫn đầu toàn tỉnh sẽ được mọi người biết đến dù chỉ là những nét chấm phá nhỏ nhoi. Kim Bảng không nghèo nàn và đơn điệu thế!
Trang Văn học nhà trường có thơ của Đoàn Văn Thanh, Lê Huy Trường, Nguyễn Văn Thắng, Phan Thành Minh và tản văn của Trang Thu. Nhìn chung, thơ số này vẫn là việc cần phải nói khi có tới vài bài thơ cực kỳ nôm na, dễ dãi, vần vè, còn lại thì khá đều đều, na ná như nhau và ít cảm xúc. Đây là vấn đề được bàn nhiều, nói nhiều, thậm chí các cuộc họp, nhà văn Đoàn Ngọc Hà - Tổng Biên tập tạp chí cũng có khá nhiều bài viết phân tích rất sâu sắc về điều này nhưng hình như nhiều người không nghe, không muốn nghe nên sau đó thấy họ thi nhau lên đọc thơ của mình với vẻ kiêu hãnh và tự tin vốn có, còn các sáng tác thì dậm chân tại chỗ hoặc tụt lùi những bước rất dài. Ngoài các bài thơ ở các chuyên mục trên, còn có thơ của các tác giả và hội viên: Hoàng Thị Bảy, Nguyễn Hải Chi, Đinh Thị Hằng, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Ngọc Thao. Hầu như cả 5 hội viên bộ môn Thơ vừa được kết nạp đều trình làng những sáng tác thơ của mình, dù cố gắng nhưng so với những bài thơ họ được giải để được kết nạp hội thì thật khó nhận ra họ như thế nào.
Truyện ngắn số này lại được. Chỉ có hai truyện ngắn thôi nhưng chất lượng đều khá. Đó là truyện ngắn Lão kéo vó bè trên sông Lê của Từ Nguyên Tĩnh với giọng văn nhẹ nhàng khai thác khá sâu sắc đời sống và tâm lí của nhân vật Lão Bối, cùng những thăng trầm, những vật lộn của cư dân một khúc sông. Truyện ngắn Chim hoạ mi của Lê Thanh Kỳ, hội viên bộ môn Văn xuôi vừa được kết nạp lại có giọng điệu giễu cợt, đả kích rất khôn khéo và rất hay về một thú chơi kiểu cách của một vị thẩm phán giàu có nhưng hợm hĩnh, cuối cùng đã chết uất ức vì thú vui của mình khi quên mất cả gia đình, người thân xung quanh đang tồn tại. Hai truyện ngắn với hai đề tài khác nhau, lại viết khá có nghề nên đọc khá ấn tượng và thực sự là điểm sáng cho tạp chí Sông Châu số 75.
Ngoài ra, tạp chí số này có bài viết của nhà văn Vũ Minh Thuý giới thiệu về nhạc sĩ Sỹ Thắng trong trang hội viên, bài Lên bắc ký sự của Đoàn Ngọc Hà vẫn là giọng văn nhừa nhựa đầy mới lạ và ngang tàng, kể về chuyến đi Tây Bắc của Ban chấp hành Hội trong tháng 4 vừa qua, khá thú vị. Trang Nghiên cứu phê bình có bài của Nguyễn Đình Lợi viết về một cách hiểu khác bài thơ Kẽm Trống của Hồ Xuân Hương và bài của Bắc Môn viết về sức sống của thơ Đường luật. Ngoài ra còn có truyện ngắn dịch của Hoàng Giang Phú và thể lệ cuộc thi viết về tam nông cùng các ảnh và tin văn nghệ khác. Tạp chí cũng thông báo tin buồn khi nghệ sĩ Nguyễn Lan Tuyết, hội viên bộ môn Âm Nhạc qua đời vì bạo bệnh khi mới ở tuổi 50, thời kỳ chín của sự nghiệp nghệ thuật.
Tháng 6 - 2009
 
Hoàng Trọng Muôn
(In trong tập THỬ BÀN VỀ VĂN HỌC HÀ NAM ĐƯƠNG ĐẠI - Tiểu luận Phê bình – Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2010)
Bình luận văn học: http://diendan.vnthuquan.net/tt.aspx?forumid=242
New app for Windows Phone 8: Location Reminder
http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx?high=&m=792697&mpage=1#792697
Đăng nhập để trả lời
0
Tạp chí Sông Châu số 77
(Tạp chí sáng tác, nghiên cứu phê bình văn học nghệ thuật của Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam, 2 tháng 1 số)
 
Tháng 11 mới kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20 – 11, nên Ban biên tập tạp chí Sông Châu quyết định để dành cho số sau, còn tháng 10, ngoài ngày Quốc tế Người Cao tuổi (1-10) và ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20-10) thì không còn ngày lễ kỷ niệm nào khác nên tạp chí Sông Châu số 77, ra tháng 10 năm 2009 không phản ánh gì về các ngày lễ kỷ niệm trên, mà trọng tâm tập trung cho các tác phẩm dự thi về đề tài: “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn Hà Nam thời kỳ đổi mới” và Kỷ niệm 10 năm thành lập trường THPT Dân lập Thanh Liêm, Hà Nam (1999 – 2009). Có thể những người làm tạp chí cho rằng, những người cao tuổi không cần phải quan tâm nhiều, nhất là khi đây lại là ngày của người cao tuổi của thế giới chứ không phải của Việt Nam và xã hội cùng mọi báo chí khác đều đã quan tâm cả rồi, còn Ngày Phụ nữ Việt Nam thì năm nào cũng kỷ niệm, một năm lại có những hai ngày dành cho phụ nữ nên số này cũng không có một dòng nào nhắc tới hai sự kiện trên.
Có lẽ đây là điều khá lạ lùng của chức năng một tờ tạp chí khi bỏ qua hầu hết các sự kiện lớn, chỉ tập trung vào phản ánh rất nhiều đến việc một ngôi trường THPT Dân lập của tỉnh kỷ niệm 10 năm thành lập trường, trong khi năm 2009 này có tới mấy trường THPT ở Hà Nam kỷ niệm ngày thành lập như THPT Chuyên Hà Nam kỷ niệm 50 năm thành lập, THPT Kim Bảng A và THPT Nam Lý đều kỷ niệm 45 năm thành lập, chứ không riêng gì THPT Dân lập Thanh Liêm. Tất nhiên, trong hoàn cảnh phát hành tạp chí khó khăn, việc làm này dù sao cũng có thể chấp nhận được vì đó chính là một nguồn thu từ phát hành tạp chí và quảng cáo rất quan trọng cho Hội VHNT Hà Nam, nhưng ít ra mỗi sự kiện trên cũng nên có một bài ngắn, hoặc một truyện ngắn, một bài thơ… nhắc tới như một hoạt động bình thường của chức năng thông tấn, kể cả thông tấn của văn nghệ. Với lại những tác phẩm văn học về hai đề tài này cũng không phải quá hiếm.
Cũng như mấy số tạp chí gần đây, nền bìa và màu sắc của tạp chí khá nhợt nhạt, ảnh không rõ nét, bên trong cũng khá lộn xộn các chuyên mục, sự đơn điệu và nghèo nàn về nội dung mà vài số gần đây người ta đã không buồn nhận xét về nó nữa. Ngoài chuyên mục “Văn nghệ dân gian” được định hình và đóng đinh cho tất cả các số tạp chí thì các chuyên mục khác số có, số không và thường không được định tính, định hình, mà Ban biên tập cứ “mi” bài, thích nhét bài vào chỗ nào thì nhét nên người đọc cũng không biết có những chuyên mục gì và bài nào dành cho chuyên mục đó, ngoại trừ phần mục lục có phân loại bài viết ra theo từng thể loại. Cũng như vài số tạp chí gần đây, số tạp chí này vẫn là sự xuất hiện tới hai bài viết trong cùng một số của những người trong Ban biên tập và cũng không được trình bày theo từng chuyên trang. Cũng như vài số tạp chí gần đây, tạp chí số này cũng xuất hiện những bài thơ, những bài viết ngắn rất ngô nghê, rất khó hiểu, rất hời hợt và khó tiêu hoá nhưng lại được “đóng khung” hẳn hoi ngay những trang đầu tiên như một dạng bài “đinh” của tạp chí khiến người đọc thật khó đủ can đảm và không thể đủ kiên nhẫn đọc các trang tiếp theo. Đó là loạt bài của nhà thơ Đinh Thị Hằng (Phó Chủ tịch Hội). Xin trích dẫn nguyên vẹn một bài thơ để bạn đọc thẩm định, là một trong hai bài thơ được viết ra sau khi kết thúc lớp Bồi dưỡng sáng tác văn chương hè 2009 của Trung tâm Bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du của Hội Nhà văn Việt Nam. Bài thơ “Điều răn thứ 9” của Đinh Thị Hằng:
Mẹ ôm quạt đến từng bàn rao bán
Thượng đế ngả nghiêng thưởng thức hương trời
Chỉ nghe khẩn khoản chào mời
Chợt tiếng quát nơi bàn:Biến! Biến!...”
 
Túi quạt lệch xô nghiêng về phía biển
Thân liêu xiêu ngăn hạt nước vô tình
Mỏng mảnh giấy nan. Mỏng mảnh những sinh linh
Mẹ vặn người chở che thần gió
 
Phố thị ồn ào mùa hoa phượng đỏ
Gặp mẹ bơ vơ bán gió cuối chiều
Con nghiện, cháu mồ côi...  cần mẹ bao nhiêu
Chẳng dám xa trời, mẹ níu trời nuôi cháu
 
Gió mát mở ra được điều răn của Phật
Món nợ đời người lớn nhất: Tình thương!
                                                                   Bãi Cháy 9-7-2009
Đó là toàn bộ bài thơ được đóng khung với màu sắc trang trí riêng khá trang trọng ngay đầu trang thứ 2 (trang 3, vì trang 1 dành cho phần Mục lục) của tạp chí. Có thể tôi không biết cách thẩm định, nhưng đọc những bài thơ, bài viết kiểu đó lên, tôi cứ có cảm giác rất khó diễn tả, khá thất vọng và khó chịu. Giá những bài thơ kiểu nôm na, vần vè dễ dãi như thế, những dạng thơ kiểu thơ… báo chí như thế nếu đưa xuống trang cuối, hoặc gần cuối thì chắc cảm giác của tôi không khó diễn tả như thế. Giá như, nhà thơ Đinh Thị Hằng không cho mình cái quyền của Phó Chủ tịch Hội, mà đưa những bài viết của mình, những bài thơ của mình lẫn vào cùng trang viết, trang thơ của mọi người, thì tôi đã không có cảm giác khó chịu như thế.
Đáng đọc nhất số này là hai tác phẩm văn xuôi. Một là tuỳ bút “Bến quê” của nhà văn Băng Sơn. Tôi rất thích đọc tuỳ bút của nhà văn Băng Sơn vì sự trải nghiệm, ngắn gọn, sắc sảo và giọng văn đầy suy tư, ngẫm ngợi của ông nên gặp lại tác phẩm của ông tôi đọc khá hào hứng. Tác phẩm thứ hai đáng đọc chính là truyện ngắn “Khói chiều mỏng mảnh” của tác giả Nguyễn Thái Sơn. Đây là một truyện ngắn đọc khá thú vị và nhân văn. Truyện viết về một gia đình giàu có, quyền thế với những con người ít tình nghĩa, thuê cô bé ôsin về chăm sóc cho người mẹ già bệnh tật. Truyện không có cách viết thu hút nhưng lại nhiều ngẫm ngợi và có kết truyện khá bất ngờ khi cô ôsin chính là con gái người vợ cũ của ông chủ nhà được mẹ sai lên chăm bà mẹ chồng cũ của mình. Cô để lại mọi thứ vật chất mà gia đình trả công cho ôsin và một bức thư ngắn nói rõ điều đó. Truyện để lại nhiều dư vị chua xót về một lối sống lạnh nhạt, đầy tính toán, lừa lọc của một bộ phận không nhỏ những người từ quê lên phố và đang thành đạt. Cả hai tác phẩm này đều là hai tác phẩm không dự thi.
Sau nhiều hoạt động kêu gọi, thúc giục của Ban thường trực Hội VHNT Hà Nam, số lượng thơ, truyện ngắn và ký gửi về dự cuộc thi “Viết về nông nghiệp, nông thôn và nông dân Hà Nam thời kỳ đổi mới” có vẻ nhiều nên Ban biên tập lúng túng không biết chọn thế nào, đành đưa cả lên tạp chí để cho người đọc tự chọn lựa và mọi người tự đánh giá. Tôi nói điều này là có cơ sở, vì việc chấm sơ khảo để đưa tác phẩm dự thi đăng trên tạp chí đương nhiên là nhiệm vụ của Ban biên tập tạp chí Sông Châu, nhưng rõ ràng, các tác phẩm đăng lên, có rất nhiều sạn và đọc khá mệt mỏi. Cũng có thể số lượng tác phẩm dự thi thì nhiều nhưng chất lượng đúng là có nhiều điều đáng lo và chưa thực sự có được một vài tác phẩm tạm ưng ý. Đọc những tác phẩm dự thi các số trước và đặc biệt là số này với 13 bài thơ thì thấy số tác phẩm đọc tàm tạm là rất ít. Hầu hết người viết nghĩ rằng đã là thơ dự thi về nông nghiệp, nông thôn, nông dân thời kỳ đổi mới là phải ca ngợi, phải đưa những hình ảnh hiện đại hoá nông nghiệp vào thơ, sự no ấm vào thơ nên không khác gì những câu khẩu hiệu, những bài vè trên báo tường của các câu lạc bộ thơ. Thực ra đâu chỉ ca ngợi, đâu chỉ kể lể sự thay đổi theo hướng hiện đại, giàu có của làng quê mới là thơ về nông thôn mới. Truyện ngắn dự thi số này có hai truyện đều của hội viên là truyện ngắn “Trăm dâu đổ đầu tằm” của Lê Thanh Kỳ nói về chuyện người nông dân khốn khổ vì mất đất, mất nghề mà loay hoay không tìm ra lối thoát khi các khu công nghiệp về tận làng quê. Truyện ngắn “Hương hoa Mộc” của Vũ Minh Thuý kể về vợ chồng Thêu và Kiên yêu nhau, giúp nhau vượt qua khó khăn để làm kinh tế và thành đạt. Cả hai truyện ngắn đều như những mẩu viết ngắn, có lời thoại, có nhân vật nhưng đều không có truyện, không rõ nét và chủ yếu là sự đối thoại của nhân vật nên thật khó để kể cho rõ ràng. Ngoài ra, còn có hai ký dự thi của hai hội viên khác. Ký “Nhà khoa học chân đất”, một tiêu đề đã được một vài tờ báo và cả Đài truyền hình Việt Nam sử dụng để nói về ông nông dân 80 tuổi Đinh Văn Viên ở Khả Phong, Kim Bảng, Hà Nam chuyên sáng chế ra các máy móc nông nghiệp từ những vật dụng thông thường, bây giờ được nhà văn Hoàng Giang Phú – Phó Tổng Biên tập tạp chí Sông Châu lấy lại để viết về chính nhân vật này. Không có chi tiết gì mới, không có nhiều chất văn nên những ai được xem ti vi, được đọc báo về ông Viên chắc không thể ngồi đọc hết được bài ký. Ký “Thao thức một vùng quê” của hội viên Lê Huy Trường viết về những đổi thay ở Hà Nam, từ Phủ Lý, đến Duy Tiên, Lý Nhân sau khi có chính sách Tam Nông của Đảng và Nhà nước. Đó là những chấm phá đơn giản về cuộc sống nông thôn hôm nay nên còn nhạt. Tuy nhiên, số lượng các trang in cho các tác phẩm dự thi về đề tài tam nông này chiếm tới hơn 13 trang, trên tổng số 40 trang tạp chí.
Kỷ niệm 10 năm ngày thành lập trường THPT Dân lập Thanh Liêm, ngôi trường mà nhà giáo Trần Văn Lộc, một hội viên Bộ môn Thơ đang làm Hiệu trưởng, được tạp chí dành hẳn 11 trang in và hai trang bìa (Bìa 2 và bìa 4) để in ảnh nên có thể coi đây là chuyên san kỷ niệm thành lập trường Dân lập Thanh Liêm cũng được, dù nó không được đẹp và sang trọng như khi làm tờ tập san riêng in 4 màu. Trong chuyên trang này có một bài tổng kết quá trình phát triển của trường và ký “Những mùa hoa từ đất” đều của nhà giáo Trần Văn Lộc. 3 bài thơ cũng của nhà giáo Trần Văn Lộc viết về những kỷ niệm dạy học là “Nụ cười”, “Trống trường”, “Phượng hồng”. Bài “Những kỷ niệm với anh Trần Văn Lộc” của tác giả Nguyễn Hoàng Phú (Tên thật của Phó Tổng biên tập Hoàng Giang Phú) kể về những kỷ niệm của ông với nhà giáo Trần Văn Lộc, có tranh thủ khoe một số tác phẩm đăng báo trung ương của ông từ ngày ông còn dạy học. Ngoài ra, còn có bài viết của ông Nguyễn Quốc Tuấn, Giám đốc Sở Giáo dục đào tạo Hà Nam nhân kỷ niệm 10 năm thành lập trường và bài phỏng vấn một nhà giáo của trường, bài viết của một học sinh cũ của trường. Xin chúc mừng trường THPT Dân lập Thanh Liêm nhân kỷ niệm 10 năm thành lập.
Trang “Văn nghệ dân gian” có hai bài, trong đó có bài “Dân ca nghi lễ hát Dậm - vấn đề sử dụng các thể thơ dân gian” của Lê Thanh Vân (Bút danh của Thư ký toà soạn Lê Hữu Bách) như một sự phản kháng yếu ớt và chữa cháy khá vụng về sau bài viết gây nhiều ầm ĩ và nhiều dư luận không hay ở Hà Nam trong thời gian qua của tác giả Vương Nguyễn với tiêu đề “Đôi điều trao đổi về Dân ca hát dặm Quyển Sơn” in trên báo Văn nghệ của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh, số 80 ra ngày 17 tháng 9 năm 2009, chỉ ra những điểm chưa thuyết phục trong cuốn sách của Lê Hữu Bách “Khảo cứu về lễ hội Hát Dặm Quyển Sơn”. Bài viết đó khá sắc sảo và có nhiều tư liệu gây sốc của Vương Nguyễn, một người con làng hát dặm Quyển Sơn đã khiến nhiều người có cách nhìn khác về công trình nghiên cứu của Lê Hữu Bách, nên ông phải viết bài để vớt vát phần nào thể diện của mình. Ngoài ra, còn có bài “Ngọn nguồn dân ca giao duyên vùng ngã ba sông Móng” của Nguyễn Đình Lợi viết về những làn điệu dân ca ngã ba sông Móng ở Hà Nam.
Số tạp chí 77 này còn có nhạc và một số ảnh nghệ thuật, một số tin hoạt động văn nghệ của Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam trong thời gian qua.
Tháng 10 - 2009
 
Hoàng Trọng Muôn
(In trong tập THỬ BÀN VỀ VĂN HỌC HÀ NAM ĐƯƠNG ĐẠI - Tiểu luận Phê bình – Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2010)
Bình luận văn học: http://diendan.vnthuquan.net/tt.aspx?forumid=242
New app for Windows Phone 8: Location Reminder
http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx?high=&m=792697&mpage=1#792697
Đăng nhập để trả lời
0