HỒI THỨ BA
Một lòng một dạ tam hùng kết nghĩa
Múa dẻo hát hay song mỹ hiến ca
Lại nói Khuông Dẫn cầm cung ra sức kéo, nhưng vì cung nhỏ, dùng sức quá mạnh nên cây cung liền gãy làm đôi. Khuông Dẫn vút luôn xuống dết và cúi người lấy một chiếc to hơn. Khuông Dẫn từ từ giươnglên. Cung tròn như mặt trăng giữa tháng. Khuông Dẫn mặt không biến sắc, hơi thở đều đều, ung dung tự tại Số đông vây quanh vỗ tay tán thường, ca ngợi anh chàng mặt đỏ sức khỏe hơn người. Hảo hán mặt đen thấy Khuông Dẫn giương cung thật dễ dàng thì hết sức kinh ngạc, vội bước lên một bước chắp tay vái chào và nói :
- Người anh hùng khỏe quá . Xin tôn huynh cho biết quí danh quí tính và người ở đâu ta ?
Khuông Dẫn chắp tay đáp lễ rồi nói :
- Kẻ hèn này họ Triệu, tên Khuông Dẫn, người Trác Châu. Việc giương cung là việc nhỏ mọn, đâu phải là chuyện lớn!
Anh chàng đen thui nói :
- Thì ra đây là công tử họ Triệu, chẳng trách thần lực đến như vậy, thực không hổ với dòng dõi tướng gia ! Tiểu đệ nghe tên từ lâu nay mới được gặp, quả là vạn hạnh, vạn hạnh !
Khuông Dẫn đáp :
- Kẻ hèn này chỉ có hư danh, nếu nói vậy càng thấy hổ thẹn ! Nhưng không biết tráng sĩ là người phương nào, xin cho biết rõ quí danh quí tính và vì sao đi bán cung lại không thu tiền.
Anh chàng đen thui lại nói :
- Tiểu đệ người Trịnh Châu, họ Trịnh tên ân, tự Tử Minh. Từ nhỏ song thân đã qua đời, được thừa kế ruộng vườn hàng ngàn khoảnh đủ để sống suốt đời. Nhưng vì tiểu đệ vốn tính thích nghề võ nên mới đi xa tìm thầy luyện tập; lại thích kết giao với anh tài, tụ tập cùng hào kiệt; nghe đâu có hảo hán bản lĩnh cao cường, võ nghệ xuất chúng thì dù có xa xôi ngàn dặm đệ cũng lặn lội tìm tới thăm. Vì thế đệ đã học đủ mười tám môn võ nghệ, môn nào cũng tinh. Nhưng võ nghệ thì học được, còn tài sản ngày một vơi dần. Tiểu đệ được trời sinh cho cái tính hào phóng thường không nghĩ đến gia sản chỉ lo kết giao giang hồ hào kiệt. Gặp người hoạn nạn thì giang tay cứu giúp, không tiếc một chút gì, thế là gia sản cạn kiệt, đệ phải lang bạt giang hồ, mượn cớ bán cung để kết thân với anh hùng hào kiệt. Đó cũng là lý do đệ không màng tới lời lãi trong việc buôn bán.
Khuông Dẫn nghe xong, vui mừng khôn xiết :
- Thì ra việc bán cung của Trịnh huynh chỉ là để chiêu dụ nhân tài. Lúc này còn có một hàn sĩ tuy là văn tài, chưa tường về võ nghệ nhưng đã là bạn hữu tâm huyết. Trịnh huynh đã muốn kết giao thì không thể không gặp người đó.
Trịnh Ân vội hỏi :
- Hàn sĩ mà công tử nói là người ở đâu, tính danh là gì xin cho đệ được gặp thì quý hóa quá ?
Khuông Dẫn nói :
- Người đó đi cùng đệ, đang đợi ở trên cầu, để xin mời xuống đây giới thiệu cùng Trịnh huynh.
Nói xong liền giơ tay vẫy người ở trên cầu.
Sài Vinh bỗng nhìn thấy Khuông Dẫn giơ tay vẫy gọi thì đến ngay. Trước mặt hai người, thấy Triệu Khuông Dẫn vừa nói vừa chỉ vào Trịnh Ân:
- Vị này là Trịnh Tử Minh, người Trịnh Châu là hào kiệt thời nay, hai ta cần biết.
Lại giới thiệu về tên họ và gia thế của Sài Vinh với Trịnh Ân. Trịnh Ân khom người vái lạy rồi nói :
- Đây cũng là vị công tử, tiểu đệ thất kính, mong được tạ tội!
Sài Vinh thấy Trịnh Ân đầu báo, hai mắt tròn xoe, thân cao bảy thước, dáng dấp của một vị đại tướng nên cũng muốn kết giao, liền vội vã đáp lễ nói luôn :
- Đều là hào kiệt với nhau cả, bất tất Trịnh huynh phải khách khí nhường ấy ?
Trịnh Ân nói :
- Tiểu đệ xuất thân quê mùa, tính tình thô lỗ, chưa tường lễ nghĩa, xin hai vị lượng thứ !
Khuông Dẫn cười, nói :
- May thay có thiên duyên kỳ ngộ chúng ta mới được gặp nhau. Hôm nay đệ và Sài huynh muốn đến miếu Quan Đế kết nghĩa anh em, may gặp được Trịnh huynh, ba ta cùng nhau đến miếu vậy.
Trịnh Ân mừng rỡ ra mặt :
- Nếu hai vị không chê kẻ quê mùa này thì xin được cùng đi. Thực là vinh hạnh biết bao !
Trịnh Ân dọn mấy cây cung rồi theo chân Triệu, Sài cùng đến miếu Quan Đế.
Lũ gia nhân đã thắp hương đốt nến, dâng đồ tế lễ xong xuôi, chỉ còn chờ chủ nhân đến là hành lễ. Nhìn thấy mọi việc chu tất, cá ba hết sức mừng rỡ, bắt đầu tính đến tuổi tác. Sài Vinh lớn tuổi nhất xếp hàng đầu thứ đến là Khuông Dẫn, Trịnh Ân là thứ ba. Họ làm lễ theo thứ tự đó, còn lạy nhau hai lạy, một tình cảm thân thiết, ruột thịt bao trùm cả miếu đường. Khuông Dẫn dặn dò lũ gia nhân :
- Chúng ta đều chưa ăn gì cả. Cho dọn vật phẩm cúng tế ra phía sau, xong việc thì xin rượu xuống.
Lũ gia nhân vâng dạ rồi lui. Một lát sau thì mọi việc đã xong, ba người được mời vào bàn rượu. Sài Vinh là đại ca ngồi ở chính giữa, rồi đến Khuông Dẫn. Trịnh Ân ngồi hai bên. Ba người chén chú chén anh vui vẻ Sài Vinh ăn uống và tửu lượng đều kém, Khuông Dẫn là con quan, ăn uống hết sức tinh tế, không màng các đồ tế phẩm chưa được chế biến, nên đành ngồi uống mấy chén rượu suông. Riêng Trịnh ân quê mùa quen nếp, sức ăn bằng mấy người thường. Trịnh ân uống rượu bằng bát, một tợp là hết luôn. Gà, cá, thịt cứ nuốt cả súc, ăn như tằm ăn rỗi, loáng cái đã gần hết. Hai người nhìn bộ dạng của Trịnh Ân rồi cười, nói :
- Tam đệ thật anh hùng, bọn ta theo không kịp.
Trịnh Ân lấy tay chùi mép đáp :
- Lúc trước ở nhà, mỗi bữa đệ ăn cả đấu gạo và mươi cân thịt. Lâu nay giang hồ lưu lạc, chưa được bữa nào nuốt khỏe như bữa nay. Các huynh ngồi nhìn đừng vội coi đệ như quỉ đói ở thành Phong Đô !
Nói xong liền hềnh' hệch cười. Khuông Dẫn, Sài Vinh cũng phải ôm bụng mà cười.
Bữa rượu đã xong, gia nhân bắt đầu thu dọn. Sài Vinh bảo Trịnh Ân dọn đến ở với mình. Trịnh Ân vui vẻ vào thành mang theo hành lý đến ở chỗ Sài Vinh. Từ đó, ngoài giờ học, Khuông Dẫn thường cùng Thạch Thủ Tín, La Ngạn Uy đến chỗ Sài Vinh bàn luận chuyện kim cổ. Có lúc hứng lên cả lũ lại kéo nhau đi cưỡi ngựa bắn tên hay luyện võ. Ngay như Sài Vinh nho nhã là thế mà cũng bị lôi vào cuộc, lúc này đã cưỡi được ngựa bất kham, giương được cung cứng.
Ngày đi đêm đến, thời gian vun vút trôi nhanh, Khuông Dẫn đến đây đã tròn một năm. Khuông Dẫn bỗng cảm thấy nhớ nhà, muốn trở lại Biện Kinh thăm nom cha mẹ. Khuông Dẫn tâm sự với mọi người. Sài Vinh nói :
- Nhị ca thì về Biện Kinh, còn ta xa cách người chú cũng đã lâu. Sau khi nhị đệ đi rồi, ta cũng phải về đó một chuyến.
Trịnh Ân nói :
- Đại ca và nhị đệ đều đi cả, tiểu đệ còn lại một mình chắc là buồn lắm ! Riêng đệ xa nhà đã hơn một năm, cũng phải quay về một chuyến. Chờ khi hai anh đi rồi, tiểu đệ cũng phải về Trịnh Châu. Nhưng như thế thì biết bao giờ mới lại gặp nhau. Cứ nghĩ đến là lại thấy buồn. Chúng ta nên hẹn ngày tái ngộ mới phải !
Khuông Dẫn cười nói :
-Bao giờ thì gặp nhau, có gì là khó. Thường vào dịp tết Nguyên Tiêu tháng giêng hàng năm, Biện Kinh thường mở hội hoa đăng chúc mừng ngày tết. Đại ca, tam đệ sao lại không về Biện Kinh một chuyến, ăn tết Nguyên Tiêu và xem rước đèn ? Khi đó anh em ta lại được gặp nhau, vui mừng biết mấy ?
Sài Vinh, Trịnh Ân đều nói :
- Đúng là nên như vậy. Tết Nguyên Tiêu tới chúng ta phải đi Biện Kinh một chuyến.
Khuông Dẫn thấy hai người bằng lòng thì vui lắm, đứng dậy ngay để từ biệt :
- Sáng sớm mai đệ phải lên dường nên không gặp nhau được nữa .
Sài Vinh nói :
-Đã là anh em với nhau còn phải khách sáo làm gì? Ngày mai ta và tam đệ cũng phải thu dọn hành trang nên không tiễn được. Chia tay nhau ở đây vậy. Tháng giêng tới nhất định sẽ gặp nhau.
Ba người cùng bái biệt.
Từ ngày Khuông Dẫn đến sống với Đỗ Tam Ông, luôn luôn nghĩ rằng : "Nếu mình tự ý xin về thì chắc gì ông ngoại đã cho ! Phải giả viết một bức thư vậy". Khuông Dẫn giả viết thư của Hoằng Ân, cất vào trong bao áo, rồi lên thăm ông. ông ngoại bảo cậu ngồi xuống cạnh, hỏi han về chuyện học hành. Khuông Dẫn sẵn có chủ ý nên trả lời đâu ra đấy, làm ông ngoại rất vui ông nói :
- Cháu đến đây đã được một năm, đã học được nhiều thứ. Nếu cứ chăm chỉ như vậy thì không chóng thì chầy sẽ trở thành người uyên bác. Được như vậy là công đức họ Triệu nhà cháu lớn lắm. Nhưng cháu còn phải cố gắng nhiều nữa mới thỏa được ước nguyện của ông, của cha mẹ cháu.
Khuông Dẫn phải lặng thinh ngồi nghe ông ngoại nói đi nói lại mãi. Vừa lúc ông ngoại dừng lời, cậu mới dám đưa thư ra cho ông :
- Cha cháu có thư nói là có việc gấp chờ cháu về giải quyết. Thư còn dặn là phải đi ngay kẻo lỡ việc.
Tam Ông xem qua lá thư :
- ừ! ừ ! Cháu đi đã gần một năm rồi, chắc cha cháu nhớ lắm nên mới có thư gọi cháu về. Đã có thư thì ông chẳng giữ. Nhưng bao giờ thì quay lại. Việc học hành là việc quan hệ đến cả cuộc đời. Nếu giữa chừng mà bỏ thì phí hoài quá !
Khuông Dẫn cười lấy lòng ông ngoại :
- Trong thư cha cháu bảo có việc gấp cần bàn chắc cũng không lâu đâu. Hễ xong việc là trở lại ngay, cháu cũng không muốn sao nhãng việc học hành.
Tam Ông gật đầu :
- Được lắm ! Được lắm ! Thế bao giờ cháu lên đường ?
Khuông Dẫn thưa :
- Thư bảo có việc gấp nên sáng mai cháu lên đường luôn !
Tam Ông nói :
- Cháu cũng phải thu xếp hành lý đi, kẻo mai lại không kịp !
Khuông Dẫn thưa luôn :
- Cháu đã chuẩn bị xong từ nãy rồi ! - KhuôngDẫn còn ấp úng tiếp : - Cháu đi nhanh về nhanh, không phải mang theo hành lý cho đỡ mệt, ông ngoại thấy thế nào ?
Ông ngoại thấy phải lắm nên vui vẻ để sáng mai Khuông Dẫn lên đường.
Mờ sáng hôm sau lúc Tam ông còn ngon giấc, Khuông Dẫn đã sai lũ gia nhân gánh hành lý ra ngoài thành, cùng nhau lên đường. Khuông Dẫn không muốn để ông nhìn thấy hành lý rồi nhớ lại câu nói hôm qua mà lỡ việc. Đó là điểm thông minh của Khuông Dẫn. Nhìn thấy người quẩy hành lý đã đi xa, Khuông Dẫn mới quay lại để từ biệt ông. Tam ông vừa dậy đang chải đấu, rửa mặt. Vừa nhìn thấy Khuông Dẫn, ông dặn thêm :
-Trên đường đi phải cẩn thận; đi sớm về sớm, đừng phí thời gian sao nhãng bài vở.
Khuông Dẫn nhất nhất vâng lời rồi lạy ông để từ biệt. Tam ông tiễn cháu ra đến tận cửa, cho đến khi Khuông Dẫn đã đi xa ông mới quay lại.
Ra khỏi nhà ông ngoại, Khuông Dẫn đi rất nhanh ra điểm hẹn ở ngoài thành rồi cùng người quảy hành lý đi về hướng Biện Kinh. Ngày đi đêm nghỉ, hai người mất gần một ngày thì tới nơi. May sao Hoằng Ân cũng có mặt ở nhà, vợ chồng đang ngồi trò chuyện ở phòng trong. Hai con là Khuông Nghĩa, Khuông Mỹ ở kề bên.
Bỗng gia nhân vào báo đại công tử đã về. Hoằng Ân nghe tin con về thì rất mừng. Đỗ thị quay sang phía Khuông Nghĩa :
- Con nhanh chóng ra đón anh đi!
Khuông Nghĩa vâng dạ rồi chạy ra ngoài đón anh. Lúc sau đã thấy hai anh em dắt tay nhau bước vào hậu đường. Khuông Dẫn vái lạy cha mẹ rồi mới nói :
- Con là đứa bất hiếu, đi xa đã gần một năm không được sớm tối hầu hạ cha mẹ. Con mong cha mẹ thứ tội!
Hoàng Ân nói :
- Con đi xa học hành tấn tới là hiếu thuận nhiều rồi! Sao lại trách con được. Có điều lúc này không phải nghỉ tết, không phải nghỉ đông, sao con lại bỏ về?
Khuông Dẫn nói :
- Con xa nhà kể đã hàng năm, con nhớ nhà lắm nên mới xin về sớm.
Hoằng Ân nói :
- Đã về rồi thì không sao. Nhưng đừng có lông nhông như trước, suất ngày đàn đúm, múa may quay cuồng làm điều xằng bậy. Con phái ở nhà để học hành, ôn tập. Ta sẽ kiểm tra con bất cứ lúc nào. Nếu không thay đổi thì đừng trách cha.
Khuông Dẫn luôn miệng vâng dạ.
Đỗ thị ngồi bên cạnh cứ sợ Khuông Dẫn nói năng thất thố làm cha bực mình, nên mới nói lảng sang chuyện khác :
- Khuông Nghĩa, Khuông Mỹ, các con xa anh đã gần một năm. Nay nhân lúc anh về sao các con không đến bái kiến ? Tình nghĩa anh em quên hết cả rồi sao ?
Khuông Nghĩa nghe lời mẹ, tiến lên trước cúi lạy người anh. Còn Khuông Mỹ thì đang học nói, hiểu sao được lời mẹ ! Cu cậu vẫn đứng yên ! Khuông Dẫn bước tới đỡ Khuông Nghĩa dậy và đưa mắt nhìn kỹ : Khuông Nghĩa mặt hoa da phấn, mắt sáng long lanh; miệng rộng môi thắm, hai tai xệ xuống, dáng trông như rồng như phượng. Khuông Nghĩa tuy còn nhỏ nhưng đã oai phong đường bệ hết sức đáng yêu. Khuông Dẫn tươi cười thưa với cha mẹ :
- Con xa nhà chưa đầy một năm mà nhị đệ đã ra dáng lắm. Phúc phận sau này chắc phải hơn con !
Đỗ thị nói :
- Đúng là em con khá lắm. Còn phúc phận sau này ra sao, tạo hóa sẽ sắp đặt ?
Khuông Dẫn vâng dạ rồi cáo lui về phòng của mình.
Từ đó Khuông Dẫn định bụng không ra ngoài như lời cha dạy. Nhưng khốn thay Khuông Dẫn là đứa hiếu động, liệu có chịu được không ? Hết ngày thứ hai, tính nào tật ấy, Khuông Dẫn lại chạy tìm mấy bạn hồi bé. Dạo còn ở nhà, Khuông Dẫn đã có tiếng, được các bạn quý mến. Trong số bạn có hai người là tâm đắc : Hàn Lệnh Khôn Từ Châu và Mộ Dung Diên Chiêu. Về nhà rồi tất phải tìm đến thăm họ, cùng nhau chơi bời tụ tập. Ngoài luyện võ, du chơi, săn bắn còn được thi tên, kích cầu, chơi trò đỏ đen không chừa một thứ gì.
Một hôm Hàn Lệnh Khôn hẹn Khuông Dẫn vào một căn hầm đất chơi trò đỏ đen. Đến đoạn hứng thú nhất, gần lúc thắng thua thì nghe bên ngoài có tiếng ồn ào, đến mức huyên náo. Cả hai dừng lại lắng nghe, tiếng ồn như gần đâu đây, nhiều vẻ kỳ lạ. Khuông Dẫn hỏi Lệnh Khôn :
- Tiếng như tiếng một loài cầm thú, lẫn cả tiếng chim bay. Vùng này cạnh rừng, dân cư thưa thớt, chắc có mãnh thú đi qua, lũ chim muông mới kinh hoàng, ồn ã đến thế ! Chúng ta sẵn có cung tên, nếu là dã thú thì bắn luôn để trừ hại cho dân, cậu thấy thế nào ?
Lệnh Khôn nói :
- Mình cũng nghĩ thế. Anh hùng thường hay đồng điệu !
Hai người cùng xách cung tên ra khỏi căn hầm thì chỉ thấy có bầy chim sẻ đang bay đi bay lại, chao chát ngay trên nóc. Lệnh Khôn nói :
- Lũ chim này thật là quái ác ! Tuy là đồng loại mà chúng cấu xé, tàn sát lẫn nhau. Chẳng trách lúc này, quân lính không cùng chính kiến là gây can qua, khắp nơi thây chất thành đống, máu đọng thành sông cũng là lẽ thường !
Khuông Dẫn nói :
- Chúng cứ mổ nhau như vậy thì không trầy da cũng tróc vảy. Ta có cách gì giúp chúng giải vây đây?
Lệnh Khôn nói :
- Có gì mà phải nghĩ, chỉ cần ném chúng một vốc đất vụn thì chúng sẽ nhao nhác bay đi ngay!
Khuông Dẫn cười nói :
- Ném mấy viên đá là việc nhỏ. Đã coi mình là anh hùng hảo hán thì phải khác kia!
Lệnh Khôn, hỏi :
- Vậy theo cậu thì phải làm gì ?
Khuông Dẫn nói :
- Đã là đồng loại mà tranh giành giết nhau thì phải trừng trị, răn đe. Sẵn có cung tên, nên giết mấy con hung bạo nhất.
Lệnh Khôn gật đầu lia lịa :
- Nói hay lắm ? Giết chết mấy con hung tợn là đúng lắm !
Nói đoạn, họ lùi lại mấy bước, giữ khoảng cách với nóc hầm chừng hơn một trượng. Hai người giương cung đặt tên định bắn thì bỗng có tiếng ầm ấm như long trời lở đất, cát bụi mù trời không sao mở được mắt. Trước mặt như có cái gì đổ ấm xuống, lũ chim sẽ cũng bay biến đi mất 1 Trong chốc lát mọi chuyện lại yên ắng. Hai người dụi mắt hồi lâu mới nhìn rõ !
Thế là cả căn hầm đã đổ sập xuống. Khuông Dẫn luôn miệng bảo là may :
- Căn hầm đang tốt là thế bỗng đổ sập xuống. Không có đàn sẻ náo loạn e chúng mình vẫn còn trong đó và chắc chắn đã hết đời !
Lệnh Khôn cũng nói :
- Có lẽ lũ sẻ làm huyên náo là để cứu chúng ta. Ông trời đã mượn lũ sẻ lôi chúng ta ra khỏi hầm đất Lũ sẻ là ân nhân cứu mạng. Không trả ơn thì chớ, chúng ta còn định bắn chúng. Thực đáng chết, đáng chết!
Khuông Dẫn tiếp lời :
- May mà căn hầm sập nhanh lũ sẻ mới thoát chết. Còn không thì bao nhiêu sinh mạng đã đi đời! Từ nay hai ta phải bảo vệ chúng, không giết hại dù là con sâu, con kiến. Đó chính là cái đạo hiếu sinh của ông trời vậy!
Lệnh Khôn gật đầu cảm thán :
- Người có nhân phải nghĩ thế ! Mình ghi nhớ suất đời Không nên tổn hại đến sinh linh!
Khuông Dẫn nói :
- Chân lý hiển nhiên là như vậy ! Sự sống là đức lớn của trời đất. Mọi thân cây ngọn cỗ trong vũ trụ này nếu còn sự sống, đều đáng thương xót và nên bảo vệ Nếu vô cớ ta sát hại chúng là phạm vào đức hiếu sinh, tránh sao khỏi tội lỗi với trời đất.
Lệnh Khôn xen vào, nói ngay :
- Nói như cậu thì sau này đem binh mã đi giao chiến với địch cũng không nên tàn sát ?
Khuông Dẫn nói :
- Hai nước giao tranh, ai vì chủ nấy, ra sức bảo vệ sinh mệnh cho dân cho nước của mình thì đó lại là chuyện khác. Thang Thương xưa là những bậc thánh nhân, nhưng vẫn phải có quân lính để trừ bỏ tàn bạo, cứu vớt dân lành, gìn giữ đức lớn hiếu sinh của trời đất Nếu coi tất cả là người nhân đức, không dám sát hại sinh linh thì chẳng phải trăm họ trong thiên hạ đã phải chết hết dưới bàn tay bạo ngược của Kiệt Trụ rồi sao? Vì vậy Thang Thương tàn sát sinh linh chính là cứu sinh linh vậy! Cậu không thể hiểu sai lời của mình được ! Có điều là một tướng soái cầm quân tất phải giết, nhưng mong phải có lòng hiếu sinh, đáng giết mới giết hoặc đáng giết mà không giết, mới là đạo lý. Vì vậy cũng là tranh quyền đoạt lợi nhưng đâu là nhân đâu là bạo phải phân biệt rành rẽ !
Lệnh Khôn nghe xong lấy làm bái phục; vẫn còn muốn bàn luận nữa, nhưng trời đã chiều, ai nấy phải nhanh chóng chia tay, vào thành.
Thời gian như bóng câu lướt qua khe cửa, đông tàn đã hết, xuân sang bắt đầu, một năm mới lại tới. Khuông Dẫn sau mấy ngày tết, cảm tưởng Nguyên Tiêu đến gần. Trong thành Biện Kinh, ba hôm trước người ta đã treo đèn kết hoa chuẩn bị chu đáo. Lúc này Khuông Dẫn đang mỏi mắt trông mong Sài Vinh, Trịnh Ân đến dự lễ rước đèn. Chờ cho đến ngày rằm mà không thấy hai người. Sài Vinh, Trịnh Ân không phải là thất ước, tất có chuyện gì hệ trọng không dứt ra được Khuông Dẫn buồn bã chờ đến tối, rồi cùng cha mẹ, các em ăn tết đoàn viên. Hoằng Ân thân là Cấm quân chỉ ở nhà được một lát, uống chút rượu, ăn miếng bánh rồi đi điều Cấm quân tuần thú phố phường lo giữ an ninh. Khuông Dẫn cơm nước xong mới bẩm báo cùng mẫu thân nói có hẹn đi xem rước đèn. Đỗ thị dặn dò sớm đi sớm về, không nên sơ suất ở bên ngoài. Khuông Dẫn vâng dạ rồi từ biệt mẫu thân. Khuông Dẫn đến chỗ hẹn gặp nhiều bạn thời nhỏ như Hàn Lệnh Khôn, Mộ Dung Diên Chiêu, Trương Quang Viễn, Dương Đình Long, Chu Bá, Sử Khuê, Lý Hán Thăng, Lý Trọng Tiến, cả lũ kéo đến hoan hô nghênh đón Khuông Dẫn. "Triệu huynh đến rồi, xuất phát đi thôi!", mọi người vừa nói vừa kéo đến Thiên Khánh lầu, Nam Môn nơi có nhiều đèn đẹp.
Bấy giờ đèn đuốc đã sáng trưng, tiếng ca lời hát thật rộn rã. Hai bên đường có cây hoè xanh tươi, hàng liễu rủ bóng, phong cảnh tuyệt vời. Con người đang bước vào cánh thần tiên hư thực. Tiếc rằng người xem đông quá, chẳng khác gì đàn cá bơi trong mương hẹp, không sao vượt được. Hoặc có ai định vượt thì Cấm quân can thiệp ngay. Vì vậy người tuy đông nhưng có trật tự. Bọn Khuông Dẫn đến lầu Thiên Khánh thì trong Ngự Câu Lan đang có ca múa, hai mỹ nữ sắc nước hương trời Đại Tuyết và Tiểu Tuyết bên Nam Đường vừa dâng tặng. Bọn Khuông Dẫn chen đến tận vũ đài xem cho rõ. Lời ca đã hay điệu múa càng đẹp, vô cùng xúc động lòng người. Cả lũ say mê reo hò tán thường đến ù cả tai, hoa cả mắt.
Tiếp theo thế nào, xin xem hồi sau sẽ rõ!
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ


★
★
★
★
★
0