Sức mạnh của thể ký trong văn học chống Mỹ cứu nước ở miền Nam
Bích thu
Ba mươi năm đã qua nhưng cuộc chiến tranh chống Mỹ với dân tộc ta đâu chỉ là một quá khứ mà nó vẫn hiện diện trong cuộc sống hôm nay của cả dân tộc cũng như của mỗi con người. Các thế hệ của hiện tại sẽ còn tìm đến những sáng tác trong những năm chống Mỹ không chỉ để chiêm ngưỡng những tượng đài kỉ niệm, những sự tích anh hùng, những huyền thoại mà còn để soi tìm trong đó những lời giải đáp có ý nghĩa nhân bản với những vấn đề của cuộc sống và con người hôm nay. ý nghĩa thời sự và lâu dài của các tác phẩm sẽ cắt nghĩa vì sao trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, người dân Việt Nam đã dám đánh và thắng đế quốc Mỹ.
Như một vũ khí xung kích trong chiến tranh nhân dân, thể ký đã phát triển mạnh mẽ trong văn học giải phóng miền Nam ngay trong thời kì khó khăn nhất của cách mạng. Với tính chất cơ động và linh hoạt, phản ánh kịp thời những vấn đề và sự kiện đang diễn ra, ký đã sớm phát huy tác dụng và ưu thế của thể loại, đạt đến giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật trong hoàn cảnh đặc biệt của đất nước và của đời sống văn học những năm chống Mỹ. Chưa bao giờ các tác phẩm ký từ miền Nam gửi ra miền Bắc lại được đông đảo công chúng chào đón và trở thành những hiện tượng văn học như: Từ tuyến đầu Tổ quốc, Những ngày gian khổ (Nhiều tác giả), Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi), Sống như Anh (Trần Đình Vân), Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc (Nguyễn Trung Thành), Bức thư Cà Mau (Anh Đức), Cửu Long cuộn sóng (Trần Hiếu Minh), Trường Sơn hùng tráng (Hồng Châu)... Và cùng với các bài ký của Giang Nam, Lý Văn Sâm, Võ Trần Nhã, Đinh Quang Nhã, Lê Văn Thảo, Chu Cẩm Phong, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Mai Nam... đã tạo một đội ngũ viết ký đông đảo và phong phú.
Các văn nghệ sỹ miền Nam trước những yêu cầu của cách mạng là phản ánh nhanh nhạy thực tế cuộc sống trong hoàn cảnh chiến tranh đã nhận thức được một cách đúng đắn mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị, giữa tư cách nghệ sỹ và công dân, nhà văn và chiến sỹ. Họ ý thức trong hoàn cảnh hiện thời phải đánh giặc bằng văn học, sáng tác phải bám sát thực tế và do đó đã sử dụng linh hoạt một trong những hình thức thể loại thích hợp. Đó là ký - một loại hình thích ứng nhanh với việc phản ánh hiện thực, có thể tác chiến kịp thời trên vị trí văn học của mình. Ký trở thành dòng chủ lưu, có một vị trí quan trọng trong nền văn học chống Mỹ cứu nước ở miền Nam.
Có thể nói, chưa bao giờ ký miền Nam lại phát huy được sức mạnh của thể loại như trong những năm chống Mỹ. Chưa bao giờ người đọc lại trông chờ, mong ngóng, thậm chí thuộc nằm lòng những tác phẩm ký được viết trong hoàn cảnh dữ dội, ác liệt mà vẫn trữ tình, lãng mạn, có sức lôi cuốn người đọc, thôi thúc họ lên đường cầm súng chống Mỹ, bảo vệ quê hương đất nước như trong ký miền Nam. Những tác phẩm ký tiêu biểu của một thời chống Mỹ không chỉ là minh chứng thuyết phục cho sự hòa quyện giữa trách nhiệm công dân và nghệ sỹ mà còn là minh chứng về trình độ và năng lực sáng tạo của người cầm bút trên “chiến trường sống và viết” thuở nào. Đường chúng ta đi (Nguyễn Trung Thành) và Dòng kinh quê hương (Nguyễn Thi) là những thiên tùy bút đặc sắc, sớm ghi nhận tên tuổi của người sáng tác ngay từ khi tác phẩm đến với người đọc cả nước, và nhanh chóng xếp vào hàng những tùy bút xuất sắc nhất của văn xuôi Việt Nam trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. ở tùy bút Dòng kinh quê hương và Đường chúng ta đi, các tác giả ngoài việc ghi lại hình ảnh của những con người và sự kiện cụ thể có thực trong cuộc sống đã bộc lộ cảm xúc, suy tư và nhận thức của chính mình về con người và cuộc sống hiện tại, về quá khứ và truyền thống dân tộc, về nhân loại và thế giới trên những áng văn thấm đẫm cảm hứng sử thi, lãng mạn và hào hùng, với những hình ảnh chắt lọc và gợi cảm đã tác động mạnh mẽ đến tình cảm và tâm lý người đọc lúc bấy giờ. Cả hai tùy bút đều bắt đầu từ một giọng hát. Trong Đường chúng ta đi là: “Một giọng hát dân ca, ngân nga, bát ngát, như cánh cò trên đồng lúa miền Nam chạy tới chân trời, có lúc rụt rè, e thẹn như khóe mắt người yêu mới gặp mặt, có lúc tinh nghịch duyên dáng như những đôi chân nhỏ thoăn thoắt gánh lúa chạy trên những con đường làng trộn lẫn bóng tre và bóng nắng. Có lẽ không phải là một người con gái đang hát trên đài... Đó chính là quê hương ta đang lên tiếng hát.” Và với Dòng kinh quê hương của Nguyễn Thi: “Vẫn như có một giọng hò đang ngân lên trong không gian có mùi quả chín, một mái xuồng vừa cập bến có tiếng trẻ reo mừng, và sau lưng tôi, tiếng giã bàng vừa ngưng lại thì một giọng đưa em bỗng cất lên... Giọng hát thấm đọng những điều gì như tấm lòng của dân tộc đang nói với ta, như từ bao đời nay rồi ta từng thổ lộ với mình mà mình lại nói với ta về lòng chung thủy, về tình thương nhớ”. Giọng hát của người em gái ngân nga, giăng mắc trong không gian, trên dòng kinh quê hương đã đưa chúng ta trở về với hiện tại. Trên quê hương này kẻ thù đã gây bao tội ác: “Thuốc độc Mỹ đã rải xuống đây. Hơi bom Napan đã thay thế mùi quả chín. Thuốc độc cùng với hơi độc chiến tranh và bom đạn của giặc Mỹ vẫn tiếp tục hủy diệt những gì còn lại ở nơi đây, một gốc cây, một con chim nhỏ đang nép mình dưới đó vô tình còn lại”. Nhưng càng đi sâu vào cảnh tàn phá thì giọng hát đưa em vẫn cứ xao xuyến “càng dâng lên thiết tha, thấm trong từng hơi thở”. Đó chính là sức sống của dân tộc, là hơi thở của quê hương, mềm mại mà rắn rỏi in đậm trên từng trang tùy bút của Nguyễn Thi, thúc giục mỗi người “xốc lại súng, lên đường!”. Trở lại với Đường chúng ta đi, từ cái khoảnh khắc nghe âm vang giọng hát của người con gái trên đài, tác giả đã có những liên tưởng rộng xa, phóng khoáng về quê hương xứ sở, về truyền thống ngàn xưa của lịch sử cha ông, về bạn bè năm châu, về chủ nghĩa anh hùng cách mạng được hun đúc và đan quyện giữa quá khứ và hiện tại. Qua giọng hát ấy tác giả đã nhận ra phong thái và phẩm chất của con người Việt Nam trong chiến đấu: “Một dân tộc đánh giặc bốn nghìn năm mà tiếng hát vẫn êm dịu, uyển chuyển như vậy, dân tộc ấy mãnh liệt và bình tĩnh biết chừng nào”. Và nhà văn đã bày tỏ một thái độ, một sự chọn lựa hết mình: “Cho tôi được sống trong ngày hôm nay của dân tộc ta. Tôi tha thiết yêu cái ngày hôm nay của đất nước, thiết tha yêu đội ngũ trùng điệp của chúng ta đang tiến lên trong cuộc hành quân cả nước sục sôi và chiến thắng này”.
Bên cạnh những tùy bút ghi đậm dấu ấn một thời kể trên là các bút ký mang sắc thái trữ tình đằm thắm của Anh Đức, Giang Nam, Hoàng Phủ Ngọc Tường... Những người viết ký ở miền Nam luôn thường trực trong mình một tình cảm không bao giờ vơi cạn với nhân dân, đất nước và lòng căm thù tột độ với kẻ xâm lược. Trong cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ thù, những người viết ký bằng “tiếng nói của vũ khí và vũ khí của tiếng nói” đã đem đến cho người đọc những món ăn tinh thần tràn đầy niềm tin và lạc quan vào chiến thắng, vào những bước đi ngày càng vững chắc của cách mạng miền Nam. Trong những năm 60 của thế kỉ XX, những bút ký của Anh Đức thường được viết dưới hình thức các bức thư gửi cho nhà văn Nguyễn Tuân, cho các văn nghệ sỹ miền Bắc mà thực chất đó là nỗi lòng của nhà văn, là tấm lòng của miền Nam gửi ra miền Bắc với tất cả niềm tin và hy vọng. Những bút ký Bức thư Cà Mau (1963), Dưới một vầng ánh sáng đục (1965), Lá thư cuối năm (1964), là những câu chuyện về người thật việc thật xảy ra hàng ngày trên vùng đất mũi Cà Mau nói riêng và Nam Bộ nói chung trong những năm đen tối của cách mạng miền Nam, mà nổi bật ở đây là những chiến công ngày càng vang dội của đồng bào từ sau ngày Đồng khởi. Bước vào cuộc kháng chiến lâu dài gian khổ chống Mỹ, người dân Cà Mau vẫn lạc quan theo đuổi đến cùng: “Giữa miền đất mật độ bom đạn rất đỗi đậm đặc này, sự sống vẫn bình thường. Thấy sự bình thường hóa cao độ cuộc sống chiến đấu ở đây mà ngao ngán thay cho thằng giặc Mỹ. Bom Napan không dọa nổi ai. Chất độc hóa học không dọa nổi ai”. Gửi gắm trong các bút ký của Anh Đức những năm hai miền còn chia cắt là tình cảm Bắc Nam ruột thịt. Đây không chỉ là sự gửi gắm bộc lộ tình cảm, chia sẻ nỗi niềm mà còn mang ý nghĩa Nam Bắc đang hiệp đồng đánh Mỹ và thắng Mỹ.
Trong các bút ký miền Nam đã ghi lại được những mẩu chuyện chiến đấu, những tên tuổi và sự tích anh hùng những con người bình thường, những tên làng tên xóm, những trận đánh vang dội mà các tác giả của nó đã chứng kiến, tham gia và nhập cuộc. Đó là hình ảnh chị út Tịch (Người mẹ cầm súng - Nguyễn Thi), Anh Trỗi (Sống như Anh - Trần Đình Vân) và những Tạ Thị Kiều, Trần Dưỡng, Trừ Văn Thố, Pi-Năng-Tăc, Phạm Văn Hai... trong Đại hội anh hùng của Nguyễn Thi. Đó là hình ảnh những người phụ nữ miền Nam từ các mẹ, các chị đến các em dưới ngòi bút Anh Đức đã thể hiện được thái độ ung dung bình tĩnh của họ trong đấu tranh chính trị: “Khí thế chánh trị của ta là ở mái chèo vỗ sóng nước, ở rừng xuồng ghe lao mũi tới như tên bắn, ở sự ung dung tự tin của các bà các mẹ ngồi trên xuồng đi đấu tranh vẫn điềm nhiên ngoáy trầu ăn, và các cô gái vừa bơi vừa sửa lại khăn đội đầu cho ngay ngắn” (Bức thư Cà Mau). Trên đồng đất Long An đã tạo được cái thế độc đáo, thế đứng trên đầu thù của quân dân Long An trong cuộc đối mặt, đọ sức đầu tiên với giặc Mỹ, và ở đó đã xuất hiện Nguyễn Văn Danh, một trong những dũng sỹ diệt Mỹ đầu tiên của Long An. Người đọc không khỏi cảm phục và yêu mến một “đồng bằng Nam Bộ mênh mông tươi mát và vô cùng anh dũng của chúng ta vẫn mênh mông tươi mát và anh dũng vô cùng như tự bao giờ” (Đồng bằng đánh Mỹ - Giang Nam). Trong Cửu Long cuộn sóng của Trần Hiếu Minh đã ghi lại được một khí thế cách mạng chưa từng thấy trong mỗi con người và trong từng thôn xóm ở mảnh đất Bến Tre, nơi có những địa danh làm nức lòng người như Mỏ Cày, ấp Bắc, Thạnh Phú... Trong ký miền Nam cũng đã ghi lại được sự thức tỉnh, giác ngộ của con người, nhất là với thanh niên vùng đô thị miền Nam đã bước ra khỏi sự chật hẹp, yếu hèn của đời sống để nhập vào một thành phố đang nổi dậy với ý thức: “Tổ quốc sẽ định đoạt vận mệnh của chúng ta. Một hành động có ích của chúng ta cũng góp phần định đoạt vận mệnh Tổ quốc” (Như con sông từ nguồn ra biển - Hoàng Phủ Ngọc Tường).
Hàng loạt các tác phẩm ký ra đời trong những năm chống Mỹ cứu nước ở miền Nam đã tạo thành một dòng chảy mạnh mẽ, liên tục, phản ánh hiện thực cuộc sống và chiến đấu đã trở thành nếp sống hàng ngày của đồng bào miền Nam trong các giai đoạn khác nhau của thời đại đánh Mỹ, thời đại anh hùng của dân tộc. Đọc lại những trang ký tiêu biểu của văn học cách mạng miền Nam, độc giả hôm nay thêm một lần nhận thấy tác dụng của ký nói riêng và văn học nói chung với thời đại. Đó là sự đáp ứng nhanh nhạy, có hiệu quả của thể loại với những đòi hỏi bức thiết của thời đại, được nhìn nhận từ chức năng xã hội - lịch sử của văn học.
Ký miền Nam với tính chất của một thể loại văn học bên cạnh giá trị nội dung tư tưởng không tách rời với giá trị nghệ thuật. Các nhà văn đã mở rộng thể ký, đã chứng minh dung lượng lớn lao của thể loại đồng thời chứng minh một sự thật: người viết ký cần phải có sự từng trải và một tâm hồn nghệ sỹ. Dễ nhận thấy sự hòa quyện giữa yếu tố trữ tình và yếu tố chính luận trong ký miền Nam, tạo nên những áng văn chương đặc sắc trong văn xuôi giai đoạn chống Mỹ. Các nhà văn đã từ sự quan sát tỉ mỉ cuộc sống đã tái tạo nó dưới một góc độ riêng, mang đậm dấu ấn cái tôi với những liên tưởng độc đáo, những trầm tư lịch sử, bộc lộ bản sắc và cá tính sáng tạo của mỗi tác giả. Bên cạnh một Nguyễn Trung Thành giàu suy tư, sâu lắng, là một Anh Đức đằm thắm ngọt ngào. Bên cạnh một Nguyễn Thi nồng nàn, gợi cảm, một Hoàng Phủ Ngọc Tường khắc khoải mà lắng đọng là một Trần Hiếu Minh giản dị, chân thành... Ký miền Nam với sự linh hoạt của thể loại đã tạo cơ hội cho nhà văn vừa phản ánh cái hiện hữu, vừa ngược dòng thời gian, vừa nói tới một sự việc cụ thể, lại vừa khái quát được nhiều phương diện của sự sống và con người.
Những tác phẩm ký miền Nam đã thể hiện sự gắn bó của người viết với hoàn cảnh lịch sử, đề cập đến những vấn đề của người đương thời. Các chủ thể sáng tạo đã thâm nhập sâu vào cuộc đời, đã cảm xúc và suy nghĩ đến tận cùng “xương thịt” với nhân dân và đã bắt gặp được những vấn đề chung của thời đại, xuyên suốt không gian và thời gian, truyền thống và hiện tại. Chính vì vậy các sáng tác ký miền Nam có xu hướng mở rộng biên độ phản ánh và miêu tả, viết về miền Nam mà khái quát được những vấn đề của đất nước, hòa nhịp với cả dân tộc trong sự nghiệp đánh Mỹ và thắng Mỹ. Trong những năm chống Mỹ, với tính chất nhạy bén, kịp thời, ký miền Nam đã có những đóng góp đáng ghi nhận đối với loại hình văn xuôi nghệ thuật, đã tỏ rõ sức mạnh của thể loại và là một bộ phận không thể tách rời trong bối cảnh văn học Việt Nam chống Mỹ cứu nước nói riêng và trong cả tiến trình văn học dân tộc nói chung./.
(Tạp chí Nhà văn)
Bích thu
Ba mươi năm đã qua nhưng cuộc chiến tranh chống Mỹ với dân tộc ta đâu chỉ là một quá khứ mà nó vẫn hiện diện trong cuộc sống hôm nay của cả dân tộc cũng như của mỗi con người. Các thế hệ của hiện tại sẽ còn tìm đến những sáng tác trong những năm chống Mỹ không chỉ để chiêm ngưỡng những tượng đài kỉ niệm, những sự tích anh hùng, những huyền thoại mà còn để soi tìm trong đó những lời giải đáp có ý nghĩa nhân bản với những vấn đề của cuộc sống và con người hôm nay. ý nghĩa thời sự và lâu dài của các tác phẩm sẽ cắt nghĩa vì sao trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, người dân Việt Nam đã dám đánh và thắng đế quốc Mỹ.
Như một vũ khí xung kích trong chiến tranh nhân dân, thể ký đã phát triển mạnh mẽ trong văn học giải phóng miền Nam ngay trong thời kì khó khăn nhất của cách mạng. Với tính chất cơ động và linh hoạt, phản ánh kịp thời những vấn đề và sự kiện đang diễn ra, ký đã sớm phát huy tác dụng và ưu thế của thể loại, đạt đến giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật trong hoàn cảnh đặc biệt của đất nước và của đời sống văn học những năm chống Mỹ. Chưa bao giờ các tác phẩm ký từ miền Nam gửi ra miền Bắc lại được đông đảo công chúng chào đón và trở thành những hiện tượng văn học như: Từ tuyến đầu Tổ quốc, Những ngày gian khổ (Nhiều tác giả), Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi), Sống như Anh (Trần Đình Vân), Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc (Nguyễn Trung Thành), Bức thư Cà Mau (Anh Đức), Cửu Long cuộn sóng (Trần Hiếu Minh), Trường Sơn hùng tráng (Hồng Châu)... Và cùng với các bài ký của Giang Nam, Lý Văn Sâm, Võ Trần Nhã, Đinh Quang Nhã, Lê Văn Thảo, Chu Cẩm Phong, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Mai Nam... đã tạo một đội ngũ viết ký đông đảo và phong phú.
Các văn nghệ sỹ miền Nam trước những yêu cầu của cách mạng là phản ánh nhanh nhạy thực tế cuộc sống trong hoàn cảnh chiến tranh đã nhận thức được một cách đúng đắn mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị, giữa tư cách nghệ sỹ và công dân, nhà văn và chiến sỹ. Họ ý thức trong hoàn cảnh hiện thời phải đánh giặc bằng văn học, sáng tác phải bám sát thực tế và do đó đã sử dụng linh hoạt một trong những hình thức thể loại thích hợp. Đó là ký - một loại hình thích ứng nhanh với việc phản ánh hiện thực, có thể tác chiến kịp thời trên vị trí văn học của mình. Ký trở thành dòng chủ lưu, có một vị trí quan trọng trong nền văn học chống Mỹ cứu nước ở miền Nam.
Có thể nói, chưa bao giờ ký miền Nam lại phát huy được sức mạnh của thể loại như trong những năm chống Mỹ. Chưa bao giờ người đọc lại trông chờ, mong ngóng, thậm chí thuộc nằm lòng những tác phẩm ký được viết trong hoàn cảnh dữ dội, ác liệt mà vẫn trữ tình, lãng mạn, có sức lôi cuốn người đọc, thôi thúc họ lên đường cầm súng chống Mỹ, bảo vệ quê hương đất nước như trong ký miền Nam. Những tác phẩm ký tiêu biểu của một thời chống Mỹ không chỉ là minh chứng thuyết phục cho sự hòa quyện giữa trách nhiệm công dân và nghệ sỹ mà còn là minh chứng về trình độ và năng lực sáng tạo của người cầm bút trên “chiến trường sống và viết” thuở nào. Đường chúng ta đi (Nguyễn Trung Thành) và Dòng kinh quê hương (Nguyễn Thi) là những thiên tùy bút đặc sắc, sớm ghi nhận tên tuổi của người sáng tác ngay từ khi tác phẩm đến với người đọc cả nước, và nhanh chóng xếp vào hàng những tùy bút xuất sắc nhất của văn xuôi Việt Nam trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. ở tùy bút Dòng kinh quê hương và Đường chúng ta đi, các tác giả ngoài việc ghi lại hình ảnh của những con người và sự kiện cụ thể có thực trong cuộc sống đã bộc lộ cảm xúc, suy tư và nhận thức của chính mình về con người và cuộc sống hiện tại, về quá khứ và truyền thống dân tộc, về nhân loại và thế giới trên những áng văn thấm đẫm cảm hứng sử thi, lãng mạn và hào hùng, với những hình ảnh chắt lọc và gợi cảm đã tác động mạnh mẽ đến tình cảm và tâm lý người đọc lúc bấy giờ. Cả hai tùy bút đều bắt đầu từ một giọng hát. Trong Đường chúng ta đi là: “Một giọng hát dân ca, ngân nga, bát ngát, như cánh cò trên đồng lúa miền Nam chạy tới chân trời, có lúc rụt rè, e thẹn như khóe mắt người yêu mới gặp mặt, có lúc tinh nghịch duyên dáng như những đôi chân nhỏ thoăn thoắt gánh lúa chạy trên những con đường làng trộn lẫn bóng tre và bóng nắng. Có lẽ không phải là một người con gái đang hát trên đài... Đó chính là quê hương ta đang lên tiếng hát.” Và với Dòng kinh quê hương của Nguyễn Thi: “Vẫn như có một giọng hò đang ngân lên trong không gian có mùi quả chín, một mái xuồng vừa cập bến có tiếng trẻ reo mừng, và sau lưng tôi, tiếng giã bàng vừa ngưng lại thì một giọng đưa em bỗng cất lên... Giọng hát thấm đọng những điều gì như tấm lòng của dân tộc đang nói với ta, như từ bao đời nay rồi ta từng thổ lộ với mình mà mình lại nói với ta về lòng chung thủy, về tình thương nhớ”. Giọng hát của người em gái ngân nga, giăng mắc trong không gian, trên dòng kinh quê hương đã đưa chúng ta trở về với hiện tại. Trên quê hương này kẻ thù đã gây bao tội ác: “Thuốc độc Mỹ đã rải xuống đây. Hơi bom Napan đã thay thế mùi quả chín. Thuốc độc cùng với hơi độc chiến tranh và bom đạn của giặc Mỹ vẫn tiếp tục hủy diệt những gì còn lại ở nơi đây, một gốc cây, một con chim nhỏ đang nép mình dưới đó vô tình còn lại”. Nhưng càng đi sâu vào cảnh tàn phá thì giọng hát đưa em vẫn cứ xao xuyến “càng dâng lên thiết tha, thấm trong từng hơi thở”. Đó chính là sức sống của dân tộc, là hơi thở của quê hương, mềm mại mà rắn rỏi in đậm trên từng trang tùy bút của Nguyễn Thi, thúc giục mỗi người “xốc lại súng, lên đường!”. Trở lại với Đường chúng ta đi, từ cái khoảnh khắc nghe âm vang giọng hát của người con gái trên đài, tác giả đã có những liên tưởng rộng xa, phóng khoáng về quê hương xứ sở, về truyền thống ngàn xưa của lịch sử cha ông, về bạn bè năm châu, về chủ nghĩa anh hùng cách mạng được hun đúc và đan quyện giữa quá khứ và hiện tại. Qua giọng hát ấy tác giả đã nhận ra phong thái và phẩm chất của con người Việt Nam trong chiến đấu: “Một dân tộc đánh giặc bốn nghìn năm mà tiếng hát vẫn êm dịu, uyển chuyển như vậy, dân tộc ấy mãnh liệt và bình tĩnh biết chừng nào”. Và nhà văn đã bày tỏ một thái độ, một sự chọn lựa hết mình: “Cho tôi được sống trong ngày hôm nay của dân tộc ta. Tôi tha thiết yêu cái ngày hôm nay của đất nước, thiết tha yêu đội ngũ trùng điệp của chúng ta đang tiến lên trong cuộc hành quân cả nước sục sôi và chiến thắng này”.
Bên cạnh những tùy bút ghi đậm dấu ấn một thời kể trên là các bút ký mang sắc thái trữ tình đằm thắm của Anh Đức, Giang Nam, Hoàng Phủ Ngọc Tường... Những người viết ký ở miền Nam luôn thường trực trong mình một tình cảm không bao giờ vơi cạn với nhân dân, đất nước và lòng căm thù tột độ với kẻ xâm lược. Trong cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ thù, những người viết ký bằng “tiếng nói của vũ khí và vũ khí của tiếng nói” đã đem đến cho người đọc những món ăn tinh thần tràn đầy niềm tin và lạc quan vào chiến thắng, vào những bước đi ngày càng vững chắc của cách mạng miền Nam. Trong những năm 60 của thế kỉ XX, những bút ký của Anh Đức thường được viết dưới hình thức các bức thư gửi cho nhà văn Nguyễn Tuân, cho các văn nghệ sỹ miền Bắc mà thực chất đó là nỗi lòng của nhà văn, là tấm lòng của miền Nam gửi ra miền Bắc với tất cả niềm tin và hy vọng. Những bút ký Bức thư Cà Mau (1963), Dưới một vầng ánh sáng đục (1965), Lá thư cuối năm (1964), là những câu chuyện về người thật việc thật xảy ra hàng ngày trên vùng đất mũi Cà Mau nói riêng và Nam Bộ nói chung trong những năm đen tối của cách mạng miền Nam, mà nổi bật ở đây là những chiến công ngày càng vang dội của đồng bào từ sau ngày Đồng khởi. Bước vào cuộc kháng chiến lâu dài gian khổ chống Mỹ, người dân Cà Mau vẫn lạc quan theo đuổi đến cùng: “Giữa miền đất mật độ bom đạn rất đỗi đậm đặc này, sự sống vẫn bình thường. Thấy sự bình thường hóa cao độ cuộc sống chiến đấu ở đây mà ngao ngán thay cho thằng giặc Mỹ. Bom Napan không dọa nổi ai. Chất độc hóa học không dọa nổi ai”. Gửi gắm trong các bút ký của Anh Đức những năm hai miền còn chia cắt là tình cảm Bắc Nam ruột thịt. Đây không chỉ là sự gửi gắm bộc lộ tình cảm, chia sẻ nỗi niềm mà còn mang ý nghĩa Nam Bắc đang hiệp đồng đánh Mỹ và thắng Mỹ.
Trong các bút ký miền Nam đã ghi lại được những mẩu chuyện chiến đấu, những tên tuổi và sự tích anh hùng những con người bình thường, những tên làng tên xóm, những trận đánh vang dội mà các tác giả của nó đã chứng kiến, tham gia và nhập cuộc. Đó là hình ảnh chị út Tịch (Người mẹ cầm súng - Nguyễn Thi), Anh Trỗi (Sống như Anh - Trần Đình Vân) và những Tạ Thị Kiều, Trần Dưỡng, Trừ Văn Thố, Pi-Năng-Tăc, Phạm Văn Hai... trong Đại hội anh hùng của Nguyễn Thi. Đó là hình ảnh những người phụ nữ miền Nam từ các mẹ, các chị đến các em dưới ngòi bút Anh Đức đã thể hiện được thái độ ung dung bình tĩnh của họ trong đấu tranh chính trị: “Khí thế chánh trị của ta là ở mái chèo vỗ sóng nước, ở rừng xuồng ghe lao mũi tới như tên bắn, ở sự ung dung tự tin của các bà các mẹ ngồi trên xuồng đi đấu tranh vẫn điềm nhiên ngoáy trầu ăn, và các cô gái vừa bơi vừa sửa lại khăn đội đầu cho ngay ngắn” (Bức thư Cà Mau). Trên đồng đất Long An đã tạo được cái thế độc đáo, thế đứng trên đầu thù của quân dân Long An trong cuộc đối mặt, đọ sức đầu tiên với giặc Mỹ, và ở đó đã xuất hiện Nguyễn Văn Danh, một trong những dũng sỹ diệt Mỹ đầu tiên của Long An. Người đọc không khỏi cảm phục và yêu mến một “đồng bằng Nam Bộ mênh mông tươi mát và vô cùng anh dũng của chúng ta vẫn mênh mông tươi mát và anh dũng vô cùng như tự bao giờ” (Đồng bằng đánh Mỹ - Giang Nam). Trong Cửu Long cuộn sóng của Trần Hiếu Minh đã ghi lại được một khí thế cách mạng chưa từng thấy trong mỗi con người và trong từng thôn xóm ở mảnh đất Bến Tre, nơi có những địa danh làm nức lòng người như Mỏ Cày, ấp Bắc, Thạnh Phú... Trong ký miền Nam cũng đã ghi lại được sự thức tỉnh, giác ngộ của con người, nhất là với thanh niên vùng đô thị miền Nam đã bước ra khỏi sự chật hẹp, yếu hèn của đời sống để nhập vào một thành phố đang nổi dậy với ý thức: “Tổ quốc sẽ định đoạt vận mệnh của chúng ta. Một hành động có ích của chúng ta cũng góp phần định đoạt vận mệnh Tổ quốc” (Như con sông từ nguồn ra biển - Hoàng Phủ Ngọc Tường).
Hàng loạt các tác phẩm ký ra đời trong những năm chống Mỹ cứu nước ở miền Nam đã tạo thành một dòng chảy mạnh mẽ, liên tục, phản ánh hiện thực cuộc sống và chiến đấu đã trở thành nếp sống hàng ngày của đồng bào miền Nam trong các giai đoạn khác nhau của thời đại đánh Mỹ, thời đại anh hùng của dân tộc. Đọc lại những trang ký tiêu biểu của văn học cách mạng miền Nam, độc giả hôm nay thêm một lần nhận thấy tác dụng của ký nói riêng và văn học nói chung với thời đại. Đó là sự đáp ứng nhanh nhạy, có hiệu quả của thể loại với những đòi hỏi bức thiết của thời đại, được nhìn nhận từ chức năng xã hội - lịch sử của văn học.
Ký miền Nam với tính chất của một thể loại văn học bên cạnh giá trị nội dung tư tưởng không tách rời với giá trị nghệ thuật. Các nhà văn đã mở rộng thể ký, đã chứng minh dung lượng lớn lao của thể loại đồng thời chứng minh một sự thật: người viết ký cần phải có sự từng trải và một tâm hồn nghệ sỹ. Dễ nhận thấy sự hòa quyện giữa yếu tố trữ tình và yếu tố chính luận trong ký miền Nam, tạo nên những áng văn chương đặc sắc trong văn xuôi giai đoạn chống Mỹ. Các nhà văn đã từ sự quan sát tỉ mỉ cuộc sống đã tái tạo nó dưới một góc độ riêng, mang đậm dấu ấn cái tôi với những liên tưởng độc đáo, những trầm tư lịch sử, bộc lộ bản sắc và cá tính sáng tạo của mỗi tác giả. Bên cạnh một Nguyễn Trung Thành giàu suy tư, sâu lắng, là một Anh Đức đằm thắm ngọt ngào. Bên cạnh một Nguyễn Thi nồng nàn, gợi cảm, một Hoàng Phủ Ngọc Tường khắc khoải mà lắng đọng là một Trần Hiếu Minh giản dị, chân thành... Ký miền Nam với sự linh hoạt của thể loại đã tạo cơ hội cho nhà văn vừa phản ánh cái hiện hữu, vừa ngược dòng thời gian, vừa nói tới một sự việc cụ thể, lại vừa khái quát được nhiều phương diện của sự sống và con người.
Những tác phẩm ký miền Nam đã thể hiện sự gắn bó của người viết với hoàn cảnh lịch sử, đề cập đến những vấn đề của người đương thời. Các chủ thể sáng tạo đã thâm nhập sâu vào cuộc đời, đã cảm xúc và suy nghĩ đến tận cùng “xương thịt” với nhân dân và đã bắt gặp được những vấn đề chung của thời đại, xuyên suốt không gian và thời gian, truyền thống và hiện tại. Chính vì vậy các sáng tác ký miền Nam có xu hướng mở rộng biên độ phản ánh và miêu tả, viết về miền Nam mà khái quát được những vấn đề của đất nước, hòa nhịp với cả dân tộc trong sự nghiệp đánh Mỹ và thắng Mỹ. Trong những năm chống Mỹ, với tính chất nhạy bén, kịp thời, ký miền Nam đã có những đóng góp đáng ghi nhận đối với loại hình văn xuôi nghệ thuật, đã tỏ rõ sức mạnh của thể loại và là một bộ phận không thể tách rời trong bối cảnh văn học Việt Nam chống Mỹ cứu nước nói riêng và trong cả tiến trình văn học dân tộc nói chung./.
(Tạp chí Nhà văn)
Love mickey,