Sự thật ai là tác giả của bài "Đi đêm trên sông Hương"
Về bài: Ngày xuân đọc thơ bốn vị vua cuối triều Nguyễn của tác giả Nguyễn Đắc Xuân (*). Chúng tôi xin trao đổi về bài Nocturne sur la rivère des Parfums (Đi đêm trên sông Hương) của ông và nhân bài viết Bài thơ đó có thực là của vua Duy Tân? Của ông Nguyễn Trọng Thụ (**), chúng tôi xin góp thêm tư liệu rất mong nhận được sự đóng góp, chỉ giáo...
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân thì đây là bài thơ do vua Duy Tân (1907-1916) viết trong “một đêm đi thuyền trên sông Hương” và dẫn chứng rất tự tin rằng: “Đọc bài thơ này nhà nghiên cứu Pháp Pierre Brocheux cho rằng đây là tâm trạng của vua Duy Tân lúc ban đầu, dần dần tâm trạng đó được nâng lên và có màu sắc chính trị rõ rệt. Cũng theo Pierre Brocheux, mật thám Pháp đã thu được nhiều bài thơ yêu nước của vua Duy Tân và những bài thơ đó đang được giữ trong Hồ sơ lưu trữ quốc gia, bộ phận Hải ngoại, FOM, 858/2326”. Chúng tôi ngờ ngợ rằng, bài thơ này chưa hẳn đã là của vua Duy Tân như nhà nghiên cứu Huế học Nguyễn Đắc Xuân đã trích dẫn. Vậy để rộng đường dư luận và nhất là những nhà viết sử, văn học sử nghiên cứu về Huế..., chúng tôi xin trích dẫn thêm một nguồn tư liệu trong cuốn: Những sự gặp gỡ của Đông phương và Tây phương trong Ngôn ngữ & Văn chương (***) của liệt sĩ Vũ Bội Liêu (1912-1947) như sau:
1. Về tiêu đề có sự khác biệt rõ rệt, Vũ Bội Liêu viết: “Sur la Rivère des Parfums”, còn ông Nguyễn Đắc Xuân thì: “Nocturne sur la rivère des Parfums” nhưng về cơ bản thì vẫn cùng một nội dung.
2. Về tác giả đích thực của bài thơ trên, liệt sĩ Vũ Bội Liêu đã căn cứ: “Bài Sur la Rivère des Parfums tôi trích dưới đây, là một bản đàn du dương réo rắt, buồn như tiếng cầm thánh thót trên sông Hương dưới bóng trăng mờ, một đêm thu lạnh. Trong bao nhiêu lâu, người ta vẫn yên chí đó là tác phẩm của phế đế Duy Tân (chúng tôi nhấn mạnh - N.T), nhưng ông Trần Thanh Mại trong quyển Đời văn đã “trả lại cho César cái gì của César” bằng những chứng cớ xác thực, ông đã bày tỏ ra rằng tác giả của nó là ông H.Guibier, một thi sĩ ở Huế” (chúng tôi nhấn mạnh - N.T).
3. Và rằng, ông Vũ Bội Liêu đã thẩm định: “Cái âm nhạc réo rắt của bài thơ có giá trị này, một phần lớn do cách dùng chữ điêu luyện và do “tiết điệu” mà ra, nhưng cũng do cách khéo lựa chọn âm thanh: những nguyên âm (voyelles) i, e, (1) và nhất là những e(2) “câm” để cuối chữ khiến cho câu văn êm ái một cách lạ thường”.
Và để tiện việc đối chứng văn bản, chúng tôi mạn phép xin trích nguyên văn do ông Vũ Bội Liêu dẫn chứng (đoạn 2 in nghiêng đậm để so sánh trong bài viết của ông Nguyễn Đắc Xuân):
Sur la Rivière des Parfums
Dur soir la tiédeur alanguie
Berce mon âme en sa douleur.
Du fleuve la course alentie
Berce la barque avec douceur.
La barque obéit, endormie,
Aux coups réguliers du rameur.
Mon âme tressaille, meurtrie,
Aux coups de la vie dans
mon coeur.
Et mon âme vogue, alanguie,
Au rythme alenti de mon coeur.
Et la barque vogue, alentie,
Au rythme alangui du rameur.
La lune parait, très pâlie,
Dans sa maladie de langueur,
Et répand sa mélancolie
Sue la nature et dans mon coeur.
Mon âme dans sa mélancolie
Berce doucement sa douleur,
La barque en sa course alentie,
Berce mon âme en sa langueur.
Trên sông Hương
Hơi gió hiu hiu của ban đêm,
Ru hồn ta trong cơn tê tái,
Nước sông Hương lặng lẽ êm đềm,
Ru chiếc thuyền ta trôi êm ái.
Thuyền ta thiu thiu ngủ lênh đênh,
Theo dịp mái chèo bơi êm ái,
Tâm hồn ta rầu rĩ buồn tênh,
Theo cơn sóng trần duyên tê tái.
Hồn ta bơi lướt qua buồn tênh,
Trên lớp sóng trần duyên tê tái,
Thuyền ta bơi lướt qua lênh đênh,
Theo dịp mái chèo bơi êm ái.
Trăng soi trên đỉnh núi đầu ghềnh,
Nhợt như vết thương lòng tê tái,
Và trong cõi lòng ta mông mênh,
Trăng rủ một cơn buồn êm ái,
Tâm hồn ta rền rĩ buồn tênh,
Ru vết thương lòng ta êm ái,
Thuyền ta trên mặt nước lênh đênh
Ru tâm hồn ta thêm tê tái.
Lệ Chi dịch
Còn ông Nguyễn Trọng Thụ đã cung cấp chi tiết: “Thái Văn Kiểm đã cho công bố cách đây 45 năm tác giả bài thơ là Henri Guibier”.
Vậy ông Vũ Bội Liêu là ai? Để độc giả tìm hiểu thêm, chúng tôi xin lược trích bài viết dưới đây:
Theo ông Vũ Đình Hòe trong Lời giới thiệu trong tập sách đã dẫn ở trên (3) viết: “Vũ Bội Liêu và tôi là anh em họ hai bề, nên thông cảm nhau nhiều.
Anh là con trưởng một gia đình nền nếp nho phong lâu đời, chịu một gia pháp rất nghiêm, được bố mẹ dựng vợ sớm cho, có con sớm, theo học Trường trung học Albert Sarraut từ lớp 6. Nhưng anh không làm sao qua được cửa ải tú tài, tuy anh rất giỏi về môn Pháp văn, các bạn tây - đầm cùng lớp không thể địch nổi.
(…) Tôi (Vũ Đình Hòe - N.T) mời anh thường xuyên viết cho tạp chí Thanh Nghị, do tôi phụ trách, với đề tài mà anh hàng ôm ấp: “Sự gặp gỡ giữa Đông phương và Tây phương trong ngôn ngữ và văn chương” (...) “đừng nên tìm trong quyển sách này những bài biện luận chặt chẽ và khô khan, chỉ xin coi như một chuyện về văn chương của một người thiết tha yêu quốc văn, và hết sức tin tưởng ở tương lai văn chương đất nước”. (Trích Lời nói đầu của Vũ Bội Liêu).
(…) Tôi (Vũ Bội Liêu) nghĩ tiếc cho nhân loại sao không cố gắng được như thế, vì nếu được như vậy có lẽ thế giới đã bước được một bước dài trên con đường hạnh phúc”... anh đánh Tây rất hăng. Anh đã nhận ngay từ đêm 19 tháng Chạp năm 1946 một loại công tác âm thầm mà cực kì cần thiết: anh tự nguyện làm “Z.T” (giao thông liên lạc) cho Bộ Tư pháp, làm không lương như mọi người ấy, luồn qua tuyến lửa, đem tin vào Thành (Hà Nội), tìm kiếm những đồng chí còn bị kẹt trong ấy để Bộ Công an bố trí đưa ra. Anh Liêu đã bị dính đạn của giặc ngày 3-3-1947 khi qua đường quốc lộ 6 ở Trúc Sơn, gần bến đò Mai Lĩnh. Như vậy là anh đã sớm phân biệt được, một cách rất tự nhiên như hầu hết đám người Tây học chúng tôi đầu thế kỷ XX, địch là Pháp thực dân với dân tộc Pháp là Bạn, hai dân tộc Việt - Pháp thân thiết với nhau trong cùng nền văn hóa Nhân bản Đông Tây.
Anh Liêu mất sớm, mới 35 tuổi. Anh ngã xuống, oanh liệt, vì Tổ quốc; và Tổ Quốc ghi công anh - người liệt sĩ đầu tiên của ngành Tư pháp, một người con trí dũng song toàn của họ Vũ. Hẳn anh thỏa lòng ở thế giới bên kia. Nhưng xã hội thiệt một người thợ xây bé nhỏ mà không vụng về lắm trong công cuộc vun đắp cho tình hữu nghị giữa các dân tộc, trong văn hoá, bằng nhịp cầu văn hoá. Cụ thể là, tôi biết, cuốn sách của Anh chỉ mới là tập đầu, khởi nguồn cho cả dòng hoài bão của Anh. Giá Anh còn sống đến giờ, thì với những tác phẩm tiếp theo Tập i ấy, với nội dung già dặn hơn, phong phú hơn, Anh sẽ có thể góp phần khiêm tốn của mình vào sự nghiệp lớn lao hòa hợp dân tộc ở bên trong và bên ngoài, trong Thiên niên kỷ mới mà Văn hoá là động lực phát triển của Xã hội và của con Người.... (Hà Nội, ngày 10-7-1999)”.
(Báo Văn Nghệ Trẻ)
Về bài: Ngày xuân đọc thơ bốn vị vua cuối triều Nguyễn của tác giả Nguyễn Đắc Xuân (*). Chúng tôi xin trao đổi về bài Nocturne sur la rivère des Parfums (Đi đêm trên sông Hương) của ông và nhân bài viết Bài thơ đó có thực là của vua Duy Tân? Của ông Nguyễn Trọng Thụ (**), chúng tôi xin góp thêm tư liệu rất mong nhận được sự đóng góp, chỉ giáo...
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân thì đây là bài thơ do vua Duy Tân (1907-1916) viết trong “một đêm đi thuyền trên sông Hương” và dẫn chứng rất tự tin rằng: “Đọc bài thơ này nhà nghiên cứu Pháp Pierre Brocheux cho rằng đây là tâm trạng của vua Duy Tân lúc ban đầu, dần dần tâm trạng đó được nâng lên và có màu sắc chính trị rõ rệt. Cũng theo Pierre Brocheux, mật thám Pháp đã thu được nhiều bài thơ yêu nước của vua Duy Tân và những bài thơ đó đang được giữ trong Hồ sơ lưu trữ quốc gia, bộ phận Hải ngoại, FOM, 858/2326”. Chúng tôi ngờ ngợ rằng, bài thơ này chưa hẳn đã là của vua Duy Tân như nhà nghiên cứu Huế học Nguyễn Đắc Xuân đã trích dẫn. Vậy để rộng đường dư luận và nhất là những nhà viết sử, văn học sử nghiên cứu về Huế..., chúng tôi xin trích dẫn thêm một nguồn tư liệu trong cuốn: Những sự gặp gỡ của Đông phương và Tây phương trong Ngôn ngữ & Văn chương (***) của liệt sĩ Vũ Bội Liêu (1912-1947) như sau:
1. Về tiêu đề có sự khác biệt rõ rệt, Vũ Bội Liêu viết: “Sur la Rivère des Parfums”, còn ông Nguyễn Đắc Xuân thì: “Nocturne sur la rivère des Parfums” nhưng về cơ bản thì vẫn cùng một nội dung.
2. Về tác giả đích thực của bài thơ trên, liệt sĩ Vũ Bội Liêu đã căn cứ: “Bài Sur la Rivère des Parfums tôi trích dưới đây, là một bản đàn du dương réo rắt, buồn như tiếng cầm thánh thót trên sông Hương dưới bóng trăng mờ, một đêm thu lạnh. Trong bao nhiêu lâu, người ta vẫn yên chí đó là tác phẩm của phế đế Duy Tân (chúng tôi nhấn mạnh - N.T), nhưng ông Trần Thanh Mại trong quyển Đời văn đã “trả lại cho César cái gì của César” bằng những chứng cớ xác thực, ông đã bày tỏ ra rằng tác giả của nó là ông H.Guibier, một thi sĩ ở Huế” (chúng tôi nhấn mạnh - N.T).
3. Và rằng, ông Vũ Bội Liêu đã thẩm định: “Cái âm nhạc réo rắt của bài thơ có giá trị này, một phần lớn do cách dùng chữ điêu luyện và do “tiết điệu” mà ra, nhưng cũng do cách khéo lựa chọn âm thanh: những nguyên âm (voyelles) i, e, (1) và nhất là những e(2) “câm” để cuối chữ khiến cho câu văn êm ái một cách lạ thường”.
Và để tiện việc đối chứng văn bản, chúng tôi mạn phép xin trích nguyên văn do ông Vũ Bội Liêu dẫn chứng (đoạn 2 in nghiêng đậm để so sánh trong bài viết của ông Nguyễn Đắc Xuân):
Sur la Rivière des Parfums
Dur soir la tiédeur alanguie
Berce mon âme en sa douleur.
Du fleuve la course alentie
Berce la barque avec douceur.
La barque obéit, endormie,
Aux coups réguliers du rameur.
Mon âme tressaille, meurtrie,
Aux coups de la vie dans
mon coeur.
Et mon âme vogue, alanguie,
Au rythme alenti de mon coeur.
Et la barque vogue, alentie,
Au rythme alangui du rameur.
La lune parait, très pâlie,
Dans sa maladie de langueur,
Et répand sa mélancolie
Sue la nature et dans mon coeur.
Mon âme dans sa mélancolie
Berce doucement sa douleur,
La barque en sa course alentie,
Berce mon âme en sa langueur.
Trên sông Hương
Hơi gió hiu hiu của ban đêm,
Ru hồn ta trong cơn tê tái,
Nước sông Hương lặng lẽ êm đềm,
Ru chiếc thuyền ta trôi êm ái.
Thuyền ta thiu thiu ngủ lênh đênh,
Theo dịp mái chèo bơi êm ái,
Tâm hồn ta rầu rĩ buồn tênh,
Theo cơn sóng trần duyên tê tái.
Hồn ta bơi lướt qua buồn tênh,
Trên lớp sóng trần duyên tê tái,
Thuyền ta bơi lướt qua lênh đênh,
Theo dịp mái chèo bơi êm ái.
Trăng soi trên đỉnh núi đầu ghềnh,
Nhợt như vết thương lòng tê tái,
Và trong cõi lòng ta mông mênh,
Trăng rủ một cơn buồn êm ái,
Tâm hồn ta rền rĩ buồn tênh,
Ru vết thương lòng ta êm ái,
Thuyền ta trên mặt nước lênh đênh
Ru tâm hồn ta thêm tê tái.
Lệ Chi dịch
Còn ông Nguyễn Trọng Thụ đã cung cấp chi tiết: “Thái Văn Kiểm đã cho công bố cách đây 45 năm tác giả bài thơ là Henri Guibier”.
Vậy ông Vũ Bội Liêu là ai? Để độc giả tìm hiểu thêm, chúng tôi xin lược trích bài viết dưới đây:
Theo ông Vũ Đình Hòe trong Lời giới thiệu trong tập sách đã dẫn ở trên (3) viết: “Vũ Bội Liêu và tôi là anh em họ hai bề, nên thông cảm nhau nhiều.
Anh là con trưởng một gia đình nền nếp nho phong lâu đời, chịu một gia pháp rất nghiêm, được bố mẹ dựng vợ sớm cho, có con sớm, theo học Trường trung học Albert Sarraut từ lớp 6. Nhưng anh không làm sao qua được cửa ải tú tài, tuy anh rất giỏi về môn Pháp văn, các bạn tây - đầm cùng lớp không thể địch nổi.
(…) Tôi (Vũ Đình Hòe - N.T) mời anh thường xuyên viết cho tạp chí Thanh Nghị, do tôi phụ trách, với đề tài mà anh hàng ôm ấp: “Sự gặp gỡ giữa Đông phương và Tây phương trong ngôn ngữ và văn chương” (...) “đừng nên tìm trong quyển sách này những bài biện luận chặt chẽ và khô khan, chỉ xin coi như một chuyện về văn chương của một người thiết tha yêu quốc văn, và hết sức tin tưởng ở tương lai văn chương đất nước”. (Trích Lời nói đầu của Vũ Bội Liêu).
(…) Tôi (Vũ Bội Liêu) nghĩ tiếc cho nhân loại sao không cố gắng được như thế, vì nếu được như vậy có lẽ thế giới đã bước được một bước dài trên con đường hạnh phúc”... anh đánh Tây rất hăng. Anh đã nhận ngay từ đêm 19 tháng Chạp năm 1946 một loại công tác âm thầm mà cực kì cần thiết: anh tự nguyện làm “Z.T” (giao thông liên lạc) cho Bộ Tư pháp, làm không lương như mọi người ấy, luồn qua tuyến lửa, đem tin vào Thành (Hà Nội), tìm kiếm những đồng chí còn bị kẹt trong ấy để Bộ Công an bố trí đưa ra. Anh Liêu đã bị dính đạn của giặc ngày 3-3-1947 khi qua đường quốc lộ 6 ở Trúc Sơn, gần bến đò Mai Lĩnh. Như vậy là anh đã sớm phân biệt được, một cách rất tự nhiên như hầu hết đám người Tây học chúng tôi đầu thế kỷ XX, địch là Pháp thực dân với dân tộc Pháp là Bạn, hai dân tộc Việt - Pháp thân thiết với nhau trong cùng nền văn hóa Nhân bản Đông Tây.
Anh Liêu mất sớm, mới 35 tuổi. Anh ngã xuống, oanh liệt, vì Tổ quốc; và Tổ Quốc ghi công anh - người liệt sĩ đầu tiên của ngành Tư pháp, một người con trí dũng song toàn của họ Vũ. Hẳn anh thỏa lòng ở thế giới bên kia. Nhưng xã hội thiệt một người thợ xây bé nhỏ mà không vụng về lắm trong công cuộc vun đắp cho tình hữu nghị giữa các dân tộc, trong văn hoá, bằng nhịp cầu văn hoá. Cụ thể là, tôi biết, cuốn sách của Anh chỉ mới là tập đầu, khởi nguồn cho cả dòng hoài bão của Anh. Giá Anh còn sống đến giờ, thì với những tác phẩm tiếp theo Tập i ấy, với nội dung già dặn hơn, phong phú hơn, Anh sẽ có thể góp phần khiêm tốn của mình vào sự nghiệp lớn lao hòa hợp dân tộc ở bên trong và bên ngoài, trong Thiên niên kỷ mới mà Văn hoá là động lực phát triển của Xã hội và của con Người.... (Hà Nội, ngày 10-7-1999)”.
(Báo Văn Nghệ Trẻ)