Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Chất sử thi trong văn của nhà văn xứ Quảng Đoàn Minh Tuấn

0 trả lời, 56 lượt xem — Trang 1 / 1
Chất sử thi trong văn của nhà văn xứ Quảng Đoàn Minh Tuấn

Cao Chư

Sinh năm 1932, ra đi từ làng Mỹ Khê (Sơn Mỹ) đầy bi hùng từ thuở còn niên thiếu, Đoàn Minh Tuấn tay cầm súng chiến đấu, tay cầm bút viết văn, làm báo, trải qua hai cuộc chiến thần thánh 30 năm, dấu chân anh đã in khắp các nẻo đường. Đoàn Minh Tuấn đã xuất bản được nhiều tập văn và nay tuy đã tròn tuổi “thất thập”, anh vẫn giữ nguyên niềm say mê nồng đậm với nghề văn. Và có lẽ sức hấp dẫn nhất trong văn anh chính là chất sử thi…

Hẳn thế. Nếu người đọc nhớ đến Đoàn Minh Tuấn là nhớ đến Bác Hồ - Cây đại thọ, là nhớ đến Núi sông hùng vĩ, những tác phẩm đã qua nhiều lần tái bản, nay đọc lại vẫn thấy thích. Điều đã rõ, viết về Bác Hồ, anh viết với tất cả trái tim mình, với lòng kính yêu sâu sắc, và anh cũng hiểu rằng, Bác chính là hiện thân của huyền thoại trong thời đại mới, hiện thân và kết tinh những tinh hoa của cả dân tộc. “Bác Hồ vô vàn kính yêu, khiêm tốn giản dị và vĩ đại của chúng ta, Bác không muốn ai viết gì, nói gì về Bác. Bác cũng không muốn ai sưu tập nghiên cứu gì về Bác. Mặc dù Bác như cây Đại thọ xanh tươi ngả bóng rợp che mát cho cả ba phần tư thế kỷ ở nước ta”. Bằng lối văn mộc mạc chậm rãi như vậy, Đoàn Minh Tuấn đã kể lại hai mươi câu chuyện, khắc hoạ rõ nét hình tượng Bác Hồ vừa giản dị, gần gũi, lại vừa vĩ đại, bằng những chi tiết sống động. Không phải anh trực tiếp với lãnh tụ, mà anh đã gặp những người có những kỷ niệm sâu sắc về Bác, ở khắp nơi, đủ mọi giới, ngành, dân tộc, để ghi lại một cách chân thực các câu chuyện rất giàu cảm xúc. Điều này chứng tỏ anh có một trực cảm khá tốt là một năng lực cốt yếu của một nhà văn. Chừng như cái khả năng “cảm lại”, “dựng lại” khá tốt, cũng là điều cốt yếu khiến đất nước đẹp đẽ, phong phú, đa dạng, đã đành. Nhưng cái đáng quý ở đây còn ở chỗ mỗi vùng đất của Tổ quốc đều có một tầng văn hoá dày dặn, gắn liền với bao chiến công hiển hách, bao nhân vật tiếng tăm lừng lẫy, ở cả quá khứ lẫn hiện tại. Từ chiến trường Nam Trung Bộ nóng bỏng trong kháng chiến chống Pháp, dấu chân chiến sĩ của Đoàn Minh Tuấn đã in sâu nơi đất Hà Thành nghìn năm văn vật, nơi anh dừng chân, học tập, đào sâu vào tầng văn hoá của đất nước. Từ Thăng Long như trái tim hội tụ, anh đến với Đền Hùng, với Mê Linh - Sông Hát, Côn Sơn - Kiếp Bạc, Bạch Đằng Giang của châu thổ sông Hồng. Anh ngược lên Tây Bắc với Điện Biên, Mường Thanh. Anh lên Việt Bắc với Pác Bó - Cao Bằng. Anh ra Đông Bắc, vượt trùng khơi đến với Cô Tô đảo ngọc. Anh vào chiến trường khu 5 đang hồi quyết liệt, vào giải phóng Buôn Ma Thuột, vào giải phóng Sài Gòn, Côn Đảo, Phú Quốc rồi lại đi Cà Mau, Hà Tiên. Và điều quan trọng là đi đến đâu, anh cũng chú ý nghiên cứu, quan sát, ghi chép một cách cẩn thận, tỉ mẩn, để rồi cho ra những bài kí, những truyện ngắn giàu tính chân thực, giàu chất sử thi, của đất và người, của xưa và nay. Quả ít thấy có nhà văn nào say mê đất nước cũng là say mê con người, và say mê với những con người đã xây đắp tô điểm cho đất nước, dù đó là những thường dân, hay là những nhân vật lịch sử lẫy lừng tiếng tăm như An Dương Vương, Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh… Anh cũng say mê tình bạn với các văn nghệ sĩ và có cả một tập sách viết về các văn nghệ sĩ, tập Trăm năm một thuở và tập Những vì sao có lẽ ý nói đến kiếp người ngắn ngủi, cơ duyên gặp nhau hẳn là thật sự đáng quý. Với góc nhìn của riêng mình, anh viết về các nhà văn, nhà thơ Nguyễn Văn Bổng, Xuân Diệu, Đoàn Giỏi, Tô Hoài, Tế Hanh, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Đình Thi, Xuân Trình, Phan Tứ… anh viết về hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh, nhà điêu khắc Châu Đình Xu… chân dung các văn nghệ sĩ qua ngòi bút của anh hiện lên với vẻ chân chân thực, đáng yêu, đặc biệt trong mối quan hệ với đất nước, với con người, với bạn bè. Đặc biệt anh dành nhiều tâm huyết để viết về Nguyễn Tuân - nhà văn mà anh xem như một người thầy, một người bạn vong niên. Anh dành cho Nguyễn Tuân những tình cảm nồng đậm, kính phục - Anh không nói nhiều đến “tài văn” của Nguyễn Tuân, mà chú tâm nhiều hơn đến cái chất văn toát ra từ tâm hồn, cá tính, nhân cách Nguyễn Tuân, qua những bài viết mang tính tự sự hồi ký. Viết về Nguyễn Tuân anh cũng rất chú tâm đến mối quan hệ giữa nhà văn với đất nước, với văn hoá dân tộc. Anh có cả một tập sách dành riêng cho Nguyễn Tuân Với bác Nguyễn. Riêng với Quảng Ngãi quê anh, anh có những truyện, ký đáng chú ý: Cẩm Thành năm Dậu viết về cuộc khởi nghĩa Cần vương do Lê Trung Đình lãnh đạo, Tết kháng chiến ở quê nhà Sơn Mỹ, Quê nhà bác Tám (bác Phạm Văn Đồng). ở đây văn cũng rất đậm chất sử thi, đầy chất bi hùng.

Không chỉ đi khắp nơi trong nước, Đoàn Minh Tuấn còn có nhiều chuyến ra nước ngoài, cả trong thời còn chiến tranh và sau khi đất nước đã hoà bình, thống nhất. Mới đây, anh tập hợp các bài viết và xuất bản thành tập sách “Đất nước phương trời (Nxb - TP.HCM, 2002). Đến với các nước Châu á, anh không bị cuốn hút về những điều lạ. Đến các nước Châu Âu, anh cũng không choáng ngợp bởi cái văn minh. Dù ở “đất nước phương trời” nào, anh cũng giữ được vẻ điềm tĩnh, nhìn nhận theo cái góc nhìn của anh, chăm chú cái chất văn hoá, cái bản sắc của mỗi dân tộc, mỗi địa phương mà mình đi qua, dù đó là Luông-pha-băng hay Bắc Kinh, Băng Cốc, là Batislava hay Praha, Copenhagen, Warsawa… Nói cách khác, ngay cả đối với “đất khách quê người” cảm hứng chủ đạo của Đoàn Minh Tuấn vẫn là chất sử thi.

Đoàn Minh Tuấn còn viết giới thiệu sách, viết kịch bản phim, bình luận về báo chí, nhưng biết về Đoàn Minh Tuấn với các tác phẩm như trên, kể cũng là đủ.

Như đã nói, Đoàn Minh Tuấn viết văn, làm báo sau khi đã cầm súng đánh giặc với tình yêu quê hương đất nước. Đằng sau lưng anh, quê hương Tịnh Khê của anh là mảnh đất anh hùng, là mảnh đất đầy máu lửa, nơi giặc Mỹ đã gây ra vụ thảm sát Sơn Mỹ 16-3-1968 làm chấn động cả lương tâm loài người. Ông cố và ông nội anh (Đoàn Khắc Nhượng, Đoàn Thúc Vĩ) đều là những nhà khoa bảng Quảng Ngãi nổi tiếng khí tiết. Cha anh là nhà thơ Đoàn Khắc Huỳnh (Ba Khê). Anh cầm súng lên đường từ lúc giặc Pháp mới trở lại xâm lược nước ta. Dấu chân anh đã đi khắp đất nước anh hùng. Có lẽ tất cả đã hoà trộn, tạo nên lối văn chương sinh động, chân thực, giàu chất sử thi trong văn Đoàn Minh Tuấn.

Tôi có cảm giác Đoàn Minh Tuấn viết văn một cách tự nhiên theo chính luồng cảm xúc của anh, không thấy anh trau chuốt nhiều đến câu, chữ. Văn anh có phần gần gũi với ngôn ngữ nói, ngắn gọn, chậm rãi, cốt nêu lên cho nổi bật cảm xúc của mình. Có vẻ như anh chú trọng “ngữ pháp trên câu” hay “ngữ pháp đoạn” (Speech) hơn là chăm chút từng câu, từng chữ một. Và chừng như cấu trúc bài của anh cũng vậy, đó là lối cấu trúc tự nhiên theo cảm xúc, theo luồng tư duy, tuyệt nhiên ít thấy có sự sắp đặt quá chỉn chu, kỹ lưỡng. Lối văn, lối cấu trúc như vậy có thể tạo nên điểm mạnh, nhưng cũng có thể tạo nên điểm yếu trong các tác phẩm của Đoàn Minh Tuấn.

Nói cho đúng thì có nhà văn nào lại không có những tác phẩm chưa thành công, những đứa con đẻ ra èo uột. Điều quan yếu nhất vẫn là ở chỗ, anh có neo lại được trong lòng người đọc tác phẩm nào, ấn tượng nào không?

Có lẽ về mặt ấy, Đoàn Minh Tuấn đã có được khá nhiều. Và đó chính là những tập văn giàu chất sử thi của anh, những Núi sông hùng vĩ, Bác Hồ - Cây đại thọ, Đất nước phương trời, Những vì sao, Với bác Nguyễn… đã được thử thách qua thời gian. Ngoài ý nghĩa văn chương, văn Đoàn Minh Tuấn còn mang ý nghĩa văn hoá: Anh đã viết rất nhiều về đất nước, vậy cũng rất cần cho mọi bạn đọc muốn mở rộng kiến văn của mình.

(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0