Quyền lựcvăn chương và ẩn dụ
Diệu Ngân
Mối quan hệ quyền lực với văn chương và sự biến thái của nó trong lịch sử luôn có liên quan tới những vấn đề phức tạp và nhạy cảm như tự do sáng tác, nhân cách nhà văn, vai trò của ẩn dụ, định kiến xã hội và sự tự tin, sang trọng của văn nhân. Trước thềm đại hội Nhà văn lần thứ VII, nhà thơ - đạo diễn Đỗ Minh Tuấn đã thông qua những trải nghiệm riêng bày tỏ thẳng thắn quan điểm của mình về mối quan hệ đó để tiếp cận, nhận diện môi trường văn hoá thời đổi mới.
P.V: Trong Đại hội cơ sở vừa qua, anh được bầu đi dự Đại hội Toàn quốc. Anh nghĩ thế nào về kết quả này? Anh có uy tín trong đồng nghiệp chăng?
Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn: Tôi không muốn nhìn vấn đề giản đơn như vậy. Tôi vẫn coi văn chương chữ nghĩa là quê hương. Trong những năm qua, tôi là kẻ tha hương, miệt mài trong xứ sở của nghệ thuật thứ Bảy. Vì thế, gặp lại anh em trong Đại hội tôi được nhận tình cảm của quê hương với kẻ đi xa. Có lẽ đấy là căn nguyên sâu thẳm. Nhưng bên cạnh đó chắc cũng có phần nào tình cảm của anh em với những điều tôi viết những năm qua.
P.V: Anh từng nói anh chuyển sang làm đạo diễn vì muốn có quyền lực để đưa các thông điệp nghệ thuật vào xã hội. Vậy tư duy và cảm xúc của nhà văn đã giúp anh những gì trong công việc của một đạo diễn? Phải chăng, những bộ phim của anh thành công một phần nhờ sự hỗ trợ của nhà thơ?
Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn: Đúng! Nhãn quan nhà văn đã giúp tôi chọn lựa và xử lý kịch bản nâng cao chất văn học trong phim. Đó là nhân tố cơ bản để làm nên sự thành công của tác phẩm điện ảnh. Tất nhiên, trong tôi còn có gã triết gia nửa đời nửa đoạn, một anh hoạ sĩ tay ngang và một người viết kịch góp sức vào sáng tạo các bộ phim. Nhưng tay nhà văn cầm chịch tất cả. Hắn lắp ráp mọi màu sắc, hình hài ngôn ngữ và giai điệu mà giác quan của các kiểu nghệ sĩ cảm nhận được vào xương cốt mà gã triết gia đưa ra rồi thổi vào đó hồn vía của thơ ca, tạo cho tác phẩm dáng dấp khả nghi, đáng gờm của một ẩn dụ. Cái sắc sảo của triết gia chỉ làm nên sự phê phán hay lật tẩy, cái mờ ảo ẩn hiện của nhà văn mới làm nên tính ẩn dụ. Đó là quyền lực sâu thẳm của văn chương.
P.V: Chẳng lẽ ẩn dụ lại là sức mạnh đặc trưng của văn chương? Những tiếng thét căm phẫn, những tiếng reo vui sảng khoái, hài lòng lại không có giá trị bằng sự ám chỉ hay sao?
Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn - Nếu lấy hình ảnh người đi săn để hình dung thì văn nghệ đích thực luôn bắt sống con thú chứ không tiêu diệt. Vũ khí lớn nhất để nó bắt sống độc giả, bắt sống cuộc đời là năng lực gây ám ảnh. Tính ẩn dụ giúp cho văn chương, nghệ thuật tăng sức ám ảnh. Mình đọc, mình xem một tác phẩm có tính chất ám chỉ, đêm về mình vắt tay lên trán nghĩ ngợi, lộn trái nhân cách mình ra xem có phải mình có điều gì không hay không tốt để họ phải dùng văn nghệ ám chỉ mình không? Đó là lúc văn nghệ phát huy sức giáo dục con người. Không nên cấm ám chỉ”. Đó là một bản lĩnh lãnh đạo và một thái độ cầu thị, cận văn chương.
P.V: Phải chăng, tâm lý đó xuất phát từ một định kiến nào đó về mối quan hệ quyền lực với văn chương?
Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn - Có thể là như vậy. Đó là một định kiến toàn cầu, một kinh nghiệm bi quan của toàn nhân loại. Tôi nhớ năm 1989 khi tôi sang Pháp dự LHP Cannes, Belfort và Nantes với hai bộ phim Ngọn đèn trong mơ và Dịch cười, có một nhà báo Thụy Sĩ gốc Việt hỏi tôi: “Xem phim của anh tôi thấy anh là một nghệ sĩ tự do và nhân văn. Nhưng tôi được biết anh lại có quan hệ với một số cán bộ cao cấp của Đảng. Lý giải điều đó ra sao?”. Tôi đã nói vui với ông ta rằng: “Các ông vẫn coi những cuộc biểu tình đứng hô khẩu hiệu cách xa các nguyên thủ quốc gia hàng chục, hàng trăm km là dân chủ. Vậy một mình tôi tiếp xúc với lãnh đạo để đối thoại, chất vấn và nói lên suy nghĩ của mình và của nhiều người khác, đó là siêu dân chủ chứ!”. Nghe vậy, ông ta cũng cười vui vẻ.
P.V: Có người viết nào ủng hộ những hành xử ấy của anh không?
Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn - Có, nhưng ít lắm. Năm 1979, nhà văn Sơn Tùng đọc tờ kiến nghị chúng tôi gửi Tổng Bí thư Lê Duẩn đã nói đây là một kiểu “thất trảm sớ” của ngày nay. Khoảng năm 1980, ông Hoàng Ngọc Hiến đã nói với tôi trước cửa thư viện Khoa học xã hội rằng: “Mình phục các cậu”. Được lời như cởi tấm lòng. Nhưng bắt đầu từ cuối thập kỷ 80 tôi thấy nên tập trung vào viết lách, làm phim, không dành thời gian và tâm trí cho những việc tương tự nữa. Tôi trở lại con đường cổ điển, tìm kiếm tự do trong chính bản thân mình, trong tư cách một người sáng tác. Điều đó có lợi cho con người nghệ sĩ trong tôi, nhưng mất đi những ảo tưởng và nhiệt huyết kiểu Đông Ki Sốt cũng là điều đáng tiếc.
P.V: Anh có nghĩ quan hệ văn chương và quyền lực bây giờ khá hơn xưa? Thực tế là chúng ta đã sáng tác trong một môi trường dân chủ hơn, có nhiều tự do sáng tác hơn, nên hầu như chẳng mấy ai nghĩ nhiều đến việc cải tạo môi trường sáng tác?
Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn - Không hẳn thế. Tôi thấy áp lực của quyền lực tới sáng tác của văn nghệ sĩ hiện nay đa dạng hơn, phức tạp hơn và có lúc ghê gớm hơn. Có thể giới lãnh đạo thoáng hơn, nhưng áp lực của các quyền lực khác như quyền lực của đồng tiền, quyền lực của truyền thông, quyền lực của văn hoá đại chúng có nguồn gốc phương Tây, quyền lực của số đông bị pha tạp về văn hoá… lại mạnh mẽ và thô bạo hơn. Chẳng hạn, trong các văn bản pháp lý văn nghệ vẫn được định nghĩa là công cụ tư tưởng văn hoá của cách mạng nhưng trong thực tế, người ta vẫn đo đạc nó bằng tư cách hàng hoá: Có ăn khách không, có doanh thu cao không? Đó là áp lực mạnh mẽ của đồng tiền trong đời sống văn hoá hiện giờ. Một TBT báo ngày nay có thể dùng quyền lực của báo chí để quảng cáo lăng xê tác phẩm hạng ba, hạng bốn của mình hay của phe nhóm mình, hơn thế nữa, còn dùng báo để bôi nhọ tác phẩm và nhân cách của người khác. Ngày xưa báo chí đơn điệu hơn, quyết liệt về quan điểm chính trị hơn nhưng vẫn sang trọng hơn, hầu như không có kiểu hàng tôm hàng cá như bây giờ. Các kiểu quyền lực trong xã hội bây giờ bé nhỏ hơn, thảm hại hơn nhưng sự phát huy quyền lực lại trắng trợn thô bạo hơn, làm vấy bẩn môi trường thẩm mỹ và quan hệ giữa những người cầm bút.
P.V: Chẳng lẽ những quyền lực gây ảnh hưởng đến tự do sáng tác và môi trường thẩm mỹ hiện nay chỉ chủ yếu là những áp lực trong quan hệ dân sự?
Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn - Có cả áp lực từ trong guồng máy chứ. Chẳng hạn, thời bao cấp ngày xưa cũng chưa ai dám đề xuất một ý tưởng kiểu như đưa các Hội nghề nghiệp về các Bộ. Nhưng bây giờ đã có chuyên viên trong bộ máy Nhà nước dám đặt lên bàn Thủ tướng một mô hình như vậy, may mà chưa trở thành hiện thực. Tôi cho rằng ý tưởng đưa các Hội nghề nghiệp về các Bộ là sản phẩm của một thực trạng những người quản lý các ngành nhìn chung thiếu uy tín chuyên môn hơn những người lãnh đạo các Hội nghề nghiệp, nên họ nổi máu quyền lực muốn thâu tóm các Hội vào bàn tay quản lý của mình. Nhìn chung, những ví dụ đã nêu đều là sự phát huy quyền lực của cấp dưới đầy kệch cỡm tầm thường. Sự tầm thường bây giờ vừa phổ biến, vừa có quyền lực theo các kiểu khác nhau, nó phối kết hợp với nhau tạo nên một môi trường dưới - văn - hoá thời kinh tế thị trường. Phản văn hoá còn dễ xử lý hơn là dưới văn hoá. Bây giờ nếu người ta có quyền có tiền thì người ta có thể tung ra tràn ngập những sản phẩm dưới văn hoá, nhưng những tờ báo có tira lớn câu khách bằng những thông tin bạo lực, xã hội đen giật gân, những vở hài kịch câu khách bằng những tiếng cười thô tục phi văn học. Những trọc phú trong văn chương nghệ thuật đang bắt đầu xuất hiện. Rất kệch cỡm, giống như Thị Nở thời nay hãnh diện trưng ra hàng trăm đôi giày xịn. Tira của những đôi giày tân thời trên chân Thị Nở cũng là một áp lực văn hoá thời nay. Đó là những đợt sóng thần huỷ hoại môi trường thẩm mỹ. Tính thương mại cần phải được kiểm soát bằng tính tư tưởng, tính thẩm mỹ, tính nhân văn để hạn chế quyền lực của trình độ thấp phát huy qua các kiểu tira lớn. Tiếc rằng, ngay cả các nhà văn danh tiếng lừng lẫy của chúng ta khi viết báo cũng có lúc bêu tên tuổi của mình vào những chuyện tầm thường, tẹp nhẹp, chà đạp lên tính sang trọng của văn chương. Đó là những vấn đề đại hội phải lưu tâm.
P.V: Xin cám ơn nhà thơ Đỗ Minh Tuấn đã dành cho Văn nghệ Trẻ cuộc chuyện trò cởi mở này.
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Diệu Ngân
Mối quan hệ quyền lực với văn chương và sự biến thái của nó trong lịch sử luôn có liên quan tới những vấn đề phức tạp và nhạy cảm như tự do sáng tác, nhân cách nhà văn, vai trò của ẩn dụ, định kiến xã hội và sự tự tin, sang trọng của văn nhân. Trước thềm đại hội Nhà văn lần thứ VII, nhà thơ - đạo diễn Đỗ Minh Tuấn đã thông qua những trải nghiệm riêng bày tỏ thẳng thắn quan điểm của mình về mối quan hệ đó để tiếp cận, nhận diện môi trường văn hoá thời đổi mới.
P.V: Trong Đại hội cơ sở vừa qua, anh được bầu đi dự Đại hội Toàn quốc. Anh nghĩ thế nào về kết quả này? Anh có uy tín trong đồng nghiệp chăng?
Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn: Tôi không muốn nhìn vấn đề giản đơn như vậy. Tôi vẫn coi văn chương chữ nghĩa là quê hương. Trong những năm qua, tôi là kẻ tha hương, miệt mài trong xứ sở của nghệ thuật thứ Bảy. Vì thế, gặp lại anh em trong Đại hội tôi được nhận tình cảm của quê hương với kẻ đi xa. Có lẽ đấy là căn nguyên sâu thẳm. Nhưng bên cạnh đó chắc cũng có phần nào tình cảm của anh em với những điều tôi viết những năm qua.
P.V: Anh từng nói anh chuyển sang làm đạo diễn vì muốn có quyền lực để đưa các thông điệp nghệ thuật vào xã hội. Vậy tư duy và cảm xúc của nhà văn đã giúp anh những gì trong công việc của một đạo diễn? Phải chăng, những bộ phim của anh thành công một phần nhờ sự hỗ trợ của nhà thơ?
Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn: Đúng! Nhãn quan nhà văn đã giúp tôi chọn lựa và xử lý kịch bản nâng cao chất văn học trong phim. Đó là nhân tố cơ bản để làm nên sự thành công của tác phẩm điện ảnh. Tất nhiên, trong tôi còn có gã triết gia nửa đời nửa đoạn, một anh hoạ sĩ tay ngang và một người viết kịch góp sức vào sáng tạo các bộ phim. Nhưng tay nhà văn cầm chịch tất cả. Hắn lắp ráp mọi màu sắc, hình hài ngôn ngữ và giai điệu mà giác quan của các kiểu nghệ sĩ cảm nhận được vào xương cốt mà gã triết gia đưa ra rồi thổi vào đó hồn vía của thơ ca, tạo cho tác phẩm dáng dấp khả nghi, đáng gờm của một ẩn dụ. Cái sắc sảo của triết gia chỉ làm nên sự phê phán hay lật tẩy, cái mờ ảo ẩn hiện của nhà văn mới làm nên tính ẩn dụ. Đó là quyền lực sâu thẳm của văn chương.
P.V: Chẳng lẽ ẩn dụ lại là sức mạnh đặc trưng của văn chương? Những tiếng thét căm phẫn, những tiếng reo vui sảng khoái, hài lòng lại không có giá trị bằng sự ám chỉ hay sao?
Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn - Nếu lấy hình ảnh người đi săn để hình dung thì văn nghệ đích thực luôn bắt sống con thú chứ không tiêu diệt. Vũ khí lớn nhất để nó bắt sống độc giả, bắt sống cuộc đời là năng lực gây ám ảnh. Tính ẩn dụ giúp cho văn chương, nghệ thuật tăng sức ám ảnh. Mình đọc, mình xem một tác phẩm có tính chất ám chỉ, đêm về mình vắt tay lên trán nghĩ ngợi, lộn trái nhân cách mình ra xem có phải mình có điều gì không hay không tốt để họ phải dùng văn nghệ ám chỉ mình không? Đó là lúc văn nghệ phát huy sức giáo dục con người. Không nên cấm ám chỉ”. Đó là một bản lĩnh lãnh đạo và một thái độ cầu thị, cận văn chương.
P.V: Phải chăng, tâm lý đó xuất phát từ một định kiến nào đó về mối quan hệ quyền lực với văn chương?
Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn - Có thể là như vậy. Đó là một định kiến toàn cầu, một kinh nghiệm bi quan của toàn nhân loại. Tôi nhớ năm 1989 khi tôi sang Pháp dự LHP Cannes, Belfort và Nantes với hai bộ phim Ngọn đèn trong mơ và Dịch cười, có một nhà báo Thụy Sĩ gốc Việt hỏi tôi: “Xem phim của anh tôi thấy anh là một nghệ sĩ tự do và nhân văn. Nhưng tôi được biết anh lại có quan hệ với một số cán bộ cao cấp của Đảng. Lý giải điều đó ra sao?”. Tôi đã nói vui với ông ta rằng: “Các ông vẫn coi những cuộc biểu tình đứng hô khẩu hiệu cách xa các nguyên thủ quốc gia hàng chục, hàng trăm km là dân chủ. Vậy một mình tôi tiếp xúc với lãnh đạo để đối thoại, chất vấn và nói lên suy nghĩ của mình và của nhiều người khác, đó là siêu dân chủ chứ!”. Nghe vậy, ông ta cũng cười vui vẻ.
P.V: Có người viết nào ủng hộ những hành xử ấy của anh không?
Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn - Có, nhưng ít lắm. Năm 1979, nhà văn Sơn Tùng đọc tờ kiến nghị chúng tôi gửi Tổng Bí thư Lê Duẩn đã nói đây là một kiểu “thất trảm sớ” của ngày nay. Khoảng năm 1980, ông Hoàng Ngọc Hiến đã nói với tôi trước cửa thư viện Khoa học xã hội rằng: “Mình phục các cậu”. Được lời như cởi tấm lòng. Nhưng bắt đầu từ cuối thập kỷ 80 tôi thấy nên tập trung vào viết lách, làm phim, không dành thời gian và tâm trí cho những việc tương tự nữa. Tôi trở lại con đường cổ điển, tìm kiếm tự do trong chính bản thân mình, trong tư cách một người sáng tác. Điều đó có lợi cho con người nghệ sĩ trong tôi, nhưng mất đi những ảo tưởng và nhiệt huyết kiểu Đông Ki Sốt cũng là điều đáng tiếc.
P.V: Anh có nghĩ quan hệ văn chương và quyền lực bây giờ khá hơn xưa? Thực tế là chúng ta đã sáng tác trong một môi trường dân chủ hơn, có nhiều tự do sáng tác hơn, nên hầu như chẳng mấy ai nghĩ nhiều đến việc cải tạo môi trường sáng tác?
Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn - Không hẳn thế. Tôi thấy áp lực của quyền lực tới sáng tác của văn nghệ sĩ hiện nay đa dạng hơn, phức tạp hơn và có lúc ghê gớm hơn. Có thể giới lãnh đạo thoáng hơn, nhưng áp lực của các quyền lực khác như quyền lực của đồng tiền, quyền lực của truyền thông, quyền lực của văn hoá đại chúng có nguồn gốc phương Tây, quyền lực của số đông bị pha tạp về văn hoá… lại mạnh mẽ và thô bạo hơn. Chẳng hạn, trong các văn bản pháp lý văn nghệ vẫn được định nghĩa là công cụ tư tưởng văn hoá của cách mạng nhưng trong thực tế, người ta vẫn đo đạc nó bằng tư cách hàng hoá: Có ăn khách không, có doanh thu cao không? Đó là áp lực mạnh mẽ của đồng tiền trong đời sống văn hoá hiện giờ. Một TBT báo ngày nay có thể dùng quyền lực của báo chí để quảng cáo lăng xê tác phẩm hạng ba, hạng bốn của mình hay của phe nhóm mình, hơn thế nữa, còn dùng báo để bôi nhọ tác phẩm và nhân cách của người khác. Ngày xưa báo chí đơn điệu hơn, quyết liệt về quan điểm chính trị hơn nhưng vẫn sang trọng hơn, hầu như không có kiểu hàng tôm hàng cá như bây giờ. Các kiểu quyền lực trong xã hội bây giờ bé nhỏ hơn, thảm hại hơn nhưng sự phát huy quyền lực lại trắng trợn thô bạo hơn, làm vấy bẩn môi trường thẩm mỹ và quan hệ giữa những người cầm bút.
P.V: Chẳng lẽ những quyền lực gây ảnh hưởng đến tự do sáng tác và môi trường thẩm mỹ hiện nay chỉ chủ yếu là những áp lực trong quan hệ dân sự?
Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn - Có cả áp lực từ trong guồng máy chứ. Chẳng hạn, thời bao cấp ngày xưa cũng chưa ai dám đề xuất một ý tưởng kiểu như đưa các Hội nghề nghiệp về các Bộ. Nhưng bây giờ đã có chuyên viên trong bộ máy Nhà nước dám đặt lên bàn Thủ tướng một mô hình như vậy, may mà chưa trở thành hiện thực. Tôi cho rằng ý tưởng đưa các Hội nghề nghiệp về các Bộ là sản phẩm của một thực trạng những người quản lý các ngành nhìn chung thiếu uy tín chuyên môn hơn những người lãnh đạo các Hội nghề nghiệp, nên họ nổi máu quyền lực muốn thâu tóm các Hội vào bàn tay quản lý của mình. Nhìn chung, những ví dụ đã nêu đều là sự phát huy quyền lực của cấp dưới đầy kệch cỡm tầm thường. Sự tầm thường bây giờ vừa phổ biến, vừa có quyền lực theo các kiểu khác nhau, nó phối kết hợp với nhau tạo nên một môi trường dưới - văn - hoá thời kinh tế thị trường. Phản văn hoá còn dễ xử lý hơn là dưới văn hoá. Bây giờ nếu người ta có quyền có tiền thì người ta có thể tung ra tràn ngập những sản phẩm dưới văn hoá, nhưng những tờ báo có tira lớn câu khách bằng những thông tin bạo lực, xã hội đen giật gân, những vở hài kịch câu khách bằng những tiếng cười thô tục phi văn học. Những trọc phú trong văn chương nghệ thuật đang bắt đầu xuất hiện. Rất kệch cỡm, giống như Thị Nở thời nay hãnh diện trưng ra hàng trăm đôi giày xịn. Tira của những đôi giày tân thời trên chân Thị Nở cũng là một áp lực văn hoá thời nay. Đó là những đợt sóng thần huỷ hoại môi trường thẩm mỹ. Tính thương mại cần phải được kiểm soát bằng tính tư tưởng, tính thẩm mỹ, tính nhân văn để hạn chế quyền lực của trình độ thấp phát huy qua các kiểu tira lớn. Tiếc rằng, ngay cả các nhà văn danh tiếng lừng lẫy của chúng ta khi viết báo cũng có lúc bêu tên tuổi của mình vào những chuyện tầm thường, tẹp nhẹp, chà đạp lên tính sang trọng của văn chương. Đó là những vấn đề đại hội phải lưu tâm.
P.V: Xin cám ơn nhà thơ Đỗ Minh Tuấn đã dành cho Văn nghệ Trẻ cuộc chuyện trò cởi mở này.
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,