Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Lâm Thị Mỹ Dạ - tôi về với tôi

0 trả lời, 666 lượt xem — Trang 1 / 1
Lâm Thị Mỹ Dạ - tôi về với tôi

Từ Nữ Triệu Vương

Lần nào ra Hà Nội chị Dạ cũng nhắn mấy đứa em út chúng tôi tới chơi, mấy chị em cùng lang thang với nhau trong không khí êm dịu của hương đêm Thủ đô, thưởng thức li kem Thuỷ Tạ Hồ Gươm hay bánh phồng tôm ngoài Hồ Tây. Những lúc thanh nhàn hiếm hoi, tôi thích lặng lẽ ngắm nhìn cái dáng nhỏ nhắn, khuôn mặt trắng trẻo, nụ cười hiền của chị. Mọi cử chỉ của chị luôn khiến lòng tôi ấm áp. Chị vẫn đẹp, có phần tươi tắn hơn những bức ảnh gần đây chụp cùng anh Tường trên các trang báo. Tôi cứ lấy làm kì lạ thay cho cái vẻ tươi tắn hồn nhiên kia, vậy mà cũng chính nó đã từng vượt qua không biết bao nhiêu gian nan trắc trở của một người phụ nữ trong suốt dặm dài đất nước cùng bao biến động đổi thay và nay đã ngoại ngũ tuần. “Cuộc đời cần có những ao ước vì ao ước tạo ra năng lượng sống mãnh liệt, nó tiềm ẩn, âm thầm trong con người mình”. Chị vừa nói với tụi tôi như vậy. Câu nói có cái vẻ nghiêm trang, lại cũng dường như bất chợt, tình cờ.

Chị quê ở Quảng Bình, đã xuất bản 5 tập thơ: Khoảng trời và hố bom, Mẹ và con, Bài thơ không năm tháng, Hái tuổi em đầy tay, Đề tặng một giấc mơ, và một số tập sách dành cho thiếu nhi. Chị bảo sắp tới chị xuất bản tập thơ Tôi về với tôi. Đọc thơ chị mới hiểu vì sao chị nói như vậy. Thơ chị thật buồn, nỗi buồn đẹp đến nao lòng, nhưng cũng trong thơ chị là sức sống mãnh liệt, luôn vươn tới sự hoà đồng với con người, với đất trời thiên nhiên.

Vẫn nụ cười thánh đường ấy, chị nói: “Bữa nay mình đi tu rồi, hay quên lắm, đừng viết về mình nữa, ngồi chơi với mình thôi. Dạo này mình khoẻ hơn, anh Tường cũng khoẻ hơn nhiều. Hai vợ chồng vừa đi Vườn Long An về. Mình cũng nhiều bệnh nữa kìa...”. Nhìn đôi bàn tay khắc khổ của chị, tôi nghĩ đến cuộc đời đầy nỗi lo âu nhọc nhằn mà chị đã trải qua. Phải chăng, chính đôi bàn tay ấy nâng đỡ nỗi buồn, nỗi cô đơn của anh Tường, và phải chăng chị như “loài phù du tóc dài” (chữ của Hoàng Phủ Ngọc Tường) để hiểu anh, hiểu cuộc đời này ngập ngụa phù du. Và cũng chính bàn tay ấy, như một người “bảo mẫu” chăm sóc cho anh trong những ngày bạo bệnh: Bàn tay nâng em thành bảo mẫu/ Nước mắt lặn vào trong cho anh thấy nụ cười/ Bệnh tật lo toan giấu vào đêm trắng/ Giữa tháng ngày trĩu nặng/ Em đứng thẳng người/ Cho anh tựa vào em (Cho anh tựa vào em).

Tôi đã đọc ít nhiều những bút kí của anh Tường và tôi mê say chúng vô ngần, tôi cũng hiểu để có được những trang viết hay như vậy, cũng là nhờ sự chăm sóc chu đáo của chị Mỹ Dạ. Chị đã thay anh quán xuyến tất cả những công việc gia đình cho anh yên tâm viết. Chị kêu lên nho nhỏ khi kể về ông xã của mình: “Chao ơi, anh Tường có cái tâm trong sáng lắm, chẳng bao giờ nghĩ đến vật chất đâu, yêu quý Huế và thích đi nhậu với bạn bè”. Chị nhìn sang tôi dịu dàng hỏi: “Em viết nhiều thơ về Quảng Bình quê mình chưa?”. Chị kể: “Hồi nhỏ, văn chương là một thế giới xa xôi với mình, mình rất thích đọc sách nên chỉ mơ ước làm việc tại một thư viện nào đó. Chị sinh ra trong một gia đình có ông nội là đại địa chủ và ba vào Nam bỏ mặc gia đình. Chị bị quy xét thuộc thành phần gia đình xấu, có vấn đề. Chính vì lẽ ấy mà năm 10 tuổi chị đã làm thơ, những bài thơ đầu tiên trên chặng đường thi ca của chị đã mang tâm trạng buồn, như bài: Ông ngoại, Ba tôi, Dòng sông đen... “Chiến tranh bom đạn, khói lửa, mình để mất tập thơ hồi nhỏ, có hơn 30 bài, giờ đây mình vẫn thích một số bài trong đó”. Năm 18 tuổi, chị bắt đầu bước chân vào con đường văn chương có ý thức hơn. Lúc đó, thủ trưởng của chị muốn chị sớm vào nghề viết nên bảo chị học theo dân gian ở cách gieo vần, câu cú... thế là một ngày chị có thể sáng tác 3, 4 bài thơ nên chỉ trong 2 tháng chị viết được 40 bài”. Lúc đó mình tự hỏi: Liệu đấy có thật sự là thơ không? Vì mình ngây thơ lắm, chẳng biết gì về thơ, không như các bạn thơ trẻ bây giờ, nhanh nhạy, được tiếp xúc nhiều mặt thông tin, được kết nối với toàn thế giới chỉ qua phím chuột. Thời chị là chiến tranh, con người phải sống hoà với nó, chẳng có sách hay thời gian để đọc”. Lần ấy, nhà thơ Trần Vũ Mai đi công tác ghé qua thăm chị, anh đọc tập thơ rồi nói: “Dạ bỏ tập này đi, thơ cổ lắm”. Anh giữ lại bài Hoa Cúc (Bài thơ chị viết tặng bác Dương Tử Giang của báo Văn Nghệ Quảng Bình). “Sau lần bỏ đi tập ấy mình tự nhủ: Mình sẽ chẳng bao giờ làm được thơ, thơ mình vần quá, cổ quá. Mình muốn bỏ thơ từ hồi đó”. Nhưng thơ là cái nghiệp rồi, thơ cứ níu kéo chân chị, để rồi sau này chị viết : Những thân phận tơ trời/ Thân phận gió/Thân phận hương hoa/ Thân phận giọt mưa/ Mỏng manh thế làm sao mang vác/ Nghiệp thơ ca nặng nợ từ xưa... (Thân phận tơ trời)

Duyên nợ văn chương cứ đeo đẳng con người nhỏ bé ấy, chị đi học lớp bồi dưỡng những người Viết văn Trẻ ở Quảng Bá trong 6 tháng, đó là những năm tháng oanh liệt của cả nước nói chung cũng như Hà Nội nói riêng, trên nền trời Thủ đô diễn ra trận Điện Biên Phủ trên không oai hùng lịch sử. Chị vượt 500 km dưới làn mưa bom đạn ra học, khi khóa học kết thúc, chiến tranh vẫn đang diễn ra ác liệt, nhưng không thể át đi sức trẻ trung sôi nổi nhiệt tình của tuổi trẻ, chị trở lại Quảng Bình và có mặt ở những nơi xảy ra chính sự, đó là thời gian chị đã sống và viết hết mình.

Chị vuốt lại mái tóc ít nhiều vơi đi màu đen óng nhỏ nhẹ: “Thật ra, văn chương cần đọc nhiều chứ không cần phải học đại học, nhưng mình vẫn đi học như để trả thù”. Mỹ Dạ là cô gái thông minh, học giỏi. Hồi ấy, cả trường có 3 lớp 10, bạn bè đều có quyết định đi học, chỉ riêng chị thì không được bởi lí lịch gia đình không trong sạch. Chia tay với các bạn, ai cũng khóc và thương Mỹ Dạ, còn chị, đi bộ 120 km trong 5 ngày trở về nhà “Về đến nhà thì bom đánh sập, gà chết, mắm ruốc chao ơi là tanh bành. Bà ngoại nói viết một cái lí lịch đưa lên xã, gây lộn mãi mới xin được chứng nhận để mình đi học Đại học Thuỷ Lợi”

Năm 1973, chị kết hôn với anh Tường, “Mình chưa hề thấy đám cưới nào đông giới văn nghệ sĩ vậy, từ anh Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tố Hữu... đến những người viết trẻ, lễ cưới được tổ chức ở Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật, 51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Chúng mình cưới là nhờ tiền nhuận bút của anh Nguyễn Khoa Điềm và những người bạn tặng”. Anh chị có 2 con gái tên Hoàng Dạ Thư và Hoàng Dạ Thi (Dạ Thi tên gọi ở nhà là bé Lim). Năm 1979, chị nhập học khoá I Trường viết văn Nguyễn Du cùng với các anh Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Khuất Quang Thuỵ... Chị đưa hai con ra Hà Nội, rồi anh Tường cũng ra theo, vì không thể lo trọn vẹn được hai nơi được (lúc này anh Tường đã thôi làm Trưởng ti Văn hoá mà chuyển sang tổ sáng tác). Hội Nhà văn thấy hoàn cảnh khó khăn cho mượn căn phòng ở Quảng Bá. Cuộc sống chật vật, đồng lương của 2 vợ chồng ít ỏi, mỗi tháng suất tem phiếu được nửa cân thịt dành cho hai con, có quả trứng chia cho hai đứa. Vợ chồng ốm nhom, chỉ ăn mì sợi với cà chua, có năm thì mười họa ăn bo bo. Nhưng thời gian đó, chị vẫn cần mẫn theo học, bé Lim hay được cùng mẹ cho lên lớp, bé ngồi im re, không khóc nhè, nhiều khi trở về nhà, Lim thường hỏi chị những câu nghe được thầy giảng trên lớp, có lần Lim hỏi: “Mẹ ơi, siêu thực là gì, Nho giáo là gì?”. Nhìn bộ dạng ngơ ngác của đứa con 2 tuổi, chị đã bật cười. Thế mà giờ đây cô nữ sĩ Lim bé nhỏ của chị có 4 tập thơ, hiện giờ đang làm luận án bên úc. Còn Dạ Thư, hiện công tác ở Nhà xuất bản Trẻ, đã kết hôn và tặng cho mẹ một cháu trai tinh nghịch.Chị đưa cho chúng tôi xem tấm hình của đứa cháu ngoại khi 2 tuổi (có tên là Pông), đôi mắt tròn xoe ánh lên sự thông minh, nghịch ngợm, cậu bé như là “thiên đường riêng” của chị: Ơi cu Pông thơ dại/ Thiên đường riêng của bà/ Cho bà thành trẻ nhỏ/ Tâm hồn đầy cỏ hoa... (Thiên đường riêng của bà).Chị nói: “Mình nhớ cu Pông quá, khi về, mình định vào Nam thăm cháu” rồi chị tiếp: “Anh Tường rất yêu Huế, anh sống ở Huế khi 5 tuổi, có thời gian gia đình mình chuyển vào Sài Gòn, khi đó anh bị bệnh dạ dày nên không thể ngày nào cũng đạp xe đi nhậu với bạn bè cho được. Anh muốn trở lại Huế, tụi mình bán ngôi nhà 800m2 gần ngay Bến Thành quay lại Huế. Anh Tường nói vui: “ở Huế sướng nhất là cùng bạn bè đi nhậu”. Chị đưa chúng tôi xem tập thơ “Tôi về với tôi” còn in trên bản nháp của mình, đọc những câu thơ ấy, tôi thấy một Mỹ Dạ rõ nét hơn, con người chị sống ủ mầm nỗi buồn, đau khổ cho riêng mình, còn dâng cho đời những tiếng thơ trong trẻo, tươi sáng. Chị quan niệm về thơ “Mình cứ đi theo con đường thơ, đừng bao giờ nghĩ mình sẽ là ai, sẽ được cái gì. Hãy cứ sống hết mình với thơ”. Con người ấy yêu thơ lắm, yêu đến mức khi còn đi học phổ thông có tích cóp được chút giấy nào là chép ngay những bài thơ hay của thế giới vào, khi đã có một tập dầy, chị đi xe đò lên Hà Nội học, sơ ý để người ta lấy mất, chị đã khóc rất nhiều, rồi trách ông trời: “ Mình cảm thấy những gì mình yêu quý, trời đều lấy đi hết”.

Không, có lẽ không hẳn vậy. Trời vẫn cho chị thật nhiều, đó là tình cảm thân thiết của gia đình,bạn bè, sự quý mến của công chúng bạn đọc và niềm tin yêu ở cuộc sống.

Phải rồi, chỉ khi con người ta còn niềm tin yêu mãnh liệt đến vậy, họ mới vượt qua được những ải đau thương, lắt léo của cuộc đời. Và niềm tin yêu ấy đã vào cả những trang thơ của Mỹ Dạ: Thơ như máu thắm/ Tan vào hư vô/ Đời bao phúc hoạ/ Gieo, gặt bất ngờ/ Mỏi không thể nghỉ/ Đau không còn kêu/ Người in như bóng/ Tôi về với tôi/ May có đứa bé/ Còn ở trong hồn/ Cái nhìn xanh biếc/ Lung linh cội nguồn/ Trái tim thơ dại/ Tôi về với tôi.



(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0