Bài thơ Tây Tiến và những tồn nghi
Trần Kỳ
Một lần đơn vị tôi vượt biên giới sang chiến đấu trên đất Lào. Dừng chân lưng ngọn đèo khá cao, mây mù dầy đặc. Mồm mũi đang thi nhau thở, thì anh bạn vỗ vai tôi chỉ xuống dưới dốc:
-... Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi...
Anh lại chỉ lên đỉnh đèo.
- ... Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời...
Nhìn mà xem! Đúng thật! Ghê thật! Quang Dũng đúng là "Thần thi", "Thánh cú". Lại nữa... Quân xanh màu lá giữa oai hùm...
Trong thi ca đông tây, kim cổ xưa nay, người ta nói tới "hổ oai" hoặc "hổ trường khu cơ", để nói về sự oai dũng của các vị tướng. Quang Dũng lại nói cái oai hùng của người lính lúc yếu đau. Lạ thật!
Hơn ba chục năm, hai người lính Tây Tiến năm xưa nhắc lại bài thơ Tây Tiến giữa lưng đèo quả là điều kỳ thú. Tôi chỉ biết gật đầu khâm phục sự hiểu biết và vận dụng đúng chỗ của anh.
Năm tháng qua đi, bài thơ Tây Tiến ngày càng được tôn vinh. Bài thơ Tây Tiến được đưa vào giáo trình đại học Văn khoa Sài Gòn trước năm 1975. Trong giáo trình lớp 12, đề thi tốt nghiệp thi đại học hiện nay. Bài thơ Tây Tiến cũng được giảng dạy và là đề thi cho các học sinh, thí sinh.
Tôi được biết hai câu:
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm...
đã làm Quang Dũng một thời điêu đứng.
Cho tới nay, năm nào bài thơ Tây Tiến cũng được suy tôn trên mặt báo. Giấy mực tuy tốn nhưng người ta vẫn "khoái" nhắc tới Quang Dũng, tới bài thơ của ông.
Có người xếp bài thơ Tây Tiến đứng đầu hoặc thứ hai, thứ ba gì đó trong năm bảy bài thơ hay (mâm ngũ quả) trong hai cuộc kháng chiến (1945-1975). Điều này thật làm khó cho các nhà phê bình, lý luận. Những bài thơ nổi tiếng của các tiên tửu, tiên thi Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu... cũng chưa ai dám đề ra chuyện này. Bất kể bài thơ nào, dù hay đến đâu cũng vẫn có những điều, những đoạn hạn chế. Trần Đăng Khoa năm 12, 13 tuổi đã từng đòi chữa truyện Kiều của Nguyễn Du đó sao? Cho nên văn chương, chữ nghĩa thật không cùng.
Tôi là người lính Tây Tiến thuộc bài thơ Tây Tiến lúc bài thơ mới mở mắt được vài ba tháng (1948). Bài thơ lan toả rất nhanh trong trung đoàn Tây Tiến. Tất nhiên có người thuộc cả bài, có người thuộc từng đoạn. Cho tới đại hội Luyện quân lập công toàn Liên khu 3 ở Hồng Phú (khoảng tháng 6-1948), bài thơ mới được lan truyền trong Liên khu.
Thơ phú, văn chương ngày đó, hội nhập vào lớp bộ đội bằng hai con đường - truyền miệng và ghi chép lại trong sổ tay của người khác. Vì vậy, anh em thuộc rất nhanh, nhớ rất sâu và rất lâu. Mấy ai đã được xem bản thảo đầu tiên của nhà thơ, bản in đầu tiên trong số Văn nghệ ở Việt Bắc. Và, chắc chắn bản thân tác giả cũng gọt rũa không ít lần sau khi được bạn bè, đồng đội góp ý. So với ghi chép và trí nhớ ban đầu thì bài thơ Tây Tiến được đăng tải hiện nay có những chỗ khác xưa, gây nên sự tranh cãi trong lớp người cùng thời với nhà thơ.
Nhớ Tây Tiến, hay Tây Tiến. Ngay từ hai câu đầu tiên đã nói rõ:
... Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi...
(Còn nữa)
... Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi...
(Chưa hết)
... Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa...
Sau khi cướp chính quyền (tháng 8-1945) đoàn Tây Tiến thứ nhất đã lên đường làm nhiệm vụ. Sau đó là các đoàn Tây Tiến 2, Tây Tiến 3 lên đường. Ngày mồng 1 tháng 2 năm 1947 trung đoàn Tây Tiến mới chính thức mang tên gọi. Đây là những tháng ngày gian khổ nhất của bộ đội Tây Tiến. Năm 1948 quân đội ta đã có chế độ cung cấp tương đối đầy đủ, địa bàn chiến đấu đã được mở rộng, Quang Dũng đóng quân ở Phù Lưu Chanh nhớ lại quãng đường gian khổ, một viên kinacrin pha cùng với nước tiêm vào tĩnh mạch hoặc cho bộ đội uống chữa sốt rét, đốt rễ tranh thay muối hàng năm trời... Bài thơ Nhớ Tây Tiến ra đời trong điều kiện đó. Vậy, bài thơ Tây Tiến như mọi người thường gọi phải là bài thơ "Nhớ Tây Tiến" Vì vậy - Có nhớ dáng người trên độc mộc... hay - Còn nhớ dáng người trên độc mộc...
... Trôi giòng nước lũ hoa đong đưa...
Cho... hoa đong đưa vào giòng thơ này quả là có đẹp có hay. Nhưng rõ ràng nó không còn "Zin" như thuở ban đầu. Nước lũ trôi dữ dội như vậy, thì chiếc thuyền độc mộc không thể nào như bông hoa đong đưa được.
... Trôi giòng nước lũ trôi đong đưa...
nó thực hơn, sống hơn.
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ... (Quang Dũng tác phẩm chọn lọc, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, Văn học lớp 12 tập I Nhà xuất bản Giáo dục, trang 76. Tây Tiến 50 năm nhìn lại và Tây Tiến 55 năm xuất bản gần đây Nhà xuất bản Hà Nội, 2002).
Theo trí nhớ của một số anh em thì:
... Nhạc về Vạn Tượng xây hồn thơ...
Ngày đó, người ta thường nói Vạn Tượng (Viên Chăn), Nam Vang (Phnôm Pênh), Ba Lê (Pa-ri)... Đặt địa danh Vạn Tượng thay cho Viên Chăn thì rõ ràng câu thơ mềm mại, sát với luật hơn...
... Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ?
Một số anh em nhớ là
... Ai đi Châu Mộc chiều sương ấy?
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ?...
Hai câu nghi vấn, hay một câu nghi vấn đây?
... áo bào thay chiếu anh về đất...
hay
... Chiến bào thay chiếu anh về đất
Tự điển Hán Việt - Đào Duy Anh xuất bản năm 1951 thì chữ bào bên cạnh có bộ Y ( ). Bào là cái nhau thai cái bọc trong bụng mẹ, là chiếc áo dài. Nếu bào theo giải nghĩa chữ Hán của Tự điển Đào Duy Anh thì ta hiểu:
áo bào thay chiếu... Vô nghĩa. Vậy câu này phải là:
... Chiến bào thay chiếu anh về đất... Chiến bào - áo khi xung trận chiến đấu.
Dùng hai chữ chiến bào sức sống của câu thơ mạnh hơn, có lý hơn.
Đây là một số chữ còn tồn nghi mà chúng ta cần nghiên cứu. Một điều mà chúng ta có thể khắc phục. Chúng ta có nên "điểm nhãn" cho bài thơ giùm cho Quang Dũng? Đó là dấu chính tả. Rất vô lý toàn bộ bài thơ chỉ có hai dấu chấm than(!) (Quang Dũng tác phẩm chọn lọc và văn học lớp 12). Thêm hai dấu hỏi(?) (Tây Tiến 50 năm nhìn lại và 55 năm Tây Tiến).
Rất nhiều bài thơ ngày xưa và cả những bài thơ ngày nay không chú ý tới dấu chính tả. Một số anh em trước kia từ trình độ trung học trở lên viết phong thư tiếng Pháp dễ hơn viết phong thư tiếng Việt. Phân tích (Analyse) một câu đơn giản, một câu phức hợp trong bài Pháp văn tốt hơn Việt văn. Bài thơ Tây Tiến cũng ở trong tình trạng như vậy chăng?
Nên chăng, chúng ta thêm dấu chính tả cho bài thơ Tây Tiến? Có thêm dấu chính tả trong bài thơ chắc chắn bài thơ Tây Tiến toả sáng hơn, bay bổng hơn, trí tuệ hơn. Chắc nhà thơ cũng rất hài lòng.
Trong các trận đánh của tổ tiên ta cách đây mấy trăm năm, các trận đánh quân Nguyên Mông người ta nhắc tới cánh quân Thánh Dực Nghĩa Dũng do Nguyễn Khoái chỉ huy, cánh quân Hữu Vệ Thánh Dực do Phạm Ngũ Lão chỉ huy... - Các trận đánh thắng quân Thanh, người ta nhắc tới cánh quân Đô Đốc Long, cánh quân Đô Đốc Tuyết..., chứ có ai nhắc tới các cơ, các chi, các đội. Hàng trăm năm sau người ta có thể quên phiên hiệu, số hiệu các đơn vị, mà người ta không thể quên bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng.
(Phụ bản Thơ - Báo Văn nghệ)
Trần Kỳ
Một lần đơn vị tôi vượt biên giới sang chiến đấu trên đất Lào. Dừng chân lưng ngọn đèo khá cao, mây mù dầy đặc. Mồm mũi đang thi nhau thở, thì anh bạn vỗ vai tôi chỉ xuống dưới dốc:
-... Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi...
Anh lại chỉ lên đỉnh đèo.
- ... Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời...
Nhìn mà xem! Đúng thật! Ghê thật! Quang Dũng đúng là "Thần thi", "Thánh cú". Lại nữa... Quân xanh màu lá giữa oai hùm...
Trong thi ca đông tây, kim cổ xưa nay, người ta nói tới "hổ oai" hoặc "hổ trường khu cơ", để nói về sự oai dũng của các vị tướng. Quang Dũng lại nói cái oai hùng của người lính lúc yếu đau. Lạ thật!
Hơn ba chục năm, hai người lính Tây Tiến năm xưa nhắc lại bài thơ Tây Tiến giữa lưng đèo quả là điều kỳ thú. Tôi chỉ biết gật đầu khâm phục sự hiểu biết và vận dụng đúng chỗ của anh.
Năm tháng qua đi, bài thơ Tây Tiến ngày càng được tôn vinh. Bài thơ Tây Tiến được đưa vào giáo trình đại học Văn khoa Sài Gòn trước năm 1975. Trong giáo trình lớp 12, đề thi tốt nghiệp thi đại học hiện nay. Bài thơ Tây Tiến cũng được giảng dạy và là đề thi cho các học sinh, thí sinh.
Tôi được biết hai câu:
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm...
đã làm Quang Dũng một thời điêu đứng.
Cho tới nay, năm nào bài thơ Tây Tiến cũng được suy tôn trên mặt báo. Giấy mực tuy tốn nhưng người ta vẫn "khoái" nhắc tới Quang Dũng, tới bài thơ của ông.
Có người xếp bài thơ Tây Tiến đứng đầu hoặc thứ hai, thứ ba gì đó trong năm bảy bài thơ hay (mâm ngũ quả) trong hai cuộc kháng chiến (1945-1975). Điều này thật làm khó cho các nhà phê bình, lý luận. Những bài thơ nổi tiếng của các tiên tửu, tiên thi Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu... cũng chưa ai dám đề ra chuyện này. Bất kể bài thơ nào, dù hay đến đâu cũng vẫn có những điều, những đoạn hạn chế. Trần Đăng Khoa năm 12, 13 tuổi đã từng đòi chữa truyện Kiều của Nguyễn Du đó sao? Cho nên văn chương, chữ nghĩa thật không cùng.
Tôi là người lính Tây Tiến thuộc bài thơ Tây Tiến lúc bài thơ mới mở mắt được vài ba tháng (1948). Bài thơ lan toả rất nhanh trong trung đoàn Tây Tiến. Tất nhiên có người thuộc cả bài, có người thuộc từng đoạn. Cho tới đại hội Luyện quân lập công toàn Liên khu 3 ở Hồng Phú (khoảng tháng 6-1948), bài thơ mới được lan truyền trong Liên khu.
Thơ phú, văn chương ngày đó, hội nhập vào lớp bộ đội bằng hai con đường - truyền miệng và ghi chép lại trong sổ tay của người khác. Vì vậy, anh em thuộc rất nhanh, nhớ rất sâu và rất lâu. Mấy ai đã được xem bản thảo đầu tiên của nhà thơ, bản in đầu tiên trong số Văn nghệ ở Việt Bắc. Và, chắc chắn bản thân tác giả cũng gọt rũa không ít lần sau khi được bạn bè, đồng đội góp ý. So với ghi chép và trí nhớ ban đầu thì bài thơ Tây Tiến được đăng tải hiện nay có những chỗ khác xưa, gây nên sự tranh cãi trong lớp người cùng thời với nhà thơ.
Nhớ Tây Tiến, hay Tây Tiến. Ngay từ hai câu đầu tiên đã nói rõ:
... Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi...
(Còn nữa)
... Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi...
(Chưa hết)
... Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa...
Sau khi cướp chính quyền (tháng 8-1945) đoàn Tây Tiến thứ nhất đã lên đường làm nhiệm vụ. Sau đó là các đoàn Tây Tiến 2, Tây Tiến 3 lên đường. Ngày mồng 1 tháng 2 năm 1947 trung đoàn Tây Tiến mới chính thức mang tên gọi. Đây là những tháng ngày gian khổ nhất của bộ đội Tây Tiến. Năm 1948 quân đội ta đã có chế độ cung cấp tương đối đầy đủ, địa bàn chiến đấu đã được mở rộng, Quang Dũng đóng quân ở Phù Lưu Chanh nhớ lại quãng đường gian khổ, một viên kinacrin pha cùng với nước tiêm vào tĩnh mạch hoặc cho bộ đội uống chữa sốt rét, đốt rễ tranh thay muối hàng năm trời... Bài thơ Nhớ Tây Tiến ra đời trong điều kiện đó. Vậy, bài thơ Tây Tiến như mọi người thường gọi phải là bài thơ "Nhớ Tây Tiến" Vì vậy - Có nhớ dáng người trên độc mộc... hay - Còn nhớ dáng người trên độc mộc...
... Trôi giòng nước lũ hoa đong đưa...
Cho... hoa đong đưa vào giòng thơ này quả là có đẹp có hay. Nhưng rõ ràng nó không còn "Zin" như thuở ban đầu. Nước lũ trôi dữ dội như vậy, thì chiếc thuyền độc mộc không thể nào như bông hoa đong đưa được.
... Trôi giòng nước lũ trôi đong đưa...
nó thực hơn, sống hơn.
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ... (Quang Dũng tác phẩm chọn lọc, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, Văn học lớp 12 tập I Nhà xuất bản Giáo dục, trang 76. Tây Tiến 50 năm nhìn lại và Tây Tiến 55 năm xuất bản gần đây Nhà xuất bản Hà Nội, 2002).
Theo trí nhớ của một số anh em thì:
... Nhạc về Vạn Tượng xây hồn thơ...
Ngày đó, người ta thường nói Vạn Tượng (Viên Chăn), Nam Vang (Phnôm Pênh), Ba Lê (Pa-ri)... Đặt địa danh Vạn Tượng thay cho Viên Chăn thì rõ ràng câu thơ mềm mại, sát với luật hơn...
... Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ?
Một số anh em nhớ là
... Ai đi Châu Mộc chiều sương ấy?
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ?...
Hai câu nghi vấn, hay một câu nghi vấn đây?
... áo bào thay chiếu anh về đất...
hay
... Chiến bào thay chiếu anh về đất
Tự điển Hán Việt - Đào Duy Anh xuất bản năm 1951 thì chữ bào bên cạnh có bộ Y ( ). Bào là cái nhau thai cái bọc trong bụng mẹ, là chiếc áo dài. Nếu bào theo giải nghĩa chữ Hán của Tự điển Đào Duy Anh thì ta hiểu:
áo bào thay chiếu... Vô nghĩa. Vậy câu này phải là:
... Chiến bào thay chiếu anh về đất... Chiến bào - áo khi xung trận chiến đấu.
Dùng hai chữ chiến bào sức sống của câu thơ mạnh hơn, có lý hơn.
Đây là một số chữ còn tồn nghi mà chúng ta cần nghiên cứu. Một điều mà chúng ta có thể khắc phục. Chúng ta có nên "điểm nhãn" cho bài thơ giùm cho Quang Dũng? Đó là dấu chính tả. Rất vô lý toàn bộ bài thơ chỉ có hai dấu chấm than(!) (Quang Dũng tác phẩm chọn lọc và văn học lớp 12). Thêm hai dấu hỏi(?) (Tây Tiến 50 năm nhìn lại và 55 năm Tây Tiến).
Rất nhiều bài thơ ngày xưa và cả những bài thơ ngày nay không chú ý tới dấu chính tả. Một số anh em trước kia từ trình độ trung học trở lên viết phong thư tiếng Pháp dễ hơn viết phong thư tiếng Việt. Phân tích (Analyse) một câu đơn giản, một câu phức hợp trong bài Pháp văn tốt hơn Việt văn. Bài thơ Tây Tiến cũng ở trong tình trạng như vậy chăng?
Nên chăng, chúng ta thêm dấu chính tả cho bài thơ Tây Tiến? Có thêm dấu chính tả trong bài thơ chắc chắn bài thơ Tây Tiến toả sáng hơn, bay bổng hơn, trí tuệ hơn. Chắc nhà thơ cũng rất hài lòng.
Trong các trận đánh của tổ tiên ta cách đây mấy trăm năm, các trận đánh quân Nguyên Mông người ta nhắc tới cánh quân Thánh Dực Nghĩa Dũng do Nguyễn Khoái chỉ huy, cánh quân Hữu Vệ Thánh Dực do Phạm Ngũ Lão chỉ huy... - Các trận đánh thắng quân Thanh, người ta nhắc tới cánh quân Đô Đốc Long, cánh quân Đô Đốc Tuyết..., chứ có ai nhắc tới các cơ, các chi, các đội. Hàng trăm năm sau người ta có thể quên phiên hiệu, số hiệu các đơn vị, mà người ta không thể quên bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng.
(Phụ bản Thơ - Báo Văn nghệ)
Love mickey,