Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Quan niệm về Thơ của cha ông ta xưa

0 trả lời, 42 lượt xem — Trang 1 / 1
Quan niệm về Thơ của cha ông ta xưa

Lưu Khánh Thơ

Quan niệm (hoặc lí thuyết) về thể loại là một bộ phận quan trọng trong lí luận văn chương nói chung.

Qua thể loại người đọc dễ dàng nhận ra diện mạo đích thực của văn học, trong hình hài cụ thể của nó. Và do là cụ thể nên những khác biệt về khu vực như Đông và Tây; những khác biệt về các bộ phận như văn học dân gian và văn học thành văn đều hiện lên rất rõ.

Văn học Việt Nam thuộc phạm trù văn học phương Đông và chịu ảnh hưởng cái nôi văn minh Trung Hoa nên có những đặc thù riêng, khác văn học phương Tây, có khởi nguồn từ văn minh Hy La. Một trong những nét đặc thù đó là sự chi phối của thơ - nói văn chương chủ yếu là nói về thơ - và đó là một nền thơ đi suốt chiều dọc lịch sử trung đại, từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XX. Phải cho đến khi nền văn xuôi Quốc ngữ hình thành trong xã hội thuộc địa đã chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, với sự thắng thế và chi phối của tiểu thuyết, thì thơ mới giảm dần địa vị "thống soái" đời sống văn học.

Dĩ nhiên, khi nói như thế không có nghĩa là văn học trung đại chỉ có thơ. Ngoài thơ vẫn còn nhiều thể văn khác, thuộc phạm vi văn xuôi. Nhưng là một kiểu văn xuôi vẫn bị chi phối bởi thơ. Những phú, cáo, chiếu, biểu, hịch... vẫn phải tuân thủ quy luật hài hòa về ý tưởng và thanh điệu. Không kể, để được gọi là văn thì phải là văn biền ngẫu, cũng là một thứ vận văn, chứ không thể là nôm na, kiểu lời nói thường.

Do tình hình trên nên trong suốt thời trung đại, bàn về văn chương có nghĩa là bàn về thơ, hoặc chủ yếu là bàn về thơ. Những ý niệm về thơ cơ bản làm nên gương mặt lí luận văn học trung đại. Tất nhiên, ngoài thơ, các nhà Nho cũng bàn về nhiều vấn đề khác; và trong phạm vi rộng của nó là gồm các quan niệm về nhân sinh và xã hội, trong khuôn khổ kinh điển Nho giáo, vốn là nền tảng tri thức cho sự lập thân của kẻ sĩ.

Thành tựu sáng tác tập trung chung quanh thơ nên lí luận về thơ của cha ông là nơi có nhiều ý kiến phong phú và sâu sắc nhất, qua nhiều triều đại, nhiều thế kỉ.

Tiếp xúc với quan niệm về thơ của cha ông suốt 10 thế kỉ, ta thấy gần như tất cả đều có sự nhất trí: Thi dĩ ngôn chí (thơ để nói chí). Bên cạnh Văn dĩ tải đạo. ý này được rất nhiều người nói, kể từ Phan Phu Tiên (thế kỉ XV - chưa rõ năm sinh, năm mất): "Trong lòng có điều gì tất hình thành ở lời; cho nên thơ để nói chí vậy!"(1). ở Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585): "Ôi, nói tâm là nói về cái chỗ mà chí đạt tới vậy, mà thơ lại là để nói chí"(2). ở Lê Hữu Kiều (1690-1760): "Thơ để nói chí hướng của mình"(3). ở Nguyễn Cư Trinh (1716-1767): "Để trong lòng là chí, ngụ ra ý là thơ(4) v.v...

Thế nhưng cách hiểu về chí vẫn có chỗ khác nhau. Chí có thể giới hạn trong sự lập thân của kẻ sĩ: làm quan hoặc làm thầy, theo khuôn mẫu Nho gia - "Tiến vi quan, thối vi sư". Chí có thể mở rộng ra là lòng yêu nước, thương dân, và dám xả thân vì nước vì dân. Tương ứng với các quan niệm đó, lịch sử dân tộc và lịch sử văn học dân tộc đã nêu các tấm gương: Chu Văn An, Nguyễn Trãi... đến Ngô Thời Nhiệm, Nguyễn Du, Nguyễn Thiếp, Cao Bá Quát, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu...

Chí có thể được giãi bày trực tiếp và cụ thể cho phù hợp với thời thế và hành trạng của kẻ sĩ như ở Nguyễn Bỉnh Khiêm: "Có kẻ chí để ở đạo đức, có kẻ chí để ở công danh, có kẻ chí để ở sự nhàn dật"(5). Tất nhiên với Nguyễn Bỉnh Khiêm, chí là để ở sự nhàn dật. Nhưng là một nhàn dật không hẳn là thoát li, là quay lưng với xã hội. Và Bạch Vân am thi tập, ngót một nghìn bài chính là sự thể hiện cái chí riêng của Trạng Trình, về ở ẩn, tìm thú vui trong thiên nhiên: "Mỗi khi được thư thả lại dậy hứng mà ngâm vịnh, hoặc là ca tụng cảnh đẹp đẽ của sơn thủy, hoặc là tô vẽ nét thanh tao của hoa trúc, hoặc là tức cảnh mà ngụ ý, hoặc là tức sự mà tự thuật, thảy thảy đều ghi lại thành thơ nói về chí" (6).

Như vậy là cái nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm lại là một sự bận rộn về tâm hồn để trở thành người thầy lớn của thế kỉ XVI. Cũng như Nguyễn Trãi thế kỉ XV, ông vẫn là người nặng lòng với thế sự.

Cần một cách hiểu rộng về chí, tuy vẫn tuân thủ quan niệm thơ nói chí, không thu hẹp ý nghĩa và giá trị của một nền thơ với rất nhiều gương mặt có thể là không ai giống ai. ý kiến của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528-1613) cho ta thấy rõ thêm điều này: "Cái gọi là thơ thì không phải là láu lưỡi trong tiếng sáo, chơi chữ dưới ngòi bút thôi đâu, mà là để ngâm vịnh tính tình, cảm động mà phát ra chí nữa. Thế cho nên nếu chí mà ở đạo đức thì tất là phát ra lời lẽ hồn hậu, chí mà ở sự nghiệp thì tất là nhả ra khí phách hào hùng, chí ở rừng suối gò hang thì thích giọng thơ liêu tịch, chí ở gió mây trăng tuyết thì thích vẻ thơ thanh cao, chí ở nỗi uất ức thì làm ra lời thơ ưu tư, chí ở miền cảm thương thì làm ra điệu thơ ai oán"(7)

Bên cạnh sự khác nhau do quy định của tâm thế, hành trang và cảnh ngộ như cách hiểu của Phùng Khắc Khoan, còn có sự khác nhau về tầm của chí, như cách hiểu của Ngô Thời Nhiệm (?-1803): "Xưa nay sáng tác văn chương được gọi là gia đã khó, được gọi là đại gia lại càng khó. Đại gia là chữ dùng để chỉ người có văn chương giúp đời"(8). Và của Nguyễn Văn Siêu (1796-1872) khi ông phân biệt hai loại thơ: "Có loại đáng thờ. Có loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người (...) "Văn" và "Đạo" tuy có tên khác nhau, nhưng nội dung của nó bắt nguồn từ "đạo"...(9).

Chính sự phân biệt này giúp ta hiểu trong văn học dân tộc có một dòng lớn xuyên suốt chiều dài lịch sử cho đến ngày nay. Đó là giòng văn thơ yêu nước, nơi góp mặt các "đại gia" như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi... đến Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh. Và người tâm huyết nhất với loại "văn giúp đời", hơn ai hết, có lẽ là Hồ Chí Minh thế kỉ XX, với:

Nay ở trong thơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong

(Cảm tưởng đọc "Thiên gia thi")

Vung bút thành thơ đuổi giặc thù

(Tặng Bùi Công)

Tất nhiên, ở vào thời bình thì thơ lại trở về với tiếng nói của những cõi lòng riêng; và ở lĩnh vực này thì cha ông ta cũng để lại nhiều ý tưởng sâu sắc và tâm sự cảm động. Nếu nội dung của chí được mở rộng các biên độ theo nhiều hướng, để cho thơ có thể linh hoạt, gần cận với cuộc đời, và với cảnh ngộ của mỗi người chứ không bị khuôn cứng theo các giáo điều có sẵn; thì việc biểu đạt cái chí đó nói cách khác, về phương thức thể hiện nội dung đó cũng đòi hỏi một lao động nghệ thuật nghiêm khắc trên nhiều phương diện nhằm hướng tới, một là sự chân thực của nội tâm, và hai là sự hàm súc, giản dị của ngôn từ. Nói như Nguyễn Cư Trinh: "Người có sâu cạn cho nên thơ có mờ tỏ, rộng hẹp khác nhau (...) Người làm thơ không ngoài lấy trung hậu làm gốc, ý nghĩa phải hàm súc, lời thơ phải giản dị" (10). Còn với Ngô Thời Nhiệm thơ phải là sản phẩm tự nhiên của tâm hồn, chứ không thể là sự khiên cưỡng, giả tạo; và vẻ đẹp tự nhiên ấy khi "biểu hiện ra bằng lời thì cũng giống như cái lí do làm cho cá phải nhảy, diều phải bay, chỉ biết nói cái gì đáng nói ra mà không nói cái gì không đáng nói"(11).

Theo Lý Tử Tấn (1378-1457): "Muốn thơ cổ kính, thanh đạm sẽ gần dung tục, muốn thơ giàu đẹp sẽ gần hoa hòe. Hào phóng sẽ đi đến quá trớn, mộc mạc sẽ tới chỗ quê mùa. Cho nên lời, ý phải giản dị, rõ ràng, mạch lạc, thông suốt, thật thà mà không dung tục, kì lạ mà không ngoắt ngoéo... Lời trung hậu mà thoát tục khí cao khoát mà ôn hòa, khó lắm mới được vậy"(12). Cũng cùng ý tưởng như vậy, theo Ngô Thời Nhậm: "Thơ mà quá cầu kì thì sa vào giả dối, quá trau chuốt thì sa vào giảo trá, hoang lương hiu hắt thì phần nhiều sa vào buồn bã. Chỉ có thuần hậu, giản dị, thẳng thắn, không giả dối, không xảo trá, không buồn bã mà rốt cuộc chú trọng đến sự ngăn chặn điều xấu, bảo tồn điều hay mới là những đặc sắc chính của thơ"(13).

Tất cả những ý kiến về lao động thơ như trên, và còn nhiều nữa, đều có thể là bài học quý cho người đời nay. Nhưng để có một quan niệm bao quát và tổng hợp về thơ, có lẽ phải tìm đến Lê Quý Đôn (1726-1784) trong một ý kiến đã trở nên quen thuộc đối với người đương thời và các thế hệ sau, kể cả chúng ta: "Ta thường cho làm thơ có ba điều chính: một là tình, hai là cảnh, ba là sự. Trong lòng có cảm xúc thực sự, rung cảm nên lời. Thực tế bên ngoài gây thành ý, rồi dùng điển tích để nói việc ngày nay, chép việc xưa hoặc thuật chuyện hiện tại, đều tự nhiên có tinh thần. Tác giả tuy không phải chọn cách này hay cách khác, nhưng đại khái đều có ba điều trên. Trong ba điều ấy lại lấy ôn nhu, đôn hậu làm gốc, còn như thể loại, âm tiết, cách điệu, đều là bàn thêm thôi. Tình là người, cảnh là tự nhiên, sự là hợp nhất cả trời và đất. Lấy tình tham cảnh, lấy cảnh hội việc, gặp việc thì nói ra lời, thành tiếng. Như vậy cảnh không hẹn đến mà tự đến, nói không mong hay mà tự hay, cứ như thế có thể trở thành người làm được thơ tao nhã"(14).

Từ quan niệm này về thơ, ta hiểu thơ là lĩnh vực có thể bao quát được nhiều phương diện của đời sống con người (gồm cả tình, cảnh và sự), chứ không chỉ còn là việc nói chí, dù là chí được hiểu theo nghĩa rộng. Và trên biên độ mở của nó, trong tương quan với tình, cảnh và sự, quan niệm này của Lê Quý Đôn là tương ứng với một giai đoạn phát triển mới của nền thơ Việt Nam, giai đoạn xuất hiện những đỉnh cao các giá trị cổ điển của văn chương dân tộc như Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Du...

Từ Lê Quý Đôn, sẽ còn hơn nửa thế kỉ nữa để đến với Cao Bá Quát; và với Cao Bá Quát, ta lại có tiếp một bất ngờ đầy phát hiện trong một quan niệm mới về văn chương, như được thể hiện trong một lời bình thật hay của ông, nhân đọc Hoa tiên mà nghĩ đến Truyện Kiều: là tiếng nói hiểu đời. Hoa tiên là tiếng nói răn đời vậy"(15).

Như vậy nếu đối chiếu giữa thơ "nói chí" với thơ "răn đời" và thơ "hiểu đời thì thơ "răn đời" gần với thơ "nói chí" của người xưa, còn thơ "hiểu đời" thì gần với quan niệm hiện đại hơn.

Tất cả những điều đã trình bày trên cho thấy cha ông ta từ rất xưa đã có một quan niệm vừa bao quát vừa cụ thể về thơ. Nhưng nói quan niệm hoặc tư tưởng lí luận của cha ông là nói sự đóng góp chung của các thế hệ nhà Nho, qua nhiều triều đại, nhiều thế kỉ. Bàn trực tiếp vào thơ, phú, trong đó chủ yếu là bàn về thơ, hoặc bàn gián tiếp qua "đạo", "chí", các ý tưởng đó chỉ là rải rác, tản mạn nằm trong các tựa, bạt, luận, bình, dẫn, phú, thư, sớ, ký, thoại, đề từ chứ chưa phải là sự hệ thống hóa thành một công trình chuyên biệt như Nghệ thuật thi ca của Boileau, hoặc Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp, Tùy viên thi thoại của Viên Mai. Đó cũng là một đặc thù của Việt Nam khi sự hình thành một khoa học về văn chương phải chờ đến thời hiện đại, với sự tiếp nhận ảnh hưởng trực tiếp của phương Tây. Chưa có một khoa học như thế trong lịch sử, nên việc sưu tập để có một diện mạo chung về quan niệm, lí thuyết về thơ văn của cha ông phải chờ đến thời hiện đại(16). cũng có nghĩa là còn chưa có trong văn học trung đại cái gọi là lí luận văn học như một khoa học về văn chương trong sự khu biệt với sáng tác và phê bình một phía, và các hình thái ý thức khác một phía, và trong tính hệ thống của nó, như cách chúng ta hiểu, và đã có như hiện nay...




(1)Tựa sách Việt Nam thi tập tân san - Từ trong di sản. Nxb. Tác phẩm mới, H. 1981: tr.21.

(2), (5), (6) Tựa Bạch Vân am thi tập. Sđd: tr.36,37.

(3), (10) Tựa tập thơ Tàng thuyết của Mai Doãn Thường. Sđd; tr.55. 47.

(4) Tiểu dẫn thơ...: Sđd: tr.47

(7) Tựa tập thơ Ngôn chí; Sđd; tr.40. 41.

(8) Tựa tập thơ Tinh sa kỉ hành của Phan Huy ích. Sđd; tr.77.

(9) Thư gửi bạn học Ngô Huy Phan ở Bái Dương. Sđd; tr.127.

(11). (13) Cúc hoa thi tập (bàn thơ với Phan Huy ích). Sđd. tr.74. 75.

(12) Tựa Việt âm thi tân huyền. Sđd: tr.24.

(14) Vân Đài loại ngữ. Sđd: tr.93.

(15) Tựa Truyện Hoa tiên. Sđd; tr.151.

(16) Từ trong di sản. Nguyễn Minh Tấn chủ biên. Nxb Tác phẩm mới, 1981 và Người xưa bàn về văn chương. T1. Đỗ Văn Hỷ. Nxb KHXH, 1993.

(Phụ bản Thơ - Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0