Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Huy Cận-Tác giả của những vế đối hóc búa

2 trả lời, 1.106 lượt xem — Trang 1 / 1
Huy Cận-Tác giả của những vế đối hóc búa

Quang Huynh

Lâu nay trong các giai thoại nói về những vế thách đối hóc búa nổi tiếng người ta thường nhắc tới một vế đối: "Vợ cả, vợ hai, hai vợ đều là vợ cả", và hầu như chẳng ai biết tác giả của vế thách đối đó là ai. Cách đấy mấy năm, Tạp chí Văn nghệ Thái Bình đã nêu lên để mời đối có thưởng. Đầu xuân ất Dậu 2005 này, trên tạp chí Phụ nữ trẻ (Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản) đăng bài viết Những vế thách đối hóc búa của tác giả Quang Hùng có đoạn viết: "Một vế thách đối khác không rõ tác giả, cũng thuộc loại siêu khó (trước 1975, báo giới Sài Gòn từng nhắc lại thách đối có thưởng, nhưng không ai có thể đưa ra vế đối hoàn chỉnh: "Vợ cả, vợ hai, hai vợ đều là vợ cả". Hai chữ "Cả" hoàn toàn khác nghĩa, thêm đảo ngữ "vợ hai" và "hai vợ", hỏi không siêu khó sao được".

Về tác giả và xuất xứ của vế đối này, rất may tôi được nghe chính tác giả của nó - nhà thơ Cù Huy Cận kể lại trong bối cảnh như sau:

Tháng 7 năm 1999, ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam tổ chức hội nghị Văn nghệ các tỉnh miền núi phía Bắc tại Lạng Sơn. Nhà thơ Cù Huy Cận, lúc đó là Phó Chủ tịch ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam đến chỉ đạo hội nghị. Trên đường từ Hà Nội lên Lạng Sơn thấy ven đường có những nương ngô xanh tốt với những bắp ngô mẩy căng. Đến Lạng Sơn, nhà thơ ngỏ ý muốn được ăn một bữa ngô luộc. Anh em ở Văn phòng Hội Văn nghệ Lạng Sơn đi tìm mua được một bao tải ngô nếp đem về luộc, thết nhà thơ và anh em cùng đi. Mọi người quây quần ăn ngô trò chuyện vui vẻ. Đang lúc cao hứng, nhà thơ Huy Cận vui vẻ nói:

- Nhân chuyện ăn ngô luộc, tôi xin kể câu chuyện ra vế đối về chữ "ngô". Khi ông Ngô Thuyền - Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc hết nhiệm kỳ về nước, bàn giao lại nhiệm vụ cho ông Ngô Minh Loan sang thay, tôi tặng hai ông một vế đối và mời đối: "Ông Ngô thay ông Ngô đi sứ nước Ngô, gặp nhau dưới cây ngô đồng chuyện nở như ngô rang". Cái hay và hiểm hóc của vế đối là ở lối chơi chữ "ngô". Hai ông chịu, chưa đối lại được và mời tôi đối tiếp. Nhưng tôi cũng chịu!

Thấy mọi người vui vẻ, nhà thơ kể tiếp:

- Khi tôi công tác ở Bộ Văn hoá, cùng ông G. có hai bà vợ thường hay xảy ra chuyện xích mích phải nhờ tôi can thiệp. Tôi hỏi nhỏ ông: Trong hai bà, bà nào là vợ chính? Ông cười thú thực: "Cả hai bà đều không có đăng ký kết hôn". Tôi bật cười và nảy ra một vế đối: "Vợ cả, vợ hai, hai vợ đều là vợ cả". Hai chúng tôi cùng cười và nghĩ mãi cũng chưa ra được vế đối lại thoả đáng. Sau này nhiều người truyền nhau những vế đối trên như những vế đối "hóc búa" trong dân gian chưa có vế đối lại.

Đầu xuân ất Dậu 2005 này, nhân đọc bài viết của tác giả Quang Hùng trên tạp chí Phụ nữ trẻ (nêu trên), tôi có ý định viết bài nói rõ tác giả và xuất xứ của những vế đối trên để bạn đọc cùng biết, nhất là khi tác giả của những vế đối đó, nhà thơ Huy Cận còn sống. Rất tiếc ý định chưa kịp thực hiện thì được tin nhà thơ Huy Cận đã vĩnh biệt chúng ta. Tưởng nhớ nhà thơ, tôi xin kể lại câu chuyện trên mà tôi cùng một số cán bộ Hội VHNT Lạng Sơn và cán bộ Văn phòng ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam cùng được chứng kiến hôm đó.

(*) Ông G. tức ông Hoàng Minh Giám, nguyên Bộ trưởng Bộ Văn hoá

(Phụ bản Thơ - Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Nhà thơ Huy Cận
Hoàng Cát

Người xưa nói: “Cái quan định luận” - nghĩa là, chỉ khi đã trùm áo quan lại rồi, mới nhận định và kết luận được thật chính xác về một con người nào đó. Đành rằng, đối với nhà thơ Huy Cận, (tức Cù Huy Cận) tuy không hoàn toàn phải như thế, nghĩa là không cần phải đợi tới lúc ông tạ thế rồi, người ta mới thấy được phẩm cấp thiên tài đặc biệt về thi ca của ông nói riêng, và toàn bộ sự nghiệp văn học, văn hoá và quan chức của ông nói chung. Tuy nhiên, xét ở cấp độ thật triệt để, thì quả thật, chỉ khi Huy Cận đã nhắm mắt xuôi tay, chúng ta mới thấy hết được tầm cỡ vĩ đại và siêu hạng ở con người này - trên cả hai phương diện: thi nhân, và quan chức.
Sao chúng ta lại không nói đến những phẩm chất tốt đẹp của một người đã suốt đời làm quan - hơn nữa, lại là một vị quan luôn luôn ở ngạch bậc cao cấp trong Chính phủ - như Huy Cận nhỉ? Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, khi mà thói cơ hội, thói xu nịnh, thói hãnh tiến và sự tha hoá về phẩm chất quan chức như tệ quan liêu, trí trá, lười biếng, hống hách, sách nhiễu, tham nhũng, vv...), thì biểu dương những phẩm chất tốt đẹp trong suốt cả cuộc đời làm quan của nhà thơ Huy Cận là một việc rất nên làm; không chỉ để tri ân và tôn vinh một con người đã trọn đời tận trung với nước và hiến dâng hết mình cho dân tộc trên mọi phương diện công tác, mà còn để nêu một tấm gương sáng, những phẩm chất quí báu của một ông quan, cho các thế hệ quan chức đương đại và sau này noi theo.

Có lẽ đến lúc này thì gần như ai cũng biết rằng, khi chỉ mới hai mươi sáu tuổi, Huy Cận đã là một vị Bộ trưởng Bộ Canh nông trong Chính phủ lâm thời đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - với cái tên đầy đủ cả họ là: Cù Huy Cận. Kể từ đó, cái tên đầy đủ này sẽ là cái tên chính thức của một vị quan chính thức và cấp cao trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, rồi sau này là Chính phủ Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam - lúc thì Bộ trưởng, lúc Thứ trưởng, và còn nhiều chức danh cao cấp, quan trọng và sang trọng khác nữa, ở trong nước và cả trên trường quốc tế... Tuy thế, trên mọi cương vị công tác, và trong sinh hoạt thường nhật tại mọi nơi, mọi lúc, chưa bao giờ Huy Cận tỏ ra ta đây là người có tài năng đặc biệt hay quan trọng hơn người cả? Trái lại, bao giờ và ở đâu, ông cũng là một con người hết sức bình dị, thân tình, ân cần và ấm áp tình người, tình đời với tất thảy mọi người cùng sống và làm việc xung quanh ông. Huy Cận là người hầu như không bao giờ tự đề cao và tự “khuếch tán” mình tại các diễn đàn như không ít thi nhân, văn nghệ sĩ và một số quan chức khác thường làm. Cái sự bình dị, thân tình và ấm áp nơi Huy Cận là thứ bình dị thuộc bản tính, bản chất từ trong máu thịt của ông toát ra - chứ không phải là thứ bình dị hình thức như một số vị quan liêu vẫn thường tỏ vẻ. Thời nay, nhiều kẻ chỉ mới mon men đến cái chức phó tổng biên tập một tờ báo lá cải thôi, hay chánh phó văn phòng một cái uỷ ban vớ vẩn nào đó chẳng hạn, thì đã vênh váo tự cho ta đây là to tát, là “vĩ nhân”, là “lãnh đạo” rồi; và nào là đổi mốt xe con, đổi mốt nhà ở, đổi mốt xa-lông phòng khách, đổi mốt máy lạnh, đổi mốt điện thoại di động, vv và vv... Nhưng đối với ông Huy Cận nhà thơ và Cù Huy Cận quan chức thì, suốt từ lúc làm Thứ trưởng Bộ Văn hoá từ năm 1955 cho mãi đến sau này, năm 1984, khi đã giữ chức Bộ trưởng đặc trách công tác văn hoá - thông tin tại Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng (tức Hội đồng Chính phủ) - lúc nào ông cũng chỉ đi làm trên một chiếc xe ô tô tầm tầm, cũ rích theo phẩm hàm và tiêu chuẩn Thứ trưởng mà Nhà nước đã qui định? Tôi dám bảo đảm với mọi người rằng, chưa bao giờ, chưa lúc nào Huy Cận băn khoăn, áy náy hay mảy may bận tâm một chút xíu nào về cái chuyện “tiêu chuẩn” xe con của mình cả?... Sinh thời, đã có lần ông từng cười hề hề mà nói với tôi: “Quan trọng là ai ngồi trong cái xe ấy - chú, hay tôi, hay là một người nào khác? Chứ quan trọng gì việc mình ngồi trong chiếc xe nào. Xe nào mà tốt, không hay hỏng hóc dọc đường công tác là được rồi”.

Ngày làm lễ đưa tang nhà thơ Huy Cận tại Hà Nội, tình cờ tôi gặp một người đàn ông tuổi đã ngoài bảy mươi, chân chất như một người nông dân vừa ở làng quê ra, ngồi tách riêng, lặng lẽ một mình nơi góc phòng đăng kí vào viếng nhà thơ. Đó là ông Phạm Văn Đáp, quê gốc Hải Dương, là người cần vụ cho Huy Cận từ 1954 đến 1958 tại số nhà 24 Cột Cờ, (nay là 24 Điện Biên Phủ), Hà Nội. Ông Đáp bùi ngùi nói với tôi: “Tôi thương ông ấy lắm chú ạ? Cả cuộc đời đi làm công việc bảo vệ và phục vụ các thủ trưởng của tôi, trước kia cũng vậy, mà sau này cũng thế, chưa bao giờ tôi gặp được một ông quan nào mà lại hiền lành, tử tế và tốt bụng đến như ông Cù Huy Cận này cả. Chưa bao giờ ông ấy tỏ ra quan cách mà nói nặng hay cáu gắt với anh em phục vụ chúng tôi lấy một lần. Lúc nào ông ấy cũng điềm đạm, thong thả trong mọi lời nói cũng như công việc hàng ngày. Đi làm thì thật sớm, mà về thì thật muộn. Đến bữa, có sao ăn vậy; không khi nào phàn nàn hay đòi hỏi một cái gì sất. Không uống rượu, uống bia; không nghiện cà phê, không hút thuốc lá bao giờ cả”...

Cái gì đã làm nên những phẩm cách đẹp đẽ ấy trong con người nhà thơ và con người quan chức Huy Cận? Theo tôi ngẫm nghĩ, thì đó là trời đã sinh ra tính tình của ông đôn hậu như vậy ngay từ thuở lọt lòng! Và, cái thiên tính ấy của Huy Cận được phát tích và hình thành từ trong một gia đình nông dân nghèo nhưng có truyền thống Nho học ở miền sơn cước heo hút thuộc làng Ân Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Thân phụ của ông là một nhà nho đã đậu Tam trường, từng làm hương sư ở Thanh Hoá, rồi về dạy học chữ Hán tại quê nhà và làm ruộng như mọi người nông dân bình thường khác trong làng.

Tôi còn nhớ, năm 1961 thân mẫu của nhà thơ Huy Cận sống với gia đình ông ở 24 Cột Cờ, Hà Nội; bà cụ đã nhiều lần kể với tôi rằng, lúc nhỏ Huy Cận hơi nhút nhát, rất sợ phải đi học một mình, nhất là những hôm trời mưa to gió lớn. Nhiều bữa, gia đình phải cho người cáng võng Huy Cận đến trường học; tan trường lại cho người đến cáng về? Tuy nhiên, Huy Cận chỉ chịu nằm trên cáng lúc vừa mới ra khỏi nhà hoặc sắp về đến cổng làng - vì sợ không nằm cáng thì bị cha mẹ mắng; còn khi đã khuất khỏi cổng làng là Huy Cận nhảy xuống chạy bộ, để không phải làm khổ những người nông dân đi cáng mình...

Và ngày xưa, thuở Huy Cận còn là một cậu bé học trò trường làng ở vùng quê nghèo và buồn của miền núi Hà Tĩnh, trong một gia đình đông người, hàng ngày Huy Cận được giao một nhiệm vụ “đặc biệt” - đấy là việc khoá cổng ngõ trước khi đi ngủ hằng đêm, để phòng kẻ trộm; vì hồi đó trộm cắp ở các miền quê sơn cước là như rươi! Do vậy, thói quen cẩn thận, kĩ càng, chắc chắn trong công việc khoá cổng cụ thể và mọi công việc hằng ngày khác của Huy Cận đã trở thành một bản chất cố hữu trong ông đến suốt đời. Mỗi lần khoá xong cổng, bao giờ Huy Cận cũng phải giật giật cái ổ khoá đến mấy lần thật mạnh, để kiểm tra coi thử nó đã thật chắc chắn hay chưa. Chính những điều ngỡ như vụn vặt ấy trong cuộc sống thường nhật đã tạo nên phẩm chất và tính cách trong mỗi con người chúng ta. Trường hợp ở nhà thơ Huy Cận, thì nó đã tạo cho ông những đức tính thật là cẩn thận, chu toàn và đầy đặn với mọi con người mà ông hằng chung sống, chung công việc, chung vui buồn trong suốt cả cuộc đời.

Tuy nhiên, dù đức độ của một ông quan có lớn lao đến bao nhiêu đi nữa, nhưng nếu ông quan ấy không có tài năng đích thực, không đóng góp cho xã hội những giá trị to lớn đích thực, thì hẳn rằng cuộc đời này cũng không mấy mặn mà và nhớ tiếc ông dài lâu được. Nhưng riêng với nhà thơ Huy Cận thì được trọn vẹn cả đôi đường, gần như toàn bích tuyệt đối: Tài cao, đức trọng? - Nói cho thật súc tích, đích xác và gãy gọn thì: Trời sinh ra Huy Cận là một ông đại thi sĩ làm quan to cũng giống như các bậc tiền bối: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến... Thời nào cũng thế, và ở nước nào cũng vậy - một tài năng thơ lớn, xuất chúng, thì bao giờ cũng là một nhân cách lớn, vượt được thời gian trên mọi phương diện. Huy Cận đương nhiên nằm chung trong qui luật ấy của xã hội loài người. Bài thơ Gánh xiếc, in ở trong tập Lửa thiêng năm 1940 đã phần nào phản ánh rất đúng và chính xác cái tố chất Huy Cận trời sinh ấy: “Có chàng ngơ ngác tựa gà trống/ E đến trăm năm còn trẻ thơ/Tám tuổi một chiều trong rạp xiếc/ Yêu nàng cưỡi ngựa uốn thân tơ/ Điệu kèn rộn rịp nâng chân ngựa/ Nhịp với lòng trai mở cánh yêu,/Nhạc buồn thu - chở hồn đường sá;/ Lẫn với hùm, voi: gái lệ kiều/ Gái lệ kiều đi với ngựa, voi;/ Về nhà, đứa trẻ vẫn đùa chơi/ Nhưng lòng trẻ đã theo đoàn xiếc/ Xếp với màn to của rạp đời/ Gánh xiếc đi qua chỉ một lần/ Bây giờ có lẽ đã chia tan.../ Và nàng cưỡi ngựa đâu rồi nhỉ?/ Ngơ ngác chàng trai tự hỏi thầm”... Tôi cố ý trích trọn bài Gánh xiếc không phải vì bài thơ này hay nhất trong đời thơ hàng ngàn bài của Huy Cận, suốt bảy chục năm ông đã lao động sáng tạo miệt mài. Mà chỉ vì một lẽ đơn giản rằng, nó - bài thơ Rạp xiếc - giải thích được minh xác cho chúng ta ngọn nguồn cái chất Huy Cận thương đời, đau đời, gắn chặt như bắt vít vào cuộc đời, đã bao trùm lên toàn bộ sự nghiệp văn chương và quan chức của ông nói chung. Nó cũng giống như cái chất hồn vía trời sinh của Xuân Diệu qua bài thơ Tuổi nhỏ: “Giơ tay muốn ôm cả trái đất/ Ghì trước trái tim, ghì trước ngực/ Cho đầy trước mặt khoảng cô đơn/ Bao la muôn trời, sâu vạn vực/ Làm sao sống được mà không yêu/ Không nhớ, không thương một kẻ nào?/Hãy đốt đời ta muôn thứ lửa/ Cho bừng tia mắt đọ tia sao!”. Đó chính là những bản năng trực giác lớn lao, đẹp đẽ mãnh liệt và chân xác nhất của các bậc đại thi nhân kiệt xuất đã tự khám phá và bộc lộ về mình.

Trở lại trường hợp cụ thể của hồn vía thơ Huy Cận, ta thấy rằng, ngay từ độ tuổi nhi đồng - mà chính xác là tám tuổi - Huy Cận đã bộc lộ là một con người đa mang, đa cảm, đa tình trước cuộc đời hỗn độn, bể dâu như một rạp xiếc: “Nhạc buồn thu - chở hồn đường sá/ Lẫn với hùm, voi: gái lệ kiều”. Và từ đó cho dù “đứa bé” Huy Cận về nhà vẫn đùa chơi như muôn ngàn đứa bé bình thường khác, nhưng trong thẳm sâu hồn cốt của mình thì “Lòng đã theo đoàn xiếc/ Xếp với màn to của rạp đời”. Đó là tự nhiên. Đó là tự nguyện. Và đó cũng là cái nghiệp trời gông vào mệnh của một đại thi nhân Huy Cận sừng sững sau này!... Điều ấy, nó cắt nghĩa được cho chúng ta hiểu vì sao trong thơ Huy Cận lại có nhiều những nỗi sầu đau nhân thế đến như vậy. Nó cũng cho ta thấy được cái tầm vóc tâm Phật, tính Phật tự nhiên trong con người và trong toàn bộ sự nghiệp thi ca đồ sộ của nhà thơ.

Nhưng, trong đời thường cũng như trong các tác phẩm thơ ca của mình, Huy Cận là người không chỉ có cái tâm nhân hậu và sáng láng không thôi, mà ông còn là một nhà đại trí thức, luôn luôn đầy ắp trí tuệ, tri thức và kiến thức cổ kim của dân tộc và của nhân loại. Gần suốt cả cuộc đời, ông thường xuyên, ngày nào cũng như ngày nào, đọc hầu hết các loại sách về văn hoá của Việt Nam và của các nước khác trên thế giới mà ông có được trong thư viện gia đình và thư viện ở các cơ quan ông làm việc. Đọc qua tiếng mẹ đẻ, là thứ tiếng Huy Cận vô vàn yêu thương từ những ngày còn đi học đã đành, ông còn thường xuyên đọc các sách báo, tạp chí bằng tiếng Pháp nữa. Đây là một mạch nguồn vô tận, lặng lẽ cung cấp cho Huy Cận những thông tin cập nhật trên khắp hành tinh chúng ta đang sống. Mỗi dịp đi công tác nước ngoài, Huy Cận không bao giờ mang bất cứ một thứ hàng hoá nào khác về, ngoài sách báo, tạp chí - đặc biệt là các quyển đại từ điển mới in bằng tiếng Pháp ở các nước tiền tiến. Vì thế, không thể kể hết, và càng không thể phân tích hết được những bài thơ có tầm vóc kì vĩ của Huy Cận trong một bài báo nhỏ này được. Những bài thơ dài về số câu và sâu rộng về hàm lượng thông tin như Bài thơ cuộc đời; Các vị La Hán chùa Tây Phương; Ngã ba Đồng Lộc; Những năm sáu mươi của thế kỉ hai mươi, hay những bài thơ trữ tình, có tính mẫu mực, kinh điển như Tràng Giang; Ngậm ngùi”; Nhạc sầu; Buồn đêm mưa, vv và vv... thì hẳn rằng ai cũng đã từng nghe, hoặc cũng đã ít nhiều biết đến không dưới một đôi lần. Tôi xin không nhắc lại ở đây nữa, vì có nhắc tới, có nói đến chúng cũng không bao giờ có thể thấu đáo tuyệt đối được. Tôi chỉ muốn nói đến một bài thơ rất bình thường khác của Huy Cận, mà có lẽ đối với những người không thật sự quan tâm lắm đến thơ nói chung và thơ Huy Cận nói riêng thì ít ai để ý tới. Đó là bài Mỗi cuộc đời mang thầm..., được Huy Cận viết vào tháng 3-1983. “Mỗi cuộc đời mang thầm bao nhiêu chuyện/ Chạm nổi chạm chìm trong thịt trong xương/ Bao lửa cháy rực hồn những buổi/ Bao mưa phùn những bước lầy trơn...”... Mỗi cuộc đời đi trên dây xiếc/ Chiếc ô giữ cân bằng là vòm trời xanh biếc/ Đi trên đường dây của những thuỷ triều mãnh liệt/ Một múi dây treo vào mặt trăng/ Và múi kia quấn buộc lòng mình./ Mỗi cuộc đời nói sao cho hết/ Từ bình minh mưa đến hoàng hôn ngọc biếc/ Mỗi cuộc đời là một ngôi sao băng/ Đã cọ xát muôn nghìn thế giới/ Cho thiên hạ mọi phần sáng chói/ Phải chăng giữ lại cho mình tàn lụi tro đêm... / Ta sẽ tắt theo gió/ Ta sẽ khuyết theo trăng/ Nhưng nước mặn của đời ta sẽ trở về kết tủa/ Cùng với muối ở trên nề những trưa nắng chói chang...”. Tôi chú tâm trích gần hết bài Mỗi cuộc đời mang thầm của Huy Cận, là có ý lấy nó làm đối chứng với bài Gánh xiếc mà tôi vừa trích dẫn ở phần trên. Để chúng ta thấy rằng, cái hình ảnh, hình tượng cuộc đời như một rạp xiếc đã ám ảnh hồn thơ Huy Cận từ khi “đứa bé” mới tám tuổi cho tới tận lúc gần cuối cuộc đời là như thế nào! Bài thơ thật khái quát, thật sâu sắc về nhân thế, về cuộc đời và thân phận khác nhau của mỗi con người trước vũ trụ - không chỉ trong biên giới một quốc gia riêng biệt nào...

Về phương diện cá nhân mình, tôi rất lấy làm hạnh phúc là đã được chính tay Huy Cận chép tặng cho bài thơ rút gan rút ruột ấy của ông; và nhân dịp đó, ông đã tâm tình, tâm sự với tôi biết bao nhiêu điều sâu lắng, xa xôi đến vô cùng!

Giờ đây, thể xác ông không còn nữa. Ông đã mang theo mình những tri thức và kiến thức vô tận về văn minh, văn hoá của dân tộc và nhân loại mà ra đi vĩnh viễn; để lại trong lòng những người yêu quí ông một khoảng trống vắng, hẫng hụt không dễ gì bù đắp một sớm một chiều. Tuy nhiên, là một thi sĩ thiên tài là một nhà văn hoá lỗi lạc ở tầm vĩ nhân vĩnh cửu của dân tộc Việt Nam, Huy Cận xứng đáng “là một ngôi sao băng/ Đã cọ xát muôn nghìn thế giớì/ Cho thiên hạ mọi phần sáng chói/... giữ lại cho mình tàn lụi tro đêm”.

Cái chết của những vĩ nhân như Huy Cận, cũng chính là điểm bắt đầu của một sự tái sinh vĩnh cửu - bất di bất dịch trong sự trường tổn của cả một dân tộc. Hi vọng rằng, các con cháu của nhà thơ - mà người con trưởng là anh Cù Huy Hà Vũ cũng đồng thời là trưởng tộc dòng họ Cù Huy ở Hà Tĩnh, sẽ tiếp quản và kế thừa xứng đáng những giá trị văn hoá cao quí mà nhà thơ Huy Cận đã để lại. Tôi tin rằng, Hà Vũ là một tiến sĩ văn chương đích thực, đồng thời là một tiến sĩ luật học xuất sắc, tốt nghiệp tại thủ đô Pa-ri - anh sẽ xứng đáng là người quản lí toàn bộ gia tài văn hoá và tinh thần mà thân phụ của anh đã để lại - không chỉ riêng cho dòng họ Cù Huy, mà còn chung cho mọi người dân đất Việt của chúng ta, thuộc mọi thế hệ hôm nay và mai sau.

Hà Nội, tháng 3-2005

H.C

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
--------------------------------------
--Huy Cận-Lửa Thiêng-Vừa Tắt--

-Nguyễn Mạnh Trinh-

--Năm 1942, Hoài Thanh đã viết trong “Thi Nhân Việt Nam” về một khuôn mặt thi sĩ mà ông tâm đắc :” Huy Cận đi lượm lặt những chút buồn rơi rớt để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não. Người đời sẽ ngạc nhiên vì không ngờ với một ít cát bụi tầm thường thi nhân lại có thể đúc kết thành bao nhiêu châu ngọc. Ai có ngờ những bước chân đã tan trên đường kia còn ghi lại trong văn thơ những dấu tích hẳn không bao giờ tan được …”

Huy Cận, người thi sĩ mà Xuân Diệu đã mô tả trong bài tựa tập thơ “ Lửa Thiêng”. Chàng than nỗi tháng ngày vùn vụt, bảo rằng hoa xuân không đậu, đời thoáng mùi ôi, trong khi mình chưa sống hết tuổi xuân, đang còn giữa độ măng trẻ của đời người! Cái tiếc sớm, cái thương ngừa ấy, chẳng qua là sự trá hình của lòng ham đời, là cái tật dĩ nhiên của kẻ yêu sự sống…”.

Tập thơ “Lửa Thiêng" của Huy Cận xuất bản năm 1940, đến hơn nửa thế kỷ sau , vẫn được coi là một viên ngọc quí của thi ca Việt Nam. Nhất là trong thời kỳ Thơ Mới làm chủ văn đàn, tập thơ đã đóng một cột mốc hiển hịên trong văn học sử.

Năm 1989, nghĩa là nửa thế kỷ sau, Nguyễn Hưng Quốc trong tập tiểu luận “ Nghĩ về Thơ” đã viết về tác giả Lửa Thiêng. “...Nhà thơ sử dụng thể lục bát thành công nhất trong thế kỷ này là Huy Cận với tập Lửa Thiêng xuất bản năm 1940. Huy Cận cách tân thể lục bát ở ba điểm; thứ nhất, biến thể lục bát từ một thể kể chuyện thành một thể thơ trữ tình thuần túy; thứ hai, đem đến cho lục bát cái nét hàm súc, cô đọng, chặt chẽ của các thể thơ Đường luật và thứ ba , sử dụng một số các yếu tố tượng trưng trong thơ lục bát…”.

Và , bài thơ“ Chiều xưa” được đem dẫn chứng như một khuôn mẫu thi ca đặc sắc. Tâp “Lửa Thiêng “chỉ có8 bài lục bát, nhưng bài nàocũng hay và được truyền tụng đến bây giờ như : Chiều xưa, Buồn đêm mưa,Ngậm ngùi , Thu Rừng, Cảm thông…Thí dụ , bài “Thu Rừng”:

Bỗng dưng buồn bã không gian
Mây bay lũng thấp giăng màn âm u
Nai cao gót lẫn trong mù
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về
Sắc trời trôi nhạt dưới khe
Chim đi lá rụng cành nghe lạnh lùng
Sầu thu lên vút , song song
Với cây hiu quạnh, với lòng quạnh hiu
Non xanh ngây cả buồn chiều
Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia.

--Đọc lại bài thơ, tự nhiên trong tôi cảm thấy một nỗi niềm mơ hồ nào lan tỏa vào trong không gian thời gian mà tôi lạc bước vào. Có thể là một buổi chiều với cả nỗi quạnh hiu đè nặng. Không gian ấy, như nhòa nhạt trong cái có và cái không. Lúc thì, tầm nhìn bị thu nhỏ lại để vút cao lên theo hàng cây những nỗi trơ trọi bềnh bồng. Nhưng cũng có lúc , không gian ấy tỏa rộng ra, như nỗi buồn trải dài ra theo rừng , theo núi. Một bức tranh mà tất cả chi tiết , đường nét đều mờ ảo. Gót nai lẫn trong mù. Bầu trời thấp sát dưới khe . Và trong tâm cảm vút lên nỗi sầu bàng bạc. Cỏ cây, thú vật , cảnh tượng, thời tiết và con người như cùng hòa hợp với nhau một nỗi cảm xúc lạ lùng. Thấm thía niềmcô đơn của con người trước cái cao rộng của vô biên. Nhìn đời sống ở dưới chân, trong mù sương củacảm thức. Đó là suy tưởng chủ quan của tôi diễn dịch từ câu thơ. Tôi biết thơlà“bất khả tư nghị”. Thành ra, dù viết thành thực những cảm xúc của mình để gán cho thơ cũng là công việc liều lĩnh. Có ai, đo được dung lượng của mây trời mà đòi chú thích, giải nghĩa thơ.Nhưng, cứ bộc bạch rabiết đâu sẽ có người cùng chung ý nghĩ? Phải, biết đâu..?!

Suốt hơn nửa thế kỷ làm thơ, Huy Cận đã in tập”Lửa Thiêng “, “Vũ Trụ Ca”, và “ Kinh Cầu Tự” trước năm 1945 . Sau này ông in tới gần 20 tập thơ gồm những tập như “ Phù Đổng Thiên Vương” ,” Trời Mỗi Ngày Lại Sáng “, “ Đất Nở Hoa”, “ Bài Thơ Cuộc Đời”, “ Hai Bàn Tay Em”, “Những Năm Sáu Mươi”,” Chiến Trường Gần Đến Chiến Trường Xa”, “ Ngày Hằng Sống Ngày Hằng Thơ”, "Ngôi Nhà Giữa Nắng”, “Hạt Lại Gieo”, “ Tuyển Tập”... Cũng có vài bài được nhắc nhở tới và được chọn cho chương trình giáo dục sinh viên học sinh môn Văn như “Các Vị La Hán Chùa Tây Phương” hoặc “ Đoàn Tàu Đánh Cá”…

Phần đông phong độ có sa sút so với thời Tiền Chiến. Huy Cận còn là một ông “Quan “ Văn Nghệ có chức hàm tương đương Bộ trưởng và là một người “ lãnh đạo “Cơ Quan Trung Ương Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật, một loại cây cảnh để trình diễn của chế độ. Nhà thơ Xuân Sách Trong". Chân Dung Nhà Văn “đã phác họa nhà thơ áo gấm bài ngà của nền văn chương vô sản được gọi là “ hiện thực xã hội chủ nghĩa" như sau:

“Các vị La Hán chùa Tây Phương
Các vị già quá tôi thì béo
Năm xưa tôi hát Vũ trụ ca
Bây giờ tôi hát đất nở hoa
Tôi hát chiến tranh như chẩy hội.
Đừng nên xấu hổ khi nói dối
Trời mỗi ngày lại sáng có sao đâu”

Có lẽ, Xuân Sách ít có cảm tình với ông quan to thi sĩ. Mang nhanđề các tập thơ của Huy Cận như “Vũ Trụ Ca", "Đất Nở Hoa”, "Trời Mỗi Ngày Lại Sáng" , hay bài thơ nổi danh “Các Vị La Hán Chùa Tây Phương” để mỉa mai . Làm thơ để đánh bóng chế độ, lừa dối mọi người, dù trong chiến tranh thúc giục người hy sinh để mình hưởng thụ. Đó là chân dung Huy Cận mà Xuân Sách phác họa.

Huy Cận luôn luôn trân trọng thời kỳ làm thơ thời tiền chiến của mình. Phong trào thơ mới đã làm cho thi ca Việt Nam thuở ấy khởi sắc với nhiều thi nhân tiêu biểu.Dù có lúc, ông đã phải nén lòng mà tự phê phán để còn tồn tại được trong chế độ. Bây giờ, cuối đời nhìn lại ông mới thật thà với tâm tư mình. Trong bài phỏng vấn của hai nhà thơ Trần Anh Thái và TrânĐăng Khoa, ông đã nêu lên nhiều chi tiết thú vị. Cuộc trò chuyện như sau:

“Nhà thơ Trần Anh Thái: Thưa nhà thơ Huy Cận , ở nước ta có một thời kỳ người ta ghẻ lạnh với “ cái Tôi”. Cho tới nay vẫn có người cho rằng “cái Tôi” trong thơ Mới là “cái Tôi” chủ yếu chịu ảnh hưởng của thơ Pháp. Theo ông đâu là nguồn mạch dân tộc đâu là sự ảnh hưởng..?!

Nhà thơ Huy Cận: Người ta đã bàn khá nhiều về nguồn gốc giá trị của Thơ mới. Đó là cuộc cách mạng lớn của thơ ca Việt Namở thế kỳ 20. Sự ảnh hưởng của nó sẽ còn phát sáng sang đầu thế kỷ 21. Về nguồn gốc thơ mới ai đó cho rằng nó chủ yếu chịu ảnh hưởng của thơ Pháp là sai là xuyên tạc . Thơ mới trước hết nhận ảnh hưởng trực tiếp thơ ca dân tộc, thấm đẫm văn hóa Việt Nam, sau đó là văn hóa cổ Á Đông , Trung Quốc,Ấn Độ và sau nữa mới đến ảnh hưởng thơ Pháp, Anh , Đức với những tác giả như Shakespeare, Gớt, Ranh-bo, Vec-len, Bô-Đò-le… “

Chủ trương đường lối văn hóa của Đảng là phê phán hiện tượng cái “tôi” bạc nhược trụy lạc cá nhân chủ nghĩa của văn chương thời tiền chiến nên nhiều người đã phải từ bỏ đến rứt ruột những cống hiến thời trước . Như Hoài Thanh là một thí dụ. Còn Huy Cận , tới bây giờ ông vẫn không quên về “Lửa Thiêng”, về một thời thi ca rực rỡ của mình :

“Nhà thơ Trần Anh Thái : Trở lại với tập thơ Lửa Thiêng. Trên bìa sách tập thơ này có vẽ hình ngọn lửa và người đàn bà khỏa thân, điều này có ý nghĩ gì..?!

Nhà thơ Huy Cận: Hồi ấy tôi nhờ Tô Ngọc Vân vẽ bìa. Lúc đầu Tô Ngọc vân vẽ người phụ nữ nằm mặc váy dài. Tôi nói. Tên tập thơ là Lửa Thiêng- ngang; Xuân Diệu viết lời tưa- ngang, bây giờ đến người đàn bà nằm thì có tới ba ngang. Tôi nghĩ đã có mấy cái ngang thì phải có một cái đứng. Hơn nữa người đàn bà tượng trưng cho sự sáng tạo phải là người đàn bà đứng. Vả lại tôi thích chiêm ngưỡng người phụ nữ ở tư thế đứng, nó đẹp lung linh hơn!

NT Trần Đăng Khoa: bài thơ “Buồn Đêm Mưa” của nhà thơ sao không bỏ chữ "buồn” vì nỗi buồn tự nó nói ra, thêm “buồn" vào làm gì..?!

NT Huy Cận: Tôi viết bài thơ ấy năm 1938 ở đê Yên Phụ. Lúc ấy tâm trạng rất buồn “Tai nương nước giọt mái nhà; Nghe trời nằng năng nghe ta buồn buồn; Nghe đi rời rạc trong hồn; Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi.”

NT Trần Anh Thái: Còn bài thơ “Với bàn tay ấy"đang báo Phong Hóa vào mùa hè 1935 Xuân Diệu có tặng đề Ranh-bo Véc-len. Huy Cận và Xuân Diệu là hai người bạn thân, lời đề tăng ấy có ý nghĩa gì..?!

NT Huy Cận: vào tháng 9-1936 toi mới gặp Xuân Diệu ở trường Quốc Học Huế, khi ấy mới biết nhau. Vì tôi thích bài thơ ấy nên Xuân Diệu tặng tôi chứ không dính dáng gì đến tình bạn chúng tôi…

Ngày 19 tháng 2 năm nay, 2005, nhà thơ Huy Cận từ trần. Tất cả đều xóa bỏ đi vào quá khứ , nhưng những bài thơ vẫn còn tồn tại lại trong tâm khảm những người yêu thơ. Thi sĩ cũng lờ mờ điều ấy từ lâu, vì khi viết bài thơ “Mai Sau” đã ngỏ tâm sự trung thực của mình:

“Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm
Gió trăng ơi! Nay còn nhớ người chăng..?!
Hơn một lần chàng đã gửi cho trăng
Nỗi hiu quạnh của hồn buồn không cớ
Thuở chàng sống thì lòng chàng hay nhớ
Nỗi nhớ thương không biết đã tan chưa?
Hay lòng chàng vẫn tủi nắng sầu mưa
Cùng đất nước mà nặng buồn sông núi.
…Hỡi trăng gió đã nghe chàng kể lể
Hỡi các ngươi là hồn của người thơ
Hơi thở chàng thổi trong gió phất phơ
Đài vũ trụ quen bước người thi sĩ
Người một thuở mà chàng sầu vạn kỷ
Sống một đời chàng tưởng vọng muôn năm
Gió trăng ơi! Chắc nơi chỗ chàng nằm
Chăn chiếu mục đã nở màu vĩnh viễn
Hồn đơn chiếc như đảo dời dặm biển
Suốt một đời như núi đứng riêng tây
Lòng chàng xưa chốn nọ với nơi này
Đây hay đó chỉ dựng chòi cô độc
…Hỡi ai đó có nhớ lòng Huy Cận
Gọi gió trăng mà thỏ thẻ lời trên
Rất thương yêu xin nhớ gọi giùm tên
Rất an ủi của bạn chàng: Xuân Diệu”…

Người của “ Lửa thiêng” vừa đi khuất trần gian nhưng thơ của “ Lửa Thiêng “ vẫn còn để lại những nỗi niềm tâm sự khôn nguôi của người thi sĩ. Lửa Thiêng vừa tắt hay vẫn còn cháy mãi thiên thu, tôi muốn hỏi những người yêu thơ câu hỏi ấy..?!
------------------------------------------------------
Tuổi trẻ...! Có lẽ là tất cả bí mật trong sức hấp dẫn của từng người không phải là ở khả năng có thể làm được mọi việc, mà là ở khả năng nghĩ rằng có thể làm được mọi việc.
Đăng nhập để trả lời
0