Nhà thơ Huy Cận
Hoàng Cát
Người xưa nói: “Cái quan định luận” - nghĩa là, chỉ khi đã trùm áo quan lại rồi, mới nhận định và kết luận được thật chính xác về một con người nào đó. Đành rằng, đối với nhà thơ Huy Cận, (tức Cù Huy Cận) tuy không hoàn toàn phải như thế, nghĩa là không cần phải đợi tới lúc ông tạ thế rồi, người ta mới thấy được phẩm cấp thiên tài đặc biệt về thi ca của ông nói riêng, và toàn bộ sự nghiệp văn học, văn hoá và quan chức của ông nói chung. Tuy nhiên, xét ở cấp độ thật triệt để, thì quả thật, chỉ khi Huy Cận đã nhắm mắt xuôi tay, chúng ta mới thấy hết được tầm cỡ vĩ đại và siêu hạng ở con người này - trên cả hai phương diện: thi nhân, và quan chức.
Sao chúng ta lại không nói đến những phẩm chất tốt đẹp của một người đã suốt đời làm quan - hơn nữa, lại là một vị quan luôn luôn ở ngạch bậc cao cấp trong Chính phủ - như Huy Cận nhỉ? Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, khi mà thói cơ hội, thói xu nịnh, thói hãnh tiến và sự tha hoá về phẩm chất quan chức như tệ quan liêu, trí trá, lười biếng, hống hách, sách nhiễu, tham nhũng, vv...), thì biểu dương những phẩm chất tốt đẹp trong suốt cả cuộc đời làm quan của nhà thơ Huy Cận là một việc rất nên làm; không chỉ để tri ân và tôn vinh một con người đã trọn đời tận trung với nước và hiến dâng hết mình cho dân tộc trên mọi phương diện công tác, mà còn để nêu một tấm gương sáng, những phẩm chất quí báu của một ông quan, cho các thế hệ quan chức đương đại và sau này noi theo.
Có lẽ đến lúc này thì gần như ai cũng biết rằng, khi chỉ mới hai mươi sáu tuổi, Huy Cận đã là một vị Bộ trưởng Bộ Canh nông trong Chính phủ lâm thời đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - với cái tên đầy đủ cả họ là: Cù Huy Cận. Kể từ đó, cái tên đầy đủ này sẽ là cái tên chính thức của một vị quan chính thức và cấp cao trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, rồi sau này là Chính phủ Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam - lúc thì Bộ trưởng, lúc Thứ trưởng, và còn nhiều chức danh cao cấp, quan trọng và sang trọng khác nữa, ở trong nước và cả trên trường quốc tế... Tuy thế, trên mọi cương vị công tác, và trong sinh hoạt thường nhật tại mọi nơi, mọi lúc, chưa bao giờ Huy Cận tỏ ra ta đây là người có tài năng đặc biệt hay quan trọng hơn người cả? Trái lại, bao giờ và ở đâu, ông cũng là một con người hết sức bình dị, thân tình, ân cần và ấm áp tình người, tình đời với tất thảy mọi người cùng sống và làm việc xung quanh ông. Huy Cận là người hầu như không bao giờ tự đề cao và tự “khuếch tán” mình tại các diễn đàn như không ít thi nhân, văn nghệ sĩ và một số quan chức khác thường làm. Cái sự bình dị, thân tình và ấm áp nơi Huy Cận là thứ bình dị thuộc bản tính, bản chất từ trong máu thịt của ông toát ra - chứ không phải là thứ bình dị hình thức như một số vị quan liêu vẫn thường tỏ vẻ. Thời nay, nhiều kẻ chỉ mới mon men đến cái chức phó tổng biên tập một tờ báo lá cải thôi, hay chánh phó văn phòng một cái uỷ ban vớ vẩn nào đó chẳng hạn, thì đã vênh váo tự cho ta đây là to tát, là “vĩ nhân”, là “lãnh đạo” rồi; và nào là đổi mốt xe con, đổi mốt nhà ở, đổi mốt xa-lông phòng khách, đổi mốt máy lạnh, đổi mốt điện thoại di động, vv và vv... Nhưng đối với ông Huy Cận nhà thơ và Cù Huy Cận quan chức thì, suốt từ lúc làm Thứ trưởng Bộ Văn hoá từ năm 1955 cho mãi đến sau này, năm 1984, khi đã giữ chức Bộ trưởng đặc trách công tác văn hoá - thông tin tại Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng (tức Hội đồng Chính phủ) - lúc nào ông cũng chỉ đi làm trên một chiếc xe ô tô tầm tầm, cũ rích theo phẩm hàm và tiêu chuẩn Thứ trưởng mà Nhà nước đã qui định? Tôi dám bảo đảm với mọi người rằng, chưa bao giờ, chưa lúc nào Huy Cận băn khoăn, áy náy hay mảy may bận tâm một chút xíu nào về cái chuyện “tiêu chuẩn” xe con của mình cả?... Sinh thời, đã có lần ông từng cười hề hề mà nói với tôi: “Quan trọng là ai ngồi trong cái xe ấy - chú, hay tôi, hay là một người nào khác? Chứ quan trọng gì việc mình ngồi trong chiếc xe nào. Xe nào mà tốt, không hay hỏng hóc dọc đường công tác là được rồi”.
Ngày làm lễ đưa tang nhà thơ Huy Cận tại Hà Nội, tình cờ tôi gặp một người đàn ông tuổi đã ngoài bảy mươi, chân chất như một người nông dân vừa ở làng quê ra, ngồi tách riêng, lặng lẽ một mình nơi góc phòng đăng kí vào viếng nhà thơ. Đó là ông Phạm Văn Đáp, quê gốc Hải Dương, là người cần vụ cho Huy Cận từ 1954 đến 1958 tại số nhà 24 Cột Cờ, (nay là 24 Điện Biên Phủ), Hà Nội. Ông Đáp bùi ngùi nói với tôi: “Tôi thương ông ấy lắm chú ạ? Cả cuộc đời đi làm công việc bảo vệ và phục vụ các thủ trưởng của tôi, trước kia cũng vậy, mà sau này cũng thế, chưa bao giờ tôi gặp được một ông quan nào mà lại hiền lành, tử tế và tốt bụng đến như ông Cù Huy Cận này cả. Chưa bao giờ ông ấy tỏ ra quan cách mà nói nặng hay cáu gắt với anh em phục vụ chúng tôi lấy một lần. Lúc nào ông ấy cũng điềm đạm, thong thả trong mọi lời nói cũng như công việc hàng ngày. Đi làm thì thật sớm, mà về thì thật muộn. Đến bữa, có sao ăn vậy; không khi nào phàn nàn hay đòi hỏi một cái gì sất. Không uống rượu, uống bia; không nghiện cà phê, không hút thuốc lá bao giờ cả”...
Cái gì đã làm nên những phẩm cách đẹp đẽ ấy trong con người nhà thơ và con người quan chức Huy Cận? Theo tôi ngẫm nghĩ, thì đó là trời đã sinh ra tính tình của ông đôn hậu như vậy ngay từ thuở lọt lòng! Và, cái thiên tính ấy của Huy Cận được phát tích và hình thành từ trong một gia đình nông dân nghèo nhưng có truyền thống Nho học ở miền sơn cước heo hút thuộc làng Ân Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Thân phụ của ông là một nhà nho đã đậu Tam trường, từng làm hương sư ở Thanh Hoá, rồi về dạy học chữ Hán tại quê nhà và làm ruộng như mọi người nông dân bình thường khác trong làng.
Tôi còn nhớ, năm 1961 thân mẫu của nhà thơ Huy Cận sống với gia đình ông ở 24 Cột Cờ, Hà Nội; bà cụ đã nhiều lần kể với tôi rằng, lúc nhỏ Huy Cận hơi nhút nhát, rất sợ phải đi học một mình, nhất là những hôm trời mưa to gió lớn. Nhiều bữa, gia đình phải cho người cáng võng Huy Cận đến trường học; tan trường lại cho người đến cáng về? Tuy nhiên, Huy Cận chỉ chịu nằm trên cáng lúc vừa mới ra khỏi nhà hoặc sắp về đến cổng làng - vì sợ không nằm cáng thì bị cha mẹ mắng; còn khi đã khuất khỏi cổng làng là Huy Cận nhảy xuống chạy bộ, để không phải làm khổ những người nông dân đi cáng mình...
Và ngày xưa, thuở Huy Cận còn là một cậu bé học trò trường làng ở vùng quê nghèo và buồn của miền núi Hà Tĩnh, trong một gia đình đông người, hàng ngày Huy Cận được giao một nhiệm vụ “đặc biệt” - đấy là việc khoá cổng ngõ trước khi đi ngủ hằng đêm, để phòng kẻ trộm; vì hồi đó trộm cắp ở các miền quê sơn cước là như rươi! Do vậy, thói quen cẩn thận, kĩ càng, chắc chắn trong công việc khoá cổng cụ thể và mọi công việc hằng ngày khác của Huy Cận đã trở thành một bản chất cố hữu trong ông đến suốt đời. Mỗi lần khoá xong cổng, bao giờ Huy Cận cũng phải giật giật cái ổ khoá đến mấy lần thật mạnh, để kiểm tra coi thử nó đã thật chắc chắn hay chưa. Chính những điều ngỡ như vụn vặt ấy trong cuộc sống thường nhật đã tạo nên phẩm chất và tính cách trong mỗi con người chúng ta. Trường hợp ở nhà thơ Huy Cận, thì nó đã tạo cho ông những đức tính thật là cẩn thận, chu toàn và đầy đặn với mọi con người mà ông hằng chung sống, chung công việc, chung vui buồn trong suốt cả cuộc đời.
Tuy nhiên, dù đức độ của một ông quan có lớn lao đến bao nhiêu đi nữa, nhưng nếu ông quan ấy không có tài năng đích thực, không đóng góp cho xã hội những giá trị to lớn đích thực, thì hẳn rằng cuộc đời này cũng không mấy mặn mà và nhớ tiếc ông dài lâu được. Nhưng riêng với nhà thơ Huy Cận thì được trọn vẹn cả đôi đường, gần như toàn bích tuyệt đối: Tài cao, đức trọng? - Nói cho thật súc tích, đích xác và gãy gọn thì: Trời sinh ra Huy Cận là một ông đại thi sĩ làm quan to cũng giống như các bậc tiền bối: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến... Thời nào cũng thế, và ở nước nào cũng vậy - một tài năng thơ lớn, xuất chúng, thì bao giờ cũng là một nhân cách lớn, vượt được thời gian trên mọi phương diện. Huy Cận đương nhiên nằm chung trong qui luật ấy của xã hội loài người. Bài thơ Gánh xiếc, in ở trong tập Lửa thiêng năm 1940 đã phần nào phản ánh rất đúng và chính xác cái tố chất Huy Cận trời sinh ấy: “Có chàng ngơ ngác tựa gà trống/ E đến trăm năm còn trẻ thơ/Tám tuổi một chiều trong rạp xiếc/ Yêu nàng cưỡi ngựa uốn thân tơ/ Điệu kèn rộn rịp nâng chân ngựa/ Nhịp với lòng trai mở cánh yêu,/Nhạc buồn thu - chở hồn đường sá;/ Lẫn với hùm, voi: gái lệ kiều/ Gái lệ kiều đi với ngựa, voi;/ Về nhà, đứa trẻ vẫn đùa chơi/ Nhưng lòng trẻ đã theo đoàn xiếc/ Xếp với màn to của rạp đời/ Gánh xiếc đi qua chỉ một lần/ Bây giờ có lẽ đã chia tan.../ Và nàng cưỡi ngựa đâu rồi nhỉ?/ Ngơ ngác chàng trai tự hỏi thầm”... Tôi cố ý trích trọn bài Gánh xiếc không phải vì bài thơ này hay nhất trong đời thơ hàng ngàn bài của Huy Cận, suốt bảy chục năm ông đã lao động sáng tạo miệt mài. Mà chỉ vì một lẽ đơn giản rằng, nó - bài thơ Rạp xiếc - giải thích được minh xác cho chúng ta ngọn nguồn cái chất Huy Cận thương đời, đau đời, gắn chặt như bắt vít vào cuộc đời, đã bao trùm lên toàn bộ sự nghiệp văn chương và quan chức của ông nói chung. Nó cũng giống như cái chất hồn vía trời sinh của Xuân Diệu qua bài thơ Tuổi nhỏ: “Giơ tay muốn ôm cả trái đất/ Ghì trước trái tim, ghì trước ngực/ Cho đầy trước mặt khoảng cô đơn/ Bao la muôn trời, sâu vạn vực/ Làm sao sống được mà không yêu/ Không nhớ, không thương một kẻ nào?/Hãy đốt đời ta muôn thứ lửa/ Cho bừng tia mắt đọ tia sao!”. Đó chính là những bản năng trực giác lớn lao, đẹp đẽ mãnh liệt và chân xác nhất của các bậc đại thi nhân kiệt xuất đã tự khám phá và bộc lộ về mình.
Trở lại trường hợp cụ thể của hồn vía thơ Huy Cận, ta thấy rằng, ngay từ độ tuổi nhi đồng - mà chính xác là tám tuổi - Huy Cận đã bộc lộ là một con người đa mang, đa cảm, đa tình trước cuộc đời hỗn độn, bể dâu như một rạp xiếc: “Nhạc buồn thu - chở hồn đường sá/ Lẫn với hùm, voi: gái lệ kiều”. Và từ đó cho dù “đứa bé” Huy Cận về nhà vẫn đùa chơi như muôn ngàn đứa bé bình thường khác, nhưng trong thẳm sâu hồn cốt của mình thì “Lòng đã theo đoàn xiếc/ Xếp với màn to của rạp đời”. Đó là tự nhiên. Đó là tự nguyện. Và đó cũng là cái nghiệp trời gông vào mệnh của một đại thi nhân Huy Cận sừng sững sau này!... Điều ấy, nó cắt nghĩa được cho chúng ta hiểu vì sao trong thơ Huy Cận lại có nhiều những nỗi sầu đau nhân thế đến như vậy. Nó cũng cho ta thấy được cái tầm vóc tâm Phật, tính Phật tự nhiên trong con người và trong toàn bộ sự nghiệp thi ca đồ sộ của nhà thơ.
Nhưng, trong đời thường cũng như trong các tác phẩm thơ ca của mình, Huy Cận là người không chỉ có cái tâm nhân hậu và sáng láng không thôi, mà ông còn là một nhà đại trí thức, luôn luôn đầy ắp trí tuệ, tri thức và kiến thức cổ kim của dân tộc và của nhân loại. Gần suốt cả cuộc đời, ông thường xuyên, ngày nào cũng như ngày nào, đọc hầu hết các loại sách về văn hoá của Việt Nam và của các nước khác trên thế giới mà ông có được trong thư viện gia đình và thư viện ở các cơ quan ông làm việc. Đọc qua tiếng mẹ đẻ, là thứ tiếng Huy Cận vô vàn yêu thương từ những ngày còn đi học đã đành, ông còn thường xuyên đọc các sách báo, tạp chí bằng tiếng Pháp nữa. Đây là một mạch nguồn vô tận, lặng lẽ cung cấp cho Huy Cận những thông tin cập nhật trên khắp hành tinh chúng ta đang sống. Mỗi dịp đi công tác nước ngoài, Huy Cận không bao giờ mang bất cứ một thứ hàng hoá nào khác về, ngoài sách báo, tạp chí - đặc biệt là các quyển đại từ điển mới in bằng tiếng Pháp ở các nước tiền tiến. Vì thế, không thể kể hết, và càng không thể phân tích hết được những bài thơ có tầm vóc kì vĩ của Huy Cận trong một bài báo nhỏ này được. Những bài thơ dài về số câu và sâu rộng về hàm lượng thông tin như Bài thơ cuộc đời; Các vị La Hán chùa Tây Phương; Ngã ba Đồng Lộc; Những năm sáu mươi của thế kỉ hai mươi, hay những bài thơ trữ tình, có tính mẫu mực, kinh điển như Tràng Giang; Ngậm ngùi”; Nhạc sầu; Buồn đêm mưa, vv và vv... thì hẳn rằng ai cũng đã từng nghe, hoặc cũng đã ít nhiều biết đến không dưới một đôi lần. Tôi xin không nhắc lại ở đây nữa, vì có nhắc tới, có nói đến chúng cũng không bao giờ có thể thấu đáo tuyệt đối được. Tôi chỉ muốn nói đến một bài thơ rất bình thường khác của Huy Cận, mà có lẽ đối với những người không thật sự quan tâm lắm đến thơ nói chung và thơ Huy Cận nói riêng thì ít ai để ý tới. Đó là bài Mỗi cuộc đời mang thầm..., được Huy Cận viết vào tháng 3-1983. “Mỗi cuộc đời mang thầm bao nhiêu chuyện/ Chạm nổi chạm chìm trong thịt trong xương/ Bao lửa cháy rực hồn những buổi/ Bao mưa phùn những bước lầy trơn...”... Mỗi cuộc đời đi trên dây xiếc/ Chiếc ô giữ cân bằng là vòm trời xanh biếc/ Đi trên đường dây của những thuỷ triều mãnh liệt/ Một múi dây treo vào mặt trăng/ Và múi kia quấn buộc lòng mình./ Mỗi cuộc đời nói sao cho hết/ Từ bình minh mưa đến hoàng hôn ngọc biếc/ Mỗi cuộc đời là một ngôi sao băng/ Đã cọ xát muôn nghìn thế giới/ Cho thiên hạ mọi phần sáng chói/ Phải chăng giữ lại cho mình tàn lụi tro đêm... / Ta sẽ tắt theo gió/ Ta sẽ khuyết theo trăng/ Nhưng nước mặn của đời ta sẽ trở về kết tủa/ Cùng với muối ở trên nề những trưa nắng chói chang...”. Tôi chú tâm trích gần hết bài Mỗi cuộc đời mang thầm của Huy Cận, là có ý lấy nó làm đối chứng với bài Gánh xiếc mà tôi vừa trích dẫn ở phần trên. Để chúng ta thấy rằng, cái hình ảnh, hình tượng cuộc đời như một rạp xiếc đã ám ảnh hồn thơ Huy Cận từ khi “đứa bé” mới tám tuổi cho tới tận lúc gần cuối cuộc đời là như thế nào! Bài thơ thật khái quát, thật sâu sắc về nhân thế, về cuộc đời và thân phận khác nhau của mỗi con người trước vũ trụ - không chỉ trong biên giới một quốc gia riêng biệt nào...
Về phương diện cá nhân mình, tôi rất lấy làm hạnh phúc là đã được chính tay Huy Cận chép tặng cho bài thơ rút gan rút ruột ấy của ông; và nhân dịp đó, ông đã tâm tình, tâm sự với tôi biết bao nhiêu điều sâu lắng, xa xôi đến vô cùng!
Giờ đây, thể xác ông không còn nữa. Ông đã mang theo mình những tri thức và kiến thức vô tận về văn minh, văn hoá của dân tộc và nhân loại mà ra đi vĩnh viễn; để lại trong lòng những người yêu quí ông một khoảng trống vắng, hẫng hụt không dễ gì bù đắp một sớm một chiều. Tuy nhiên, là một thi sĩ thiên tài là một nhà văn hoá lỗi lạc ở tầm vĩ nhân vĩnh cửu của dân tộc Việt Nam, Huy Cận xứng đáng “là một ngôi sao băng/ Đã cọ xát muôn nghìn thế giớì/ Cho thiên hạ mọi phần sáng chói/... giữ lại cho mình tàn lụi tro đêm”.
Cái chết của những vĩ nhân như Huy Cận, cũng chính là điểm bắt đầu của một sự tái sinh vĩnh cửu - bất di bất dịch trong sự trường tổn của cả một dân tộc. Hi vọng rằng, các con cháu của nhà thơ - mà người con trưởng là anh Cù Huy Hà Vũ cũng đồng thời là trưởng tộc dòng họ Cù Huy ở Hà Tĩnh, sẽ tiếp quản và kế thừa xứng đáng những giá trị văn hoá cao quí mà nhà thơ Huy Cận đã để lại. Tôi tin rằng, Hà Vũ là một tiến sĩ văn chương đích thực, đồng thời là một tiến sĩ luật học xuất sắc, tốt nghiệp tại thủ đô Pa-ri - anh sẽ xứng đáng là người quản lí toàn bộ gia tài văn hoá và tinh thần mà thân phụ của anh đã để lại - không chỉ riêng cho dòng họ Cù Huy, mà còn chung cho mọi người dân đất Việt của chúng ta, thuộc mọi thế hệ hôm nay và mai sau.
Hà Nội, tháng 3-2005
H.C
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
★
★
★
★
★
0