Từ nhớ đến thương-Tưởng nhớ Hoàng Tố Nguyên
Vũ Quần Phương
Vũ Quần PhươngTên thật: Ngô Hoàng Mưu, sinh năm 1923 tại Sài Gòn, quê gốc: huyện Gò Công, Tiền Giang. Tham gia cách mạng từ 1945. Sau hiệp định Giơ-ne (Genève) 1954 tập kết ra Bắc. Mất tại Thái Bình tháng 6-1975.
Tên tập thơ cuối cùng của Hoàng Tố Nguyên Từ nhớ đến thương, xuất bản sau ngày ông mất, chính là tên tập thơ đầu, xuất bản ở Nam Bộ 1950. Hoàng Tố Nguyên được đông đảo bạn đọc biết đến và yêu mến từ tập Gò Me (Nxb Văn học, 1957). Gò Me là tên quê Hoàng Tố Nguyên, thôn Gò Me ở tỉnh Gò Công hồi ấy:
Quê tôi đó, mặt trông ra bể
Đốm hải đăng tắt loé đêm đêm
Con đê cát đỏ cỏ viền
Leng keng nhạc ngựa ngược lên
chợ Gò
Tập thơ 13 bài viết từ ngày ra Bắc, tràn ngập nỗi nhớ quê. Những kỷ niệm tuổi thơ, những khung cảnh tết nhất giêng hai, hội hè đình đám vừa gợi hồn dân tộc như thơ Nguyễn Bính, Anh Thơ… vừa mang nét riêng Nam Bộ. Hãy nhớ lại tình cảm chúng ta những năm tháng đất nước cắt chia hồi ấy, câu thơ Hoàng Tố Nguyên đã cộng hưởng trong bao nhiêu lòng người Nam Bắc:
Tôi bỗng dưng nhơ nhớ
thèm thuồng
Mùi bánh tét lẫn cùng mùi vải mới
Tiếng nhạc ngựa trên đê
hay tiếng những đồng xu mới
Những đồng xu mừng tuổi đầu năm
Rủng rẻng reo vui xâu ở giải quần.
Thơ gợi nỗi nhớ ở người tập kết và gợi nỗi thương trong lòng bạn đọc xứ Bắc. Giọng thơ trữ tình hoài niệm đắm đuối của Gò Me đã thành gương mặt tâm hồn Hoàng Tố Nguyên trong lòng độc giả. Sau này ông còn có nhiều tập khác, nhưng ấn tượng Gò Me vẫn là sâu đậm nhất. Thời hạn hai năm của hiệp định Ge-ne-ve cho ngày thống nhất đã không thành hiện thực, Hoàng Tố Nguyên thật sự mang một cơn sốc nội tâm. Những câu thơ nhớ quê trĩu nặng buồn đau, hồi ấy bị phê phán là bi quan, nhưng hôm nay đọc lại chúng ta cảm thông nhiều nỗi lòng chân thực sâu nặng tình quê Nam Bộ. Cũng chính nhờ Gò Me bạn đọc xứ Bắc nhập được vào phần hồn của đất đai Nam Bộ. Với lứa tuổi chúng tôi khi ý thức được đất đai thì đất đai chia cắt, những phần núi sông thân không đến được thành nỗi thẳm sâu của tâm hồn, Gò Me làm chúng tôi vô hạn thấm thía mến thương. Gò Me đánh thức tưởng tượng, nuôi dậy tình tự dân tộc, thiêng liêng kỳ ảo.
Sang tập Quê chung (1962), phẩm chất trữ tình Hoàng Tố Nguyên phát triển từ hoài niệm sang thực tại. Đây là một phấn đấu của tác giả, không chỉ ở thơ mà ở cả cách nghĩ, cách sống vào thời điểm ấy. Tác giả coi miền Bắc, cụ thể Thái Bình, nơi ông đang sống và thâm nhập thực tế, cũng là quê. Ông lấy vợ Thái Bình, tập thơ đặt tên Quê chung cũng có cái lẽ đó. Thơ Hoàng Tố Nguyên đã đạt tới sự nhuần nhuyễn trong những cảm xúc trước thực tại xây dựng nông thôn mới miền Bắc. Ông nâng niu những chi tiết hạnh phúc của đời, có khi là những chi tiết rất nhỏ, như một lớp bình dân trong xã bàn kê cánh cửa nhưng đã giúp cho những người nông dân trước đây tính toán trên đốt ngón tay nay đã dùng được những dòng con số:
Trường ta mở dưới mái đình dọi rạ
Bàn kê cánh cửa nhộn khoá bình dân
Chữ lẻ loi góp lại nên vần
Cho những đốt tay thành dòng con số
Có được cảm hứng mới bao giờ cũng là niềm mong ước của mọi nhà thơ, Hoàng Tố Nguyên, trong những bài thơ về hợp tác xã nông nghiệp Vũ La, quả đã có nguồn cảm hứng mới, tạo phẩm chất trữ tình mới:
Tôi về Vũ La cạn bát chè xanh
Lót mảnh mo cau ngồi giữa
sân đình
Câu thơ cho thấy một tư thế mới của nhà thơ, nội tâm hoà quyện với hiện thực:
Tôi viết đến đây… Ngoài kia
nắng gắt
Nhịp vồ ai êm ả nện sân khô
Tiếng vồ đập đất âm vang ấy là từ nội tâm hay ngoại cảnh? Vũ La đã trở thành một vùng quê cảm hứng gần như Gò Me trước đây. Câu thơ đã có cái đầm ấm thân tình như viết về quê hương tuổi nhỏ:
Lất phất mưa thưa chườm mái rạ
Khói lùa vách bếp toả quanh ao.
Ông thật thà tâm sự, chúng ta cảm mến và xót thương sự phấn đấu nơi ông:
Kẻ có gia đình được ngày chủ nhật
Lòng được thêm lý lẽ để yêu đời
Tôi cũng thế, muốn đủ đầy
hạnh phúc
Lại tìm em đồng ruộng Vũ La ơi!
Năm 1955, xa Gò Me, sống ở miền Bắc, ông thấy mình như kẻ tội đày giữa sa mạc hoang sơ. Mười năm sau, 1965, "sa mạc" ấy đã thành quê:
Mười năm nhớ sớm thương chiều
Hai quê bom Mỹ dội thiêu ruộng vườn
Vẻ đẹp của đồng bằng Bắc Bộ làm tươi xanh trở lại bút pháp thơ Hoàng Tố Nguyên:
Nắng ửng chòm tre gió thoảng đưa
Búp non thắp sáng lá cành thưa
Chim mang tiếng hót ra
hong nắng
Tơ nhện vương sương trắng cỏ bờ
Gửi chiến trường chống Mỹ (1966) là thơ đánh giặc của Hoàng Tố Nguyên. Sức gợi cảm ở tập này không bằng hai tập trước, trữ tình đã thay bằng tự sự. Bài thơ thường dài và bằng phẳng. Có cảm giác Hoàng Tố Nguyên đang muốn tìm cách mở rộng dung lượng thơ, muốn biến những chuyện chiến đấu, những gương anh hùng thành một chất trữ tình mới. Mọi việc đang còn ở bước thể nghiệm.
Hai mươi năm xa quê, vật vã trong nỗi nhớ, đến mức bị kiểm điểm, bị kỷ luật vì buồn thương. Ông đã tự nén lòng, hoà mình vào nhịp sống chung. Hoàng Tố Nguyên, chiếc nạng chống bên thân khi Hà Nội khi Thái Bình, sống giữa đùm bọc của bạn bè thơ, của bà con Miền Bắc. Nhưng gương mặt ông luôn phảng phất buồn. Ông đã phấn đấu để vui, nhưng đến ngày vui thật, đến ngày ông có thể trở lại Gò Me thương nhớ thì ông lại đột ngột ra đi, 30-6-1975, mới hai tháng sau ngày thống nhất, ông chưa kịp thu xếp để về, để một lần được oà khóc với quê hương. Hoài bão một chặng sáng tác hào hứng vừa mới được bắt đầu đã tắt lịm. Tập thơ tuyển, lưu vội những chặng thơ của đời ông, được bè bạn dùng lại tên xưa nhưng mang nghĩa mới Từ nhớ đến thương là thế.
(Phụ bản Thơ - Báo Văn nghệ)
Vũ Quần Phương
Vũ Quần PhươngTên thật: Ngô Hoàng Mưu, sinh năm 1923 tại Sài Gòn, quê gốc: huyện Gò Công, Tiền Giang. Tham gia cách mạng từ 1945. Sau hiệp định Giơ-ne (Genève) 1954 tập kết ra Bắc. Mất tại Thái Bình tháng 6-1975.
Tên tập thơ cuối cùng của Hoàng Tố Nguyên Từ nhớ đến thương, xuất bản sau ngày ông mất, chính là tên tập thơ đầu, xuất bản ở Nam Bộ 1950. Hoàng Tố Nguyên được đông đảo bạn đọc biết đến và yêu mến từ tập Gò Me (Nxb Văn học, 1957). Gò Me là tên quê Hoàng Tố Nguyên, thôn Gò Me ở tỉnh Gò Công hồi ấy:
Quê tôi đó, mặt trông ra bể
Đốm hải đăng tắt loé đêm đêm
Con đê cát đỏ cỏ viền
Leng keng nhạc ngựa ngược lên
chợ Gò
Tập thơ 13 bài viết từ ngày ra Bắc, tràn ngập nỗi nhớ quê. Những kỷ niệm tuổi thơ, những khung cảnh tết nhất giêng hai, hội hè đình đám vừa gợi hồn dân tộc như thơ Nguyễn Bính, Anh Thơ… vừa mang nét riêng Nam Bộ. Hãy nhớ lại tình cảm chúng ta những năm tháng đất nước cắt chia hồi ấy, câu thơ Hoàng Tố Nguyên đã cộng hưởng trong bao nhiêu lòng người Nam Bắc:
Tôi bỗng dưng nhơ nhớ
thèm thuồng
Mùi bánh tét lẫn cùng mùi vải mới
Tiếng nhạc ngựa trên đê
hay tiếng những đồng xu mới
Những đồng xu mừng tuổi đầu năm
Rủng rẻng reo vui xâu ở giải quần.
Thơ gợi nỗi nhớ ở người tập kết và gợi nỗi thương trong lòng bạn đọc xứ Bắc. Giọng thơ trữ tình hoài niệm đắm đuối của Gò Me đã thành gương mặt tâm hồn Hoàng Tố Nguyên trong lòng độc giả. Sau này ông còn có nhiều tập khác, nhưng ấn tượng Gò Me vẫn là sâu đậm nhất. Thời hạn hai năm của hiệp định Ge-ne-ve cho ngày thống nhất đã không thành hiện thực, Hoàng Tố Nguyên thật sự mang một cơn sốc nội tâm. Những câu thơ nhớ quê trĩu nặng buồn đau, hồi ấy bị phê phán là bi quan, nhưng hôm nay đọc lại chúng ta cảm thông nhiều nỗi lòng chân thực sâu nặng tình quê Nam Bộ. Cũng chính nhờ Gò Me bạn đọc xứ Bắc nhập được vào phần hồn của đất đai Nam Bộ. Với lứa tuổi chúng tôi khi ý thức được đất đai thì đất đai chia cắt, những phần núi sông thân không đến được thành nỗi thẳm sâu của tâm hồn, Gò Me làm chúng tôi vô hạn thấm thía mến thương. Gò Me đánh thức tưởng tượng, nuôi dậy tình tự dân tộc, thiêng liêng kỳ ảo.
Sang tập Quê chung (1962), phẩm chất trữ tình Hoàng Tố Nguyên phát triển từ hoài niệm sang thực tại. Đây là một phấn đấu của tác giả, không chỉ ở thơ mà ở cả cách nghĩ, cách sống vào thời điểm ấy. Tác giả coi miền Bắc, cụ thể Thái Bình, nơi ông đang sống và thâm nhập thực tế, cũng là quê. Ông lấy vợ Thái Bình, tập thơ đặt tên Quê chung cũng có cái lẽ đó. Thơ Hoàng Tố Nguyên đã đạt tới sự nhuần nhuyễn trong những cảm xúc trước thực tại xây dựng nông thôn mới miền Bắc. Ông nâng niu những chi tiết hạnh phúc của đời, có khi là những chi tiết rất nhỏ, như một lớp bình dân trong xã bàn kê cánh cửa nhưng đã giúp cho những người nông dân trước đây tính toán trên đốt ngón tay nay đã dùng được những dòng con số:
Trường ta mở dưới mái đình dọi rạ
Bàn kê cánh cửa nhộn khoá bình dân
Chữ lẻ loi góp lại nên vần
Cho những đốt tay thành dòng con số
Có được cảm hứng mới bao giờ cũng là niềm mong ước của mọi nhà thơ, Hoàng Tố Nguyên, trong những bài thơ về hợp tác xã nông nghiệp Vũ La, quả đã có nguồn cảm hứng mới, tạo phẩm chất trữ tình mới:
Tôi về Vũ La cạn bát chè xanh
Lót mảnh mo cau ngồi giữa
sân đình
Câu thơ cho thấy một tư thế mới của nhà thơ, nội tâm hoà quyện với hiện thực:
Tôi viết đến đây… Ngoài kia
nắng gắt
Nhịp vồ ai êm ả nện sân khô
Tiếng vồ đập đất âm vang ấy là từ nội tâm hay ngoại cảnh? Vũ La đã trở thành một vùng quê cảm hứng gần như Gò Me trước đây. Câu thơ đã có cái đầm ấm thân tình như viết về quê hương tuổi nhỏ:
Lất phất mưa thưa chườm mái rạ
Khói lùa vách bếp toả quanh ao.
Ông thật thà tâm sự, chúng ta cảm mến và xót thương sự phấn đấu nơi ông:
Kẻ có gia đình được ngày chủ nhật
Lòng được thêm lý lẽ để yêu đời
Tôi cũng thế, muốn đủ đầy
hạnh phúc
Lại tìm em đồng ruộng Vũ La ơi!
Năm 1955, xa Gò Me, sống ở miền Bắc, ông thấy mình như kẻ tội đày giữa sa mạc hoang sơ. Mười năm sau, 1965, "sa mạc" ấy đã thành quê:
Mười năm nhớ sớm thương chiều
Hai quê bom Mỹ dội thiêu ruộng vườn
Vẻ đẹp của đồng bằng Bắc Bộ làm tươi xanh trở lại bút pháp thơ Hoàng Tố Nguyên:
Nắng ửng chòm tre gió thoảng đưa
Búp non thắp sáng lá cành thưa
Chim mang tiếng hót ra
hong nắng
Tơ nhện vương sương trắng cỏ bờ
Gửi chiến trường chống Mỹ (1966) là thơ đánh giặc của Hoàng Tố Nguyên. Sức gợi cảm ở tập này không bằng hai tập trước, trữ tình đã thay bằng tự sự. Bài thơ thường dài và bằng phẳng. Có cảm giác Hoàng Tố Nguyên đang muốn tìm cách mở rộng dung lượng thơ, muốn biến những chuyện chiến đấu, những gương anh hùng thành một chất trữ tình mới. Mọi việc đang còn ở bước thể nghiệm.
Hai mươi năm xa quê, vật vã trong nỗi nhớ, đến mức bị kiểm điểm, bị kỷ luật vì buồn thương. Ông đã tự nén lòng, hoà mình vào nhịp sống chung. Hoàng Tố Nguyên, chiếc nạng chống bên thân khi Hà Nội khi Thái Bình, sống giữa đùm bọc của bạn bè thơ, của bà con Miền Bắc. Nhưng gương mặt ông luôn phảng phất buồn. Ông đã phấn đấu để vui, nhưng đến ngày vui thật, đến ngày ông có thể trở lại Gò Me thương nhớ thì ông lại đột ngột ra đi, 30-6-1975, mới hai tháng sau ngày thống nhất, ông chưa kịp thu xếp để về, để một lần được oà khóc với quê hương. Hoài bão một chặng sáng tác hào hứng vừa mới được bắt đầu đã tắt lịm. Tập thơ tuyển, lưu vội những chặng thơ của đời ông, được bè bạn dùng lại tên xưa nhưng mang nghĩa mới Từ nhớ đến thương là thế.
(Phụ bản Thơ - Báo Văn nghệ)
Love mickey,