Hình tượng người chiến sĩ trong trường ca viết về đề tài chiến tranh thời chống Mỹ
Đối với các nhà thơ sáng tác trường ca và công chúng của ngày hôm qua trong lịch sử thời chống Mỹ đều cảm thấy rằng mình phải ngợi ca, phải viết như vậy, không thể khác hơn về những chàng trai quả cảm của thời đại. Hình tượng người chiến sĩ đã được các nhà thơ xây dựng trong trường ca vừa thực tại vừa giàu chất thơ nên lung linh, sống động, vừa rất đỗi bình dị mà cũng rất đỗi anh hùng. Trường ca thời chống Mỹ đã xây dựng hình tượng đẹp đẽ của các anh chiến sĩ hết lòng yêu thương lo lắng cho mẹ, thương nước thương dân, biết hy sinh tình cảm riêng tư kiên cường đánh giặc trong tư thế đàng hoàng, đĩnh đạc và rất lạc quan.
Trần Mạnh Hảo với Mặt trời trong lòng đất đã miêu tả hộ nỗi lòng chiến sĩ khi nghĩ về người vợ, người mẹ trong ngày đưa tiễn: Đâu rồi vợ anh dưới vòm cây so đũa/ Tiễn anh mà không dám đi ngang/ Má ở nơi đâu sau quầng bom lửa/ Chân trời bay một tấm khăn rằn.
Sự nhớ nhung có khi khiến các anh cần tâm sự và Hữu Thỉnh đã để anh tâm sự với dòng sông. Lời tâm sự ấy đong đầy tình thương yêu dào dạt: “Anh có thể chẳng bao giờ còn đánh được gốc tre/ Phơi nỏ sẵn dành sưởi đêm cho mẹ/ Sông ơi sông nếu ta phải ra đi/ Bậc thấp xuống cho em ra gánh nước/ Xin bát canh đến tay mẹ lúc còn nóng/ Xin mùa đông đừng dài” (Đường tới thành phố).
Nỗi nhớ mẹ già là tình cảm da diết mà ta có thể bắt gặp trong bất cứ trường ca nào có xây dựng nhân vật người lính: “Nỗi nhớ mẹ già nỗi nhớ đắng cay/ Tấm lưng mẹ cầu vồng qua tháng năm con gái/ Nước mắt bay qua dấu tích nụ cười”. (Thu Bồn - Quê hương mặt trời vàng), hay trong Bài ca chim Chơrao, Thu Bồn đã khắc hoạ hình tượng các anh tâm sự nhỏ to cùng mẹ: Mẹ ơi! Con vẫn ở giữa lòng đất nước/ Trời nắng thiêu nghe rìu mẹ chém cây.
Các anh là người chiến sĩ của đồng bằng, của miền Nam, miền Bắc. Các anh cũng là người chiến sĩ Tây Nguyên rừng núi về phương Nam. Các anh là Đam San thời đại. Các anh là con của cha mẹ Rồng Tiên đi tìm giặc Mỹ mà đánh dẫu rằng còn vô vàn gian khổ: “Trận mùa khô đánh Mỹ/ Quân ta thiếu cơm, thiếu súng, thiếu cả người” (Thu Bồn - Bazan khát).
Các nhà thơ thời chống Mỹ xây dựng nhân vật người lính bao giờ cũng là những người lính biết ơn mẹ sinh thành: “Chúng tôi biết ơn bà mẹ nghèo làng Gióng/ Đã nuôi con lam lũ nhọc nhằn”... / Mẹ ngồi đó đêm mưa ngày nắng/ Mẹ ngồi đó một thời bom đạn. (Nguyễn Đức Mậu - Trường ca sư đoàn). Các anh đi vào cuộc trường chinh đầy gian lao vất vả, lắm niềm vui đồng đội cũng không nguôi thương nhớ quê nhà, nơi có bà mẹ già tóc bạc trắng như mây trời: Khói lên nhớ một dáng nhà/ Mây in tóc mẹ trời xa bay về.
Trong trường ca thời chống Mỹ, chiến tranh và bom đạn là cái nền để những hình tượng con người, thế giới của con người giàu lòng vị tha, đức dũng cảm, nghĩa tình thuỷ chung, chịu đựng gian khổ hy sinh hiển hiện. Thế giới mà ở đó con người quyết vượt lên sự tàn phá huỷ diệt để tồn tại, phát triển với vẻ đẹp sáng ngời.
Trong trường ca Những người đi tới biển của Thanh Thảo, hình tượng người lính là hình tượng trung tâm xuyên suốt. Với bản trường ca dài ngót 1250 câu, Thanh Thảo muốn phản ánh cuộc hành trình “đi tới biển” của dân tộc ta. Trong trường ca, hình tượng người chiến sĩ hiện lên mồn một và phong phú bởi đó là nhiều mảnh đời, nhiều cảnh đời riêng lẻ đã hoà nhập vào nhau làm nên dáng dấp những con người đầy khí thế, sung sức, trẻ trung: Chúng con đi từng trận gió rừng/ Cả thế hệ xoay trần đánh giặc/ Mặc quần đùi khiêng pháo lội qua sông. Mang lý tưởng chiến đấu của thời đại, lại là người tham gia chiến đấu nên Thanh Thảo có cách sống và cách nói của người trong cuộc thật đến ngọn nguồn.
Các anh gửi lại tuổi trẻ học đường, gửi lại kỳ hè, gửi lại những cuốn sách đang đọc dở và: “Con gửi lại sau lưng/ Những ước mơ nhà văn, bác học/ Để nhận lấy cánh rừng/ Để nhận lấy dãy Trường Sơn dựng dốc”. Các anh không có quyền lựa chọn nếu muốn được làm người đúng nghĩa lúc Tổ quốc gian nguy: Người ta không thể chọn để được sinh ra/ Nhưng chúng tôi đã chọn cánh rừng phút giây năm tháng ấy (Thanh Thảo - Những người đi tới biển).
Thanh Thảo đã khắc sâu lý tưởng của người chiến sĩ tuổi đời còn quá trẻ trong vài câu thơ nhưng tính chính luận triết lý như một chân lý: “Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình/ (Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc)/ Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?
Những chi tiết rất thực, rất đời thường đã góp phần khắc hoạ hình tượng người chiến sĩ sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ, hiểm nguy vì sự sống còn của đất nước.
Các nhà thơ sáng tác trường ca - nhà thơ chiến sĩ - có thể gọi là cái tôi chứng nhân của lịch sử, cũng là những người trong cuộc hoàn toàn sát cánh với cuộc chiến và các hình tượng nhân vật khác rất tiêu biểu, rất tự nhiên, rất bộn bề trong trường ca. Tất cả những chân dung ấy làm thành một chỉnh thể mang sức khái quát cao về nhân dân, làm thành cái hơi thở mát mẻ toát ra từ trung tâm cuộc sống mang tính sử thi hiện đại.
Hữu Thỉnh có trường ca Đường tới thành phố. Sự từng trải của người viết đã giúp anh dựng chân dung người chiến sĩ chân thực và sống động. Những trang viết của anh do đó có sức chinh phục. Cả năm chương của trường ca tổng cộng hơn 1500 câu đều tập trung xây dựng hình tượng trung tâm là người chiến sĩ bằng một chất thơ trầm tĩnh, sâu lắng, dạt dào chất trữ tình, có sức rung động cao. Trước khi là nhà thơ, Hữu Thỉnh đã là một người lính và những năm tháng chống Mỹ, anh sát cánh cùng binh chủng thiết giáp, sống thực sự giữa lòng cuộc chiến đấu của dân tộc. Vì vậy “hình tượng người lính và hiện thực lớn lao sôi động của những năm tháng chiến tranh ác liệt đã trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo cho các sáng tác của anh” (Lưu Khánh Thơ).
Thơ và nhất là trường ca của thế hệ chống Mỹ cứu nước là tiếng nói sống động tự tin của những người trong cuộc. Chính nhà thơ chiến sĩ là người khắc hoạ chân dung đồng đội mình rõ nét nhất, thực nhất, tình cảm nhất. Riêng Trần Mạnh Hảo, anh đã chọn một vùng đất rất đặc biệt để miêu tả lại cuộc chiến đấu khốc liệt để giành sự sống mà ngày nay, tham quan vùng đất trong lòng đất này ta lại càng thấm thía những ước ao, những tâm tư thầm kín mong được sống dưới ánh mặt trời của nhân dân Củ Chi. Sự hiểu biết khá tường tận về con người và mảnh đất Củ Chi cùng cảm xúc phong phú, mãnh liệt, cuồn cuộn và sự tài hoa đã giúp Trần Mạnh Hảo chọn những hình tượng thơ cụ thể. Với trên hai nghìn câu thơ, tác giả đã khắc hoạ khá thành công chân dung của những người du kích Củ Chi - linh hồn của cuộc chiến đấu: “Các anh có thể rút bình yên vô đất/ Nhưng suốt đời các anh chẳng bình yên/ Cái day dứt của người lùi trước giặc/ Thà anh chết một nghìn lần thư thái/ Còn hơn sống nghìn năm dằn vặt, giày vò”.
Họ là những con người không cần băn khoăn lựa chọn giữa sống và chết, chiến đấu để được sống trên mặt đất, được sống dưới ánh mặt trời. Không có quan niệm mới về con người thì không thể có được hình tượng bình dị, cao cả ấy trong thơ.
Trong Những người đi tới biển (Thanh Thảo), các anh chiến sĩ chia ngọt xẻ bùi lúc gian khổ lẫn lúc thư nhàn. Lòng yêu cuộc sống thể hiện ở “ba mươi phút nữa hành quân/ được cười vang, nằm lăn trên cát ấm/ được ngụp hết mình lòng sông đẫm/ được bè bạn với đá với trời xanh với rừng/ được nín thở hồi hộp cùng chú bói cá/ được làm con trai không phải giữ gìn”. Cái tôi của Thanh Thảo được hoà nhập vào hình tượng những chàng lính trẻ: “Chúng tôi những thằng lính trẻ/ Lớn lên khắp trăm vùng gọi nhau là đồng đội/ Đi chiến đấu ngủ bụi nằm bờ đầu nguồn cuối bãi”.
Đội ngũ sáng tác trường ca đã tiếp cận cuộc sống hiện thực và đã miêu tả cái hiện thực vào thơ không bớt phần gay go, ác liệt, mà có khi còn mạnh mẽ hơn để truyền lửa cách mạng cho người tiếp nhận bằng một ngòi bút thực sự có tấm lòng, có trách nhiệm. Từ hình ảnh “lũ chúng tôi bọn người tứ xứ” (Hồng Nguyên - Nhớ) đến hình ảnh người chiến sĩ “Được ra trận những năm đất nước mình khốc liệt” (Thanh Thảo - Những người đi tới biển) là một bước tổng hợp mới trong nghệ thuật sáng tạo giữa cụ thể và khái quát, giữa hiện thực và lãng mạn, và trường ca đã thể hiện khả năng khái quát mạnh, khái quát một giai đoạn lịch sử, khái quát những vấn đề chính yếu của dân tộc, khái quát về một thế hệ, về lương tâm thời đại.
Người chiến sĩ trong Những người đi tới biển được Thanh Thảo khắc hoạ hình tượng có sức khái quát điển hình từ những nấm mồ yên nghỉ. Sự hy sinh của người chiến sĩ được Thanh Thảo gọi tên thật là xúc động. Ngày dân tộc trở về đường số một/ Lòng không nguôi thương những cánh rừng này/ Nơi những đứa con nằm lưng đèo cuối dốc/ Dọc theo lối mòn chìm khuất dưới rừng cây/ Nếu một ngày ta dựng những hàng bia/ Xin hãy để “nơi đây những cuộc đời chưa bao giờ yên nghỉ”.
Chiều sâu và sức rung động của những vần thơ trong trường ca bởi sự suy nghĩ chân tình. Trường ca vốn không chỉ nói về người lính mà còn qua họ nói về cả một thế hệ tự ý thức về mình, về lịch sử, về nhân dân. Đó là sự tự nhận thức hết sức sâu sắc đạt đến độ sâu ít thấy trong thơ chống Mỹ. Đời sống chiến đấu của các anh là cả một chuỗi dài gian khổ mà chỉ những người trong cuộc như các chiến sĩ nhà thơ mới nhìn hết được. Nếu viết về chiến tranh mà bỏ qua những hy sinh lớn lao của dân tộc đã chịu đựng để giành thắng lợi là không đúng thực tế. Văn học của thời chống Mỹ đã không hề bỏ qua hoặc tránh né những đau thương mất mát của chiến tranh. Thế nhưng hy sinh không thể đi đôi với bi thương, yếu đuối. Trường ca sử thi hiện đại đã làm được điều ấy.
Hình ảnh nắm cơm cháy trong Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh gợi cho ta về sự hy sinh cao cả của người chiến sĩ lái xe tăng: “Đen chỉ còn một nửa/ Có dấu tay in lõm vào trong/ Ngón tay bè của đồng chí lái/ Các anh ăn nửa bữa trong ngày/ Phần để dành/ Làm ta day dứt mãi”. Đây là một chi tiết giàu tình cảm, giàu sức lay động. Trần Mạnh Hảo cũng đã hiểu được nỗi thương mẹ dạt dào và tình yêu dành cho người vợ hiền sẽ goá bụa của các anh trước giờ phút hy sinh mới có thể nói hay đến như vậy: “Má của con ơi khi con nhắm mắt/ Chính là khi con thương người nhất/... Con thương má chẳng thể về với má/ Để đẵn cây dựng tạm một túp lều/... Anh thương em rồi cô độc/ Một mình em hờn giận buồn vui/ Ngôi sao kia còn tìm đôi để mọc/ Một vầng trăng goá bụa ở ven trời”. (Trần Mạnh Hảo - Mặt trời trong lòng đất).
Bài ca chim Chơrao (Thu Bồn), là bản trường ca phản ánh mối đoàn kết chiến đấu giữa người Kinh và Thượng nên chất hùng tráng, chất trữ tình lại càng tô đậm thêm hình tượng anh hùng. Trong trường ca, cái chết của Hùng và Rin được thắp sáng bằng hình ảnh đối lập giữa hình tượng người anh hùng và kẻ thù. Nhân vật được khắc hoạ có kích thước tầm vóc theo khuynh hướng cách điệu hoá: “Quân thù kia ơi! Một bầy man rợ/ Bay đừng hòng khuất phục đời ta/ Bay định đốt ta thành hòn than quỳ lạy/ Trong ánh lửa hồng ta xuất hiện một vòng hoa.
Các trường ca đã xây dựng được hình tượng người chiến sĩ nhân dân - một kiểu người lính hoàn toàn mới trong lịch sử dân tộc. Các anh là những con người được kết tinh từ chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc và bản chất của con người mới xã hội chủ nghĩa. Các anh hy sinh tuổi trẻ, hy sinh hạnh phúc cá nhân, và đến trước phút hy sinh thân thể, các anh còn mong muốn hy sinh từng giọt máu cuối cùng cho người đồng đội đang bị thương có nguy cơ bị cưa chân “Xin hãy rút hết máu nhóm O trong người tôi còn chảy/ Mà tiêm cho bạn khỏi cưa chân. Hình tượng các anh lại thắm thêm sắc xanh của trời, khi anh ngã vào lòng đất vẫn xanh chất con trai: “Thế hệ chúng con đi như gió thổi/ Quân phục xanh đồng sắc với chân trời/ Chưa kịp yêu một người con gái/ Lúc ngã vào lòng đất vẫn con trai”. (Trần Mạnh Hảo - Đất nước hình tia chớp).
Đó là hình tượng của những anh hùng “Sống thì đi mà chết thì nằm/ Giọt lệ phần mình, nụ cười dành bạn”, bởi đất nước lúc bấy giờ là một cuộc hành quân. Các anh: “Nằm khuất nơi đâu ven rừng đá lạnh/ Trọn đời làm chiến sĩ vô danh” (Thu Bồn - Bài ca chim Chơrao).
Trong Người anh hùng Đồng Tháp, Giang Nam đã xây dựng hình tượng người anh hùng Huỳnh Việt Thanh cũng là một nguyên mẫu của cuộc sống. Hy sinh hạnh phúc riêng tư, anh hùng giải phóng quân Việt Thanh đã xả thân vào cuộc chiến, bị tra tấn đánh đập vẫn không đầu hàng. Anh đã sống trung thành và chết không khuất phục.
ở trường ca Hành trình của Hưởng Triều, hình ảnh người lính hành quân theo đoàn quân vào Nam như mở một cuộc hành trình dài theo đất nước. Đó là một thế hệ quyết xếp bút nghiên lên đàng: Ta nhận ấn vàng từ tay mẹ/ Vẫy đoàn xung kích mũi vào Nam.
Cuộc đấu tranh của thanh niên học sinh thành thị miền Nam kết hợp với nhân dân lao động thành phố Huế từ sau 1972 càng bùng lên mạnh mẽ. Nguyễn Khoa Điềm đã phản ánh không khí sôi sục đó trong trường ca Mặt đường khát vọng. Tuổi trẻ áo trắng miền Nam xuống đường trở thành một đội quân xung trận. Không là chiến sĩ trực tiếp nhưng tâm hồn và hành động của họ như người chiến sĩ. Gần 1400 câu thơ, chương nào cũng ăm ắp những khát khao, những hoài bão của tuổi trẻ sinh viên học sinh thành thị miền Nam trước cảnh nước mất nhà tan: Anh em ơi, xuống đường... Ta ra trận bằng màu áo trắng. Nguyễn Khoa Điềm đã mô tả khí thế ra trận của tuổi trẻ khác nào các chiến sĩ xung trận: “Ta xông lên chiếm hết mặt đường...” Và tuổi trẻ hy sinh như những anh hùng: “Máu đổ rồi! Máu học sinh sinh viên/ Máu đỏ rực trên nền áo trắng/ Máu càng thắm. Tự do càng chói sáng/ Máu Việt Nam, máu yêu nước tươi hồng”.
Trong trường ca Nguyễn Văn Trỗi, Lê Anh Xuân ca ngợi tình yêu cao đẹp của anh Trỗi với chị Quyên. Lúc đấu tranh giáp mặt với kẻ thù, phút giây cuối cùng, hình tượng của anh tạc vào lịch sử bằng những chi tiết rất thực và rất anh hùng: “Anh đi chân đất đầu trần/ Mát mùa xuân, áo thiên thần trắng tươi/ Anh đi vào giữa cuộc đời/ Đi vào lịch sử khi trời rạng đông”.
Trường ca thời chống Mỹ đã tái hiện hình ảnh nhân dân ta anh hùng ở khắp mọi miền đất nước. Có thể nói, các trường ca chống Mỹ đã thể hiện tình yêu Tổ quốc rất rõ rệt qua hình ảnh nhân dân nhưng đặc biệt là những người chiến sĩ. Năm tháng sẽ đi qua, thời gian hiện tại sẽ là quá khứ nhưng nhiều tên sông, tên núi, tên người... vẫn bất tử trong lòng mọi người Việt Nam yêu nước. Có những chiến sĩ anh hùng có tên có tuổi nhưng cũng có biết bao những người vô danh, bình dị, lặng lẽ đã góp phần làm nên chiến thắng, làm nên lịch sử. Đó là một tư tưởng lớn thể hiện trong văn học quá khứ (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đình Chiểu)... và đến những năm cả nước chống đế quốc Mỹ, tư tưởng ấy lại được tiếp tục thể hiện trong thơ ca, văn xuôi, và đặc biệt là trường ca.
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Đối với các nhà thơ sáng tác trường ca và công chúng của ngày hôm qua trong lịch sử thời chống Mỹ đều cảm thấy rằng mình phải ngợi ca, phải viết như vậy, không thể khác hơn về những chàng trai quả cảm của thời đại. Hình tượng người chiến sĩ đã được các nhà thơ xây dựng trong trường ca vừa thực tại vừa giàu chất thơ nên lung linh, sống động, vừa rất đỗi bình dị mà cũng rất đỗi anh hùng. Trường ca thời chống Mỹ đã xây dựng hình tượng đẹp đẽ của các anh chiến sĩ hết lòng yêu thương lo lắng cho mẹ, thương nước thương dân, biết hy sinh tình cảm riêng tư kiên cường đánh giặc trong tư thế đàng hoàng, đĩnh đạc và rất lạc quan.
Trần Mạnh Hảo với Mặt trời trong lòng đất đã miêu tả hộ nỗi lòng chiến sĩ khi nghĩ về người vợ, người mẹ trong ngày đưa tiễn: Đâu rồi vợ anh dưới vòm cây so đũa/ Tiễn anh mà không dám đi ngang/ Má ở nơi đâu sau quầng bom lửa/ Chân trời bay một tấm khăn rằn.
Sự nhớ nhung có khi khiến các anh cần tâm sự và Hữu Thỉnh đã để anh tâm sự với dòng sông. Lời tâm sự ấy đong đầy tình thương yêu dào dạt: “Anh có thể chẳng bao giờ còn đánh được gốc tre/ Phơi nỏ sẵn dành sưởi đêm cho mẹ/ Sông ơi sông nếu ta phải ra đi/ Bậc thấp xuống cho em ra gánh nước/ Xin bát canh đến tay mẹ lúc còn nóng/ Xin mùa đông đừng dài” (Đường tới thành phố).
Nỗi nhớ mẹ già là tình cảm da diết mà ta có thể bắt gặp trong bất cứ trường ca nào có xây dựng nhân vật người lính: “Nỗi nhớ mẹ già nỗi nhớ đắng cay/ Tấm lưng mẹ cầu vồng qua tháng năm con gái/ Nước mắt bay qua dấu tích nụ cười”. (Thu Bồn - Quê hương mặt trời vàng), hay trong Bài ca chim Chơrao, Thu Bồn đã khắc hoạ hình tượng các anh tâm sự nhỏ to cùng mẹ: Mẹ ơi! Con vẫn ở giữa lòng đất nước/ Trời nắng thiêu nghe rìu mẹ chém cây.
Các anh là người chiến sĩ của đồng bằng, của miền Nam, miền Bắc. Các anh cũng là người chiến sĩ Tây Nguyên rừng núi về phương Nam. Các anh là Đam San thời đại. Các anh là con của cha mẹ Rồng Tiên đi tìm giặc Mỹ mà đánh dẫu rằng còn vô vàn gian khổ: “Trận mùa khô đánh Mỹ/ Quân ta thiếu cơm, thiếu súng, thiếu cả người” (Thu Bồn - Bazan khát).
Các nhà thơ thời chống Mỹ xây dựng nhân vật người lính bao giờ cũng là những người lính biết ơn mẹ sinh thành: “Chúng tôi biết ơn bà mẹ nghèo làng Gióng/ Đã nuôi con lam lũ nhọc nhằn”... / Mẹ ngồi đó đêm mưa ngày nắng/ Mẹ ngồi đó một thời bom đạn. (Nguyễn Đức Mậu - Trường ca sư đoàn). Các anh đi vào cuộc trường chinh đầy gian lao vất vả, lắm niềm vui đồng đội cũng không nguôi thương nhớ quê nhà, nơi có bà mẹ già tóc bạc trắng như mây trời: Khói lên nhớ một dáng nhà/ Mây in tóc mẹ trời xa bay về.
Trong trường ca thời chống Mỹ, chiến tranh và bom đạn là cái nền để những hình tượng con người, thế giới của con người giàu lòng vị tha, đức dũng cảm, nghĩa tình thuỷ chung, chịu đựng gian khổ hy sinh hiển hiện. Thế giới mà ở đó con người quyết vượt lên sự tàn phá huỷ diệt để tồn tại, phát triển với vẻ đẹp sáng ngời.
Trong trường ca Những người đi tới biển của Thanh Thảo, hình tượng người lính là hình tượng trung tâm xuyên suốt. Với bản trường ca dài ngót 1250 câu, Thanh Thảo muốn phản ánh cuộc hành trình “đi tới biển” của dân tộc ta. Trong trường ca, hình tượng người chiến sĩ hiện lên mồn một và phong phú bởi đó là nhiều mảnh đời, nhiều cảnh đời riêng lẻ đã hoà nhập vào nhau làm nên dáng dấp những con người đầy khí thế, sung sức, trẻ trung: Chúng con đi từng trận gió rừng/ Cả thế hệ xoay trần đánh giặc/ Mặc quần đùi khiêng pháo lội qua sông. Mang lý tưởng chiến đấu của thời đại, lại là người tham gia chiến đấu nên Thanh Thảo có cách sống và cách nói của người trong cuộc thật đến ngọn nguồn.
Các anh gửi lại tuổi trẻ học đường, gửi lại kỳ hè, gửi lại những cuốn sách đang đọc dở và: “Con gửi lại sau lưng/ Những ước mơ nhà văn, bác học/ Để nhận lấy cánh rừng/ Để nhận lấy dãy Trường Sơn dựng dốc”. Các anh không có quyền lựa chọn nếu muốn được làm người đúng nghĩa lúc Tổ quốc gian nguy: Người ta không thể chọn để được sinh ra/ Nhưng chúng tôi đã chọn cánh rừng phút giây năm tháng ấy (Thanh Thảo - Những người đi tới biển).
Thanh Thảo đã khắc sâu lý tưởng của người chiến sĩ tuổi đời còn quá trẻ trong vài câu thơ nhưng tính chính luận triết lý như một chân lý: “Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình/ (Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc)/ Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?
Những chi tiết rất thực, rất đời thường đã góp phần khắc hoạ hình tượng người chiến sĩ sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ, hiểm nguy vì sự sống còn của đất nước.
Các nhà thơ sáng tác trường ca - nhà thơ chiến sĩ - có thể gọi là cái tôi chứng nhân của lịch sử, cũng là những người trong cuộc hoàn toàn sát cánh với cuộc chiến và các hình tượng nhân vật khác rất tiêu biểu, rất tự nhiên, rất bộn bề trong trường ca. Tất cả những chân dung ấy làm thành một chỉnh thể mang sức khái quát cao về nhân dân, làm thành cái hơi thở mát mẻ toát ra từ trung tâm cuộc sống mang tính sử thi hiện đại.
Hữu Thỉnh có trường ca Đường tới thành phố. Sự từng trải của người viết đã giúp anh dựng chân dung người chiến sĩ chân thực và sống động. Những trang viết của anh do đó có sức chinh phục. Cả năm chương của trường ca tổng cộng hơn 1500 câu đều tập trung xây dựng hình tượng trung tâm là người chiến sĩ bằng một chất thơ trầm tĩnh, sâu lắng, dạt dào chất trữ tình, có sức rung động cao. Trước khi là nhà thơ, Hữu Thỉnh đã là một người lính và những năm tháng chống Mỹ, anh sát cánh cùng binh chủng thiết giáp, sống thực sự giữa lòng cuộc chiến đấu của dân tộc. Vì vậy “hình tượng người lính và hiện thực lớn lao sôi động của những năm tháng chiến tranh ác liệt đã trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo cho các sáng tác của anh” (Lưu Khánh Thơ).
Thơ và nhất là trường ca của thế hệ chống Mỹ cứu nước là tiếng nói sống động tự tin của những người trong cuộc. Chính nhà thơ chiến sĩ là người khắc hoạ chân dung đồng đội mình rõ nét nhất, thực nhất, tình cảm nhất. Riêng Trần Mạnh Hảo, anh đã chọn một vùng đất rất đặc biệt để miêu tả lại cuộc chiến đấu khốc liệt để giành sự sống mà ngày nay, tham quan vùng đất trong lòng đất này ta lại càng thấm thía những ước ao, những tâm tư thầm kín mong được sống dưới ánh mặt trời của nhân dân Củ Chi. Sự hiểu biết khá tường tận về con người và mảnh đất Củ Chi cùng cảm xúc phong phú, mãnh liệt, cuồn cuộn và sự tài hoa đã giúp Trần Mạnh Hảo chọn những hình tượng thơ cụ thể. Với trên hai nghìn câu thơ, tác giả đã khắc hoạ khá thành công chân dung của những người du kích Củ Chi - linh hồn của cuộc chiến đấu: “Các anh có thể rút bình yên vô đất/ Nhưng suốt đời các anh chẳng bình yên/ Cái day dứt của người lùi trước giặc/ Thà anh chết một nghìn lần thư thái/ Còn hơn sống nghìn năm dằn vặt, giày vò”.
Họ là những con người không cần băn khoăn lựa chọn giữa sống và chết, chiến đấu để được sống trên mặt đất, được sống dưới ánh mặt trời. Không có quan niệm mới về con người thì không thể có được hình tượng bình dị, cao cả ấy trong thơ.
Trong Những người đi tới biển (Thanh Thảo), các anh chiến sĩ chia ngọt xẻ bùi lúc gian khổ lẫn lúc thư nhàn. Lòng yêu cuộc sống thể hiện ở “ba mươi phút nữa hành quân/ được cười vang, nằm lăn trên cát ấm/ được ngụp hết mình lòng sông đẫm/ được bè bạn với đá với trời xanh với rừng/ được nín thở hồi hộp cùng chú bói cá/ được làm con trai không phải giữ gìn”. Cái tôi của Thanh Thảo được hoà nhập vào hình tượng những chàng lính trẻ: “Chúng tôi những thằng lính trẻ/ Lớn lên khắp trăm vùng gọi nhau là đồng đội/ Đi chiến đấu ngủ bụi nằm bờ đầu nguồn cuối bãi”.
Đội ngũ sáng tác trường ca đã tiếp cận cuộc sống hiện thực và đã miêu tả cái hiện thực vào thơ không bớt phần gay go, ác liệt, mà có khi còn mạnh mẽ hơn để truyền lửa cách mạng cho người tiếp nhận bằng một ngòi bút thực sự có tấm lòng, có trách nhiệm. Từ hình ảnh “lũ chúng tôi bọn người tứ xứ” (Hồng Nguyên - Nhớ) đến hình ảnh người chiến sĩ “Được ra trận những năm đất nước mình khốc liệt” (Thanh Thảo - Những người đi tới biển) là một bước tổng hợp mới trong nghệ thuật sáng tạo giữa cụ thể và khái quát, giữa hiện thực và lãng mạn, và trường ca đã thể hiện khả năng khái quát mạnh, khái quát một giai đoạn lịch sử, khái quát những vấn đề chính yếu của dân tộc, khái quát về một thế hệ, về lương tâm thời đại.
Người chiến sĩ trong Những người đi tới biển được Thanh Thảo khắc hoạ hình tượng có sức khái quát điển hình từ những nấm mồ yên nghỉ. Sự hy sinh của người chiến sĩ được Thanh Thảo gọi tên thật là xúc động. Ngày dân tộc trở về đường số một/ Lòng không nguôi thương những cánh rừng này/ Nơi những đứa con nằm lưng đèo cuối dốc/ Dọc theo lối mòn chìm khuất dưới rừng cây/ Nếu một ngày ta dựng những hàng bia/ Xin hãy để “nơi đây những cuộc đời chưa bao giờ yên nghỉ”.
Chiều sâu và sức rung động của những vần thơ trong trường ca bởi sự suy nghĩ chân tình. Trường ca vốn không chỉ nói về người lính mà còn qua họ nói về cả một thế hệ tự ý thức về mình, về lịch sử, về nhân dân. Đó là sự tự nhận thức hết sức sâu sắc đạt đến độ sâu ít thấy trong thơ chống Mỹ. Đời sống chiến đấu của các anh là cả một chuỗi dài gian khổ mà chỉ những người trong cuộc như các chiến sĩ nhà thơ mới nhìn hết được. Nếu viết về chiến tranh mà bỏ qua những hy sinh lớn lao của dân tộc đã chịu đựng để giành thắng lợi là không đúng thực tế. Văn học của thời chống Mỹ đã không hề bỏ qua hoặc tránh né những đau thương mất mát của chiến tranh. Thế nhưng hy sinh không thể đi đôi với bi thương, yếu đuối. Trường ca sử thi hiện đại đã làm được điều ấy.
Hình ảnh nắm cơm cháy trong Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh gợi cho ta về sự hy sinh cao cả của người chiến sĩ lái xe tăng: “Đen chỉ còn một nửa/ Có dấu tay in lõm vào trong/ Ngón tay bè của đồng chí lái/ Các anh ăn nửa bữa trong ngày/ Phần để dành/ Làm ta day dứt mãi”. Đây là một chi tiết giàu tình cảm, giàu sức lay động. Trần Mạnh Hảo cũng đã hiểu được nỗi thương mẹ dạt dào và tình yêu dành cho người vợ hiền sẽ goá bụa của các anh trước giờ phút hy sinh mới có thể nói hay đến như vậy: “Má của con ơi khi con nhắm mắt/ Chính là khi con thương người nhất/... Con thương má chẳng thể về với má/ Để đẵn cây dựng tạm một túp lều/... Anh thương em rồi cô độc/ Một mình em hờn giận buồn vui/ Ngôi sao kia còn tìm đôi để mọc/ Một vầng trăng goá bụa ở ven trời”. (Trần Mạnh Hảo - Mặt trời trong lòng đất).
Bài ca chim Chơrao (Thu Bồn), là bản trường ca phản ánh mối đoàn kết chiến đấu giữa người Kinh và Thượng nên chất hùng tráng, chất trữ tình lại càng tô đậm thêm hình tượng anh hùng. Trong trường ca, cái chết của Hùng và Rin được thắp sáng bằng hình ảnh đối lập giữa hình tượng người anh hùng và kẻ thù. Nhân vật được khắc hoạ có kích thước tầm vóc theo khuynh hướng cách điệu hoá: “Quân thù kia ơi! Một bầy man rợ/ Bay đừng hòng khuất phục đời ta/ Bay định đốt ta thành hòn than quỳ lạy/ Trong ánh lửa hồng ta xuất hiện một vòng hoa.
Các trường ca đã xây dựng được hình tượng người chiến sĩ nhân dân - một kiểu người lính hoàn toàn mới trong lịch sử dân tộc. Các anh là những con người được kết tinh từ chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc và bản chất của con người mới xã hội chủ nghĩa. Các anh hy sinh tuổi trẻ, hy sinh hạnh phúc cá nhân, và đến trước phút hy sinh thân thể, các anh còn mong muốn hy sinh từng giọt máu cuối cùng cho người đồng đội đang bị thương có nguy cơ bị cưa chân “Xin hãy rút hết máu nhóm O trong người tôi còn chảy/ Mà tiêm cho bạn khỏi cưa chân. Hình tượng các anh lại thắm thêm sắc xanh của trời, khi anh ngã vào lòng đất vẫn xanh chất con trai: “Thế hệ chúng con đi như gió thổi/ Quân phục xanh đồng sắc với chân trời/ Chưa kịp yêu một người con gái/ Lúc ngã vào lòng đất vẫn con trai”. (Trần Mạnh Hảo - Đất nước hình tia chớp).
Đó là hình tượng của những anh hùng “Sống thì đi mà chết thì nằm/ Giọt lệ phần mình, nụ cười dành bạn”, bởi đất nước lúc bấy giờ là một cuộc hành quân. Các anh: “Nằm khuất nơi đâu ven rừng đá lạnh/ Trọn đời làm chiến sĩ vô danh” (Thu Bồn - Bài ca chim Chơrao).
Trong Người anh hùng Đồng Tháp, Giang Nam đã xây dựng hình tượng người anh hùng Huỳnh Việt Thanh cũng là một nguyên mẫu của cuộc sống. Hy sinh hạnh phúc riêng tư, anh hùng giải phóng quân Việt Thanh đã xả thân vào cuộc chiến, bị tra tấn đánh đập vẫn không đầu hàng. Anh đã sống trung thành và chết không khuất phục.
ở trường ca Hành trình của Hưởng Triều, hình ảnh người lính hành quân theo đoàn quân vào Nam như mở một cuộc hành trình dài theo đất nước. Đó là một thế hệ quyết xếp bút nghiên lên đàng: Ta nhận ấn vàng từ tay mẹ/ Vẫy đoàn xung kích mũi vào Nam.
Cuộc đấu tranh của thanh niên học sinh thành thị miền Nam kết hợp với nhân dân lao động thành phố Huế từ sau 1972 càng bùng lên mạnh mẽ. Nguyễn Khoa Điềm đã phản ánh không khí sôi sục đó trong trường ca Mặt đường khát vọng. Tuổi trẻ áo trắng miền Nam xuống đường trở thành một đội quân xung trận. Không là chiến sĩ trực tiếp nhưng tâm hồn và hành động của họ như người chiến sĩ. Gần 1400 câu thơ, chương nào cũng ăm ắp những khát khao, những hoài bão của tuổi trẻ sinh viên học sinh thành thị miền Nam trước cảnh nước mất nhà tan: Anh em ơi, xuống đường... Ta ra trận bằng màu áo trắng. Nguyễn Khoa Điềm đã mô tả khí thế ra trận của tuổi trẻ khác nào các chiến sĩ xung trận: “Ta xông lên chiếm hết mặt đường...” Và tuổi trẻ hy sinh như những anh hùng: “Máu đổ rồi! Máu học sinh sinh viên/ Máu đỏ rực trên nền áo trắng/ Máu càng thắm. Tự do càng chói sáng/ Máu Việt Nam, máu yêu nước tươi hồng”.
Trong trường ca Nguyễn Văn Trỗi, Lê Anh Xuân ca ngợi tình yêu cao đẹp của anh Trỗi với chị Quyên. Lúc đấu tranh giáp mặt với kẻ thù, phút giây cuối cùng, hình tượng của anh tạc vào lịch sử bằng những chi tiết rất thực và rất anh hùng: “Anh đi chân đất đầu trần/ Mát mùa xuân, áo thiên thần trắng tươi/ Anh đi vào giữa cuộc đời/ Đi vào lịch sử khi trời rạng đông”.
Trường ca thời chống Mỹ đã tái hiện hình ảnh nhân dân ta anh hùng ở khắp mọi miền đất nước. Có thể nói, các trường ca chống Mỹ đã thể hiện tình yêu Tổ quốc rất rõ rệt qua hình ảnh nhân dân nhưng đặc biệt là những người chiến sĩ. Năm tháng sẽ đi qua, thời gian hiện tại sẽ là quá khứ nhưng nhiều tên sông, tên núi, tên người... vẫn bất tử trong lòng mọi người Việt Nam yêu nước. Có những chiến sĩ anh hùng có tên có tuổi nhưng cũng có biết bao những người vô danh, bình dị, lặng lẽ đã góp phần làm nên chiến thắng, làm nên lịch sử. Đó là một tư tưởng lớn thể hiện trong văn học quá khứ (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đình Chiểu)... và đến những năm cả nước chống đế quốc Mỹ, tư tưởng ấy lại được tiếp tục thể hiện trong thơ ca, văn xuôi, và đặc biệt là trường ca.
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,