Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

NHỮNG LINH HỒN XÁM

3 trả lời, 2.118 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-21 11:35:15kelvin0o0>


NHỮNG LINH HỒN XÁM


Tác giả : PhiLippe Claudel
Dịch giả : Nguyễn Duy Bình

PHILIPPE CLAUDEL, nhà văn và nhà viết kịch bản người Pháp, sinh năm 1962. Ông là tác giả của nhiều cuốn tiểu thuyết và tập truyện ngắn, trong đó nổi bật là J'abandonne (giải France Télévision 2000), Les Petites mécaniques (giải Goncourt Truyện ngắn 2003), La Petite fille de Monsieur Linh, Le Rapport de Brodeck (giải Goncourt trẻ 2007)...

Tôi ở đây. Số mệnh của tôi là ở đây.

Jean-Claudel Pirotte, Un voyage en automne


Làm ký toà thời gian

viên hội thẩm lang thang

khi con người lẫn hoà cùng ánh sáng.

Jean-Claudel Pirotte, L'Homme de peu


Để tưởng nhớ André Vers


LỜI GIỚI THIỆU


Trước mắt quý bạn đọc là ngót 300 trang cuốn tiểu thuyết Những linh hồn xám (Les Âmes grises) của Philippe Claudel, tác giả mà người Việt Nam đã biết qua các tác phẩm của ông đã được dịch sang tiếng Việt như Cháu gái ông Linh (La Petite fille de Monsieur Linh), Thế giới không trẻ con (Le Monde sans les enfants). Ông cho in tác phẩm đầu tay, Meuse l'oubli, năm 37 tuổi (1999). Hai năm liên tiếp sau đó, người đọc đón nhận ba cuốn khác của ông : Quelques-uns des cent regrets, J'abandonne, Au revoir Monsieur Friant. Nhưng phải đến Les Âmes grises, tác phẩm thứ năm, tài năng của tác giả trẻ này mới thật sự được khẳng định.

Năm 2003, Những linh hồn xám được trao giải Renaudot (cùng với Goncourt, Renaudot là giải văn chương có uy tín ở Pháp). Theo tổng kết của các báo Le Nouvel Observateur, Le Point, L'Express, đây là một trong những tác phẩm được người đọc tìm mua nhiều nhất và được bình chọn là một trong những cuốn sâch hay nhất năm 2003. Sự thành công của tiểu thuyết này càng được khẳng định vào năm 2005, khi nó được chuyển thành bộ phim cùng tên do Yves Angelo đạo diễn.

Cùng năm ấy, hàng loạt các bài của các nhà phê bình quyen thuộc viết về Những linh hồn xám đựoc đăng trên những tờ báo lớn ở Pháp. Béranghère Adda viết trên Le Parisien (04/11/2003), Alain Salles trên Le Monde (05/11/2003), Annie Coppermann trên Les Echos (29/9/2003), Philippe Lancon trên Libération (11/9/2003). Như một việc làm phá cách, Le Figaro đăng tải đến 2 bài của Eric Ollivier (04/9/2003) và Francois Nourisser (20/9/2003). Cũng thế, trên tờ Le Point sau bài của Sebastien Fumaroli (28/8/2003) là bài viết nồng nhiệt của Marie-Francoise Leclère (20/11/2003)...

Bốn năm lao động sáng tạo say mê của Phililppe Claudel để hoàn thành tác phẩm Những linh hồn xám hoàn toàn xứng đáng được nhận những lời khen tặng, đánh giá cao của giới phê bình cũng như công chúng chọn lọc của nước Pháp.

Nhà văn viết về một thời đoạn ngắn trong Thế chiến lần thứ Nhất (1914-1918), một cuộc chiến tranh vô nghĩa lý, nhưng ông không dựng lại những cảnh chạm súng trực tiếp, bom rơi đạn nổ cụ thể. Chiến tranh thường trực có mặt trong toàn bộ tác phẩm, nhưng qua tiếng gầm gừ gào thét của đạn bom từ một không gian nào đó, có lúc xa nhưng cũng không ít lúc gần, chỉ cách thành phố V. nhỏ bé - bối cảnh diễn ra mọi chuyện thương tâm - một dãy đồi. Thành phố nhỏ đến mức cư dân quá quen biết nhau và các con đường nhỏ của nó dù dài ngắn thế nào dường như bao giờ cũng giao cắt nhau. Ở đó, một cộng đòng người ít ỏi, nhạt nhoà, mờ mờ nhân ảnh, tồn tại đấy mà chập chờn hư thực.

Tác giả chọn một giọng kể lạ, cứ nhẩn nha chậm rãi như tự nói với chính mình, một cuộc nói chuyện - "một cuộc nói chuyện của thời khác". Như ông đã bộc bạch với Clara Dupont (báo Marianne, 15/9/2003) : khi viết ông không biết trang tiếp theo sẽ được viết ra sao. "Tôi thích khi không biết mình sẽ đi đâu", Philippe Claudel đã thổ lộ như thế. Vì vậy có lúc người đọc có thể sốt ruột, ngỡ là người kể chuyện đã sa đà, lan man nhưng thực ra nội dung câu chuyện vẫn được tổ chức chặt chẽ và tâm trạng, tính cách, số phận những con người bé nhỏ, - những "linh hồn xám" - và cả vài ba con người độc ác, phi nhân tính như kiểm sát trưởng Destinat, đại tá Matziev - những "linh hồn đen" - dần dần hằn nổi, để ám ảnh người đọc mãi không thôi.

Đúng là ám ảnh dai dẳng, hình ảnh đông đảo những linh hồn xám vô danh : lớp lớp những người thanh niên mặc áo lính, vô tư lự, không hiểu gì về đối phương, lạc quan thiếu căn cứ, hăng hái đi qua thành phố V., hướng ra chiến trường. Thế rồi, ngày lại ngày hàng đoàn xe tải chở thương binh, tử sĩ ùn ùn trở về, hoặc vĩnh viễn bó mình trong bốn tấm ván gỗ thông tồi tàn, hoặc ngổn ngang rên xiết trong quân y viện dã chiến đặt tại thành phố. Có người cũng có tên - một anh Léon Castrie nào đấy - "rất hài lòng vì đã mất một cánh tay. Sáu ngày nữa anh ta sẽ về nhà và về luôn". Người kể chuyện đã bình luận, khó có thể gọn hơn nhưng thật chua chát : "Chiến tranh là một thế giới lộn ngược, mông chổng lên trời, đầu rạp xuống đất. Chiến tranh cố thể biến một người tàn phế thành kẻ hạnh phúc nhất trần gian".

Sức ám ảnh của tác phẩm còn nặng nề hơn khi Philippe Claudel dẫn chúng ta đến với những người dân bình thường của thành phố : cô bé mười tuổi Hoa Bìm Bìm ngây thơ hồn nhiên, bà lão Adélaide Siffert tốt bụng, thai phụ Clémence khắc khoải chờ đón đứa con đầu lòng, cô giáo Lysia Verharine tình nguyện đến thành phố V. dạy học để được an ủi vì phía bên kia quả đồi... Cả người kể chuyện - một anh cảnh sát tư pháp không rõ tên tuổi - chồng của Clémence. Và qua số phận của từng người một, nhưng kết thúc thật đau thương cứ lần lượt nối tiếp : Hoa Bìm Bìm bị cưỡng hiếp và bóp cổ đến chết, Clémence bất lực "vượt qua" trong cô đơn, cô giáo Lysia sau những ngày khắc khoải chờ trông hy vọng đã nhận được tin dữ về cái chết của người yêu...

Những trang viết thật buồn, nhưng cũng thật đẹp. Đẹp, vì Philippe Claudel dù muốn giấu nhưng cảm xúc nhân văn cẫn cứ bàng bạc trong toàn bộ 27 chương sách. Tôi ngờ rằng nhà văn cố làm ra lạnh lùng tỉnh táo, nhưng nhiều khả năng trái tim ông đã run rẩy không chỉ một lần. Đẹp, vì đúng như ông Jérôme Garcin đã viết trong Le Nouvel Observateur (04/9/2003), những trang viết này đã được cha đẻ của nó "rất trau truốt về câu chữ, chứa chan xúc cảm đến nỗi nó có vẻ như thách thức cả một gia đoạn văn học".

Dịch giả trẻ Nguyễn Duy Bình đã chuyển ngữ tác phẩm một cách công phu, nghiêm túc và đầy cảm hứng, nên đã tặng cho chúng ta một bản dịch đáng tin cậy, và đẹp. Trân trọng mời bạn đọc làm quen với Những linh hồn xám.

Tp. Hồ Chí Minh, những ngày giáp Tết Mậu Tý

TRẦN HỮU TÁ
Ghé blog mình chơi nhé

http://vn.myblog.yahoo.com/kelvin_tpst
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-22 12:58:58kelvin0o0>
CHƯƠNG 1


Tôi không biết nên bắt đầu từ đâu đây. Thật khó. Cả một quãng thời gian đã qua mà ngôn từ không bao giờ trở lại, những gương mặt, những nụ cười, những vết thương cũng thế. Nhưng dẫu sao tôi cũng phải cố nói. Nói ra điều giày vò tôi từ hai mươi năm nay. Những lúc hối hận và những câu hỏi lớn. Tôi phải lấy dao mổ điều bí mật như mổ bụng, phải thọc tay sâu vào đó ngay cả khi chẳng có gì thay đổi cái gì cả.

Nếu có ai hỏi là bằng phép màu nhiệm nào mà tôi lại biết hết những sự kiện tôi sắp kể, tôi sẽ trả lời là tôi biết, thế thôi. Tôi biết nhưng điều đó vì chúng đối với tôi quen thuộc như chiều xuống hay mặt trời mọc. Vì tôi đã dành trọn cả đời để chắp vá lại những sự kiện đó, để cho chúng cất tiếng nói, để nghe chúng nói. Xưa, đó cũng là một phận nghề của tôi.

Tôi sẽ để nhiều bóng người băng qua. Đặc biệt, một bóng người sẽ ở lớp cảnh đầu tiên. Nó thuộc một người tên là Pierre-Ange Destinat. Ông làm kiểm sát trưởng ở V. trong thời gian hơn ba mươi năm và hành nghề như một chiếc đồng hồ cơ học treo tường, không bao giờ rung mà cũng chẳng bao giờ hỏng hóc. Đó là một nghệ thuật tài tình, không cần viện bảo tàng để người ta biết đến giá trị của mình. Vào năm 1917, vào thời điểm xảy ra vụ Áp phe, như ở chỗ tôi người ta vẫn thường gọi, rồi đồng thời thở dài và ra cử chỉ nhấn mạnh chữ cái viết hoa, ông đã hơn sáu mươi tuổi và đã về hưu cách đó một năm. Đó là một người cao, thân hình khô khốc, giống một con chim lạnh lùng, uy nghi và xa vời. Ông ít nói. Một người rất ấn tượng. Ông có đôi mắt sáng tuồng như bất động, môi mỏng, không có râu, trán cao, tóc xám.

V. cách chỗ chúng tôi khoảng hai mươi cây số. Vào năm 1917, hai mươi cây số đã là cả một thế giới, nhất là vào mùa đông, nhất là với cuộc chiến chưa đến hồi kết thúc này. Cuộc chiến đó đã mang đến cho chúng tôi tiếng kinh động xe tải, xe kiến an và khói mịt mù hôi thối cũng như hàng ngàn tiếng nổ rền vang vì chiến sự không xa, dù rằng từ chỗ chúng tôi, đó cũng chỉ là như một con quỷ vô hình, một vùng trời khuất lấp.

Người ta gọi Destinat bằng nhiều cách khác nhau, tủy vùng và tuỳ người. Ở nhà tù V., hầu hết tù nhân gọi ông là tên Uống Máu. Trong xà lim, thậm chí tôi đã thấy một bức chân dung ông khắc bằng dao trên một cánh cửa gỗ sồi lớn. Bức vẽ khá giống nữa là khác. Phải nói rằng nghệ nhân đã tha hồ ngắm nhìn khuôn mẫu trong suốt mười lăm ngày hầu tòa.

Còn chúng tôi, khi gặp Pierre-Ange Destinat trên phố, chúng tôi gọi ông là "Ông Kiểm sát trưởng". Đàn ông thì ngả mũ chào, còn những người phụ nữ thân phận thấp hèn thì co gối. Những người phụ nữ khác, những người có địa vị cao sang, những người thuộc thế giới của ông thì khẽ cúi đầu như những con chim nhỏ uống nước trong máng. Tất thảy điều đó không đụng chạm đến ông là mấy. Ông không trả lời, hoặc tiết kiệm lời đến nỗi phải nhìn vào bốn ống nhòm lau chùi cẩn thận thì may ra mới thấy đôi môi ông mấp máy. Đó không phải là sự khinh người như phần lớn mọi người hằng tưởng, tôi cho rằng đó đơn giản chỉ là sự dửng dưng.

Dù sao chăng nữa, có một người trẻ tuổi gần như hiểu ông, một cô gái trẻ, tôi sẽ nói về cô sau. Cô gái trẻ này, và chỉ cho cô thôi, mệnh danh ông là Nỗi Buồn. Có thể vì cô mà tất cả đã xảy ra nhưng cô chưa bao giờ mảy may biết gì.

Một kiểm sát trưởng vào đầu thế kỷ vẫn còn là một người to tát lắm. Và rồi vào thời buổi chiến tranh, khi chỉ một loạt đạn đủ kết liễu một đoàn người gồm những tay khoẻ mạnh, hoạt bát, sẵn sàng làm mọi thứ, yêu cầu tử hình một người cô đơn và đã bị xích là một việc dễ như trở bàn tay. Tôi không tin vì bản tính độc ác mà ông đòi lấy và lấy được đầu một anh chàng khốn khổ nào đó đã đánh chết một anh gác cổng hoặc mổ bụng mẹ vợ. Ông nhìn kẻ ngu ngốc, tay vịn vào ghế dựa, đứng đối diện mình giữa hai nhân viên cảnh sát, nếu có để ý đến anh ta thì cũng chỉ thoáng qua. Có thể nói ông nhìn xuyên thấu anh ta như thể anh ta không còn tồn tại. Destinat không ra sức chống lại một tên tội phạm bằng xương bằng thịt nhưng ông bảo vệ một quan niệm, quan niệm của ông về cái ác và cái thiện.

Kẻ bị kết án gào lên khi nghe bản án. Anh ta khóc lóc, nổi khùng, thỉnh thoảng giơ tay lên trời như thể bổng nhiên anh ta nhớ lại bài học đạo lý Cơ đốc của mình. Destinat đã không còn thấy anh ta nữa. Ông nhét những tờ giấy ghi chép vào ví. Đó là bốn hay năm tờ giấy trong đó ông đã soạn thảo bản buộc tội của mình bằng nét chữ nhỏ nhắn, tinh tế bằng mực tím, một nhúm từ ngữ chọn lọc thường có khả năng làm cho những người dự phiên tòa phải rùng mình và khiến những viên bồi thẩm phải nhăn trán suy nghĩ nếu họ không ngủ. Một vài từ ngữ đủ để dựng lên một chiếc máy chém, ba động tác trong hai khoảng thời gian, nhanh hơn và chắc chắn hơn hai ông thợ mộc làm trong một tuần.

Ông không trách cứ gì về kẻ bị kết án, ông không quen biết gì anh ta nữa. Chính mắt tôi thẩy bằng chứng sau phiên tòa, trong hành lang : Destinat đi ra, chiếc áo lông chồn xinh xắn còn khoác trên vai, vẻ mặt nghiêm nghị. Rồi ông gặp người chồng tương lai của góa phụ : anh chàng này nói chuyện với ông bằng giọng cộc lốc, vẻ than vãn. Mặt anh ta còn đỏ hoe từ khi nghe bản án và vào thời khắc này, và chắc chắn, anh ta hối hận vì đã nã đạn vào bụng ông chủ của mình. "Thưa ô' Kiểm sá' trưởng, thưa ô' Kiểm sá' trưởng", anh ta rên rĩ còn Destinat thì nhìn vào mắt anh ta, ông trả lời : "Đúng rồi, anh bạn, chúng ta đã từng gặp nhau phải không nhỉ ? Tôi có thể giúp gì anh được đây ?" Không hề chế nhạo, tất thảy điều ấy đều một cách thành thật. Người kia không hết ngạc nhiên. Như thể đó là bản án thứ hai vậy.

Sau mỗi phiên tòa, Destinat đi ăn trưa ở nhà hàng Rébillion, đối diện với nhà thờ. CHủ quán là một người to béo có đầu tóc xoăn như rau diếp, da chỗ vàng chỗ trắng, miệng lổn nhổn răng xấu. Ông ta tên là Bourrache. Không ma mãnh lắm nhưng tính toán tiền rất sành điệu. Bản chất ông là thế. Không ai trách gì ông được. Khi nào ông cũng mang một chiếc tạp dề màu xanh lơ, khiến ông như một chiếc thùng ton-nô thắt đai. Trước đây ông có một người vợ ốm liệt giường vị bệnh bạc nhược như mọi người ở chỗ tôi vẫn thường nói. Ở đây người ta vẫn thường thấy một số phụ nữ lẫn lộn giữa sương mù tháng mười một với sự hỗn loạn tinh thần của họ. Từ đó đến nay, bà ta đã chết, vì những gì đã xảy ra từ vụ Áp phe hơn là vì căn bệnh mà bà chắc đã gắn bó suốt đời.

Vào thời đó, ba cô con gái nhà Bourrache là những bông hoa huệ nhỏ nhắn, nhưng có nụ máu thuần khiết làm nổi bật màu hoa cháy bỏng. Cô gái út mới mười tuổi. Nó không gặp may. Hoặc có thể rất may mắn. Ai mà biết được.

Hai cô gái khác chỉ có tên thôi, Aline và Rose, trong khi mọi người gọi cô em út là Hoa, một số người nổi máu thi sĩ còn thêm vô thành Hoa Bìm Bìm. KHi cả ba chị em đều ở trong phòng, tay mang nước, rượu nho và bát đĩa phục vụ khoảng mười người đàn ông ăn to nói lớn uống nhiều. Nhìn họ, tôi tưởng người ta đã để lạc những bông hoa trong một quán rượu quỷ quái. Nhất là cô em út, cô xinh tươi đến mức khác thường.

Khi Destinat vào nhà hàng, Bourrache, vốn là một người của thói quen, luôn nói với ông một câu thôi, một dấu phẩy cũng không thay đổi : "Thêm một tí xíu nữa thôi, thưa ông Kiểm sát trưởng !" Destinat không trả lời. Bourrache mời ông ngồi. Destinat có bàn của mình, một trong những chỗ đẹp nhất. Chỗ này ông đặt cả năm. Tôi không nói là chỗ tốt nhất vì chỗ này chỉ có một - nó gần cái chảo sành rất bự và, qua những tấm riđô, choán cả khu vực Toà án - chỗ tốt nhất lại dành cho Thẩm phán Mierck. Đó là một khách quen. Mỗi tuần ông ta đến bốn lần. Nhìn cái bụng ông ta thì biết, phệ đến đùi. Nước da của ông cũng thế, lổn nhổn những vết sẹo do bệnh sùi đỏ mặt, như thể là tất cả những chai rượu vang Bourgogne đã uống hết xếp hàng ở đó, chờ người ta dọn đi. Mierck không thích ông Kiểm sát trưởng là mấy. Người kia cũng đáp trả ông sòng phẳng. Tôi còn tin những gì tôi viết là chưa đúng sự thật, nhưng thấy hai ông này ngả mũ chào nhau vẻ nghiêm trang lắm, như thể mọi thứ làm cho họ đối lập nhau thật nhưng dù sao họ cũng cùng chung một điều bình dị.

Kỳ là nhất là ông Destinat ít khi đến quán Rébilion nhưng dẫu sao ông vẫn có bàn của riêng mình, ba phần tư thời gian trong năm không có người ngồi. Đây là phần thua thiệt không nhỏ cho ông Bourrache nhưng chắc ông này sẽ không đổi nó lấy bất cứ thứ gì. Ngay cả những ngày rất đông khách, khi mà tất cả nông dân trong vùng, sau khi đã sờ mó mông bò, uống một lít rượu mận từ tảng sáng, ào ào đến nhà hàng trước khi đến thư giãn ở Nhà chứa mẹ Lùn. Bàn ông Destinat vẫn không có người ngồi trong khi khách đến bị từ chối. Một hôm, Bourrache thậm chí còn đuổi thẳng cẳng một người buôn gia súc muốn ngồi vào chỗ đó. Ông này không bao giờ quay lại nữa.

"Một bàn Thượng đế mà không có Thượng đế còn hơn là một khách hàng chân lấm phân chuồng !" Ông Bourrache nói với tôi như thế khi tôi gặng hỏi ông.

Ghé blog mình chơi nhé

http://vn.myblog.yahoo.com/kelvin_tpst
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-25 08:43:55kelvin0o0>
CHƯƠNG 2


Ngày thứ hai đầu tiên trong tháng mười hai. Ở vùng quê tôi. Năm 1917. Thời tiết như ở Sibérie. Đất nhóp nhép dưới gót giày và âm thanh đó vang lộng tận gáy. Tôi còn nhớ cái chăn rộng mà người ta đập lên thi thể của cô bé và bị thấm nước ngay. Tôi còn nhớ hai viên cảnh sát, Berfurche, một người lùn, mập, có đôi tay heo rừng, lông lá mọc đầy và Grosspeil, một người quê ở Alsace có gia đình trốn ra nước ngoài bốn mươi năm trước đó. Hai người này canh chừng cái thi thẻ cô bé bên bờ kênh. Lùi xa hơn một tí có đứa con trai nhà Bréchut, một người khoẻ mạnh bụng to, tóc dựng đứng như rễ tre. Anh ta đang mân mê chiếc áo gilet của mình, không biết nên làm gì, đi hay ở. Chính anh ta là người đã phát hiện ra cô bé dầm mình trong nước trên đường đi làm. Hồi ấy anh làm bàn giấy ở văn phòng trường bến cảng. Bây giờ anh ta vẫn đang làm chỗ ấy, chỉ có điều anh ta đã già thêm hai mươi tuổi và trán trơn bóng như băng.

Một cơ thể mười tuổi thì không to là mấy, hơn nữa lại sũng nước mùa đông, Berfuche kéo một góc chân rồi thổi vào hai bàn tay để sưởi ấm. Gương mặt của Hoa Bìm Bìm lộ ra. Một vài con quạ lặng lẽ bay qua.

Cô bé giống một nàng công chúa trong truyện kể, môi nhợt nhạt xanh và mi mắt trắng bệch. Tóc cô lẫn vào những đám cỏ đã úa đỏ vì những buổi sáng giá băng. Đôi bàn tay bé nhỏ của cô khép lại trong khoảng không. Ngày hôm đó trời lạnh đến nổi mà râu ria mọi người bị tuyết phủ lên môi khi họ thở vào không khí, phì phò như những con bò mộng. Người ta giậm chân để cho máu lưu thông sưởi ấm hai bàn chân. Trên trời cao, những con ngỗng cục mịch vẽ lên những vòng tròn. Dường như chúng đã lạc đường thì phải. Mặt trời thu mình trong chiếc áo choàng làm bằng sương mù đan dần được cởi ra. Ngay cả đại bác cũng như đóng băng. KHông nghe tiếng gì cả.

"Có lẽ cuối cùng cũng đã đến lúc hoà bình", Grosspeil bạo dạn nói.

"Hoà bình cái con khỉ !" Đồng nghiệp của Grosspeil vừa nói vừa thả chiếc chăn len thẩm ướt lên cơ thể cô bé.

Người ta đang chờ các ông ở V. Cuối cùng thì họ cũng đến cùng ông Thị trưởng. Đầu tóc ông này đúng là đầu tóc của những ngày tồi tệ, đó là đầu tóc của người ta bị lôi ra khỏi giường không đúng lúc, hơn nữa lại nhằm vào lúc thời tiết tệ hại tới mức con chó mà người ta cũng không cho ra ngoài. Trong đoàn người còn có Thẩm phán Mierck, có viên Thư ký toà án mà tôi không bao giờ biết tên nhưng mọi người gọi ông ta là Vảy Kết vì căn bệnh eczêma quái ác đã ngốn nghiến nửa trái khuôn mặt, có ba viên cảnh sát hiến binh, những người không tự cho mình là kẻ ngớ ngẩn, rồi có một quân nhân. Tôi không biết quân nhân này làm gì ở đáy. Dù sao thì ông ta cũng không ở lại đâu : ngay sau đó ông ta đã gục xuống và người ta phải đưa ông đến quán cà phê Jacques. Người nhảy điệu pavan này có lẽ chưa bao giờ lại gần một lưỡi lê, trừ phi ở trong một xưởng vũ khí, và hơn thế nữa ! Ta có thể nhận thấy điều này qua bộ quân phục là lượt cẩn thận, như thể nó được may cho một người mẫu hãng Poiret. Chắc ông ta tham chiến gần một bếp lò bằng gang, ngồi trên chiếc ghế bành lớn làm bằng nhung rồi tối đến, trong lầu son gác tía, kể tình hình chiến sự cho các cô gái trẻ mặc váy khiêu vũ, tay cầm một ly rượu sâm banh, hoà mình vào những hợp âm rối răm của một ban nhạc thính phòng.

Đội chiếc mũ Gronstadt, vẻ đã ăn uống no nê thoả thích, Thẩm phán Mierck đúng là một người hách dịch. Nước xốt rượu vang chắc đã tô điểm cho tai và mũi ông ta nhưng điều này không làm cho ông ta dịu lại. Tự ông ta kéo chiếc chăn ra, nhìn Hoa Bìm Bìm, nhìn rất lâu. Những người khác chờ ông ta nói một tiếng, hoặc thở dài một cái. Dù sao thì ông ta cũng biết rõ cô bé đó chứ, hầu như ngày noà ông ta cũng gặp nó khi đến nhậu ở quán Rébillion. Ông ta nhìn thi hài nhỏ bé như nhìn một hòn đá hoặc một mẫu gỗ vậy : không hề động đậy, mắt nhìn lạnh lùng như nước chảy gần đó.

"Con gái Bourrache đấy", có người thì thầm vào tai ông ta, có vẻ như muốn nói : "Tội nghiệp cô bé, mới có mười tuổi, mới hôm qua thôi cô ấy còn mang bánh mì và dọn bàn cho ông". Ông ta nhảy xổ vào kẻ đã dám nói với mình như thế. " Thế thì đã sao nào, anh muốn tôi làm cái quái gì được nào ? Một xác chết thì cũng chỉ là một xác chết thôi !"

Đối với chúng tôi, trước tiên. Thẩm phán Mierck là thẩm phán Mierck, chấm xuống dòng. Ông ta có vị trí của mình và khư khư giữ lấy. Không ưa mấy nhưng chúng tôi vẫn tỏ sự kính trọng đối với ông ta. Nhưng sau những gì ông ta nói vào ngày thứ hai đầu tiên của tháng mười hai này, trước thi thể ướt sũng của cô bé và nhất là cách nói của ông ta, giọng đanh thép, vẻ như muốn cười, mắt lộ ra sự vui thích mạnh mẽ khi thấy một án mạng, một án mạng thật sự - không ai nghi ngờ đó là một án mạng thực sự cả ! -, vào thởi buổi chiến tranh, khi mà tất cả những kẻ giết người đều nghỉ việc ở chốn dân sự để cố sức trong bộ quân phục, vậy là sau khi ông ta trả lời, đùng một cái, ai ai cũng quay lưng lại với ông ta, chỉ nghĩ đến ông ta một cách ghê tởm.

"Tốt, tốt, tốt, tốt...", ông ta nói tiếp, giọng ngân nga như thể chuẩn bị đi chơi kỵ hoặc đi săn vậy. Rồi ông ta đói. Một ý ngông, một ý thích thất thường : ông phải có trứng luộc lòng đào, ông ta nói thêm : "Lòng đào nhé, chứ không phải chần nước sôi đâu !" Trứng ngay tức thì, ngay bên bờ kênh nhỏ, nhiệt độ âm mười độ C, bên cạnh thi thể của Hoa Bìm Bìm : điều này cũng gây sốc cho tất cả mọi người.

Một trong ba viên hiến binh, người đã quay lại sau khi đưa mụ đàn bà đỏm dáng mang quân hàm về, lại phải theo lệnh chuồn đi ngay để đi tìm trứng cho viên Thẩm phán. "Hơn cả trứng, đó là những thế giới nhỏ bé, những thế giới nhỏ bé", thẩm phán Mierck gọi trứng như thế, tay đập vỏ trứng bằng chiếc búa bằng bạc tí tẹo được cố tình rút ra khỏi túi mỗi khi cần, vì ông ta thường ngông như thế và tính ngông này khiến râu mép ông lem luốc lòng đào vàng óng.

Trong thời gian chờ trứng, ông ta đưa mắt lục lọi xung quanh, từng mét một, vừa tìm vừa huýt sáo, hai tay chắp sau lưng trong khi những người khác vẫn tìm cách sưỡi ấm. Sau đó ông ta nói mà không ai ngắt lời nữa. Miệng ông không đả động gì đến cái tên Hoa Bìm Bìm nữa, mặc dù trước đây ông ta đã từng gọi cô bé như thế, chính tai tôi đã nghe thấy. Kể từ bây giờ ông gọi cô bé là nạn nhân, như thế cái chết ngoài việc cướp đi sự sống còn lấy đi những cái tên đẹp đẽ của các loài hoa.

"Anh là người vớt nạn nhân lên à ?"

Đứa con trai nhà Bréchut vẫn lục lọi trong chiếc áo gilet của mình như muốn trốn vào đó. Anh ta gật đầu, thế là viên thẩm phán kia hỏi anh ta mất lưỡi hay sao. Con trai nhà Bréchut lắc đầu trả lời không. Người ta có cảm giác là điều đó làm cho viên thẩm phán điên tiết lên. Ông ta bắt đầu mất tâm trạng vui vẻ do vụ giết người mang lại, nhất là khi viên hiến binh chậm trễ và trứng luộc lòng đào chưa đến. Thế là con trai nhà Bréchut đồng tình miêu tả chi tiết trong khi người kia lắng nghe, miệng thỉnh thoảng thầm thì "tốt, tốt, tốt...".

Thời gian từng phút trôi qua. Trời vẫn rét như thế. Những con ngỗng rốt cuộc cũng biến mất. Nước vẫn chảy. Một vạt chăn chìm xuống, bị dòng chảy làm cho đung đưa, lật ngược, động đậy giống như một bàn tay đang đánh nhịp, chìm rồi lại nổi. Nhưng viên thẩm phán không nhìn thấy cảnh đó. Ông ta lắng nghe lời tường thuật của đứa con trai nhà Bréchut, không bỏ qua một chi tiết nhỏ nào, chăm chú đến quên béng cả trứng. Vào giờ phút này, người kia ăn nói còn rành rọt lắm, nhưng sau đó, anh ta sẽ biến những ý nghĩ rõ ràng đó thành một thiên tiểu thuyết, khi anh ta lê la hết quán cà phê để kể lại chuyện mình đã chứng kiến để rồi bị chủ quán lột hết tiền. Anh ta sẽ say mèm vào lúc nửa đếm, miệng gào tên của cô bé với giọng run lên chộn rộn, rồi tè ra quần những chai rượu đã nốc chỗ này chỗ nọ. Vào cuối buổi tối, mình mẩy sưng húp như lợn con, anh ta chỉ còn nước hoa chân múa tay trước đáp đông. Đó là những cử chỉ đẹp đẽ, nghiêm trang và bi thảm, nhờ men rượu mà ý vị hơn rất nhiều.

Cái mông to bự của Thẩm phán Mierrck trễ ra khỏi ghế săn, một loại ghế ba chân bằng da lạc đà và gỗ mun, loại ghế đã tạo cho chúng tôi rất nhiều ấn tượng khi nó được mang ra những lần đầu tiên, khi ông từ thuộc địa trở về... Ông ta đã từng ba năm đuổi bọn ăn trộm gà và tuồng ăn cắp bột về Ethiopie hay gì đó. Tại hiện trường, ông ta hết gấp ghế vào lại mở ra. Ông ta trầm tư ngồi trên đó như một họa sĩ ngồi bên cạnh người mẫu hoặc băng quơ bên cạnh một chiếc gậy có núm hình quả táo, tư thế của một vị tướng đang rỗi rãi.

Viên thẩm phán vừa nghe Bréchut vừa ăn trứng, vì trứng của ông cuối cùng đã đến. Những quả trứng được đựng trong một chiếc khăn màu trắng đang tỏa hơi. Chúng được anh chàng hiến binh phục tùng mang tới, anh này vừa chạy vừa để ngón út lên đường may của chiếc quần dài. Râu mép của viên thẩm phán bây giờ đã ngả thành màu vàng sẫm. Ông ta vừa lấy gót ủng nghiến nát vỏ trứng vừa dùng chiếc khăn mùi sao lớn bằng vải phin lau miệng. Tưởng chừng như nghe tiếng vỡ tan của đôi chim bằng thủy tinh. Vụn vỏ trứng dính vào ủng của ông ta như những cái cựa tí tẹo trong khi bên cạnh đó, cách vài bước thôi, Hoa Bìm Bìm đang nằm đó, dưới lớp vải liệm bằng len ướt sũng. Điều này đã không làm cho món trứng luộc lòng đào của viên thẩm phán mất ngon. Tôi còn chắc chắn rằng vì điều đó ông ta lại càng thấy ngon miệng hơn.

Bréchut đã kể xong. Viên thẩm phán vừa lẩm bẩm câu chuyện vừa nhấm nháp một cách sành điệu những thế giới nhỏ bé của mình. "Tốt, tốt, tốt...", ông ta vừa nói vừa đứng dậy, tay chỉnh tấm ngực. Rồi ông ta nhìn cảnh vật như dò xét đến tận đáy mắt. Người vẫn thẳng đơ, mũ chình tề như thế.

Buổi sáng trôi đi mang theo cả ánh sáng và giờ giấc của nó. Tất cả mọi người đều đứng như trời trồng, như những bức tượng bằng chì trên sân khấu tí hon. Mũi Berfuche đỏ lên còn mắt thì đẫm lệ. Da Grosspeil đã ngả sang màu nước. Tay Vảy Kết cầm cuốn sổ bỏ túi trong đó anh ta đã ghi ghi chép chép. Thỉnh thoảng, anh ta lấy tay gãi gãi lên má bị đau, lại bị nổi những vết mồi trắng do rét mướt. Người viên cảnh binh phục vụ trứng thì như được làm bằng sắp ong vậy. Ông Thị trưởng đã về chỗ ấm áp. Ông ta đã hoàn thành nghĩa vụ cỏn con của mình. Phần còn lại không liên quan gì đến ông ta nữa.

Viên thẩm phán hít căng lồng ngực luồn không khí tái xanh, tay chắp sau lưng, chân nhảy nhót một chỗ. Người ta đang chờ Victor Desharet, bác sĩ ở V. Nhưng viên thẩm phán không vội vàng gì nữa. Ông ta đang thưởng thức thời khắc và địa điểm, cố ghi sâu vào trong ký ức vốn đã có nhiều cảnh tượng giết người và hiện trường vụ án. Đó là viện bảo tàng của riêng ông ta và tôi tin chắc rằng bao quát viện bảo tàng đó, chắc ông ta phải có những cơn rùng mình không khác gì những cơn rùng mình của những kẻ giết người. Biên giới thật là mong manh giữa con thú và kẻ đi săn.

Bác sĩ tới : ông ta và thẩm phán làm thành một êkíp thiết thân ! Họ quen nhau từ hồi trung học. Họ xưng hô thân mật với nhau, nhưng miệng hai người được cấu tạo kỳ lạ đến nỗi tưởng chừng như họ xưng hô với nhau một cách trịnh trọng. Họ thường ăn với nhau tại nhà hàng Rébillion và cả trong các quán khác nữa ; họ ăn với nhau hàng giờ ; tất cả các món ăn đều qua miệng họ, nhất là món thịt heo và lòng : thủ, dạ dày nấu kem, chân giò nấu với bánh mì vụn, lòng, óc, bầu dục rán. Nhờ quen nhau và thường cho nhau những thứ như nhau, rốt cuộc họ đã trở nên giống nhau : cùng nước da, cùng những ngấn cổ màu mỡ, bụng cũng giống và mắt cũng giống, đôi mắt họ như thể nhìn lướt qua thế giới, tránh bùn đất và tránh luôn cả những cảnh thương tâm.

Desharet nhìn thi thể như nhìn một vật thí nghiệm ở trung học. Thấy rõ là ông ta sợ bị ướt găng tay. Dù sao thì ông ta cũng biết rất rõ cô bé nhưng dưới những ngón tay của ông ta, đó không phải là một đứa trẻ đã chết mà chỉ là một cái xác không hồn. Ông ta sờ môi cô bé, bắt mi mắt lên, giơ cổ Hoa Bìm Bìm lên và ở đó mọi người đếu thấy những vết lần tím như vòng cổ. "Bị bóp cổ chết !" Ông ta tuyên bố. Không cần phải tốt nghiệp trường Bách khoa để nói lên điều đó, nhưng ở đây, vào buổi sáng băng giá này, bên cạnh thi thể nhỏ bé, câu nói này như một cái tát vào mặt.

"Tốt, tốt, tốt...", Thẩm phán lại nói. Ông ta rất hài lòng vì có một án mạng, một án mạng thật sự bày ra ngay trước mặt, hơn nữa lại là một vụ giết hại trẻ em. Rồi thì, vừa quay gót vừa làm bộ làm tịch, râu thì dính lòng đổ trứng gà, ông ta nói :

"Thế cái cửa này là gì vậy ?" Thế là mọi người nhìn cánh cửa có liên quan như thể nó vừa hiện ra theo kiểu Đức mẹ Marie, một cánh cửa nhỏ hé mở bên bờ có bị đóng băng và xẹp xuống, một cánh cửa xuyên qua một dãy tường cao rộng và đằng sau dãy tường này là một công viên, một công viên nghiêm chỉnh và đằng sau tất cả những cây cối với cành trụi lá chằng chịt quấn vào nhau này, có bóng một ngôi nhà lớn và có kiến trúc phức tạp.

Bréchut là người vừa trả lời vừa bẻ tay trong lạnh giá :

"Là Công viên Lâu đài đấy...

- Một Lâu đài..., viên thẩm phán lại nói, vẻ như đếch cần đến anh ta.

- Vâng, Lâu đài nhà ông Kiểm sát trưởng.

- Xem kìa, vậy kia là...", viên Thẩm phán nói, tự nói với mình hơn là nói với chúng tôi khi đó chắc không đáng giá hơn phân chuột. Dường như ông ta thấy vui khi nghe tên địch thủ của mình và cái tên này lại quấn riết lấy mùi hôi thối của một cái chết tàn bạo, tên của một người có thế lực mà ông ta căm thù thôi, chắc vì đó là bản chất sâu xa của ông ta.

"Tốt, tốt, tốt...", ông ta lại nói. Bỗng nhiên ông ta mạnh khoẻ hẳn lên, dồn hết cơ thể phì nộn của mình trên chiếc ghế mát xa mông ngoại lai được đặt đối diện ngay với cánh cửa nhỏ dẫn đến Công viên Lâu đài. Ông ta ngồi yên như thế rất lâu, thân thể rét cóng như con chim sẻ đậu trên một sợi chỉ. Trong khi đó, cảnh sát hiến binh giậm chân và hà hơi vào găng tay, mũi con trai nhà Bréchut không còn cảm giác nữa và da Vảy Kết chuyển sang màu tím xám.
Ghé blog mình chơi nhé

http://vn.myblog.yahoo.com/kelvin_tpst
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 3


Phải nói rằng dù sao Lâu đài này cũng có một tầm quan trọng nào đó. Những người khó tính nhất cũng phải công nhận là nó rất uy nghi với những bức tường bằng gạch, mái bằng đá đen. Như một kỳ công trong khu phố sung túc - vâng, đúng thế, đúng thế, chúng tôi có một kỳ công - ngoài một bệnh viện luôn chật ních người trong những năm tháng xảy ra cuộc thảm sát thế giới, còn có hai trường học, một trường dành cho nữ, một trường dành cho nam và một Nhà máy, rất lớn, với những ống khói to tròn cao chọc trời, từ đó bay lên những cuộn khói và bụi bồ hóng, hè cũng như đông, đêm cũng như ngày. Nhà máy này từ khi được xây dựng vào cuối những năm tám mươi là nguồn sống cho cả vùng. Hiếm ai không làm việc ở đó. Tất cả hoặc hầu hết đàn ông vì nhà máy này mà bỏ ruộng đồng và vườn tược. Và từ đó, đất hoang và dây thép gai đã tràn dọc theo sườn đồi rộng mênh mông, nuốt chửng những vườn cây ăn quả, vườn nho hay những dãi đất phì nhiêu, màu mỡ.

Thành phố của chúng tôi không lớn lắm. Đó không phải là V., trái lại là đằng khác. Mặc dầu thế, người ta có thể lạc đường như chơi. Tôi muốn nói là thành phố có đủ những xó xỉnh tối tăm và lầu chòi để mỗi người ó thể tìm thấy cách xoa dịu sự sầu muộn của mình. Nhờ vào Nhà máy mà người ta có bệnh viện, trường học và thư viện nhỏ mà không phải bất cứ tác phẩm nào cũng được đưa vào.

Chủ Nhà máy không có mặt cũng chẳng có tên, đó là một tập đoàn và những kẻ ma rãnh thì nói quá thành côngsoócxiom. Những dãy nhà ở đã mọc lên chỗ trước đây người ta từng gieo mạ. Nhiều đường phố nhỏ được xây dựng giống hệt nhau. Nhà cửa được cho công nhân thuê với giá rất bèo, hoặc rất đắt nếu xét về mặt hòa hợp xã hội, sự phục tùng và im ắng. Công nhân thì không mong muốn gì hơn, họ thấy thật kỳ khi phải đái trong bệ xí chứ không còn đái trong một chiếc hố đen ngòm được khoét từ một tấm gỗ thông. Những trang trại bỏ hoang, những chỗ hiếm hoi còn sót lại, thì dồn vào một chỗ, ôm lấy nhau, chen chúc nhau quanh nhà thờ như có phản xạ, kết hợp hài hòa những bức tường cũ rích với những cửa sổ thấp lè tè. Qua những cánh cửa kho hé mở, mùi chua chua của phân chuồng và sữa đông thoát ra ngoài.

Người ta còn đào cho chúng tôi hai dòng kênh, một to một nhỏ. Kênh to là dành cho những chiếc xà lan chở than và đá vôi đến và đưa natri cacbonat đi. Kênh nhỏ tiếp nước cho kênh to phòng khi thiếu nước. Những công trình này đã kéo dài đến mười năm trời. Có những ông đeo cà vạt đi dạo khắp nơi, tiền khi nào cũng đầy túi và ồ ạt mua đất. Vào thời gian này, có người có thể say khướt cả tháng trời vì những tay lắm bạc đó sẵn sàng bỏ tiền chiêu đãi. Rồi một ngày, không ai thấy họ nữa. Họ đã ra đi. Thành phố đã thuộc về họ. Mọi người đã tỉnh rượu. Sau đó thì phải làm việc thôi. Làm việc cho họ.

Để trở lại câu chuyện Lâu đài, thành thật mà nói đó là tòa nhà uy nghi nhất thị trấn. Ông già Destinat, tôi muốn nói là người cha ấy, đã cho xây Lâu đai đó ngay sau thảm họa Sedan. Và lão không sợ tốn tiền. Ở quê tôi, nếu ít nói thì người ta thích áp đặt bằng những cái khác. Ông Kiểm sát trưởng luôn ở Lâu đài đó. Còn hơn thế : ông ta đã sinh ra và qua đời tại đó.

Lâu đài này rộng mênh mông, vượt quá tầm vóc con người. Hơn tế nữa, gia đình Destinat chưa bao giờ đông người cả. Lão Destinat từ khi có thằng con trai đã ngưng ngay đẻ. Danh thuận ngôn chánh thì ông đã thỏa mãn rồi. Nhưng điều này đã không ngăn cản ông vỗ béo những đứa con hoang rất dễ thương. Ông cho những đứa con ngoài giá thú này một đồng tiền vàng cho đến khi chúng tròn hai mươi tuổi. Khi chúng hai mươi mốt tuổi, ông viết cho chúng một bức thư giới thiệu đông thời cho chúng một cái đã tượng trưng vào mông để chúng đi thật xa kiểm tra xem trái đất có tròn không. Ở quê tôi, người ta gọi đó là lòng hào hiệp. Không phải ai ai cũng hành động như thế.

Ông Kiểm sát trưởng là hậu duệ cuối cùng chủa dòng họ Destinat. Sau ông sẽ không còn ai. Không phải vì ông không lập gia đình mà vì vợ ông chết quá sớm, sáu tháng sau khi học kết hôn. Vào buổi hôn lễ của họ, toàn bộ những nhà giàu có và có máu mặt trong vùng đếu đến dự. Cô dâu là người thuộc dòng họ Vincey. Tổ tiên bà đã từng chiến đấu ở Crécy. Chắc tổ tiên của tất cả mọi người đều đánh nhau ở đó cả nhưng không ai biết gì và cũng chẳng ai thèm quan tâm.

Tôi thấy chân dung bà, bức chân dung vẽ vào ngày cưới được treo ngoài tiền sảnh Lâu đài. Ông họa sỹ đến từ Paris đã nắm bắt được kêt cục cận kề của bà qua gương mặt. Nước da tái xanh và những nét cam chịu của kẻ sắp chết thật là ấn tượng. Bà tên là Clélis. Cái tên này không tầm thường đâu, nó được khắc đẹp đẽ vào tấm đá hoa cương màu hồng đặt trước mộ.

Ghé blog mình chơi nhé

http://vn.myblog.yahoo.com/kelvin_tpst
Đăng nhập để trả lời
0