Mộng Và Thực
Tịnh Nghiêm- Nghiêm Xuân Cường
Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bào ảnh
Như sương sớm, chớp sáng
Nên quán sát như vậy
Kinh Kim Cương
Những câu chuyện tình lụy thường xảy ra như cơm bữa và cũng chẳng mấy ai thèm để ý đến những chuyện lẩm cẩm xưa như trái đất ấy. Rồi đến đầu tháng 2-2007, một chuyện làm chấn động dư luận cả nước Mỹ cũng như trở thành chuyện cười cho các chương trình talk-show. Đó là câu chuyện của nữ phi hành gia kiêm Đại Tá Hải Quân Lisa Nowak. Số là một ngày đẹp trời đầu tháng 2, Lisa Nowak khởi hành từ nhà mình ở ngoại ô thành phố Houston, Texas băng qua 900 dặm đường lái xe không ngừng đến Orlando, Florida với ý đồ bắt cóc người mà bà cho là tình địch của mình. Để khỏi mất thì giờ ngừng lại ở các trạm nghỉ làm công tác vệ sinh, Lisa đã đeo một loại tã lót người lớn của NASA (Cơ Quan Hàng Không và Không Gian Hoa Kỳ) dành cho các chuyến du hành không gian. Do biết trước được lịch trình giờ bay của "tình địch", Lisa đã chận bắt được người này và khi cô ta không chịu mở cửa xe để nói chuyện, bà giả dạng làm người lỡ độ đường cần đi quá giang. Khi cô này quay cửa kiếng xuống để nói chuyện, Lisa Nowak đã xịt hơi cay vào mặt đối thủ. Nạn nhân phóng xe chạy trốn và gọi an ninh phi trường. Kết quả là Lisa Nowak, tháng 7-2006 là một nữ phi hành gia của phi thuyền con thoi (space shuttle) Discovery, là mẫu người lý tưởng của hằng trăm ngàn trẻ em ở tuổi đang lớn, nay trở thành một nghi can bị kết tội hành hung và toan bắt cóc người, gây nhục nhã cho mình và những người thân yêu.
Điều khôi hài và mỉa mai ở đây là rõ ràng nữ phi hành gia Lisa Nowak là một người hết sức thành công trong lãnh vực học vấn cũng như nghề nghiệp, là một người cực kỳ thông minh và bản lãnh, đã trải qua bao nhiêu là thử thách của cuộc đời. Ra trường đồng thủ khoa ở trung học, bà đã tốt nghiệp trường Đại Học Hải Quân Mỹ với văn bằng Kỹ Sư Hàng Không Và Không Gian năm 1985 và năm 1996 được tuyển vào chương trình không gian Hoa Kỳ sau một cuộc tuyển lựa thật cam go. Sau mười năm huấn luyện gian lao, bà đã trở thành chuyên gia hàng không trong chuyến bay 13 ngày của phi thuyền Discovery vào tháng 7 năm 2006 mà công tác của bà là điều khiển chiếc tay robot (robotic arm) của phi thuyền. Người ta ai cũng cười cho bà Lisa Nowak là người mê ngủ, không biết phân biệt giữa mộng và thực.
Nhưng thế nào là sự thực? Có thật sự là chúng ta nắm bắt được sự thực hay không hay chỉ là một cái ảo tưởng nào đó mà ta cho là sự thực.
Chúng ta ai cũng theo đuổi một giấc mơ nào đó và gìn giữ một ấn tượng gì đó về một số vấn đề then chốt của cuộc đời. Một là về con người của chính mình. Thí dụ như ta là Ông (hay Bà) XYZ nào đó, ở tuổi đó ta phải ăn mặc như vậy, cư xử như vậy, gặp người nào đó ta sẽ ăn nói như vậy, gặp người nào khác ta sẽ ứng xử như vậy…v.v… Sự thật là những điều ta tưởng (impression) đó được nhìn qua cặp mắt kính chủ quan của cái ta mà cái ta đó thì thay đổi trong từng giây từng phút nên không thể nào khách quan. Một thí dụ nhỏ là nếu ta đang phải chờ đợi ai thì năm, mười phút tưởng như là cả giờ đồng hồ còn ngày vui thì bao giờ cũng qua đi thật là mau. Con người thì thường hay chủ quan, cái gì mà mình thích thì dù xấu đến mấy cũng là tốt, còn ngược lại, dĩ nhiên là dù tốt đến mấy cũng…không khá nổi, như ca dao Việt Nam đã có câu:
Yêu nhau yêu cả đường đi
Ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng.
hoặc
Yêu nhau thì ném bã trầu
Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra.
Tuy nhiên, ấn tượng, nhất là ấn tượng về chính mình, là một thứ hết sức dễ sai lầm. Người ta thường tự lừa dối mình để rồi chính mình tin vào cái ảo tưởng do mình tạo ra- như nhà văn Trần Kiêm Đoàn đã nhận định thật xác đáng trong truyện dài Tu Bụi, tác phẩm mới đây của anh:
“Nói láo và nói láo hoài chồng chất; nói láo và nói láo hoài với chính mình; nói láo và nói láo hoài với nhau... rồi bỗng một sáng đẹp trời nào đó họ tin điều nói láo có thật. Sự dối trá tu luyện lâu ngày thành yêu tinh…Yêu tinh trở thành một ảo tưởng của chân lý. Họ trở lại tin ảo tưởng là sự thật. Một sự thật xây dựng bằng dối trá xuất hiện như một chân lý mới mẻ còn đáng tin cẩn hơn là sự thật chính nó. Họ hớn ở tìm mình và tìm nhau. Họ xây thành quách của tư tưởng để bảo vệ và vinh danh đìều dối trá trơ lỳ sau mặt nạ hào quang của chân lý” (Trần Kiêm Đoàn, Tu Bụi, Titan Corporation, 2006, trang 124)
Tương tự như thế, Joseph Goebbels, Bộ Trưởng Tuyên Truyền của Đức Quốc Xã, một tội phạm chiến tranh của Tòa Án Quốc Tế Nuremberg, cũng có một câu nói mà đến nay vẫn còn được các chế độ độc tài (và không độc tài) trên thế giới đem ra ứng dụng mỗi ngày:
“Nếu ta nói một lời thật láo khoét nhưng cứ tiếp tục nhắc đi nhắc lại, dần dần mọi người sẽ tin điều láo khoét ấy. Sự láo khoét chỉ có thể được duy trì khi nhà nước có thể che chở cho người dân không phải gánh chịu những hậu quả kinh tế, chính trị hoặc quân sự của lời láo khoét ấy. Vì thế, điều tối quan trọng là nhà nước phải dùng tất cả các quyền lực để trấn áp tất cả các sự chống đối bởi lẽ sự thật là kẻ tử thù của láo khoét, và do đó là kẻ thù nguy hiểm nhất của nhà nước” (If you tell a lie big enough and repeat it often enough, people will eventually come to believe it. The lie can be maintained only such time as the state can shield the people from the political, economic and/or military consequences of the lie. It thus becomes vitally important that the state use all of its power to repress dissent, for the truth is the mortal enemy of the lie and, by extension, the greatest enemy of the state).
Sống không thật với chính mình, sống hời hợt với tha nhân, con người chỉ là những diễn viên trên sân khấu cuộc đời. Người ta chấp những cái giả dối, tạm bợ là cứu cánh của cuộc sống, để rồi đến một ngày những cái vỏ bề ngoài trở thành thước đo để đánh giá và định nghĩa con người của mình. Lại xin mượn lời nhà văn Trần Kiêm Đoàn:
“Vua thật, quan thật, tướng thật, người thật, việc thật, thiện thật, ác thật giữa đời đang chen chúc và đối mặt với vua giả, quan giả, tướng giả, đời giả, thiện giả, ác giả trên sân khấu. Nhưng "lộng giả thành chân" - cái giả biến ảo thành cái thật - vẫn thường là bi hài kịch của sự đời. (Trần Kiêm Đoàn, sđd, trang 249).
Hơn một thế kỷ trước, nhà thơ Nguyễn Khuyến đã mượn lời vợ người phường chèo để châm biếm cái thói vênh váo, coi chuộng bề ngoài ấy như sau:
Lời Vợ Người Phường Chèo*
Xóm bên đông có phường chèo nọ
Bỗng nửa đêm gọi vợ truyện trò
Rằng: Ta thường làm quan to
Sao ngươi coi chẳng ra trò trống chi.
Vợ cả giận, mắng đi mắng lại
Tuổi đã già sao dại như gì
Vua chèo còn chẳng ra chi
Quan chèo chi nữa khác chi trò hề.
*(đề tựa có thể sai vì ghi lại theo trí nhớ của người viết)
Một số những điều then chốt khác về cách hành xử của cuộc đời giúp định nghĩa con người của chúng ta. Có người thì thích ăn mặc xuề xòa nói năng khiêm tốn, nhỏ nhẹ. Có người thì thích ăn mặc chỉnh tề, nói năng mạnh bạo, thô tháo cho
“đáng mặt anh hùng”. Có người thì tiêu xài rộng rãi còn có kẻ thì dè xẻn từng đồng. Do bởi đâu mà mỗi chúng ta có những thói quen khác nhau, cái nhìn khác nhau như thế? Ai là người có thể định nghĩa cái “tốt, xấu”, “đúng, sai” khi cùng một câu nói, cùng một hành động mà có khi người này cho là sai, người kia cho là đúng, ngay cả có khi cùng một con người mà hôm trước cho là điều này đúng, ngày hôm sau cũng một việc ấy- song vì cái tâm của mình đã đổi thay lại cho là sai. Có một câu truyện kể về một anh chàng trai trẻ nọ si mê một cô nàng bán quán. Đứng xa mà ngắm, chàng trai mê mẩn vì nét thanh tú của người trong mộng, lại thêm đôi mắt mơ màng với nụ cười túm tím, mái tóc huyền chấm ngang vai… Rồi chàng thấy nàng làm rơi chiếc khăn mu-soa (mouchoir). Vội vàng, chàng trẻ đợi lúc người đẹp không để ý, chạy đến chụp lấy chiếc khăn đem về nhà. Đêm ngày chàng ôm ấp hít hà miếng vải nhỏ còn phảng phất chút dư hương của mỹ nhân. Thế rồi ít ngày sau, chàng trẻ đánh bạo đến gần để chiêm ngưỡng người đẹp thì mới khám phá là nàng bị đau mắt hột kinh niên và chiếc khăn mu-soa mà mình hít hà mấy tuần nay là một trong những miếng khăn phế thải từ đôi mắt bệnh tật ấy! Chàng trẻ kinh hoàng chạy thật nhanh về nhà đem chiếc khăn đốt ngay cùng với giấc mộng yêu đương của mình. Tại sao cùng một chiếc khăn mu-soa mà lúc trước được thương được nhớ, có thể là đối tượng của thơ, của nhạc mà sau thì lại gây nỗi sợ hãi, kinh tởm? Đó là bởi vì cái tưởng của con người ta mà thôi. Khi không rõ sự thật, trí tưởng tượng của chàng trai đã làm việc “overtime” để thêu dệt nên những hình ảnh thơ mộng về người đẹp, song khi biết sự thật thì cách nhìn của chàng đã khác hẳn.
Kinh sách nhà Phật có nhắc đến hình ảnh của một con chó bị người ném một hòn đá. Bị đau điếng, nó chạy theo hòn đá sủa ầm ĩ mà không biết là đau khổ của mình là do bởi người ném. Cũng vậy, con người bị ngũ uẩn sai sử lâu ngày mà không hay nên lầm tưởng những đau khổ của mình là do bởi hoàn cảnh chung quanh song nào có biết nguồn gốc của đau khổ là ở ngũ uẩn nơi chính mình. (Thiền Trong Đời Sống, Thượng Tọa Thích Thông Triết, pháp thoại 2006). Trong câu truyện ở trên, cùng một chiếc khăn tay mà do vọng tưởng sai khiến nên chàng trai trẻ khi trước thì say mê nhung nhớ, sau lại kinh tởm sợ hãi. Nói tóm lại thì phần lớn bởi huân tập, bởi hoàn cảnh chung quanh mà người ta cư xử theo một cách nào đó, lâu ngày thành thói quen, không thay đổi được và sướng hay khổ cũng phần lớn do cái tâm ấy tạo ra.
Tôi nhớ có lần trong một lớp về Triết Học, giáo sư đặt câu hỏi
"sự thật là gì" (what is reality, what can be called "real") cả lớp không ai có câu trả lời. Sau một hồi lâu do dự, vài sinh viên rụt rè đưa tay lên: Thưa Thầy
sự thật là những gì ta có thể sờ mó, cảm nhận được. (Reality is what can be touched or felt). Có người thì trả lời:
”Sự thật là hiện hữu”, theo cách nói của Descartes:
Tôi suy nghĩ, tức là tôi hiện hữu (I think therefore I am). Nếu mở tự điển Thesaurus từ "reality" có ít nhất là hai mươi định nghĩa thí dụ như:
sự tuyệt đối (absoluteness),
cụ thể (concreteness),
sự đáng kể (substantiality),
sự có thể cảm nhận được (perceptibility)…. Sự chú trọng vào cái
bề ngoài có thể cảm nhận được (perception, perceptibility) đưa đến cả một kỹ nghệ quảng cáo của Hoa Kỳ. Cách đây không lâu hãng máy ảnh Canon có một chiến dịch quảng cáo sử dụng danh thủ quần vợt Andre Agassi với khẩu hiệu
"Perception is everything" (tạm dịch:
Bề ngoài là tất cả). Quan điểm này thật sự đã đẻ ra nhiều kỹ nghệ khác như kiểu mẫu thời trang, kỹ nghệ sửa sắc đẹp, các mỹ viện giúp xuống cân...Một tin tức nóng bỏng làm nhiều người chú ý vài tuần qua là sự qua đời của cô Anna Nicole Smith. Năm 1994, Anna Nicole Smith nổi tiếng vì lúc bấy giờ, chỉ mới 26 tuổi, cô đã thành hôn với một ông tỷ phú dầu hỏa 89 tuổi. Sau đó, qua hơn một thập niên cô đã tranh tụng với gia đình của người tỷ phú này để tranh giành số tiền kếch sù của ông này. Giữa tháng 2-2007, Anna Nicole Smith đã từ trần vì uống thuốc quá liều do phản ứng các thuốc do sự nghiện ngập của cô cùng với thuốc giúp cho việc nhịn ăn xuống cân để xứng đáng là phát ngôn viên đại diện cho hang Trim Fat. Điều mỉa mai là cô mơ ước có được một hình ảnh giống như nữ minh tinh quá cố Marilyn Monroe( MM) của thập niên 60 và kết quả là cô đã có một cái chết không khác mấy cái chết của MM- một cái chết do sự tự hủy hoại. Ai cũng biết câu châm ngôn “
Cái áo không làm nên ông thầy tu”, hoặc “
Đừng bao giờ đánh giá cuốn sách bằng cái vỏ ngoài của nó” (Do not judge a book by its cover). Hiển nhiên là trong giòng đời vội vã và giữa trăm ngàn tiếng ồn ào của cuộc sống chụp giựt giá trị của những câu châm ngôn trên đã bị vất qua một bên đường.
Cuối tuần trước, chúng tôi nhận đuợc một tin buồn. Một người bạn đồng nghiệp của vợ tôi đã qua đời đột ngột sau một tai nạn xe hơi. Cô là một bác sĩ tuổi trẻ, mới ba mươi sáu, tài cao, hết sức khiêm tốn và nhã nhặn với mọi người. Mỗi cuối tuần, cô đều lái xe hơn hai tiếng đồng hồ qua một tiểu bang lân cận để săn sóc và an ủi người mẹ đang bị bệnh ung thư. Vợ tôi hết sức bàng hoàng trước tin buồn kinh khủng này. Làm sao có thể giải thích được là một người hiền,ngoan, dễ thương, hiếu thảo lại có thể chịu một số phận đau thương như thế. Tất nhiên là theo thuyết nghiệp quả của đạo Phật, chúng ta giải thích là cô bạn của chúng tôi đã trả một dư báo còn lại từ đời trước, và trong sự thương tiếc người quá cố, chúng ta cố gắng sống sao cho tỉnh thức, lợi mình, lợi người. Nhận biết cuộc đời vô thường và ngắn ngủi như thế, chúng ta rút tỉa được hai điều: một là cố gắng sống sao cho có ý nghĩa để không uổng phí đời mình, hai là thương yêu mọi người chung quanh, biết đâu lời ta nói với người thân yêu lại không là lời cuối. Một cựu tù nhân của Trại Tập Trung Auschwitz của Đức Quốc Xã kể lại là đời bà có một điều ân hận nhất. Năm 1943 bà 8 tuổi và câu em trai thì 6 tuổi. Hai chị em cãi vã về một chuyện nhỏ gì đó rồi trong lúc bực tức cô bé 8 tuổi đã mắng cậu em trai: “
Tao sẽ thù mày đến suốt đời!!” (I’ll hate you forever!!). Một câu nói tuôn ra trong sự bực tức, thế thôi nhưng đã trở thành nỗi ám ảnh khi hai chị em đều bị bắt vào trại tập trung và không bao giờ gặp lại nhau. Người chị, bây giờ đã ở tuổi 72, vẫn nhớ mãi lời nói đau đớn với em mình nhưng không sao lấy lại được. Chúng tôi gặp cô bạn xấu số trên vào mùa hè năm 2005 lúc cô ăn mừng tân gia. Lúc bấy giờ cô ấy có nghĩ là mình sẽ không còn sống bao lâu chăng? Chúng ta không ai quyết định được chiều dài sinh mệnh của mình, nhưng chắc chắn ta có thể quyết định chiều sâu của sinh mệnh tức là cách sống của mình như Ni Sư Đạo Chứng, tác giả của Niệm Phật Chuyển Hóa Tế Bào Ung Thư, đã dạy: “
Nhiều người chỉ nghĩ cho riêng mình, không biết quan tâm đến người khác, cũng không biết trân trọng sinh mệnh hữu hạn của mình để cống hiến, để phục vụ mà chỉ suy nghĩ những điều tiêu cực. Cuộc sống như vậy, dù sống một trăm năm, sống hai trăm năm, cũng là uổng phí vô ích…” (Niệm Phật Chuyển Hóa Tế Bào Ung Thư, dịch giả Thượng Tọa Thích Minh Quang, Nhà Xuất Bản Bồ Đề Tâm, Michigan, 2006)
Trong Kinh Đại Phước Đức, Đức Phật dạy chúng ta: “
Không thân thiện kẻ ngu. Kết bạn với thiện tri thức. Tôn kính bậc đáng kính. Đây là những phước báu lớn.” Kẻ ngu hoặc vô minh là kẻ tin là chỉ những điều mắt ta thấy, tai ta nghe, mũi ta ngửi, lưỡi ta nếm, thân thể ta xúc chạm, tâm ta nghĩ tưởng -là tất cả những thứ ở trên đời. Cách nhìn này hết sức giới hạn tiềm năng của chúng ta. Thế nên, nếu ta lệ thuộc vào các giác quan của mình, hoặc nghĩ là mình chỉ có thể đạt được hạnh phúc trong thế giới vật chất bên ngoài, Đức Phật gọi ta là kẻ ngu. Nếu chỉ bám vào hình tướng bên ngoài để xác quyết là mọi việc có thật hay không ta có thể xem những thứ như các dinh thự vĩ đại, những công trình xây cất như tòa Tháp Đôi Trung Tâm Mậu Dịch Quốc Tế (World Trade Center) là mãi mãi trường tồn. Vậy mà như ai cũng biết, những thứ ấy còn đó, mất đó trong khoảnh khắc khi cơ duyên xảy đến. Phàm người ta khi có chút thành công, chút tiền của thường hay chấp vào những thứ ấy mà cho rằng đó là những điều quan trọng nhất của cuộc đời. Vì tài sản vật chất thường rất hào nhoáng, trông thấy trước mẳt, sờ nắm trong tay được nên người ta cho rằng chúng rất thật, đây cũng là điều bình thường. Thế nhưng câu truyện sau đây cho thấy sự tai hại của lối nhìn hời hợt đó:
Thuở xưa Đức Phật trú tại nước Xá Vệ. Trong thành có một vị Bà La Môn tuổi gần tám mươi, giàu có vô số. Nhưng ông lại là người ngu ám ngoan cố, xan tham khó độ, không tin đạo đức, không biết vô thường, ham thích cất nhà to lớn đẹp đẽ. Ông cất nhà trên, nhà dưới, đài hóng mát, nhà sưởi ấm, dãy bên đông, dãy bên tây…cả mấy mươi gian, duy chỉ còn mái hiên che nắng căn nhà sau là chưa xong. Lúc đó vị Bà La Môn để hết tâm trí lo chỉ huy mọi người làm việc. Đức Phật dung Phật nhãn thấy mạng ông sống không hết ngày hôm đó. Thế mà ông không tự biết, cứ mải miết lo tính nhọc nhằn, đến nỗi thân tâm tiều tụy, thật vô phước đáng thương!
Đức Phật cùng A Nan đi đến nhà ông, thăm hỏi: “Ông có nhọc mệt lắm không? Nhà cửa xây dựng nhiều như vậy dùng để làm gì?”
Ông lão đáp: “Nhà trước dùng tiếp khách, nhà sau để ở, hai dãy bên đông bên tây dành cho dâu con, tôi tớ và cất chứa của cải. Mùa hạ thì lên đài hóng mát, mùa đông lại vào phòng sưởi ấm.”
Đức Phật nói: “Đã lâu nghe danh đức của ông mà nay mới có dịp trò chuyện. Tôi có một bài kệ quan trọng có ích lợi cho cả kẻ còn người mất, muốn đem tặng ông. Không biết ông có vui long nghỉ tay ngồi nói chuyện một chút không?”
Ông lão đáp: “Hôm nay bận lắm, không thể ngồi trò chuyện, xin hẹn hôm khác đến sẽ thong thả luận bàn. Còn bài kệ quan trọng gì đó xin nói ngay đi.
Ta Cứ Tưởng Trần Gian Là Cõi Thật
Thế Cho Nên Tất Bật Đến Bây Giờ
Lúc ấy, Đức Thế Tôn liền nói kệ:
Có con cái tài sản
Người ngu phải rộn ràng
Ta còn không thật có
Lo gì của và con
Nóng nên ở chỗ này
Lạnh nên ở chỗ kia
Người ngu lo tính hoài
Không biết lẽ đổi thay
Kẻ ngu muội cực cùng
Tự cho mình là trí
Ngu mà tưởng hơn trí
Đó chính là cực ngu!
Vị Bà La Môn nghe xong nói: “Bài kệ này hay thật. Nhưng hôm nay tôi rất bận, xin bữa khác hãy đến bàn luận.”
Đức Phật chỉ còn biết xót thương ra đi.
Ông lão sau đó đích thân chỉ huy mọi người gác đòn dông. Không ngờ cây đòn dông rơi xuống trúng vỡ đầu chết! Con cháu than khóc động cả hàng xóm chung quanh.
Đức Phật đi chưa bao xa liền xảy ra biến cố này. Khi Phật đến đầu làng gặp vài mươi người Phạm Chí, họ hỏi Phật: “Ngài từ đâu lại?”
Đức Phật đáp: “Ta vừa đến nhà ông lão mới chết để thuyết Pháp cho ông nghe. Nhưng ông ta không tin lời Phật, không biết lẽ vô thường, giờ đây bỗng chốc đã sang đời khác!”
Rồi Đức Phật nói lại bài kệ trước cho các vị Phạm Chí này nghe, ai nấy đều hoan hỉ chứng được Pháp nhãn.
Bấy giờ Đức Thế Tôn lại nói kệ:
Ngu si gần người trí
Như muỗng kia múc vị
Dầu gần gũi rất lâu
Vẫn không thông hiểu pháp.
Thông đạt gần người trí
Như lưỡi kia nếm vị
Dầu gần nhau giây lát
Liền hiểu rõ đạo mầu.
Người ngu làm điều chi
Cũng rước họa vào mình
Thích chí làm điều ác
Tự chuốc lấy tai ương
Làm xong điều bất thiện
Xét lại tâm ăn năn
Đầm đìa rơi nước mắt
Bởi nhân quả không làm.
Các Phạm Chí nghe thêm bài kệ này lòng tin càng kiên cố, đảnh lễ Đức Phật rồi hoan hỉ phụng hành. (Kinh Pháp Cú Thí Dụ, bản dịch Thích Minh Quang, Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh, 1998).
Cuộc sống tất bật làm cho ta ít có thì giờ nghĩ đến việc gì khác hơn là kiếm sống và thỏa mãn những nhu cầu vật chất của bản thân và của gia đình mình. Như vậy thì chúng ta đâu có khác gì người Bà La Môn giàu có trong câu truyện kể trên. Chúng ta lo cho thân thể của mình, lo ăn uống, ngủ nghỉ. Nếu thân thể dơ dáy ta tắm rửa mỗi ngày. Vậy mà ta đã lo gì cho tâm trong mấy chục năm trời sinh sống? Ni Sư Ayya Khema, sáng lập viên của Buddha-haus, Đức Quốc, cũng là tác giả của hai mươi lăm đầu sách về Phật pháp nhắc nhở chúng ta: “
Tất cả chúng ta đều biết giữ cho thân thể sạch sẽ. Ta tắm rửa mỗi ngày ít nhất một lần hay nhiều hơn. Khi ra đường ta mặc quần áo sạch sẽ. Tối đến ta lo cho thân ngủ nghỉ. Nếu không, ta không đủ sức đương đầu với những khó khăn trong cuộc đời. Ta cần có một mái nhà ở để che cho thân khỏi mưa, gió, nóng, lạnh. Thiếu những thứ đó thân sẽ không chịu đựng nổi. Ta còn bồi dưỡng cho cơ thể bằng những thức ăn chọn lọc, bổ dưỡng, lo tập thể dục cho thân được cường tráng, khỏe mạnh; dầu không tập chúng ta cũng đi đứng, hoạt động, vì nếu không chân tay ta sẽ teo tóp. Tâm cũng cần được chăm sóc giống như thế.” (Being Nobody, Going Nowhere, Ayya Khema, Wisdom Publications, Boston 1987, Việt dịch: Diệu Liên Lý Thu Linh). Xét cho cùng, “
duy tuệ thị nghiệp -chỉ có trí tuệ là sự nghiệp” là câu châm ngôn ta thường nghe trong nhà thiền, vì chỉ có tâm mới là tài sản có thể đem theo khi xác thân tứ đại này tan rã. Vậy mà người ta bỏ hết công sức lo sao cho ấm thân còn phần tâm linh thì lại hoàn toàn xao lãng. Nếu ta lầm tưởng rằng có tài sản vật chất mới là quan trọng và để việc theo đuổi cuộc sống vật chất lèo lái hướng đi của đời mình thì ta cũng đang mê ngủ chẳng khác gì nữ phi hành gia Lisa Nowak, có khác chăng chỉ là một giấc mộng dài hơn mà thôi. Xin mượn những giòng thơ sau đây thay cho lời kết luận:
Mộng Và Thực
Trăm năm đó xuân đi, xuân đến
Cuộc đua tranh, bóng nến lung linh
Đời bao nhiêu sợi ân tình
Bấy nhiêu oan trái chớ hòng gỡ ra
Người gieo hạt mong hoa kết trái
Chẳng vun trồng sao trách cao xanh
Trắng đen sẽ rõ rành rành
Lưới trời lồng lộng chạy nhanh được nào
Đời muôn lối, cheo leo hiểm trở
Được và thua, đừng kể khúc nôi
Chân tâm: viên ngọc sáng ngời
Ai người xao lãng một đời trầm luân.
3-20-2007
NXC