Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Thi Sĩ Và Mùa Xuân

11 trả lời, 75 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-14 02:23:08Leo*>

 
 1. MÙA XUÂN CỤ HỒ
 

Trong cuộc đời 79 mùa xuân của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, có 30 mùa xuân “Tha hương”, cộng thêm hai mùa xuân vừa tha hương vừa nằm trong ngục Tưởng Giới Thạch. Trong 30 mùa xuân cách xa Tổ quốc ấy cũng có hai lần đón xuân tại nhà tù Victoria ở Hồng Kông và 5 cái tết ở trên đất Liên Xô, chỉ có đọc sách mà không được hoạt động nhiều (từ năm 1934 đến năm 1938).


Nếu tính từ tuổi 17 đã biết tự lập thì trừ đi những năm thơ ấu, những năm “ly hương” và tù ngục, Bác Hồ thân yêu thực sự chỉ “ăn” được 30 cái tết trong nước. Chưa được một nửa cuộc đời - 17 mùa xuân lênh đênh biển cả, 4 xuân trong xà lim, 5 xuân ít được hoạt động… Những mùa xuân đắng cay ấy cũng không dồn đủ ngọt ngào cho những xuân còn lại của Người. Bác Hồ đã một lần nói với đồng chí già Hoàng Đạo Thúy rằng : “Người ta ai cũng là người, ai cũng có vui, có buồn… Với anh em, đồng chí, đồng bào, tôi cố giữ cho mình được vui…”
Bác không nói tới vế sau, nhưng ai cũng hiểu. Với niềm tin tưởng và tinh thần lạc quan cách mạng. Người đã có những mùa xuân tươi đẹp nhất. Phải chăng đó là mùa xuân năm 1923 trên đất Pháp, khi Người viết truyền đơn cổ động mua báo Le Paria. Mùa xuân ấy, lần đầu tiên, sau bao nhiêu năm kiểm nghiệm cuộc sống, Nguyễn Ái Quốc viết : “Cho đến nay chủ nghĩa tư bản chỉ là những vách tường dày ngăn cản những người lao động trên thế giới hiểu nhau và thương yêu nhau”. Mùa xuân năm 1924, Người đã đến Mátxcơva quê hương của một mùa xuân mới. Mùa xuân năm 1930 là một mùa xuân tươi đẹp, sung sướng nhất của Bác Hồ, vì “từ nay đã có Đảng lãnh đạo, cách mạng sẽ thành công”. Mùa xuân năm 1941, sau 30 năm cách xa Tổ quốc, sau khi mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ ở biên giới Việt - Trung, theo nội dung sách sau này được in lưới tên gọi Con đường giải phóng. Con đường mới đi được chặng đầu trong khí trời trong lành của một buổi sớm xuân, trong hương thơm của hoa rừng biên cương, Người trở về Tổ quốc.
Những mùa xuân phấn khởi như vậy rất ít với Người, vì rằng Người đã nghĩ mình trong bước gian truân, tai ương ràn luyện tinh thần thêm cao, như Nguyễn Trãi đã tự nói “vì trời giao ta làm việc lớn nên thử thách ta”.
Mùa xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một mùa xuân của nghĩa tình, chan chứa lòng yêu thương đồng cảm với nhau. Xuân năm 1959, trên đất Liên Xô, Bác nói với các cháu thiếu nhi : “Tết bây giờ khác trước rồi. Mùa xuân của chúng ta không phải là ba tháng mà là dài hơn, gia đình, họ hàng của ta là cả gia đình quốc tế vô sản”. Người mong muốn mùa xuân cho mọi người, xuân ở trong mọi ngày. Trong ngày xuân, gặp được đồng bào, đồng chí, bạn bè, người lại thấy Xuân này, xuân lại thêm xuân, nước non xa, anh em gần, vui thật là vui!.
Khi Tết đến, xuân về, dù không có tiền bạc, bánh quà để tặng những người nghèo khổ, Bác vẫn đến với họ, sẻ chia một tấm lòng, một sắc xuân của trái tim Người. Cô công nhân vệ sinh bất ngờ “không bao giờ nghĩ là Bác đến”. Hiền lành như một ông Tiên, ông Bụt, Bác xót xa mà nói “Bác không đến thăm cháu, còn thăm ai?”. Mùa xuân ấy đối với căn nhà rách nát nghèo nàn, trong một hẻm phố nhỏ của chị công nhân thật là “một mùa xuân cả thế gian, phải đâu lãng phí cỗ bàn mới xuân” như lời Bác dạy.
Nếu như “Chủ nghĩa cộng sản là mùa xuân của nhân loại” còn quá cao trên đỉnh núi, mà ta chỉ chiêm ngưỡng được trong những ngày trời đẹp, hoặc còn quá xa như một viễn cảnh, thì trong những ngày này, thế giới này, quả đất này, có thể đã có một mùa xuân “không gì ngăn cản được những người lao động trên thế giới hiểu nhau và thương yêu nhau”. Đó là lời tuyên bố của Nguyễn Ái Quốc trong mùa xuân năm 1923. Đó là mong mỏi của Bác suốt cả cuộc đời mình mong muốn “Mùa xuân dài hơn”, mùa xuân với áo ấm, cơm no, với tự do, hạnh phúc, với cái “tâm”, cái “thiện” cho mỗi con người.
 
st
[:)]
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-10-16 10:30:35Ct.Ly>
2. Nguyễn Bính - Những Mùa Xuân Tha Hương
 
Nguyễn Bính, là một trong những nhà thơ viết nhiều về mùa xuân. Nhiều bài thơ xuân của ông cứ như níu lấy hồn người vương vấn chút hương xuân xứ sở: “Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay. Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy…” (Mưa xuân).
 
Rồi những bài thơ viết trong những mùa xuân xa quê hương lại đem đến một hương vị khác của thơ ông. Một con người yêu quê hương tha thiết, nhưng lại quyết rời quê hương đi khắp miền đất nước, không có cái hơi thở của người “Li khách” trong thơ thâm tâm “Li khách, li khách con đường nhỏ. Chí lớn chưa về bằng tay không”. Cũng không có nét phiêu bạt của Nguyễn Tuân “Đi để mà viết. Viết để lấy cái mà đi”. Không thơ mộng như Hữu Loan, không có cái hùng khí “Lên đường” của Hoàng Cầm … Có người gọi đó là những chuyến đi định mệnh. Cũng có người gọi nhà thơ là thi sĩ giang hồ. Tôi nghĩ rằng khác, tạo hóa sinh ra mỗi con người hầu như không có ai hoàn thiện. Mỗi một người đều có một cái gì thiếu hụt, khiến cho con người cảm thấy hụt hẫng với nổi buồn bâng khuâng, gọi họ đi tìm kiếm để tự hoàn thiện mình. Cuộc đời ai chẳng là những chuyến đi. Tất nhiên mỗi người một khác. Còn Nguyễn Bính là một nhà thơ.
Năm tháng dài theo những chuyến đi, những mùa xuân xa nhà thấm đượm trong khắp các tập thơ Nguyễn Bính tạo thành chất hương thơ quyến rũ đến nao lòng. Nhưng có lẽ phải đợi đến chuyến đi dài, đi lâu của nhà thơ vào phương Nam nổi niềm hoài hương ấy mới thật sự thấm thía. Điều cần tìm chưa tìm được, mùa xuân nơi đất khách, không nhà nhà thơ nhớ về một kỷ niệm thật xa. Một chuyện tình thời thơ dại với một người con gái tên Nhi. Để rồi mơ ước một ngày gặp lại:
Như chuyện Tương Như cùng Trác Thị
Đưa nhau về ở Đất Lâm cùng
Vườn xuân trắng xóa hoa cam rụng
(Hoa với rượu)
Nhưng mơ chỉ để mà mơ “Chị Nhi đã lấy chồng năm trước. Đến năm sau Nhi lại lấy chồng” còn gì buồn bằng khi biết mơ, chỉ mãi là mơ.
Khi vào Nam, Nguyễn Bình sống thật khổ, thật đơn độc: “Từ buổi về đây sống rất nghèo. Bạn bè chỉ có gió trăng theo”. Nhưng rồi năm tháng đi đã đưa ông đến niềm vui xuân nơi đất lạ “Xuân sang xao xuyến lòng tôi quá”. Bởi vì ông đã tìm thấy nơi lối nhỏ đến xóm dừa này những tấm lòng mà ông và con người cần có :
Sao chẳng về đây lựa tứ thơ
Hỡi ơi! Hồn biển rộng hơn bờ
(Sao chẳng về đây)
Càng yêu xuân trên mảnh đất miền Nam, ông càng tha thiết nhớ về đất Bắc:
Vườn nhà Tết đến hoa còn nở
Chị gửi cho em một cánh hồng.
(Xuân tha hương)







Nỗi buồn xa xứ, cuộc sống trôi dạt “Sòng đời thua nhẵn cả thơ ngây”. Mỗi mùa xuân đến quê hương càng thẳm xa “Quê nhà xa lắc, xa lơ đó. Trông lại tha hồ mây trắng bay” (bài hành phương Nam). Nhà thơ xót thương ân hận khi nhớ về gốc phần. Khi còn trẻ “Mẹ cha thì nhớ thương mình. Mình đi thương nhớ người tình xa xôi”. Giờ đây lắng lại trong ông nỗi đắng cay chua xót “Cha mẹ chiều chiều con nước mây”. Một nỗi hoài hương không sao nguôi được “Cũng may cho những người lưu lạc. Càng khỏi trông trăng đỡ nhớ nhà”. Nguyễn Bính là một trong nhà nhà thơ có những câu viết về nỗi cô đơn thật hay. Hồi ở Hà Nội ông viết:
Những bóng người trên sân ga.
Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì,
Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly.
Nhưng có lẽ chưa bao giờ não nùng đến thế:
Hỡi ôi ! Trời đất vô cùng rộng
Nào biết tìm đâu một mái nhà
Có mắt như tịch xanh mà uổng
Đất khách cùng đường ta khóc ta.
(Đêm mưa đất khách)
Không phải nổi buồn về không gian, thời gian với sự vô cùng của tạo hóa và sự hữu hạn của kiếp người. Một nỗi buồn có thật, một nỗi buồn ly hương tha thiết. Nhất là trong những ngày xuân. Hương vị của những mùa xuân tha hương trong thơ Nguyễn Bính đã tạo thành một hương vị rất riêng trong thơ ca dân tộc.
Từ nơi bước đường cùng ấy, nhà thơ lại bắt đầu một chuyến đi mới – đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Trên chuyến đi mới này có những lúc tâm hồn ông trở nên vang động hào sảng lạ lùng. Ông đã viết những vần thơ thật hoành tráng được phổ nhạc thành ca khúc Tiểu đoàn 307 lừng danh. Nhưng Nguyễn Bính vốn không phải con người tranh đấu. Ông là tình nhân của cuộc đời. Gian khổ, đau đớn, mất mát “Xót xa một buổi soi gương cũ. Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền” (sao chẳng về đây). Nhưng không bao giờ để mất niềm thương nhớ quê hương. 1954 ông tập kết về Bắc. Nguyễn Bính như trở lại với chính mình với những “đêm sao sáng” của những mùa xuân quê hương.
Mùa thu 1965, tôi gặp Nguyễn Bính đi kéo xe than trên con đường từ Nam Định vào phía Vụ bản. Anh nói với tôi là anh đi lao động xã hội chủ nghĩa. Hai anh em ngồi lại dưới một gốc cây ven đường. Anh mở nắm tay ra, trong bàn tay có 3 điếu thuốc Tam đảo, quăn queo có lem vết than nữa. Anh bảo tôi: “Hút đi em”. Tôi nói với anh tôi ở Bình Định. Anh nói “Hồi vào Nam, anh có dừng lại ở ga Diêu Trì 3 ngày. Rồi như sực nhớ ra, anh nói “Ở đó họ bán bún mà bỏ giá sống vào ăn nó ngang ngang làm sao”. Anh nhìn tôi cười, răng anh vàng vàng vì thuốc lá. Anh chậm rãi nói: “Nhưng có lẽ nó khác khác như vậy mà anh nhớ hoài”. Tôi bảo anh, tôi rất thích tập thơ “Đêm sao sáng của anh” mà chỉ mượn đọc chứ chưa mua được”. Anh hỏi tôi – Em có còn nhớ được câu nào không?.
Tôi thuận miệng đọc 2 câu, cũng không nhớ là ở bài nào:
Trái na mở mắt nhìn ngơ ngác
Đàn kiến trường chi tự thuở nào.
Anh cười nhìn xa, không nói gì. Rồi anh hẹn tôi bữa nào lên chỗ anh chơi, anh còn một quyển sẽ tặng cho. Tôi lần lựa chưa kịp đi thì 29 tháng chạp năm ấy hay tin anh qua đời. Mấy anh em chúng tôi đưa anh về nghĩa trang Cầu Họ. Không có một người nào là ruột thịt của anh. Đám tang đi, trong lúc mọi người nao nức chuẩn bị đón Tết. Khi ném một nắm đất vào mộ tiễn đưa anh tôi chợt nghĩ: – Chẳng hiểu đến giờ phút này “anh đã tìm được những gì mà anh khao khát hay chưa?”, lạ thay! Con người hay viết về mùa xuân này, lại ra đi giữa lúc mùa xuân đang đến.
Xuân 2010
 

Nhà giáo ƯT Trương Tham
(Trường PTTH Trưng Vương, TP.  Quy Nhơn)

@ : Chúc Các Thành Viên Phòng BLVH Một Năm Mới An Khang - Như Ý.
Thân,
Leo*

 
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-16 04:13:54Leo*>
 
3. Hàn Mặc Tử
 
Mùa xuân chín







Trong làn nắng ửng: khói mơ tan,
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.
Sột soạt gió trêu tà áo biếc,
Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang.

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời.
Bao cô thôn nữ hát trên đồi.
- Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi...

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây...
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc,
Nghe ra ý vị và thơ ngây...

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín,
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng:
- Chị ấy, năm nay còn gánh thóc,
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

– Hàn Mặc Tử
 
Mùa xuân chín, là bài thơ do Hàn Mặc Tử (1912-1940) sáng tác, được nhà thơ xếp ở phần Hương Thơm trong tập thơ Đau Thương
Cùng với Đây Thôn Vỹ Dạ, Tình quê...đây là những thi phẩm đầy thơ mộng viết về cảnh quê, tình quê của Hàn Mặc Tử.
 
Bài thơ là một bức tranh mùa xuân nơi thôn dã, tất cả đều đậm vẻ xuân, xuân trong cảnh vật và xuân trong lòng người.
Tuy nhiên, theo các nhà chuyên môn, bài thơ còn ẩn chứa những ý nghĩa sâu xa khác (xem phần bình).
Chưa rõ thời điểm sáng tác Mùa xuân chín, nhưng theo Trần Thanh Mại (1908-1965), thì: Qua cái năm bệnh hoạn đầu, nghĩa là vào cuối năm 1937, Hàn Mặc Tử gom góp xong tập thơ làm trên giường bệnh, theo một thể tài mới mà chàng gọi Thơ Điên., nghĩa là thi phẩm đã được sáng tác trước thời điểm đó.
Theo
Văn Giá:
Âm hưởng chủ đạo của bài thơ là một niềm bi cảm, một nỗi buồn xa xót tiếc nuối, thấm thía đến sâu thẳm. Đó là một tình cảm thi ca gợi cho ta chạnh nghĩ về đời người, đời mình, cái nhất thời và cái vĩnh viễn, cái có nghĩa và vô nghĩa....
Mai Văn Hoan:
Muốn hiểu chủ đề của “Mùa xuân chín” tốt nhất là ta thử làm phép so sánh, đối chiếu hai khổ thơ đầu & khổ thơ cuối. Trước mắt chúng ta hiện lên hai bức tranh gần như hoàn toàn đối lập nhau. Một bên “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời”, còn bên kia “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”. Một bên “Bao cô thôn nữ hát trên đồi”, còn bên kia “Chị ấy năm nay còn gánh thóc”. Một còn xuân xanh, một đã qua thời tuổi trẻ. Một bên đông đảo vui vẻ, một bên lặng lẽ cô đơn... Mùa xuân ở trên là mùa xuân đang xanh, còn ở dưới là mùa xuân đã chín... Ở câu gần cuối bài, Hàn Mặc Tử có ý nhấn mạnh chữ “còn”. Trong khi bao cô thôn nữ đang hát hò vui vẻ thì chị ấy “còn” gánh thóc, từ năm này qua năm khác giữa cái nắng “chang chang” như vậy. Và từ hình ảnh chị ấy còn đang gánh thóc, mà thi sĩ ngậm ngùi cho bao cô thôn nữ ở trên...

Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.
Đó là quy luật ít ai cưỡng được. Thi sĩ biết vậy mà cứ tiếc thầm cho họ. Và biết đâu cũng như Xuân Diệu , Hàn Mặc Tử cũng tiếc cho cả tuổi xuân của mình...
Trần Hà Nam:
Ngày mai...theo chồng bỏ cuộc chơi. Câu thơ man mác cái buồn cố hữu của những nhà thơ thời đó. Cái tiếc rẻ cho duyên con gái một đi không trở lại... Những âm thanh trong bài thơ chuyển động, cọ xát nóng bỏng: “vắt vẻo”, “hổn hển”, “thầm thĩ”. Các cung bậc mùa xuân lên bổng, xuống trầm tinh nghịch, khát khao, dịu nhẹ. Những gam cảm giác Hàn Mặc Tử đưa vào thơ rất mới lạ mà lại gần gũi, quen thuộc... Tận cùng của cảm giác là một nỗi nhớ nao lòng. Xuân chín căng, mời mọc làm nguời đi xa chạnh niềm tha hương. Hình ảnh trong nỗi nhớ sáng rực, thân thiết:

Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng, nắng chang chang?
Nỗi nhớ như mùa xuân, cũng chín đỏ. Như tình người, tình quê ấm áp, đậm đà. Câu hỏi tưởng bâng quơ, sực nhớ kia chính là nỗi niềm mến thương từ lâu ủ kín, chợt mùa xuân làm thức dậy trìu mến, thiết tha....
Báo Văn nghệ:
Sẽ là một thiếu sót nếu ta không nói thêm sự liên tưởng, sự mở rộng nhiều chiều của thời gian đồng hiện. Đang miêu tả bức tranh tươi như một nét cười, một nụ hôn đắm say thuần khiết, thì đột ngột cái man mác rình rập ở đâu đó hiện ra trong ý nghĩ đau đớn của nhà thơ: Ngày mai trong...theo chồng, bỏ cuộc chơi. Cái mầm ly biệt hiện ra như một tiền định.
Vương Thừa Việt:
Những từ vắt vẻo, hổn hển được tác giả dùng thật tài tình. Vắt vẻo ở câu trên chỉ sự thơ ngây, hổn hển ở câu dưới nói lên sự hồi hộp, đợi chờ trong lồng ngực của những cô gái đang căng tròn sức sống. Làm cho ai đó đang ngồi dưới trúc cũng phải rộn ràng... Và câu thơ Dọc bờ sông trắng nắng chang chang nên được xem là câu thơ thần tình nhất của Hàn Mặc Tử. Ta hay nói sông xanh, sông đỏ, đây nhà thơ nói sông trắng. Nắng đến trắng cả sông thì phải biết nắng gay gắt như thế nào. Các cặp vần trắng – nắng, chang – chang kết hợp với năm phụ âm "ng" đứng cuối mỗi từ làm cho câu thơ mang âm hưởng đầy cảm xúc...
 
St
[:)]
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-17 13:32:13Leo*>



4.Tiếng Xuân trong thơ Xuân Diệu

LSO-Trên văn đàn thi ca Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc đến tình cảm của các thi sĩ dành cho mùa Xuân. Từ lâu “mùa Xuân” trở thành đề tài quen thuộc của thơ ca dân tộc. Mùa Xuân thường gắn với sự trẻ trung, tươi mới, căng tràn nhựa sống, mùa của sự sinh sôi, nảy nở, phát triển của vạn vật, mùa của những khát khao và là hình tượng nghệ thuật để thi sĩ gửi gắm nỗi niềm thầm kín. Nói đến mùa Xuân, “Buổi sáng sớm đầu tiên” hay “Ngày mới”, mỗi thi nhân đều có cách cảm, cách nghĩ riêng và bằng phong cách của mình thể hiện vẻ đẹp của mùa Xuân.
[/align]    
[/align]Xuân Diệu cũng như các nhà thơ khác, ông cũng viết về mùa Xuân. Được đánh giá là “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh – Hoài Chân), Xuân Diệu có cách nhìn mùa Xuân bằng con mắt nghệ thuật riêng. Với Xuân Diệu mùa Xuân vừa mang ý nghĩa thực, vừa mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc. Tiếng Xuân trong thơ Xuân Diệu gắn với tình yêu, tuổi trẻ. Nhà thơ coi tuổi trẻ là tuổi xuân, tuổi của tình yêu.
[/align]     
[/align]Muốn làm nổi bật sức sống của mùa Xuân, mùa đầu năm, nhà thơ đem đối lập với sự uể oải của những mùa cuối năm. Nếu mùa Thu, mùa Đông gợi sự héo úa, chết chóc, thì mùa Xuân là mùa của sự sinh sôi, nảy nở. Nếu hai mùa cuối năm là buổi chiều tàn, thì mùa Xuân trong thơ Xuân Diệu là buổi sáng rạng rỡ, ấm nóng. Xuân Diệu định nghĩa mùa Xuân rất đơn giản:
[/align]            
[/align]            Một ít nắng, vài ba sương mỏng thắm,
[/align]            Mấy cành xanh, năm bảy sắc yêu yêu
[/align]            Thế là Xuân. Tôi không hỏi chi nhiều.
[/align]            …Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,
[/align]            Chim trên cành há mỏ hót ra thơ,
[/align]            Xuân là lúc gió về không định trước.
[/align]            Đông đang lạnh bỗng một hôm trở ngược,
[/align]           Mây bay đi để hở một khung trời  
[/align]           Thế là xuân. Ngày chỉ ấm hơi hơi…
[/align]                                              (Xuân không mùa)
[/align]     
[/align]Xuân Diệu khác với các nhà thơ khác, bởi bằng mùa Xuân ông tìm thấy cái đẹp, cái thẩm mĩ ngay trong chính cuộc đời trần thế. Với ông, mùa Xuân đẹp, tươi, vui và rất gợi tình. Ở tuổi xuân, chàng trai vạm vỡ trong vai trò chinh phục, còn cô gái thì căng tràn nhựa sống chờ đón xuân sang. Nhà thơ nhận thấy chính tuổi trẻ và tình yêu của con người là đẹp nhất. Nếu thơ xưa thường lấy chuẩn mực là thiên nhiên, thì với Xuân Diệu con người lại là chuẩn mực. Và con người trong tình yêu là tác phẩm tuyệt vời nhất mà tạo hóa đã ban tặng cho trái đất. Từ quan niệm riêng của mình, nhà thơ đã sáng tạo ra hình ảnh độc đáo: “Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”. Câu thơ là một sự so sánh táo bạo. Tác giả dùng “tháng Giêng” như một khái niệm vừa để chỉ thời gian, vừa để chỉ không gian của mùa Xuân. Nó đẹp và thuần khiết khi được đem đối sánh với “cặp môi gần” của người thiếu nữ. Một năm đẹp nhất là mùa Xuân. Mùa Xuân đẹp nhất lại là tháng Giêng, bởi trong thời gian này, mọi vật bừng lên sức sống tươi tắn, trẻ trung. Và tình yêu của tuổi trẻ được Xuân Diệu ví như tháng Giêng của mùa Xuân vậy.                     
[/align]    
[/align]Đối với Xuân Diệu, nếu mùa Xuân là thứ quý nhất của đất trời, của vạn vật, thì tuổi thanh xuân là thứ quý giá nhất của con người. Mùa Xuân đẹp và quý giá, nhưng nó chỉ quý giá và càng quý giá hơn khi con người hưởng mùa Xuân ấy. Thời gian cứ mênh mông và tuần hoàn như mùa Xuân thành ra người ta thấy mùa Xuân qua đi rồi lại đến, còn tuổi trẻ thì chẳng “hai lần thắm lại”. Chính vì thế, Xuân Diệu mới “giục giã”, mới “vội vàng”: “mau với chứ, vội vàng lên với chứ; em ơi em tình non sắp già rồi”. Đang sống trong mùa Xuân mà tác giả như thấy mùa Xuân trôi qua, bởi ông cho rằng thời gian từ từ trôi nhưng không bao giờ có thể lấy lại được, cũng như tuổi trẻ của con người đã trôi qua là mất đi vĩnh viễn. Nên tác giả cuống quýt, vồ vập để tận hưởng từng phút giây tuổi trẻ.
[/align]   
[/align]Đã có nhiều quan niệm cho rằng, thơ của Xuân Diệu “tây” quá, và thơ ông cổ vũ cho lối sống “vội”, sống “gấp”. Nhưng xét cho cùng thì quan niệm sống mà Xuân Diệu muốn nhắn nhủ giới trẻ là: hãy sống thật ý nghĩa trong từng giây, từng phút; phải tận hưởng những thứ quý giá mà tạo hóa dành riêng cho tuổi trẻ, bởi tuổi trẻ chẳng chờ đợi ai, thời gian sẽ làm cho tuổi xuân trở thành hoài niệm. Vì thế, cần phải có định hướng đúng đắn, đừng để phí hoài tuổi xuân. Đó là triết lý cho một lối sống lành mạnh. Có lẽ chính vì điều này mà thơ của Xuân Diệu đã, đang và sẽ sống mãi trong lòng bạn đọc, đặc biệt là giới trẻ.
[/align]           
[/align] 
Thanh Hòa
[/align] 
[/align][:)]
[/align]
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-17 13:30:59Leo*>
5.Xuân với cái nghèo thi sĩ - Trần Tế Xương
 




Xuân về, mọi người đều hớn hở đón mừng. Nhìn ra đường, thiên hạ phô màu muôn sắc áo. Không khí ngát mùi hương. Bao nhiêu nỗi ưu tư tan biến, những ngày hoen nước mắt tủi cực, đau khổ, chật vật dưới cuộc sống, bên lề đường như ngưng lại để nhường chỗ cho niềm vui. Họ thăm nhau, chúc nhau những lời hạnh phúc, mấy ngày đầu xuân giúp họ gần nhau hơn, nó nối những sợi dây vô hình giữa kẻ sống với người đã khuất.

Xuân về, tôi nhớ tới người nghệ sĩ của non Côi sông Vị - thi sĩ Trần Tế Xương, nhà thơ trào phúng vào bậc nhất của thế kỷ XIX. Có thể nói nhờ cái nghèo Tú Xương đã làm giàu cho văn học Việt Nam.

Sự giàu sang về vật chất chỉ một cá nhân hay số ít người được hưởng, nhưng cái giàu về văn chương văn hóa, nghệ thuật mọi người đều được hưởng chung và mặc nhiên văn học sử phải công nhận. Một Trần Tế Xương, một Hàn Mặc Tử hay gần đây là thi sĩ Chánh Thoại đã nghiễm nhiên tự trải cho mình một chiếu hoa trên văn đàn, niềm thống khổ, sự nghèo túng là động cơ chính khiến thiên tài bộc phát, trưởng thành.

Trần Tế Xương, với ngòi bút linh động, quái ác của ông đã diễn tả được những sự thực sống động, những cảm nghĩ trung thực, một tâm trạng của thân phận bi đát con người qua mấy vần thơ đầu xuân.

Đối với dân tộc Việt Nam thì ngày Tết khá quan trọng. Những ngày cuối năm, quần chúng đua nhau đi sắm tết, tất cả mọi nơi người ta thấy dấu hiệu sửa soạn. Dù ở đâu xa xôi họ đều cố gắng tìm về tổ ấm quê hương để tìm ở đó sự ấm cúng, niềm an ủi. Trái lại ông Tú Vị Xuyên vẫn chia ly, thất bại, nợ nần…


           “Bố ở một nơi, con một nơi
           Bấm tay tháng nữa hết năm rồi
           Văn chương ngoại hạng quan không chấm
           Nhà cửa giao tranh nợ phải bồi…”

Nhưng việc sẽ phải đến và ông Tú cũng ăn tết như ai. Bức tranh tết dưới ngòi bút linh hoạt của Trần Tế Xương nhiều màu sắc, rộn ràng âm thanh song không kém hóm hỉnh:

             “Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột
             Om thòm trên vách bức tranh gà
             Chi cha chi chát khua giày dép
             Đen thủi đen thui nũng lượt là”

Cái tết đến ám ảnh thi sĩ, giá có tiền bạc chắc tết hẳn vui chứ không đến nỗi “cười ra nước mắt” như ông Tú Xương. Vì khan tiền nên nhà thơ mới có ý tưởng ngộ nghĩnh, ngông; bắt rận làm mứt thưởng xuân.

             “………………
              Xanh đồng thăng lại đen rưng rức
              Áo vải bò ra béo thật thà
              Kẹo chú Triều Châu đâu đọ được
              Bánh bà Hành Tụ cũng thua xa
              Sang năm quyết mở ngôi hàng mứt
              Lại tưới thêm vào tí nước hoa”

Và chính thi sĩ ăn tết theo lối tưởng tượng nữa. Cảnh tết mà ông phác họa trong bài “Cảm Tết” dưới đây thật phong lưu, đầy đủ: tiền bạc, rượu cúc, trà sen, bánh đường, giò lụa…, một cái tết vào bậc trung.

       “Anh em đừng tưởng tết tôi nghèo
       Tiền bạc trong kho chứa lĩnh tiêu
       Rượu cúc nhắn đem hàng biếng quẩy
       Trà sen mướn hỏi giá còn kiêu
       Bánh đường sắp gói e mồm chảy
       Giò lụa toan làm sợ nắng thiu”

Đủ cả đấy nhưng thiếu mỗi điều kiện mà thi sĩ chẳng tiện nói ra để rồi nhà thơ “khất lần” và như nhắn nhủ ai:



           “Thôi thế thì thôi đành tết khác
            Anh em đừng tưởng tết tôi nghèo”

Chính cái xuân của ông vẫn có, Xuân thi sĩ là Xuân trong tâm hồn chứ không ở ngoại cảnh như người đời thường phác họa. Tuy thế ông Tú chưa phủ nhận hoàn toàn, để:

            “Chẳng phong lưu cũng ba ngày tết
             Kiết cú như ai cũng rượu chè”

Qua mấy vần thơ trên người đọc cảm nhận phần nào khía cạnh sống, hoàn cảnh thực, ý nghĩ ngông của Trần Tế Xương về “đối tượng tết”. Tuy nghèo kiết không tiền, thi sĩ vẫn hưởng Xuân, khai bút, người nghệ sĩ không oán mình trách người, mà tìm thấy phong vị đặc biệt qua cái nghèo của chính mình. Tuy nhiên Tú Xương còn cung hiến cho chúng ta nhiều nhận xét xác thực trong cảnh tết của mọi người. Họ lợi dụng mấy ngày tết để khoe giàu sang, phô trương danh vọng. Trước cảnh đó nhà thơ đất Vị Xuyên “không chịu nổi” những cái rởm mà tất cả xã hội, thời đại nào đều thấy, đều có. Ta nghe ông châm biếm:

                         “Cứ bảo nhau rằng mới với me
                         Bảo ai rằng cũ chẳng ai nghe
                         Khăn là bạc nọ to tày rế
                         Váy lĩnh cô kia quét sạch hè
                         …………………………………”

Ngày tết mọi người được dịp để chúc nhau. Họ chúc cái gì? Nếu không phải thái quá, những sáo ngữ: giàu sang, chức tước, sống lâu… Lời chúc của họ đều giả dối, chính họ biết nhận là ước lệ mà vẫn phải thốt ra:

                      “Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau
                      Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu
                       Phen này ông quyết đi buôn cối
                       Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu”

                      “Nó lại chúc nhau cái sự sang
                      Người thời bán tước kẻ mua quan
                      Phen này ông quyết đi buôn lọng
                      Vừa chửi vừa rao cũng đắt hàng”                                     

                       “Nó lại chúc nhau cái sự giàu
                       Trăm nghìn vạn mớ để vào đâu
                       Phen này có lẽ gà ăn bạc
                       Đồng rụng đồng rơi lọ phải cầu”

                      “Nó lại chúc nhau sự lắm con
                       Sinh năm đẻ bày được vuông tròn
                       Phố phường chật hẹp người đông đúc
                       Bồng bế nhau lên núi ở non”

Ta nhận thấy lời chúc của con người chỉ miệng lưỡi bề ngoài, sự hời hợt thiếu chân thực, chưa hẳn luân lý, đạo đức. Bởi thế ông Tú không ngần ngại gọi người đời là “nó”, là “đứa”, và xưng bằng ông. Thi sĩ muốn chúc cho thiên hạ, gửi đến họ những lời đặc biệt, song kém thấm thía:

                        “Bắt chước ai, ta chúc mấy lời
                        Chúc cho khắp hết cả trong đời
                        Vua, quan, sĩ thứ người muôn nước
                        Sao được cho ra cái giống người”

Thật đúng, hợp cho tất cả những ai đang lạc hướng “Cái giống người” – lời chúc của Tú Xương làm chúng ta suy ngẫm nhiều và cảm nghĩ đó đã vượt không gian, thời gian, có một giá trị nhân bản vậy.

Thái độ, niềm suy tư của ông về con người, cuộc đời trong mấy ngày đầu Xuân người ta còn tìm thấy ngay trong câu đối.

                  “Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo
                   Nhân tình trắng thế lại bôi vôi”

Hai câu trên tuy trầm buồn nhưng đủ chứng minh tâm hồn thi sĩ với hậu thế.

Xuân với cái nghèo thi sĩ đã trưng lên nhiều phản ứng giữa con người với xã hội. Người đọc nhận thấy ông Tú Xương không so sánh, hằn học mà ông chỉ cười – cái cười vừa chủ quan vừa khách quan vô tư. Ông cười thân phận bi đát của chính mình, cười về những thói xấu, sự giả dối của thiên hạ - nụ cười sâu cay, châm biếm có khía cạnh phản tỉnh, xây dựng. Cái cười đầu xuân đó đã làm giàu văn học sử Việt Nam.

Nguyễn Hồng Sơn
(Đuốc Tuệ, 1965, 48)

[:)]
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-17 13:25:20Leo*>

Một thày khóa gò lưng trên cánh phản
Tay mài nghiên hý hoáy viết thơ xuân
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ


 
6. Vũ Đình Liên- Duyên Nợ Với Ông Đồ
 
 
Khi giới thiệu Vũ Đình Liên trong Thi nhân Việt Nam, Hòai Thanh để nhiều lời bình cho bài thơ “Ông Đồ”, với những lời tri kỷ :

“Trong làng thơ mới, Vũ Đình Liên là một người cũ. Từ khi phong trào thơ mới ra đời, ta đã thấy thơ Vũ Đình Liên trên các báo. Người cũng ca tình yêu như hầu hết nhà thơ hồi bấy giờ. Nhưng hai nguồn thi cảm của người là lòng thương người và tình hòai cổ. Người thương những kẻ thân tàn ma dại, người nhớ những cảnh cũ nguời xưa. Có một lần hai nguồn cảm hứng ấy đã gặp nhau và để lại cho chúng ta một bài thơ kiệt tác : “Ông Đồ”. Ông Đồ năm năm đến mùa hoa đào, lại ngồi viết thuê bên đường phố. Ông chính là là cái di tích tiều tụy đáng thương của một thời tàn” (lời trong thư Vũ Đình Liên gửi Hòai Thanh vào ngày 9 tháng Giêng năm 1941-NVP)

Ít khi có một bài thơ bình dị mà cảm động như vậy. Tôi tưởng như đọc lời sám hối của cả bọn thanh niên chúng ta đối với lớp người đương đi về cõi chết. Đã lâu lắm chúng ta chỉ xúm nhau lại chế giễu họ quê mùa, mạt sát họ hủ lậu. Cái cảnh thương tâm của nền học Nho lúc mạt vận chúng ta vô tình không lưu ý.

Trong bọn chúng ta vẫn có một hai người ca tụng (…). Nhưng chế giễu mạt sát không nên, mà ca tụng cũng không được. Phần đông các nhà nho còn sót lại chỉ đáng thương. Không nghiên cứu, không lý luận, Vũ Đình Liên với một tấm lòng dễ cảm đã nhận ra sự thực ấy và gián tiếp chỉ cho ta cái thái độ. Bài thơ của người có thể xem là một việc nghĩa cử.

Theo đuổi nghề văn, mà làm được một bài thơ như thế cũng đủ. Nghĩa là đủ lưu danh với người đời …”(Thi nhân Việt Nam, Nhà xuất bản Hoa Tiên, 1967, trang 74)

Hoài Thanh khen bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên là kiệt tác, và “đủ để lưu danh với người đời” … Lời nhận định ấy đã được thời gian kiểm chứng : Bài thơ Ông Đồ đã trải qua gần một thế kỷ, mà hầu như tết năm nào, trong lòng người đọc trên mặt báo, cũng thường hay nhắc đến …

Cái ông đồ già “Mỗi năm hoa đào nở … Bày mực tàu giấy đỏ, bên phố đông người qua” ấy, với tài thư pháp “Hoa tay thảo những nét. Như phượng múa rồng bay … “ ấy; và con người lẫn thú chơi câu đố ngày tết xưa, đã là hồn vía của thứ văn hóa truyền thống lâu đời, nên nó luôn phảng phất, lưu giữ dây dưa, cũng là điều dễ hiểu.

Bài thơ Ông Đồ, gợi nhớ cho hình bóng thân thuộc của một thời Nho học xưa, những con người của thời học hành thi cử, trau giồi kiến thức, để mơ đỗ trạng vinh quy; con người vốn đã trở thành thân thuộc của một đất nước chuộng học, chuộng tài; con người này cũng hay vấp phải những nổi nênh của số phận. Cho nên cứ nhắc đến hai tiếng Ông Đồ, là những người có dính líu đến chút ít Hán học đã đủ xao xuyến :

Ông đồ

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tầu, giấy đỏ
Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”

Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu

Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngòai trời mưa bụi bay

Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ ?

Có một tết nguyên đán cách đây khỏang vài chục năm, khi nhà thơ họ Vũ còn sống, tôi có viết một vài ngắn bình bài thơ Ông đồ, trong đó có đọan :

“Bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên in trong Thi nhân Việt Nam , không đề niên hạn. Mà cũng chẳng cần đề niên hạn để làm gì, vì khi những trường học đã học quốc ngữ và chữ Pháp thì dù ở những năm Ba mươi hay đầu những năm Bốn mươi, thế kỷ XX, ông đồ cũng là ngưỡi cũ kỹ …. Thăng Long - Hà Nội đã chuyển sang Tây Học, lối sống “tân thời” đã nuốt chửng những thứ cũ; theo luật chơi thành phố, mốt ăn chơi đã khác … Nơi bày bán câu đối tết của ông đồ, người mua vắng đến mức ngao ngán .. Nhưng buồn hơn cả là “Ông đồ vẫn ngồi đấy! Qua đường không ai hay !” , câu thơ tạo được một nỗi buồn ghê gớm của một người bị thời thế chối từ.

Và còn gì tủi buồn hơn thế ! Cho nên Ông đồ sẽ vắng luôn từ năm ấy là phải.

Nhưng cái vắng bóng của ông lại trở thành một chút thiếu vắng của Thăng Long trong dịp tết. Và cái câu kết của bài thơ “Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ ?” , như tiếng kêu giật thột, phát hiện một thứ thiếu thốn, không thể nào bù đắp được ! Bởi Thăng Long – Hà Nội, hoặc bất cứ nơi nào; con người ta đâu phải chỉ sống với hôm nay và ngày mai; nó còn dây nhợ nhằng nhịt, phức tạp ngàn lần với qúa khứ nữa chứ. Bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên dung dị, nhưng đã để lại một thi phẩm không ai làm được từ bấy đến giờ, kể cả sau này nữa.

Vào cũng giáp tết năm Mậu Thìn 1988, tôi nhận được một bài thơ của ông như sau :

Cảm xúc

Hòai Thanh không còn nữa
Tràng Kiều cũng đi rồi
“Ông đồ” ai thương nhớ
Còn Ngô Văn Phú thôi

“ Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ ?”
Cả người hôm qua nữa
Vừa đi vào hư vô


Đàn chim vạc kêu sương
Cành hoa đào nở nắng
Đào nhớ và chim thương
Như Nghệ Thuật vô tận

Những cái mất hẳn rồi
Mãi mãi mãi … không thấy
Chỉ với tình thương thôi
Bóng Ông đồ còn mãi …


Có lẽ, bài bình thơ Ông đồ của tôi trong những năm 80 này, làm cho ông cảm đông, là tôi có ý nhắc bài thơ thơ đã lâu, do chiến tranh, tết nhất, bận với nhiều đề tài bức thiết, nên ít được nhắc đến. Và cũng có thể là lời bình đã làm cho nhà thơ cảm động …

Tôi bao giờ cũng coi thi sĩ họ Vũ như bậc thầy của mình, dù tôi không học ông một ngày nào … Những ngày làm báo Văn Nghệ, khi gặp ông đến gửi bài, được trao đổi với ông, tôi rất kính trọng. Những năm ấy, ông còn bận đeo đuổi sự nghiệp làm thầy, nhưng tôi vẫn thường được nghe ông nói về thơ Baudelaire, say sưa lắm. Và tôi là người đang mê và ấm ức chưa giải mã được những câu thơ tượng trưng và siêu thực của nhà thơ hàng đầu của nước Pháp này ! Nghe ông đọc thơ dịch mà ông vừa bỏ tâm huyết chuyển sang tiếng Việt và giải thích, tôi vỡ vạc ra nhiều lắm.

Ít lâu sau, tôi còn được đọc thêm bài thơ có liên quan đến Ông đồ, ông viết những năm sau này nữa … Chả là khỏang những năm 1975-1978, Bùi Xuân Phái đang thể nghiệm lọai tranh mực nho, ghép giấy mầu. Nhớ năm tôi đi đặt tranh tết cho Báo Văn Nghệ, ông cũng vẽ bức tranh Diễn viên chèo, và bản gốc, ông cho tôi luôn … Ông Phái cũng vẽ một bức Ông đồ và tặng người bạn thân là nhà nhiếp ảnh nổi tiếng Trần Văn Lưu. Vũ Đình Liên đến chơi, liền đề luôn bài thơ ở dưới :

Ngắm tranh tặng mình

Tranh ngắm lòng càng rộn ý thơ,
Cả hồn qúa khứ xót ông đồ.
Ba vần thơ đã khơi nguồn nhớ,
Mấy mảnh giấy còn chắp cánh mơ.
Thanh sắc chưa phai màu lệ cũ
Ảnh hình thẫm đượm mối thương xưa
Hồn người nghiên bút nghìn năm trước
Khối hận đến giờ đã nhẹ chưa …

Vũ Đình Liên với Bùi Xuân Phái và Trần Văn Lưu là nhóm ba người bạn tài hoa, rất thân với nhau, thường được gọi là nhóm Lưu-Liên-Phái …

Bức tranh Ông đồ của Ông Phái chắc là đề tặng chung cả hai người, do đó Vũ Đình Liên mới lấy đầu đề là Ngắm tranh tặng mình ….

Hồn vía Ông đồ nhập vào ông từ năm 13 tuổi. Nói về sự tiếp nối nề nếp nhà nho, để có những bài thơ hay nhắc đến một thời đã qua, ông từng viết:”Năm 13 tuổi, tôi đã làm thơ hoài cổ. Bài Hồn xưa đã được một nhà xuất bản ở Hải Dương đăng trong tập Những áng thơ hay … Bản thân tôi đã được kế thừa tinh thần của người mẹ, mẹ tôi là con một ông đồ. Tuy ở Hàng Bạc, làm nghề thợ bạc, nhưng gia đình luôn giữ nền nếp gia phong. Ngày nhỏ, tôi sống ở Hải Dương. Bởi vậy, nên cảnh sắc quê hương in đậm trong tâm trí, có tác động nhiều đến tâm tư tình cảm … “

Ông là người tây học, là giáo sư một trường đại học lớn, rất am hiểu văn học Pháp, bài thơ Ông đồ, là một bài viết trong phong trào Thơ Mới, lấy đề tài từ một nhân vật “Hồn muôn năm cũ” mà thôi …. Nhận xét về Vũ Đình Liên, cố giáo sư Đỗ Đức Hiểu, một người bạn rất qúy rất hiểu ông, đã viết :”Vũ Đình Liên là một trong những nhà Thơ Mới, thuộc lớp đầu, tôi tạm gọi là Làn sóng thứ nhất. Làn sóng thứ nhất Thơ Mới bao gồm những bài thơ lỗi lạc chịu ảnh hưởng chủ yếu của thơ lãng mạng Pháp nửa đầu thế kỷ 19 như Lamartine, Musset, Vigny, nhất là Hugo ….”

Giải thích về con người rất yêu văn học phương Tây mà viết được một bài thơ mới mà hồn cốt phương Đông thấm nhuần vào tận xương tủy, gíao sư họ Đỗ viết tiếp :

“Vũ Đình Liên là một trường hợp đặc biệt, ông làm thơ suốt trên 60 năm nay … Chỉ xét về một phương diện – sự tương hợp giữa Thơ Mới và Thơ Pháp, ông chịu nhiều ảnh hưởng của thơ lãng mạng Pháp … Ông tiếp nhận tình thương … ở thơ lãng mạng Pháp. Đúng vậy, ngòai việc xót xa, thương cảm một lớp người đã bị thời thế bỏ quên – ông đồ, ông còn thương :” Những trẻ thơ côi cút … Suốt đêm khuya đôi mẹ mãi không về”. Ông khẽ bảo mọi người hãy “nương nhẹ” những bông hoa úa “bị ném vào trong xó”; ông không muốn một ngày kia “Thiên hạ có nhiều bông hơn tuyết trời để ủ lòng muôn trẻ nhỏ cho môi hồng thắm tươi”

Giải thích của giáo sư Đỗ Đức Hiểu giúp ta hãy nhớ bài thơ Ông Đồ là một bài thơ mới …Đôi lúc người ta quên đi điều này, bởi thơ nhuần nhị phương Đông qúa, nên người ta cứ nghĩ đó là một bài cổ phong xưa, dù lối nghĩ, lối thể hiện đã thuộc về kỷ nguyên Thơ Mới.

Những năm nghỉ hưu, Vũ Đình Liên ăn vận rất giản dị … Ông đã không ở phố Bà Triệu nữa mà chuyển về chùa Bộc; bạn bè và những người quen vẫn gặp ông xách một cái túi xách đến những cơ quan báo chí,đến Hội nhà văn, đến nhà bạn; đôi khi còn kéo đám trò nhỏ tan học về đọc thơ cho chúng nghe. Chúng yêu ông, không biết tên ông là gì , gặp ông chỉ gọi là “Ông thơ” rồi xúm đến bên ông như đến với ông nội, ông ngọai của mình …

Những lúc này, ông không còn là một giáo sư phải y phục chỉnh tề lên lớp nữa … Ông đi dép nhựa, ăn vận xuềnh xòang, khiến gặp nhà thơ ta lại thấy ông như hiện thân một ông đồ nghèo của làng quê một thuở nào … Nói như các cụ xưa : “Đó là thơ vận vào người vậy !”. Còn trong túi sách là bản thảo ông dịch thơ Baudelaire, một nhà thơ Pháp ông say mê và cũng chịu ảnh hưởng trong giai đọan làm thơ sau của mình … Đề tựa cho tập thơ dịch thơ Baudelaire của Vũ Đình Liên, gíao sư Đỗ Đức Hiểu viết :

“Vẫn với đề tài tình thương, thơ Vũ Đình Liên sau 1945 gợi nhớ Baudelaire. Trong cặp sách ông thường mang hàng ngày , có tòan tập Baudelaire, bản thảo ông dịch Hoa ác, ông làm một bài thơ tiếng Pháp Đề ảnh Baudelaire (ông đã dịch ra tiếng Việt). Bùi Xuân Phái vẽ một biếm họa Baudelaire và Vũ Đình Liên cầm tay nhau. Một nhà văn Pháp đến Hà Nội, biết chuyện Vũ Đình Liên say mê Baudelaire, gọi đùa ông là Baudelien (Bô đơ Liên) …”

Bản dịch của ông, sau khi ông mất mới được in và được trao tặng thưởng của Hội Nhà Văn. Bởi luôn tự thấy mình cũng là ông Đồ, nên năm 1981, ông về Bến Tre đi dự hội thảo kỷ niệm 160 năm ngày sinh nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, và theo nhà thơ Hòai Anh, gặp ông bữa ấy, ông nói vui : “Ông đồ đi ăn giỗ cụ đồ đây!” Hòai Anh viết :”Khi đó bác gầy hơn trước, bắt đầu có cái lẩm cẩm của người già, ngòai khu phòng ở của các đại biểu, bác dựng riêng một lều thơ để ở, trước cửa dán hai tờ giấy khổ lớn, tờ thứ nhất viết bài thơ Ông đồ 1, tờ thứ hai viết bài thơ Ông đồ II, bác mới làm sau này. Nhưng lúc này những người đi qua đều lơ đãng không dừng lại đọc bài thơ, chỉ có những người giỏi chữ Hán, chữ nôm, chuyên nghiên cứu Hán nôm … mới vào lều thơ trò chuyện với bác Vũ Đình Liên và trân trọng chép bài thơ Ông đồ II của bác !. Tôi se lòng khi thấy bác Vũ Đình Liên lúc này trở thành Ông đồ của nền Pháp học đang xế bóng”

Qủa là bài thơ Ông đồ đã nhập hồn và vận vào cuộc đời của Vũ Đình Liên.

(Trích trong Kiến Thức Ngày Nay số 629 của Ngô Văn Phú)
[/align] 
[/align][:)]
[/align]
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-17 13:18:52Leo*>
7. Đoàn Văn Cừ - Người Đưa Thơ Ra Chợ Tết
 
Chợ Tết
Đoàn Văn Cừ



Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết

Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon,
Vài cụ gìa chống gậy bước lom khom,
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ.

Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu
Con bò vàng nghộ nghĩnh đuổi theo sau
Sương trắng giỏ đầu cành như giọt sữa.

Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh
Người mua bán ra vào đầy cổng chợ

Con trâu đứng vờ dim hai mắt ngủ
Để lắng nghe người khách nói bô bô
Anh hàng tranh kĩu kịt quảy đôi bồ
Tìm đến chỗ đông người ngồi dọn bán

Một thày khóa gò lưng trên cánh phản
Tay mài nghiên hý hoáy viết thơ xuân
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ

Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau
Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu,
Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu

Áo cụ lý bị người chen lấn kéo
Khăn trên đầu đương chít cũng bung ra
Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà
Quên cả chị bên đường đang đứng gọi

Mấy cô gái ôm nhau cười rũ rượi
Cạnh anh chàng bán pháo dưới cây đa
Những mẹt cau đỏ chót tựa son pha
Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết

Con gà trống màu thâm như cục tiết
Một người qua cầm cẳng dốc lên xem
Chợ tưng bừng như thế đến gần đêm
Khi chuông tối bên chùa văng vẳng đánh

Trên con đường đi các làng hẻo lánh
Những người quê lũ lượt trở ra về
Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê
Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ

Đoàn Văn Cừ


 
Nhà thơ Đoàn Văn Cừ (sinh năm 1913 tại Nam Định) vừa qua đời ở tuổi 92, đã nổi tiếng cách đây hơn 60 năm với các bài mang đậm phong vị làng quê và lễ tết Việt Nam như Đám cưới mùa xuân, Đám hội, Đường về quê mẹ, Trăng hè...

Nhắc tới ông, người ta nhớ chợ Tết xưa mà ông đã tả trong thơ với những "thằng cu áo đỏ chạy lăng xăng", những cụ già "bước lom khom", những cô yếm thắm "che môi cười lặng lẽ", những em bé "nép đầu bên yếm mẹ" và cùng đi với họ trên đường là những người trong thôn gánh heo ra chợ: Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu. Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau. Không chỉ tả vật tả người, ông còn rất tài tình qua "cái thấy" rất thơ: Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa, và Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa. Đến cổng chợ, có con trâu "vờ dim đôi mắt ngủ", anh hàng tranh "kĩu kịt quẩy đôi bồ", một thầy khóa gò lưng "hí hoáy viết thơ xuân", chú hoa man "xếp lại đống vàng trên mặt chiếu". Giữa cảnh đông đúc xô bồ: Áo cụ lý bị người chen xấn kéo. Khăn trên đầu đương chít cũng tung ra, và lũ trẻ mặc cho mấy người chị đang gọi khản cổ cứ đứng lại xem mãi mấy bức tranh gà sặc sỡ. Rồi bên thúng nếp trắng đầy như tuyết, mẹt cam đỏ chót như son, là cảnh: Con gà sống mào thâm như cục tiết. Một người mua cầm cẳng dốc lên xem. Trong các bài khác, như Đám hội, cũng đông vui, rộn ràng. Đôi lúc hóm hỉnh: Trên bãi cỏ dưới trời xuân bát ngát. Một chị đương đu ngửa tít trên không. Cụ lý già đứng lại ngửng đầu trông. Mắt hấp háy nhìn qua đôi mục kỉnh. Mấy cô gái nép gần hai chú lính. Má đỏ nhừ bẽn lẽn đứng ôm nhau...
Với những hình sắc tươi vui, người người hân hoan như thế, thơ Đoàn Văn Cừ đã lìa xa nỗi buồn để phác thảo những bức tranh làng quê, ngày cưới, đêm hè đậm nét hương xưa. Nếu những thập niên 1930-1940 xuất hiện nhiều bài thơ tình khá hay lấy cảm hứng từ niềm đơn độc, nhớ nhung, vắng vẻ trong nhà, thì cạnh đó, những bài hay nhất của Đoàn Văn Cừ lại đưa thơ "ra đường", đông đúc, vui cười như chợ Tết. Điều ấy được "người đương thời" như Hoài Thanh - Hoài Chân khẳng định và đánh giá: "Trong các nhà thơ đồng quê, không ai có ngòi bút dồi dào và rực rỡ như Đoàn Văn Cừ". Khi trích thơ ông vào Thi nhân Việt Nam, in lần thứ hai tháng 10/1941, Hoài Thanh - Hoài Chân vẫn "chưa biết gì thêm về con người ấy" ngoài sáu bảy bài thơ đăng trên Ngày Nay. Ông xuất thân từ một gia đình nông dân, dạy học, làm thơ, tham gia chính quyền nhân dân tỉnh Nam Định (1945), gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc (1946). Trong kháng chiến chống Pháp, ông gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau 1954, làm ủy viên thường trực Chi hội Văn nghệ liên khu III, cán bộ biên tập - xuất bản thuộc Bộ Văn hóa... Tập Thôn ca (1960) tập hợp các sáng tác của ông trước và sau Cách mạng Tháng tám, trong đó phần Ngày xưa gồm một số bài đã đưa tên tuổi ông vào làng thơ Việt Nam.





Giao Hưởng
Việt Báo
Theo_Thanh_Nien
[/align] 


[/align] 


[/align]70 NĂM... "CHỢ TẾT" ĐOÀN VĂN CỪ - Phan Hoàng
 
70 năm trước, bài thơ "Chợ tết" được đăng trên báo Ngày nay số xuân Kỷ Mão - 1939, mở đầu cho sự xuất hiện của một tên tuổi mới trong nền thi ca Việt Nam: Đoàn Văn Cừ. Cùng với thi sĩ đồng hương Nguyễn Bính từ phong trào Thơ mới, Đoàn Văn Cừ đã viết nhiều bài thơ thành công về mùa xuân, lễ tết. Và nếu như Nguyễn Bính suốt đời thơ luôn lang bạt kỳ hồ thì ngược lại, kẻ sĩ cầm tinh con Trâu Đoàn Văn Cừ mãi mãi ẩn cư nơi thôn dã của vùng đất văn hiến Nam Định "chôn nhau cắt rốn" vừa dạy học vừa làm thơ với ước muốn "Trong thơ góp một đường cày"...





Bài thơ "Chợ tết" mở đầu bằng những hình ảnh tả thực rất sinh động:
"Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi,
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh,
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh,
Người các ấp tưng bừng ra chợ tết."
Đăng kèm bài "Chợ tết" trên báo Ngày nay có lời giới thiệu của toà soạn: "Trong những lời đẹp một cách đơn giản và ý nhị, phiên chợ tết ở nhà quê hiện ra cùng với những hình ảnh ngộ nghĩnh, những dáng điệu kỳ thú dưới ngòi bút linh hoạt của ông Đoàn Văn Cừ. Đây không tả ngày tết, nhưng bao nhiêu nét vẽ rất đúng, rất tinh xảo cũng khiến ta tưởng tượng được quang cảnh ngày xuân ở nông thôn". Sau khi báo phát hành, Đoàn Văn Cừ còn nhận được thư của nhà văn Thạch Lam trong ban biên tập gởi động viên, cho rằng họ Đoàn đã tạo được cho mình "một lối thơ riêng, đặc biệt có nhiều màu sắc và tả cảnh".
Cũng bắt đầu từ đó, trên thi đàn Việt Nam chính thức xuất hiện một thi sĩ mà tên tuổi gắn liền với những bài thơ về mùa xuân ngày tết vừa mộc mạc vừa độc đáo không lẫn vào ai được. Sinh thời nhà thơ Đoàn Văn Cừ cho biết: "Sau khi bài thơ đầu tiên "Chợ tết" được đăng, tôi có cảm nghĩ một bài thơ đẹp khi cất cánh khỏi bản thảo, có thể ví với một ánh sao, tia lửa vừa lóe sáng; một bông hoa nở, một cánh buồm lộng gió vượt sông ra đại dương; một bóng chim băng mình vào vũ trụ. Trong hoàn cảnh đó, tiếng lòng của người thi sĩ có thể bứt ra khỏi bản thân để đi tới một chân trời xa lạ, muôn bến ngàn phương. Nếu gặp mắt xanh, được cả thời và thế, thơ anh sẽ đọng trong trí nhớ độc giả, đứng lại mãi với thời gian và không gian, trở thành bất tử".
Đoàn Văn Cừ tuổi Sửu, sinh năm 1913 trên vùng đất Nam Định văn hiến, nơi phát tích nhà Trần, sản sinh nhiều nhân vật lịch sử như Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Trường Chinh, Nguyễn Văn Vịnh, Đinh Đức Thiện,... Nhà nghèo, sớm mồ côi cha mẹ, cậu bé họ Đoàn sống với bà nội. Cứ hễ đến tết, bà nội ngồi trong ổ rơm, mặc áo đỏ cho Đoàn Văn Cừ sang lễ tết bên nhà ngoại để thay người mẹ vắn số.
Giống như những ngôi làng khác ở Bắc bộ, làng Đô Quan quê hương Đoàn Văn Cừ cũng có nhiều đình, đền, chùa, miếu với nhiều lễ hội kỳ thú. Đó cũng là nguồn cảm hứng cho nhà thơ viết nên những bài thơ: Làng, Trăng hè, Ngồi đình, Tế thánh, Năm mới, Chợ làng vào xuân... Và không chỉ riêng làng Đô Quan mà Đoàn Văn Cừ còn được tắm mình trong lễ hội các làng lân cận như hội chùa Cổ Lễ, hội chùa Keo, hội chợ Yên, hội chợ Viềng... giúp ông sáng tạo nên Đám cưới mùa xuân, Đám hội... và đặc biệt là "Chợ tết":
"Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa,
Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa,
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh,
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh.
Người mua bán ra vào đầy cổng chợ.
Con trâu đứng vờ rim hai mắt ngủ,
Để lắng nghe người khách nói bô bô."
"Mùa xuân, ngày tết đễ gợi nhớ về cội nguồn dân tộc, làm thức dậy trong lòng ta những kỷ niệm, tình cảm thiêng liêng, sâu sắc, đằm thắm về gia đình, tổ quốc. Nhiều phong tục đẹp, sinh hoạt đẹp, cảnh sắc thiên nhiên đẹp diễn ra trong dịp này. Tôi sống trọn vẹn tuổi thơ, tuổi hoa niên ở nông thôn. Những cảm xúc, ấn tượng trữ tình dân dã, lành mạnh, thơm ngát hương đồng gió nội đã sớm quyến rũ tôi, đi vào tuổi vàng, tuổi thanh xuân đời tôi, máu thịt tôi, tâm hồn tôi; giúp tôi sau này, khi hồn thơ đã chín, viết nên những bài thơ, những bức tranh quê thơ mộng ngày xuân, ngày tết" - thi sĩ họ Đoàn thổ lộ.
Cùng với đền đài, lễ hội, thi ca, làng Đô Quan ruột thịt còn là nơi lưu dấu một tình bạn đẹp đẽ thời thanh xuân của Đoàn Văn Cừ với Nguyễn Văn Vịnh. Họ Nguyễn cũng mồ côi cha, được người mẹ nghèo tần tảo cố gắng nuôi ăn học, đặt nhiều hy vọng vào đức con duy nhất của mình. Hai chàng trai mồ côi cùng làng, học giỏi, có chí hướng đã kết thân với nhau. "Những hôm tối đến nhà anh chơi, gặp bữa thì ăn, nhiều tối không về, ngủ lại, hai đứa ôm nhau nằm trong ổ rơm, nói chuyện tới khuya. Không nằm thì tung chiếu ra, thắp đèn, chụm đầu ngồi đọc, viết, sửa thơ cho nhau. Bài thơ Trăng hè ngày ấy, viết được đoạn đầu, tôi đã toan bỏ. Anh đọc thấy được, khuyên tôi nên viết tiếp. Sau này báo Ngày nay in, Hoài Thanh và Hoài Chân chọn đưa vào thi nhân Việt Nam"- Đoàn Văn Cừ nhớ lại. Kỷ vật tình bạn đẹp đẽ mà họ Đoàn còn giữ tới nay là bức thư Nguyễn Văn Vịnh gởi cho ông năm 1941 trên đường phiêu bạt xa quê vào Nam. Bức thư viết dưới dạng văn vần, có nhiều câu rất đẹp:
"Cái gì như thể dây tơ,
Buộc người thơ với người thơ dặm ngàn,
Tôi xa, anh ở lại làng,
Liệu mà tô thắm nhuộm vàng cho quê".
Điều mong mỏi của Nguyễn Văn Vịnh đã trở thành hiện thực. Không chỉ người bạn thân Đoàn Văn Cừ đã "tô thắm nhuộm vàng" cho quê bằng tài năng thi ca, mà ngay cả chính Nguyễn Văn Vịnh trên đường phiêu bạt vào Nam kiếm sống và tìm đường cứu nước, ông đã trở thành một tướng lĩnh tài ba, từng giữ trọng trách chính uỷ Khu 8, rồi sau này là thứ trưởng Bộ Quốc phòng, chủ nhiệm Uỷ ban Thống nhất trung ương. Một người bạn mà thi sĩ Đoàn Văn Cừ luôn lấy làm tự hào.
Hơn 60 năm cầm bút, Đoàn Văn Cừ đã in gần mười tập thơ, trong đó đáng chú ý là Thôn ca I & II, Dọc đường xuân, Đường về quê me và được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001. Thi sĩ ẩn cư Đoàn Văn Cừ đã mãi mãi đi xa từ name 2003, nhưng mỗi khi xuân về tết đến, hình ảnh ông như ẩn hiện đâu đây trong những bài thơ chân quê đượm chất trữ tình. Đó cũng là sự thành công của một đời thơ vốn chỉ có ước mơ khiêm tốn:
"Trong thơ góp một đường cày
Nước non gieo hạt mong ngày nở hoa"



[:)]
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-17 13:19:46Leo*>

 
8. Xuân - Cõi Thiền
 
Tư duy phương Đông là tư duy trực quan, rất cần những phút giây tĩnh tại để hướng nhìn vào mình, cho tư tưởng tình cảm của mình "tự thực hiện". Để làm thế, có lẽ không gì hơn là cùng nhau lần đọc lại một chùm thơ xuân của ông cha ta ít hay nhiều mang cảm hứng Thiền, hoặc mang cái nhìn hồi cố về thực tại.

Người đầu tiên cần nhắc đến là Mãn Giác (1052 - 1096), một Thiền sư đời Lý. Ông chỉ để cho đời duy nhất một bài thơ - một bài kệ - làm trước lúc tịch, nhưng đấy lại là một bài thơ xuân, đan xen cảm hứng với triết luận.
Dưới con mắt Mãn Giác, mùa xuân tượng trưng cho sự "trẻ hóa" - một bước thăng hoa trong chu kỳ đều đặn của vạn vật tuần hoàn. Con người cũng nằm chung trong quy luật ấy. Con người là một sắc tướng hữu hạn, bị chi phối bởi sinh, lão, bệnh, tử, nhưng cũng như muôn vật, nó là một mắt xích nhỏ trong vòng quay tuần hoàn vô tận kia. Vì thế sự sống bao giờ cũng là bất diệt.
Ngay khi đang mấp mé bên bến bờ giữa sống và chết, Mãn Giác vẫn hiểu hơn ai hết rằng cái chết của mình không có nghĩa là chấm hết, mà chỉ là điểm mút của một đột phá, một sự sinh sôi nảy nở lại sẽ khởi đầu. Cũng như mùa xuân lúc đang tàn, tưởng chừng các loài hoa đều rụng sạch, thế mà sau một đêm, sáng ra, một cành mai trước sân bỗng nhiên lại nở rộ:
Xuân ruổi trăm hoa rụng,
Xuân đến trăm hoa cười.
Trước mắt việc đi mãi,
Trên đầu già đến rồi.
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua/ sân trước/ nở cành mai.
(Theo bản dịch Ngô Tất Tố)
...Tiếp sau Mãn Giác phải nói đến Trần Nhân Tông (1258 - 1308), ông vua anh hùng trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lẫm liệt của nước ta ở đời Trần. Ông cũng có mấy bài thơ nói về mùa xuân, trong đó, bài để ấn tượng đậm nhất, theo tôi là bài Cảnh xuân (Xuân cảnh).
Một khung cảnh mùa xuân được chấm phá bằng vài nét, không có hoa đào, không có tiếng pháo, không có hội hè tấp nập, chỉ có duy nhất mấy tiếng chim kêu chậm rãi trong bụi liễu đang trổ hoa, có cái hình ảnh động duy nhất của một bóng mây chậm rãi trôi trên bầu trời làm rợp cả thềm nhà, và có sự đối diện giữa hai con người - chủ và khách, cùng để tâm trí vào nơi hư vô - cõi mờ ảo của mây và núi:
Chim nhẩn nha kêu liễu trổ dày,
Thềm hoa chiều rợp bóng mây bay.
Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế,
Cùng tựa lan can nhìn núi mây.
(Chúng tôi tạm dịch)
Một cảnh sắc xuân thật đơn sơ, thanh đạm nhưng đã để lại trong tâm trí người đọc muôn ngàn vương vấn. Chủ thể sáng tạo ở đây không dùng đến lý tính mà chỉ bằng trực giác đột ngột gợi thức ta, đưa ta vào cái miên viễn của thời gian và cái mênh mông vô tận của đất trời, trong những phút giây mà cả vũ trụ và con người đều như đang chuyển hóa.
Bài thơ thứ ba là bài Tức cảnh ngày xuân (Xuân nhật tức sự) của Huyền Quang (1251 - 1334), một nhà thơ Thiền chính hiệu, một thi sĩ lớn khác đời Trần. Bài thơ này tuy có mượn lại tứ thơ của nhà thơ Ao Đường Trung Nhân đời Tống, nhưng được Huyền Quang thay đổi về câu chữ, và đó cũng là việc làm thông thường trong phép tắc sáng tạo của người xưa, ngay chính Ao Đường Trung Nhân cũng mượn lại tứ thơ của một nhà thơ trước ông.
Bài thơ chỉ nói đến một khoảnh khắc của cái hiện tại diễn ra trước mắt Huyền Quang: dưới giàn kinh tía khoe sắc có tiếng chim oanh hót líu lo, một trang giai nhân 16 tuổi vô tư ngồi thêu gấm chậm rãi. Chợt nghĩ đến mùa xuân đang trôi qua ngay trước mắt mà mình không nắm giữ lại được, nàng bỗng bồi hồi thương tiếc và chỉ trong giây lát, đường kim đang thêu dở đã dừng ngay lại.
Chính cái giây lát "đốn ngộ" ấy của người đẹp cũng làm thức dậy một tình thương vô hạn ở nhà thơ:
Lỏng tay thêu gấm gái yêu kiều,
Hoa rợp, oanh vàng lảnh lót kêu.
Bao nỗi thương xuân, thương biết mấy,
Là khi không nói chợt dừng thêu.
(Chúng tôi tạm dịch)
Trong một câu thơ có cùng hai chữ thương, chữ "thương" trước là thuộc về người thiếu nữ, chữ "thương" sau là của nhà thơ. Nhưng nhà thơ thương cái giây phút thương xuân của người đẹp cũng chính là đang xác nhận một sự liên thông giữa hai con người - hai cá thể người - bằng mẫn cảm của trực giác - trực giác của người này đánh thức trực giác của người kia - đột nhiên cùng bừng ngộ ra dòng trôi chảy vô tận của thời gian mà trong đấy, cái đẹp chỉ là một thoáng hiện hữu.
Nguyễn Trãi (1380 - 1442) cũng là người làm không ít bài thơ xuân. Ông có cái tâm hồn dạt dào của một người đa tình, ở tuổi xế chiều vẫn yêu một nữ sĩ trẻ trung là Nguyễn Thị Lộ. Cho nên trong thơ xuân của ông, có cái cảm hứng lãng mạn của một Lý Bạch muốn "cầm đuốc chơi đêm" - thắp đuốc lên mà chơi cho hết những giây phút cuối cùng trong cái đêm cuối cùng của chín mươi ngày xuân:
Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm,
Những lệ (sợ) xuân qua tuổi tác thêm...
Cầm đuốc chơi đêm này khách nói,
Tiếng chuông chưa gióng ắt còn xuân.
Nhưng bài thơ xuân của ông đọng lâu trong tâm tưởng nhiều thế hệ lại vẫn là bài thơ mang mạch cảm hứng Thiền: bài Bến đò xuân đầu trại (Trại đầu xuân độ). Bài thơ chỉ có 4 câu, phác họa một không gian mơ hồ, ở đấy cỏ xanh lẫn lộn với khói biếc, giữa màn mưa nước sông như vỗ vào nền trời. Và trong cái khung cảnh đều đều, động mà rất tĩnh ấy, có một con thuyền gác đầu ngủ yên trên bãi cát:--PageBreak--
Cỏ xuân đầu bến xanh như khói,
Thêm nữa mưa xuân nước vỗ trời.
Đồng nội vắng teo hành khách ít,
Thuyền kề bãi cát trọn ngày ngơi.
(Theo bản dịch của Phan Võ)
Con thuyền ngủ yên chính là tâm thức Nguyễn Trãi, một Nguyễn Trãi không ngủ nhưng đang tìm thấy sự thảng thích trong việc hòa nhập vào cái vô tâm của tạo hóa.
Đại thi hào Nguyễn Du (1766 - 1820) thường cảm xúc về mùa xuân. Một trong những bài thơ xuân đặc sắc của ông là bài Đêm xuân (Xuân dạ). Cảm hứng Thiền ở bài này không nhiều. Nhưng đây là cảm giác nặng trĩu của một con người ốm, bệnh và hết sức cô độc. Cả bài thơ như phủ bóng tối lên cuộc đời người viết.
Tuy vậy, ở hai câu cuối, nhà thơ bỗng nghe tiếng con sông bên nhà mình đang chảy. Thế là, trong một bừng tỉnh của trí tuệ sâu thẳm, tiếng sóng sông giúp ông nhìn thấy dòng chảy vô tận của thời gian đang ở sát ngay bên cạnh mình, bất chấp và cuốn trôi cả mọi nỗi bất hạnh của mình:
Đêm đen nào thấy ánh dương trong,
Hàng liễu âm thầm đứng trước song.
Ốm liệt giang hồ bao tháng trải,
Xuân về mưa gió suốt đêm ròng.
Lâu năm đất khách đèn chong lệ,
Ngàn dặm quê hương nguyệt dãi lòng.
Ngoài xóm Nam Đoài Long Thủy chảy,
Trôi hoài kim cổ một dòng không.
(Nguyễn Xuân Tảo dịch)
Cũng trong nửa đầu thế kỷ XIX, một tài thơ không kém cạnh Nguyễn Du là Cao Bá Quát (1808 - 1855). Cao là một con người suốt đời đi tìm lẽ sống, một người có ý thức về sự tự do tư tưởng của mình. Ông có một bài Đêm xuân đọc sách (Xuân dạ độc thư), tứ thơ thật lạ. Đêm xuân ngồi đọc sách để tìm lại những mùa xuân xưa nhưng mùa xuân xưa không tìm đâu thấy, trái lại lại thấy dường như mình đang đối diện với người xưa, hay đúng hơn, với thời gian, cái hiện tại của chính mình đang trở thành cũ xưa.
Sau bao nhiêu thất bại ê chề trên trường đời, Cao Bá Quát hiểu cái hữu hạn của khả năng con người, cái vô nghĩa của đời người thoáng chốc. Ông lóe sáng một trực nhận về sự vận động ngược chiều của hai phạm trù không đồng dạng: thời gian thì luôn luôn đi tới, nhưng cuộc sống con người - kiếp người - hóa ra lại đi giật lùi trở lại mà trong sự giật lùi đó, mọi thứ lợi lộc công danh phút chốc đều trở thành hão. Bài thơ cho ta cái dư vị triết lý bàng bạc của một kẻ từ Nho đang đi dần tới Lão, tới Thiền:
Khách nay chẳng thấy xuân xưa nữa,
Thổn thức xuân nay gặp khách xưa.
Nay hóa thành xưa nào mấy chốc,
Hư nhìn ra thực khỏi lầm chưa?
Bao phường danh lợi cơn mưa sáng,
Mấy bậc anh hùng đám bụi mờ.
Tục lụy cười mình chưa dứt được,
Gần đây sách vở quá say sưa.
(Nguyễn Văn Tú dịch)
Nhà thơ cuối cùng mà tôi muốn đề cập trong mạch thơ xuân này là Nguyễn Khuyến (1835-1909). Ông cũng có nhiều bài thơ xuân. Bài thơ được nhớ rất nhiều là bài Chợ Đồng thật ra không phải là một bài thơ Thiền, mà chủ yếu thuộc mạch thơ hồi cố. Phiên chợ Đồng vẫn còn hiện diện đấy nhưng tác giả đã không thể chống gậy đi xem chợ được nữa, cho nên khung cảnh phiên chợ cuối năm được tác giả vẽ ra là một khung cảnh gợi bằng trí nhớ.
Cái không khí ảm đạm của một phiên chợ vào ngày giáp Tết có lẽ bao nhiêu năm trời vẫn thế, nhưng trong cảm quan nghệ thuật Nguyễn Khuyến, một cái gì đã thay đổi, thời của những phiên chợ Đồng xưa đã mất.
Nhà thơ viết nên những dòng thơ tâm trạng, với những câu hỏi buông lửng, những hình ảnh đẹp não nùng, những cặp từ láy gợi nên âm thanh buồn bã về sự rã đám của một phiên chợ chiều, nhất là với cái kết thúc đột ngột bằng một tiếng pháo trúc như khép lại một thời dĩ vãng, cũng là tiếng thở dài của Nguyễn Khuyến về những tập tục quen thuộc của làng quê một đi không trở lại:
Tháng Chạp hai mươi bốn chợ Đồng,
Năm nay chợ họp có đông không?
Trở trời mưa bụi còn hơi rét,
Nếm rượu tường đền được mấy ông?
Hàng quán người về nghe xáo xác,
Nợ nần năm hết hỏi lung tung.
Dăm ba ngày nữa tin xuân đến,
Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.
Mùa xuân đem lại cái mới, đem lại sự hồi sinh cho muôn vật. Nhưng mùa xuân đối với lứa tuổi từng trải còn là sự tự vấn, tự chiêm nghiệm, về những gì đắc thất trong kinh lịch cuộc đời

Nguyễn Huệ Chi

[:)]
 
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0

 
9. Xuân Thiền
 
Thích Thông Huệ
 

Đề tài này có vẻ lạ lẫm đối với người đời, nhưng quen thuộc với những người con Phật, và đặc biệt thân thiết với các Thiền Sinh, vì liên quan đến công phu tu tập hàng ngày.
Nói về mùa xuân, ai cũng hình dung đến những điều tốt đẹp đang chờ đón mình trong năm mới. Nhưng rồi mùa xuân cũng đi qua, xuân năm nay trở thành xuân năm trước. Thời gian qua không bao giờ trở lại, như tuổi già không thể quay về thời trai trẻ, con người mỗi ngày một tiến gần đến cái chết. Hiểu rõ điều này không phải để chúng ta có cái nhìn yếm thế bi quan về cuộc đời, mà để nhận ra sự bình đẳng tuyệt đối của lý vô thường chi phối mọi loài vật. Từ đó ta có cách sống phù hợp với đạo lý, chuẩn bị chu đáo cho ngày từ giã cõi đời. Thiền sư Thiên Tùng có bài kệ :
Sáng nay đều nói thêm một tuổi
Tôi bảo ngày này bớt một năm
Thêm bớt lại qua số khôn tính
Chỉ cần dứt sạch duyên thế gian
Cốt là biết được trong duyên chủ
Trăm ngàn ức kiếp thường an nhiên
Các Thiền sư cũng thường làm thơ, nhưng thơ của các Ngài không chứa đựng những tình cảm thông tục mà trái lại, tràn trề đạo vị. Mượn cảnh bên ngoài, các Ngài diễn tả nội dung tâm chứng của mình, đồng thời nhắc nhở cảnh tỉnh cho người. Sáng ngày mùng một Tết, ai nấy đều mừng nhau thêm một tuổi, chúc nhau tấn tài tấn lợi, hạnh phúc tràn đầy. Chỉ riêng Thiền sư lại thấy mọi người bớt đi một năm trong quỹ thời gian hạn hẹp. Tuy vậy, " Nói thêm nói bớt nói lại nói qua" chỉ là những con số tương đối theo quy ước của người đời. Thật sự, thời gian vốn vô cùng, không gian vốn vô biên, làm sao cân đo đong đếm? " Dứt sạch duyên thế gian" không phải trốn vào rừng xanh tránh duyên, mà vẫn tiếp duyên  nhưng không dính mắc với trần cảnh. Chủ yếu là làm sao trong muôn duyên nhận ra " duyên chủ", thì dù trải qua trăm ngàn ức kiếp cũng đều an nhiên tự tại.
Người chủ trong muôn duyên ấy là ai? Làm sao có thể tự tại giữa hai bờ sinh - tử, làm sao vĩnh viễn trong Xuân thiền khi bốn mùa đất trời vẫn mãi luân lưu bất tận?.
Nhiều tiền thân của Đức Thích Ca là bậc Đại thí chủ. Ngài đã bố thí cúng dường những vật phẩm mà người đời không sao bắt chước được : Tài sản, vợ con, thậm chí móc mắt, chặt tay, chẻ xương, lóc thịt ... để cầu Đạo Vô Thương. Nếu hiểu theo nghĩa thông thường, ta khó thể tin được điều phi thực tế ấy. Bởi vì, trừ tiền bạc tài sản, chẳng ai cần đến các bộ phận trong cơ thể ta, trừ những người bệnh phải ghép cơ quan tạng phủ, mà cũng phải trải qua rất nhiều thủ tục xét nghiệm và phẫu thuật phức tạp mới có thể sử dụng được. Thật ra đây chỉ là ẩn dụ. mượn hình ảnh diễn tả công phu tu hành : "Bố thí" là buông xả, không đắm nhiễm, không dính mắc. Người đời khi mắt vừa thấy sắc liền khởi niệm phân biệt đẹp xấu, đẹp khen xấu chê, khen rồi muốn chiếm hữu, xấu lại mong xa lánh. Tương tự khi tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi ... Từ đó tạo nghiệp, nghiệp thiện dẫn đến ba đường lành (Trời - Người - A tu la), nghiệp ác đưa vào ba đường dữ ( Địa ngục - Ngạ quỷ - Súc sanh). Riêng những bậc đạt đạo, dù đang ở trong trần thế, sáu căn vẫn tiếp xúc với sáu trần, vẫn rõ ràng thấy nghe hay biết, nhưng tâm các Ngài không vướng bận, không dao động.Ây là thực hiện hạnh bố thí tích cực và đầy đủ ý nghĩa nhất.
Luật sư Nguyên đến hỏi Thiền sư Huệ Hải :
Hòa thượng có dụng công tu tập chăng
Thiền sư đáp :
Có dụng công
Luật sư hỏi tiếp:
Hòa thượng dụng công thế nào
Đói đến thì ăn, mệt đến thì ngủ.
Mọi người ai cũng như vậy, có thể cho là dụng công giống Hòa thượng chăng?
Chẳng giống. Khi đói họ chẳng chịu ăn, đòi trăm thứ. Khi mệt chẳng chịu ngủ, tính toán đủ điều.
Phật Hoàng Trần Nhân Tôn trong bài Phú cư trần lạc đạo có bài kệ :
Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên,
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
Nghĩa :
ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên
Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền.
Trong nhà có báo thôi tìm kiếm,
Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiềnLà người, ai cũng có những nhu cầu thiết yếu, trong đó ăn và ngủ là đòi hỏi tự nhiên theo quy luật sinh tồn. Nhưng do sử dụng ý thức phân biệt, nên ăn thì đòi món ngon vật lạ, ngủ còn suy nghĩ tính toán được mất hơn thua. "Đói ăn mệt ngủ" của các Thiền sư, mới nghe tưởng đơn giản nhưng thật sự, đó là cơ phong cao vút của các bậc ngộ đạo hồn nhiên xứng tánh. Các Ngài vẫn ăn vẫn ngủ, nhưng với tinh thần tuỳ duyên, không chọn món ăn ngon, nơi ngủ tốt, cũng không bắt cơ thể chịu đói khát mệt nhọc. Khổ hạnh ức chế là trái với tự nhiên, buông lung hưởnh thụ lại sa vào tội lỗi, cả hai cực đoan đều không phù hợp với lý Trung đạo của nhà Phật. Các Ngài đã nhận ra và hằng sống với "Của báu trong nhà", nên ở giữa chợ đời mà vẫn vui với Đạo. Hàng ngày vẫn đối diện với cảnh mà không sinh tâm phân biệt thị phi tốt xấu, vẫn giữa muôn duyên mà tuỳ duyên tiêu nghiệp cũ, thì ngay đó là sống Thiền, đâu cần hỏi Thiền làm chi nữa?
Nhưng làm sao nhận ra "Của báu trong nhà" ?Chúng sanh vô minh chấp thân tứ đại là thật, chấp tâm sinh diệt là thật mình, từ đó tạo nghiệp thiện ác rồi quẩn quanh trong lục đạo. Những bậc Giác ngộ nhận ra thân tâm cảnh đều do duyên hợp huyễn có, như điện chớp như sương mai. Ánh sáng giác ngộ bừng lên, bóng tối vô minh tự dưng không còn;  như căn nhà muôn đời tối tăm, khi đèn bật lên tự nhiên sáng rực.Bóng tối lúc ấy trú ẩn nơi nào? Bóng tối không chạy đi đâu khác, ánh sáng cũng không có chổ cư ngụ. Chúng chỉ là hai mặt của thực thể, tạm thời đối đãi qua lại. Tâm người cũng thế khi còn vọng tưởng phiền não tức còn trong bóng tối, khi dứt bặt vọng niệm mà vẫn thấy biết rõ ràng là lúc ánh sáng bừng lên. Như vậy, chúng sanh và Bồ tát đều cùng một bản thể là Tánh giác thường trụ, sẵn đủ ở mọi loài, nếu quên (mê) là phàm phu, nhớ lại (ngộ) là Hiền Thánh.
Mặt khác, những đợt sóng tâm thức chợt có chợt không, mang hình tướng của pháp trần nên có sinh có diệt, còn tánh giác không hình tướng nên không hề có đến đi sinh diệt bao giờ. Phần hữu hình là Sắc, bị hạn cuộc về thời gian và  không gian, thuộc Tích môn. Phần ẩn tàng là Không, là thể tánh nguyên vẹn của vũ trụ vạn loại, thuộc về Bản môn. Đời là mặt hình tướng biểu hiện, Đạo là phần ẩn tàng không hình tướng. Nhưng người tu không phải bỏ đời cầu đạo, mà từ thế giới hữu vi của Đời mà nhận ra lý Đạo vô vi. Thiền sư Linh Vân trãi qua ba mươi năm đi tìm lẻ thật, chỉ thấy có lá cành rụng khô. Không ngờ của báu sẵn đủ trong nhà, vì mãi phóng tâm đuổi theo cảnh mà cô phụ chính mình. Khi đủ thời tiết nhân duyên, nhìn hoa đào nở, Thiền sư hoát nhiên đại ngộ. Chân lý nào ở nơi hoa đào nở? - Hoa tàn hay nở là sự biến đổi tất nhiên của các pháp. Thiền sư đứng trước Hoa, không khởi niệm dính mắc trên hoa cũng không nhắm mắt chẳng nhìn, mà ngay nơi hoa trực nhận tánh thấy, trở về con người chân thật ban sơ, chưa bao giờ vắng thiếu.
Một vị Tăng hỏi Thiền sư Huệ ở Hoa Nghiêm :
người xưa nói: "Vọng tâm không chổ nơi tức Bồ đề". Vậy ngay khi đang vọng có Bồ đề không ?
Thiền sư trả lời :
lời đáp đã rõ.
Tăng thưa :
Con không hội.
Vọng tâm không chổ nơi tức Bồ đề.
Câu đáp của Thiền sư thật không có chổ cho đương cơ bám víu. Nếu Ngài bảo "có" hay " không có Bồ đề". Ngay khi niệm khởi, biết niệm chỉ là hư dối (vọng), tức không chổ nơi sinh ra. biết rõ như thế là Giác (Bồ đề), ngay đó tức là vô sanh (Niết bàn). cảnh giới Niết bàn không ở đâu xa mà ngay đương xứ, khi tâm Đốn ngộ lập cước trên cái thấy như thị, quán triệt thực tướng các pháp đang là trong sq1t na hiện tiền bất động. Nhận ra sát na vĩnh cữu ấy, Ngài Ca Diếp mỉm cười trong hội Linh Sơn, Lục tổ Huệ  Năng thốt lên : ' Đâu ngờ tánh mình xưa nay thanh tịnh ...". đời tu của các Ngài vượt qua một bước trọng đại, nhà Thiền gọi là chuyển Y, rắn hóa rồng không đổi vảy.Đại thi hào Nguyễn Du, tác giả truyện Kiều bất hủ, trong giây phút chợt tỉnh trước tảng đá phân kinh của Thái Tử Lương Chiêu Minh, đã có những câu thơ xuất thần.
Nhân liễu thử tâm nhân tự độ
Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu
Và :
Ngã độc Kim Cương thiên biến linh
Kỳ trung áo chỉ đa bất minh
Cập đáo  phân kinh thạch đài hạ
Tái tri vô tự thị chân kinh.Thái Kim Lan dịch :
Người tu được tâm độ ấy rồi
Linh Sơn chỉ ở long người thôi
Và :
Ta đọc Kim Cương trên nghìn lượt
Lắm điều sâu kín hiểu không rành
Đài đá phân kinh nay được đến
Mới hay “không chữ” ấy chân kinh.
Một bậc trí đức tài hoa siêu tuyệt như thế, nghiên cứu kinh Kim Cương công phu khó ai sánh nổi như thế, vẫn phải than rằng, còn lắm điều sâu kính diệu mầu chưa hiểu thấu. Bởi vì, hiểu kinh bằng ý thức phân biệt, bằng tư duy của chất xám thì chỉ hiểu trên mặt văn tự ngôn ngữ, chưa phải là kinh thật. Khi mọi vọng niệm bặt dứt, xoay lại chính mình bắt gặp con người chân thật hằng hữu, mới hay hội Linh Sơn chỉ tại “tâm đầu”, mới hay chân kinh chính là “Kinh vô tự”.
Kinh vô tự mới là kinh chân thật. Vì cớ sao? Vì ở nơi ấy không thể dung lời diễn tả, không thể dung ý nghĩ suy. Bặt đường ngôn ngữ, dứt tuyệt tâm hành mà vẫn tường tận rõ biết. Như Lão tử đã nói : “Đạo khả đạo phi thường đạo, Danh khả danh phi thường danh”. Đạo mà còn nói được chưa phải là Đạo thường, Danh mà còn gọi tên được chưa phải là Danh thường. Đạo và Danh chân thường không hình tướng nên không đến đi, không tư lường được nên không có tên gọi. Và cũng vì không tên nên được đặt rất nhiều tên, tùy cảm nhận của đương cơ khi sáng  Đạo ( Phật tánh, Pháp than, Chân tâm, Bản lai diện mục, Ông chủ …) hoặc khi muốn khai thị cho người (Cây Bách trước sân, ba cân gai …). Liên hệ đến cảnh Xuân, các Ngài cũng đã thi vị hóa con người chân thật ấy bằng nhiều tên : Nhất Chi Mai của thiền sư Mãn Giác, Chúa Xuân của sơ tổ Trúc Lâm, Tâm xuân của thiền sư Tuyết Đậu …
Thiền sư Thanh Viễn Phật Nhãn đời Tống diễn tả mùa xuân của Ngài như sau :
Ngày xuân xuân trong núi
Việc xuân thảy đều xuân
Hồ xuân ánh xuân chiếu
Khí xuân hết mây xuân
Khách xuân lòng xuân động
Thi xuân xuân càng tươi
Chỉ có xuân biết xuân
Muôn kiếp một mùa xuân.
Quả là một mùa xuân sung mãn, hiện diện khắp mọi nơi, từ cảnh vật bên ngòai đến tận đáy sâu tâm thức. Thiền sư tu trên núi, thấy ánh nắng ấm áp chiếu trên mặt hồ xanh biếc, không khí trong lành thoang thoảng hương hoa, vài cụm mây trắng bồng bềnh trôi trên bầu trời thênh thang … Ngài biết mùa xuân đất trời đang đến. Người đời trước cảnh xuân, ai cũng thấy long rộn rã theo sự đổi mới của thiên nhiên, tươi trẻ theo sắc màu lộng lẫy của ngàn hoa, tưng bừng theo tiếng chim líu lo trên cành. Tâm hồn người biết Đạo cũng chan hòa với vạn vật, nhưng các Ngài thật sự sống với chúa Xuân, thưởng thức xuân đời bằng Tâm Xuân, nên muôn kiếp vẫn chỉ một mùa xuân ấy. Khi ngắm cảnh mà có ý thức phân biệt ta là người ngắm, cảnh là đối tượng được ngắm, thì người thưởng xuân chỉ là khách. Nhưng khi Tâm Xuân thưởng ngoạn Xuân đời, thì tất cả đã hòa quyện thành một thể nhất như. Chúa Xuân hiển hiện rõ rang, luôn luôn có mặt.
Khi vua Lý Thái Tông vào núi thăm Thiền sư Thiền Lão, vua hỏi :
Hòa thượng ở núi này bao lâu?
Thiền sư trả lời bằng hai câu kệ :
Đản tri kim nhật nguyệt
Thùy thức cựu xuân thu
Dịch :
Sống hôm nay biết hôm nay
Còn xuân thu trước ai hay làm gì
Người đời luôn bận rộn với biết bao nhiêu ý nghĩ, hết suy tính chuyện tương lai đến hoài niệm về quá khứ. Thiền sư thì không thế, các Ngài luôn an trú vững chãi trong giây phút hiện tại, chánh niệm tỉnh giác trên từng biến dđộng của thân, từng thay đổi của tâm và chuyển dời của cảnh. Thân tâm cảnh vô thường chi phối, song các Ngài vẫn viên mãn trong sát na hiện tiền bất động. Vì sao được như thế?. Bởi vì :Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân
Dịch :
Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác
Trăng trong mây bạc hiện tòan chân
Trực nhận và hằng sống với chánh giác chân thường, thì mọi vật hữu hình hay vô hình đều nằm trong ánh giác, đều hiển hiện pháp than thường trụ. Có phải đây là khoảnh khắc thiên thu mà “Tình dữ vô tình tề thành Phật Đạo”?. Chạm mắt tức Bồ đề, Ta Bà thành tịnh độ, tất cả pháp thế gian chẳng phải là pháp Phật đó sao?
Đối với những bậc đạt đạo, tất cả pháp đều là pháp Phật vì các Ngài đã thẩm thấu tinh thần bất nhị, tư tưởng vút cao của Phật môn. Trong thường tục mà siêu tục, trong khổ đau có hạnh phúc, trong rang buộc có giải thóat. Không thể tìm hạnh phúc chân chính, tìm giải thoát tuyệt đối ở ngoài chốn đau khổ ràng buộc, cũng như tìm Chúa Xuân không phải chờ mùa đông đi qua. Bởi vì chúa Xuân luôn có mặt, sự an lạc xuất thế gian vẫn được hiện hữu ngay trong cuộc sống đời thường, khi vẫn hay biết rõ rang mà không còn khởi niệm phân biệt hai bên. Đến đây thì “Thênh thang bầu trời rộng, đứng riêng trong mù tột”. Như Thiền sư Tuyết Đậu ngắm cảnh xuân về trên núi, thấy canh xanh trùng điệp, nước hồ long lánh, trời xanh bát ngát.Tâm Ngài chan hòa cùng muôn tượng mà vẫn đứng riêng trong mù tột, ngay trong cảnh thế gian mà vẫn an vị nơi xuất thế. Từ đó, chúng ta thấm thía hai câu kệ thường được nhắc đến trong nhà Thiền :
Bóng trúc quét sân trần chẳng động,
Vầng trăng xuyên biển nước không chao.Trong thế giới hữu vi, các Thiền sư vẫn sinh hoạt, vẫn thi thiết nhiều phương tiện độ sanh. Nhưng dù việc gì, ở đâu, các Ngài vẫn luôn an trú ở vô vi, như bong trúc quét sân không làm bụi bay, vầng trăng chiếu bong xuống biển không làm nước chao động. như thế, xuất trần là ở trong trần mà không vướng nhiễm bụi trần, xuất thế gian là vẫn ở trong thế gian mà không bị phiền lụy bởi cuộc sống thế gian. Hình ảnh ông già tay cầm bình rượu tay xách cá chép, bức tranh cuối cùng trong mười bức  tranh chăn trâu Thiền tong, là hình ảnh đẹp tuyệt của những bậc giác ngộ đi vào cuộc đời, tùy duyên hóa độ muôn loài mà không thấy có chúng sanh nào được độ.Áp dụng vào công phu tu tập, trước hết chúng ta cần dọn dẹp rác rưởi trong kho tâm thức, tức những nghiệp ác của thân miệng ý tích chứa bao đời nay. Dùng nghiệp lành thay thế nghiệp ác, dần dần ta trở nên người hiền thiện, ý luôn nghĩ điều lành, miệng luôn nói lời lành và than luôn làm việc lành. Ta tưới tẩm tâm mình bằng những ý nghĩ lạc quan tích cực, yêu đời yêu người, mong muốn mọi người đều được hạnh phúc. Tâm ta dần trải rộng, ta thương yêu đồng loại bằng tình thương bình đẳng vô vị lợi, vì biết ai cũng có những nỗi khổ niềm đau cần chia sẻ.
Tích cực làm lợi ích cho người, theo luật nhân quả, tự than tâm ta thấy an lạc, hòa đồng với tất cả, phiền não tham sân si dần dần giảm thiểu. Theo tinh thần Phước – Huệ song tu, một mặt ta tinh tấn tu hành, một mặt nổ lực giúp đỡ người khác tùy hoàn cảnh và khả năng của mình. Quán chiếu Bát Nhã sâu sắc, thiền sinh thấy rõ than tâm đều do duyên hợp, chỉ giả lập mà không thật có,, thì bao nhiêu phiền não nhiễm nhơ chỉ là hoa đốm giữa hư không. Khi đủ thời tiết nhân duyên, nhận ra con người thật của chính mình, đời tu ta đã có sự chuyển hóa tận gốc rễ. Ta đã có nơi chắc chắn để an than lập mệnh, đường ta đi không còn lầm lạc, niềm tin ta không cách gì làm lung lay được nữa.
Biết rõ tân tâm cảnh đều không thật, thiền sinh có thể chịu đựng và bình tĩnh ứng phó trước sự thuận nghịch của hoàn cảnh và sự đổi thay của long người. Tám gió là thước đo định lực của người tu : lợi lộc, tổn hao, phỉ bang, khen ngợi, ca tụng, nói xấu, cảnh khổ, niềm vui. Đối với người này, tám hòan cảnh trên như những trận bão, với người khác như ngọn gió mạnh, với người tu khá hơn thì chỉ như cơn gió hiu hiu. Đến lúc nào đó, trước tám gió mà ta vẫn bất động an nhiên, tự biết công phu tu tập của ta đã tiến một bước dài.
Ngạn ngữ Anh có câu :
Tự xét mình miễn là không thẹn
Thị phi miệng thế có ngại gì
Cái chấp hai bên là tập khí cố hữu của con người : ưa thiện ghét, khen tốt chê xấu … đưa đến thị phi nhân ngã, đầu mối của sự tranh chấp bất hòa làm tổn thương cho mình cho người. Đời sống  Thiền tập giúp người tu luôn xoay lại chính mình, sống với những thời khắc hồn nhiên của tự tánh, siêu vượt thế giới của phân biệt nhị biên. Sự hồn nhiên biểu hiện qua phong cách hang ngày, tiếp cảnh mà không duyên theo cảnh, sống giữa các pháp mà không làm bạn với pháp nào.
Mặt khác, chúng ta cần cảnh giác với những thuận duyên, vì lửa nóng dễ tránh mà nước mát lại thường làm chết chìm. Hòan cảnh luôn xuôi thuận, làm việc gì cũng thành công, được nhiều người ca tụng, khen ngợi … thường làm con người sinh tâm kiêu mạn, từ đó đường tu đi xuống mà không biết. Ngược lại, nghịch cảnh giúp ta thức tỉnh, cảm nhận sự bất toàn của cuộc sống nên bớt đắm luyến dục lạc thế gian. Gặp nhiều gian nan trở ngại, ta có cơ hội nuôi dưỡng ý chí kiên cường, cố gắng vượt qua sóng to gió lớn. Ví như cái cây mọc trên đất mầu mỡ, thường mau lớn và mau ra hoa kết trái, nhưng lại dễ đổ ngã khi gặp trận cuồng phong. Còn một cây mọc nơi đất đá cằn cỗi, tuy chậm phát triển nhưng khi đã đủ mạnh, lõi cây thường cứng và vững chãi hơn rất nhiều. cho nên, người tu chúng ta không sợ thất bại mà nên tỉnh giác trước thành công; và khi định lực tăng tiến, ta siêu vượt những niềm đau nỗi khổ cùng những niềm vui mừng của thế tục.Tuy tập khí vẫn còn và đôi lúc vẫn bùng lên mãnh liệt, nhưng nhờ công phu thiền tập, ta có sức kham nhẫn tự chủ, không để lạc vào lối rẽ đường mê.
Thiền sư Vạn Hạnh từng bảo :
Sá chi suy thịnh việc đời
Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành
Nếu chúng ta dính mắc vào đời suy thịnh, ta cứ mãi làm khách phong trần, lang thang vĩnh kiếp trong lộ trình sinh tử. Nếu biết thịnh suy, vinh nhục chỉ như giọt sương trên cành cây ngọn cỏ, hư dối không thật, ta có thể an nhiên tự tại trước mọi hòan cảnh. Tự than công phu theo chánh pháp, nếm mùi pháp hỉ thiền duyệt, ngay nơi bất an mà biểu hiện tự do, ngay chổ ồn ào xáo động mà sống trong sát-na bất động. Khi biết được mình là ai, đời tu của ta tăng tiến rất nhanh mà không sợ lạc lầm. tất cả các pháp luôn chuyển biến theo tiến trình nhân quả, bốn mùa đắp đổi theo nhau, nhưng ngay utrong long sự biến chuyển đó, vẫn có một cành hoa xuân mãi không bao giờ tàn rụng.
Thiền sinh chúng ta là những người diễm phúc, hưởng được xuân đời và cả xuân đạo. trời đất như quán trọ, chúng sanh lên xuống ba cõi như khách qua đường, có khi tạm nghĩ chân giây lát rồi lại tiếp tục cuộc hành trình thiền lý. Nguyên nhân chỉ do điên đảo chấp than tâm mình là thật, chấp cảnh bên ngòai là thật nên quay cuồng theo chúng mà tạo nghiệp sinh tử. Nếu biết tất cả những biến đổi của thân tâm cảnh đều là khách, còn người chứng kiến mọi biến đổi ấy, người không hình tướng luôn hiện diện vượt thời gian không gian mới là con người chân thật, chúng ta đã có nơi nương tựa vững chắc đời đời. Khi ấy, ta mới thật sự hưởng một mùa xuân bất diệt, mới sống trọn vẹn trong xuân thiền.
Cầu chúc tất cả chúng ta đều biết cách quay gót trở về quê nhà muôn thuở, vĩnh viễn an vui trong xuân thiền – bây giờ và mãi mãi.
Đi với người hiền như đi trong sương
Không ướt áo nhưng thân thường mát lạnh
Đi với người dữ như đi giữa rừng gươm
Không bị thương nhưng tâm thường sợ hãi

lh
Đăng nhập để trả lời
0

 
10. Tản Mạn Đầu Xuân
 
Như - Không
 
“Ta cứ tưởng trần gian là cõi thật,
Thế cho nên tất bật đến bây giờ”
Một ngày cuối năm, tôi đến thăm người Thầy học cũ, dạy tôi môn Toán, những năm ở bậc Trung-học. Thầy cũng đã già và đang sống với một cô con gái út, đã ra trường và hiện làm việc cho một tờ báo lớn ở Thành phố này. Chỉ có hai cha con sớm hôm quấn quít bên nhau trong căn nhà nhỏ, ở tận cùng một con hẻm hẹp và sâu, nhưng mọi thứ đều sạch sẽ tươm tất và không khí trong gia đình thật ấm cúng, dễ chịu.
Cứ mỗi lần đến thăm Thầy, được ngồi bên Thầy chuyện trò, đàm đạo trong không khí thân thương của gia đình, đậm sắc lễ giáo nhưng bình dị, an ổn, tâm hồn tôi cảm thấy dâng lên một niềm vui dào dạt không sao tả được của tình Thầy trò mà có lẽ ngày hôm nay ít còn được gặp ở những con em của chúng ta trong thời hiện đại.
Với tuổi tác, thì Thầy chưa đến tuổi cổ lai hy, nhưng vì cái nghề nghiệp đặc biệt bắt buộc phải dùng cả thân lẫn tâm trong một thời gian dài, cộng với cát bụi trong cuộc đời cũng đã làm cho Thầy già đi nhiều lắm.
Với hơn ba mươi năm cầm phấn, xuân hạ vần xoay, bốn mùa ấm lạnh, mọi vật đổi thay mà Thầy thì không lúc nào không gò lưng trên bục gỗ. Là một kỹ sư tâm hồn, cho nên tâm tư Thầy lúc nào cũng nghĩ đến sự trưởng thành tốt đẹp của những thế hệ tương lai, nên Thầy đã dồn hết tâm trí, sức lực, cả mồ hôi lẫn nước mắt để cố gieo trồng và vun xới những mầm non tri thức cho hết lớp trẻ này đến lớp trẻ khác, thì hỏi làm sao Thầy không già đi trước tuổi cho được.
Cứ mỗi năm qua nhìn mái tóc của Thầy ngày càng thêm bạc (mặc dù người viết và những người bạn đồng trang lứa đã học với Thầy, đều xấp xỉ sáu mươi, cũng đã hoa râm), người Thầy càng già hơn, tự lòng thấy dâng trào một niềm thương cảm.
Tôi còn nhớ, hồi học lớp ba, lớp tư bậc tiểu học, mỗi khi giáo viên chủ nhiệm lớp có việc phải nghỉ, thì có Thầy Hiệu trưởng già gần về hưu đến dạy thế. Không lần nào Thầy ấy dạy thế mà không nói một câu nằm lòng, chua chát, lẫn đắng cay: "nghề Thầy giáo bạc bẽo lắm".
Hồi ấy, với đầu óc non nớt, chúng tôi cho câu nói của Thầy Hiệu trưởng già rằng nghề Thầy giáo là bạc bẽo, là không đúng. Nhưng qua tháng năm lăn lộn trong cuộc đời, đến bây giờ đã hai thứ tóc trên đầu, đã gần kề miệng lỗ, tôi mới biết câu nói ấy hoàn toàn chính xác, chính xác không phải cho Thầy, mà cho chúng tôi, những học trò của Thầy vậy.

Những người trò như chúng tôi thật bạc bẽo. Những người học trò của Thầy đã trưởng thành, đã có địa vị trong xã hội, là những ông này bà nọ nên đã quên hết những gì sót đọng ở phía sau, quên tất cả, kể cả những người đã từng cầm bàn tay nhỏ xíu của mình, gò những chữ i, chữ a của những ngày đầu tiên trong cuộc đời biết thế nào là đi học.
Thật ra trong cuộc đời, mỗi người muốn có được hạnh phúc chân thật nên biết quên và cũng nên biết nhớ. Nên quên đi những tị hiềm, thù hằn khó ở, quên đi những lợi ích cá nhân, những thú vui xa hoa ích kỷ mà lo cho cái chung của xã hội. Nên biết nhớ, biết nghĩ đến ơn đức sinh thành mà đền đáp, và không phải chỉ có tiền là có thể bù đắp được, mà phải tự thể hiện bằng chính tâm mình. Nên nhớ đến ơn Thầy cô dạy dỗ từ lúc bắt đầu học sổ móc câu. Nên quên và nên nhớ thì nhiều lắm.
Với người tu Phật ngày nay, chúng ta hãy khiêm nhường mà tự làm Á thánh trở xuống thì hơn, nghĩa là còn biết nên quên những gì đáng quên và nên nhớ những gì đáng phải nhớ vậy. Còn lên tới bậc Thánh nhân thì các Ngài không còn có chỗ nhớ quên, mà chúng ta thì với chưa thể tới.
Tuy nhiên, trong đời này vẫn có những người chưa làm nổi "người nên" mà đã vọng thấy mình thành Thánh rồi, cũng chẳng phải là ít. Câu nói "Nhứt tự vi sư, bán tự vi sư " trong thời đại vi tính này có lẽ đã mờ nhạt và biến mất rồi ư? Lang mang với ý nghĩ riêng tư mà quên mất câu chuyện với Thầy.
Sau một hồi chuyện vãn trăm việc đông tây, Thầy tôi chỉ cho tôi thấy một bức tranh chữ, mà ở khoảng chính giữa cuối cùng của tờ giấy lớn, được dán lên một bloc lịch mới, năm đầu tiên của Thiên niên kỷ thứ ba. Có lẽ đây là tấm bìa lịch "tự tác tự dụng" của một người nào đó làm ra để biếu Thầy, cốt tỏ lòng yêu mến, kính trọng Thầy chăng?
Nói là tranh, nhưng thật ra chẳng có một bức tranh hay hình ảnh nào trên tấm bìa lịch, ngoài hai câu thơ bỏ lửng, đậm sắc Thiền, được viết với những nét văn hoa rồng bay phượng múa, mà tôi mạn phép dùng làm đề tựa cho những giòng tản mạn đầu xuân này.
Không biết trước và sau hai câu này còn có những câu nào nối tiếp nữa hay không, hay là người sáng tác ra nó cố tình bỏ lửng. Hai câu thơ không thấy đề tên tác giả. Hay là tên tác giả ẩn khuất đâu đó trong những nét chấm phá rồng bay phượng múa kia mà không thể nhận ra chăng?
Hai câu thơ thật hay, nói lên được chỗ khó nói của một người vừa choàng tỉnh cơn mê, tức cũng là vừa tự chợt nhận ra rằng từ lâu nay ta đã và đang sống trong mộng mị mà không hề hay biết. Thầy trò chúng tôi cùng ngồi bên nhau uống trà, cùng tán thưởng không phải hai câu thơ hay, mà tán thưởng cái con người bằng xương bằng thịt, đã nhận ra được chỗ huyễn sanh, huyễn diệt của vạn pháp mà viết nên được hai câu thơ đó.
Trước khi tôi ra về, Thầy bảo, hai câu thơ bỏ lửng mà hay quá, anh nên thêm hai câu nữa cho trọn ý. Tôi cũng chỉ mới bập bẹ làm đôi ba bài thơ con cóc trong vài năm được rảnh rỗi gần đây thôi, mỗi khi có chút cao hứng. Nhưng Thầy đã bảo tôi nào dám chối từ, vì sợ rằng Thầy sẽ giận, nên đành mạo muội thêm vào hai câu, tạm gọi là chút quà mừng xuân, chúc thọ của đứa trò nghèo kính dâng tặng Thầy trong ngày đầu năm của Thiên niên kỷ vậy.
Buổi chiều hôm đó, công việc rảnh rỗi, tôi đem hai câu thơ chép được ở tấm bìa lịch nhà Thầy ra xem lại, và nối tiếp thêm hai câu cuối cho trọn. Rất mong tác giả của hai câu thơ trên đề tựa cho phép chúng tôi làm việc này, vì thật ra đó cũng chẳng phải là chúng tôi cố ý, mà là lỗi của người làm tấm bìa lịch đã viết lấp lửng (có lẽ còn nhiều câu nữa chăng? cũng như không đề tên tác giả), và nhất là theo chúng tôi, lỗi của chính tác giả hai câu thơ viết hay quá, dễ làm sáng "mắt tâm" người khác vậy. Chỗ tiếp nối của chúng tôi nếu không vừa ý, cũng mong được hoan hỷ bỏ quá cho. Chúng tôi xin dừng lời tản mạn đầu xuân bằng hai câu thơ tiếp nối với đề tựa.
Nay chợt tỉnh nhơn sanh là kiếp mộng,
Nhẹ thân buông, thong thả vượt hai bờ.
 
Đi với người hiền như đi trong sương
Không ướt áo nhưng thân thường mát lạnh
Đi với người dữ như đi giữa rừng gươm
Không bị thương nhưng tâm thường sợ hãi

lh
Đăng nhập để trả lời
0

 
Mộng Và Thực

Tịnh Nghiêm- Nghiêm Xuân Cường

Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bào ảnh
Như sương sớm, chớp sáng
Nên quán sát như vậy
Kinh Kim Cương


Những câu chuyện tình lụy thường xảy ra như cơm bữa và cũng chẳng mấy ai thèm để ý đến những chuyện lẩm cẩm xưa như trái đất ấy. Rồi đến đầu tháng 2-2007, một chuyện làm chấn động dư luận cả nước Mỹ cũng như trở thành chuyện cười cho các chương trình talk-show. Đó là câu chuyện của nữ phi hành gia kiêm Đại Tá Hải Quân Lisa Nowak. Số là một ngày đẹp trời đầu tháng 2, Lisa Nowak khởi hành từ nhà mình ở ngoại ô thành phố Houston, Texas băng qua 900 dặm đường lái xe không ngừng đến Orlando, Florida với ý đồ bắt cóc người mà bà cho là tình địch của mình. Để khỏi mất thì giờ ngừng lại ở các trạm nghỉ làm công tác vệ sinh, Lisa đã đeo một loại tã lót người lớn của NASA (Cơ Quan Hàng Không và Không Gian Hoa Kỳ) dành cho các chuyến du hành không gian. Do biết trước được lịch trình giờ bay của "tình địch", Lisa đã chận bắt được người này và khi cô ta không chịu mở cửa xe để nói chuyện, bà giả dạng làm người lỡ độ đường cần đi quá giang. Khi cô này quay cửa kiếng xuống để nói chuyện, Lisa Nowak đã xịt hơi cay vào mặt đối thủ. Nạn nhân phóng xe chạy trốn và gọi an ninh phi trường. Kết quả là Lisa Nowak, tháng 7-2006 là một nữ phi hành gia của phi thuyền con thoi (space shuttle) Discovery, là mẫu người lý tưởng của hằng trăm ngàn trẻ em ở tuổi đang lớn, nay trở thành một nghi can bị kết tội hành hung và toan bắt cóc người, gây nhục nhã cho mình và những người thân yêu.

Điều khôi hài và mỉa mai ở đây là rõ ràng nữ phi hành gia Lisa Nowak là một người hết sức thành công trong lãnh vực học vấn cũng như nghề nghiệp, là một người cực kỳ thông minh và bản lãnh, đã trải qua bao nhiêu là thử thách của cuộc đời. Ra trường đồng thủ khoa ở trung học, bà đã tốt nghiệp trường Đại Học Hải Quân Mỹ với văn bằng Kỹ Sư Hàng Không Và Không Gian năm 1985 và năm 1996 được tuyển vào chương trình không gian Hoa Kỳ sau một cuộc tuyển lựa thật cam go. Sau mười năm huấn luyện gian lao, bà đã trở thành chuyên gia hàng không trong chuyến bay 13 ngày của phi thuyền Discovery vào tháng 7 năm 2006 mà công tác của bà là điều khiển chiếc tay robot (robotic arm) của phi thuyền. Người ta ai cũng cười cho bà Lisa Nowak là người mê ngủ, không biết phân biệt giữa mộng và thực. Nhưng thế nào là sự thực? Có thật sự là chúng ta nắm bắt được sự thực hay không hay chỉ là một cái ảo tưởng nào đó mà ta cho là sự thực.

Chúng ta ai cũng theo đuổi một giấc mơ nào đó và gìn giữ một ấn tượng gì đó về một số vấn đề then chốt của cuộc đời. Một là về con người của chính mình. Thí dụ như ta là Ông (hay Bà) XYZ nào đó, ở tuổi đó ta phải ăn mặc như vậy, cư xử như vậy, gặp người nào đó ta sẽ ăn nói như vậy, gặp người nào khác ta sẽ ứng xử như vậy…v.v… Sự thật là những điều ta tưởng (impression) đó được nhìn qua cặp mắt kính chủ quan của cái ta mà cái ta đó thì thay đổi trong từng giây từng phút nên không thể nào khách quan. Một thí dụ nhỏ là nếu ta đang phải chờ đợi ai thì năm, mười phút tưởng như là cả giờ đồng hồ còn ngày vui thì bao giờ cũng qua đi thật là mau. Con người thì thường hay chủ quan, cái gì mà mình thích thì dù xấu đến mấy cũng là tốt, còn ngược lại, dĩ nhiên là dù tốt đến mấy cũng…không khá nổi, như ca dao Việt Nam đã có câu:

Yêu nhau yêu cả đường đi
Ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng.

hoặc

Yêu nhau thì ném bã trầu
Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra.



Tuy nhiên, ấn tượng, nhất là ấn tượng về chính mình, là một thứ hết sức dễ sai lầm. Người ta thường tự lừa dối mình để rồi chính mình tin vào cái ảo tưởng do mình tạo ra- như nhà văn Trần Kiêm Đoàn đã nhận định thật xác đáng trong truyện dài Tu Bụi, tác phẩm mới đây của anh:

“Nói láo và nói láo hoài chồng chất; nói láo và nói láo hoài với chính mình; nói láo và nói láo hoài với nhau... rồi bỗng một sáng đẹp trời nào đó họ tin điều nói láo có thật. Sự dối trá tu luyện lâu ngày thành yêu tinh…Yêu tinh trở thành một ảo tưởng của chân lý. Họ trở lại tin ảo tưởng là sự thật. Một sự thật xây dựng bằng dối trá xuất hiện như một chân lý mới mẻ còn đáng tin cẩn hơn là sự thật chính nó. Họ hớn ở tìm mình và tìm nhau. Họ xây thành quách của tư tưởng để bảo vệ và vinh danh đìều dối trá trơ lỳ sau mặt nạ hào quang của chân lý” (Trần Kiêm Đoàn, Tu Bụi, Titan Corporation, 2006, trang 124)

Tương tự như thế, Joseph Goebbels, Bộ Trưởng Tuyên Truyền của Đức Quốc Xã, một tội phạm chiến tranh của Tòa Án Quốc Tế Nuremberg, cũng có một câu nói mà đến nay vẫn còn được các chế độ độc tài (và không độc tài) trên thế giới đem ra ứng dụng mỗi ngày:

“Nếu ta nói một lời thật láo khoét nhưng cứ tiếp tục nhắc đi nhắc lại, dần dần mọi người sẽ tin điều láo khoét ấy. Sự láo khoét chỉ có thể được duy trì khi nhà nước có thể che chở cho người dân không phải gánh chịu những hậu quả kinh tế, chính trị hoặc quân sự của lời láo khoét ấy. Vì thế, điều tối quan trọng là nhà nước phải dùng tất cả các quyền lực để trấn áp tất cả các sự chống đối bởi lẽ sự thật là kẻ tử thù của láo khoét, và do đó là kẻ thù nguy hiểm nhất của nhà nước” (If you tell a lie big enough and repeat it often enough, people will eventually come to believe it. The lie can be maintained only such time as the state can shield the people from the political, economic and/or military consequences of the lie. It thus becomes vitally important that the state use all of its power to repress dissent, for the truth is the mortal enemy of the lie and, by extension, the greatest enemy of the state).

Sống không thật với chính mình, sống hời hợt với tha nhân, con người chỉ là những diễn viên trên sân khấu cuộc đời. Người ta chấp những cái giả dối, tạm bợ là cứu cánh của cuộc sống, để rồi đến một ngày những cái vỏ bề ngoài trở thành thước đo để đánh giá và định nghĩa con người của mình. Lại xin mượn lời nhà văn Trần Kiêm Đoàn:

“Vua thật, quan thật, tướng thật, người thật, việc thật, thiện thật, ác thật giữa đời đang chen chúc và đối mặt với vua giả, quan giả, tướng giả, đời giả, thiện giả, ác giả trên sân khấu. Nhưng "lộng giả thành chân" - cái giả biến ảo thành cái thật - vẫn thường là bi hài kịch của sự đời. (Trần Kiêm Đoàn, sđd, trang 249).

Hơn một thế kỷ trước, nhà thơ Nguyễn Khuyến đã mượn lời vợ người phường chèo để châm biếm cái thói vênh váo, coi chuộng bề ngoài ấy như sau:

Lời Vợ Người Phường Chèo*

Xóm bên đông có phường chèo nọ
Bỗng nửa đêm gọi vợ truyện trò
Rằng: Ta thường làm quan to
Sao ngươi coi chẳng ra trò trống chi.

Vợ cả giận, mắng đi mắng lại
Tuổi đã già sao dại như gì
Vua chèo còn chẳng ra chi
Quan chèo chi nữa khác chi trò hề.
*(đề tựa có thể sai vì ghi lại theo trí nhớ của người viết)

Một số những điều then chốt khác về cách hành xử của cuộc đời giúp định nghĩa con người của chúng ta. Có người thì thích ăn mặc xuề xòa nói năng khiêm tốn, nhỏ nhẹ. Có người thì thích ăn mặc chỉnh tề, nói năng mạnh bạo, thô tháo cho “đáng mặt anh hùng”. Có người thì tiêu xài rộng rãi còn có kẻ thì dè xẻn từng đồng. Do bởi đâu mà mỗi chúng ta có những thói quen khác nhau, cái nhìn khác nhau như thế? Ai là người có thể định nghĩa cái “tốt, xấu”, “đúng, sai” khi cùng một câu nói, cùng một hành động mà có khi người này cho là sai, người kia cho là đúng, ngay cả có khi cùng một con người mà hôm trước cho là điều này đúng, ngày hôm sau cũng một việc ấy- song vì cái tâm của mình đã đổi thay lại cho là sai. Có một câu truyện kể về một anh chàng trai trẻ nọ si mê một cô nàng bán quán. Đứng xa mà ngắm, chàng trai mê mẩn vì nét thanh tú của người trong mộng, lại thêm đôi mắt mơ màng với nụ cười túm tím, mái tóc huyền chấm ngang vai… Rồi chàng thấy nàng làm rơi chiếc khăn mu-soa (mouchoir). Vội vàng, chàng trẻ đợi lúc người đẹp không để ý, chạy đến chụp lấy chiếc khăn đem về nhà. Đêm ngày chàng ôm ấp hít hà miếng vải nhỏ còn phảng phất chút dư hương của mỹ nhân. Thế rồi ít ngày sau, chàng trẻ đánh bạo đến gần để chiêm ngưỡng người đẹp thì mới khám phá là nàng bị đau mắt hột kinh niên và chiếc khăn mu-soa mà mình hít hà mấy tuần nay là một trong những miếng khăn phế thải từ đôi mắt bệnh tật ấy! Chàng trẻ kinh hoàng chạy thật nhanh về nhà đem chiếc khăn đốt ngay cùng với giấc mộng yêu đương của mình. Tại sao cùng một chiếc khăn mu-soa mà lúc trước được thương được nhớ, có thể là đối tượng của thơ, của nhạc mà sau thì lại gây nỗi sợ hãi, kinh tởm? Đó là bởi vì cái tưởng của con người ta mà thôi. Khi không rõ sự thật, trí tưởng tượng của chàng trai đã làm việc “overtime” để thêu dệt nên những hình ảnh thơ mộng về người đẹp, song khi biết sự thật thì cách nhìn của chàng đã khác hẳn.

Kinh sách nhà Phật có nhắc đến hình ảnh của một con chó bị người ném một hòn đá. Bị đau điếng, nó chạy theo hòn đá sủa ầm ĩ mà không biết là đau khổ của mình là do bởi người ném. Cũng vậy, con người bị ngũ uẩn sai sử lâu ngày mà không hay nên lầm tưởng những đau khổ của mình là do bởi hoàn cảnh chung quanh song nào có biết nguồn gốc của đau khổ là ở ngũ uẩn nơi chính mình. (Thiền Trong Đời Sống, Thượng Tọa Thích Thông Triết, pháp thoại 2006). Trong câu truyện ở trên, cùng một chiếc khăn tay mà do vọng tưởng sai khiến nên chàng trai trẻ khi trước thì say mê nhung nhớ, sau lại kinh tởm sợ hãi. Nói tóm lại thì phần lớn bởi huân tập, bởi hoàn cảnh chung quanh mà người ta cư xử theo một cách nào đó, lâu ngày thành thói quen, không thay đổi được và sướng hay khổ cũng phần lớn do cái tâm ấy tạo ra.

Tôi nhớ có lần trong một lớp về Triết Học, giáo sư đặt câu hỏi "sự thật là gì" (what is reality, what can be called "real") cả lớp không ai có câu trả lời. Sau một hồi lâu do dự, vài sinh viên rụt rè đưa tay lên: Thưa Thầy sự thật là những gì ta có thể sờ mó, cảm nhận được. (Reality is what can be touched or felt). Có người thì trả lời:”Sự thật là hiện hữu”, theo cách nói của Descartes: Tôi suy nghĩ, tức là tôi hiện hữu (I think therefore I am). Nếu mở tự điển Thesaurus từ "reality" có ít nhất là hai mươi định nghĩa thí dụ như: sự tuyệt đối (absoluteness), cụ thể (concreteness), sự đáng kể (substantiality), sự có thể cảm nhận được (perceptibility)…. Sự chú trọng vào cái bề ngoài có thể cảm nhận được (perception, perceptibility) đưa đến cả một kỹ nghệ quảng cáo của Hoa Kỳ. Cách đây không lâu hãng máy ảnh Canon có một chiến dịch quảng cáo sử dụng danh thủ quần vợt Andre Agassi với khẩu hiệu "Perception is everything" (tạm dịch: Bề ngoài là tất cả). Quan điểm này thật sự đã đẻ ra nhiều kỹ nghệ khác như kiểu mẫu thời trang, kỹ nghệ sửa sắc đẹp, các mỹ viện giúp xuống cân...Một tin tức nóng bỏng làm nhiều người chú ý vài tuần qua là sự qua đời của cô Anna Nicole Smith. Năm 1994, Anna Nicole Smith nổi tiếng vì lúc bấy giờ, chỉ mới 26 tuổi, cô đã thành hôn với một ông tỷ phú dầu hỏa 89 tuổi. Sau đó, qua hơn một thập niên cô đã tranh tụng với gia đình của người tỷ phú này để tranh giành số tiền kếch sù của ông này. Giữa tháng 2-2007, Anna Nicole Smith đã từ trần vì uống thuốc quá liều do phản ứng các thuốc do sự nghiện ngập của cô cùng với thuốc giúp cho việc nhịn ăn xuống cân để xứng đáng là phát ngôn viên đại diện cho hang Trim Fat. Điều mỉa mai là cô mơ ước có được một hình ảnh giống như nữ minh tinh quá cố Marilyn Monroe( MM) của thập niên 60 và kết quả là cô đã có một cái chết không khác mấy cái chết của MM- một cái chết do sự tự hủy hoại. Ai cũng biết câu châm ngôn “Cái áo không làm nên ông thầy tu”, hoặc “Đừng bao giờ đánh giá cuốn sách bằng cái vỏ ngoài của nó” (Do not judge a book by its cover). Hiển nhiên là trong giòng đời vội vã và giữa trăm ngàn tiếng ồn ào của cuộc sống chụp giựt giá trị của những câu châm ngôn trên đã bị vất qua một bên đường.

Cuối tuần trước, chúng tôi nhận đuợc một tin buồn. Một người bạn đồng nghiệp của vợ tôi đã qua đời đột ngột sau một tai nạn xe hơi. Cô là một bác sĩ tuổi trẻ, mới ba mươi sáu, tài cao, hết sức khiêm tốn và nhã nhặn với mọi người. Mỗi cuối tuần, cô đều lái xe hơn hai tiếng đồng hồ qua một tiểu bang lân cận để săn sóc và an ủi người mẹ đang bị bệnh ung thư. Vợ tôi hết sức bàng hoàng trước tin buồn kinh khủng này. Làm sao có thể giải thích được là một người hiền,ngoan, dễ thương, hiếu thảo lại có thể chịu một số phận đau thương như thế. Tất nhiên là theo thuyết nghiệp quả của đạo Phật, chúng ta giải thích là cô bạn của chúng tôi đã trả một dư báo còn lại từ đời trước, và trong sự thương tiếc người quá cố, chúng ta cố gắng sống sao cho tỉnh thức, lợi mình, lợi người. Nhận biết cuộc đời vô thường và ngắn ngủi như thế, chúng ta rút tỉa được hai điều: một là cố gắng sống sao cho có ý nghĩa để không uổng phí đời mình, hai là thương yêu mọi người chung quanh, biết đâu lời ta nói với người thân yêu lại không là lời cuối. Một cựu tù nhân của Trại Tập Trung Auschwitz của Đức Quốc Xã kể lại là đời bà có một điều ân hận nhất. Năm 1943 bà 8 tuổi và câu em trai thì 6 tuổi. Hai chị em cãi vã về một chuyện nhỏ gì đó rồi trong lúc bực tức cô bé 8 tuổi đã mắng cậu em trai: “Tao sẽ thù mày đến suốt đời!!” (I’ll hate you forever!!). Một câu nói tuôn ra trong sự bực tức, thế thôi nhưng đã trở thành nỗi ám ảnh khi hai chị em đều bị bắt vào trại tập trung và không bao giờ gặp lại nhau. Người chị, bây giờ đã ở tuổi 72, vẫn nhớ mãi lời nói đau đớn với em mình nhưng không sao lấy lại được. Chúng tôi gặp cô bạn xấu số trên vào mùa hè năm 2005 lúc cô ăn mừng tân gia. Lúc bấy giờ cô ấy có nghĩ là mình sẽ không còn sống bao lâu chăng? Chúng ta không ai quyết định được chiều dài sinh mệnh của mình, nhưng chắc chắn ta có thể quyết định chiều sâu của sinh mệnh tức là cách sống của mình như Ni Sư Đạo Chứng, tác giả của Niệm Phật Chuyển Hóa Tế Bào Ung Thư, đã dạy: “Nhiều người chỉ nghĩ cho riêng mình, không biết quan tâm đến người khác, cũng không biết trân trọng sinh mệnh hữu hạn của mình để cống hiến, để phục vụ mà chỉ suy nghĩ những điều tiêu cực. Cuộc sống như vậy, dù sống một trăm năm, sống hai trăm năm, cũng là uổng phí vô ích…” (Niệm Phật Chuyển Hóa Tế Bào Ung Thư, dịch giả Thượng Tọa Thích Minh Quang, Nhà Xuất Bản Bồ Đề Tâm, Michigan, 2006)

Trong Kinh Đại Phước Đức, Đức Phật dạy chúng ta: “Không thân thiện kẻ ngu. Kết bạn với thiện tri thức. Tôn kính bậc đáng kính. Đây là những phước báu lớn.” Kẻ ngu hoặc vô minh là kẻ tin là chỉ những điều mắt ta thấy, tai ta nghe, mũi ta ngửi, lưỡi ta nếm, thân thể ta xúc chạm, tâm ta nghĩ tưởng -là tất cả những thứ ở trên đời. Cách nhìn này hết sức giới hạn tiềm năng của chúng ta. Thế nên, nếu ta lệ thuộc vào các giác quan của mình, hoặc nghĩ là mình chỉ có thể đạt được hạnh phúc trong thế giới vật chất bên ngoài, Đức Phật gọi ta là kẻ ngu. Nếu chỉ bám vào hình tướng bên ngoài để xác quyết là mọi việc có thật hay không ta có thể xem những thứ như các dinh thự vĩ đại, những công trình xây cất như tòa Tháp Đôi Trung Tâm Mậu Dịch Quốc Tế (World Trade Center) là mãi mãi trường tồn. Vậy mà như ai cũng biết, những thứ ấy còn đó, mất đó trong khoảnh khắc khi cơ duyên xảy đến. Phàm người ta khi có chút thành công, chút tiền của thường hay chấp vào những thứ ấy mà cho rằng đó là những điều quan trọng nhất của cuộc đời. Vì tài sản vật chất thường rất hào nhoáng, trông thấy trước mẳt, sờ nắm trong tay được nên người ta cho rằng chúng rất thật, đây cũng là điều bình thường. Thế nhưng câu truyện sau đây cho thấy sự tai hại của lối nhìn hời hợt đó:

Thuở xưa Đức Phật trú tại nước Xá Vệ. Trong thành có một vị Bà La Môn tuổi gần tám mươi, giàu có vô số. Nhưng ông lại là người ngu ám ngoan cố, xan tham khó độ, không tin đạo đức, không biết vô thường, ham thích cất nhà to lớn đẹp đẽ. Ông cất nhà trên, nhà dưới, đài hóng mát, nhà sưởi ấm, dãy bên đông, dãy bên tây…cả mấy mươi gian, duy chỉ còn mái hiên che nắng căn nhà sau là chưa xong. Lúc đó vị Bà La Môn để hết tâm trí lo chỉ huy mọi người làm việc. Đức Phật dung Phật nhãn thấy mạng ông sống không hết ngày hôm đó. Thế mà ông không tự biết, cứ mải miết lo tính nhọc nhằn, đến nỗi thân tâm tiều tụy, thật vô phước đáng thương!

Đức Phật cùng A Nan đi đến nhà ông, thăm hỏi: “Ông có nhọc mệt lắm không? Nhà cửa xây dựng nhiều như vậy dùng để làm gì?”

Ông lão đáp: “Nhà trước dùng tiếp khách, nhà sau để ở, hai dãy bên đông bên tây dành cho dâu con, tôi tớ và cất chứa của cải. Mùa hạ thì lên đài hóng mát, mùa đông lại vào phòng sưởi ấm.”
Đức Phật nói: “Đã lâu nghe danh đức của ông mà nay mới có dịp trò chuyện. Tôi có một bài kệ quan trọng có ích lợi cho cả kẻ còn người mất, muốn đem tặng ông. Không biết ông có vui long nghỉ tay ngồi nói chuyện một chút không?”

Ông lão đáp: “Hôm nay bận lắm, không thể ngồi trò chuyện, xin hẹn hôm khác đến sẽ thong thả luận bàn. Còn bài kệ quan trọng gì đó xin nói ngay đi.
Ta Cứ Tưởng Trần Gian Là Cõi Thật
Thế Cho Nên Tất Bật Đến Bây Giờ



Lúc ấy, Đức Thế Tôn liền nói kệ:

Có con cái tài sản
Người ngu phải rộn ràng
Ta còn không thật có
Lo gì của và con

Nóng nên ở chỗ này
Lạnh nên ở chỗ kia
Người ngu lo tính hoài
Không biết lẽ đổi thay

Kẻ ngu muội cực cùng
Tự cho mình là trí
Ngu mà tưởng hơn trí
Đó chính là cực ngu!


Vị Bà La Môn nghe xong nói: “Bài kệ này hay thật. Nhưng hôm nay tôi rất bận, xin bữa khác hãy đến bàn luận.”



Đức Phật chỉ còn biết xót thương ra đi.

Ông lão sau đó đích thân chỉ huy mọi người gác đòn dông. Không ngờ cây đòn dông rơi xuống trúng vỡ đầu chết! Con cháu than khóc động cả hàng xóm chung quanh.

Đức Phật đi chưa bao xa liền xảy ra biến cố này. Khi Phật đến đầu làng gặp vài mươi người Phạm Chí, họ hỏi Phật: “Ngài từ đâu lại?”

Đức Phật đáp: “Ta vừa đến nhà ông lão mới chết để thuyết Pháp cho ông nghe. Nhưng ông ta không tin lời Phật, không biết lẽ vô thường, giờ đây bỗng chốc đã sang đời khác!”

Rồi Đức Phật nói lại bài kệ trước cho các vị Phạm Chí này nghe, ai nấy đều hoan hỉ chứng được Pháp nhãn.

Bấy giờ Đức Thế Tôn lại nói kệ:

Ngu si gần người trí
Như muỗng kia múc vị
Dầu gần gũi rất lâu
Vẫn không thông hiểu pháp.

Thông đạt gần người trí
Như lưỡi kia nếm vị
Dầu gần nhau giây lát
Liền hiểu rõ đạo mầu.

Người ngu làm điều chi
Cũng rước họa vào mình
Thích chí làm điều ác
Tự chuốc lấy tai ương

Làm xong điều bất thiện
Xét lại tâm ăn năn
Đầm đìa rơi nước mắt
Bởi nhân quả không làm.



Các Phạm Chí nghe thêm bài kệ này lòng tin càng kiên cố, đảnh lễ Đức Phật rồi hoan hỉ phụng hành.
(Kinh Pháp Cú Thí Dụ, bản dịch Thích Minh Quang, Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh, 1998).

Cuộc sống tất bật làm cho ta ít có thì giờ nghĩ đến việc gì khác hơn là kiếm sống và thỏa mãn những nhu cầu vật chất của bản thân và của gia đình mình. Như vậy thì chúng ta đâu có khác gì người Bà La Môn giàu có trong câu truyện kể trên. Chúng ta lo cho thân thể của mình, lo ăn uống, ngủ nghỉ. Nếu thân thể dơ dáy ta tắm rửa mỗi ngày. Vậy mà ta đã lo gì cho tâm trong mấy chục năm trời sinh sống? Ni Sư Ayya Khema, sáng lập viên của Buddha-haus, Đức Quốc, cũng là tác giả của hai mươi lăm đầu sách về Phật pháp nhắc nhở chúng ta: “Tất cả chúng ta đều biết giữ cho thân thể sạch sẽ. Ta tắm rửa mỗi ngày ít nhất một lần hay nhiều hơn. Khi ra đường ta mặc quần áo sạch sẽ. Tối đến ta lo cho thân ngủ nghỉ. Nếu không, ta không đủ sức đương đầu với những khó khăn trong cuộc đời. Ta cần có một mái nhà ở để che cho thân khỏi mưa, gió, nóng, lạnh. Thiếu những thứ đó thân sẽ không chịu đựng nổi. Ta còn bồi dưỡng cho cơ thể bằng những thức ăn chọn lọc, bổ dưỡng, lo tập thể dục cho thân được cường tráng, khỏe mạnh; dầu không tập chúng ta cũng đi đứng, hoạt động, vì nếu không chân tay ta sẽ teo tóp. Tâm cũng cần được chăm sóc giống như thế.” (Being Nobody, Going Nowhere, Ayya Khema, Wisdom Publications, Boston 1987, Việt dịch: Diệu Liên Lý Thu Linh). Xét cho cùng, “duy tuệ thị nghiệp -chỉ có trí tuệ là sự nghiệp” là câu châm ngôn ta thường nghe trong nhà thiền, vì chỉ có tâm mới là tài sản có thể đem theo khi xác thân tứ đại này tan rã. Vậy mà người ta bỏ hết công sức lo sao cho ấm thân còn phần tâm linh thì lại hoàn toàn xao lãng. Nếu ta lầm tưởng rằng có tài sản vật chất mới là quan trọng và để việc theo đuổi cuộc sống vật chất lèo lái hướng đi của đời mình thì ta cũng đang mê ngủ chẳng khác gì nữ phi hành gia Lisa Nowak, có khác chăng chỉ là một giấc mộng dài hơn mà thôi. Xin mượn những giòng thơ sau đây thay cho lời kết luận:


Mộng Và Thực

Trăm năm đó xuân đi, xuân đến
Cuộc đua tranh, bóng nến lung linh
Đời bao nhiêu sợi ân tình
Bấy nhiêu oan trái chớ hòng gỡ ra

Người gieo hạt mong hoa kết trái
Chẳng vun trồng sao trách cao xanh
Trắng đen sẽ rõ rành rành
Lưới trời lồng lộng chạy nhanh được nào

Đời muôn lối, cheo leo hiểm trở
Được và thua, đừng kể khúc nôi
Chân tâm: viên ngọc sáng ngời
Ai người xao lãng một đời trầm luân.


3-20-2007
NXC

[:)]
Đi với người hiền như đi trong sương
Không ướt áo nhưng thân thường mát lạnh
Đi với người dữ như đi giữa rừng gươm
Không bị thương nhưng tâm thường sợ hãi

lh
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-02-04 06:08:12Leo*>
12.Xuân và Thi sĩ Bùi Giáng
[/align]
[/align]

Xuân và Thi sĩ Bùi Giáng

[/align]Chỉ có Đạo là con đường mà không phải là đường, mới là con đường để gặp nhau, chợt nhận ra “mùa xuân” đang ở “phía trước”.Thơ của Bùi Giáng nổi tiếng bí ẩn và siêu thực và thật sự khó hiểu. Ông trả lời cũng thật là dí dỏm:” con chim thì ta biết nó bay. Con cá ta biết nó lội. Thằng thi sĩ ta biết nó làm thơ.
[/align]


Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau
[/align]
Đó là hai câu thơ mở đầu của tập thơ Mưa nguồn. Xin chào nhau giữa con đường, nhưng con đường nào? Là ngã ba đường? ngã ba đó sẽ đưa con người đi về đâu? Còn nếu là con đường mòn trong rừng thì mênh mông, dễ làm ta lạc lối mất thôi. Chỉ có Đạo là con đường mà không phải là đường, mới là con đường để gặp nhau, chợt nhận ra “mùa xuân” đang ở “phía trước”.
[/align]
Thơ của Bùi Giáng nổi tiếng bí ẩn và siêu thực và thật sự khó hiểu. Ông trả lời cũng thật là dí dỏm:” con chim thì ta biết nó bay. Con cá ta biết nó lội. Thằng thi sĩ ta biết nó làm thơ. Còn thơ là gì thì ta không biết”. Nhưng kỳ thực biết để làm gì? Nhồi nhét kiến thức cho thật nhiều để hiểu ý của thơ cũng chỉ biết thơ qua cái màn kiến thức ấy thôi. Nhưng ai yêu thơ, thì hẳn là họ sẽ đồng cảm với ông thôi, khi được đọc bài Hận:

Lệ đã chảy ròng ròng rớt xuống
[/align]Với xuân về oanh yến rộn bên tai
Em quốc sắc em thiên hương đã uổng
Làm sao khuây khỏa hận của thiên tài 
[/align]Thiên tài ở đây là cụ Nguyễn Du hay những tâm hồn thơ lớn. Họ có thể làm thơ hay ca hát nhảy múa giữa cuộc đời. Họ có thể náo động hay trầm tư. Sức xuân trong tâm hồn sẽ buột họ phải lao vào dòng sống, để làm tất cả mà hầu như không làm gì cả. Họ vô ích mà hữa ích, trống rỗng nhưng tràng đầy, như khoảng hư không trong bao la vũ trụ, để vạn vật sinh sôi nảy nở. Họ đi trên đường và cuối cùng chính họ trở thành con đường, mời gọi chúng sanh cùng sống an bình, vui vẻ trong mùa xuân
[/align]
[/align]Chểnh mảng mùa Xuân vẫn tới gần 
Muôn nghìn hồng tía quá thanh tân 
Sắp về lũ lượt thân cùng thể 
Sẽ đến huy hoàng mỹ với nhân 
Thân thiết như hồn thanh thiếu nữ 
Thuần nhiên tợ mộng tuyết băng tâm 
Người từ xa lắc về thăm viếng 
Xuân sắc quê hương đẹp quá chừng 
[/align]Ta nghe chừng mùa Xuân đã hiện về trọn vẹn, uyên nguyên trên từng giọt trăng hòa tan giữa biển lòng bát ngát.
[/align][/align][/align]Tác giả bài viết: NLG
Nguồn tin: Vietblog
[/align]
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0