Chương XII
Hôm sau, Hải xin ông chủ nghỉ. Chàng nằm vạ nằm vặt trên giường. Ánh sáng của mùa thu c hiếu vào tận chỗ chàng nằm và lấp lánh trên đỉnh màn. Hải thấy nặng nề, ê ẩm. Cái ánh sáng, tiêu biểu cho sự sống rộn rịp, làm chàng nhìn không chán mắt. Chàng ngửi thấy mùi thuốc ở chung quanh. Chàng lợm giọng. Và đứng dậy mở hết cả cửa sổ ra. Đi qua chiếc giường lớn treo ở tường, chàng thấy mặt mũi chàng hốc hác và da chàng xanh xao: chàng ốm. Bóng chàng rồi mờ đi dần dần. Trong gương, chàng thấy lần lượt hiện ra tất cả cảnh dĩ vãng. Toàn là sung sướng, Chàng tiếc những cảnh đã qua và có cảm giác về mình sẽ hối hận mãi mãi, vì đã bỏ qua những ngày vui vẻ có mẹ già, có em bé, có bạn hiền mà không biết hưởng, cắm đầu theo đuổi một thú vui, bây giờ, chỉ còn để lại một khối nặng cho linh hồn.
Những tiếng động nhẹ nhàng và xa xôi ở ngoài đường vọng lên cái gác chàng nằm. Chàng đoán ngoài phố bây giờ tấp nập sáng sủa và có muôn màu rực rỡ.
Từ hôm đứng ở cửa sổ căn gác Trâm, để ngắm cái vườn hoa trước mặt với những cây phượng vĩ, với những cặp tình nhân, với khoảng trời xanh thẳm, Hải mới biết rằng mọi vật chung quanh mình đều có một màu riêng, tươi nhạt thay đổi từng lúc, nhưng đại khái màu nào cũng đẹp. Không khí chảy khắp trong vũ trụ, đôi khi lại trán cho những màu ấy một vẻ thần bí phù du, những khi ta khỏe mạnh, sung sướng không tài nào thấy được, chỉ khi nào ta ốm đau chẳng hạn, nằm một mình, nhớ đến và lấy trí khôn lý hội được mà thôi.
Hải định giơ tay lên lấy cái mảnh ánh sáng bấy giờ chạy đi chạy lên trên chiếu chàng nằm. Chàng không giơ tay được nữa. Đầu chàng nặng, mắt chàng hoa lên, chàng vừa thiếp đi một lát thì cái cửa ra vào bổng kẹt lên ở trên bậu. Hải mơ mơ màng màng tháy một bà cụ già tóc trắng như bông, lưng gập làm đôi, đẩy cửa bước vào, khó nhọc. Đôi mắt già của bà cụ nhăn nheo, cái miệng cay đời ngấn reo hai vạch như là đang mếu. Đó là mẹ chàng thật! Người mẹ bưng một bát thuốc vào cho con.
Rất khẽ, bà cụ già sắp chết mà hãy còn phải lo sợ cho con, khẽ tiến lại phía giường Hãi, vén màn lên, lấy tay để vào trán chàng, Hải nằm im cho sự êm dịu ở tay mẹ tan vào trong người chàng. Chàng cứ giả làm như ngủ, một lát sau mới lim dim mở đôi mắt nặng nhọc ra nhìn mẹ và nói rằng:
- Mẹ mới vào?
- Phải, con ạ. Mẹ vào con đang ngủ. Mẹ làm mất giấc ngủ của con. Hôm nay con xem trong người ra thế nào?
- Con đã đỡ rồi, mẹ ạ. Con chỉ còn sốt về đêm thôi.
- Sáng nay, mẹ lại đến kể bệnh con cho cụ lang rồi. Cụ thay đơn khác, mẹ đi cân thuốc và xắc lấy nước thứ nhất cho con đây.
Thảm hại thay bà cụ! Thảm hại thay tuổi già!
Hải gắt lên với mẹ:
- Mẹ cứ hay lôi thôi. Con đã thưa với mẹ cho trẻ con nó đi cân thuốc và xắc lấy cũng được, tội gì mẹ cứ phải nhọc thân? Mẹ vừa ốm dậy, hãy còn yếu, mẹ cứ lọm khọm vì con như thế, rồi lại có ngày to bệnh đấy!
Bà cụ không trả lời. Sự im lặng làm đau lòng Hải thêm. Chàng biết mẹ chàng thương chàng lắm hy sinh cho chàng nhiều: Ôi! Bà cụ già nào có phải lọm khọm để mà k hông có ích gì đâu: Bà cân thuốc lấy, bà xắc thuốc lấy, không dám giao cho người khác chỉ tại giao cho người khác thì bà thắc mắc không thể yên tâm được.
Hải nhắm mắt lại, có cảm giác là cuống họng có một vị đắng cay – đắng cay hơn thứ thuốc đen nghịt, buồn nôn mà chàng vẫn phải uống mấy hôm nay.
Than ôi! Lòng mẹ thật như biển như trời, mà chàng – chàng là phận làm con – thì từ khi ra đời đã bị bao nhiêu lầm lỗi? Mẹ chàng thì tìm con để thương xót, để an ủi, để săn sóc, nâng niu, mà, chàng, thì đã từ bao giờ đến nay đã dối mẹ, đã trốn tránh cái tình yêu bao la đó để đi tìm một huyền mộng, nó đã bay đi mất như thể con chim trời? Chàng thấy lòng mẹ thật vô biên, mà lòng chàng thì bây giờ chỉ còn lại toàn là hối hận. Chàng hối hận nhất về chỗ mẹ chàng vẫn tin chàng, vẫn không biết chuyện nghìn rưỡi bạc gửi nhà băng của chàng. Hải nói dối như thế đã lâu rồi. Càng giữ cái tội lỗi ấy ở lâu trong mình bao nhiêu, chàng lại càng thấy mẹ già mình đáng thương hại bấy nhiêu.
“Ôi ta biết, ta biết hết. Bây giờ mẹ ta biết sự thực thì người sẽ khố lắm đây, nhưng ta vẫn phải nói, để cho đến khi nhắm mắt, mẹ ta không phải đau xót vì đã sinh ra một đứa con nó lừa mình. Mà ta chắc rằng, dù sao đi nữa, mẹ ta cũng lặng im chịu đau khổ một mình, không trách mắng mà cũng không giận dữ”.
Hải nghĩ đến mẹ và thương mẹ vô cùng. Chàng sợ tử thần sẽ đem chàng đi mất để cho mẹ chàng trơ trọi lúc mặt trời bóng xế.
Chàng nhắm mắt lại, đập vào trán và kêu lên rằng:
- Mẹ ơi, con thấy một cái mùi gì rất lạ ở trong buồng này. Hay là mùi chết?
- Người mẹ già nghe thấy con nói gỡ tái mặt lại và run lên. Lòng thương con rào rạt, bà cụ ứa nước mắt ra, khóc như khóc chồng lúc chết.
- Con đứng nói dại. Bệnh con có gì đâu. Con cứ chịu khó uống thuốc, chỉ dăm bữa thì con khỏi. Cụ lang bảo thế.
Cụ lang bảo thế? Cụ lang bảo thế? Hải cười gằn một tiếng và thấy rằng đó chỉ là một ảo ảnh: Hải sẽ không bao giờ khỏi được bệnh, nếu chàng không kể hết cả chuyện phụ mẹ và dối mẹ cho mẹ nghe. Chàng thấy một cái cần cấp bách phải thú tội và không những thú tội với mẹ, với em, nhưng thú tội với tất cả mọi người…
Mẹ Hải nghe Hải nói mà tưởng thấy lòng mình tan nát.
Nghìn rưỡi bạc! Nghìn rưỡi bạc! Thì ra Hải không gửi nhà băng nào cả. Hải đã đem tiêu với cô gái phù du. Mà cái nhân duyên của Hải cũng chỉ là một chuyện không bao giờ có nữa.
Ôi! Bà cụ khóc bao nhiên là nước mắt. Bà cụ thương con suốt một đời gặp bước chẳng may, không trách con một điều gì cả, chỉ tự trách mình sinh ra nó mà không gây cho nó được một mối hạnh phúc như những con nhà khác.
- Nhưng mà nghĩ lại, con ơi, con cũng đừng nên trách trời gần trời xa nữa. Mẹ đã già, mẹ đã trông nhiều rồi: ở đời, trăm việc chẳng cũng quy vào hai chữ số mệnh. Số mệnh đã định đoạt cả, số mệnh cai quản cả… Mẹ nói thế, có lẽ con không chịu, nhưng rồi một ngày kia con sẽ pải chịu những lời của mẹ. Đời người khổ lắm, nước mắt chúng sinh…
“Nhưng mà thôi, con ơi, con nên thương mẹ. Con cố cơm ăn thuốc uống đi, khỏi được là quý chứ tiền bạc cũng không làm gì đâu. Có, thì cũng đến ngày hai bữa, mà không có thì cũng đến ngày hai bữa…”
Hải nghe mẹ nói, mà như thấy con dao cắt lòng. Chàng nhắm mắt lại. Mẹ chàng tưởng con ngủ, đi ra. Chàng trùm chăn kín từ đầu đến chân và ngáp, và thở dài, và càng thấy là mình sắp chết.
Chàng cắn môi lại để cho khỏi kêu to:
- Ngáp đi, thở dài đi, chết đi! Khốn nạn cho mấy thằng Hải… khốn nạn cho mày thằng Hải…
Tai chàng inh lên. Một tiếng vo ve bất tuyệt kêu lên trong đầu chàng. Chàng tưởng như đớ là một tiếng vang. Đó là một tiếng vang thật.
Tiếng vang ấy thế này:
-… Khốn nạn cho mày, thằng Hải! Khốn nạn cho mày, thằng Hải!
ĐOẠN KẾT
Một buổi chiều mùa nực, giữa cái nóng kêu tanh tách ở ngoài vườn, một ông già hom hem như sắp chết.
Có người, một hôm phải nói rằng:
- Giời này, thì đến vơi cũng không sống được.
Hải ốm nằm li bì đến hai tháng ở trên giường. Mẹ chàng lo sợ chỉ còn có nửa người. Bè bạn chàng đến thăm và đã định chung tiền mua đồ phúng và vòng hoa. Cái đời nó như là người nhà rồi, dù thế nào mình cũng phải chịu. Ấy thế mà cũng chưa chắc. Đời còn nhiều rắc rối. Một buổi chiều mùa nực, giữa cái nóng kêu tanh tách ở ngoài vườn, có một ông già hom hem như sắp chết. Cửa trong sở mở ra. Bao nhiêu bạn bè đều kêu lên:
- Bác Hải!
Đó là Hải thực.
Bạn bè nói rằng:
- Gớm! Làm cho cả bọn anh em giật mình…
Chính Hải, Hải là người giật mình thứ nhất, khi lại bước chân vào sở, mà trước kia, Hải làm. Cái sở ấy, bây giờ, vẫn nguyên như thế, không thay đổi một tí gì. Chỗ này là cái lò sười. Chỗ kia là cái tường. Ở giữa cái tường và cái lò sưởi, người ta đặt một người vào đấy. Người ấy ngồi cạnh một người khác. Người khác ngồi ở gần một người thứ… ba, bốn, năm, sáu… chín, mười, mười một… mười bảy, mười tám… Mười tám người. Đủ cả. Ông Kỹ cổ, gầy gò ốm yếu, ít lâu nay không thấy mặt, Hải đã có lần tưởng ông đã chết rồi. Không ngờ vẫn thế. Ông cụ ấy không già đi tí nào. Cả những người ở chung quanh cũng thế. Một cái gương treo ở tường chiếu cái hình của chàng lên. Thì ra, trong tất cả những người ấy, chỉ có chàng là thay đổi. Ở người chàng, người ta thấy mùi không khí, mùi đất và mùi không gian. Còn các người khác thì hình như đời bỏ quên ở một cái xó Hà Thành đó, nên thời gian cũng chẳng làm việc khốc hại của nó làm gì. Người ta vẫn đi, người ta vẫn làm việc, người ta vẫn sống. Mà người ta sống thực. Sống một cách êm đềm, nhùn nhặn, không có ai để ý tới làm gì. Sống một cách bình dị, làm việc cả năm chí tối, không có một người nào thương hại, để cứ cuối mỗi tháng lại lây được dăm chục bạc lương về nuôi mẹ già, vợ dại và từng đàn con nheo nhóc…
Hải thấy quý trọng những người lạ ấy. Chàng chạy lại bắt tay từng người một, rung động, thiết tha, hai con mắt rưng rưng như muốn trào lệ.
- Các bác vẫn như thường chứ?
- Như thường… như thường…
Câu trả lời như điệp khúc của một bài ca chán nản. Hải thấy vang lên ở bên tai, ngân ra và kéo dài mãi mãi. Cái thời kỳ yên phận của Hải bây giờ đã xa quá rồi.
Chàng nhớ lại cái hồi, lòng hãy còn lâng lâng, ngày đi làm chín tiếng đồng hồ, trưa về nghĩ một chút, tối về ăn cơm và đọc kiếm hiệp tiểu thuyết, yêu mẹ, yêu bạn và yêu em.
- Ôi! Nếu hồi ấy ta cứ cặm cụi làm một cái vốn để dành, cưới vợ, thì có lẽ ta cũng đã như những anh này rồi. Những cuộc đời tăm tối nhưng đáng cảm động biết bao, đáng kính trọng biết bao, đáng thương xót biết bao!
Hải thấy như đánh mất một cái gì. Chàng ngồi xuống ghế. Nảy là những quản bút, này là cái tẩy, này là những hồ sơ, giấy má.
Chàng nói:
- Các bác! Bây giờ công việc ở trong sở có bận lắm không?
- Có điều bận hơn trước một chút. Nhưng đại khái cũng phải xong.
- Chứ lại gì? Không xong cũng không được.
- Bác nói thế là nói thế nào?
- Tôi nói thế là nói rằng đi làm lày tiền thì ta phải làm hết công việc của người ta giao phó. Ta làm sáng, ta làm chiều, ta hít không khí của gian phòng chật hẹp, ta không biết rằng ở quanh ta người ta sống, mà không những sống ban ngày, lại sống cả ban đêm. Ôi! ở ngoài… ở ngoài… các bác ạ, người ta sống đầy đủ lắm.
Người bạn ngày trước, ngày trước đây, trong một buổi nói chuyện đe dọa lôi mũi Hải, ngồi từ lúc nảy không nói gì, bấy giờ mới cười gằn một tiếng mà rằng:
- Bác Hải, Bác nói phải. Bác biết thế hơn cả chúng tôi. Bởi vì bác đầy đủ. Nhưng thưa bác, chúng tôi không phải bất cứ một người nào cũng có một bà cô, không phải bất cứ một người nào cũng được chia gia tài.
Bác chớ chế chúng tôi. Trước khi có ngàn rưỡi bạc, tôi tưởng bác cũng làm ăn kham khổ như chúng tôi bây giờ. Ai chẳng muốn hưởng cuộc đời, nhưng có tiền thì người ta mới có thể hưởng cuộc đời theo ý muốn của người ta được.
- Chưa chắc.
Lòng Hải như thắt lại. Người chàng thù nhất khi xưa, không hiểu sao bây giờ lại hóa ra người chàng mến nhất. Chàng muốn ôm lấy cố anh ta mà khóc những chuyện não nùng ở cõi đời, chàng thấy một tấm lòng thương bạn tha thiết, chàng muốn quên hết cả những chuyện trước và tha thứ cho anh ta để anh ta thương lại mà tha thứ và xót xa cho chàng.
Đêm hôm ấy, nằm trên giường, để hai tay gối dưới đầu mà dán mắt trên trần nhà suy nghĩ, chán rồi, Hải ngồi dậy, vặn to cai đèn dầu, hì hục viết bức thư này cho người anh em “lôi mũi”.
“Thưa bác,
Buổi chiều hôm nay, lúc tôi lại thăm các bác ở sở,bác đã nói một câu có ý nghĩa làm cho tôi rất bằng lòn. Chắc các bác không để ý. Bác bảo tôi rằng: “Người ta có tiền thì mới hưởng được cuộc đời theo ý muốn của người ta”. Lúc ấy, bác có biết không? Tôi đã trả lời rằng: “Chưa chắc”.
Tôi về càng nghĩ thì thấy câu nói kia càng đúng.
Tiền không thể gây hạnh phúc cho người đời. Tôi đã có tiền chẳng phải nhiều nhặn gì cho cam, nhưng mà tôi đã có tiền. Tôi đã ăn, tôi đã chơi, tôi đã cười. Tôi biết tiền nhiều đến đâu rồi cũng phải hết, nhưng mà có một tâm hồn yên ổn thì hạnh phúc, mà người ta gặt được, không có bao giờ cùng. Những sự sung sướng vật chất đi qua rồi, người ta chỉ còn lại một quả tim đầy hồi hận và đầy tiếc nhớ. Một buổi trưa kia, tôi nằm tiếc nhớ lại hồi chúng ta còn bình thản ngày ngày làm việc với nhau. Tôi nghĩ: “Thú nhỉ! Hay là ta đến chơi với anh em một buổi”.
Và tôi đã đến chơi với anh em một buổi thực. Tôi vui vẻ, tôi nói, tôi không biết tôi nói gì. Bác bảo rằng: “ Anh đừng chế chúng tôi”. Không, không, bác ơi. Tôi không dám chế nhạo ai cả. Tôi, bây giờ tôi chỉ cần có người chế nhạo tôi. Nói thực bác nghe, cái đời tôi đương sống, chán không sao tả được. Cái đời trước ở trong sở của tôi – mà là của các bác bây giờ - nói cho đúng, tôi lúc nào cũng vẫn quý, nhưng nếu nso không có bốn bức tường thì tôi càng quý hơn lắm lắm. Tâm hồn ta, dạo ấy, thực là yên tĩnh. Nếu cuộc đời cứ như thế kéo dài ra cho đến chết thì tôi tưởng suốt đời ta không có một tội lỗi, không có một việc gì cắn rứt lương tâm.
Những việc tội lỗi ở đời, tôi tưởng, một phần lớn, đều là do những bữa ăn ngon quá, hay trong túi chúng ta thừa tiền quá. Trâm của tôi đi mất rồi. Cái tội lỗi của nàng lại do ở thiếu tiền mà ra. Tiền thừa quá cũng chết, mà tiền thiếu quá cũng khổ. Cuộc đời chỉ là một trò thử thách mà thôi, những sự cám dỗ nhiều lắm chẳng có ai tránh nổi. Trời sẽ xá tội cho những người biết rõ những tội lỗi của mình làm ra.
Tiền của tôi hết rồi. Hôm qua, về, tôi đã toan đi tự tử ngay. Nhưng túi tôi còn đồng bạc cuối cùng. Tôi đã ăn hết đồng bạc ấy, tôi no quá, tôi nằm và nghĩ đến cuộc đời thử thách tôi. Thưa bác, tôi xin nói để bác rõ, tôi thua rồi, tôi mệt rồi, tôi không còn sức nữa; tôi phải chết.
Khúc sông nào tôi chết, tôi đã định rồi. Sáng mai, ăn quà sáng xong, tôi sẽ vào lạy mẹ rồi cam chịu tội bất hiếu với mẹ mà đi ra cái chỗ tôi đã định. Tôi biết anh em sẽ thương tôi và sẽ đi đưa đám ma tôi. Tôi nhờ bác gửi những lời, trước khi tôi chết, tôi cám ơn và chúc tất cả anh em trong sở.
TRẦN VĂN HẢI bái
Lúc Hải viết thư xong thì đồng hồ đánh ba giờ. Đêm đầy thăm thẳm, ngọn gió đầu tiên của mùa đông rít lên ở khe cửa. Trời buồn như một đám tang.
Hải thấy lạnh tâm hồn. Chàng kéo cái chăn chiên lên cổ, định cổ ngủ một giấc để lấy can đảm, sáng mai làm việc.
Tiếng chó sủa ở xa xa, những cây tre kẽo kẹt trong vườn như những người chết nói thầm với nhau những chuyện tâm sự nghìn thu.
Hải không tài nào ngủ được.
Hải không tài nào ngủ được, bởi vì Hải thương mẹ, thương mình và thương em. Than ôi, cõi đời bao nhiêu là hạnh phúc, mai chàng đã phải bỏ nó rồi, chàng thấy lòng thắt lại và tiếc nhiều điều quá.
Hải không tài nào ngủ được. Chàng nói:
- Thế thì ít ra mình cũng phải làm một cái gì chứ ai lại cứ nàm đợi chết như thế này? Chàng nhớ lại những cái nhà… Chàng nhớ lại cả những tiếng kêu, tiếng cười, tiếng khóc… Và chàng lại nhớ mẹ, nhớ lại em, nhớ lại bạn, nhớ lại Trâm.
Vụt một cái, ý tưởng được nhìn cái Hà Thành có bao nhiêu những người, những vật thân yêu đso một bận cuối cùng, ý tưởng đó đến với chàng; nhưng sau, chàng n ghĩ rằng bấy giờ đã ba rưỡi sáng, mọi người đang ngủ, nên lại nằm xuống mở mắt ra nhìn trừng trừng vào ngọn đèn dầu để ở bạn, bên cạnh đấy có bức thư báo chết.
- Chết! Chết!
Chàng quả quyết tâm lắm. Chàng nghĩ đến tất cả các thứ chết và nhớ lại các người xưa trước khi đi tìm cái chết thì hay làm gì. Có người đi đánh bạc, có người vào một hang đồ cổ, có người đi uống rượu, có người xem sách.
Lúc ấy, Hải mới thấy rằng chàng cũng còn một đống sách trên đầu giường. Những sách này, chàng đã bỏ lâu lắm không đọc, từ khi kiếm được việc làm. Bây giờ, cầm một quyển lên tay, chàng thấy như lâu ngày mới được gặp bạn cũ, một đêm mưa gió hai người nằm trong một gian nhà kín kể lễ với nhau tâm sự.
Tâm sự nào cũng thiết tha cả: bạn lâu ngày mới gặp, còn chuyện gì là chuyển chẳng hay… Nhưng Hải chú ý vào một chuyện ngắn này của một nữ sĩ Thụy Điển viết, bà Selma Lagerloff. Đã đành là Hải không biết chữ Thụy Điển. Chàng đọc bài dịch và chuyện ấy đại khái như sau này:
“Ngày xưa, ở sở Dobbirchson có một người làm công nhật. Y vất vả cả ngày. Tối đến mới được nghỉ. Mà được nghỉ về thì là để t hấy ở nhà một mụ vợ nhọc mệt và một lũ con nheo nhóc.
“Một hôm, anh ta đến nghe một ông giáo sĩ giảng đạo trong một túp lều tranh. Ông ấy nói về tội lỗi và địa ngục. Người làm công sở Dobbrichsen không cảm động một tí nào. Anh ta không hối hận mà cũng chẳng muốn được lên thiên đường.
- Cả đơi đã phải làm ở sở Dobbrichsen mà lúc chết lại còn phải xuống địa ngục, thực chẳng còn cái gì thú vị được sinh ra trên đời…
Tất cả mọi người, cả đàn bà con gái, đều nhắc lại câu nói chán đời của anh ta. Bởi vì đó là sự thực, không thể thực hơn được nửa. Lâu dần, câu nói ấy thành châm ngôn.
Bà Selma Lagerloff mới nghĩ rằng: cái anh làm công nhật nọ không thể có một số phận thảm hại như thế được. Chẳng lẽ nào mà anh ta lại không có một hy vọng gì?... Nếu quả thật anh ta không thể hối lỗi được, thì chẳng lẽ anh ta lại không có cách nào để rửa tội cho linh hồn đi sao? Với một người chết đuối… cứu một người trong một đám cháy nhà, giúp đỡ một người nghèo đói… há lại chẳng được ru?
Ác hại! Những việc đó chỉ là những việc tốt mà thôi. Muốn sạch tội, những việc ấy không đủ. Cái hình ảnh người làm công nọ, vì va yaj, ám mãi bà Selma Lagerloff. Bà nghĩ chẳng biết anh chàng này có được tha thứ các tội lỗi hay là phải sa địa ngục?
“Địa ngục tưởng là chỉ cho những kẻ giết người mà thôi”.
Bỗng một đêm…
Đếm ấy là đêm ba mươi tết. Bà Selma Lagerloff nằm mê thấy anh chàng làm công sở Dobbrichsen. Bà theo anh ta đi lên Trời.
Trời xem tên tuổi anh chàng và ôn tồn gọi anh ta lại gần.
Bà Selma Lagerloff kêu lên:
- Thế thì có lẽ nhầm…
Trời hỏi:
- Sao vậy?
- Lạy Trời! Con thực không biết có phải quả là anh chàng nay được tha thứ hết cả lỗi lầm ở trần gian mà được lên Thiên đường thực không?
- Thực thế, con ạ. Anh ta được tha thứ. Anh ta không còn tội lỗi gì cả. Bởi vì anh ta đã làm việc, đã đau đớn, đã khổ cực, không được lúc nào nghĩ ngơi, từ thưở nhỏ cho đến già.
Cửa Thiên đường mở rộng ra. Anh công nhật ở Dobbrichsen bước vào.
Bà Selma Lagerloff tỉnh dậy và nhắc lại câu này: “Cửa Thiên đường mở rộng cho những kẻ nào đau đớn và khổ cực…”
Hại đọc truyện đó hai lần.
Một thứ ánh sáng nặng nề và mờ ám của mùa đông chiếu vào chỗ chàng nằm.
Gà gáy sáng.
Hải tắt đèn và nhắm mắt.
Buổi chiều hôm ấy, chàng cấm cái thư viết cho bạn, lấy một que diêm đốt.
Ngọn lửa bùng lên, tờ giấy đầy chữ kia chỉ còn là một cái tàn than mỏng và khô, các góc quăn lại rồi vở ra từng miếng bay là là trước khi rơi xuống đất.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
★
★
★
★
★
0