Diễn Đàn » Khoa Học Huyền Bí

14 chính tinh, cách cục, & các luận đoán

17 trả lời, 3.632 lượt xem — Trang 1 / 1
Vạn vật sinh linh trên thế giới này đều có khởi nguồn từ Âm Dương của Vũ Trụ, trong mỗi vật đều tàng ẩn cả Âm và Dương, Âm Dương kết hợp và biến hóa sinh ra vạn vật. Quy luật Âm Dương là quy luật cơ bản của Dịch học phương đông, là nền tảng cho Tử Vi. Trong Tử Vi Thái Âm chính tượng trưng cho Âm, Thái Dương tượng trưng cho dương. Chính vì thế loạt bài về 14 Chính Tinh xin được mở đầu bằng sao Thái Dương.

1.THÁI DƯƠNG:

1.1 Dẫn nhập:

Thái Dương là Mặt Trời là nguồn sống của vạn vật. Có thể nói mọi sinh vật trên quả đất này đều được hưởng ân huệ của Thái Dương, Thái Dương ban phát ân huệ một cách vô tư, không tính toán, không hề đòi lại, chỉ có cho mà không có nhận.

Trong khoa Tử Vi, căn cứ vào vị trí Mặt Trời, Mặt Trăng mà chúng ta có địa bàn 12 cung dùng để xem Tử Vi. Thái Dương chính là Mặt Trời là điểm khởi đầu cho tất cả. Các bạn có thể đọc trong Tử Vi Hoàn Toàn Khoa Học của Tiến Sỹ Đằng Sơn để hiểu thêm rằng khoa Tử Vi thật ra khởi đầu bằng hai sao Âm Dương chứ không phải Tử Phủ.

Thái Dương là dương hỏa tượng trưng cho ánh sáng của lý trí, của sự thông minh kiêu hãnh. Đã là nguồn gốc của vạn vật, ai cũng được hưởng ân huệ của Thái Dương cho nên bất cứ tuổi nào mệnh nào cũng được hưởng ít nhiều từ sao Thái Dương, được hưởng nhiều nhất là người mệnh Hỏa, thứ nhì là mệnh Thổ, các mệnh Kim Thủy Mộc hưởng như nhau.

Sao Thái Dương trong Tử Vi tượng trưng cho Bố, con mắt bên phải, cho lý trí cho sự thông minh, sự khoan hòa độ lượng, cũng như sự nóng nảy và ganh tỵ. Dù đóng bất cứ tại cung nào, Thái Dương cũng ảnh hưởng mạnh đến cuộc đời của đương số.

Thái Dương là nguồn sáng thiên nhiên vô tận, lúc nào cũng vươn lên cao hơn đẹp hơn. Khi gặp Tuần, Triệt cũng chỉ làm ban đầu trắc trở thôi, chứ bảo Tuần Triệt làm cho Thái Dương miếu vượng trở nên u ám đen tối là sai. Thái Dương miếu vượng chính là sự vươn lên đấu tranh không mệt mỏi, Tuần Triệt chỉ có thể gây khó khăn ban đầu mà thôi, cuối cùng Thái Dương cũng vẫn vươn lên tỏa sáng. Thái Dương hãm ngộ Tuần Triệt sáng ra cũng không đúng, trường hợp này Tuần Triệt cũng chỉ là kềm chế hãm lại những cái xấu của Thái Dương hãm địa mà thôi. Cho nên ta chỉ nên nói: Thái Dương miếu vượng ngộ Tuần Triệt thì ban đầu khó khăn, về sau vẫn thành công, Nhật miếu vượng vẫn là miếu vượng. Nhật hãm ngộ Tuần Triệt thì những cái xấu bị chế giảm bớt cho nên ta thấy may mắn hơn dễ chịu hơn nhưng Nhật hãm vẫn là hãm, Tuần Triệt không thể làm mất hết cái hãm kia đi được.

Thái Dương miếu vượng hóa khí là Quyền và Lộc ngoài ra còn là biểu tượng của Trí Tuệ Thông Thái, cho nên đóng vào cung Mệnh hay Quan Lộc là hợp nhất, đóng cung Thiên Di là số xuất ngoại làm giàu, đóng cung Tài bạch, Điền Trạch đem lại tiền tài của cải nhiều. Đóng cung Phúc Đức là người được hưởng phúc ấm của tổ tiên. Đóng cung Phu Thê là số có được vợ chồng giàu có, trường hợp Nữ cung Phu có Thái Dương tối quý. Nói chung Nhật miếu vượng đóng cung nào giáng phúc cho cung đó.

Thái Dương không bao giờ Hóa Khoa, cho nên Nhật còn tượng trưng cho tính cực đoan, ganh tỵ. Nhật miều vượng thủ mệnh là người ngoài mặt rất hòa đồng nhưng trong lòng bao giời cũng muốn hơn người, thấy người khác giỏi hơn thì không vui. Tuy nhiên, do bản chất là rộng lượng cho nên người có Nhật miếu vượng thủ mệnh nếu thấy người khác hơn mình thì bản thân tự phấn đấu rèn luyện để hơn người ta , chứ không âm mưu hãm hại , không ganh ghét tài năng.

Thái Dương hãm, dù đóng bất cứ nơi nào cũng phải luận đoán là tuổi trẻ buồn nhiều hơn vui, về hậu vận mới thong dong. Trong trường hợp này nếu gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền sẽ la phản vi kỳ cách, gặp Tuần Triệt thì những cái xấu sẽ giảm đi. Tuy nhiên dù có phản vi kỳ cách hay gặp Tuần Triệt cũng là "Tiền bần hậu phú", phải phấn đấu nỗ lực nhiều mới thành công.
__________________
Đăng nhập để trả lời
0
1.2 Vị trí đứng của sao Thái Dương trên địa bàn 12 cung:

Thái Dương ở Tý:

cung Tý là cung dương Thủy, bắt đầu từ Tý sang Sửu khí Âm suy dần nhường chỗ cho khí dương. Tại Tý , sao Thái Dương bị hãm, xấu nhiều hơn tốt. Tý là cung dương, Nhật bị hãm ở đây rất nguy hiểm, rất cần Tuần Triệt án ngữ. Nhật hãm ở Tý nguy hại nhất cho những người tuổi Giáp, bởi vì Giáp : Thái Dương Hóa Kỵ, Nhật đã hãm lại còn gặp Kỵ nữa thì càng chết, mặc dù Hóa Kỵ vượng ở Tý.
Trường hợp này nếu có Đào Hồng Hỷ thì cứu giải được nhiều, Tam Minh làm cho Thái Dương quang đãng hơn ( chứ không làm cho Nhật hãm thành miếu vượng). Nguy hiểm nhất là gặp Đà La ( xin xem lại bài Đà La-Lục Sát Tinh- trong Tam Ám, Nhật Nguyệt sợ nhất là Đà La).

Thái Dương ở Sửu:

Tại cung Sửu Thái Dương đắc địa đồng cung với Thái Âm. Lúc này hai nguồn sáng Nhật Nguyệt phá nhau, rất cần sao TUẦN hoặc HÓA KỴ để tách ra. Sao Triệt cũng tốt nhưng không bằng hai sao trên.
Ngoài ra nếu có sao Thiên Tài cũng tốt.
Nhật ở Sửu nếu không có các sao trên thì bình thường cả đời bất đắc chí.

Thái Dương ở Dần (Thiên Môn Nhật lãng):

Cung Dần là cung mà Thiếu dương bắt đầu hình thành. Thái Dương đóng tại đây là nơi vượng địa. Thái Dương đóng ở đây cuộc đời càng về sau càng sung túc, bởi vì Dần là khởi điểm cho sự thịnh vượng của Thái Dương cho nên càng về sau càng phát triển, ban đầu thì phải vất vả.

Thái Dương ở Mão(Nhật Xuất Lôi Môn):

Nhật ở Mão là Nhật vào nơi đất Phật. Cho nên bản tính nhân hậu, vị tha, hay có lòng thương người. Nhật ở đây sáng hơn ở Dần, nhưng theo tôi không tốt bằng ở Dần, bởi vì Mão là cung Âm. Nhật đóng ở đây thường là người có ngộ tính cao, rất độ lượng.

Thái Dương ở Thìn(Nhật Nguyệt tranh huy):

Người có Thái Dương ở Thìn thì chắc chắn có Thái Âm miếu ở Tuất xung chiếu, hội đủ cả hai nguồn sáng Âm Dương tối quý.
Thái Dương ở cung Thìn như Mặt Trời sáng tỏ lúc bình minh, rất đẹp.

Thái Dương ở Tỵ:

Thái Dương miếu tại Tỵ, tuy nhiên Thái Dương ở Tỵ không tốt như ở Thìn. Nếu gặp Đà La ở đây thì hỏng, gặp Tuần Triệt không việc gì.

Thái Dương ở Ngọ(Nhật Lệ Trung Thiên):

Đây là nơi Thái Dương phát triển đến cực vượng, Thái Dương đóng ở đây là đẹp đẽ nhất. Nhưng "Cùng tắc biến", Nhật cư Ngọ nếu không có sao Tuần thì càng về sau càng bất đắc chí. Tiền vận rực rỡ nhưng hậu vận không đẹp. Sao Tuần chính là cái phanh để cho sự phát triển đừng lên đến cực điểm. Khi đã cực điểm thì phải suy đấy là quy luật của trời đất.
Sao Triệt không hay bằng sao Tuần. Tuần dai dẳng khó dứt, Triệt thì quyết liệt nhưng dễ gỡ.

Thái Dương ở Mùi:

Xin xem phần Thái Dương ở Sửu.

Thái Dương ở Thân:

Đây là lúc Thiếu Âm bắt đầu phát triển, Nhật bắt đầu suy tàn. Nhât ở Thân bị hãm nhưng không đáng sợ lắm. Gặp Đào Hồng Hỉ thì sáng ra. Gặp Tam ám càng chết

Thái Dương ở Dậu:

Nhật hãm, Dậu cũng là nơi đất Phật, cho nên ở đây tuy bị hãm bản tính vẫn là nhân hậu. Đi tu dễ đác đạo.

Thái Dương ở Tuất:

Nhật hãm ở Tuất rất xấu, tối cần Tuần Triệt , Tam Minh, Tam Hóa.

Thái Dương ở Hợi (Nhật trầm thủy bể):

Thái Dương ở Hợi là tối hãm nhất. Trường hợp này nếu có Tam Hóa sẽ là "cùng tắc biến"-> phản vi kỳ cách. Gặp Tuần Triệt bớt xấu.
Đăng nhập để trả lời
0
1.3 Thái Dương kết hợp với các Tinh Đẩu:

Với các Chính Tinh, Thái Dương chỉ có thể đi cùng Thái Âm (ở Sửu Mùi), Cự Môn (Dần Thân), Thiên Lương (Mão Dậu).

Ở đây Đà La chỉ xin nói về hai cách Nhật Lương và Cự Nhật thôi, còn cách Nhật Nguyệt đồng cung Sửu Mùi, anh Agape có hẳn một chủ đề riêng, xin các cao nhân đọc ở chủ đề của anh Agape.

1.3.1 Nhật Lương:

Nhật và Thiên Lương đồng cung ở Mão Dậu, ở Mão tốt hơn nhiều ở Dậu.
Ở Mão chính là cách Nhật Xuất lôi môn. Người nào có cách này tất có thêm Thái Âm miếu ở Hợi chiếu về nữa. Nếu cung Mệnh hay Thân an ở Mùi thì gọi là cách Nhật Nguyệt tịnh minh, rất tốt. Nếu hội đủ Xương Khúc Khoa Quyền Lộc Tả Hữu là người rất thông minh, có tài kinh bang tế thế, hơn thế cũng là người có tấm lòng nhân hậu, bác ái. Nếu là quan chức cũng là người có trách nhiệm hết lòng vì nước non.
Nhật Lương cư Dậu tất có Thái Âm hãm ở Tỵ chiếu, cách này không được gọi là Nhật Nguyệt tịnh minh nữa, chỉ khi cả Nhật Nguyệt ngộ Tuần Triệt, Tam Minh, Tam Hóa (Khoa Quyền Lộc), mới mở mày mở mặt được. Nếu không được như trên lại gặp Tam Ám, Lục Sát tinh thì cả đời u mê, gian khổ, chỉ có đi tu mới yên thân được.

Bộ Nhật Lương tối kỵ sao Hóa Kỵ và Lục Sát Tinh đồng cung sẽ thành ra phá cách. Riêng hai sao Linh Hỏa không nguy hại như Kình Đà Không Kiếp, Nhật miếu vượng có thể điều khiển được Linh Hỏa, nhưng cái dở ở đây là sao Thiên Lương rất ngại gặp bộ Sát Tinh này. Cho nên Nhật Lương nói chung cần tránh xa các Sát Tinh, Hóa Kỵ. Gặp Tuần Triệt không đáng ngại lắm, tuy nhiên khi gặp Tuần Triệt rất cần Tả Hữu Xương Khúc phù trì thì mới vượt qua được sự ngăn cản phá hoại của Tuần Triệt.

1.3.2 Cự Nhật:

Ai cũng biết câu: "Cự Nhật Dần Thân quan phong tam đại, thực lộc trì danh", mệnh vô chính diệu có CỰ NHẬT chiếu cũng rất tốt.
Cự Nhật ở Dần tốt hơn ở Thân. Khi Cự Nhật ở Dần mà Mệnh đóng ở đây chắc chắn cung Quan Lộc , cung Tài Bạch, cung Thiên Di vô chính diệu, vậy tại sao lại có thể "Quan Phong Tam Đại" được??

Xin thưa, sao Thái Dương khi đi với Cự Môn thành bộ Cự Nhật, sách tử vi cũng nói bộ Cự Nhật là 1 trong 5 bộ Thượng Cách của Tử Vi bao gồm: Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Liêm Tham, Cự Nhật, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Nhật Nguyệt. Những bộ Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Liêm Tham hay Cơ Nguyệt Đồng Lương thì rõ ràng sẽ chia ra đóng ở Mệnh Quan Tài. Vậy còn bộ Cự Nhật chỉ có hai sao, tại sao lại xếp ngang bằng các cách có 4 sao kể trên. Ta có thể lý giải như sau: Các Tinh Đẩu trong Tử Vi có thể xem xét như các sóng năng lượng ảnh hưởng lên cuộc đời mình, cho nên khi các tinh đẩu được đóng tại nơi miếu vượng lại có đầy đủ cả bộ, các mức năng lượng sẽ giao thoa cộng hưởng tăng cường lẫn nhau.

Cự Nhật đều vượng tại Dần, đồng cung tại Dần Cự Nhật sẽ giao thoa nhau tăng mạnh ảnh hưởng lên rất nhiều. Lúc này bộ Cự Nhật không những ảnh hưởng mạnh tại chính cung mà còn ảnh hưởng mạnh đến cung xung chiếu và hai cung tam hợp. Thành ra Mệnh Cự Nhật tại Dần cho các tuổi Mộ, nều đắc vòng Thái Tuế nữa mới toàn mỹ bởi vì cung Quan Tài chịu ảnh hưởng của Cự Nhật chiếu đền có thể xem như có Cự Nhật tọa thủ, hội thêm Long Hổ Hoa ( nhường Phượng Các cho đồi phương), cung Di sẽ có Mã ngộ Khốc Khách được Thái Dương ở Dần chiếu, Thái Âm ở Ty hợp chiếu, chính là Thư Hùng mã vậy. Mệnh có Cự Nhật không đắc Thái Tuế thì chỉ có danh tiếng, thông minh chứ quyền cao chức trọng giàu có lớn thì không.

Cự Nhật ở Dần gặp Tuần Triệt cũng không sợ, bản thân Thái Dương miếu vượng ít ngại Tuần Triệt, Cự Môn vượng lại rất cần Tuần Triệt, Tuần Triệt sẽ như sấm sét làm vỡ đá ra để cho Cự Môn được ánh sáng của Thái Dương chiếu vào mà tỏa sáng. Trường hợp này nếu gặp thêm Song Hao nữa thật toàn mỹ, Song Hao miếu sẽ hãm tác dụng của Triệt Tuần lại làm cho Thái Dương không bị cản ngăn nữa, ngoài ra có Song Hao Cự Môn đã đẹp lại càng đẹp. Hội thêm Xương Khúc Tả Hữu Khoa Lộc Quyền Khôi Việt Quang Quý thì là số tối quý, làm nên sự nghiệp rực rỡ. Rất hiếm có Lá Số nào được như thế.

Cự Nhật tại Dần rất kỵ Lộc Tồn, chẳng khác nào Ngọc Quý bị che mất: "Cự Nhật cư Dần, Thiên Môn Nhật Lãng, kỵ gặp Lộc Tồn, ái giao Quyền Phượng". Trường hợp Cự Nhật tại Dần Thân đều tối kỵ Đà La Kình Dương và Hóa Kỵ, sẽ là phá cách, cả đời bất đắc chí. Gặp Linh Hỏa không đáng lo, gặp Không Kiếp đời có lúc hoạnh phát nhưng rồi cũng sẽ tàn lụi nhanh chóng.

Cự Nhật rất cần Xương Khúc Tả Hữu, nếu có Quang Quý ở Quan và Di chiếu về thì làm cho Thái Dương trở nên hòa dịu hơn, bớt kiêu căng ( xin lưu ý Nhật miếu vương thủ Mệnh bao giờ cũng có tính kiêu căng, không ít thì nhiều).

Cặp Cự Nhật này còn nhiếu cái nữa xin bàn sau ở phần sao Cự Môn.
Đăng nhập để trả lời
0
1.4 Các vị trí độc thủ của Thái Dương:

1.4.1 Thái Dương ở Thìn:

Thái Dương ở Thìn chắc chắn có Thái Âm miếu ở Tuất xung chiếu. Trường hợp này cung Mệnh đóng ở Thìn thì được gọi là cách "Nhật Nguyệt tranh huy".
Người có cách này rất thông minh, nhân ái, có chí lớn. Hai cung Thìn Tuất nếu có thêm Xương Khúc Tả Hữu Quang Quý nữa thì quý không tả hết được. Nhật Nguyệt đã miếu vượng ở Thìn Tuất, sáu sao Tả Hữu Quang Quý Xương Khúc cũng miếu tại Thìn Tuất nữa, đúng là đã đẹp lại thêm đẹp. Nhật Nguyệt tha hồ tỏa sáng đưa cuộc đời đương số lên đỉnh cao danh vọng.

Trong trường hợp này nếu đắc vòng Thái Tuế, Nhật Nguyệt sẽ có thêm Long Phượng, Mã, rất đẹp. Không đắc được vòng Thái Tuế sẽ được đền bù bắng Tam Minh. Nhưng theo Đà La , Tứ Linh bao giờ cũng tốt cho Nhật Nguyệt hơn Tam Minh.

1.4.2 Thái Dương ở Tỵ:

Trường hợp này Thái Dương rất sáng, tuy nhiên không tốt như ở Thìn.
Tại sao? Nếu Thái Dương ở Tỵ, chắc chắn sẽ có Thái Âm ở Dậu tam hợp chiếu. Nếu cung Mệnh an ở Sửu sẽ có sao Thiên Lương, cung Mệnh trong trường hợp này sẽ không được hưởng Nhật Nguyệt tịnh minh nữa mà phải xem là có sao Thiên Lương tọa thủ. Dĩ nhiên là không thể tốt bằng Nhật Nguyệt tịnh minh , Nhật Nguyệt tranh huy hay Cự Nhật ở Dần.

Người có cung Mệnh đóng tại Tỵ sẽ được Cự Môn tại Hợi xung chiếu. Cự Nhật lúc này tách rời nhau ra, tuy Cự Đắc địa nhưng hai sao này không thể cộng hưởng với nhau được, người có cách này thì giàu sang phú nhưng quý thì không nhiều lắm.

Đặc biệt gặp Đà La Hóa Kỵ thì là phá cách, hại nhiều hơn lợi.

1.4.3 Thái Dương cư Ngọ (Nhật Lệ trung thiên):

Trường hợp này Thái Dương ở nơi cực thịnh. "Cùng thì biến" cho nên trường hợp này dứt khoát cần phải có thêm sao Tuần, sao Triệt hoặc Thiên Tài, nếu không càng về hậu vận càng bất đắc chí.

Thái Dương cư Ngọ nếu có thêm Văn Xương thì thông thái và làm quan to lắm, không có Tuần Triệt hay Thiên Tài thì dù làm quan to về hậu vận sẽ có lần té đau và ôm hận công danh.

Thái Dương trong trường hợp này đóng cung Quan Lộc là tốt nhất, Cự ở Tuất cư cung Tài Bạch chiếu về Mệnh vô chính diệu ở Dần là thượng cách. Cách này tốt nhất cho người mệnh Hỏa, Kim, và cung Mệnh ở Dần rất cần có thêm Linh Hỏa hoặc Bạch Hổ để thành cách Hung tinh độc thủ, được Cự Nhật chiếu về. Tốt nhất là sao Bạch Hổ bởi vì sẽ có Tứ Linh hội hợp, sự nghiệp rạng rỡ lâu bền. Hai sao Linh Hỏa thì thiên về Võ Nghiệp, lẫy lừng lắm nhưng cuối đời chắc không toàn vẹn, chết trong uất ức. Nếu có Không Kiếp độc thủ , cuộc đời lúc lên lúc xuống, nên ly tổ lập nghiệp thì tốt. Nếu có Kình Đà cuộc đời buồn nhiều hơn vui. Tuy nhiên tất cả các trường hợp trên đều là người thông minh, quyền biến, có cơ mưu.

1.4.4 Thái Dương cư Tuất:

Trường hợp này hoàn toàn đối lập với Thái Dương ở Thìn. Gặp Tuần Triệt bớt xấu. Nhưng đẹp nhất không phải là gặp Tuần Triệt mà la gặp Tam Hóa, Xương Khúc, Tả Hữu, Quang Quý, lúc này gọi là phản vi kỳ cách. Người có cách này làm nên sự nghiệp lớn trong thời loạn. Xương Khúc Tả Hữu Quang Quý miếu vượng sẽ là những trợ thủ đắc lực phò tá Nhật Nguyệt. Tuy nhiên có cách này thiếu niên chắc chắn khổ cực, khắc cha mẹ. Công danh phải từ trung vận trở đi mới sáng sủa.

1.4.5 Thái Dương cư Hợi (Nhật trầm thủy bể):

Đây là nơi Nhật tối hãm nhất. "Cùng tắc biến" cho nên khi gặp được Tam Hóa sẽ thành phản vi kỳ cách, sự nghiệp to lớn. Dĩ nhiên rất cần thêm các trung tinh phò trợ nữa mới chắc chắn. Một mình Tam Hóa không nên chuyện.

1.4.6 Thái Dương cư Tý:

Thái Dương cư Tý rất cần Tuần Triệt hoặc Tam Hóa, trường hợp này dù có Tam Hóa cũng không nên xem là phản vi kỳ cách, mà chỉ coi là cái xâu sẽ giảm đi, cái tốt tăng lên. Ban đầu vất vả về sau mới khá. Thái Dương cư Tý sẽ có thêm Cự hãm ở Thìn tam hợp chiếu, trường hợp này Cự cần được Hóa Quyền thì đương số sẽ đỡ khó khăn hơn.
__________________
Đăng nhập để trả lời
0
1.5 Thái Dương và ảnh hưởng đến hình dáng, tính cách:

Thái Dương miếu vượng là người cao vừa tầm, trắng trẻo, rất thông minh, rộng rãi nhưng hơi ganh tài. Đi với Văn Xương hay Song Hao miếu là người thông kim bác cổ, học một biết mười, mặt đẹp dáng người dong dỏng như Thư Sinh.
Đi cùng Đà La là người hơi không bình thường, khôn ngoan nhưng thâm hiểm, không phải là dạng thông minh xuất chúng. Hình dáng bên ngoài cũng thấp vừa tầm.
Đi cùng Không Kiếp thì mặt hay bị mụn, trí thông minh bình thường. Khi Không Kiếp miếu là người nóng nảy liều lĩnh, dám nghĩ dám làm.
Đi với Quang Quý sẽ làm cho tính kiêu của Thái Dương giảm đi rất nhiều, trở nên nhân ái từ hòa hơn.
Đi với Hóa Kỵ dễ mắc bệnh về trí óc, hay lo nghĩ.
Nhật hãm ngộ Xương Khúc Tam Hóa là người rất thông minh, biết tận dụng thời cơ, anh hùng trong thời loạn. Dáng người dong dỏng cao, trắng trẻo.
Nhật hãm không gặp được các sao trên thì là người ngu độn cố chấp bảo thủ. Hình dong thấp mà xấu.
Đăng nhập để trả lời
0
.Sao Thái Âm:

2.1 Một cái nhìn tổng thể:

Thái Âm là biểu tượng cho Mặt Trăng, cho người Mẹ, đối với cơ thể người là con mắt bên trái, tượng trưng cho lòng nhân hậu, dịu dàng. Thái Âm với Thái Dương gắn bó khăng khít với nhau để tạo nên một cái nhìn ban đầu sơ lược về cuộc đời đương số.

Trong khi Thái Dương là ánh sáng của lý trí, đôi khi nóng nảy làm cho ta khó chịu, thì ánh sáng của Thái Âm lại nhẹ nhàng tỏa ra không gian như xoa dịu đi cái nóng nảy của Thái Dương. Thái Âm cũng là lý trí, nhưng mà là lý trí luôn đi cùng với một trái tim nhân ái và lòng vị tha. Thái Dương đường đường chính chính lúc nào cũng rạng rỡ tỏa sáng mạnh mẽ, còn Thái Âm lúc tròn lúc khuyết. Cho nên Thái Dương thì cương, gặp khó khăn sẵn sàng đương đầu; còn Thái Âm thì nhu hòa uyển chuyển, dễ dàng lùi bước nhưng để về sau lại tiến lên.

Thái Dương ban bố ân huệ rộng khắp, ai cũng được hưởng từ Thái Dương, còn Thái Âm chỉ tỏa sáng vào những ngày trăng tròn, sự ban phát ân huệ có tính toán hơn. Chính vì thế chỉ có người mện Kim, mệnh Thủy, mệnh Mộc mới thật sự được Thái Âm phù trì. Các mệnh khác được hưởng rất ít, nếu không muốn nói là Thái Âm không phù trì cho người mệnh Hỏa, Thổ.

Thái Âm tượng trưng cho sự dịu dàng uyển chuyển không phải sự vươn lên mạnh mẽ bất chấp khó khăn như Thái Dương cho nên sợ Tuần Triệt hơn Thái Dương. Nguyệt miếu vượng bị Tuần Triệt nếu không có Xương Khúc Quang Quý Tả Hữu phù trì sẽ thành ra tối hãm, phá cách. Nguyệt hãm gặp Tuần Triệt sẽ giảm cái xâu đi ( chứ không phải biến thành miếu vượng).

Thái Âm dù miếu vượng cũng không thể điều khiển được Linh Hỏa như Thái Dương, gặp Linh Hỏa họa nhiều hơn Phúc. Tối kỵ Đà La, Kình Dương thành phá cách. Gặp Không Kiếp bình thường không tốt không xấu, nếu Nguyệt hãm gặp Không Kiếp thì phá hoại mạnh.

Thái Âm không sợ Hóa Kỵ khi miếu vượng mà điều khiển được Hóa Kỵ, khi Hóa Kỵ miếu nữa sẽ thành kỳ cách, rất quý. Lúc này Hóa Kỵ mới thật sự được gọi là Mây Ngũ Sắc chầu Thái Âm.

Thái Âm với Thái Dương lấy trục Sửu Mùi làm quân bình, Thái Dương đi nghịch, Thái Âm đi thuận. Thái Âm hóa khí là Lộc cho nên Thái Âm miếu vượng tốt nhất đóng ở cung Tài Bạch và Mệnh, con trai cung Phu Thê có Thái Âm tối quý, cũng như con gái cung Phu Thê có Thái Dương.

Thái Âm hóa ra đủ cả bốn Lộc Quyền Khoa Kỵ, cho nên Thái Âm tượng trưng cả cho sự biến hóa không lường trước được ( chắc vì ứng với phụ nữ mà..).
Đăng nhập để trả lời
0
2.2 Thái Âm và các tinh đẩu khác:

2.2.1 Thái Âm và các chính tinh:

Thái Âm chỉ có thể đồng cung Thái Dương (tại Sửu Mùi), Thiên Đồng ( tại Tý Ngọ), Thiên Cơ (tại Dần Thân). Ngoài ra là độc thủ. Thái Âm miếu vượng ở cung Âm luôn tốt hơn ở cung Dương. Thái Âm hãm địa ở cung Âm nguy hại hơn khi hãm ở cung Dương.
Thái Âm đi với các sao Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thiên Lương tạo thành cách Cơ Nguyệt Đồng Lương là một trong 5 thượng cách của Tử Vi.

2.2.1.1 Thái Âm, Thiên Đồng ở Tý Ngọ:

Thái Âm ở Tý là nơi vượng địa, rất đẹp được gọi là "Trăng sáng trên sông". Đi cùng sao Thiên Đồng cũng vượng địa, cung Mệnh an tại đây là người nhân hậu từ thiện. Con trai là bậc quân sư có tài can gián các bậc vua chúa, ăn nói nhẹ nhàng nhưng đanh thép. Nếu là con gái sẽ rất đẹp, hội thêm Tang Hổ Khốc Hư Riêu thì lận đận về chuyện tình duyên, chuyện gia đình thường không êm đẹp.

Đi cùng Văn Khúc càng tốt, con trai cung Phu Thê ở Tý có Thái Âm thêm Văn Khúc gọi là cách "Thiềm cung triết quế" lấy được vợ rất đẹp dịu dàng có học thức, nếu thêm Hóa Khoa nữa thỉ người hôn phối giỏi giang. Trường hợp cung Phu Thê ở Tý có Thái Âm ngộ Văn Khúc chắc chắn cung Mệnh ở Dần có Cự Nhật ngộ Văn Xương. Cho nên con trai có cách này gọi là Thiềm cung triết quế cũng đúng thôi. Mệnh có Cự Nhật ở Dần lại có Văn Xương rất quý, như vậy lấy vợ cũng phải là người tài năng xinh đẹp. Ở đây các cụ nói Thái Âm Văn Khúc cư Phu Thê là Thiềm cung triết quế nhưng chính thực ra là để chỉ Cự Nhật ở Dần có Văn Xương. Trai tài gái sắc kết hợp thật là đẹp lắm. Lưu ý chỉ đúng cho con trai, con gái có cách này không được đẹp như trên nhưng cũng lấy được chồng giàu có tình nghĩa.

Nếu có thêm Kình Dương, rất cần thêm Phượng Các Giải Thần. Phương Giải sẽ làm cho Kình Dương trở nên bớt hung hiểm. Vợ chồng chỉ khắc khẩu mà thôi, chứ vẫn đầu bạc răng long. Không có Phượng Giải thì hôn nhân trắc trở, người hôn phối sau này kiêu căng lắm.

Nếu gặp thêm Đà La là phá cách, dẫu có Phượng Giải cũng chịu chết không làm gì được. Lúc này rất cần Quang Quý chiếu về hoặc Hóa Khoa đồng cung để giải bớt Đà La. Tuy nhiên vẫn không thể tốt đẹp hoàn mỹ được.

Thái Âm ở Tý cùng với Thiên Đồng nếu ngộ thêm Tuần Triệt rất cần Văn Khúc Tả Phù Quang Quý hội hợp chiếu về, chỉ trắc trở ban đầu, về sau vẫn tốt như thường. Đặc biệt sao Tuần, Triệt trong trường hợp này nếu có đủ Quang Quý Khúc Tả hội hợp về sẽ như cái phanh làm cho sao Thiên Đồng trở nên vững chãi hơn, không hay thay đổi.

Thái Âm Thiên Đồng cư Ngọ. Ngọ là nơi Thái Âm tối hãm nhất, Thiên Đồng cũng hãm địa. Lúc này lại phải suy ngẫm đến câu "Cùng tắc biến", Đồng Âm trong trường hợp này phải HÓA được ( thành Quyền ,Lộc, Khoa) sẽ là phản vi kỳ cách. Nếu có thêm Kình Dương, Kình thuộc Kim, cung Ngọ lại là nơi Dương Hỏa cực vượng, cho nên Kình bị hãm rất xấu. Kình cư Ngọ gọi là cách "Mã đầu đới kiếm", sao Thiên Đồng lại chủ sự di chuyển không ổn định cho nên sẽ là hình ảnh tướng cưỡi ngựa đi ra biên cương. Tướng này chỉ phát huy được tài năng nếu anh Thiên Đồng Thái Âm Hóa Khí được, Tướng sẽ thành có Tướng trí thức ( do Hóa Khoa), có Quyền ( do Hóa Quyền) và có Lộc ( do Hóa Lộc). Tướng giỏi có quyền có tiền thì quân sỹ mới theo để phò trợ mà làm nên công danh. Ngay trong trường hợp này sự nguy hại của Kình hãm vẫn còn rất lớn, cho nên rất cần thêm Phượng Giải để hóa giải đi.
Chính từ hình ảnh đó mà sách Tử Vi xưa mới chép lại: Đồng Âm hãm cư Ngọ ngộ Kình, Phượng uy trấn bốn phương. Tuy nhiên bắt buộc phải có Tam Hóa mới thành được Kỳ Cách, nếu không có Tam Hóa vẫn là tối hãm và nguy hại như thường.

Lưu ý Đồng Âm ở Ngọ gặp Đà La dù có Tam Hóa hay Phượng Giải tụ hợp cũng là phá cách, buồn nhiều hơn vui. Gặp Linh Hỏa Không Kiếp cũng xấu không nhu Đà La nhưng không thể gọi là Kỳ Cách như trên được.

2.2.1.2 Thái Âm Thiên Cơ ở Dần Thân:

Thái Âm Thiên Cơ ở Thân tốt hơn ở Dần rất nhiều. Ở Dần Thái Âm tối hãm rât nguy hại cho người nữ lúc này rât cần Tam Minh, Long Phượng và Tam Hóa để phù trì, nếu không đời nhiếu vất vả gian truân.

Thái Âm Thiên Cơ ở Thân là người thông minh, xinh xắn. Nếu là con gái có Thái Âm ngộ Văn Khúc, cung Phu Thê ở Ngọ có Thái Dương ngộ Văn Xương rất đẹp như trường hợp con trai có cung Phu Thê ở Tý có Thái Âm đi cùng Văn Khúc. Con gái lấy chồng làm đến bậc nguyên thủ nếu có nhiều cát tinh khác hội họp như Tam Hóa, Long Phượng, Tam Minh,... nếu có thêm Linh Hỏa hay Kình bớt tốt, vợ chồng khắc khẩu. Gặp Đà La sẽ là phá cách, Không Kiếp cũng chẳng tốt lành gì.

Âm Cơ ở Dần dù tốt đến đâu chăng nữa cũng là người hay nghi ngờ suy nghĩ, và hay ghen. Rất cần Quang Quý chiếu về để giải bớt tính hay suy nghĩ đa nghi của Thiên Cơ. Lúc này mới có thể gọi là hoàn toàn tốt đẹp.

2.2.1.3 Thái Âm độc thủ ở Hợi:

Thái Âm ở Hợi gợi là cách Nguyệt lãng Thiên Môn, rất đẹp cung Mệnh đóng ở đây rất đẹp. Đặc biệt cần lưu ý nếu có Hóa Kỵ sẽ là kỳ cách. Chỉ những người tuổi Ất mới có cách này. Thái Âm ở Hợi ngộ Hóa Kỵ sẽ giàu có rất lớn, sự nghiệp rạng rỡ lắm. Cung Mệnh cư ở đây dù là con trai hay gái miễn là mệnh Thủy, Kim tối quý.

Thái Âm ở Hợi, chắc chắn Thái Dương ở Mão. Mệnh cư Mùi sẽ là cách Nhật Nguyệt tịnh minh, người có cách nay rất thông minh phò tá cho bậc nguyên thủ quốc gia. Mệnh cư Mão cũng cung Quan Lộc sẽ được Nhật Nguyệt Tịnh minh chiếu cũng rất đẹp.

Các trường hợp Thái Âm độc thủ ở các cung khác xin xem ở phần sao Thái Dương.

Đăng nhập để trả lời
0
2.2.2 Thái Âm và các trung tinh, lục sát tinh:

Như đã nói Thái Âm + Tả Phù + Văn Khúc chẳng khác gì Tử Phủ được cặp Tả Hữu, Thái Dương có Hữu Bật và Văn Xương.

Thái Âm đi với Văn Khúc đối với con gái là người rất đẹp lại có học thức, ăn nói nhẹ nhàng, dịu dàng. Nếu là con trai cũng là người tuấn tú, trắng trẻo, tính tình nhân ái, từ thiện. Cả con trai va con gái nếu có Thái Âm miếu vượng nhập mệnh đều là người hiền hòa, hơi kiêu ngạo ( cái kiêu của Thái Âm là cái kiêu ngầm, không lộ hẳn ra nhu Thái Dương), sống hơi khép kín, tính toán hơn người có Thái Dương thủ Mệnh.

Thái Âm dù bất cứ vị trí nào cũng không nên có thêm Lục Sát Tinh. Nhất là Đà La thành phá cách, gặp Kình Dương , Không Kiếp , Linh Hỏa cuộc đời di hay di chuyển bôn ba, vất vả. Trường hợp gặp Kình Dương tốt nhất nên có thêm Phương Giải, gặp Không Kiếp nên có thêm Quang Quý, sẽ bớt cực nhọc hơn.

Thái Âm hãm rất cần tam minh, tứ linh, tuần triệt. Khi đã miếu vượng lại ngại Tuần Triệt, nếu đã vướng Tuần Triệt rất cần Quang Quý Tả Hữu Xương Khúc để phù trì. Thái Âm hãm ngộ Đà La dù đóng bất cứ chỗ nào trên lá số đối với người con gái cuộc đời buồn nhiều hơn vui.

Thái Âm miếu vượng điều khiển được Hóa Kỵ, đây là một điểm ưu việt của Thái Âm hơn Thái Dương. Thái Âm miếu vượng từ Thân đến Tý gặp Hóa Kỵ không sợ, đặc biệt tại Hợi gặp Hóa Kỵ là kỳ cách. Hãm từ Dần đến Ngọ rất sợ gặp Hóa Kỵ.

Thái Âm đi với Hóa Khoa càng làm tôn lên vẻ tôn quý. Đi với Hóa Lộc giàu có, đi với Hóa Quyền là người hơi nóng nảy, nhưng ngoài mặt bao giờ cũng ôn hòa.

Ai cũng biết Thái Dương Thái Âm hợp nhất khi đi với Tam Minh. Đà La xin có ý kiến như sau: Khi đắc Tam Minh ( Đào Hồng Hỷ ) sẽ không bao giờ có Tứ Linh bởi vì không bao giờ đứng trong tam Hợp Thái Tuế lại có Tam Minh cả, theo Đà La Tứ Linh tốt hơn nhiều so với Tam Minh, nó cũng làm cho Nhật Nguyệt sáng ra không kém gì Tam Minh, hơn thế Tứ Linh còn làm cho Nhật Nguyệt càng thêm cao quý, thanh cao. Cái Sáng của Tứ Linh là cái sáng của sự ngay thắng, thanh cao, không có dâm tính như Đào Hồng. Hơn nữa khi đã có Tứ Linh phù trợ Nhật Nguyệt có gặp Sát Tinh cũang bớt xấu đi, ngay cả khi gặp Đà La là khắc tinh của Nhật Nguyệt , Tứ Linh cũng làm cho bớt xấu nếu có thêm Hóa Khoa nữa thì Đà La chỉ còn gây họa vừa vừa thôi, không còn là phá cách nữa. Đắc Tam Minh mà gặp Đà La vẫn chết như thường. Cho nên theo tôi: Tứ Linh hay hơn Tam Minh ( nhất là Long đi với Nhật, Phượng đi với Nguyệt, không thua gì Nhật Nguyệt có Tam Minh đâu).
Đăng nhập để trả lời
0
2.3 Một cái nhìn về hai sao Âm Dương:

Hai sao Thái Dương Thái Âm là hai sao rất quan trọng của Tử Vi, nhìn vào lá số thông qua hai sao Âm Dương ta có thể thấy được một số nét chính về cuộc đời đương số. Cả hai sao Âm Dương đều miếu vượng tất cuộc sồng có nhiều thuận lợi, lúc nhỏ được Bố Mẹ chăm sóc chu đáo. Hai sao Âm Dương hãm địa có thể nói tiên quyết một tuổi ấu thơ vất vả, hoặc khắc cha khắc mẹ.
Đấy là những nhận định rất tổng quát ban đầu, chưa thể nói lên được sự nghiệp hay dở của cả đời đương số được.

Nhật Nguyệt trên một là số lấy trục Sửu Mùi làm quân bình, cho nên Nhật Nguyệt bao giờ cũng cùng hãm hoặc cùng miếu vượng, không bao giờ có chuyện Nhật hãm mà Nguyệt miếu vượng hoặc ngược lại.

Ở đây tôi xin đi sâu về một vấn đề là cung Vô Chính Diệu được Nhật Nguyệt hội chiếu về.

Ai cũng biết cung Vô Chính Diệu bao giờ cũng cần có Tuần Triệt án ngữ hoặc Hung tinh đắc địa (đồng hành hoặc sinh ra hành của bản Mệnh) độc thủ. Hoặc phải được cả Thái Âm và Thái Dương cùng chiếu về là thượng cách. Như thế nào gọi là cung Vô Chính diệu được cả hai sao Âm Dương chiếu về?

Ta có thể nhìn thấy, hai sao Âm Dương khi đóng ở các cung Âm sẽ ở thế tam hợp, xung chiếu ở Thìn Tuất, đồng cung ở Sửu Mùi, ở các cung Dương còn lại Nhật Nguyệt không đứng ở thế tam hợp cũng không xung chiếu. Như vậy những người có Mệnh đóng ở cung Dương không bao giờ ăn được bộ Nhật Nguyệt tam hợp chiếu.

Thái Dương cư mão, Thái Âm cư Hợi hợp chiếu về cung Mệnh vô chính diệu ở Mùi gọi là cách Nhật Nguyệt tịnh minh, tối quý. Trường hợp này không cần có sao Tuần Triệt làm gì, nếu mệnh kim ở đó có sao Bạch Hổ là tốt nhất, Tuần Triệt không giúp gì cho việc gọi là "hút ánh sáng" của hai sao Nhật Nguyệt về cả bởi vì Nhật Nguyệt ở Mão và Hợi đều rất sáng tam hợp hội chiếu rất mạnh về cung Mệnh, nếu có thêm Tuần Triệt chỉ làm cản trở thêm hai nguồn sáng này về.

Thái Dương cư Dần Thái Âm ở Tý hội hợp chiếu về cung Mệnh hoặc cung an Thân ở Ngọ, cũng là thượng cách như Nhật Nguyệt tịnh minh nếu như Nhật Nguyệt hội đủ Xương Khúc (Xương cho Nhật, Khúc cho Nguyệt). Xương Khúc sẽ làm tăng sức sáng cho Nhật Nguyệt để chiếu về Ngọ cung. Cung Ngọ lúc này cũng không cần Tuần Triệt làm gì nếu có Hung Tinh hợp hành bản mệnh độc thủ ở đấy là hay nhất. Và một điều đăc biệt quan trọng là trường hợp này nếu Mệnh cư Dần hoặc Ngọ bắt buộc phải đứng trong Tam Hợp Thái Tuế mới ăn được trọn vẹn Thái Âm xung chiếu từ Tý. Bởi vì Dần Ngọ Tuất là tam hợp bị khắc bởi Tam Hợp Thân Tý Thìn, chỉ khi có Thái Tuế như vậy Tam hợp Thân Tý Thìn sẽ đứng trong thế Tuế Phá, sẽ không dám chống đối lại nữa mà phải nhường ánh sáng của Thái Âm cho đồi phương. Nếu không đắc Thái Tuế thì không được hưởng nguồn sáng của Thái Âm, trường hợp này không kể là được hưởng cả Nhật và Nguyệt chiếu về. Nguyên lý chung vẫn là cung xung chiếu là đối phương, chỉ khi mình khắc được đối phương hoặc khi mình đắc được Thái Tuế thì đối phương mới phải chịu thua mình, và khi đó mình mới được hưởng các Chính Tinh của đối phương. Nếu là số nào hội hợp đấy đủ các yếu tố trên sẽ là kỳ cách. Nếu mệnh cư cung Thân cũng rất tốt, quý lắm. Trường hợp mệnh cư Thân chỉ không nhất thiết phải đứng trong tam hợp Thái Tuế cũng được hưởng trọn bộ Âm Dương , miễn là cung Dần có Thái Dương không đứng trong tam hợp Thái Tuế.

Thái Dương cư Thìn, Thái Âm ở Tuất, trường hợp này gọi là Nhật Nguyệt tranh huy. Mệnh cư Thìn nếu cung Tuất không nằm trong tam hợp Thái Tuế thì cũng được hưởng cả Âm Dương. Mệnh cư Tuất muốn hưởng được cả Thái Dương phải đứng trong tam hợp Thái Tuế. Trường hợp được hưởng cả cặp Âm Dương ở Thìn Tuất gặp Xương Khúc Tả Hữu Quang Quý là thượng cách, tối quý.

Thái Dương ở Tỵ, Thái Âm ỡ Dậu không được kể vào Nhật Nguyệt tịnh minh vì khi đó nếu Mệnh an tại Sửu sẽ có Chính Tinh là Thiên Lương, phải lấy sao Thiên Lương để luận đoán. Tuy nhiên đường số cũng được hưởng cả Thái Âm và Thái Dương, cũng rất tốt.

Thái Dương cư Ngọ, Thái Âm cư Thân, Mệng ở Tý có sao Thiên Lương cho nên phải lấy sao Thiên Lương luận đoán. Trường hợp này rất tốt bởi vì người có cách này thông minh xuất chúng khi có thêm các trung tinh Xương Khúc. Mệnh cư Dần luận như trường hợp Nhật Lệ trung thiên phần về sao Thái Dương.

Nhật Nguyệt đồng cung Sửu Mùi xung chiếu hoặc tam hợp chiếu về Mệnh. Trường hợp này Nhật Nguyệt rất cần sao Tuần hoặc Hóa Kỵ đồng cung, cung mệnh ở chỗ xung chiếu rất cần Tuần Triệt, trong trường hợp này Tuần Triệt mới gọi là hút ánh sáng về. Bởi vì ánh sáng của Nhật Nguyệt ở Sửu Mùi là ánh sáng phá nhau của Nhật Nguyệt, hai sao này rất cần Hóa Kỵ ngăn ra để tự do sáng. Trong trường hợp hai sao Nhật Nguyệt có Hóa Kỵ nhưng ánh sáng tỏa ra vẫn yếu do ở Sửu Mùi Nhật Nguyệt chỉ đắc địa không sáng lắm và tản mạn, Tuần Triệt lúc này đóng ở cung Vô Chính Diệu sẽ bao vây ngăn trở không cho ánh sáng của Nhật Nguyệt chiếu đến bị tản mạn đi. Còn nếu như các trường hợp trên Nhật Nguyệt đã sáng rực rỡ rồi ánh sáng của nó chiếu đến mạnh mẽ, có thêm Tuần Triệt chỉ làm cản trở ánh sáng của Nhật Nguyệt chiếu vào không giúp được gì. Trườngt hợp cung xung chiếu hoặc tam hợp chiếu không có Tuần Triệt rất cần hung tinh đắc địa thủ tại đó, tốt nhất là Bạch Hổ, sau đó là Kinh Đà Linh Hỏa ( Không Kiếp không tính).

Đăng nhập để trả lời
0
3.Sao Tử Vi:

3.1 Hình ảnh của một vị Vua cao quý:

Trong khó Tử Vi chúng ta đều biết sao Tử Vi là sao Vua đứng đầu các tinh đẩu Nam Bắc. Lập một Lá Số Tử Vi trước hết phải an sao Tử Vi. Có thể nói sao Tử Vi chiếm một ngôi vị riêng rất cao quý trong khoa Tử Vi. Như vậy hình ảnh của sao Tử Vi là gì vậy? Trong thực tề cuộc sống đấy chính là hình ảnh của một vị Hoàng Đế chí tôn, của quyền lực, giàu có, nhân hậu.

Thái Dương, Thái Âm là hai Đế Tinh chủ về mặt tinh thần trí tuệ, tượng trưng cho sức mạnh của lý trí và của thiên nhiên chi phối vạn vật. Như vậy Tử Vi tượng trưng và chi phối cái gì? Tử Vi là vị vua tôn quý chi phối con người ta về mặt vật chất, của cải; sao Thiên Phủ cũng vậy.

Âm Dương là tinh thần, Tử Phủ là của cải vật chất. Bốn vị Đế Tinh này chính là những yếu tố chi phối con người ta mạnh mẽ nhất, sát thực nhất cả về đời sống tinh thần và vật chất.

Cặp Âm Dương bị hãm dù đóng bất cứ nơi nào cũng tiên quyết một cuộc sống niên thiếu cơ cực, sau này lớn lên về mặt tinh thần cũng ít khi được sung sướng. Cặp Tử Phủ hãm dù đóng bất cứ nơi nào trên Lá Số cũng có thể tiên quyết khó mà giàu có lớn được, công danh cũng lận đận khó mà có danh phận với đời. Những trường hợp này phải xem xét rất kỹ bởi vì trong Tử Vi luôn luôn cần ghi nhớ câu: "Cùng tắc biến". Tuy nhiên dù có biến kiểu gì chăng nữa cũng phải trước khó sau dễ, không thuận buồm xuôi gió như khi Tử Phủ miếu vương được.

Do tính chất chí tôn của mình, sao Tử Vi hơn hẳn sao Thái Dương ở lòng quảng đại, sự vị tha, không bao giờ đố kỵ ( sao Tử Vi không bao giờ Hóa Kỵ). Nếu ở sao Thái Dương là sự kiêu ngạo và gang tỵ với người tai giỏi hơn mình, thì sao Tử Vi lại thể hiện sự bao dung, sẵn sàng cúi mình học hỏi để tiến lên. Chính vì thế sao Tử Vi miếu thủ Mệnh bao giờ cũng là người nhân ái từ hòa, không ganh ghét như có Thái Dương miếu vượng.

Sao Tử Vi hóa khí là Quyền Lộc Khoa có thể về Quyền Lộc không bằng Thái Dương, nhưng sao Tử Vi hơn hẳn sao Thái Dương ở tính cứu giải, ban phúc. Chính vì thế ngay cả khi hãm địa sao Tử Vi cũng chủ nhân hậu không như Thái Dương hãm. Sao Tử Vi đúng là đóng ở cung nào giáng phúc cho cung đấy, Phúc đức của sao Tử Vi hơn hẳn sao Thái Dương.

Tử Vi thuộc hành Thổ, chỉ phù trì tốt cho người mệnh Kim Thổ Hỏa, người mệnh Mộc Thủy ít được hơn. Tuy nhiên do đặc tính là một vị vua cao cả, những người mệnh Mộc Thủy cũng được hưởng ít nhiều từ sao Tử Vi....
Đăng nhập để trả lời
0
3.2 Quyền hành và hình ảnh của một ông Vua trong thực tế:

Sao Tử Vi có quyền lực rất lớn, có thể điều khiển được Thất Sát, biến Sát thành quyền, Tử Vi gặp Thất Sát như Vua được gươm báu. Điều khiển được Thiên Tướng , Thiên Phủ biến Tướng Phủ thành những phụ tá đắc lực cho mình.

Tử Vi có quyền năng cứu giải khi Miếu Vượng rất lớn. Hạn gặp Tử Vi miếu vượng là hạn mọi sự hanh thông ( dĩ nhiên phải chú ý cả đến cung Mệnh và các trung tinh đi kèm, chiếu nữa). Sao Tử Vi khi miếu vượng ban phúc rất nhiều cho đương số dù đóng bất cứ chỗ nào( trường hợp này cũng phải xét cả mệnh và các trung tinh đi kèm).

Tử Vi cư Ngọ:

Đế cư đế vị. Đây là nơi miếu địa tốt đẹp nhất của Tử Vi, cung Ngọ là đế cung phương chính Nam. Ngày xưa Hoàng Đế quay mặt về Nam xưng " Trẫm", cho nên hình ảnh Tử Vi cư Ngọ chính là hình ảnh ông Vua ngự trong cung cấm, đầy quyền lực ( khi được Tả Hữu chiếu về), nhân hậu. Lá số nào có Tử Vi cư Ngọ, dù cung mệnh đóng bất cứ ở đâu, cũng có thể nói lên một cuộc đời tương đối thanh bình, yên ả. Tử Vi ngồi trong Đế cung sẽ điều động chỉ huy đất nước bình yên, đi đến thái bình thịnh trị.

Tử Vi , Thất Sát cư Tỵ Hợi:

Vua đi tuần hành, có Thất Sát đi theo hộ vệ. Từ hình tượng đã thấy anh hùng. Vua ngồi xe đi tuần du, bên cạnh có đại tướng Thất Sát đi kèm, tạo nên cảnh tiền hô hậu ủng, nếu thêm bộ Khôi Việt nữa thật càng đẹp. Sát là tướng theo hộ vệ, Khôi Việt như cờ quạt phủ việt càng làm cho cuộc Tuần Du thêm long trọng. Lá số nào có cách này, dù cung Mệnh đóng bất cứ chỗ nào, cũng là mấu người thích đi đây đi đó, thích các công việc lưu động, ít ở yên một chỗ.

Tử Vi, Thiên Tướng cư Thìn Tuất:

Đế tọa La Võng, nhưng gặp Tướng tài. Hình ảnh này như Vua giữa vòng vây, được Tướng tả xông hữu đột ra sức bảo vệ. Hình ảnh cũng anh hùng và đẹp lắm chứ, có thể ví như Vua xuất chinh. Tướng muốn bảo vệ được Vua đi đến chiến thắng cần phải có binh giỏi để chém đứt cái lưới La Võng. Binh giỏi tốt nhất là Tướng Quân, cung xung chiếu sẽ có Phục Binh, tạo nên hình ảnh Lưỡng tướng trùng phùng, nội tướng ngoại binh. Thiên Tướng lúc này uy dũng lắm, phù tá đắc lực cho Vua thoát khỏi hiểm cảnh. Vua Tướng đều anh hùng cái thế cả. Nếu không cần có Kình Dương, Thiên Tướng sẽ thu phục điều khiển Kình Dương hóa Hình chém đứt lưới La Võng. Hoặc không phải có Tuần Triệt để lưới La Võng không còn vây hãm được nữa.
Người có cách này dú cung mệnh ở chỗ nào, cũng tượng trưng một cuộc đời đấu tranh, nhưng nếu có được các sao kể trên sẽ anh hùng lắm. Vua Tướng đi vào sử sách cả đấy.

Tử Vi, Tham Lang Mão Dậu:

Đây là hình ảnh Vua chán đời, ăn chơi trụy lạc , dâm dật, bỏ bê việc triều chính, đất nước hỗn loạn, đánh nhau. Trường hợp này cần có các trung thần nghĩa sỹ liều mình can gián ( Tả Hữu, Xương Khúc, Quang Quý) mới mong kéo Vua ra khỏi vòng tửu sắc được. Tuy nhiên can gián thì can gián, Vua cũng phải nghe mới thành chuyện, Vua biết nghe là khi Vua biết hóa thành Lộc, Quyền, Khoa. Lúc đó đất nước sẽ có cơ cứu giải.

Tử Phủ Dần Thân:

Hình ảnh này chẳng khác nào Vua gặp Tể Tướng giỏi, nắm giữ ngân khố quốc gia, rất giàu có. Nếu hội thêm các Văn Thần Vũ Tướng, Vua lại anh minh ( hóa Khoa, Quyền, Lộc) nữa thì đất nước an vui lắm.

Tử Phá Sửu Mùi:

Là cảnh Đế ngộ hung đồ. Lúc này chẳng khác nào Vua gặp tướng cướp. Rất cần Văn Thần Võ Tướng, đặc biệt là từ cung xung đối Thiên Tướng cần hội nhiều binh hùng tướng mạnh để bảo vệ Vua. Nếu không Phá Quân sẽ làm thịt Vua Tử Vi ngay, không kiêng dè.

Tử Vi cư Tý:

Cung Tý là cung chính Bắc. Vua ngày xưa phải quay về phía Bắc chính là bị bắt thoái vị. Trường hợp này Vua Tử Vi yếu lắm, phải có đủ Văn Thần Vũ Tướng tài năng hội hợp mới giành lại được Ngai Vàng.

Đăng nhập để trả lời
0
3.3 Đế Tinh Tử Vi với các Trung Tinh:

3.3.1 Văn Thần Tả Phù, Võ Tướng Hữu Bật:

Phù tá đắc lực nhất cho Tử Vi không nói ra thì ai cũng biết chính là Tả Hữu. Tử Vi có Tả Hữu cho ta hình ảnh Vua ở trung ương có Văn Thần Võ Tướng chắp tay đứng hầu, sẵn sàng chấp hành thực thi mọi mệnh lệnh của Vua ban.
Tử Vi có Tả Hữu mới là Vua có thực quyền. Tử Vi không có Tả Hữu chỉ là Cô Quân, hữu danh vô thực.

3.3.2 Quân Sư Xương Khúc cũng không kém phần quan trọng:

Tử Vi được Xương Khúc phù tá cũng đẹp lắm. Xương Khúc sẽ làm cho Tử Vi trở nên thông thái hơn, hoàn thiện hơn. Tuy nhiên sự phù tá của Xương Khúc với Tử Vi không thiết thực như Tả Hữu. Nếu không có Tả Hữu, cặp Xương Khúc có thể khả dĩ chấp nhận thay thế được nhưng không hay bằng Tả Hữu.

3.3.3 Thêm Khôi thêm Việt thật như Vua có tiền hô hậu ủng:

Thiên Khôi chính là hình ảnh của đầu ngọn giáo, Thiên Việt chính là cặp Phủ Việt ngày xưa không thể thiếu trong các dịp Vua tuần hành. Sao Tử Vi được bộ Khôi Việt phù tá thì rất đẹp. Vua có thêm tiền hô hậu ủng. Phải nói hiếm có Lá Số nào Tử Vi gặp đủ cả Tả Hữu Khôi Việt.

3.3.4 Tứ Linh phù tá như Hổ mọc cánh:

Sao Tử Vi gặp bộ Tứ Linh chẳng khác nào Vua thụ mệnh trời chăn dắt dân đen. Bộ Tứ Linh tượng trưng cho sự phò tá của các vị thần, các đấng linh thiêng theo lệnh của Trời dành cho bậc Thiên Tử anh minh.

3.3.5 Quyền cứu giải rất lớn, Đế giải hung tính của Kình Đà Linh Hỏa:

Sao Tử Vi là sao có quyền năng cứu giải lớn nhất trong Tử Vi ( theo Đà La sự cứu giải của Tử Vi miều địa còn lớn hơn cả Hóa Khoa) đối với các hung tinh Kình Đà Linh Hỏa. Tuy không điều khiển được bọn này nhưng khi gặp Tử Vi bốn Sát Tinh cỡ bự trên cũng bớt hung hãn, trở nên hòa dịu hơn. Tử Vi không sợ tính Hình của Kình, không sợ tính Kỵ của Đà. Kình cư Ngọ nếu có Tử Vi ở đấy thì vô hại chỉ là sự xấu nhỏ.

3.3.5 Thế nhưng tối kỵ Không Kiếp, cảnh "Đế ngộ hung đồ":

Giải được tính hung của bốn Sát Tinh Kình Đà Không Kiếp, nhưng Tử Vi hoàn toàn vô tác dụng khi gặp hai Sát Tinh số 1 Không Kiếp. Gặp hai Sát Tinh này dù Tử Vi miếu vượng tại Ngọ cung chăng nữa cũng thành vô dụng, nếu không có Quang Quý hội hợp chiếu về, Khoa Quyền Lộc, Tứ Linh giải cứu sẽ là phá cách. Trong trường hợp gặp Không Kiếp nếu có Tả Hữu đồng cung , Tả Hữu sẽ không phù tá cho Tử Vi nữa mà quay sang ủng hộ Không kiếp đi làm bậy. Trường hợp này Tả Hữu chiếu về thì lại tốt vì nó sẽ phù tá cho Tử Vi trước hung đồ Không Kiếp.
Đăng nhập để trả lời
0
3.4 Sao Tử Vi tượng trưng cho cái gì, ý nghĩa khi đóng ở các cung:

Sao Tử Vi tượng trưng cho quyền lực, lòng nhân hậu, sự cứu giải, là chúa tể của các tinh đẩu. Về hình ảnh chính là Hoàng Đế cai quản muôn dân.

Sao Tử Vi không có vị trí hãm địa, bởi vì bản thân nó có thể tự giải cứu. Nhưng theo tôi, thực ra vị trí bình hòa chính là hãm của sao Tử Vi vậy. Ngay khi hãm địa sao Tử Vi cũng chủ nhân hậu nhưng quyền cứu giải gần như không còn

Tử Vi là kỵ gặp Tuần Triệt, nhất là Triệt. Rất cần thêm Quang Quý Tả Hữu phù tá mới không thành phá cách. Tử Vi thích hợp nhất cho các cung Mệnh Thân Quan Tài Điền Phúc Di.

Tứ Vi thủ mệnh là người nhân hậu, quân tử. Đi cùng Quyền Kỵ là người quyền biến, mưu lược rất giỏi. Tử Vi miếu vượng là người có tài lãnh đạo, cầm đầu, đặc biệt là khi đơn thủ tại Ngọ, hoặc đi cùng Thất Sát. Có tài kinh doanh trở thành cự phú nếu đi cùng Thiên Tướng ( rất cần Kình Dương , nếu không cũng chẳng thể giàu có lớn được). Đi với Thiên Phủ ở Mệnh là người nhân ái, làm đến bậc Quân Sư , nhưng không nên làm người cầm đầu. Đi với Phá Quân là người hung bạo nếu hội thêm các Sát Tinh nữa thì là người ưa chém giết. Đi với Tham lang là người nhút nhát yên phận.

Tử Vi cư quan lộc miếu vượng là số có công danh rất lớn ( với điều kiện không có Tuần Triệt Không Kiếp), gặp 1 trong 4 sao trên gần như thành phá cách. Phải có Quang Quý, Hóa Khoa, Tả Hữu chiếu về, mới đỡ được, nhưng chỉ phát to lên về hậu vận.

Tử Vi cư Thiên Di ra ngoài nhiều người giúp đỡ, gần nơi quyền quý. Tử Vi cư Tài, đặc biệt là khi đi cùng Thiên Tướng nếu có Kình Dương và các sao tốt đi kinh doanh sẽ giàu to trớ thành bậc cự phú ( với điều kiện không được có Không Kiếp). Có thêm hai sao trên thì bạo phát bạo tiền, mang vạ vì Tiền.

Tử Vi cư Phu Thê, người hôn phối có tài, đảm đang nếu đi cùng các sao tốt. Đóng cung Tử Tức thì con cái vinh hiển, có cả Trai lẫn Gái và nhiều con.

Tử Vi cư Điền Trạch là số nhà cao cửa rộng, điền sản rất lớn. Cùng Thất Sát là số không giữ được tổ nghiệp, phải tự tay mình dựng nên, nhà cửa to lớn, hơn nữa đặc biệt phải chú ý đến cung có sao Tang Môn ( nhà đất làm ăn như thế nào bị ảnh hưởng rất mạnh của cung có sao Tang Môn). Gặp Phá Quân là số phá tan hết sản nghiệp.

Đăng nhập để trả lời
0
4.Sao Thiên Phủ:

Sao Thiên Phủ là sao Đế Tinh dẫn đầu các sao Âm, hành Thổ, chủ Phúc Hậu từ thiện, là quyền tinh, tài tinh, phúc thiện tinh. Hình ảnh là cái kho, ngân khố.
Sao Thiên Phủ thống lãnh chòm Bắc Đẩu gồm 8 Chính Tinh. Khi miếu vượng hóa khí là Tài Lộc, Quyền Lực. Đóng cung Mệnh là người phúc hậu từ thiện, đóng cung Quan thì làm việc chuyên về ngành Tài Chính nhất là khi đi cùng Vũ Khúc. Đóng cung Tài không gặp Tam Không, Địa Kiếp thì giàu có lớn. Đóng cung Phúc không gặp Sát Tinh là số được hưởng Phúc ấm từ tổ tiên, cả đời không lo túng thiếu.

Do là thống lĩnh của các sao Âm, cho nên khi Thiên Phủ thủ mệnh tối quý cho Nữ Mệnh, với Nam Mệnh là người nhẹ nhàng, phúc hậu, nếu đi cùng Xương Khúc cho Nam Mệnh là người lãng mạn, tính tình hơi giống như con gái.

Thiên Phủ luôn xung chiếu với Thất Sát, cho nên Thiên Phủ có thể ví như Thừa Tướng lúc nào cũng giám sát Thất Sát không cho gây nguy hại đến Đế Tinh Tử Vi, khi Đế Tinh Tử Vi đi tuần hành có Thất Sát theo bảo vệ. Nếu có thể ví Phá Quân Thất Sát như nước lũ thì Thiên Phủ , Thiên Tướng như cái bờ đê ngăn lũ không cho chúng phạm vào ngôi Đế vị chí tôn của Tử Vi.

Thiên Phủ luôn nhị hợp với Thái Dương. Chính vì vậy, Mệnh có Cự Nhật Dần Thân luôn được hưởng thêm cả sao Thiên Phủ ở cung nhị hợp tương ứng là Hợi Tỵ ( hai cung Tỵ Hợi phải sinh xuất cho hai cung Dần Thân). Thiên Phủ tại Tỵ Hợi là vượng địa nếu có thêm Lộc Tồn, Xương Khúc, Tả Hữu,... thì những người mệnh Cự Nhật ở Dần Thân cũng được hưởng Thiên Phủ rất đẹp và mỹ mãn. Đến bây giờ chắc là chẳng còn ai thắc mắc tại sao: "Cự Nhật Dần Thân, quan phong tam đại" trong khi cung Quan, cung Tài cung Di đều Vô Chính Diệu.

Do là Phúc Thiện Tinh nên Thiên Phủ phù trì cho tất cả các mệnh, sao Thiên Phủ cũng không có Hãm Địa, ngay khi hãm địa cũng là người nhân hậu nhưng nhút nhát. Sao Thiên Phủ đúng là một sao rất quý của Tử Vi.

Sao Thiên Phủ cúng chính là Thần Tài Lộc, kho bạc của Đế Tinh Tử Vi. Khi Tử Vi cư Ngọ Thiên Phủ ở Tuất, Thiên Tướng ở Dần chầu lên Đế cung, tạo nên cảnh Quần Thần khánh hội, chỉ riêng trường hợp này Tử Vi nếu không có Tả Hữu vẫn là Vua oai hùng, Phủ Tướng chầu còn tốt hơn Tả Hữu rất nhiều
Đăng nhập để trả lời
0
4.1 Tử Phủ triều viên, chung thân Phúc Lộc:

Mệnh có Tử Vi hay Thiên Phủ một tọa thủ một chiếu tạo thành cách Tử Phủ triều viên. Người có cách này sẽ rất giàu có phú quý đầy đủ. Thế nhưng hiểu như thế nào là Tử Phủ triều viên cho đúng.. có phải cứ có Tử Phủ là giàu sang phú quý không??

4.1.1 Tử Vi cư Ngọ Thiên Phủ ở Tuất chính thực là Tử Phủ triều viên:

Ngôi Đế cung có Tử Vi ở đấy thật rực rỡ, lúc này Thiên Phủ ở Tuất chầu lên, mới đúng gọi là cách Tử Phụ triều viên.

Mệnh ở Ngọ nếu có thêm Quyền Lộc Khoa, Tả Hữu, Khôi Việt Xương Khúc thì số làm nên sự nghiệp lẫy lừng, chân mệnh Thiên Tử. Thiên Phủ cư Quan có Liêm Trinh nữa thì khi có địa vị cao rồi là người có trách nhiệm và liêm khiết, có thể gọi là minh quân. Đây mới đúng là Tử Phủ triều viên hạng nhất.

Mệnh ở Tuất có Thiên Phủ bình hòa, người có cách này thì lại chỉ giàu thôi chứ không sang quý. Cung Tài có Tử Vi thì giàu lớn, cung Quan có Vũ Tướng đều rất đẹp, nhưng chính vì vậy mà Tài Quan đẹp hơn Mệnh. Người có cách này giàu có, công danh nhưng hay buồn phiền, khổ vì tiền, vì danh lợi.

Mệnh ở Dần không nên kể là cách Tử Phủ triều viên, nhưng người có cách này cung Mệnh có nhiều Cát Tinh hội tụ nữa thì cũng đẹp lắm hơn hẳn khi cung mệnh cư ở Tuất.

Phải rất lưu ý đến vòng Thái Tuế. Dù mệnh có Tử Vi cư Ngọ không đắc vòng Thái Tuế, cũng chỉ nên đứng ở vị trí Quân Sư thôi thì tài quan song mỹ. Nếu là người câm đầu không sớm thì muộn cũng sẽ có lúc ôm hận công danh.

..còn tiếp
Đăng nhập để trả lời
0
4.1.2 Tử Vi Tỵ Hợi có Thất Sát đi kèm, Thiên Phủ xung chiếu:

Đây cũng có thể gọi là "Tử Phủ triều viên". Tử Vi lúc này đi cùng Thất Sát như vua đi tuần oai phong lắm, Thiên Phủ xung chiếu lên như Tể Tướng chầu, đồng thời cũng là canh chừng Thất Sát.

Mệnh có cách này rất đẹp ( ở Tỵ đẹp hơn ở Hợi), Mệnh có Tử Vi Thất Sát cung xung chiếu có Thiên Phủ thì đẹp hơn là mệnh có Thiên Phủ, cung xung chiếu có Tử Sát.

Cách này không sợ Sát Tinh; Không Kiếp Kình Đà có gặp cũng phải sợ Thất Sát mà không dám đụng đến Đế Tinh Tử Vi.
Đăng nhập để trả lời
0
Hình như là về phần " Tử Tướng Thìn Tuất hội Kình Dương " này đây anh viết hơi thiếu sót hoặc nhầm lẫn thì phải ?!! Theo kinh nghiệm của tiền nhân thì Tử Tướng ở Thìn Tuất mà có Tả Hữu hội họp còn đắc lực hơn là Kình Dương trong việc phá vỡ lưới La Võng nữa. Chỉ có duy nhất cuốn "Tử Vi Áo Bí" của Việt Viêm Tử là cổ võ việc Kình Dương Thiên Hình phá vỡ La Võng cho Tử Tướng mà thôi....

Theo kinh nghiệm (của những bậc thầy tử vi mà tôi đã học lóm được ) thì những người có cung cường ở thế Tử Tướng Thìn Tuất ( chẳng hạn như Mệnh Tài Quan đóng ở đó ) mà có Kình Dương hội họp thì cực kỳ gian nan (đặc biệt là về lãnh vực hình ngục pháp luật) vì Kình Dương hóa khí là Hình. Còn nếu có Tả Hữu hội họp và xa lánh Kình Dương thì quả thật Tử Tướng ở Thìn Tuất là Tài Quan song mỹ đấy....

Kình Dương ( và Thiên Hình) không phải là những tay phò tá đắc lực trong việc phá vỡ lưới La Võng cho Tử Tướng Thìn Tuất đâu. Vài dòng mạo muội....


Tử Vi tốt nhất bao giờ cũng là hai sao Tả Hữu " Đề phùng Tả Hữu, nhất hô bách nặc", Tử Tướng ờ Thìn Tuất gọi là cách Đế Tọa La Võng, Vua bị vây, bản thân ông Tướng gặp La Võng tuy không sợ nhưng cũng vất vả lắm chự Vua Tử Vi lại được Tả Hữu, gọi một tiếng cả trăm người dạ thì còn sợ gì La Võng nữa. Ngoài Ra khi ông Tướng kia gặp Tướng Quân, lưỡng tướng đi cùng Vua thì có kém gì Tả Hữu đâu... bên cung xung chiếu lại có Phục Binh tạo nên cách Lưỡng Tướng lại có Quân lính , Tứơng được Vua ban quyền đẹp lắm chứ anh, nhìn hình ảnh đã thấy rồi. Em thì vẫn khoái nhất là Tử Tướng Thìn Tuất gặp thêm sao Tứơng Quân nữa. Nhiều khi còn hay hơn Tả Hữu, Thiên Tướng là chính tinh phải hơn Tả Hữu chứ.
Trong trường hợp không có Tướng Quân, Tả Hữu thì Vua Tướng vất vả đấy, nếu được Kình nhập miếu Mộ cung, khác nào Tướng được Vua ban gươm lênh. Chém được lưới La Võng quá đi chứ.
Lưới La Võng gặp Tuần Triệt cũng còn gì là lưới nữa. Bản thân em gặp nhiều Là Số Tử Tướn Thìn Tuất gặp Tuần Triệt họ vẫn giàu có lắm, địa vị nữa.
Đăng nhập để trả lời
0
Bi Dong ơi! Đăng tiếp đi cho bà con cùng coi. Chờ đợi lâu quá
Thảnh thơi thơ túi rượu bầu
Trần ai ai biết công hầu là ai
Đăng nhập để trả lời
0