<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-05-28 11:58:24tamvanvov>
Mưa xuân cỏ mọc ( I )
Hay về trạng nguyên Nguyễn Trực
Nguyễn Chu Nhạc
1. Đình tiền sinh thụy thảo
Mãi tận mồng tám âm lịch mưa xuân, sau mấy ngày nắng nồm mệt nhoài. Hậu quả của đợt gió mùa đông bắc tràn về hôm trước. Năm nay thời tiết lạ, miền Bắc khô hanh bởi rét đậm nhưng không có mưa, trong khi đó niềm Nam lại mưa trái mùa. Mưa xuân bay bụi như rắc phấn. Về quê vợ theo hướng dòng người trẩy hội chùa Hương. Dòng người xa cuồn cuộn ngược xuôi. Cứ thèm mãi một chút mưa xuân giờ mới có. Mưa ngày thêm nặng hạt, rồi cứ thế rơi rơi đều đều như rây bột. Thế này thì ướt áo rồi. Rẽ theo các ngả đường quê, đâu đó phấp phới bóng cờ hội lại thêm tiếng trống thì thùng, chợt nhớ tới bài thơ Mưa xuân của Nguyễn Bính, và từng câu thơ cứ hiện ra :” Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Hoa xoan lớp lớp rựng vơi đầy…”, “Em ngửa bàn tay trước mái hiên/ Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh … “, “ Mưa bụi nên em không ướt áo…” , “Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt/ Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya… “… Lòng tự hỏi, quê mùa giờ còn mấy cô gái được như thế, khi mà ka- rao-kê, internet, ma túy, HIV về làng, rồi gái quê đua nhau ra thành phố kiếm sống bằng đủ thứ nghề bụi bặm và đi làm mãi tận xứ người ? Chắc là vẫn có đấy, nhưng đâu còn trong trẻo và da diết thế nữa?! Nghĩ rồi lại thấy man mác buồn. Một nỗi buồn khi ý thức được những cái quý giá đang mất đi mà mình không có cách gì để níu kéo, kìm giữ. Nỗi buồn ấy cứ len lỏi trong lòng khi thắp hương tưởng nhớ trước mộ các tiền nhân. Cái lẽ sinh, lão, bệnh, tử của đời thì vô tư mà con người lại hay nặng lòng, day dứt. Thế hệ trước thường là hay trách cứ thế hệ sau cứ mải miết chạy theo cái mới mà không chịu quan tâm bảo tồn tập tục, phong vị cũ. Thế hệ trẻ nhiều người lại cho rằng lớp già cổ hủ, cứ bo bo ôm lấy cái cũ, chẳng chịu thay đổi ?…Cái gì còn thì sẽ còn, cầu trời phật vậy, song thật ra, cơ bản vẫn phải từ ý thức của con người !...
Xã Tam Hưng ( Thanh Oai, Hà Tây ), hai làng hai ngôi chùa lớn. Chùa làng Hưng Giáo ( Hưng Phúc tự ) bên này mới tu sửa, mang dáng dấp của những ngôi chùa phương Nam dòng Phật giáo Tiểu thừa màu sắc sặc sỡ. Làng Bối Khê bên kia (Đại Bi tự ) lại bề thế, cổ kinh đúng màu thiền dòng Đại thừa. Thế nhưng, sân chùa cũng ngổn ngang vật liệu xây dựng vì nghe đâu đang được trùng tu.
Hội chùa làng còn chưa mở. Vào chùa Đại Bi bằng cửa hậu .Chùa vắng tanh, phần vì còn chưa đến hội, phần vì chùa dở trùng tu, phần thêm trời đang mưa, nên đường đất lép nhép, nên người ta ngại chăng? Tha thẩn nhang đèn, hết ngắm nghía các pho La hán lại lẩm bẩm đọc những bức đại tự và đôi ba câu đối. Chữ nghĩa nhà Phật và các bậc tiền nhân sâu xa không dễ hiểu ngay được. Giật mình bởi câu chào hỏi của người thủ từ. Bác thủ từ thủng thẳng nói chuyện lại như là đang tự nhủchính mình, rằng năm nay hội làng chắc sẽ buồn hơn vì chùa mắc trùng tu, nhưng nghe giọng lại có gì đó vui vui vì số tiền trùng tu nghe đâu những mấy mươi tỉ được trên rót về. Nghe thì biết vậy, chẳng buồn vui gì đến mình, song hơi lo lo thì có. Bởi chẳng biết tốn kém thế song không khéo lại làm mất đi cái cổ kính và hồn cốt tâm linh xưa mà thay vào đó là sự phô trương lòe loẹt ? Rồi nữa, có thể còn là sự thất thoát, sai lệch trong công việc xây cất, tu bổ?…
Lại chợt nhớ, đây là quê hương của Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực, người tên đứng đầu trong toàn bộ văn bia tiến sĩ ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám Hà Nội. Nghe đâu ông đậu trạng nguyên khi mới 26 tuổi trong khoa thi hội đầu tiên của thời Lê sơ- dưới triều Lê Thái Tông, cách chúng ta hơn 500 năm. Ông là người tài giỏi và có khí tiết nổi tiếng trong lịch sử, làm thơ viết sách đủ cả nhưng rồi thất lạc gần hết, chỉ còn mấy bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục mà thôi. Lại có cả chuyện ông là Lưỡng quốc trạng nguyên, rằng sau khi đỗ đạt làm quan, được cử đi sứ Trung Hoa gặp khoa thi bên ấy bèn xin ứng thí và cũng đậu trạng nguyên. Chuyện này khiến tôi phân vân, đồ chừng chỉ là giai thoại dân gian, chứ chắc gì sự thât lịch sử. Thôi thì đành đợi lúc nào ngày rộng tháng dài sẽ để tâm truy nguyên xem thực hư ra sao ?
Ngoài trời mưa xuân vẫn như rây bột, đều đều, rơi rơi… Những mảnh mạ non mỡ màng, những vạt cỏ non lấm tấm đón mưa, những tiếng vặt diệt, tiếng tát nước thì thòm và biết bao thanh âm của đồng quê, vừa bình dị gần gũi vừa như báo hiệu điềm lành !...
Thấp thoáng một câu thơ cổ “Đình tiền sinh thụy thảo… “, được hiểu nôm na là Trước sân cỏ mọc báo điềm lành…
Ừ… vẫn mưa xuân, cỏ mọc !... Lòng thấy bình yên, ấm áp!...
Hay về trạng nguyên Nguyễn Trực
Nguyễn Chu Nhạc
1. Đình tiền sinh thụy thảo
Mãi tận mồng tám âm lịch mưa xuân, sau mấy ngày nắng nồm mệt nhoài. Hậu quả của đợt gió mùa đông bắc tràn về hôm trước. Năm nay thời tiết lạ, miền Bắc khô hanh bởi rét đậm nhưng không có mưa, trong khi đó niềm Nam lại mưa trái mùa. Mưa xuân bay bụi như rắc phấn. Về quê vợ theo hướng dòng người trẩy hội chùa Hương. Dòng người xa cuồn cuộn ngược xuôi. Cứ thèm mãi một chút mưa xuân giờ mới có. Mưa ngày thêm nặng hạt, rồi cứ thế rơi rơi đều đều như rây bột. Thế này thì ướt áo rồi. Rẽ theo các ngả đường quê, đâu đó phấp phới bóng cờ hội lại thêm tiếng trống thì thùng, chợt nhớ tới bài thơ Mưa xuân của Nguyễn Bính, và từng câu thơ cứ hiện ra :” Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Hoa xoan lớp lớp rựng vơi đầy…”, “Em ngửa bàn tay trước mái hiên/ Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh … “, “ Mưa bụi nên em không ướt áo…” , “Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt/ Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya… “… Lòng tự hỏi, quê mùa giờ còn mấy cô gái được như thế, khi mà ka- rao-kê, internet, ma túy, HIV về làng, rồi gái quê đua nhau ra thành phố kiếm sống bằng đủ thứ nghề bụi bặm và đi làm mãi tận xứ người ? Chắc là vẫn có đấy, nhưng đâu còn trong trẻo và da diết thế nữa?! Nghĩ rồi lại thấy man mác buồn. Một nỗi buồn khi ý thức được những cái quý giá đang mất đi mà mình không có cách gì để níu kéo, kìm giữ. Nỗi buồn ấy cứ len lỏi trong lòng khi thắp hương tưởng nhớ trước mộ các tiền nhân. Cái lẽ sinh, lão, bệnh, tử của đời thì vô tư mà con người lại hay nặng lòng, day dứt. Thế hệ trước thường là hay trách cứ thế hệ sau cứ mải miết chạy theo cái mới mà không chịu quan tâm bảo tồn tập tục, phong vị cũ. Thế hệ trẻ nhiều người lại cho rằng lớp già cổ hủ, cứ bo bo ôm lấy cái cũ, chẳng chịu thay đổi ?…Cái gì còn thì sẽ còn, cầu trời phật vậy, song thật ra, cơ bản vẫn phải từ ý thức của con người !...
Xã Tam Hưng ( Thanh Oai, Hà Tây ), hai làng hai ngôi chùa lớn. Chùa làng Hưng Giáo ( Hưng Phúc tự ) bên này mới tu sửa, mang dáng dấp của những ngôi chùa phương Nam dòng Phật giáo Tiểu thừa màu sắc sặc sỡ. Làng Bối Khê bên kia (Đại Bi tự ) lại bề thế, cổ kinh đúng màu thiền dòng Đại thừa. Thế nhưng, sân chùa cũng ngổn ngang vật liệu xây dựng vì nghe đâu đang được trùng tu.
Hội chùa làng còn chưa mở. Vào chùa Đại Bi bằng cửa hậu .Chùa vắng tanh, phần vì còn chưa đến hội, phần vì chùa dở trùng tu, phần thêm trời đang mưa, nên đường đất lép nhép, nên người ta ngại chăng? Tha thẩn nhang đèn, hết ngắm nghía các pho La hán lại lẩm bẩm đọc những bức đại tự và đôi ba câu đối. Chữ nghĩa nhà Phật và các bậc tiền nhân sâu xa không dễ hiểu ngay được. Giật mình bởi câu chào hỏi của người thủ từ. Bác thủ từ thủng thẳng nói chuyện lại như là đang tự nhủchính mình, rằng năm nay hội làng chắc sẽ buồn hơn vì chùa mắc trùng tu, nhưng nghe giọng lại có gì đó vui vui vì số tiền trùng tu nghe đâu những mấy mươi tỉ được trên rót về. Nghe thì biết vậy, chẳng buồn vui gì đến mình, song hơi lo lo thì có. Bởi chẳng biết tốn kém thế song không khéo lại làm mất đi cái cổ kính và hồn cốt tâm linh xưa mà thay vào đó là sự phô trương lòe loẹt ? Rồi nữa, có thể còn là sự thất thoát, sai lệch trong công việc xây cất, tu bổ?…
Lại chợt nhớ, đây là quê hương của Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực, người tên đứng đầu trong toàn bộ văn bia tiến sĩ ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám Hà Nội. Nghe đâu ông đậu trạng nguyên khi mới 26 tuổi trong khoa thi hội đầu tiên của thời Lê sơ- dưới triều Lê Thái Tông, cách chúng ta hơn 500 năm. Ông là người tài giỏi và có khí tiết nổi tiếng trong lịch sử, làm thơ viết sách đủ cả nhưng rồi thất lạc gần hết, chỉ còn mấy bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục mà thôi. Lại có cả chuyện ông là Lưỡng quốc trạng nguyên, rằng sau khi đỗ đạt làm quan, được cử đi sứ Trung Hoa gặp khoa thi bên ấy bèn xin ứng thí và cũng đậu trạng nguyên. Chuyện này khiến tôi phân vân, đồ chừng chỉ là giai thoại dân gian, chứ chắc gì sự thât lịch sử. Thôi thì đành đợi lúc nào ngày rộng tháng dài sẽ để tâm truy nguyên xem thực hư ra sao ?
Ngoài trời mưa xuân vẫn như rây bột, đều đều, rơi rơi… Những mảnh mạ non mỡ màng, những vạt cỏ non lấm tấm đón mưa, những tiếng vặt diệt, tiếng tát nước thì thòm và biết bao thanh âm của đồng quê, vừa bình dị gần gũi vừa như báo hiệu điềm lành !...
Thấp thoáng một câu thơ cổ “Đình tiền sinh thụy thảo… “, được hiểu nôm na là Trước sân cỏ mọc báo điềm lành…
Ừ… vẫn mưa xuân, cỏ mọc !... Lòng thấy bình yên, ấm áp!...