Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Mưa xuân cỏ mọc- về trạng nguyên Nguyễn Trực ( I )

10 trả lời, 1.869 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-05-28 11:58:24tamvanvov>
                                                                                       Mưa xuân cỏ mọc ( I )
                                               Hay về trạng nguyên Nguyễn Trực
 
                                                                 
                                                                                                                  Nguyễn Chu Nhạc
                  
          1. Đình tiền sinh thụy thảo                                             
          Mãi tận mồng tám âm lịch mưa xuân, sau mấy ngày nắng nồm mệt nhoài. Hậu quả của đợt gió mùa đông bắc tràn về hôm trước. Năm nay thời tiết lạ, miền Bắc khô hanh bởi rét đậm nhưng không có mưa, trong khi đó niềm Nam lại mưa trái mùa. Mưa xuân bay bụi như rắc phấn. Về quê vợ theo hướng dòng người trẩy hội chùa Hương. Dòng người xa cuồn cuộn ngược xuôi. Cứ thèm mãi một chút mưa xuân giờ mới có. Mưa ngày thêm nặng hạt, rồi cứ thế rơi rơi đều đều như rây bột. Thế này thì ướt áo rồi. Rẽ theo các ngả đường quê, đâu đó phấp phới bóng cờ hội lại thêm tiếng trống thì thùng, chợt nhớ tới bài thơ Mưa xuân của Nguyễn Bính, và từng câu thơ cứ hiện ra :” Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Hoa xoan lớp lớp rựng vơi đầy…”, “Em ngửa bàn tay trước mái hiên/ Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh … “, “ Mưa bụi nên em không ướt áo…” , “Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt/ Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya… “… Lòng tự hỏi, quê mùa giờ còn mấy cô gái được như thế, khi mà ka- rao-kê, internet, ma túy, HIV về làng, rồi gái quê đua nhau ra thành phố kiếm sống bằng đủ thứ nghề bụi bặm và đi làm mãi tận xứ người ? Chắc là vẫn có đấy, nhưng đâu còn trong trẻo và da diết thế nữa?! Nghĩ rồi lại thấy man mác buồn. Một nỗi buồn khi ý thức được những cái quý giá đang mất đi mà mình không có cách gì để níu kéo, kìm giữ. Nỗi buồn ấy cứ len lỏi trong lòng khi thắp hương tưởng nhớ trước mộ các tiền nhân. Cái lẽ sinh, lão, bệnh, tử của đời thì vô tư mà con người lại hay nặng lòng, day dứt. Thế hệ trước thường là hay trách cứ thế hệ sau cứ mải miết chạy theo cái mới mà không chịu quan tâm bảo tồn tập tục, phong vị cũ. Thế hệ trẻ nhiều người lại cho rằng lớp già cổ hủ, cứ bo bo ôm lấy cái cũ, chẳng chịu thay đổi ?…Cái gì còn thì sẽ còn, cầu trời phật vậy, song thật ra, cơ bản vẫn phải từ ý thức của con người !...
          Xã Tam Hưng ( Thanh Oai, Hà Tây ), hai làng hai ngôi chùa lớn. Chùa làng Hưng Giáo ( Hưng Phúc tự ) bên này mới tu sửa, mang dáng dấp của những ngôi chùa phương Nam dòng Phật giáo Tiểu thừa màu sắc sặc sỡ. Làng Bối Khê bên kia (Đại Bi tự ) lại bề thế, cổ kinh đúng màu thiền dòng Đại thừa. Thế nhưng, sân chùa cũng ngổn ngang vật liệu xây dựng vì nghe đâu đang được trùng tu.
          Hội chùa làng còn chưa mở. Vào chùa Đại Bi bằng cửa hậu .Chùa vắng tanh, phần vì còn chưa đến hội, phần vì chùa dở trùng tu, phần thêm trời đang mưa, nên đường đất lép nhép, nên người ta ngại chăng? Tha thẩn nhang đèn, hết ngắm nghía các pho La hán lại lẩm bẩm đọc những bức đại tự và đôi ba câu đối. Chữ nghĩa nhà Phật và các bậc tiền nhân sâu xa không dễ hiểu ngay được. Giật mình bởi câu chào hỏi của người thủ từ. Bác thủ từ thủng thẳng nói chuyện lại như là đang tự nhủchính mình, rằng năm nay hội làng chắc sẽ buồn hơn vì chùa mắc trùng tu, nhưng nghe giọng lại có gì đó vui vui vì số tiền trùng tu nghe đâu những mấy mươi tỉ được trên rót về. Nghe thì biết vậy, chẳng buồn vui gì đến mình, song hơi lo lo thì có. Bởi chẳng biết tốn kém thế song không khéo lại làm mất đi cái cổ kính và hồn cốt tâm linh xưa mà thay vào đó là sự phô trương lòe loẹt ? Rồi nữa, có thể còn là sự thất thoát, sai lệch trong công việc xây cất, tu bổ?…
          Lại chợt nhớ, đây là quê hương của Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực, người tên đứng đầu trong toàn bộ văn bia tiến sĩ ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám Hà Nội. Nghe đâu ông đậu trạng nguyên khi mới 26 tuổi trong khoa thi hội đầu tiên của thời Lê sơ- dưới triều Lê Thái Tông, cách chúng ta hơn 500 năm. Ông là người tài giỏi và có khí tiết nổi tiếng trong lịch sử, làm thơ viết sách đủ cả nhưng rồi thất lạc gần hết, chỉ còn mấy bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục mà thôi. Lại có cả chuyện ông là Lưỡng quốc trạng nguyên, rằng sau khi đỗ đạt làm quan, được cử đi sứ Trung Hoa gặp khoa thi bên ấy bèn xin ứng thí và cũng đậu trạng nguyên. Chuyện này khiến tôi phân vân, đồ chừng chỉ là giai thoại dân gian, chứ chắc gì sự thât lịch sử. Thôi thì đành đợi lúc nào ngày rộng tháng dài sẽ để tâm truy nguyên xem thực hư ra sao ?
          Ngoài trời mưa xuân vẫn như rây bột, đều đều, rơi rơi… Những mảnh mạ non mỡ màng, những vạt cỏ non lấm tấm đón mưa, những tiếng vặt diệt, tiếng tát nước thì thòm và biết bao thanh âm của đồng quê, vừa bình dị gần gũi vừa như báo hiệu điềm lành !...
          Thấp thoáng một câu thơ cổ “Đình tiền sinh thụy thảo… “, được hiểu nôm na là Trước sân cỏ mọc báo điềm lành…
          Ừ… vẫn mưa xuân, cỏ mọc !... Lòng thấy bình yên, ấm áp!...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-05-28 12:06:23tamvanvov>
                                         Nguyễn Trực-
                          Có phải là lưỡng quốc trạng nguyên ?
 
                                                        Nguyễn Chu Nhạc ( [email=chunhacvov@yahoo.com.vn]chunhacvov@yahoo.com.vn[/email])
 
          Lần lữa mãi, sau đận thăm chùa làng Bối Khê (Đại Bi tự ) hồi giêng hai năm Canh Tuất, tôi cũng lần giở sử sách để tìm xem sự nghiệp văn chương của Trạng nguyên Nguyễn Trực, nhất là chuyện có đúng ông là Lưỡng quốc trạng nguyên hay không ?
          Bắt đầu bằng cuốn Từ điển các nhân vật lịch sử Việt Nam (NXB Giáo dục-2006 ) do Đinh Xuân Lâm-Trương Hữu Quýnh chủ biên. Sách này cho biết ông đậu trạng nguyên khoa thi năm 1442 ( khoa Nhâm Tuất, Đại Bảo thứ 3 ) triều Lê , làm quan thăng đến chức Thừa chỉ Viện Hàm lâm kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám. Về sự nghiệp văn chương, sách chép : " ... ông viết Trừ liêu tập, Ngu nhàn tập nhưng phấn nhiều bị thất lạc, còn lại văn bia Mục Lăng và mổt số bài thơ ". ( chắc là Hu Liêu tập , vì ông có hiệu là Hu Liêu )
          Tra một cuốn khác, sách Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919 (NXB Văn học, 2006 ) của nhóm biên soạn Ngô Đức Thọ-Nguyễn Thúy Nga- Nguyễn Hữu Mùi. Sách này cho biết Nguyễn Trực có tên tự là Công Đĩnh, ông đỗ trạng nguyên (Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh ) khoa Nhâm Tuất, Đại Bảo thứ 3, năm 1442, nhưng lại bị in nhầm là đời Lê Thánh Tông, thay vì đời Lê Thái Tông. Về quan chức cũng chép như sách trên, song có đoạn chép về việc đi sứ : " ... Hai lần đi sứ nhà Minh ( Thái Hòa 1 và Diên Ninh 6 ), họa thơ của sứ Minh 50 vần làm vẻ vang quốc thể ...". Còn về văn chương, sách chép : "... Tác phẩm có Bối Khê thi tập, cũng tức là Hu Liêu tập, nay cón 6 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục ." . Sách này còn cho biết thêm là cùng khoa Nhâm Tuất, Đại Bảo 3 năm 1442 ấy, khi thi Hội thì người đỗ đầu ( Hội nguyên ) không phải là Nguyễn Trực, mà là Nguyễn Như Đổ ( người Thanh Trì-Hà Nội ), song đến thi Đình thì Nguyễn Như Đổ chỉ đứng thứ hai (Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ Đệ nhị danh- bảng nhãn ), nhường vị trí trạng nguyên cho Nguyễn Trực. Cũng khoa thi này, còn có một tài danh nữa là Thám hoa Lương Như Hộc quê  Gia Lộc , Hải  Dương (Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh ). Sau này, cả ba người đều trở thành các bậc danh tài của lịch sử khoa bảng phong kiến đất Việt.
          Cả hai sách này, thì một cuốn nhắc đến chuyện Nguyễn Trực đi sứ nhà Minh và có họa thơ với nhau, song tuyệt nhiên không thấy nhắc tới việc ông gặp khoa thi bên Trung Hoa và xin thi rồi đậu trạng nguyên, để rồi nhân gian tôn vinh là Lưỡng quốc trạng nguyên. Về tên sách của ông viết ra thì chép khác nhau. Xin bàn thêm việc này ở phần sau.
          Nhưng hai cuốn đó là sách biên soạn thời nay, nên có thể các tác giả đã lược bớt đi cho ngắn gọn để phù hợp với tiêu chí cuốn sách. Vậy sách cổ có thể ghi chép chi tiết hơn chăng ?
          Sách Kiến văn tiểu lục ( KVTL )của Lê Quý Đôn ( bản in năm 2007 của Viện Sử học , NXB Văn hóa thông tin ) , trong phần Chế độ khoa cử, có thấy nhắc đến khoa thi Nhâm Tuất, Đại Bảo thứ 3, 1442 một cách sơ lược, song bù lại có phần bao quát hơn "... Sĩ tử ứng thí 450 tên, lấy 33 người trúng tuyển, qua tháng sau vào thi Đình, nhà vua ngự lấy đỗ Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa và 7 tiến sĩ, 23 phụ bảng, ân ban cho ăn yến, mũ áo, cân đai và cho vinh qui về làng.Việc này bèn định thành thể lệ ...". Có một thông tin hay, ấy là kể từ khoa thi ấy mới định ra thể lệ thi cử như ta biết về khoa cử phong kiến Việt Nam sau này.
          Vậy có chuyện Nguyễn Trực thi đậu trạng nguyên trên đất Trung Hoa không ? Bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí ( LTHCLC )của Phan Huy Chú ( bản in năm 2007 của Viện Sử học-NXB Giáo Dục ) ở phần Nhân vật chí, quyển VII- người phò tá công lao tài đức, có phần viết khá kỹ lưỡng về Nguyễn Trực, từ thân thế đến sự nghiệp công lao của ông. Sách viết : " ... Cha ông là Thì Trung giỏi về địa lý, thấy ở làng Nghĩa Bang huyện An Sơn có ngôi đất quý, nhân lấy con gái họ Đỗ người làng ấy và làm nhà ở đấy, mới sinh ra ông ở am núi Phật Tích. Lúc bé ông thông minh, rộng xem các sách. Năm 12 tuổi giỏi làm văn; 18 tuổi đỗ đầu thi Hương ở Sơn Tây; 26 tuổi đỗ Đệ nhất tiến sĩ tên, đứng đầu về khoa thi năm Nhâm Tuất ( 1442 ), niên hiệu Đại Bảo đời Lê Thái Tông, tức trạng nguyên mở đầu của nhà Lê... Ông vâng mệnh đi sứ Trung Quốc, gặp khoa thi, ông là bồi thần cũng xin thi, nhà Minh lại cho đỗ trạng, nên đời bấy giờ gọi là trạng nguyên hai nước. Năm Diên Ninh thứ 2 ( 1445 ), gặp khi nhà có tang ông xin về làng. Bấy giờ học trò các nơi theo học kể hàng nghìn người. Sau khi hết trở, gặp sứ Minh sang, vua sai ông giữ  việc tờ bồi qua lại và làm bài biểu mừng vua Minh lên ngôi, được người Minh khen ngợi. Khi vua Lê Nhân Tông bị giết, ông làm văn tế, lời lẽ rất thống thiết "...
          Như vậy, theo sách Các nhà khoa bảng Việt nam ( CNKBVN ), thì trong cuộc đời làm quan của mình, Nguyễn Trực có hai lần đi sứ nhà Minh là vào các năm Thái Hòa thứ 1 và Diên Ninh thứ 6 . Còn sách LTHCLC thì nói chuyện Nguyễn Trực thi đỗ trạng nguyên ở Trung Hoa dưới triều Minh song lại không nói cụ thể năm nào. Nếu căn cứ vào đoạn chép vừa trích  từ LTHCLC và thử đồ rằng Nguyễn Trực đi sứ và dự thi là vào năm Thái Hoà 1 ( 1443 ), chỉ một năm sau khi ông đỗ trạng nguyên Việt. Vậy liệu có xảy ra điều đó không ?
          Tra cứu bộ ĐVSKTTcủa Ngô Sĩ Liên ( sử biên niên ) thấy rằng, năm 1442 ( niên hiệu Đại Bảo thứ 3 triều Lê Thái Tông - tương đương với Minh, Chính Thống thứ 7 ) là một năm thật đặc biệt với rất nhiều sự kiện trọng đại liên quan đến lịch sử nước Việt. Lựa chọn, liệt kê một số sự kiện trong năm này dể thấy được sự kinh thiên động địa của nó :
          - Nhâm Tuất, năm thứ 3 ( 1442 ). Mùa xuân, tháng giêng, làm cung điện mới .
          - Tháng 3, thi hội các nhân sĩ trong nước, chọ bọn Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đổ, Lương Như Hộc ba người đỗ tiến sĩ cập đệ, bọn Trần Văn Huy 7 người đỗ tiến sĩ xuất thân, bọn Ngô Sĩ Liên 23 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân. Lại sai dựng bia làm văn đề tên. Tiến sĩ được dựng bia ghi tên bắt đầu từ đây. ( như vậy là sử gia nổi tiếng Ngô Sĩ Liên, tác giả của bộ sử trứ danh Việt Nam - ĐVSKTT , đỗ tiến sĩ tại chính khoa thi này )
          - Mùa thu, tháng 7, ngày 20, Hoàng tử Tư Thành sinh ( sau này là Lê Thánh Tông, vị vua nổi tiếng hiền tài trong lịch sử Việt Nam )
            - Ngày 27 ( tháng 7 ) vua đi tuần về miền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh, Nguyễn Trãi đón vua ngự chùa Côn Sơn, ở hương của Nguyễn Trãi.
          - Tháng 8, ngày mồng 4, vua về đến vườn Lệ Chi huyện Gia Định (nay là huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ), bỗng bị bệnh ác rồi băng... Mọi người đều nói là Nguyễn thị Lộ ( vợ lẽ của Nguyễn Trãi ) giết vua.
          - Ngày 12 ( tháng 8 )... tôn Hoàng thái tử Bang Cơ lên ngôi ( tức vua Lê Nhân Tông ). Bấy giờ mới 2 tuổi. Lấy sang năm làm Thái Hòa năm thứ1 (tức năm 1443 ).
          - Ngày 16 ( tháng 8 ), giết Hành khiển Nguyễn Trãi và vợ lẽ là Nguyễn thị Lộ, giết đến ba đời ( vì bị gán cho tội âm mưu giết vua ).
          - Mùa đông, tháng 10, sai sứ sang nước Minh. Đồng tri Hải Tây đạo Nguyễn Thúc Huệ và Thiêm tri thẩm hình viện Đỗ Thì Việp sang tạ ơn cho mũ áo; Thị ngự sử Triệu Thái sang tâu việc địa phương Khâm Châu; bọn Tham tri Nguyễn Đình Lịch và Phạm Du sang báo tang; Tham tri Lê Truyền, Đô ngự sử Nguyễn Văn Kiệt, Ngự tiền học sinh cục trưởng Nguyễn Hữu Phu sang cầu phong.
          Sau một năm đầy biến cố như thế, khi Lê Nhân Tông lên ngôi đã đổi niên hiệu là Thái Hòa, năm thứ 1 ( 1443 ), và trong năm này, ĐVSKTT chép việc bang giao Việt- Trung như sau :
          - Tháng 11, nước Minh sai chánh sứ là Hành nhân ty hành nhân Trình Cảnh sang tế ( hẳn là tế vua Lê Thái Tông )
          - Ngày 25 ( tháng 11 ), nước Minh sai chánh sứ là Quang Lộ tự thiếu khanh, Tống Kiệt, phó sứ là Binh khoa đô cấp sự trung Tiết Khiêm sang phong vua ( Lê Nhân Tông ) làm An Nam quốc vương.
          - Ngày 26 ( tháng 11 ), sai Tham tri bạ tịch là Trình Dục, Nội mật viện chánh chưởng là Trình Thanh, Hàn lâm viện trực học sĩ là Nguyễn Khắc Hiếu sang nước Minh tạ ơn việc sách phong.
          Như vậy, trong năm này ( tức Thái Hòa 1, 1443 ) chỉ có một đoàn sứ sang nước Minh, song không thấy có tên Nguyễn Trực. Vả lại, nếu có tham gia vào đoàn sứ bộ thì ông cũng chỉ là một thành viên trong đoàn không được nêu tên mà thôi, đơn giản bởi ông vừa mới đỗ đạt, cùng lắm là mới được bổ nhiệm,con đường quan lại chưa có gì.
          Lại xem năm Diên Ninh 6 , là năm mà các tác giả cuốn CNKBVN cho là Nguyễn Trực có đi sứ Minh. Sách ĐVSKTT chép rất tóm tắt quãng thời gian 2 năm tính từ Mậu Dần, Diên Ninh thứ 5 ( 1458 ) đến tháng 9 Diên Ninh thứ 6 với mỗi sự kiện thi hội lấy bọn Nguyễn Văn Nễ đỗ tiến sĩ xuất thân. Sự việc chi tiết hơn với sự kiện : mùa đông, tháng 10, ngày mồng 3 (Kỷ Mão, Diên Ninh năm thứ 6, 1459 ), khi Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân làm cuộc chính biến cung đình, giết chết vua ( Lê Nhân Tông ) và cả Tuyên từ hoàng thái hậu. Đến ngày mồng 7, Lê Nghi Dân tự lên ngôi vua, đổi niên hiệu là Thiên Hưng ( tính từ ngày mồng 7 tháng 10 năm Kỷ Mão, 1459 ). Trong thời gian ở ngôi vua 8 tháng, Lê Nghi Dân chỉ có 2 sự kiện hoạt động bang giao với nhà Minh, được sách ĐVSKTT chép như sau :
          - Tháng ấy ( tháng 10, năm 1459 ) Nghi Dân sai Lê Cảnh Huy , Nguyễn Như Đổ, Hoành Thanh, Nguyễn Nghiêu Tư sang nước Minh nộp cống hằng năm và xin bỏ việc mò ngọc trai.
          - Ngày 20 ( tháng 10, năm 1459 ) lại sai bọn Trần Phong , Lương Như Hộc, Trần Bá Linh sang nước Minh xin phong.
          Đến ngày mồng 6 tháng 6 năm Canh Thìn ( tức Thiên Hưng thứ 2, 1460 ), Lê Nghi Dân bị nhóm đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt lật đổ, bắt tự thắt cổ chết, rồi lập Gia vương Lê Tư Thành làm vua ( tức Lê Thánh Tông ), niên hiệu được đổi ngay sau đó là Quang Thuận khi Lê Thanh Tông lên ngôi. Như vậy, đầu năm Diên Ninh thứ 6 khi Lê Nhân Tông còn chấp chính thì không thấy chép gì về hoạt động bang giao với nhà Minh, đến khi Lê Nghi Dân cướp ngôi, có cử 2 đoàn đi sứ nhà Minh thì đều không thấy tên Nguyễn Trực. Cứ cho rằng về sau các nhà biên soạn nhầm cách gọi niên hiệu Thiên Hưng thứ 1 với năm Diên Ninh thứ 6 (vì cùng là năm 1459 theo công lịch ) nên ghi là Nguyễn Trực đi sứ vào năm Diên Ninh thứ 6 thì cũng không có gì liên quan đến việc ông đỗ đạt ở bên đó. Giả thiết, ông có tham gia vào đoàn đi sứ Minh năm ấy, thì cái chuyện ông dự thi và đậu trạng nguyên với triều Minh là một sự kiện chấn động, chi ít cũng phải được ghi chép trong ĐVSKTT chứ ? Quả thật, không thể tin nổi, nếu có một sự kiện vẻ vang về uy tín cá nhân mà còn nâng tầm ảnh hưởng tới danh dự quốc thể nhường ấy , lại bị sử thần Ngô Sĩ Liên, vốn là người thi đỗ cùng khoa và làm quan cùng thời với Nguyễn Trực lại bỏ qua, không nói đến chút nào trong  bộ ĐVSKTT của mình ?
          Liệu có việc ông dự khoa thi với triều Minh và lại đậu trạng nguyên không, khi mà ĐVSKTT không hề đả động gì ?
          Gần đây, tham khảo bài viết Nguyễn Trực, tấm gương vê trí học-nhân học của tác giả Phan Tuấn đăng trên Tạp chí Xưa Nay số 287, tháng 7 năm 2007, có đoạn viết : " Năm 1444 ông ( Nguyễn Trực )cùng bảng nhãn Trịnh Thiết Tường, bạn cùng khoa thi đi kinh sứ Trung Hoa , gặp khoa thi được mời dự thi, nhật kỳ thú : Nguyễn Trực đỗ Trạng nguyên, Trịnh Thiết Tường lại đỗ Bảng nhãn. Vì thế lịch sử có ghi hai ông là Lưỡng quốc trạng nguyên, Lưỡng quốc bảng nhãn. Nguyễn Trực về nước được vua ban 8 chữ : " Thánh công danh văn. Bắc triều hiền ngã ".
          Tra cứu sách ĐVSKTT xem năm 1444 ghi chép gì. Ấy là năm Giáp Tý, Thái Hòa năm thứ 2 ( tương đương Minh, Chính thống thứ 9 ), thấy có chép việc khảo thí học trò bổ làm thuộc lại các ty; việc gộp làm sổ đinh ; việc sai Lê Khôi, Lê Khả đem 10 vạn quân đi đánh Chiêm Thành; việc bắt giam Thái phó Lê Liệt ; việc có động đất, nhật thực, nguyệt thực ; và cuối năm ấy có việc đi sứ nhà Minh. Sách chép là : " Tháng 11, sai sứ sang nước Minh : Tả thị lang là Đào Công Soạn và ngự tiền chấn lôi quân chỉ huy là Lê Quát sang cống nộp hằng năm. Tham tri Đông đạo là Nguyễn Lan sang tâu việc địa giới Khâm Châu ". Như vậy không hề thấy tên Nguyễn Trực và Trịnh Thiết Tường. Không hiểu tác giả bài viết trên lấy tư liệu từ đâu để khẳng định sự kiện đó? Lại càng khó tin hơn, khi tác giả này có lẽ đã nhầm với Trịnh Khiết Trường. Không có Trịnh Khiết Tường nào cùng khoa thi với Nguyễn Trực, mà chỉ có bảng nhãn Trịnh Khiết Trường. Theo sách Các vị trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam của tác giả Trần Hồng Đức biên soạn ( Hội khoa học lịch sử Việt Nam-NXB Thông tin năm 1999 ) thì Trịnh Khiết Trường ( sau này còn được tuyển làm phò mã ) quê Thanh Hóa đỗ Bảng nhãn khoa thi Mậu Thìn, Thái Hòa năm thứ 6 ( 1448 ) triều Lê Nhân Tông ( cùng khoa này, Nguyễn Nghiêu Tư đỗ Trạng nguyên, Chu Thiêm Uy đỗ Thám hoa ), tức là thi đỗ 6 năm sau Nguyễn Trực. Việc này sách ĐVSKTT cũng nói đến. Đối chiếu thêm với chính cuốn sách này của soạn giả Trần Hồng Đức, phần về trạng nguyên Nguyễn Trực, có nói ông từng đi sứ nhà Minh, song không hề nhắc gì việc ông là Lưỡng quốc trạng nguyên cả.
          Cũng có một căn cứ nữa để tham khảo sự kiện này, đó là sách Hồng Đức quốc âm thi tập ( HĐQATT ) của Lê Thánh Tông ( NXB Văn học, 1982 ). Sách này có bài thơ Điếu Nghĩa Bang trạng nguyên ( Viếng trạng nguyên làng Nghĩa Bang ). Nghĩa Bang trạng nguyên ở đây là chỉ Nguyễn Trực, bởi ông tuy quê ở Bối Khê, Thanh Oai ( Hà Tây ), song từ đời cha ông là Nguyễn Thì Trung, chạy giặc Minh, đã rời sang sinh sống tại Nghĩa Bang, trấn Sơn Tây, nay thuộc Quốc Oai ( Hà Tây ) và sinh ra ông ở đó. Bài thơ được phiên âm là :
                   " Đời dõi nho tông phát ấp bang
                    Trong đạo đức, có từ chương
                     Nối dòng thi lễ nhà truyền báu
                    Tranh giải  khôi nguyên bảng chói vàng
                     Nam Bắc hai triều danh dậy
                     Phong lưu một cửa họ sang
                     Từ đường ở đấy niềm tây lạnh
                     Dấu cũ càng thơm xạ có hương "
          Hai câu thơ Tranh giải khôi nguyên bảng chói vàng/ Nam Bắc hai triều danh dậy, được các tác giả biên soạn sách là Phạm Trọng Điềm, Bùi Văn Nguyên chú giải như sau : " Nguyễn Trực ở trong nước đỗ trạng nguyên, khi phụng mệnh đi sứ Trung Quốc, gặp nhà Minh mở khoa thi, ông xin vào dự thi, lại được đỗ cao ". Như vậy, cũng chỉ là những lới phán chung chung thế thôi, chứ các soạn giả cũng không chỉ rõ được là khoa thi năm nào, đỗ cao thì cụ thể là gì ( bởi từ tiến sĩ trở lên đều coi là đỗ cao ). Nếu cứ cho là trong một lần đi sứ nào đó, nhân gặp khoa thi ông có ứng thí tại một khoa thi dưới triều Minh, rồi đỗ đạt thật, thì cũng khó có thể là trạng nguyên, bởi Trung Hoa từ xa xưa luôn tự xưng là Thiên triều, coi các quốc gia lân bang, trong đó có An Nam chỉ là chư hầu ( bằng chứng là việc các vua Việt Nam thường bị các vua Trung Hoa phong cho là An Nam quốc vương và ta luôn phải giữ lệ cống nộp hằng năm ) , là man di mọi rợ, và với bản tính tự cao tự đại cố hữu, thì vua Minh cũng chẳng thể chấp nhận việc cho sứ thần chư hầu đỗ trạng nguyên ( mặc dù họ có thật sự xuất sắc, đáng đỗ trạng nguyên đi chăng nữa ).
          Thêm nữa, ngay trong phần Lời nói đầu, các tác giả biên soạn HĐQATT cho biết, sách này là một tập thơ chỉ được sưu tầm về sau, chứ không phải được biên soạn từ thời Hồng Đức, vì thế ở trong sách có sự lẫn lộn một số bài thơ của người đời sau, chẳng hạn như của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trịnh Căn . Điều này làm cho độ tin cậy của sách này ít nhiều giảm đi, nhất là khi đem căn cứ từ thơ vịnh để suy ra sự thật lịch sử.
          Nguyên việc Nguyễn Trực có phải là Lưỡng quốc trạng nguyên không, thì theo sử cũ, duy có bộ LTHCLC của Phan Huy Chú là có nói đến, song lại không ghi rõ năm nào, khoa thi nào của triều Minh. Quả là khó biết, khi biên soạn sách, phần về Nguyễn Trực, tác giả Phan Huy Chú đã lấy nguồn từ đâu để viết vào sách của mình việc Nguyễn Trực là Lưỡng quốc trạng nguyên? Cứ căn cứ ngay chính phần Phan Huy Chú biên soạn thì cũng có thể thấy, về sự kiện đó, tác giả cũng không tường nên chỉ nói chung chung vậy, chứ không dẫn dụ được năm tháng, khoa thi xảy ra sự việc đó. Thế nên, khi Ngô Sĩ Liên là người cùng thời đó còn không viết gì trong bộ ĐVSKTT của mình, thì ai dám chắc, hơn 300 năm sau, Phan Huy Chú chính xác trong việc ghi lại sự kiện tày trời đó. Phải chăng, khi ấy Phan Huy Chú cũng chỉ ghi từ giai thoại dân gian mà thôi.  
          Có một điểm khá thống nhất, các sách đều viết rằng Nguyễn Trực là một người sống thanh khiết, không xu thời, lánh xa vinh hoa phú quý. Hẳn vì thế, nên mặc dù đỗ trạng nguyên, song quan lộ cũng không mấy hanh thông, lại càng kém hơn so với hai vị cùng khoa là Nguyễn Như Đổ và Lương Như Hộc. Tìm trong sách ĐVSKTT, người ta có thể thấy được sự thăng tiến vinh hiển vượt bậc của hai vị kia, thì riêng ông, chỉ được nhắc đến có 3 lần. Ấy là, vào năm Kỷ Tỵ, Thái Hòa thứ 7, 1449, ông được làm Hàn lâm viện thị giảng ; vào năm Canh Thìn, Quang Thuận thứ 1, 1460, vua Lê Thánh Tông sai ông cùng với Nguyễn Bá Kỳ soạn văn bia Mục lăng ( tức lăng vua Lê Nhân Tông) ; và vào năm Kỷ Sửu, l469 , vua lấy ông khi đó là Hàn lâm viện thừa chỉ , cùng với Vũ Vĩnh Ninh, Nguyễn Đức Trinh, Quách Đình Bảo làm Độc quyển kỳ thi hội năm ấy.
          Thật tiếc, tác giả bài viết này chưa có điều kiện để tra cứu thêm Minh sử  ( hoặc những sách và tài liệu khác ) nhằm xem các sử gia Trung Hoa có biết gì và viết ra sao về sự kiện này không ?
          Thiết nghĩ, trong khi việc xác nhận Nguyễn Trực là Lưỡng quốc trạng nguyên chưa đầy đủ cơ sở, mà việc bác bỏ cũng chưa mấy thuyết phục, thì chúng ta cứ xem Nguyễn Trực từng là Lưỡng quốc trạng nguyên đi. Âu như một giai thoại dân gian, như chuyện kể về Lưỡng quốc trạng nguyên Tống Chân ( chuyện dân gian Tống Chân - Cúc Hoa ), hoặc giả như rất nhiều những câu chuyện trạng dân gian khác, và xem đó như một câu chuyện khuyến học, khuyến tài cho hậu thế. Vậy cũng là hữu ích. Còn như nghiên cứu, viết sách thì lại là việc làm khoa học,cần nghiêm túc, cẩn trọng và chính xác, nên mong rằng các học giả hãy thận trọng với sự kiện này khi viết về Trạng nguyên Nguyễn Trực.
          Đã là người thiên cổ, được sử sách ghi danh, lại xa cách chúng ta gần 600 trăm năm rồi, hẳn là Nguyễn Trực cũng không vui khi hậu thế tôn là Lưỡng quốc trạng nguyên, mà cũng chẳng buồn khi không phải vậy !
          Về với thiên nhiên, ông như cây cỏ, mưa xuân thì mọc !...
         
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-06-06 11:46:40tamvanvov>
                                                                                                         Mưa xuân cỏ mọc  ( III )
 
                                                                                                        Về trạng nguyên Nguyễn Trực
 
                                   
         
 Thơ văn còn lại những gì ?
 
          Về Trạng nguyên Nguyễn Trực, tôi còn muốn tìm xem những bài thơ của ông lưu truyền hậu thế. Hy vọng qua đó, phần nào hiểu thêm con người ông, từ tính cách thanh cao đến tâm trạng xa lánh vinh hoa và muốn lui về ở ẩn của ông.
          Thật may. Sách Lịch triều hiến chương loại chí ( LTHCLC ) của Phan Huy Chú, phần Văn tịch chí có nhắc đến 3 tập thi văn của Nguyễn Trực, đó là Vu liêu tập, Ngu nhàn tập, Kinh nghĩa chư văn tân tập, song đều  ghi chú là không rõ mấy quyển. Sách này còn chép : " Trạng nguyên Nguyễn Trực soạn, học trò biên sắp. Cả tập mất nhiều, nay còn vài chục bài. Lời và ý thanh nhã đáng ưa ". Sách liệt kê 4 bài, nay xin chép cả ra đây để tiện cho việc tham khảo, bình luận :
         
          Bài 1:  Ngẫu tác
                    Bệnh thừa ân chiếu hứa lưu kinh
                    Quy kế như kim nhất vị thành
                    Hà nhật Tây Sơn sơn hà lộ
                    Soa y tiểu lạp khán xuân xanh .
          (Dịch)
                    Có bệnh, nhờ ơn vua lưu lại ở Kinh,
                    Tính đường về mãi mà đến nay vẫn chưa được,
                    Biết ngày nào được đi con đường ở dưới chân núi Tây Sơn,
                    Đội nón nhỏ, mặc áo tơi, đi xem cày ruộng mùa xuân.
 
          Bài 2 : Bính Tuất ngâm
                    Đại đình tằng đối tam thiên tự,
                    Phù thế hư kinh ngũ thập niên,
                    Bất thị vô tâm lai cấm tỉnh
                    Chí nhân đa bệnh ức điền viên.
          (Dịch)
                    Ở sân vua từng làm bài đối sách ba ngàn chữ,
                    Giật mình về việc đã năm mươi năm trời đuổi theo
                    cái hư danh của thời thế,
                    Chỉ vì lắm bệnh, nhớ cảnh điền viên.
 
          Bài 3:  Đề chùa Cực Lạc ( thuộc Ý Yên, Nam Định )
                     Đột ngột vân gian tự,
                     Nhân sinh kỷ độ qua ?
                     U nham tàng Phật tích,
                     Tiếu bích ỷ tăng gia.
                     Địa viễn phi trần thiểu,
                     Sơn cao đức nguyệt đa,
                     Thượng nhân lưu khách túc
                     Ổi vụ hựu phanh trà.
          (Dịch): 
                       Chùa cao chót vót ở trên mây
                        Bởi người dễ mấy lần được đến
                        Hang sâu dấu vết Phật
                        Vách núi dựa nhà tăng,
                        Xa đất nên ít bụi,
                        Trên cao được trăng nhiều.
                        Nhà sư lưu khách lại,
                        Nướng khoai lại pha trà.
         
          Bài 4 :   Lên chùa Hương Lô
                       Tằng tằng đăng nghiễn lộ,
                       Thừa hứng yết kim tiên,
                       Diệu khế tam sinh mộng,
                       Do tồn nhất lũ yên.
                        Lâu đài phi thế hữu,
                        Thảo mộc đắc xuân thiên.
                        Du mục phù vân ngoại,
                        Mang mang thị Đại thiên.
 
          (Dịch):  
                         Tằng tằng đường leo núi,
                         Thừa hứng lên yết Phật,
                         Khéo hợp mộng ba sinh,
                         Vẫn còn một tia khói.
                         Lâu đài này không phải người trần có được,
                         Cỏ cây lúc nào cũng mùa xuân.
                         Đưa mắt ngoài mây nổi,
                       Mông mông ấy thế giới Tam thiên.
          Có lẽ trong số 6 bài thơ còn lại được chép trong bộ Toàn Việt thi lục (TVTL ) có 4 bài này. Nhìn chung, đều mang tâm trạng muốn rời xa chốn quan trường lui về ở ẩn chốn sơn lâm, chữa bệnh, tu dưỡng tinh thần, nuôi dạy con cái, gõ đầu trẻ, và chăm lo việc thiện.... Cũng có thể xem như thái độ " trốn việc quan đi ở chùa " vậy .
          Học giả Phan Huy Chú sau khi dẫn dụ rằng, đến thời Quang Thuận triều Lê Thánh Tông, nhờ văn chương nên Nguyễn Trực càng được vua yêu, được bổ làm quan to ( Tuyên phụng đại phu, Trung thư lệnh ), song ông vẫn mấy lần xin về ở ngôi nhà tranh ở Tây Sơn mà vua không cho, nên mới có gửi gắm nỗi niềm tâm sự vậy. Qua đó, Phan Huy Chú bình : " Xem đấy đủ rõ phong độ và tiết tháo của ông ". Sách dẫn tiếp : " Ông đỗ đầu đại khoa, ra làm quan mà coi rẻ công danh, thường có ý muốn chóng về. Thân Nhân Trung ( một thành viên trong Nhị thập bát tú , Phó súy Tao đàn thời Hồng Đức ) có khen ông là : Lấy văn chương được các triều tri ngộ mà khiêm tốn kính cẩn giữ vẹn sau trước . Thực là lời phê bình xác đáng ".
          Quả là sau những lời bình của các bậc danh tài túc nho như vậy, há không cần bình phẩm gì thêm. Tuy nhiên, nếu truy nguyên để bồi đắp thì hẳn cũng không thừa ?
          Sách Kiến văn tiểu lục ( KVTL ) của Lê Quý Đôn , quyển V-Tài phẩm, thấy chép về Nguyễn Trực : " Nguyễn Trực đỗ trạng nguyên lúc còn ít tuổi, giao thiệp đối đáp với sứ nhà Minh là Hoàng Gián, một lúc họa xong 50 vần thơ lưu biệt, có thể giữ được thể diện trong nước. Nhân Tông sai trung sứ cùng thợ vẽ tới nhà vẽ tượng truyền thần, để ở bên cạnh chỗ ngồi, để tỏ ra rằng không lúc nào quên được. Thánh Tông sai người đem bộ Thiên Nam dư hạ tập ( tập thơ của Lê Thánh Tông ) đến chỗ ở là đình Hoàn Bích để tiện phê duyệt. Đều là sủng ngộ đặc biệt ".
          Được những hai vị vua sủng ái như vậy thì cũng là hiếm, vậy sao ông vẫn muốn sớm cáo bệnh lui về ở ẩn với nếp sống thanh nhàn ? Phải chăng, ngay chính năm ông đỗ trạng nguyên thì đã xảy ra liên tiếp các sự kiện kinh thiên động địa ( như đã liệt kê ở phần 2 ) khiến ông sớm kinh hãi rồi sinh chán ngán chốn quan trường ? Tài danh và công lao nhất mực như Hành khiển Nguyễn Trãi còn bị vu oan tru di đến 3 đời; các công thần từ thời Lê Thái Tổ thì tranh giành quyền lực, thanh toán lẫn nhau theo cái lối do chính Thái Tổ sử dụng là hết thỏ thì đập chó săn ; rồi các phi tần thì ngấm ngầm lôi kéo quan lại và nội thị kết thành bè cánh tranh giành ảnh hưởng nhằm tiêu diệt nhau để ngoi lên ? Ngay trong triều, thấy những quan lại đồng khoa, và sau mình ( như Nguyễn Như Đổ, Lương Như Hộc, Nguyễn Nghiêu Tư...) thăng trầm quan lộ, có thể làm ông ngán ngẩm ?
          Lại nữa, cũng có phần ông chịu ảnh hưởng di truyền và cả sự dạy bảo từ các bậc tiền bối, nhất là cha mình, Nguyễn Thì Trung vốn là Giáo thụ trong Quốc Tử Giám ? Sách KVTL , học giả Lê Quý Đôn chép về người cha của Nguyễn Trực : " Nguyễn Thì Trung, người xã Bối Khê, huyện Thanh Oai, dưới triều nhà Trần, ông tổ tên là Hữu, giữ chức Hàn lâm thị giảng kiêm Thẩm hình viện sứ, cha tên là Bính, giữ chức nho học Huấn đạo. Thì Trung là người có văn học, nối dõi được gia phong...  Sau khi Thái Tổ đã bình định được cả nước, hào kiệt, nho sinh, văn sĩ các lộ đều tranh nhau đến bái yết, kẻ trước người sau đều được trao cho quan chức, chỉ có Thì Trung có ý nhạt nhẽo không cầu hiển đạt làm quan. Đến đầu triều Thái Tông, hạ chiếu tìm hỏi những hiền tài còn bị bỏ rơi, nghe biết ông là người có văn học đức hạnh, nhà vua ra đặc chỉ tuyên triệu, hạ lệnh cho sở tại cố khuyên mời ông đến kinh sư, cho giữ thư khố ở Quốc Tử giám, mùa thu năm thứ 2 ( 1435 ) nhà vua ngự điện Hội Anh, ra bài thi, ông dự thi được trúng cách, cho thăng một tư, giữ chức Thị thư ban, sau thăng chức Giáo thụ trong Quốc Tử giám. Chưa được bao lâu, liền xin thôi làm quan, lui về ở chốn lâm tuyền, giảng sách dạy con, vui vẻ tự do, xa gần nhiều người theo học. Lúc mất, đặt tên thụy là Như Ngu cư sĩ ( chữ Ngu ở đây được hiểu là sự yên vui - TG )... Văn chương của Nguyễn Thì Trung tuy không lưu truyền hết, nhưng xem bài thơ tiễn viên giáo thụ họ Trình về trí sĩ và một bài khi ông về trí sĩ lưu lại để từ biệt viên giám sinh họ Hồ cũng có thể tưởng tượng biết được phong vận thơ văn của ông ".
          Đã rõ ràng , qua phần chép và bình phẩm của Lê Quý Đôn, ngay từ trứng nước, Nguyễn Trực đã thừa hưởng di truyền tố chất để làm nên bản tính thanh cao từ bậc cha ông, thêm vào đó, sự dạy giỗ tận tình của người cha đã sớm định hình phẩm chất cao quý trong con người Nguyễn Trực. Không những ông không xu thời và biết xa lánh bả quyền quý vinh hoa, Nguyễn Trực còn có một phẩm chất đáng quý khác là ông không đố kỵ, biết tôn trọng và nâng đỡ người khác, kể cả khi họ chỉ là bậc dưới về mọi phương diện.  Sách KVTL của Lê Quý Đôn chép :" Lê Hoằng Dục, con Thái phó Lê Văn Linh, học vấn rộng khắp đầy đủ, thơ từ thanh cao phóng khoáng... thường cảm hứng làm 10 bài thơ Giang thành ngẫu thành, lúc Thánh Tông còn ở phủ đệ phiên vương, lấy làm thích lắm, theo vần họa lại, sau khi lên ngôi vua hạ lênh cho từ thần là Nguyễn Trực phê bình, phần nhiều khen ngợi ...". Cũng sách này còn chép: " Bản triều lại có Nguyễn Bảo ( người xã Phương Lai, huyện Vũ Tiên, nay thuộc Thái Bình )  đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Thìn ( 1472 ) niên hiệu Hồng Đức. Trung thư lệnh là Nguyễn Trực yêu thích văn chương của Nguyễn Bảo, tìm đến xem mặt và nói : Già này chấm văn kỳ đệ nhị, mãi sau được chấm bài của ông, về lời lẽ bài chiếu " phục lập phó bí " ( dựng lại bia đã đánh đổ ), tài tình ở chỗ nói rõ được bụng ăn năn hối lỗi của Đường Thái Tông, các sĩ tử không thể theo kịp được, già này nêu rõ ra là bài ấy đứng vào hàng văn kiệt tác. Từ nay về sau, nghĩa lý trong Kinh sách thánh hiền, ký thác vào ông cả"... Quả nhiên, sau này Nguyễn Bảo rất hanh thông về quan lộ, thăng đến chức Thượng thư bộ Lễ, giữ chức ở viện Hàn lâm dưới triều Lê Hiến Tông, có đóng góp nhiều cho triều chính.
          Truyền thống nho gia nhiều đời tiếp nối qua ông đến tận con cháu. Cháu ngoại của Nguyễn Trực là Nguyễn Ích Tốn, hẳn là được thừa hưởng từ ông ngoại mình không những sự di truyền mà cả sự giáo dưỡng. Nguyễn Ích Tốn đỗ Tiến sĩ năm Hồng Đức thứ 15 ( 1483 ), cũng là một thành viên trong Nhị thập bát tú của Tao đàn  do chính Lê Thánh Tông làm chủ súy dưới thời Hồng Đức ( Theo sách Hồng Đức quốc âm thi tập - NXB Văn học,1982 )
          Có một việc, theo tôi cũng nên xác định cho rõ, đó tên tác phẩm của Nguyễn Trực được các sách chép khác nhau. Không kể các tác phẩm Ngu Nhàn tập, Kinh nghĩa chu văn tân tập, và văn bia Mục lăng ( soạn cùng Nguyễn Bá Kỳ theo lệnh của vua Lê Thánh Tông ) thì tên một thi văn tập khác của ông lại được chép khác nhau. Cụ thể là :
          - Vu liêu tập ( Theo sách LTHCLC của Phan Huy Trú ).
          - Trừ liêu tập ( Theo sách Từ điển các nhân vật lịch sử Việt Nam của nhóm Đinh Xuân Lâm -Trương Hữu Quýnh biên soạn ).
          - Hu liêu tập ( Theo sách Các nhà khoa bảng Việt Nam của nhóm Ngô Đức Thọ-Nguyễn Thúy Nga-Nguyễn Hữu Mùi biên soạn ). Sách này còn đống nhất Hu liêu tập với Bối Khê thi tập  là một .
          Thậm chí, có sách còn chép là Sư liêu tập. Vậy thì tên gọi nào là đúng? Rất tiếc là phần lớn các sách, khi biên soạn xuất bản, đều không kèm mẫu tự chữ Hán, mà chỉ có tên Hán Việt phiên âm mẫu tự Latin, nên thật khó tra cứu. Trong số các sách dẫn ra đây, duy bộ Các nhà khoa bảng Việt Nam là có in kèm tên bằng mẫu tự chữ Hán (chép đủ cả tên chính Nguyễn Trực, tên tự Công Đĩnh, hiệu Hu Liêu, tên tác phẩm- Hu Liêu tập ). Căn cứ vào mẫu tự chữ Hán, tra cứu Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, thì không phải là Hu, mà phải đọc là Vu ( chỉ tên một loài cây xấu, không dùng làm được việc gì, còn có nghĩa bóng để chỉ loại người vô dụng ) ; còn chữ Liêu, cũng theo từ điển nêu trên, có nghĩa là cửa sổ nhỏ-mà cũng chỉ việc làm quan cùng nhau ( ví như : đồng liêu - cùng làm quan với nhau  ).
          Nếu căn cứ vào đó, thì tên hiệu của Nguyễn Trực là Vu liêu ( chứ không phải là Hu Liêu ). Có lẽ đây là một cách lấy tên hiệu kiểu tự biếm, tự nhận mình là người vô dụng, thể hiện bản chất khiêm nhường, muốn xa lánh chốn đình trung của Nguyễn Trực chăng ? Cùng với hiệu là Vu liêu, thì tác phẩm là Vu liêu tập. Điều này đúng với cách gọi trong sách LTHCLC của Phan Huy Chú.
Đăng nhập để trả lời
0
Gửi Thanh Vân.
 
Nhờ bạn đưa giúp các tiểu luận và khảo cứu về Nguyễn Trực và Thư mục của tác giả văn xuôi ( Nguyễn Chu Nhạc ) vào Thư viện của Thư quán.
 
Xin cảm ơn.
Đăng nhập để trả lời
0
Thủng thẳng nhà thơ Trần Ngọc Thụ 
 
                                                                            
          1. Ngẫu cảm.                                                                           
          Vào tháng Trọng Xuân năm Giáp Thân ( 2004 ), nhà thơ Trần Ngọc Thụ làm một bài thơ chữ Hán viếng nhà thơ Ngô Linh Ngọc ( Vãn thi gia Ngô Linh Ngọc ), có câu :" Bát thập dư tại thế / Nhất triêu hoàn dĩ quy " ( tự ông dịch nghĩa là : Ở thế hơn tám chục/ Ra đi bỗng một ngày ...). Năm Ất Dậu ( 2005 ), cũng tháng Trọng Xuân, nhà thơ Trần Ngọc Thụ theo chân đàn anh Ngô Linh Ngọc, cũng "nhất triêu hoàn dĩ quy", có điều là ông kém bậc huynh trưởng, mới chỉ  Thất thập dư tại thế , mà thôi ! 
          Tôi là kẻ hậu sinh, về Đài sau, lại chưa từng làm cùng ban biên tập với nhà thơ Trần Ngọc Thụ bao giờ. Song từ mười mấy năm trước, biết tôi tập toẹ thơ văn, võ vẽ chữ Hán, nên ông đem lòng quý mến. Lâu lâu ông gọi điện, nhắn gọi, hoặc những lúc tôi tự ghé phòng làm việc của ông, ông trò chuyện thân tình và đọc cho tôi nghe những bài thơ mới của ông. Mỗi khi in được tập thơ nào, ông cũng đưa tặng tôi. Đáp lại thịnh tình ấy, tôi cũng hay có những điểm sách và bình một số bài thơ của ông mà tôi tâm đắc. Dù kém ông hơn hai chục tuổi, những ông luôn coi tôi là cậu em nhỏ, xưng hô tao mày thân mật. Cuối thu năm vừa rồi, một lần ông đến cơ quan, ghé thăm nơi làm việc của Ban VHXH chúng tôi. Ngồi uống nước trà với nhà thơ Nguyễn Huy Dung, anh Thanh Tùng và tôi, ông say sưa nói về thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rồi cao hứng khoe mấy bài thơ mới làm, trong đó có một bài thơ chữ Hán thể Ngũ ngôn tuyệt cú , tôi nghe qua thấy thích. Lúc vãn người, tôi lấy giấy bút đưa để ông chép lại cho tôi bài thơ ấy. Dù biết tôi cũng hiểu chữ Hán, song ông vẫn cắt nghĩa cho tôi nghe, dường như muốn tôi hiểu thêm tâm sự của ông. Bài thơ đề tên Ngẫu cảm  như sau :                
                             Bần bệnh thân hữu sơ
                             Trường đãi kỷ thời đáo
                             Đối ngã tương vi ngu
                             Tận nhật nhất miêu lão.
          Có thể hiểu nghĩa là : Khi ta nghèo và bệnh tật thì người thân, bạn hữu cũng thành ra sơi. Cứ mong đợi mãi kẻ tri kỷ đến thăm chơi. Thôi thì đành tự mình làm vui với mình vậy. Quanh quẩn suốt ngà y chỉ có con mèo già .   
          Bài thơ hàm súc mà lay động. Đọc kỹ rồi thấy như ông trách khéo mấy anh em chúng tôi, cứ tạm coi như đàn em  thơ văn của ông đi, ít đến thăm ông. Với riêng tôi, quả là khi nhà ông còn ở khu tập thể cơ quan tại Phương Liệt, thỉnh thoảng tôi có ghé thăm ông  nói chuyện thơ văn, chiêm ngưỡng và bàn luận quanh mấy bức thư pháp thơ chữ Hán do cụ Nguyễn Văn Bách viết tặng ông. Vài năm nay, từ khi ông dọn nhà lên Thuỵ Khuê, Tây Hồ thì tôi chưa đến thăm nhà mới của ông lần nào. Những lúc gọi điện đến thăm, ông bảo :" Chú mày, bảo thêm cả Huy Dung nữa, lên chơi trên tao, ăn trưa tại nhà với tao một bữa...". Thế rồi, anh em chúng tôi cứ bận mải công việc, lần lữa mãi mà chưa đến thăm ăn cùng ông bữa cơm tại gia...   
          Trước Tết Nguyên Đán  vừa rồi, có nghe nói ông phải vào viện, chủ yếu để theo dõi căn bệnh huyết áp thấp rồi lại ra viện ăn Tết tại nhà. Nghĩ là ông khỏe lại. Năm nay, nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Đài TNVN, Ban VHXH có tổ chức cuộc thi thơ Đương luật về Đài TNVN, chúng tôi dự định mời ông vào Ban giám khảo cuộc thi, chỉ còn đợi quyết định chính thức, thì đến nhà thăm và mời ông tham gia. Nghĩ là đợt này sẽ có điều kiện gặp ông thường xuyên hơn. Đột nhiên, nhận tin ông nhập viện, mà lần này là bệnh trọng. Anh em, bạn hữu cơ quan biết tin lác đác vào thăm ông. Hôm tôi cùng anh Huy Dung và chị Song Phương vào viện, đi trên khoảnh sân rộng bời bời lá vàng rụng khi gió mùa bấc về, tôi chợt nhớ đến bài thơ chữ Hán nọ, đọc lên cho mọi nguời cùng nghe. Có gì đó đượm buồn nơi mỗi chúng tôi. Nhà thơ Trần Ngọc Thụ nằm thiêm thiếp trên giường bệnh. Thần sắc nhợt nhạt, hơi thở dốc khó khăn. Thực ra, căn bệnh ung thư thực quản  hay vòm họng chi đó hành hạ ông đã lâu. Thần trí ông tỉnh táo, mắt he hé nhìn, nói đứt đoạn vài từ ngắn đáp lại lời thăm hỏi của chúng tôi. Bác sĩ bảo khó lấy mạch lắm. Vậy là ông khó qua. Nghĩ vậy, nhìn nhau mà chẳng biết nói gì. Người nhà bảo là ông tỉnh táo hơn so với mấy ngày đầu nhập viện. Anh Huy Dung nắm tay anh bảo: " Anh ơi, anh cố qua, để lại đọc thơ cho bọn em nghe " . Còn tôi, tôi nghiêng xuống giường bệnh của ông khẽ đọc một câu :" Bần bệnh thân hữu sơ ...". Chỉ thấy ông thở dài, co duỗi một bên chân... Thì ra chỉ là chút bùng lên của ngọn lửa trước khi tắt lụi! Rạng sáng hôm sau ông ra đi !...                 
          Bài thơ ấy, tôi biết là một trong số ít những bài thơ chữ Hán cuối cùng của nhà thơ Trần Ngọc Thụ. Kính cẩn xin với vong linh ông, chúng tôi mấy đứa đàn em của ông, mạo muộn dịch nôm na bài thơ Ngẫu cảm thế này: 
                             Nghèo, ốm nên ít bạn .
                             Mong hoài  tri kỷ qua
                             Đành tự mình vui vậy
                             Quẩn quanh với mèo già..    
         
 
 
         
         
         
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-02-14 14:40:45tamvanvov>
2. Vẫn như ngày xưa ấy...  
           
            Kể từ ngày đeo đẳng với nghiệp thơ khi còn trẻ, Trần Ngọc Thụ thủng thẳng làm thơ, thủng thẳng đăng tải trên các báo, mãi đến năm 1989, mới xuất bản tập thơ đầu tay là Em vẫn như ngày xưa. Rồi bài thơ được lấy làm tên tập ấy được nhạc sĩ Lê Đình Lực phổ thành bài hát, qua giọng hát Thanh Hoa ngày ngày vang trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, lại được biểu diễn trên sân khấu ca nhạc, Trần Ngọc Thụ thêm được đồng nghiệp và người yêu thơ chú ý.
          Thế rồi, như ngựa vía, Trần Ngọc Thụ không thủng thẳng nữa, ông  dư sức phi nước đại, một mạch dài, để lại đằng sau vết chân lỗ chỗ liên tiếp các tập thơ là: Hoa sữa ( 1991 ), Hai chiều ngày vui ( 1990 ), Cánh buồm xa ( 1990 ), Thoáng xưa ( 1993 ), Người không xa ( 1993 ), Mộng bình yên ( 1994 ), Quả trái mùa ( in chung-1994 ), Gia bảo ( in chung-1995 ), Chớm thu ( 1998 ).
          Đến đấy, vẫn không dừng, song nhà thơ Trần Ngọc Thụ lại thủng thẳng như thời bắt đầu vào nghề, dành thời gian để nghỉ ngơi, để nghiên cứu thơ Đường-Tống, để viết bài cho mục Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và ngày ngày đưa đón cháu đi học.
          Trần Ngọc Thụ làm nhiều thơ, song tựu chung, có thể thấy thơ của ông thành hai vệt chính - thơ tình và thơ về nông thôn quê hương.
          Ông sinh năm 1934 ở quê nhà Nam Trực, Nam Định. Vùng đất phía nam kinh thành Thăng Long xưa, có những ba cái chợ Viềng nổi tiếng với mua bán cầu may họp một năm một lần sau Tết nguyên đán, ấy cũng là nơi nảy sinh những thi sĩ tài danh như Nguyễn Khuyến, Trần Bích San, Tú Xương, Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, đã tạo cho thơ ông vẻ chất phác, nhuần nhị chất đồng quê Bắc Bộ, lại pha chút hóm hỉnh, uyên thâm thâm Nho học. Sinh ra và lớn lên ở quê, nên ông làm khá nhiều thơ về quê mình, về nông thôn đất Việt. Có cảm tưởng, hầu như mỗi lần Trần Ngọc Thụ về thăm quê mình, đến chơi quê bạn, hoặc trong cuộc đời làm báo của mình, khi đến miền quê nào, ông cũng có thơ. Thơ như thương trực trong ông, nên ông viết rất nhanh, không cầu toàn, khiến người quen có cảm giác ông ứng khẩu thành thi vậy. Thơ về thôn quê của ông thường giản dị và cũng khá dí dỏm : " Đường làng thon thả lượn bờ tre/ Vai tròn áo mỏng tươi màu gụ/ Giấu nụ cười duyên sau nón che ..." ( Nét quê ). " Rơm mới đường làng vướng gót/ Nhẹ  nhàng khói bếp thơm say/ Em má bùn lấm tấm/ Căng hồng cổ chân, cổ tay " ( Ngày mùa ). " Tháng ba là tiết gió nồm/ Bao nhiêu cây súng ồm ồm nở hoa/ Ao gần cho chí ruộng xa/ Ếch kêu ộp oạp bài ca gợi tình.../ ... Em ơi đi chợ tháng ba/ Em mùa chùm khế hay là chùm me " ( Tháng ba ) v.v...
          Nhiều lúc ông lại dụng công trau chuốt, chơi chữ : "Gieo tơ mơ xe tre thôn/ Mây lang thang mang tâm hồn sang thu " ( Mây sông Ninh ). "Chuông hồi thánh thót vang ngân/ Lúa thu gánh đổ dầy sân nắng chiều ". ( Làng ngoại ô ). " Cầu tre lắt lẻo vai gầy/ Đường xa mỏi bước gánh đầy chợ đông"   ( Cầu tre  )... Những câu thơ kiểu như vậy làm bài thơ làng nhàng bỗng trở nên sống động lung linh hơn.
          Có lẽ, bài thơ được nhiều người biết đến nhất là bài Con đường hàng tỉnh :            
                             Con đương hàng tỉnh tôi đi
                             Ba mười năm có những gì đổi thay ?
                             Nhà mái rạ tường đã xây
                             Ven đường đã lớn hàng cây xà cừ
                             Ông lão dong trâu đi bừa
                             Là con ông lão ngày xưa đi cày .
          Bốn câu đầu tả thực, về sự đổi thay của làng quê qua quang cảnh hai bên con đường hàng tỉnh trong ba mươi năm qua, sẽ là kể chuyện thường nếu như không làm phông nền cho hai câu kết đặc sắc : " Ông lão dong trâu đi bừa/ Là con ông lão ngày xưa đi cày ". Bài thơ được nâng tầm hẳn lên. Thật mà lại ảo. Có gì đó sâu xa buồn. Cuộc đời năm tháng đằng dẵng bỗng thành thoáng chốc, nhưng sao vẫn quẩn quanh thế thôi ư ? Phải chăng, đấy còn là phong tục tập quán, là văn hóa với những giá trị riêng của nó ?!
          Bài thơ được ông viết vào cuối năm 1989. Trần Ngọc Thụ sinh ra và lớn lên ở quê. Ông đi theo cách mạng rồi làm cán bộ thôn xã. Rồi nữa mới rời làng quê về thành phố học hành thành tài và trở thành nhà báo. Ba mười năm đi trên con đường hàng tỉnh, tuy làng quê đã ít nhiều đổi thay song những người nông dân vẫn khổ. Ngẫm ra, làm gì mà không khổ. Ba mươi năm ấy là những giặc giã liên miên, bao nhiêu sức người sức của đổ hết ra mặt trận, với những ngày tháng " thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người ", ở lại hậu phương, làng quê toàn là người già, đàn bà, trẻ con. Thêm vào đó là thiên tai, vừa nắng hạn khô nứt nẻ mặt ruộng, chốc đã mưa bão ngập lụt nước trắng đất trắng trời. Nghĩ về làng quê ông, lại nhớ về làng quê mình. Ấy là đêm đêm mùa gặt chầu trực ở sân kho hợp tác xã chứng kiến cảnh chia thóc ngày đó. Những đống thóc ướt sũng lên mộng mạ nồng nồng mùi men rượu vơi nhanh chóng trong ánh đèn dầu hỏa đỏ quạch ám khói đen, khi mà danh sách được chia thóc trên tay ông đội trưởn dài dằng dặc... Đến khi đất nước bình yên thì cơ chế quan liêu bao cấp ngần ấy năm lại đè nặng nền sản xuất và đời sống xã hội. Với một bầu không khí như vậy, người nông dân mòn mỏi, khổ ải là phải thôi. May mà công cuộc đổi mới từ đầu những năm chín mươi đã làm đất nước khởi sắc. Cũng bắt đầu từ nông nghiệp-nông thôn-nông dân với cơ chế khoán 100, rồi khoán 10. Và chỉ khoảng chục năm sau, Trần Ngọc Thụ trong bài Cầu tre đã viết : " Làng quê nay hết lối mòn/ Đường ngang ngõ dọc cầu vòm mới xây/ Còi xe nhộn nhịp đêm ngày/ Gác cao nhà rộng sum vầy cháu con/ Mẹ cha khuất bóng không còn/ Khổ đau ngày ấy dài hơn kiếp người ...".
          Về bài thơ Con đường hàng tỉnh, cơ quan Đài Tiếng nói Việt Nam của ông còn truyền nhau một giai thoại, ấy là chuyện có một cậu bé đã sửa thơ ông, lại đúng vào hai câu hay nhất của bài thơ. Chuyện là, cậu bé con một chị phóng viên cấp dưới của ông được mẹ cho lên cơ quan. Chẳng hiểu sao, cậu bé học sinh tiểu học ấy tình cơ đọc được bài thơ này, nó lẩm bẩm rồi bảo với mẹ nó , đại loại là trong bài thơ của bác Thụ, hai câu thơ Ông lão dong trâu đi bừa / Là con ông lão ngày xưa đi cày, có thể đổi là Ông lão ngày xưa đi cày/ Là cha ông lão ngày nay đi bừa.. Chuyện vui là vậy thôi. Nhà thơ Trần Ngọc Thụ rất lấy làm khoái với chuyện đó.
          Thế còn thơ tình, không thể không nhắc tới bài thơ Em vẫn như ngày xưa , bài thơ đã làm nên tên tuổi Trần Ngọc Thụ. Người quen hay ngân nga mấy câu : " Dù thời gian chia phôi/ Dù đường dài xa xôi/ Em vẫn như ngày xưa/ Mến yêu anh trọn đời ... Em vẫn như ngày xưa/ Mắt đen nhìn đung đưa/ Nét cười sau vai áo/ Tay mềm thon búp thơ ...". Nhẹ nhàng, duyên dáng, lời thơ quyện với âm nhạc nên được tôn lên rất nhiều. Riêng tôi, tôi lại thích những bài thơ tình khác của Trần Ngọc Thụ . Chẳng hạn như bài Bướm trắng : " Thèm mong khát đợi yêu chờ/ Ríu chân muốn ngã bên bờ chiêm bao/ Quờ tay vịn gốc cây đào/ Bóng con bướm trắng trôi vào mắt thơ...". Thích nhất cái câu cuối : " Cưỡi lưng bướm trắng mà lên đỉnh trời ". Chẳng giống ai từ cổ chí kim, người ta toàn cưỡi rồng, cưỡi phượng, cùng lắm là cưỡi ngựa thần, cá chép thần mà lên trời, chứ có ai cưỡi bướm đâu. Ây vậy, cưỡi bướm mà lên đỉnh trời thì chỉ có nhà thơ Trần Ngọc Thụ.
          Hay như bài Chớp giật : " Lùi trăng đùn kéo mây xa/ Mây không che được lòng ta nhớ người/ Tiếng gì như hạt mưa rơi/ Hai con chớp giật cuối trời gọi nhau ". Hàm súc và ám ảnh. Hay như bài Đơn sơ : " Không nhiều ham hố chẳng kiêng khem/ Chẳng dám khinh khi chẳng khát thèm/ Chỉ mong đêm một giấc mơ nhỏ/ Sớm một chút thơ, chiều chút em ". Khốn nỗi, đơn sơ vậy song thực khó lắm thay !
          Có một bài thơ được bạn bè và đồng nghiệp hay nhắc đến, mang ra đùa vui lúc chuyện phiếm, đó là bài Vui xuống cấp :
                   Trông xa tưởng bác đã già
                   Đến gần mới biết chỉ là chú thôi
                   Cầm tay đích thị em rồi
                   Ngả lưng nằm xuống là tôi với mình.
          Đúng là gừng càng già càng cay. Tinh nghịch, hóm hỉnh và cũng chí lý thay. Cái sự tinh ranh, dí dỏm này luôn có sẵn trong Trần Ngọc Thụ, lâu lâu ông lại tung ra một chưởng, như : " Cánh buồm tím cánh buồm xanh/ Để làm chi lắm cho anh một buồm ". (Áo phông ) ; " Chờ em hôm kia hôm qua/ Hôm nay em đến thì hoa đã tàn/ Nắng rồi sương giá đã tan/ Hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi " ( Hoa tàn ) ; " Vua khen thằng đấu có tài/ Văn chương khúc ngắn khúc dài đều hay/ Rượu tình uống mãi không say/ Ngất ngư chỉ một cái này mà thôi " ( Khen thằng đấu ).
          Trần Ngọc Thụ tinh ranh và hóm hỉnh trong thơ, như ông tinh ranh, hóm hỉnh trong đời sống, công việc vậy. Với ông, có cảm giác, chẳng có gì là quan trọng cả. Việc gì khó đến mấy  rồi ra cũng có cách giải quyết. Thủng thẳng và hài hước mà tới. Duờng như ông đã tự tìm cho mình một triết lý sống. Như ông Tự đùa với chính mình, và cho mọi người biết :
                   Ừ già ừ vẫn trẻ
                   Sớm trưa khề khà trà
                   Cây cảnh mảnh khảnh cảnh
                   Giò hoa la đà hoa
                   Khôn không khôn nói năng nói
                   Chuyện tếu táo thơ lơm chơm
                   Cơm ba bát thuốc vài điếu
                   Yêu người đẹp uống chè thơm .
         
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-04-05 08:39:40tamvanvov>
3. Chí kim thiên tải văn dư hương
 
          Với nhà thơ Trần Ngọc Thụ, nôm na và hóm hỉnh bao nhiêu với thơ ca Việt ta, thì ông lại thâm trầm bấy nhiêu với thơ ca chữ Hán, đặc biệt  với thơ Đường.
          Ngày nhỏ ở quê, tuy ở vào thời điểm ấy, nền khoa bảng Nho học đã suy tàn, ông vẫn được học chữ Hán, ê a dăm câu Tam tự kinh. Và với vốn chữ Hán ít ỏi ban đầu ấy, sau này do yêu thích thứ ngôn ngữ giàu tính tượng hình, hội ý ấy, ông tự bồi bổ và đã có thể đọc dịch thơ Đường -Tống từ nguyên bản, rồi cùng với người anh trai của mình là nhà thơ đồng quê Trần Huy Tạc, soạn chung một tập thơ, gồm những bài dịch thơ Đường-Tống và thơ chữ Hán theo Đường luật.
          Chính sự am hiểu thơ Đường và biết làm thơ chữ Hán- Đường luật, đã làm nên một góc riêng con người và thi ca Trần Ngọc Thụ.
          Trong tập thơ Chớm thu ( NXB Thanh niên-1998 ), Trần Ngọc Thụ dành riêng phần cuối cho bản dịch 14 bài thơ Đường và một bài thơ chữ Hán-Đường luật của Tam nguyên Trần Bích San, triều Nguyễn -Tự Đức, người quê Nam Định.
          Trong lời tựa cho phần này, Trần Ngọc Thụ đã viện dẫn câu thơ Lý Bạch: " Chí kim thiên tải văn dư hương " với lời dịch của nhà thơ Chu Mạnh Trinh : " Nghìn năm sau còn nhặt phấn hương thừa ", chỉ để bộc lộ cảm xúc của mình khi bị mê hoặc, quyến rũ bởi thơ Đường.Và nữa, cũng là cái cớ để ông đặt tên riêng cho phần thơ dịch này trong tập là Hương thừa.
          Thực ra, câu thơ ấy trong bài thơ Ký viễn ( Gửi phương xa ) của Lý Bạch là : " Chí kim tam tải văn dư hương ". Bài thơ này được Trần Ngọc Thụ dịch theo thể lục bát như sau : 
                    Người còn hoa thắm đầy nhà
                   Người đi nhà vắng giường hoa ai nằm
                   Chăn hoa xếp để ba năm
                   Ba năm hương cũ vẫn đằm đê mê
                   Hương còn người mãi không về
                   Nhớ thương rụng lá đầm đìa sương rêu.
          Yêu và dịch thơ Đường, lại chỉ chọn dịch ít bài nổi tiếng, Trần Ngọc Thụ phải đối mặt với khó khăn, đó là bản dịch trước của các cao thủ trong làng túc nho , những người vốn am tường thơ Đường.
          Bài Trúc lý quán ( Quán Trúc lý ) của Vương Duy là một ví dụ. Nguyên bản âm Hán Việt là :
                   Độc tọa u hoàng lý
                   Đàn cầm phục trường khiếu
                   Thâm lâm nhân bất tri
                   Minh nguyệt lai tương chiếu.
          Đây là bài thơ ngắn, hàm súc nên rất khó dịch nếu bám sát nguyên bản theo thể ngũ ngôn tuyệt cú.Trần Ngọc Thụ chuyển dịch thành lục bát, khá  nhuyễn mà vẫn sát ý :
                    Ngồi trong đám trúc một mình
                   Gảy đàn rồi lại hứng tình huýt môi
                   Rừng sâu vắng vẻ nào ai
                   Vầng trăng trong đến soi người tri âm .
          Bài thơ Giang tuyết  ( Tuyết sông ) của Liễu Tông Nguyên, nguyên bản Hán Việt là :
                   Thiên sơn điểu phi tuyệt
                   Vạn kính nhân tung diệt
                   Cô chu toạ nạp ông
                   Độc điếu hàn giang tuyết .
          Trần Ngọc Thụ dịch sát theo thể ngũ ngôn. Theo tôi, đây là bài dịch thành công nhất  trong số những bản dịch thơ Đường của ông :
                   Ngàn núi bóng chim bặt
                   Vạn nẻo dấu người không
                   Thuyền lẻ ông tơi nón
                   Một mình câu tuyết sông .
          Lời hay, độc đáo, sát nghĩa, lại giữ được phong vị Đường thi . So với bản dịch của Trần Trọng Kim thì đạt hơn. Học giả Trần Trọng Kim chuyển thành lục bát nên bị loãng, giảm phong vị . Xin được nêu ra đây để tiện cho việc tham khảo :
                   Nghìn non chim hết vẫy vùng
                   Vắng tanh muôn nẻo tuyêt không dấu người
                   Áo tơi, nón lá, ông chài
                   Con thuyền giữa tuyết ngồi hoài buông câu.
          Bài thơ Ẩm tửu khán mẫu đơn ( Uống rượu ngắm hoa mẫu đơn ) của Lưu Vũ Tích , nguyên bản Hán Việt là :
                   Kim nhật hoa tiền ẩm
                   Cam tâm túy sổ bôi
                   Đãn sầu hoa hữu ngữ
                   Bất vị lão nhân khai .
          Trần Ngọc Thụ chọn cách dịch đúng thể, sát nghĩa ( khác cách dịch của học giả Trần Trọng Kim theo thể lục bát ), và theo tôi đây là một bản dịch giữ được phong vị :
                   Trước hoa ngồi uống rượu
                   Muốn vài chén say sưa
                   Chỉ buồn hoa sẽ nói
                   Không nở cho người già.
          Bài thơ Kim Lũ y (Áo thêu vàng ) của Đỗ Thu Nương, một tác giả nữ hiếm hoi trong số các tác gia Đường thi, nguyên bản thể tứ tuyệt :
                   Khuyến quân mạc tích kim lũ y
                   Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì
                   Hoa khai kham chiết trực tu chiết
                   Mạc đãi vô hoa không chiết chi.
          Không chuyển sang đúng thể tứ tuyệt theo lệ thường thấy khi dịch thể thơ này, mà Trần Ngọc Thụ lại cố gắng chắt lọc, kiệm từ hơn, chọn thể ngũ ngôn. Âu cũng là sự thử sức mình :
                   Xin đừng tiếc áo đẹp
                   Hãy tiếc lấy ngày xanh
                   Hoa đang tươi kíp hái
                   Đừng để lúc trơ cành .
          Vì kiệm từ, bản dịch chỉ cốt lấy ý mà bỏ bớt lời, nên thiếu toàn vẹn. Song với thể ngũ ngôn, dịch được như vậy cũng là hay.
          Bài thơ Bạc tần hoài (Đỗ bến Tần Hoài ) của Đỗ Mục, nguyên bản Hán Việt thể tứ tuyệt :
                   Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa
                   Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia
                   Thương nữ bất tri vong quốc hận
                   Cách giang do xướng Hậu đình hoa.
          Bài thơ này vốn đã nhiều người dịch. Cũng không vì thế mà Trần Ngọc Thụ không thử sức mình :
                   Khói mờ sông lạnh trăng soi bãi
                   Đỗ bến Tần Hoài cạnh tửu gia
                   Mất nước gái ca không biết hận
                   Bên sông còn hát Hậu đình hoa .
          Bài thơ Hoài thượng biệt cố nhân ( Tiễn bạn trên sông Hoài ) của Trịnh Cốc, nguyên bản Hán Việt thể tứ tuyệt, nhịp điệu êm ái :
                   Dương tử giang đầu dương liễu xuân
                   Dương hoa sầu sát độ giang nhân
                   Sổ thanh phong địch ly đình vãn
                   Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần.
          Vừa thích thú, vừa không yên tâm nếu như chỉ chọn một cách dịch bài thơ này, Trần Ngọc Thụ thử sức ở cả hai thể khác nhau :
          Bản 1: Dương tử đầu sông dương liễu biếc
                    Hoa dương buồn chết khách qua sông
                    Sáo chiều ly biệt đôi làn vẳng
                    Tôi trở về Tần anh sang đông .
         
          Bản 2: Liễu xanh biêng biếc bên sông
                    Khách qua sông chết cõi lòng hoa bay
                    Biệt ly tiếng sáo đâu đây
                    Anh sang đất Sở tôi quay về Tần.
          Theo tôi, cả hai bản dịch đều đạt. Bản dịch đầu giữ nguyên thể và phong vị, song bản dịch sau nhuyễn hơn mà lại thấm đậm nỗi sầu thương .
          Bài thơ Tống Linh Triệt ( Tiễn nhà sư Linh Triệt ) của Lưu Trường Khanh, nguyên thể thất ngôn tuyệt cú, rất hàm súc :
                   Thương thương Trúc Lâm tự
                   Diểu diểu chung thanh vãn
                   Hà lạp đái tà dương
                   Thanh sơn độc quy viễn.
          Ở bài này, Trần Ngọc Thụ đau đáu cả với hai sự lựa chọn :
          Bản 1:  Xanh xanh Trúc Lâm chùa
                     Văng vẳng chuông chiều đưa
                     Nón lá sen bóng xế
                     Một mình về núi xa .
         
          Bản 2:  Xanh xanh chùa cổ mơ màng
                     Chuông chiều văng vẳng nghe càng buồn thêm
                     Bóng tà soi nón lá sen
                     Một mình lủi thủi về miền núi xa .
          Xét thấy, bản dịch đầu giữ nguyên thể, ngôn từ chắt lọc mà hàm ý sâu xa, mang phong vị Thiền, có dáng dấp một bài kệ Phật giáo. Còn bản dịch sau, đời hơn, nên vì thế cũng buồn và cô quạnh hơn, lại thêm nhịp điệu man mác, du dương.
          Không cần dẫn hết phần dịch thơ Đường của Trần Ngọc Thụ, bởi chỉ ngần ấy thôi cũng đủ thấy cái cảm, cái tường của ông về thơ Đường đạt tới độ nào. Phần thơ của ông làm theo các thể Đường luật, thiết nghĩ sẽ làm rõ hơn tài thơ chữ Hán củaTrần Ngọc Thụ. Không biết cho đến lúc mất, ông đã làm bao nhiêu bài thơ chữ Hán. Vì quý mến kẻ vãn sinh là tôi, mỗi dịp gặp, Trần Ngọc Thụ đều nói chuyện và khoe thơ chữ Hán ông làm. Chính vì vậy tôi đồ rằng số bài thơ chữ Hán của ông không ít, song trong tay tôi chỉ có ba bài, và mỗi bài đều được chính tay ông viết nguyên bản chữ Hán. Ngoài bài thơ Ngẫu cảm mà tôi đã nêu ở phần đầu là không có phần dịch sang tiếng Việt, hai bài còn lại đều được ông chép đủ bằng nguyên chữ Hán rồi  âm Hán Việt và tiếng Việt. Trong bài viết này, tôi chỉ nêu bản Hán Việt và tiếng Việt mà thôi .
          Bài thơ : Tân xuân tân gia tức sự
                     Thụy đường huy ánh tân quang thái
                     Xuân thụ hàm dương mãn điểm hoa
                     Thu tứ thu tình thi hứng khởi
                     Nam hòa khuê phát hạo bình ca.
          Bản dịch của chính Trần Ngọc Thụ như sau :
                     Phong quang vẻ thụy nếp nhà ta
                     Khí tốt trùm cây tươi sắc hoa
                     Ý đượm tình sâu thi hứng nổi
                     Êm đềm ngọc sáng tiếng vui ca .
          Bài thơ này được ông cao hứng vịnh vào xuân Ngâm Ngọ ( 2002). Có thể nói, đây là thời kỳ khá viên mãn của ông. Lúc ấy, ông đã nghỉ hưu được mấy năm, ở chung với gia đình con trai là Trần Nam Bình trong căn nhà to mới mua  trên phố Thụy Khuê gần Hồ Tây. Lại thêm, vợ ông, nhà thơ Lệ Thu từ Bình Định lâu lâu ra Hà Nội ở cùng. Sức khỏe tốt, đọc nhiều, có thời gian để tâm nghiên cứu thơ Đường- Tống, và hẳn làm nhiều thơ chữ Hán. Khi đọc cho tôi nghe bài thơ này, ông còn hứng khởi khoe rằng, trong bài thơ  ông đã vận dụng kê tên hầu hết những thành viên gia đình ông và cả nơi ở vào đấy : Thụ-Thu-Nam Bình- Thụy Khuê...
          Bài thơ Vãn thi gia Ngô Linh Ngọc thì được ông làm vào mùa xuân Giáp Thân ( 2004 ) , cảm đề khi nhà thơ Ngô Linh Ngọc qua đời :
                             Nhu kiều như ái tỷ
                             Khoan trí tự tôn sư
                             Bát thập dư tại thế
                             Nhất triêu hoàn dĩ qui
                             Thạch trung lai ẩn ngọc
                             Yên thuỷ vọng tâm ti ( tư )
                             Thư giản doanh lâu các
                             Đãi văn kim thị thuỳ ?
          Ông tự dịch là :
                             Đẹp và hiền như chị
                             Trí và khoan như thầy
                             Ở thế hơn tám chục
                             Ra đi bỗng một ngày
                             Ngọc lại về trong đá
                             Hồn thơ để nước mây
                             Lầu văn chất đầy sách    
                             Đợi khách giờ ai đây ?
          Với nhà nghiên cứu Ngô Linh Ngọc, ông chơi với tư cách đàn em trọng bậc đàn anh, lại kính như thầy. Kính về tuổi tác và nhân cách, nể trọng về kiến thức uyên thâm. Trần Ngọc Thụ tâm đắc với việc đưa được câu vinh danh Ngô Linh Ngọc mà bạn tri âm đã tặng " Thạch trung ẩn ngọc " ( ngọc ẩn trong đá ), vào bài thơ thành câu "Thạch trung lai ẩn ngọc". Khi sống thì như ngọc quý ẩn trong đá, lúc thác chẳng qua là ngọc lại về trong đá mà thôi. Hay mà hợp với con người Ngô Linh Ngọc.
          Tiếc là không có đầy đủ phần thơ chữ Hán của Trần Ngọc Thụ, để  qua đó thấy rõ vóc dáng ông . Cả đời làm báo, luôn phải sống, phải sôi động và gấp gáp cùng các sự kiện-vấn đề lớn nhỏ mà cuộc sống đặt ra, song Trần Ngọc Thụ luôn biết cách tìm cho mình những phút giấy để phiêu diêu cùng thiên nhiên, tình ái, tình người, để lắng mình vào thế giới cổ sơ mà kiếm tìm những thứ quý giá của văn hóa nhân loại.
          Nhớ Trần Ngọc Thụ, nhớ về thơ phú của ông. Nhớ sự nghiêm túc và đầy trải nghiệm của ông trong công việc. Nhớ nếp sống giản dị, tác phong xuề xòa. Nhớ cả cái cuời chun mũi !
                    
                  
                  
         
         
 
 
            
Đăng nhập để trả lời
0
Hoá ra bác ở nơi này
Mà em chẳng biết, chẳng hay tí nào
Bây giờ thì thường xuyên vào
Giao lưu trò chuyện biết bao việc người...
Nguyễn Đình Xuân - Tác giả của các tập thơ: "Tiếng sóng sông quê" (NXB Quân đội nhân dân - 2009, "Bóng nắng" (NXB Công an nhân dân - 2010), "Trăng mật với thời gian" (NXB Văn học-2012) và "Cánh chuồn ngủ quên" (NXV Văn hóa-Văn nghệ TP Hồ Chí Minh- 2013) và các tập sách: "Đấu trí công nghệ cao" (Bình luận quân sự, NXB Quân đội nhân dân-2012), "Từ Tây Bắc đến Tây Nguyên (Ghi chép, NXB Quân đội nhân dân, 2013).
http://nhabaoquandoi.blogtiengviet.net/

Đăng nhập để trả lời
0
@ Cảm ơn nhà thơ Nguyễn Đình Xuân đã đọc và chia sẻ với những bài viết của tôi.
 
Thân mến.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-06-26 04:42:31tamvanvov>
                                Phùng Quán, người chiến binh chưa xa
 
                                                            Tiểu luận của Nguyễn Chu Nhạc                    
 
          Vài ba năm nay có mấy sự kiện trong thế giới sách ở Việt Nam. Sách dịch thì có mấy cuốn thuộc diện best seller là Rừng Na-uy, Biên niên ký chim vặn dây cót, Kafka bên bờ biển ( Murakami ), Cô đơn trên mạng (Wisnewski) , Tô-tem Sói (Khương Nhung ), Kitchen ( Banana Yoshimoto ), Mật mã Da Vinci, Thiên thần và ác quỷ ( Dan Brow )... Sách trong nước thì phải nói, ồn ã nhất là cuốn tự truyện Lê Vân yêu và sống, rồi đó là cuốn tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh. Gần đây thì đồng thời là tiểu thuyết Ba người khác của Tô Hoài, hồi ký văn học Ba phút sự thật của Phùng Quán v.v...
          Đọc Ba phút sự thật của Phùng Quán, tôi thực sự ngỡ ngàng. Ngỡ ngàng bởi những thông tin, câu chuyện, những chân dung con người, trong đó có mấy người rất nổi tiếng, mà tôi vốn chỉ biết lờ mờ, như Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang, Phùng Cung, Tuân Nguyễn... Ngỡ ngàng bởi văn viết giản dị, chân tình, sâu sắc, cuốn hút và cũng rất chi là trách nhiệm. Điều quan trọng, là qua tác phẩm này, tôi có hình dung đầy đủ hơn về một Phùng Quán, đến mức dù chỉ thấy ông có một lần, nhưng giờ thì tôi có thể phác thảo một chân dung ông, chí ít là theo sự mường tượng và cách nghĩ của riêng tôi.
          Vâng. Tôi đã diện kiến Phùng Quán một lần. Đúng một lần thôi, song khá ấn tượng, bởi trong một hoàn cảnh rất chi là ấn tượng.
          Tôi sẽ trở lại sự diện kiến Phùng Quán sau, để nói về những gì mình biết về ông qua dư luận. Rằng ông vốn là cháu bên ngoại với nhà thơ Tố Hữu, trước khi bước vào làng văn chương, từng tham gia vệ quốc đoàn từ lúc còn nhỏ tuổi, tưng chiến đấu nhiều năm ở mặt trận Thừa Thiên Huế quê hương mình. Tác phẩm khiến độc giả biết đến Phùng Quán là tiểu thuyết Vượt Côn Đảo, được xuất bản khá sớm và còn được giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam, nghe đâu còn được xuất bản bằng tiếng Nga, rồi ai đó lại dịch từ tiếng Nga ra tiếng Việt để in ở Việt Nam. Rồi sau đó ông bị dính vào án văn chương mà mất tên trên diễn đàn văn học nước nhà. Lại nghe tiếp rằng ông chuyên sống bằng nghề câu cá Hồ Tây và vẫn viết văn, đăng báo, in sách dưới bút danh và cả tên người khác, những người thương ông muốn giúp ông không dứt đoạn mạch văn chương và quan trọng hơn cả là ông có một khoản thu nhập để sinh sống cùng giúp giập thêm gia đình. Vì thế mới có cái đuôi gắn vào thành Phùng Quán- cá trộm văn chui . Mới nghe thế thôi cũng đã ly kỳ rồi.
          Tôi diện kiến Phùng Quán trong không khí đổi mới về văn nghệ, không nhớ chính xác là vào năm 1989 hay 1990. Trước đó, hàng loạt văn nghệ sỹ thuộc diện có vấn đề trước đây, người trước kẻ sau xuất hiện trở lại với các sáng tác đăng rải rác trên báo, hoặc xuất bản cái mới, tái bản cái cũ như Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Hà Minh Tuân, Văn Linh, Vũ Bão ... Riêng Phùng Quán tái xuất giang hồ văn chương với bộ tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội, và đã thành công vang dội. Sự thành công của bộ tiểu thuyết cùng người cha tinh thần của nó đã vượt ra khỏi địa hạt văn chương tràn sang cả điện ảnh khi nó được chuyển thành phim truyện. Bộ phim cùng tên do đạo diễn Vinh Sơn dựng.
          Lần ấy, nhà thơ Trần Phương Trà ( Trần Nguyên Vấn ) rủ tôi và một vài đàn em báo chí đến dự buổi chiếu phim ra mắt bộ phim Tuổi thơ dữ dội do Hội đồng hương Huế tại Hà Nội tổ chức ở Hội trường Bộ Tài chính vào ngày chủ nhật. Tôi nhớ, người đến dự khá đông, phần lớn là những ngưòi lớn tuổi nói giọng Thừa Thiên Huế, số ít là thân nhân gia đình họ và bạn bè kéo theo xem ké vì hiếu kỳ, giống như chúng tôi. Trước buổi chiếu, ban tổ chức có đôi lời phi lộ, rồi mời Phùng Quán lên bày tỏ tình cảm và cảm ơn. Phùng Quán lên, chưa kịp nói gì mọi người đã vỗ tay hoan nghênh, không khí khá náo nhiệt. Hình như, sau nhiều năm sống lặng lẽ trong lãng quên của độc giả, bầu không khí náo nhiệt ấy và tấm thịnh tình của mọi người, ông lặng đi. Hắng giọng mấy lần rồi ông cũng lên tiếng, giọng hơi run vì quá xúc động. Ông nói chậm rãi, đưa mắt quan sát khắp hội trường, như vừa nghe ngóng xem người ta đón nhận những lời phi lộ của mình thế nào. Rồi giây phút ấy qua nhanh, ông nói liền mạch và cũng đỡ xúc động hơn. Tôi không nhớ lắm những gì ông nói, song cũng chỉ loanh quanh việc tiểu thuyết của mình được xuất bản, được dựng thành phim và cảm ơn những người đồng hương, anh em bạn bè và đông đảo độc giả khán giả đã đón nhận... Khi ông đang say sưa nói, chợt có một người đứng tuổi, ngồi phía sau hàng ghê chúng tôi, đứng lên, nói rất to, đại ý rằng, Phùng Quán không được nói thế, định nhân cớ mượn diễn đàn tự minh oan hay diễn thuyết gì ở đây ? Hãy xuống đi. Phùng Quán khựng lại, tắc nghẹn họng. Tôi thấy, miệng ông há ra, không thành lời và cũng không khép lại được, như cá đớp khi khi mắc cạn. Thật khó mà biết được diễn biến tình cảm, tâm lý ông lúc ấy. Dáng người thô ráp khắc khổ của ông sụn xuống. Trong sự ngạc nhiên, sự bất bình phản đối của nhiều người với ý kiến của người vừa nói, ông cố gắng như kẻ  ngọng tập nói cho sõi mấy câu cảm ơn ngắn rồi xin phép xuống. Giọng ông tôi thấy có nước mắt !... Buổi chiếu phim bắt đầu khi mọi người vẫn con ấm ức bàn tán khen chê, bày tỏ thái độ và sự phân bua của chính người cắt ngang vừa nãy...  
          Cả buổi chiếu phim rất dài, mặc dù nhiều tình tiết phim cuốn hút, song tôi không tài nào gạt bỏ được hình ảnh Phùng Quán trước buổi chiếu. Ông ngồi ở hàng ghế đầu, cách chúng tôi dăm hàng, nên tôi chỉ thấy cái đầu bù của ông nhô lên trong bóng tối. Và dường như nó cứ to lên, to lên dần, choán hết màn ảnh. Có lẽ do chịu ảnh hưởng của sự việc vừa rồi nên tôi thấy thế chăng ? Tôi không phán xét việc làm của người nọ đúng sai thế nào, nhưng với Phùng Quán, ứng xử với ông như vậy thì có gì đó bất nhẫn, thậm chí là tàn nhẫn. Thực lòng mà nói, khi ấy, tôi cũng thấy giận người đã hét to làm gián đoạn lời phi lộ của Phùng Quán trước buổi chiếu. Đoạn kết, bộ phim dừng ở chi tiết khá đắt, đó là chú bé Mừng bị đồng đội, bạn bè nghi ngờ phản bội, chú đã kêu lên rằng Tôi không phản bội . Tiếng kêu ấy vang vọng khắp núi rừng, núi rừng nghe thấy đấy, song đồng đội có biết cho chăng ? Chẳng cần phải liên tưởng gì thì cũng nảy sinh trong tôi cái ý nghĩ rằng, chú bé Mừng ấy là Phùng Quán, nếu không, chí ít cũng kêu hộ nỗi lòng Phùng Quán ?    
          Sau này, tôi không đọc thêm tác phẩm nào củn Phùng Quán nữa, ngoài đôi ba bài báo trên Tiền Phong. Sự nghiệp văn chương của ông, trừ những tác phẩm viết cho thiếu nhi ký bút danh hoặc mượn tên người khác  (văn chui ), còn lại đều được. Tuy nhiên, tôi không thích lắm, dù rất quý trọng sự chân thật và thô nhám trong văn của ông. Song đến tập sách Ba phút sự thật ( NXB Văn nghệ- Tp.Hồ Chí Minh-2006 ) thì tôi vừa kính phục vừa thích. Bài đầu tiên của tập là một tuyên ngôn nghệ thuật của Phùng Quán, những câu chuyện, những con người trong cả tập sách đều đáng nể. Tôi đặc biệt thích các thiên hồi ký về Tuân Nguyễn, Nguyễn Hữu Đang, Trần Đức Thảo, Phùng Cung... Đọc tác phẩm này, tôi bất ngờ về tài viết tiểu luận và chân dung văn học của Phùng Quán. Quan trọng hơn, qua đây người ta còn có thể thấy được nhân cách của ông. Không có gì là quá, khi bài sau cuốn sách trích bài viết Đứa con không quên lời mẹ dặn của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường về cuốn sách này  : " Đây là một lời tự bạch phản ánh chân thực nhân cách nhà văn của Phùng Quán: Khát vọng suốt đời về sự thật. Bởi sự thật không phải là thứ có sẵn như chiếc bật lửa trong túi áo, mà chính là số phận và khát vọng của Nhân Dân. Nhân Dân là Người Mẹ đẻ đau mang nặng để sinh ra đứa con làm Nhà Văn, và vì thế, đứa con Phùng Quán suốt đời không quên Lời Mẹ dặn :
                   Người làm xiếc đi trên dây rất khó
                   Nhưng không khó làm bằng nhà văn
                   Đi trọn đời mình trên con đường chân thật ".
          Tôi nghĩ, với bộ tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội, nay là tập bút ký và chân dung văn học Ba phút sự thật, nhà văn Phùng Quán đã thực hiện được lời mẹ dặn, là : Đi trọn đời mình trên con đường sự thật !...
         
Đăng nhập để trả lời
0
Lữ hành cô độc


Tôi biết đến cái tên Lâm Huy Nhuận bắt đầu từ bài thơ Thung lũng tiếng chim đoạt giải cao cuộc thi thơ của Báo Văn Nghệ khi cuộc chiến tranh chống Mỹ Ngụy chưa kết thúc, cùng với người bạn thơ mặc áo lính với anh là Hoàng Nhuận Cầm.

Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình, mãi cho đến quãng năm 1978 tôi mới biết mặt Lâm Huy Nhuận, khi đó đang là sinh viên Hán Nôm khóa 22 của Đại học Tổng hợp Hà Nội. Số là, tôi có mấy người bạn học cùng khoa với anh, hay rủ tôi sang chơi vào dịp cuối tuần nhân thể dự đêm thơ của trường ấy. Ở vào thời điểm đó, Khoa Văn Đại học Tổng hợp hay tổ chức đêm thơ ở khu giảng đường Thanh Xuân, Hà Nội. Người đọc thơ thì nhiều, sinh viên có và cả những nhà thơ bên ngoài cũng có, song nổi bật nhất thì chỉ có hai, ấy là Hoàng Nhuận Cầm và Lâm Huy Nhuận. Giảng đường chật ních những người, đa số là dân Tổng hợp, cũng có sinh viên của một số trường đại học khác ở Hà Nội mò đến dự, kiểu như mấy đứa chúng tôi.

Tôi nhớ, khi Hoàng Nhuận Cầm đọc thơ, anh như người nhập đồng. Đám cử tọa nữ sinh bên dưới nhiều đứa lén chấm nước mắt. Còn Lâm Huy Nhuận thi khác, thơ anh không êm dịu, ru rín lấy nước mắt như thơ Hoàng Nhuận Cầm, mà câu chữ có gì đó rổn rảng, tinh xảo. Thực ra, anh trình diễn thơ, giọng khỏe, điệu bộ chân tay như diễn đạt ý tưởng. Nghe rồi, tôi thầm so sánh. Hoàng Nhuận Cầm, lời thơ bộc trực, ý lộ, như chuyện kể giàu nhạc điệu, nên hiệu quả tức thì, dễ lay động tuổi mới lớn đang yêu. Trái lại, Lâm Huy Nhuận chắt lọc, ẩn ý, câu chữ ấn tượng nên dễ át người nghe, thoáng qua thì khó hiểu, sau xem lại bằng mắt mới thấy từ, thấy tứ. Chính vì sự khác hẳn nhau, nên khi cả hai cũng xuất hiện trên diễn đàn, đều nổi bật tuy hiệu lực trái nhau...
Bẵng đi, mãi năm 1987, tôi về nhận công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam, đã thấy bóng dáng Lâm Huy Nhuận vật vờ đâu đó trong sân trụ sở 58 Quán Sứ. Thì ra, anh đã trở thành biên tập viên của Ban Văn nghệ nhà đài mấy năm rồi.
Với Lâm Huy Nhuận, để chơi được thì trước hết người đó phải ôn hòa và có sức chịu đựng, hoặc không thì tính cách dữ dội cỡ tương đương. Điều này, có lẽ nhiều người trong làng văn thơ, làng họa và cả những người quen biết anh còn hiểu hơn tôi. Tôi chơi được với anh là nhờ chọn cách ôn hòa, và dù nhiều khi có thể nói là chịu đựng, song cũng là phù hợp với tính cách tôi.
Lâm Huy Nhuận là người đa tài, chí ít trong bốn lĩnh vực: thơ- họa- bốc phệ và xem mạch bốc thuốc đông y.
Với thơ, đấy là duyên nghiệp của anh. Lâm Huy Nhuận được bạn đọc, công chúng biết đến trước hết là nhờ thơ. Thân sinh ra anh là thi sĩ Yến Lan, con kỳ lân của nhóm Tứ Linh đất Bình Định từ thời tiền chiến ( Hàn Mặc Tử-Chế Lan Viên- Yến Lan- Quách Tấn ). Có lẽ Lâm Huy Nhuận chỉ thừa hưởng ở cha mình cái gen thơ phú lãng tử, còn lại anh tự lập ngôn. Sớm nổi tiếng với giải cao cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ khi còn là lính chiến với bài thơ Thung lũng tiếng chim, song nếu chỉ có vậy, sẽ chẳng là gì cả. Sau khi phục viên, học ngành Hán Nôm -Tổng hợp Văn Hà Nội, rồi về Đài TNVN, Lâm Huy Nhuận nhũng nhẵng làm thơ. Nói vậy bởi anh không bỏ mà cũng chẳng ham. Khi đọc thơ thì trong đêm thơ sinh viên hàng mấy trăm người, đọc cho dăm ba người xung quanh nghe, hoặc lúc say rượu chỉ đọc cho người bạn đối ẩm, anh đều bốc như nhau. Đọc thơ thì vậy nhưng làm thơ không vậy, không bốc đồng và cũng chẳng hề sốt ruột. Mặc ai đó thiên hạ làm thơ đăng báo và in tập như điên, để rồi thành nhà này nhà nọ. Anh thì không. Chỉ làm khi có tứ, có cảm xúc thật. Câu chữ , ý tứ chắt lọc lắm thay. Rồi ra cũng chẳng cần đăng báo.

Thích thì đọc bạn bè nghe chơi. Ai đó thấy thích bảo đăng thì đăng. Cứ nhũng nhẵng thế hàng chục năm trời, đến nỗi bạn bè anh em sốt ruột hộ, và nghe nói cả Hội Nhà văn cũng sốt ruột lây cho anh. Quy chế hội là chí ít phải ra tập, mà Lâm Huy Nhuận chẳng chịu ra cho. Hội thì cứ chờ ra tập rồi mới giới thiệu kết nạp hội viên. Mãi thì chuyện gì đến cũng phải đến, anh xuất bản tập thơ đầu tay " Chiều có thật " ( NXB Văn học, 1999 ), và sau đó trở thành hội viên Hội nhà văn. Với anh, chẳng có gì khác trước, sống vẫn vậy và viết cũng vậy, thất thường, nhũng nhẵng và dai dẳng !...
Với những người không biết Lâm Huy Nhuận, quả là cầm tập thơ Chiều có thật mỏng mảnh với 62 bài, phần nhiều là thơ ngắn, sẽ chẳng thể cảm sức nặng của nó. Bìa sách màu nâu nhạt do họa sĩ Phan Cẩm Thượng, bạn anh, bỏ công vẽ, thoạt nhìn sơ sài, phải ngắm kỹ mới thấy sự độc đáo. Song sự độc đáo chính lại ở ruột của của tập thơ. Đọc qua thấy bài nào cũng được. Đọc nhẩn nha, rồi ngẫm nghĩ, thấy lạ và hay. Hầu như, bài nào cũng có cái được, khi ở cấu tứ, khi ở câu chữ , lúc là nhịp điệu, mạch thơ ... Có những bài hay như : Tự xông đất, Chiều thu, Mặt hồ, Váng sương, Và đôi lúc ...Song khi bảo phải chọn một bài thôi, thì thật khó. Nhìn chung, thơ Lâm Huy Nhuận ngôn từ sắc lẻm và táo bạo, kiệm chữ, mà không gian vẫn hư ảo. Đọc rồi, ưng hay không là tùy ở người, song bao giờ cũng đọng lại một cái gì đấy. Tôi nghĩ, thơ Lâm Huy Nhuận được, và có chăng hơn ai đó, là nhờ đấy.
Tuy thơ làm nên tên tuổi Lâm Huy Nhuận, song với anh thơ chỉ là non nửa, nếu không đả động gì đến những cái tài khác.
Họa chẳng hạn. Cũng như thơ, Lâm Huy Nhuận đều đối xử bạc bẽo như thế. Anh chơi với nhiều họa sĩ, chẳng học họa ngày nào, thấy người vẽ thì anh cũng vẽ. Khoái lên, điên điên lên thì vẽ. Anh chọn chất liệu bột màu giấy dó là chính. Anh vẽ phố, vẽ người, vẽ con vật... Vẽ xong, xếp đồng giấu sau tủ. Lâu lâu tự lôi ra ngắm, hoặc sau trận nhậu, tây tây lên, lôi bạn bè đàn em về nhà và lôi tranh ra khoe. Vẽ thế, song xem tranh anh người ta thấy lạ, thấy quái, rồi thì tìm thấy sự hợp lý trong cái lạ, cái quái, mà thích. Chơi họa nghiệp dư song làng tranh gán gọi anh là ông " tôm ôm đá, cá trên mái nhà, đàn bà một vú, hổ tứ đuôi ".

Vậy cũng đủ thấy tranh của Lâm Huy Nhuận không thường chút nào. Lý giải cho cái sự không học mà vẽ của mình, hơn một lần Lâm Huy Nhuận tuyên bố rằng : " Có triết ở trong đầu, tự sẽ thấy bố cục, cấu tứ , mảng màu ... mà thành tranh ". Phải chăng đấy là tuyên ngôn nghệ thuật của anh ? Dân họa chịu anh đến đâu thì có trời biết ...
Mặc dù lối sống hơi bụi bặm, song tự trong máu, Lâm Huy Nhuận là một người thấm đậm chất phương Đông, nho sĩ. Nhưng anh là nho sĩ của thời đại mới. Chẳng thế mà một lần đến chơi thăm Tào Mạt, sau vài giờ đồng hồ đàm đạo văn chương, kê đơn thuốc tiêu ung cho Tào Mạt, đường về, anh phán một câu xanh rờn: " Ông này có chất nho sĩ, nhưng mà là hủ nho ". Khoan bàn về việc đúng sai khi nhận định Tào Mạt như vậy, song rõ ràng ở đây, Lâm Huy Nhuận nhận thấy anh và Tào Mạt có nhiều điểm giống nhau, duy chỉ có điều, ông ôn nhu và kém lãng tử hơn anh. Thực ra, Tào Mạt là người yêư nghệ thuật chèo và đã từng khởi xướng việc cách tân chèo thì hẳn ông không phải là người cổ hủ. Có chăng, ông luôn biết giữ sự mực thước mà thôi.
Nho y lý số, xưa nay các bậc túc nho đều có. Lâm Huy Nhuận không phải và sẽ chẳng bao giờ là bậc túc nho, song anh khá tam tường về những lĩnh vực ấy. Anh có căn duyên với nghề thuốc. Lại cũng như họa, không trường lớp, anh tìm thày theo học, rồi mầy mò tìm sách, vận dụng cái chất triết, chất lý trong đầu và vốn chữ nghĩa Hán Nôm mà tự học thành nghề thày thuôc Đông y, và cũng khá nổi tiếng. Đấy mới là cái nghề thực sự nuôi sống gia đình anh. Chỉ thế thôi, anh đâu có ham tiền, ham làm giàu từ nghề thuốc, bởi không, là trái với tính cách con người anh, trái với đạo nghề. Không những thế, Lâm Huy Nhuận còn được nhiều người biết đến với tài bốc phệ, lấy quẻ tử vi, xem tứ trụ. Nhiều lần anh giữ mục Thày thuốc Đông y cho tờ báo này báo nọ. Rồi mỗi độ tết đến xuân về, bạn đọc lại thấy những bài viết của anh dự đoán vận khí năm mới đó đây trên mặt báo. Còn với bạn quen, người lạ, có lúc phải rợn người bởi lời phán về vận khí cá nhân mình khi tình cờ gặp lúc anh nhập đồng. Đâu phải với người khác, với chính bản thân mình, anh cũng vậy.

Cách đây vài năm, anh em cơ quan và bạn bè thân quen bỗng thấy anh tuyên bố, rằng anh phải hành phương Nam thì mới hợp vận, hợp cách của mình. Tưởng đùa vậy thôi, anh đùng đùng nộp đơn lên lãnh đạo xin vào công tác ở văn phòng phía Nam. Và anh đi thật. Lúc ở gần, nhiều khi thấy bừng bực về sự thái quá của anh, song anh đi rồi lại thấy thiêu thiếu văng vắng...
Lữ hành cô độc là tên một truyện ngắn của tôi lấy cảm hứng từ Lâm Huy Nhuận, viết cách đây mười mấy năm, được in trong tập truyện đầu tay Đêm nguyệt thực. Bài viết này về anh, tôi thích giữ nguyên cái tít ấy, bởi nó đúng với anh. Đa tài và đa tình, song cô độc. Lâm Huy Nhuận sống ồn ào đấy, nhưng thực ra anh là người lặng lẽ, thu mình, khó chia sẻ. Là gỗ quý nhưng vỏ nhựa độc, khó dùng. Tự thân muốn làm gì thì làm, miễn là phải đạo. Cũng khá tự do, tự tại, ấy là sướmg, song lại tự vây hãm mình. Cô độc là vì thế chăng ?
Ngẫm cho kỹ, thực ra từ ngót hai mươi năm trước, Lâm Huy Nhuận đã tự họa mình, hình và bóng, tâm tư và tính cách : " Tự mình xông đất cho mình/ Căn phòng vắng ngắt lặng thinh suốt mùa/ Tự đốt pháo, tự giao thừa/ Bắt tay chúc tết như vừa thấy nhau/ Giật mình hai mắt trũng sâu/ Người trong gương ấy còn đau hơn mình " ( Tự xông đất ).
Cho đến giờ, Lâm Huy Nhuận chưa ra tập thứ hai. Thơ thì vẫn làm, nhưng người ta nhắc đến anh như một thày thuốc đông y và có tài bốc phệ nhiều hơn. Dường như, với thơ, anh đang nén đợi một điều gì đấy ?!...
Đăng nhập để trả lời
0