Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

văn học cổ điển và văn học hiện đại

5 trả lời, 67 lượt xem — Trang 1 / 1
mình thì rất thích văn học cổ điển. nhiều người nói nó phù hợp với mình vì tính mình cũgn khá cổ hủ và lạc hậu. có lẽ đúng nhưng mình cũng ko quan tâm lắm. Nhưng mọi người  cho ý kiến về 2 dòng văn học này nhé xin cám ơn
Đăng nhập để trả lời
0
chào mừng Toru đã đến trang bình luận văn học!!!!!
 
văn học cổ điển và hiện đại, mỗi dòng đều có 1 phong cách, nét đặc sắc và tinh tế riêng. Riêng Thỏ thì có cùng sở thích với Toru, rất ưa đọc văn học cổ điển. nhưng chưa chắc những người thích dòng văn này đều cổ hủ và lạc hậu đâu bạn .Dòng văn này rất kén chọn người đọc, phải đọc nhiều và thật hiểu mới thích đọc dòng văn này. Thật may mắn khi gặp người cùng sở thích với mìn, hi vọng chúng ta sẽ trở thành bạn tốt của nhau



TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA_ MẢNH ĐẤT MÁU THỊT CỦA VIỆT NAM
Đăng nhập để trả lời
0
Trích đoạn: lovely_rabbit

chào mừng Toru đã đến trang bình luận văn học!!!!!

văn học cổ điển và hiện đại, mỗi dòng đều có 1 phong cách, nét đặc sắc và tinh tế riêng. Riêng Thỏ thì có cùng sở thích với Toru, rất ưa đọc văn học cổ điển. nhưng chưa chắc những người thích dòng văn này đều cổ hủ và lạc hậu đâu bạn .Dòng văn này rất kén chọn người đọc, phải đọc nhiều và thật hiểu mới thích đọc dòng văn này. Thật may mắn khi gặp người cùng sở thích với mìn, hi vọng chúng ta sẽ trở thành bạn tốt của nhau

 rat han hanh.
Đăng nhập để trả lời
0
tại sao Toru không đưa ra một vài so sánh về văn học cổ điển và hioeenj để chúng ta cùng bình luận nhỉ??????[:)]



TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA_ MẢNH ĐẤT MÁU THỊT CỦA VIỆT NAM
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-12-20 04:44:50Leo*>
Trích đoạn: toru

mình thì rất thích văn học cổ điển. nhiều người nói nó phù hợp với mình vì tính mình cũgn khá cổ hủ và lạc hậu. có lẽ đúng nhưng mình cũng ko quan tâm lắm. Nhưng mọi người  cho ý kiến về 2 dòng văn học này nhé xin cám ơn


Hi, Toru !
Thanks Toru đưa ra một topic khá hay nhưng vẫn chưa đủ nội dung nên Leo sẽ đưa ra một vài thông tin để chúng ta cùng bàn luận.

Văn học hiện đại  (từ đầu Thế Kỷ 20 đến nay) gồm : Văn học Nước Ngoài và Văn học Việt Nam. Trước hết chúng ta hãy cùng bàn luận về văn học Việt Nam.




Văn Học Hiện Đại Việt Nam
 





Cho tới ngày nay đã thực sự hình thành một lực lượng văn học Việt Nam. Các nền văn học lâu đời trên thế giới, mỗi giai đoạn phát triển đều trải qua những thập kỷ, những thế kỷ. Đối với văn học Việt Nam một trăm năm qua, các bước tiến tương tự đều được rút ngắn. Văn học quốc ngữ từ buổi đầu đã mau chóng dấy lên cao trào đổi mới, hoàn chỉnh các thể loại từ văn xuôi, thơ, nghiên cứu lý luận phê bình.
Các nhà văn Việt Nam đã thể hiện trong tác phẩm những chuyển biến của lịch sử từ con người đến gia đình, cộng đồng. Nội dung và tư tưởng của các tác phẩm đều mang tính hiện thực và dự báo trong từng giai đoạn, tạo thành một sắc thái riêng.
Đặc biệt, hơn nửa thế kỷ qua văn học Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ. Việt Nam vừa trải qua hai cuộc kháng chiến anh hùng, ngày nay bước vào thời kỳ xây dựng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Văn học Việt Nam đã có phong trào, có lực lượng. Lớp lớp người cầm bút không ngừng nảy sinh và số hội viên ngày một hùng hậu.



 


Lê Văn Tùng

Tính chuyên nghiệp của văn học hiện đại

Tính chuyên nghiệp trong văn học hiện đại thể hiện đầu tiên ở ý thức làm nghề của nhà văn. Trong lịch sử văn học, có một thuộc tính chung của nhà văn là "anh ta không xem công việc của mình như một kế sinh nhai. Đó là một mục đích tự thân" (nhận xét của Mác). Đây là mặt thứ nhất của ý thức làm nghề của nghệ sĩ dù ở thời đại nào.

Ý thức nghề của nhà văn là sự tự giác về quy luật sáng tạo cái đẹp. Nó thiêng liêng đến độ - vẫn theo ý Mác - nhiều nhà văn, nghệ sĩ "hy sinh sự tồn tại của mình cho sự tồn tại của nó nếu cần".

Nhưng đến xã hội hiện đại, trong ý thức làm nghề của nhà văn xuất hiện mặt thứ hai không thể cưỡng lại: Viết văn là một nghề kiếm sống như mọi nghề khác trong nền kinh tế thị trường. Nhà văn hiện đại luôn bị đặt trong xung đột căng thẳng giữa hai bình diện đó của ý thức nghề nghiệp.

Dù là một nghề đặc biệt, nghề viết văn trong xã hội vẫn phải tồn tại theo quy luật thị trường. Sản phẩm nhà văn hiện đại làm ra, ngoài những tư cách sang trọng, thiêng liêng như từ hàng ngàn năm nay, còn có một tư cách khác không thể khước từ: tư cách hàng hóa.

Ý thức đó từng xuất hiện trực tiếp, công khai trong tuyên bố của Tản Đà: "Bán văn buôn chữ kiếm tiền tiêu" (Lo văn ế), "Vợ dại con thơ, sự sinh hoạt trông nhờ một ngọn bút" (Giấc mộng con). Nhà văn cũng như người sản xuất hàng hoá khác, khi "Văn chương hạ giới rẻ như bèo" thì "Lo văn ế", lo hàng ế, tức là lo khủng hoảng thừa.
Hoàn toàn không có gì ngạc nhiên, khái niệm nhuận bút chỉ xuất hiện trong đời sống văn học hiện đại. Nó là gì? Là phần "lợi nhuận" của kinh tế thị trường dành cho nhà văn. Nhưng đó là phần "nhuận" đầu thừa đuôi thẹo cuối cùng sau khi bị các cấp "ông chủ" bóc lột "thặng dư" đến "mút mùa" (ông chủ xuất bản, ông chủ nhà in, ông chủ tiệm sách…). Lao động sáng tạo nghệ thuật chân chính là công việc của người nghệ sĩ phải “nấu tim óc” của mình mới có tác phẩm:

Bao nhiêu củi nước mới thành văn,
Bán được văn ra chết mấy lần
                                
(Lo văn ế - Tản Đà)

Tuyên bố nghề nghiệp của Tản Đà là một minh chứng đầy cảm thương và một diễn đạt đầy sinh động và chuẩn xác ý kiến của Mác về quan hệ giữa xã hội thị trường tư bản chủ nghĩa với nghề nghiệp sáng tạo nghệ thuật: "…Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa thù địch với một số ngành nhất định trong sản xuất tinh thần như nghệ thuật và thi ca".

Tính chất "ngoan cố" và tàn nhẫn này của kinh tế thị trường biến người đọc của văn học thành một khách hàng với tư cách và thị hiếu cá nhân. Một loại khách hàng dù đặc biệt, dù lịch sự đến mấy cũng phải lấy "tiền của mình" mua tác phẩm. Vậy thích hợp thị hiếu thì mua, không thích thì bỏ qua, chẳng ai "bắt" được.

Chưa nói tới tính tích cực hay tiêu cực của "thị hiếu" người đọc, sự chuyển biến tư cách người đọc như thế là một biểu hiện của xu hướng dân chủ hóa văn học tác động trực tiếp vào ý thức nghề nghiệp của nhà văn. Ý thức nghề nghiệp của nhà văn hiện đại đã gắn vận mệnh của nhà văn với người đọc. Họ cần có người đọc ngay lúc mình đang sáng tác, không chờ đợi được đến "Ba trăm năm sau…" như Nguyễn Du. Nhà văn hiện đại cần người đọc đọc mình ngay để họ nuôi sống mình cả phần hồn lẫn phần xác hiểu theo nghĩa trần thế, trần trụi nhất của các từ đó.

Tuy vậy, khác với các ngành sản xuất vật chất trong nền kinh tế thị trường ở một điểm rất cơ bản: Nhà văn làm nghề trước hết phải viết ra cái mình cần viết theo đúng quy luật của sáng tạo, cái làm cho mình phải thao thức, nhức nhối bởi những số phận con người, cái mình đã thể nghiệm, cái buộc mình phải "nấu tim óc" của mình lên thành dòng chảy ngôn từ như dòng máu tự tâm hồn mình. Đến lượt người đọc, họ cũng bỏ tiền ra mua cái (tác phẩm) họ cần mua hợp thị hiếu của họ, giúp họ giải đáp một câu hỏi nào đó về cuộc sống. Trong khi đó, ở các ngành sản xuất vật chất, người ta chỉ cần sản xuất ra cái khách hàng cần mua - đó là thôi thúc lợi nhuận chính yếu - mà không cần lệ thuộc vào cái mình cần làm như thôi thúc sáng tạo cái đẹp chẳng hạn.

Trong văn học hiện đại, cái cần làm của người nghệ sĩ không phải bao giờ cũng gặp cái cần mua ở người đọc. Mỗi lúc như vậy, nhà văn chuyên nghiệp hiện đại có thể lâm vào bi kịch nghề nghiệp. Bao nhiêu nhà văn Việt Nam hiện đại đã cất lên tiếng kêu của những tài hoa bị vùi dập, bị bạc đãi. Sau cái chết của Tản Đà (1939), một bạn văn đã kêu lên: "Ở xứ này, ngọn bút không nuôi sống được người dẫu là một người đã làm cho trái tim bao người rung động" (Minh Tước). Hàn Mặc Tử cũng có phen kêu trời vì chất liệu của thi ca không làm no được cái bao tử của thi nhân:

Trời hỡi! Làm sao cho khỏi đói?
Gió trăng có sẵn làm sao ăn?

 
Nhưng sự thôi thúc của sáng tạo vẫn "đày đọa" họ, họ vẫn phải "mực mài nước mắt" trong cảnh cơ hàn, cùng quẫn:
Có những ngày khói bếp không lên,
Vợ ngược, con xuôi túi hết tiền
Chồng gục cả lòng trên giấy mực,
Bên ngoài mặt đất tối như đêm
                           (Trần Huyền Trân)

 
Đâu chỉ bạc đãi về cuộc sống vật chất, họ còn bị xúc phạm cả về nhân cách. Ta từng nghe chuyện một nhà văn Việt Nam trước 1945 vì việc gì đó phải ra tòa. Chủ tòa là ông Tây không biết Việt ngữ phải dùng thông dịch. Chủ tòa hỏi nhà văn: "Làm nghề gì?". Nhà văn bình thản trả lời "viết văn". Tay thông ngôn tự ý dịch: "Sans profession", tức là vô nghề nghiệp.

Rồi oan trái, rồi gian lao của chiến tranh, nhà văn chân chính phải trải qua bao khổ ải đày đọa. Đó là thử thách nghiệt ngã, có tính chất sàng lọc giá trị của nhà văn. Nếu là nhà văn chuyên nghiệp đích thực, họ chấp nhận dấn thân sống chết với nghề để sáng tạo những giá trị mới làm sáng giá dân tộc và nhân dân và họ lại được người đọc vinh danh và tìm đến. Nhưng trong thử thách ấy, cũng có những người viết không chịu đựng nổi, đành phải "đào ngũ", đi làm quan hoặc các nghề khác. Đó là một dạng tha hóa nghề nghiệp trong văn học hiện đại.

Trong nền kinh tế thị trường hôm nay, quy luật hàng hóa đã từng và sẽ còn tiếp tục "thù địch" với văn học nghệ thuật. Nghị quyết của Bộ Chính trị về văn học nghệ thuật (NQ 23/NQTW) "Về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới" đã cảnh báo chính xác với các cấp quản lý văn nghệ và văn nghệ sĩ một trong những "yếu kém, khuyết điểm" của hoạt động văn học nghệ thuật: "Tình trạng nghiệp dư hoá các hoạt động văn học nghệ thuật chuyên nghiệp có chiều hướng tăng lên". Nhiều bài báo của các nhà văn, nhà lý luận, phê bình đã bàn thảo, phân tích và đề nghị các giải pháp để đưa nền văn học trở lại quỹ đạo chuyên nghiệp.

Không ít nhà văn chuyên nghiệp hiện nay đã không còn đủ bản lĩnh nghệ sĩ chân chính của mình trước thách đố của xã hội thị trường. Một số nhà văn không còn một chút ý nghĩ xả thân cho nghệ thuật, hầu như viết chỉ là một kiểu phản ứng bản năng sinh tồn.

Do đó, so với các nhà văn danh tiếng mà cảnh ngộ đầy bất hạnh trước năm 1945 và với các nhà văn từng lao mình vào cuộc chiến giành độc lập 30 năm, mỗi loại hy sinh theo một kiểu nhưng đều đã hy sinh sự sống riêng của mình để vinh danh văn học nghệ thuật, tức là vinh danh những giá trị văn hóa của con người và dân tộc, thì một số nhà văn chuyên nghiệp ngày nay được xã hội nuôi nấng, cưng chiều lại bị thui chột mất cái thuộc tính của nhân cách nghề nghiệp: sự hy sinh. Mà ta biết rằng, mọi sự hy sinh có ý thức trên đời này bao giờ cũng để nhằm khẳng định cái lý tưởng văn hoá mà mình theo đuổi.

Còn về tài năng, nói tới tính chuyên nghiệp của sáng tác, người ta nghĩ tới tài năng của nhà văn. Vì đây là câu chuyện chất lượng nghệ thuật của tác phẩm. Văn học hiện đại có tính chuyên nghiệp là nói tới những người chuyên làm một nghề, say mê với nghề và phấn đấu cho sự tinh xảo của nghề để có những sản phẩm thực sự là nghệ thuật. "Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh", đã chấp nhận "dấn thân vô" một nghề thời phải học, phải rèn ngòi bút. Một năng khiếu thiên bẩm là rất cần thiết, nhưng nhà văn chuyên nghiệp nhất định phải học nghề. Xã hội ngày nay mở ra vô vàn cơ hội và điều kiện cho nhà văn học nghề. Tất nhiên học nghề văn không chỉ học trong nhà trường, nhưng rõ ràng được đào tạo là điều kiện cần cho một nhà văn chuyên nghiệp hiện đại.

Trong lịch sử văn học hiện đại hơn trăm năm qua vẫn có những nhà văn mà nghề viết văn không phải nghề chính, nghề chuyên nghiệp để kiếm sống, thì sáng tác của họ vẫn phải cuộn chảy trong quỹ đạo của dòng thác văn học chuyên nghiệp.

Qua đó mới thấy tính chuyên nghiệp của văn học hiện đại luôn gắn bó nhà văn với người đọc, nghĩa là nó được bảo hành bởi tính dân chủ của đời sống văn học. Hướng về người đọc, bằng nghệ thuật đỉnh cao, góp phần giải đáp những bài toán về con người, về số phận và tương lai của con người thì văn học mới đạt đến tính chuyên nghiệp thực sự, mới có những tác phẩm có giá trị lâu dài. Ngay cả những nhà văn viết theo phương thức nghiệp dư, khi đã xác định được yêu cầu nghiêm túc này vẫn có thể vươn tới những đỉnh cao nghệ thuật. Sự xuống cấp phẩm chất và tài năng của nhà văn sẽ làm cho tiếng nói nghệ thuật của anh ta không còn là tiếng nói đồng vọng của những nỗi niềm và khao khát của nhân dân, của người đọc và do đó sẽ dẫn nhà văn tới sự tha hóa nghề nghiệp, một nghề nghiệp đầy vinh quang mà khốn khó


Cổ Văn Việt Nam
 
 
Chữ Nôm Và Cổ Văn Việt Nam
Diệu Tần


Chữ Nôm xuất hiện

Các cụ ta gọi là chữ Nôm, có nghĩa là chữ của người phía Nam, khác với chữ ở phía Bắc, chữ Hán của Trung Quốc, tương tự như gọi thuốc herbal của Trung Quốc là thuốc Bắc, gọi thuốc cổ truyền Việt là thuốc Nam. Cũng từ nôm có nghĩa là đơn giản, dễ hiểu, thực thà, rõ ràng trong tính từ nôm nạ

Đã có nhiều lập luận bác bỏ hẳn giả thiết dẫn đến việc đặt ra chữ Nôm:

Ông Nguyễn Thuyên, sau được vua nhà Trần đổi họ là Hàn, có ý so sánh với Hàn Dũ, nhân chuyện làm văn tếu đọc lên để đuổi được cá sấu đị Nguyễn Thuyên chỉ là người đầu tiên làm thơ theo luật Đường có đơn giản hóa đi chút ít, nên được gọi là Hàn luật, chắc chắn ông không phải là người chế tác ra chữ Nôm.

Còn lại giả thiết thứ nhất là do Sĩ Nhiếp thời Tam Quốc, một quan Trung Quốc cai trị nước ta thời đó đặt ra (187 -226) để dạy người Việt học kinh sách Khổng giáo cho maụ Ngoài ra cũng dùng để lập sổ đinh, như sổ hộ khẩu, để kiểm soát dân. Muốn ghi tên những người có tên nôm na như Kèo, Cột, Bèo, Ổi, Mít.... chữ Hán không có, phải có một thứ chữ thích ứng để diễn tả.

Giả thiết thứ hai là do giới tăng lữ, thày pháp đặt rạ Thời xưa uy thế của giới thần quyền này khá mạnh khi đạo Phật chưa du nhập Việt Nam. Gặp những tên chủ nhà như đã nêu trên, phải đặt ra thứ chữ mới đề viết vào sớ, điệp cúng báị


Liên hệ giữa Hán và Nôm

Điều khó khăn cho dân là nếu không đi học chữ Hán thì không đọc, không viết được chữ Nôm. Chữ Nôm chỉ là thứ chữ mượn từ hình dạng cho đến ngữ liệu của chữ Hán để tiện dụng cho người Việt. Bởi chúng hiểu rằng tiếng Việt chúng ta có nhiều thành tố vay mượn từ tiếng Mường, Thái, Mã Lai, Cam pu chia và Trung Quốc chứ không phải hoàn toàn là dùng Hán - Việt. Trong văn viết chúng ta dùng nhiều từ Hán - Việt, nhưng trong văn nói chúng ta ít dùng. Vậy những từ không phải gốc

Trung Quốc ta sẽ viết ra saỏ Đó là nguyên nhân chính tiền nhân ta đã giải quyết là phải đặt ra một thứ chữ đáp ứng nhu cầu đó.

Mới đầu chỉ là những chữ Nôm lẻ tẻ, dùng để ghi tạm tên địa danh, tên người, tên sản vật của mình xen lẫn với chữ Hán, sau đó dần dần mới lập thành một hệ thống. Thời gian hình thành không xác định được rõ là bao lâu, có thể là đã bắt nguồn từ khi có Tây lịch.

Trí thức thời xưa, tức các thày đồ, học sinh, quan lại ta dịch từ Hán sang Nôm và từ Nôm sang Hán được. Người Trung Quốc muốn học chữ Nôm của ta họ sẽ học rất nhanh, vì có một số chữ Nôm ta mượn nguyên chữ Hán, không thêm bớt gì cả. Tất nhiên sau này học sinh học chữ Quốc ngữ (vần La tinh) không cần phải học chữ Hán hay chữ Nôm, nhưng nếu nói tiếng mẹ đẻ và viết chữ quốc ngữ mà biết thêm chữ Hán hoặc hiểu nghĩa từ Hán - Việt sẽ có trình độ cao hơn, văn hoa hơn cũng như nhà văn, nhà thơ nào có vốn chữ Hán, hay hiểu nghĩa Hán - Việt sẽ sáng tác theo phái cổ điển sẽ chính xác hơn.

Nói chung chữ chân phương Hán tự, thoạt nhìn vào so với chữ Nôm cũng kiểu chân phương, khó phân biệt được. Tuy nhiên, chữ Nôm không thành hình và phát triển thành một hệ thống văn tự tạo âm, biểu ý cho tiếng Việt một cách nhanh chóng. Sự chậm chạp ở đây không phải do khó kha (n về về việc tạo chữ mà điều kiện tiên quyết là phải dành lại tự chủ, độc lập trước đã. Đến khi đó, nhu cầu dùng chữ Nôm mới trở thành cấp thiết cho đời sống văn hóa và tinh thần chúng tạ

Như thế, khi đã được độc lập vững chắc, ý thức dân tộc đã mạnh mẽ hệ thống chữ Nôm dần dần trở thành văn tự nghiêm chỉnh, các văn bản chữ Nôm mới dần dần xuất hiện. Bản văn đuổi cá sấu và các tác phẩm khác của Hàn Thuyên đều bị thất truyền. Những văn bản chữ Nôm từ nhà Trần còn lưu lại ngày nay là bài phú ca ngợi đời sống tu Thiền như: Cư Trần lạc đạo phú; Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca; Vịnh Hoa Yên tự phú) trong sách Thiền tông bản hạnh năm 1745.

Vai trò chữ Nôm không phải là xuất hiện để tranh giành vai trò của chữ Hán mà là để cùng với chữ Hán phục vụ đời sống tinh thần, công việc hành chính và đào tạo nhân tài cho người Việt rồị Khi chữ Nôm ra đời và dần dần được hoàn hảo thì chữ Hán đã hiện diện từ lâu đờị Đó không phải là do uy thế của chính chữ Hán mà là do ưu thế của văn hóa Trung Quốc có sức lan rộng trong vùng Đông Á một vài nước đã chủ động tiếp nhận như Hàn Quốc, Nhật Bản.

Trong lịch sử đã có hai vị vua là Hồ Quý Ly và Nguyễn Huệ rất chú trọng đến chữ Nôm. Hồ Quý Ly đã cho viết sắc bằng chữ Nôm, chỉ thị các quan phải viết biểu tấu bằng chữ Nôm và cho dịch Kinh Thi ra chữ Nôm. Nguyễn Huệ gốc bình dân cũng thực hiện như nhà Hồ, lại còn tiến mạnh hơn nữa là ra lệnh cho các chánh chủ khảo các kỳ thi phải ra đề thi bằng chữ Nôm.


1. Khả năng chữ Nôm

Chữ Nôm có khả năng ra sao để cùng chữ Hán chung sức gây dựng nên ngữ văn cổ Việt Nam?

a- Có những khu vực mà chữ Hán tỏ ra yếu thế hoặc bất lực, phải nhường chỗ cho chữ Nôm như các dân tộc khác, người Việt trước khi có chữ viết, đã có một kho tàng văn hóa truyền khẩu súc tích, đa dạng. Đó là những câu chuyện kể, những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố, những lời ru, tiếng hò v.. ..Hẳn nhiên là để ghi chép, sưu tầm, hiệu đính kho tàng văn hóa truyền khẩu này thích hợp nhất vẫn là trực tiếp dùng dùng chữ Nôm. Sau đây là những sưu tầm viết bằng chữ Nôm như quyển Ly hạng ca dao, ghi chép 256 bài ca dao, quyển Nam Quốc phương ngôn tục ngữ bị lục, gồm 27 mục ghi các bài ca dao tục ngữ, câu đố; quyển Nam ca tân truyện ghi lại các bài hát cổ theo các điệu ca ở Huế v. v.. ..và một số những vở tuồng cổ, chèo cổ như Văn Duyên diễn hí; Trương Viên diễn ca; Lưu Bình trò, v. v.. ..

b- Viết chữ Nôm dưới hình thức văn vần xem như hiệu quả nhất, thích hợp nhất để truyền bá, phổ biến tri thức đến dân chúng..

Đó là những bộ sách diễn ca (chuyển thành thơ) lịch sử như Việt sử diễn âm, thế kỷ XVI; Thiên nam minh giám, đầu thế kỷ XVÌ; Đại Nam quốc sử diễn ca, thế kỷ XIX; v.v. ... Đa số dân chúng không biết chữ Hán và chữ Nôm vì không đủ điều kiện đi học, nhưng nhờ có những tác phẩm văn vần chữ nôm đó họ được nghe, mãi rồi thuộc lòng từng đoạn có khi thuộc cả tác phẩm dài hàng ngàn câụ Cũng giống như thế về sách chữ Nôm diễn ca, diễn âm về luật lệ như Hoàng Việt luật lệ toát yếu diễn ca, về y học như Chẩn đậu diễn ca, v.v...

c- Chữ Nôm có vai trò nổi bật trong sáng tác văn chương. Mặc dù văn nhân, thi sĩ mọi thời đều đã dùng chữ Hán làm thơ, viết truyện, nhưng chỉ có với chữ Nôm, người Việt mới tạo nên những tác phẩm bất hủ. Tập thơ Nôm có niên đại sớm nhất còn lưu truyền là Quốc âm Thi tập của Nguyễn Trãi (1380 - 1420) sau đó là Bạch vân Am quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585)

Điều đáng ghi nhận là với chữ Hán các tiền nhân viết những tập truyện ngắn và tiểu thuyết văn xuôi, còn với chữ Nôm gần như các cụ chỉ làm thợ Sở trường và thành công nhất vẫn là thơ ca trường thiên theo thể lục bát và song thất lục bát.

Bằng hai thể thơ giàu dân tộc tính này, vào cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ

XIX văn học cổ điển Việt Nam có những tác phẩm xuất sắc khiến thế giới phải biết đến là Chinh phụ Ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748); Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) của Nguyễn Du (1766 -1820). Chúng ta còn các tên tuổi sáng giá khác nữa từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX như: Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Gia Thiều, Phạm Thái, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Công Trứ, Trần Tế Xương v.v. ..Chính nhờ ở những tác giả này tiếng Việt hấp thụ hai nguồn văn tự là chữ Hán và văn tự văn hóa dân gian, chữ Nôm, để trở thành một ngôn ngữ văn học sáng chói và giàu sức diễn đạt.


2. Phối hợp với chữ Hán

Ngoài ra chữ Nôm không hoạt động đơn độc mà đã phối hợp với chữ Hán tạo nên những tác phẩm, bổ túc nhau sáng tác và truyền bá văn hóạ Có thể nhận thấy điểm này qua nhũng chi tiết sau đây:

a- Không kể những chữ Nôm lẻ tẻ có thể xuất hiện bất cứ trong tác phẩm chữ Hán, văn bác học, khi cần thiết còn được dùng xen kẽ với chữ Hán để ghi chép những điều đã có trong bài trước. Chữ Nôm cũng xuất hiện dùng để viết các câu đối, hoành phi, bia đá chuông đồng ở đình chùa miếu mạọ Có một thể loại thơ ca rất được lớp nho sĩ ưa chuộng là bài hát nói (ca trù). Trong đó giữa những lời hát thuần chữ Nôm có xen kẽ mấy câu rặt chữ Hán.

b- Chữ Nôm đã đắc lực trong việc phiên chuyển văn bản và phổ biến văn hóa phẩm. Thí dụ:

Các kinh sách cổ điển của học thuyết Nho, đạo Lão, đạo Phật, đạo Khổng, từ Hán văn được dịch sang chữ Nôm theo hai cách: lược thuật theo ý và chuyển thành thơ chữ Nôm như quyển Luận ngữ thích nghĩa ca diễn Nôm theo thể lục bát 20 thiên trong quyển Luận ngữ. Hai là dịch thẳng từng câu Hán văn sang câu chữ Nôm như quyển Thi Kinh giải âm dịch toàn bộ hơn 300 bài thơ trong Thi Kinh, một bộ kinh trong Ngũ Kinh của Trung Quốc sang chữ Nôm (theo lệnh của Hồ Quý Ly, nhà Hồ)

Một số văn bản từ các ngôn ngữ Tây phương cũng được dịch sang văn xuôi chữ Nôm như các bộ Các Thánh truyện (1650) do Jeromjimo Majorica soạn, với mục đích truyền giáọ

Một số văn xuôi chữ Hán của tác giả Việt cũng được hậu sinh dịch sang văn xuôi chữ Nôm theo lối dịch thẳng từng câụ Có thể kể đến bản giải âm đồn rằng của Nguyễn Thế Nghi (thế kỷ XVII) trong bộ Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (thế kỷ XVI), và phần dịch chữ Nôm trong quyển Cổ Châu Phật bản hạnh ngữ lục (thế kỷ XVI).

Có một loạt sách giáo khoa, trong đó chữ Nôm dùng để giải nghĩa từ ngữ chữ Hán, soạn ra theo thể thợ Dùng những bộ sách này, người học có thể vừa học được chữ Hán vừa học được chữ chữ Nôm:

Chỉ nam Ngọc âm giải nghĩa thế kỷ XVII
Tam thiên tự giải âm Ngô thì Sĩ thế kỷ XVII
Nhật dụng thường đàm Phạm đình Hổ thế kỷ XVIII
Tự học giải nghĩa ca thời Tự Đức thế kỷ XIX
Đại Nam quốc ngữ Nguyễn văn San thế kỷ XIX v.v. .. ..


3. In thủ công

Chữ Hán và chữ Nôm dù được dùng riêng biệt hay phối hợp với nhau đều được viết và in theo lối thủ công cổ truyền.

Viết tay bằng bút lông lên những mặt phẳng giấy, lụa, vải hoặc dùng đục, chạm khắc lên các chất liệu cứng như gỗ, đá, kim khí để làm thành những bản văn trên bia, biển, chuông. ..Dùng gỗ khắc ngược chữ để làm khuôn in hàng loạt lên giấy, lụạ Nhờ vào lối in thủ công này mà các tác phẩm chữ Hán, chữ Nôm được phổ biến rộng, khuyến khích phát triển nền ngữ văn trong nhiều thế kỷ. Mãi đến thập niên đầu thế kỷ XX, nhiều nhà sách ở Hà Nội vẫn cho khắc ván in đi in lại nhiều lần những tác phẩm Hán Nôm và vẫn có nhiều độc giả mua đọc.


4. Cách đọc chữ Hán-Việt

Có nhiều giả thiết về cách đọc chữ Hán - Việt. Theo Bình Nguyên Lộc, thì nguồn gốc ở các ông thầy Trung Quôc từ Bắc Kinh qua dạy người Việt chữ Hanù, vì âm Bắc Kinh nghe gần giống với giọng đọc Hán - Việt. Giả thiết khác cho rằng những ông thày đó là chỉ ở vùng Quảng Đông, Ouảng Tây đến thôị Theo nhiều tác giả khác cho rằng người Việt chủ động dùng chữ Hán ngay từ thế kỷ X trở đi đã đọc theo cách phát âm cuối đời Đường, đầu đời Tống. Sau đó dần dần chỉ có người Việt dạy chữ Hán người Việt, đã rời bỏ cách phát âm nguyên thủy của nó để nghiêng dần về ngữ âm tiếng thuần Việt.

Với cách phát âm này ngôn ngữ Trung Quốc trở thành quen thuộc với người Việt Nam, do đó có cảm nghĩ dùng ngôn ngữ nước ngoài cũng bị quên đị

Từ đầu thế kỷ XX, các giáo sĩ Tây phương với mục đích truyền giáo đã chuyển âm tiếng Việt để đặt ra chữ Quốc ngữ bằng vần La tinh. Chữ quốc ngữ đã thay thế hầu hết vai trò của chữ Hán và chữ Nôm trong các lĩnh vực. Tuy vậy với tuổi thâm niên của nền ngữ văn cổ Hán Nôm, công sức thể hiện và chuyên chở văn hóa cổ truyền của hai thứ chữ này sẽ không bao giờ bị bỏ quên. Trong tâm hồn người Việt, chữ Hán và chữ Nôm vẫn mãi mãi là nhịp cầu nối quá khứ với tương lai trong đời sống văn hóa và tinh thần từ lớp trí thức đến giới bình dân.

 

Đây Là các tác phẩm tiêu biểu :
















[/align]
Bạch Đằng giang phú
Trương Hán Siêu












[/align]
Bình Ngô Đại Cáo
Nguyễn Trãi












[/align]
Chí Linh Sơn Phú
Nguyễn Trãi












[/align]
Chinh Phụ Ngâm
Đặng Trần Côn












[/align]
Chinh phụ ngâm khúc
Đặng Trần Côn












[/align]
CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ
Trần Nhân Tông












[/align]
Cung oán ngâm khúc
Ôn-như Hầu Nguyễn gia Thiều












[/align]
Điển hay tích lạ
Nguyễn Tử Quang












[/align]
Dương Từ Hà Mậu
Nguyễn Đình Chiểu












[/align]
GIA HUẤN CA
Nguyễn Trãi












[/align]
Hạnh thục Ca
Nguyễn nhược Thị












[/align]
Hịch đánh Trịnh
Nguyễn Hữu Chỉnh












[/align]
Hịch Tướng Sĩ
Trần Quốc Tuấn












[/align]
Hoàng Lê nhất thống chí
Ngô gia văn phái












[/align]
Hoa-tiên truyện
Nguyễn Huy Tự












[/align]
HUẾ và THƠ
Thiên Nhất Phương












[/align]
Lục Vân Tiên
Nguyễn Đình Chiểu












[/align]
Ngọc tỉnh liên phú
Mạc Đĩnh Chi












[/align]
Ngư Tiều Y thuật Vấn Đáp
Nguyễn Đình Chiểu












[/align]
Nhị Độ Mai
Vô Danh












[/align]
Phát Hiện Thơ Cổ Thời Bắc Sơn ( 7000 - 1000 Tr. C. N )
Tiến Sĩ Nguyễn Thị Thanh












[/align]
Thượng Kinh Ký Sự
Hải Thượng Lãn Ông












[/align]
Truyện Kiều
Nguyễn Du












[/align]
Truyền kỳ mạn lục
NGUYỄN DỮ












[/align]
TỤNG TÂY HỒ PHÚ
Nguyễn Huy Lượng












[/align]
Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
Nguyễn Đình Chiểu












[/align]
Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh
Nguyễn Du












[/align]
Vật cổ truyền Việt Nam
Phan Quỳnh

(Tổng hợp các bài viết )
 
 











 


[/align]


 
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0
Ôi văn học cổ điển thì khá là thâm thúy và sâu xa qua nên phải từ từ thì mới hiểu được ý nghĩa của nó. Còn văn học hiện đại bây giờ có mấy tác phẩm nổi bật thuộc dạng kinh điển đâu, dòng truyện thị trường hiện lên ngôi mà
ANC_conuong
Đăng nhập để trả lời
0