Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Tướng mệnh khảo luận - Vũ Tài Lục

45 trả lời, 31.790 lượt xem — Trang 2 / 2
BÀN THÊM VỀ PHÉP PHỐI HỢP CỦA THUẬT COI TƯỚNG.
 
Tướng học là cái học kiến trúc con người ta, cho nên nguyên tắc căn bản của tướng học chính là nguyên tắc kiến trúc vậy. Tỷ dụ ta nói: nhục bắt xứng cốt, thịt nhiều xương ít thì xương ít vì như móng cột yếu ớt, toà nhà sẽ bị huỷ hoại.
Tướng học cũng là mỹ học nữa, đã đẹp thì cái đẹp cần được phối hợp.
Thế gian cực hiếm người mười phân vẹn cả mười. Đa số được một hay hai điểm tốt. Những điểm tốt ấy sẽ thành xấu nếu nó không có sự phối hợp với những cái đẹp khác. Nó ví như uống rượu trên sông phải có ánh trăng mới tuỵệt thú.
Tỷ dụ: mặt thô nhưng có đôi mắt đẹp thì đôi mắt đẹp ấy cứu gỡ cho tướng cách rất nhiều.
Bởi vạy cần phải biết cách phối hợp. Phép phối hợp của tướng thuật căn cứ trên lý luận của mỹ học.
Đại lược, phép phối hợp như sau:
a) Nhân phẩm pháp. – Dương khí hoà mãn trên mặt, lúc nói chuyện mặt mày không biến sắc, thần khí thung dung không lạc giọng nói, mắt sáng, cử chỉ ôn thuần, không đóng kịch, không che đậy. Nếu trong ngũ quan có một trong hai quan tốt, vận đến tất phát đạt. Nếu một trong hai quan xấu, hung sự cũng giảm bớt. Sách gọi là trung hoà thượng phẩm.
Dương khí hoà mãn diện, lúc nói chuyện vẻ mặt biến sắc, nếu ngũ quan có vài điểm hãm hoặc kì thị không nên nói nhiều, thanh âm biến điệu tức là mỹ, ác lẫn lộn thì phải quyền biến uyển chuyển.
Đầy mặt âm khí mà cử động thung dung, thanh âm bất biến tức là bên trong có chứa phẩm chất đơn thuần. Ở trường hợp hiện lên khí sắc bạo phát thì nên cẩn trọng xét việc cho tường có thể tránh được hung tai.
Đầy mặt âm khí, cử chỉ lúng túng, ăn nói ngập ngừng là người đang ở vào hoàn cảnh xấu.
Mãn diẹn dương hoà, lúc đàm luận kiêu căng tự thị nhưng mặt có đức sắc nếu thuận tính thì làm được việc, hễ cáu giận thì mọi sự hỏng.
b) Bần phú pháp: Nếu tướng giầu hiện lên mặt cần phải có cái bụng phối hợp, có đôi mông làm căn cứ. Tướng giầu ở lưỡng quyền cần có mũi làm kho đụn và môi làm sự chi thu. Hiện ở mũi thì hai cánh mũi đầy đặn bằng bặn, lỗ mũi vừa vặn. Hiện ở mất tất phải xem phối hợp của ấn đường. Hiện ở tai (tỉ dụ tai trắng hơn mặt rất giàu) hãy xét lỗ tai và dái tai. Hiện ở thân thì nhìn co tròn đầy. Hiện ở tay thì bàn tay thật dầy, da dẻ nhuận.
Bẩy cách trên đây nếu có tiếng nói đúng cách nữa tất là người giàu có lớn, nếu tiếng nói bất ứng thì cũng sung túc.
Tướng nghèo hiện lên mặt mà bụng óp, mồm lép, nghèo suốt đời. Hiện lên lưỡng quyền, mũi hếch, môi dúm nhiều lúc thiếu ăn. Hiên lên mũi lân dài đỉnh uý (hai cánh mũi) mỏng, tóp nợ như chúa chổm. Hiên lên mắt thêm ấn đường lõm hãm, cực khổ. Hiện lên thân, co thắt, cả đời không có nhà ở. Hiện lên tai, lỗ tai nhỏ quá, không có dái tai thì vừa ngu vừa nghèo. Hiện lên bàn tay gân guốc gầy gò, nghèo, cay đắng.
Bẩy cách trên đây nếu có tiếng nói ưởng lượng thì còn đủ ăn đủ mặc. Nếu tiếng nói bất tương ứng thì tối ngày xuôi ngược.
 
c) Cực phú cực bần pháp. – Lông mày trông vui như ẩn ngũ sắc, mắt sáng rực rõ, thanh âm ưởng lượng, giầu mầy đời. Sống mũi cao đẹp, lưỡng quyền đầy đặn, tiếng nói như chuông đồng, đất ruộng thẳng cánh cò bay. Bàn tay đầy ụ, mềm mại, tiếng nói vang vang, giỏi làm giàu, dễ làm giàu.
Nhất lộ, nhị lộ (mắt lộ, mũi hếch, tai lộn vành), tinh thần ám đục, có áo không quần.
Đầu nhọn, đít óp, thanh êm trệ, ăn mày. Bụng chân như que củi, mặt khô xác, tiếng nói lí nhí hoặc ồ ạt, nghèo tứ cố vô thân.
 
d) Vận khí thịnh suy pháp: - Thịt đùn đùn làm cho co nở tròn là đang chuyển vận tốt. Thịt ùn tùn kéo đi mất là thoát tài. Diện thiếu hoa sắc, thanh không hoà điệu, cả đời thất bại. Mặt hiện quang thái, thanh âm ưởng lượng, vận sắp hay. Trong thịnh vận hay nói phũ, nói bậy là có ẩn ưu phiền. Trong bại vận, ý chí nhẫn nại kiên trì là có thể trở lại tốt. Suốt đời tự tin, không lo bại hoại. Gặp người hay lúng túng, tuy thành rồi cũng bại. Cầu toàn ở tiếng nói, thanh âm hỏng, vận khó thành. Trí tuệ ở hai tai, tai như bít, vừa ngu vừa vô vận. Tiền tài ở mũi, mũi khô làm sao có tiền. Vành mũi sắc ám, nên giữ gìn lời ăn tiếng nói. Ấn đường sắc đỏ, có tai nạn quan trọng. Sầu dung mãn diện vô vận. Mãn diện quang thái, vận đang lên.
Sách có câu:
                                   Lễ khả sức, y khả giả thần khi nan giả
                                   Bần khả trang, phú khả sức, cốt cách nan giả
Nghĩa là:
Có thể vô lễ nghĩa, có thể giả quần áo nhưng thần khí không giả được.
Nghèo có thể che đậy được, giầu có thể bịp loè nhưng cốt cách thì không thể giả được.
Cho nên nhìn chân tay khả dĩ định bần phú, nghe lời nói khả dĩ biết ngọn nguồn, trông đôi mắt khả dĩ thấy lòng ruột, nghe tiếng khả dĩ hiểu tinh thần.Mắt sáng quắc nhưng ấn đường vết phá làm gì có vận tốt. Thanh âm mãn mãn mà ngữ vận nhỏ tất sứ sự xoay sở. Thanh âm ưởng lượng nói năng chậm rãi, vận trường cửu. Vô ý thường thở dài, tâm sự ưu tư, ngồi lặng như ngủ là nghiệp sắp thoái bại, thịnh suy bất thường. Thanh cấp, nói nhanh, vận không trường cửu.
Đăng nhập để trả lời
0
Phần ba
Tinh hoa của tướng pháp
PHÚ
Tinh hoa của tướng pháp cổ nhân thường đặt thành phú.
Sau đây là những câu phú trích từ những sách cổ về tướng pháp như: Ma Y tướng pháp - Thuỷ Kính thần tướng – Viên Liễu Trang tướng thuật - Tướng Lý Hành Chân - Quỷ Cốc - Tướng Môn Kinh Nghĩa - Thần Tướng Toàn Biên Ngân Chuỳ - Kim Toả Phú – Nhân Luân Đại Thống – Ngô Tâm Giám Thông - Quản Lộ nhân luân uyên ảo phú – Kinh Thần Phú – Chúc Thiềm Kinh – La Chân Nhân tướng phú - Hồ Tăng Quyết - Thần Dị -
Những câu phú này là những nét đặc sắc do kinh nghiệm từ bao ngàn năm.
 
- Tướng vô quyết pháp bất khả loạn ngôn.
(Không thể căn cứ vào một điểm để bảo là đẹp, cũng không thể vì nhất ác maà bảo rằng hung. Cần phải biết phép gia giầm thừa trừ.)
 
- Hoang đường thất chí thần vô xá.
Bất đáo trung đồ tất yếu vong.
(Người lúc nào cũng hoảng hốt, sợ hãi, buồn rầu là tinh thần đã mất nơi trú ngụ thì tính mạng chẳng còn bao lâu).
 
- Sĩ hữu văn tài nhi phù cấp thiển lộ khởi năng hưởng phú quý chi nhân.
(Dù tài giỏi thông minh, nhưng tinh thân vội vã, nông nổi không phải là người được hưởng phú quí).
 
- Cốt cách vi nhất thế chi vinh khô, khí sắc định hành hành niên chỉ hưu cữu.
(Cốt cách là tướng cả cuộc đời, khí sắc là tướng từng năm từng tháng).
 
- Khí trọc thần khô thị bần cùng chi hán.
(Khí đục tinh thần khô héo nhất định là kẻ bần cùng).
 
- Lãnh thiếu vô tình tác sự cơ thăm nội trọng.
(Cười nhạt vô tình là người làm việc có mưu sâu và thận trọng)
 
- Chuẩn đầu phong đại tâm vô độc.
Diện nhục hoành sinh tính tất hung.
(Đầu mũi nở lớn, tâm địa thành thực,
Thịt mặt ngang ngang tính thường hung)
 
- Thiết diện kiếm mi binh quyền vạn lý,
(Mặt sắt mày lưỡi kiếm, binh quyền vạn dặm)
 
- Long nhan phường cảnh nữ nhân tất phối quân vương.
(Mặt rồng đầu lớn, mũi, quyền tương phối. Mắt đẹp, cổ phượng dài mềm mại trắng, con gái sẽ lấy bậc quân vương).
 
- Yến hàm hổ đầu, nam tử định đăng tướng tướng.
(Hàm én, đầu hổ, con trai sẽ làm tướng).
 
- Diện bì hư bạc hậu tam thập thọ nan tái kỳ.
(Da mặt hỏng hư, sau ba mươi yểu tử)
 
-         Nhãn bất khốc nhăn lệ uông uông
Tâm bất ưu sầu mi súc súc
Tảo vô hình khắc lão cô đơn.
(Mắt không khóc mà đầy lệ, lòng không lo mà mày chau, nếu không sớm hình khắc thì về già cũng cô đơn).
 
Diện như quất bì chung chủ bần bạc.
(Da mặt lỗ chỗ như da cam sành, da quít cương, cuộc đời sẽ nghèo khổ).
 
- Kiên nga thanh khấp bất tiện tắc cô.
(Vai so, nói như khóc không hèn thì cũng cô độc)
 
- Bần cùng đáo lão bất nhàn thô kỳ cốt cách.
(Nghèo khổ đến già vì cốt cách thô)
 
- Diện bì thái cấp tuy cấu huyết trường nhi thọ diệc khuy.
(Da mặt căng quá dù có nhân trung dài cũng không thọ)
 
- Nhãn quang như thuỷ nam nữ đa dâm.
(Ánh mắt như nước lóng lánh, con trai con gái đa dâm).
 
- Mi sước như đao trận vong binh tử.
(Lông mày dựng có mi cốt gò cao, người tính hung bạo sẽ chết binh đao).
 
- Nữ tứ nhãn ác giá tất hình phu.
Thanh sát diện hành khuê phong độc túc.
(Con gái mắt ác lấy chồng sát chồng. Tiếng nói sát phạt, mặt ngang cô độc trong khuê phòng).
 
- Thần bất cái sỉ vô sự chiêu hiềm.
(Môi không che được răng hay bị oán, bị ghét)
 
- Hình dung tuấn nhã chung tác cao hiền.
Cốt cách thanh kỳ tất tu quý hiển.
(Về người tuấn nhã là kẻ cao hiền,
Cốt cách thanh kỳ sẽ hiển đạt)
 
- Cốt tuỳ quí sinh nhục tuỳ tài trường.
(Lúc quí hiển cốt cách sẽ thay đổi,
Lúc nhiều tiền thịt sẽ nở lớn.)
 
-  Diện đại tị tiểu nhất sinh thường tự lịch nan tân.
(Mặt to mũi nhỏ cả đời nếm trải đau khổ.)
 
- Tị sưu diện phỉ bán thế tiền tài chung hao tán.
(Mũi gầy mật mập nữa đời tiền bạc hư hao)
 
- Quyết tử sinh chi kỳ tiên khán hình thần,
Đinh cát hung chỉ triệu mạc đào khí sắc.
(Xem sống hay chết phải trông hình thần,
Định cát hung phải nom khí sắc).
 
- Trọc như ngư mục tốc tứ chi kỳ,
Khi nhược yên trần hung tai nhất chí.
(Mắt mờ đục đờ đẫn như mắt cá sắp chết,
Thần khí như tro than sắp gặp tai hoạ).
 
- Hình như thổ ngẫu thiên mệnh nan đào.
(Hình như tượng đất khó toàn toàn thiên mạng).
 
- Mao như duyên thiết vận khí chuân chuyên,
Khí nhược tường vân tiền trình hanh thái.
(Mật như chì sắt vận lao khổ,
Khí sắc như mây hông tương lai rạng rỡ)
 
- Hoàng khí thiều nhi trệ khí trọng công danh lại hưu bất lai.
(Khí sắc vàng ít mà trệ khí lại nặng thì công danh đến đấy rồi đi mất).
 
- Thanh khí thiểu nhi hỉ khí đa phú quí chí chi hựu chí.
(Khí sắc xanh ít, khí sắc hồng vàng nhiều,
Phú quí đã đến còn đến thêm).
 
- Trệ trung hữu minh ưu nhi biến hỉ.
Minh trung hữu trệ cát nhi phản hung.
(Trong sắc trệ có ấn sắc sáng, lo đấy nhưng sắp vui,
Trong sắc sáng có sắc trệ, tốt đấy nhưng sắp hung).
 
- Hình dung cổ quái thạch trung hữu mỹ ngọc tàng.
(Hình tướng cổ quái nếu thần khí thanh tú là tướng ngọc ẩn trong đá).
 
- Phục tê quán đinh nhất phẩm vương hầu,
Phụ cốt thiên sương thiên quân dũng tướng.
(Sống mũi chạy đến giữa trán là nhất phẩm vương hầu,
Trán nở đến thiên sương là dũng tướng trong đám ba quân).
 
- Hình như chư tướng tử tất phân thi,
Nhãn tự hổ tinh tính nghiêm mạc phạm.
(Hình như con heo lúc chết sẽ bị phân thây,
Mắt như mắt hổ tính nghiêm chớ súc phạm).
 
- Tu hoàng tinh xích chung chủ hoành tử,
Sở lộ thần hân tu phòng dã tử.
(Râu vàng, mắt đỏ chết bất đắc
Răng lộ, môi cong phòng chết đường).
 
- Khẩu thần bì sô vi nhân nhất thế cô đơn.
(da quanh môi miệng dăn deo cả đời cô độc)
 
- Thủ nhuyễn như miên nhàn thả hữu tiền,
Trưởng nhược huyết hồng phú nhi đa lộc.
(Bàn tay mềm như lụa nhàn mà có tiền,
Lòng tay huyết hông giầu thêm đa lộc)
 
- Mi sinh nhị dốc nhất sinh trường tự túc hoan ngu.
(Đuôi lông mày vểnh lên như hai cái sừng
Người ưa hoa rượu nhất sinh bách lạc).
- Thổ tinh bạc nhi sơn lâm trọng, trệ khí đa tai ách.
(Mũi nhỏ, râu ria nhiều là khí trệ gặp lắm tai ách).
 
- Sắc thanh hoàn ư chính diện hoán tác hành thi
Sắc hắc hoành ư nhĩ tiền danh vi đoạt mệnh.
(Sắc xanh nằm ngang trán là xác chết biết đi
Sắc đen trước tai tính mệnh nguy).
 
- Thanh già khẩu, dốc Biển Thước nan y
(Sắc xanh bám quanh miệng, Biển Thước cũng không chữa được).
 
- Bạch như khô cốt thân vong.
Hắc như thấp hôi thọ đoản.
(Người bệnh mặt trắng như xương khô
hay đen như tro ướt đều sắp chết).
 
- Bần nhi hằng nạn chỉ nhân mãn diện bi đung.
(Nghèo còn gặp nhiều tai nạn chỉ vì đầy mặt buồn so)
 
- Thần quang mãn diện phú quý xứng tâm,
Quỉ sắc kiến hình tham sầu độ nhật.
(Sắc mặt hồng vàng có quang phú quí,
Sắc mặt xanh đen là quỉ sắc lo buồn).
 
- Thoái trường cước sưu đương niên bôn tẩu bất đỉnh.
(Đùi dài chân gầy hiện tại bôn tẩu lao đao)
 
- Thương trọng hạ khinh mạt chủ linh đinh,
Thượng khoát hạ tiệm chung vô kết quả.
(Trên nặng dưới nhẹ thân lớn chân nhỏ
Trên rộng dưới hẹp thân to chân nhỏ
Trên rộng dưới hẹp thân to chân nhọn lênh đênh vô kết quả)
 
- Nam nhi yếu tế nan chủ phúc tài,
Nữ tử kiên hàn cô hình tái giá.
(Con trai cơ nhỏ kém phúc kém tiền,
Con gái vai so cô hình lấy hai ba chồng)
 
- Đầu đại ngách đại chung chủ hình phu,
Thanh thô cốt cánh vi sương phụ.
(Đầu to trán lớn sát chồng,
Tiếng thô, cốt thô quả phụ)
 
- Nhãn quang khẩu khoát tham dâm cầu thực chi nhân.
(Mắt sáng quắc phù quang, miệng rộng con gái tham ăn tham dâm)
 
- Bì phu hương nhị nãi phú thất chi nữ nương,
Diện sắc đoan nghiêm tất hào môn chi đức phụ.
(Da dẻ mềm mại thơm tho là tiểu thư con nhà giầu,
Sắc mặt nghiêm nghị đoan trang là đàn bà có đức con dòng cháu giống).
 
-         Đầu tiểu phúc đại nhất sinh bất quá đa thực
Cốt thiều nhục đa tam thập yên năng khả quá.
(Đầu nhỏ bụng to loại tham ăn
Xương ít thịt nhiều thường chết yểu).
 
- Hình thanh thần trọc bất cửu bần cùng,
Nhân tiểu thanh hồng định tu siêu việt.
(Hình trong mà tinh thần đục chẳng bao lâu sẽ bần cùng
Người bé tiếng nói lớn tài trí hơn người).
 
- Thiếu phi khí đoản, nan quá tứ cửu chi kỳ.
(Lúc còn nhỏ đã mập phì không sống quá 49 tuổi).
 
- Cốt thô phát trọng hà tầng thừa đắc nhất tiền.
(Xương thô tóc nặng bù xù tướng bần cùng).
 
- Thể tế thân khinh ná đắc đình lưu phiến ngoã.
(Người mỏng gió thổi bay không chết yểu cũng nghèo hèn).
 
- Cốt khinh thủ ngạnh tất thị dung thường.
(Người khẳng khiu mà tay lại thô chỉ làm đầy tớ)
 
- Đắc ý trung diện mạo thê thảm tiên phú hậu bần,
Tao quẫn xứ nha mạo ôn hoà toả cùng văn phát
(Lúc đắc ý mặt mày buồn lo, trước giàu sau nghèo
Gặp khi quẫn mặt mũi ôn hoà sớm nghèo sau phát đạt)
 
- Nhĩ bạch ư diện chung vi trụ thạch chi thần
(Tai trắng hơn mặt vị đáng đại thần)
 
- Tị môn hắc táo mưu sự nan thành.
(Cửa mũi đen kho, làm việc gì cũng hỏng).
 
- Quảng ngách tú mỉ văn chương đạo sĩ.
(Trán rộng mày tú văn chương đạo sĩ)
 
- Thủ thô cước trọng tất thị di bà,
Tị tiêm đầu đê chung vị thị thiếp.
(Tay thô chân nặng loại hàng rong,
Mũi nhọn, trán thấp làm thị thiếp)
 
- Nam tử đầu tiêm chung vô thành khí.
(Con trai đầu nhọn (Đầu quả muỗm) chẳng ra gì).
 
- Đầu đại vô giốc, phúc đại vô thác, bất thị nông phu thị đổ bác.
(Đầu to không góc cạnh, bụng lớn sô bồ lớn bên trên không chảy xuống, tướng nông phu hay dân cờ bạc).
 
- Cước viên bối hậu phương bảo ngọc đới triều y.
(Bàn chân đầy đặn, lưng dầy mới mong có đai ngọc áo trào đình)
 
- Phù lặc lộ cốt thân lạc tâm ưu.
(Xương lộ gân lộ, thân vui lòng buồn).
 
- Thượng mã đai hề hạ mã tiếu.
(Lúc ngồi thì to lớn, lúc đứng thì người nhỏ bé,
Lúc trên lưng ngựa thì người bề thế, xuống ngựa người nhỏ nhắn. Quí tướng).
 
- Bất quí tự quí chung tú quí,
Bất bần tự chung tu bần.
(Chưa ở ngôi vị sang mà dáng dấp đã có vẻ sang sẽ được sang quí. Không nghèo mà thế thái có vẻ nghèo sẽ nghèo).
 
- Duyên hà thọ mệnh bất trường, nhân trung đoản tróc.
(Tại sao không có tuổi thọ? Vì nhân trung ngắn co).
 
- Mục nhuận nhi trường chí khí quán kim cổ.
(Mắt nhuận mà dài chí khí lớn).
 
- Sắc như thương biến tất tắng đắng nhi danh cánh trì.
(Sắc mặt luôn luôn biến đổi, rất lận đận công danh).
 
- Phì đầu đại đỗ bất vi hiền.
Thứ nhân chỉ thị thường lưu bối.
(Đầu múp míp, bụng núng nính bọn người chuyên đi hầu hạ).
 
- Tam tài ngũ nhạc câu bình mãn,
Tất định vinh hoa tác quận vương.
(Bộ vị đầy đặn cao, vinh hoa đến bậc quân vương).
 
- Điện nhược can khô định thị bần.
(Mặt khô là nghèo khổ).
 
- Phi bất lộ nhục sưu vô cốt,
Phương giác tư nhân thọ mệnh trường.
(Mập mà không lộ thịt, ốm mà không giơ xương thì mới thọ)
 
- Cốt lộ tài vô thừa.
(Xương lộ tiền tài không bao giờ có dư).
 
- Khẩu đại bất hợp nhân bần.
(Miệng lớn không thu lại được nghèo khổ).
 
- Mi cao nhãn thâm nhân lang.
(Mi cốt gồ cao mắt sâu người độc địa)
 
- Khí tróc ngôn ngữ bất tiếp,
Chỉ nhật tất kiến Diêm Quân.
(Nói như bị đứt hơi, có thể thấy ngày gặp Diêm Vương).
 
- Áp bối nga hung ngã tử hàn nan.
(Lưng lõm như lưng vịt, ngực như ngực ngan ngỗng có thể chết đói).
 
- Sưu tư sưu hề hàn tự hàn
Hàn sưu chi nhân bất nhân ban.
Sưu hữu tinh thần chung tất đạt
Hàn tuy hình thái định cô đan.
(Gầy và ốm yếu khác nhau
Gầy mà tinh thần sáng rồi sẽ phát đạt
Ốm yếu dù có mặt đẹp cũng cô đơn – Hàn ở đây có nghĩa là chán nản, vai so, buồn bã).
 
- Lưỡng biên quyền cốt cao xâm mãn,
Phúc thọ câu toàn nhất thế vinh.
(Hai bên quyền cốt nổi chạy dài đến tóc mai
Thì phúc thọ và vinh hiển).
 
- Lão niên sắc nộn chiêu cô khố.
(Về già mà sắc mặt trắng hồng như trẻ con là khổ sở cô đơn).
 
- Mi yêu khúc hề bất yêu trực.
(Chân mày phải cong hoặc gãy khúc chớ có thẳng chữ nhất. Nếu thẳng chữ nhất thì ngu bướng và vô học).
 
- Hàn tướng chi nhân kiên quá cảnh
(Tướng hàn là vai so cổ rụt).
 
- Cánh hữu thân thích đài bất xuất
Chỉ nhân hình tự vũ trung kê.
(Tứ cố vân thân lưu lạc tha phương cô khổ
Chỉ vì hình dáng như con gà dưới trời mưa).
 
- Đại lượng chi nhân mi cao nhãn
Nhãn mị tương xứng bất ưu bi.
(Người đại lượng mi ở trên cao, mi nhãn tương xứng không bị lo phiền)
 
- Hiên môn khuyết hăm kỷ thứ tác tân lang.
(Hiên môn sâu lõm, mấy lần lấy vợ bỏ vợ).
 
- Thanh âm tỉ lôi đình chi viễn chấn,
Nhãn mục như nhật nguyệt chỉ tương vọng,
(Tiếng nói vang xa như sấm sét, ánh mắt như hai vầng nhật nguyệt, tướng của bậc lãnh tụ).
 
- Nhãn nhược can khô nhi bất tú, chung tác bạch y chi sĩ.
(Mắt khô không thanh tú, chỉ là kẻ sĩ áo vải chân trắng).
 
- Thần tàng khoát thị, uy nghiêm nhi hữu lực, nghiễm nhiên nhân vọng như uý, thanh đanh phiên đương thiên hạ.
(Tinh thần ẩn tàng, nhìn rộng lớn và uy nghiêm người trông thấy phải sợ, tiếng tăm nổi khắp thiên hạ).
 
- Nam dĩ cương vi quí, nữ di nhu vi thuận
Âm phản ư dương phu tất tổn
Dương phản ư âm phụ tất vong.
(Đàn ông phải cương cường, đàn bà phải nhu thuận.
Đàn bà mà cứng rắn cương cường là âm phản dương tổn phu.
Đàn ông mà uỷ mị ẻo lả là dương phản âm khắc thê).
 
- Cực qui chi sắc dĩ lão tàm chi quang minh.
(Sắc quí như con tằm chín. (Sở dĩ lấy sắc con tằm chín vì lúc chín nó tự ăn lá dâu rồi sắc nổi lên khắp thân thể ví như khí nuôi sắc).)
 
- Hữu khi vô nhục thi như hàn tùng,
Hữu nhục vô khi do như đố mộc.
(Chỉ có xương khi tốt mà không có thịt đắp cho cân thì ví như cây tùng giữa trời lạnh. Chỉ có thịt dầy mà cốt khí thì ví như khúc gỗ mọt)
 
- Thân đại âm tiểu hoạ sờ ẩn.
(Thân lớn nói nhỏ hoạ ẩn bên trong).
 
- Quí nhân chỉ tướng lập như tùng, toạ như cung thực như hổ ngoạ như long.
(Tướng quí nhân đứng thẳng như cây tùng, ngồi như cái cung, ăn như hổi, nằm như rồng).
 
- Quí nhân chỉ ngôn bất vọng phát.
(Không nói bừa bãi lếu láo là quí nhân).
 
- Minh đạt giả ngôn thuận
Cương chính giả ngôn lệ
Giản tinh giản ngôn vĩ
Chấp trung giả ngôn tị
Hư cuồng giả ngôn phồn
Thao tấn giả ngôn vọng
Lỗ mãng giả ngôn thô
Ngu ngoạn giả ngôn độn
Âm độc giả ngôn nhi hàm tiếu.
(Người sáng suốt quán đạt nói nghe xuôi tai
Người cương chính nói nghe sắc cạnh
(Người đơn giản ưa tĩnh nói nhỏ nhẹ)
Người chấp nhất nói thiên vị
Người hư cuồng nói nhiều
Người nóng ruột nói bậy bạ
Người lỗ mãng nói thô tục
Người ngu nói vớ vẩn
Người độc địa nói mà mỉm cười).
 
-Văn quan thanh tú quải kim ngư nhi triều ngọc khuyết.
(Quan văn dáng dấp thanh tú, dễ thân cận với vua).
 
- Vũ tướng cổ quái bội hổ phù nhi bái đan trì.
(Vũ tướng hình dung cổ quái thường lập đại công).
 
- Tinh minh nhi chuyển, sử tâm trí biến tri cơ.
(Mắt sáng mà linh động người giỏi cơ mưu).
 
- Khẩu tiểu thần hân, thực nam xung phúc.
(Miệng nhỏ môi cong ăn chẳng đủ no).
 
- Văn hỉ bất hỉ vi kim quĩ chi hữu khuy.
Dương ưu bất duyên ngọc đưòng chi chiều củng.
(Nghe tin mừng mà không mừng là tại bên trong còn thiếu thốn.
Chuyện đáng lo buồn mà không lo buồn vẫn thản nhiên tương lai sáng sủa).
 
- Nhĩ bạc như chỉ, hưu vấn vinh hoa.
(Tai mỏng như giấy đừng đòi hỏi vinh hoa phú quí).
 
- Thuỵ dị tỉnh nam bạch thủ cô đang.
(Dễ ngủ gọi mãi không tỉnh suốt đời tay trắng cô đơn).
 
- Nam diện tự nữ, nữ tự nam.
Tâm trung hoài trước đa dâm dục.
(Mặt con trai giống con gái, mặt con gái giống con trai toàn loại đa dâm dục).
 
- Hồng nhuận tướng kiêm thu thuỷ sắc
Nam nhân văn học nữ đa tình
(Nét mặt hồng nhuận vẻ như thu thuỷ
Con trai văn chương con gái đa tình)
 
- Thiên địa nhược hăm định cùng đồ.
(Trán hẹp má hóp cằm nhọn suốt đời đi làm công).
 
- Hỉ nộ thần như nhất, cùng thông khí bất thù quí kiêm văn vũ.
(Giận hay mừng nét mặt không thay đổi, cùng hay thông tinh thần vẫn vậy, tướng quí kiêm cả văn võ).
 
- Khí sinh bì nội bách nhật phương thành.
(Khí sinh ở trong da, đủ trăm ngày sẽ phát ra sắc).
 
- Khí túc sắc túc thần bất túc nan ngôn phú lộc.
(Khí đủ, sắc đủ tinh thần không đủ lấy đâu ra phúc lộc).
 
- Diện hữu bát kỵ:
            Đầu tiêm diện tiểu vi nhất kỵ
            Quyền cao tị tiểu vi nhị kỵ
            Diện đại nhãn tiểu vi tam kỵ
            Diện đại khẩu tiểu vi tứ kỵ
            Diện vô thành quách vi ngũ kỵ
            Diện quang như du vi lục kỵ
            Diện như phó phấn vi thất kỵ
            Diện như duyên thiết vi bát kỵ.
- Mặt có tám điều kỵ:
            Đầu nhọn mặt nhỏ là một
            Quyền cao mũi nhỏ là hai
            Mắt to mắt nhỏ là ba
            Mặt to miệng nhỏ là bốn
            Miệng không có góc cạnh là năm
            Miệng như tráng dầu là sáu
            Mặt như trát phấn là bảy
            Mặt như sắt gỉ là tám.
 
- Đa mưu thiểu toại chi nhân
Phá quyền nhi long cung hắc ám.
(Mưu thì nhiều thành việc thì ít
Bởi chưng quyền phá và dưới mắt hắc ám).
 
- Diện thô thân tế an lạc nhất sinh
Diên tế thân thô bần hàn đáo lão.
(Mặt thô thân nhỏ nhắn suốt đời vui sướng
Mặt nhỏ thân thô nghèo hèn đến già).
 
- Thân phì diện sưu mệnh trường tính hoãn
Thân sưu diện phì mệnh đoản tính cấp.
(Thân mập mặt gầy tính tình chậm thọ mạng dài
Thân gầy mặt mập tính táo cấp thọ mạng ngắn).
 
- Sơn căn đoạn hề thả hư hoa
Tổ nghiệp phiêu linh định phá gia.
(Gốc mũi dưới ấn đường lõm gẫy việc gì cũng chỉ là giả, tổ nghiệp điêu linh).
 
- Uy hiển thể trọng công danh tất toại.
(Có oai, người nặng công danh toại ý)
 
- Toát khẩu, tán mi van vi đăng các thần liêu.
(Miệng dúm mày chau không thể làm quan).
 
- Ô hô bần hàn phụ nữ vô phi hung đột diên cao.
(Đàn bà nghèo hèn người nào cũng ngực ưỡn đít cong).
 
- Dâm dật sương kỹ nhất định diện tế thân thô.
(Gái điếm thường có tướng mặt nhỏ nhắn mà thân thể thô).
 
- Thanh như hàn đàm thu nguyệt
Kỳ giả tùng hắc kiều tùng
Cổ tự ta nga bàn thạch
Quái tự tiêu bích cô phong
Nhân năng hữu thứ, phú quí long chung
(Người thanh trông như mặt trăng chiếu trên hồ
Người kỳ trông như cây tùng như hốc núi
Người cổ trông như phiến đá lớn lâu đời
Người quái trông như vách núi treo leo
Thanh kỳ cổ quái đều là tướng phú quí).
 
- Tú nhựoc thâm căn trực cán
Dị giả vũ long hồi phương
Thuần như lương kim mỹ ngọc
Trọng như Thái nhạc cao tung
Hữu nhất thứ giả tước lộc phi dung.
(Tú như cây tốt tươi rễ chắc thân thẳng
Dị (lạ) như rồng múa phượng bay
Thuầ như vòng tốt ngọc đẹp
Trọng (nặng) như núi Thái Sơn).
 
- Thiên đình trường bích nhi phương
Tảo hữu đằng thăng.
(Trán đứng thẳng mà vuông vắn, tuổi trẻ đã nên danh phận).
 
- Hiên môn đột khởi phụ nhân thiểu tiết.
(Hiên môn nổi u, đàn bà thiếu trinh tiết).
 
- Cơ phu tự lan tự hinh, phi phàm cốt cách.
(Da dẻ thơm tho là cốt cách phi phàm).
 
- Khẩu nhãn tiêu nhi đoản thọ.
(Miệng nhỏ mắt nhỏ không sống lâu).
 
- Ta thán tại khẩu, bình sinh nhất nhất bất như nhàn
(Hay ta thán, suốt đời vất vả).
 
- Cổ nhi vô thần vị chi lộ
Lô nhi vô khí vị chi cô
Thanh nhi vô thần vị chi hàn
Hàn nhi vô khí vị chi vong
Quái nhị vô thần vị chi thô
Thô nhi vô khí vị chi khô
Kỳ nhi vô thần vị chi bạc
Bạc nhi vô khí vị chi nhược
Tú nhi vô thần vị chi suy
Suy nhi vô khí vị chư hư
Di nhi vô thần vị chi sũ
Sũ nhi vô khí vị chi chuyết
Đoan nhi vô thần vị chi ảm
Ám nhi vô khí vị chi bại.
(Bài quyết này cần phải thuộc để biện nhân các danh từ thường lập đi lập lại trong tướng học như thanh hàm, quái thô, bạc nhược, tú khô v.v...)
 
Khán nhân tướng cách hữu quí khí, hữu tam điểm quyết
Nhất yêu thính thanh âm
Nhị yêu khán thần thái
Tam yêu quan khí sắc
Thanh thanh tắc thần thanh.
(Xem quí khí có ba quyết điểm:
Một là nghe tiếng nói
Hai là nhìn thần thái
Ba là trông khí sắc
Tiếng trong thì thần thanh).
 
- Thanh đục ưởng nhi trường
Thần dục tinh tuý nhi tàng
Khí dục thư hoãn nhi tĩnh
Nhược phản thử giả phất quí dã
(Tiếng nói phải vang mà dài
Tinh thần phải sáng suốt mà tàng ẩn
Khí chất phải ung dung và tĩnh
Nếu ngược lại không phải là quí).
 
- Dục xuyên khi nhân y
Tu sinh quí nhân thế
(Muốn mặc áo của người sang
Phải có một hình tướng quí).
 
HẾT
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Cuốn này đã hoàn thành. Xin cảm ơn các bạn doangiangyen, cunhoi, jennytran, ticonuong của vnthuquan, và hai của thuvien-ebook.com đã cùng với tôi đánh máy cuốn này.
Đăng nhập để trả lời
0
Xin admin sửa lại trong thư viện giùm, hai của thuvien-ebook.com có nghĩa là người tên hai chứ không phải 2 thành viên.
Đăng nhập để trả lời
0

OK, ai kêu HuyTran khg chịu ghi rõ làm chi,


Đăng nhập để trả lời
0
Giám mạo biện sắc, hữu chư nội tất hình ư ngoại (Nhìn diện mạo xem khí sắc bên trong thế nào sẽ hiện ra bên ngoài thế ấy).
Ta thường bảo người này thần thanh khí sáng, mãn diện xuân phong thổ khí dương mi hay nôm na là mặt mũi nở nang, sáng sủa, nở mày nở mặt để chỉ người đó lúc đắc ý.
Ta thường thấy người kia khí sắc ám hãm, thùy đầu táng khí hay nôm na là mặt xơ xác để chỉ người ấy lúc nghịch vận thất y.
Như thế là ta đã coi khí sắc đấy. Có điều ta không thể biết trước vận suy vận hên qua khí sắc thôi.
Xem tướng khí sắc để có thể biết trước sự hay dở sắp đến.
Trời có mưa bảo bất trắc thì người cũng có họa phúc bất kỳ.
Trên trời mây đen kéo đến ai cũng biết sắp mưa, mặt người bỗng nhiên quang nhuận, sáng rỡ là triệu chứng sắp ăn nên làm ra.
Họa phúc chỉ lai, hữu kỳ tiên triệu, chí thành chỉ đạo khả dĩ tiền trỉ (Họa phúc sắp tới, bao giờ cũng có dấu báo, thành tâm học đạo, khả dĩ biết được trước).
Thời Dân Quốc của Trần Quả Phu, cánh tay đắc lực của Tưởng Giới Thạch, chuyên trông coi việc đảng. Phu là người giỏi về tướng pháp.
Một lần, Trương Quế, đảng viên cao cấp của Quốc Dân Đảng được cử đi làm tư lệnh tiếp vận đến chào từ biệt Trần Quả Phu.
Trông thấy Quế, Phu sửng sốt bảo:
Xin ông lưu ý khí sắc của ông ám hãm lắm, phải cẩn thận đề phòng.
Quế vì quân lệnh trong lúc chiến tranh nên tuy nghe Phu nói thế cũng đành chỉ vâng vâng dạ dạ, chẳng làm gì hơn được.
Nhậm chức chừng hơn một tháng, Quế bị cách chức vì một kho đạn do quân khủng bố phá hoại đốt cháy.
Tuy đau sót nhưng Quế cũng tự an ủi: "Thôi cái nạn này là may rồi".
thu xếp cùng gia quyến trở lại quê nhà, không ngờ nửa đường phi cơ Nhật xà xuống bắn vào xe Quế, xe lật nhào xuống, vợ bị thương con chết. Quế bị thương nhẹ.
Sách tướng viết:
Khí sắc hối trệ họa vô đan hành (khí sắc ám hãm, họa đến liền liền).
Đầu thời Dân Quốc, tại Hán Khẩu có một thầy đông y chuyên trị về thận khí và đã nổi danh toàn quốc với hộp cao đan hoàn tán: Thận khí hoàn. Ông tên là Đường Tử Long. Chẳng những hay thuốc mà thôi, ông còn giỏi nghề coi tướng nhất là coi thần khí người ta để biết chết sống.
Có một lần, ông tới chơi nhà người bạn thân, nhân đi qua được phòng ở bên cạnh nhà bạn, ông thấy một người tuổi trung niên vừa bước ra cửa. Ông sửng sốt và dừng lại ngó theo chừng vài phút rồi vội vào nhà bạn gọi người con trai bạn ra mà bảo:
Này cháu, nhà ta có quen với cái người bên cạnh vừa đi ra đó không?
Dạ, em ông ta là bạn của cháu.
Vậy cháu hãy làm phúc cho người ta.
Dạ, bác nói sao?
Bác đi qua trông thấy thần khí người ấy bất túc, chắc bệnh nặng đến nơi. Còn nặng hơn thế nữa, trước khi mặt trời lặn ngày hôm nay, người ấy có thể chết. Thân đà bại, khi đã tán chẳng còn cách chi cứu được. Chỉ còn cách là bảo em ông ấy đi tìm về để ông ấy được chết tại nhà trông thấy con cháu.
Gã thanh niên vâng lời qua nhà bên bảo với bạn đi mời ông anh về nói dối là để xem mạch cho cậu (người ấy cũng là đông y sĩ) vừa bị cảm nắng.
Người bạn gật đầu nói:
Anh tôi qua thăm người bà con chắc lát nữa về.
Chừng xế trưa, người ấy trở về rửa mặt định ngồi vào bàn ăn thì bỗng xây xẵm mặt mày ngã quay xuống đất. Cả nhà vội vực vào trong buồng cho uống thuốc và cạo gió. Một lát ông ta tỉnh lại. Cả nhà vui mừng nghĩ rằng ông bị cảm qua loa thôi.
Ai ngờ khi Đường Tử Long đang ngồi đàm thoại thi phú với bạn bỗng nghe nhà bên kêu khóc inh ỏi thảm thiết.
Người trung niên ấy đã chết khoảng sáu giờ rưỡi chiều.
Thời lai phong tống đằng vương các
Vận khứ lôi oanh tấn phúc bi.
Muốn biết gió có đưa lên đằng vương hay sấm sét sẽ đánh vào mộ bia. Thì xem khí sắc.
Khí sắc là gì?
Trước hãy nói về khí.
Sách "Tướng Lý Hành Chân" có câu:
Con người là một loại cây không có rễ
Nhất nhất đều dựa vào khi làm rễ nuôi sống cây.
(Nhân bản vô căn thụ toàn bằng kí tức dĩ căn thù).
Nhờ nguyên kí nuôi dưỡng, con người thành trưởng mạnh hay yếu, lớn hay bé, thông minh hay ngu si. Danh từ nguyên khí rút từ lời giải nguyên thân chi ? khi gọi tắt mà thành. Lúc ta thở hít khí trời là tìm kiếm hậu thiên chí khí để ? với nguyên khí nuôi sống cơ thể.
Vậy cái khí sắc mà ta nói đây là nguyên khí hay cái khí tiên thiên chứ không phải cái khí hậu thiên. Nguyên khí tốt xấu do hấp thụ tinh linh âm dương ngũ hành khi còn ở trong bụng mẹ và khi mới ra chào đời.

Đăng nhập để trả lời
0
Tuy nhiên, không phải chỉ có nguyên khí mới đáng kể còn hai loại khí khác cũng có ảnh hương quan trọng đối với cận số con người là: hàm dưỡng chỉ khí, sở lập chỉ khí.
Ai tập Yoga thường có khí hàm dưỡng.
Làm việc thiện ác thường có khí sở tập. Tỉ dụ: làm thiện trong lòng vui sướng có thể đem cái khí sở tập đó tưới cho nguyên khí tốt tươi, làm ác lo sợ thì cái khí sở tập đó tác hại cho nguyên khí khiến cho khí sắc ám hãm.
Khí có tốt thì thần mới sáng. Thần có sáng thì sắc mới đẹp.
Khí đoản thần khô, thần khô sắc trệ.
Sắc trệ chỉ nhân diện trần ai, người sác trệ mà như lấm tro than. Sắc trệ thì tai họa sắp tới.
Tất cả bắt nguồn tứ khí, cho nên mới phải gọi là coi khí sắc.
Nếu ta đặt câu hỏi: Làm thế nào khí có thể biết họa phúc sắp tới để mà báo ra sắc?
Ấy bởi nguyên khí hấp thụ tinh linh dương ngũ hành nên mới có được cái tinh linh đó cũng như con kiến biết trước trời mưa nhờ tính linh cảm thấy những biến chuyển từ lòng đất cũng như máy Radar, cũng như máy thu thanh bắt làn sóng điện.
Có bài ca rằng:
Tinh sinh ư khí, khí sinh thần
Nhật nguyệt quang huy bản thể chân
Thần triệt ngoại minh năng chiếu vật
Thâm cùng thử lý tĩnh vô trần
Khí như du hề thần tự đăng
Thần cư lưỡng nhãn đắc y bằng
Thu ba sáng lạn công danh tảo
Hôn mạo đồng nhân phúc khởi tăng
Toa hữu tinh thần lập hữu uy
Bất giao bất động tự nga nguy
Tiền sinh tu tích kim sinh thụ
Chủng đắc phượng mao phấn dực phỉ
Vạn vật bằng thần chủ tể sinh
Tinh thần nhất ủy tự nan thành
Khảm kha sự nghiệp vô tha diệu
Quang thái sạ nhân tứ hải kình
Tọa, ngọa vô thần, lập bối hàn
Thế gian lao khổ thử gian khan
Nhãn tiền căn cách tiêu dao hảo
Chung lạc trần ai khứ vũ hàn.
Xin tạm dịch đại lược như sau:
Tinh do khí sa sinh, thần cũng do khí sinh
Mắt sáng cũng nhờ khí tốt
Tinh thần quán triệt cũng nhờ khí
Khí như chất dầu, tinh thần như ngọn đèn.
Tinh thần ở đôi mắt. Mắt rạng rỡ công danh sớm sủa.
Mắt lờ đờ vô phúc lộc. Nhờ tinh thần thanh sảng nên ngồi đứng uy nghi. Vạn vật đều do tinh thần làm chủ.
Thuộc bài ca trên đây và suy nghĩ về nó, ta có thể rõ thế nào là thần khí.
Sắc là gì?
Vui, buồn, mừng giận đều có sắc hiện trên mặt. Buồn mặt trắng bệch ra ? mặt đỏ lên hay tím lại. Đó là sắc của bẩy tình. Còn sắc mà tướng học đi tìm là sắc ở trong tạng phủ phát hiện ra ngoài mặt hoặc ra lòng bàn tay. Sắc trên tướng học là tính lỉnh tiên tri, tiên giác về cát, hung, họa, phúc.Người quân tử sắc thường minh lăng (sáng sủa). Kẻ tiểu nhân sắc thường ám trệ.
Sắc là tinh hoa của khí. Khí tốt sắc đẹp.
Sắc có năm màu: xanh, đen, đỏ, vàng, trắng.
Sắc có ngũ hành: xanh thuộc mộc, đen thuộc thủy, đỏ thuộc hỏa, vàng thuộc thủy, trắng thuộc kim.
Nếu đem áp dụng vào y lý để xem tướng tật bệnh thì sắc trắng ở phế (phổi) phát ra vì phế thuộc kim.
Sắc xanh ở can (gan) phát ra vì can thuộc mộc.
Sắc đen ở thận phát ra vì thận thuộc thủy.
Sắc vàng ở tì (lá lách) phát ra vì tì thuộc thủy.
Sắc đỏ ở tâm phát ra vì tâm thuộc hỏa.
Tính chất cát, hung của sắc ra sao?
Sách "Tướng Lý Hành Chân" viết:
Xanh chủ ưu kinh lo sợ.
Vàng chủ cát khánh tốt lành.
Đỏ chủ lao ngục, bệnh tật chết chóc.
Trắng chủ ưu sầu tang tóc.
Sắc ẩn hiện thế nào?
Xanh lúc đến như rêu xanh bám trên bờ giếng, như rỉ đồng, lúc đi phơn? mầu cỏ non.

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-11-30 17:27:34ticonuong>
   Mỗi quan, mỗi phủ làm chủ ở số tuổi nào đó.
- Từ  1 đến 15 tuổi : vận ở tai và ở trán
- Từ 15 đến 30 tuổi : vận ở chân mày và trán
- Từ 30 đến 40 tuổi : vận ở mắt và mi
- Từ 40 đến 50 tuổi : vận ở mũi (quyền)
- Từ 50 đến 60 tuổi : vận ở miệng (cằm)

  Ngoài ra, tướng học còn phân chia từng năm gọi là lưu niên hiện lên từng lục phủ ngũ quan trên mặt nữa. (Xin xem Chương "Lưu niên khí sắc".
  Như ở trên đã nói qua những vận hạn từ 25 đến 50 tuổi quan trọng hơn hết đối với đời người. Học hành gây nền móng cho sự nghiệp và xây dựng sự nghiệp ở trong quảng thời gian đó.


MI TƯỚNG

  Lông mày thuộc ngũ quan gọi là bảo thọ quan thuộc thập nhị cung gọi là cung huynh đệ, có biệt hiệu là La Hầu và Kế Đô danh xưng của hai hung tinh làm chủ vận trình lưu niên từ 31 đến 34 tuổi.
  Xem chân mày có thể biết nhiều sự tương quan của đời người bao quát cá tính , trí tuệ, sự nghiệp, sinh mệnh thọ yếu, đắc ý sớm muộn, tân thuộc tốt xấu, vận trình bĩ thái.
  Vấn quí tại nhãn, tại mi (hỏi sự sang quí của người ở đôi mắt và đôi mày).
  Xem tướng mi rất khó, nó cần ý vị triết học nhưng không phải không có căn cứ khoa học.
  Chân mày ưu tú nhất phải có một trong bốn điều kiện :
  1) Cong dài và hữu thế (mạnh).
  2) Ngang đưa lên và hữu thần (có tinh thần).
  3) Thưa, mơn mởn và hữu khí (không khô héo).
  4) Tú nhuận và hữu quang (không tối tăm).
  Trung Quốc có danh từ mi vũ, như câu tục ngữ :"Thấy khí chất anh hùng trên mi vũ".
  Vũ đây nghĩa là mái nhà. Mặt người ta ví như cái nhà mà mi là mái nhà để chống với mưa nắng, cho nên mi cần có hình thể lớn rộng, lại phải khai lãng cho nhà khỏi tối và đủ không khí.
  Vị trí chính xác của lông mày là mọc ngang trên mi cốt, rồi xét trên dưới tả hữu ra sao. Ngay trên mi có bộ phận gọi bằng phúc đường cốt khí nở nang mới tốt. Giữa hai đầu chân mày là ấn đường nên rộng rãi, đầy đặn, tối kị mi đầu giao nhau cắt ngang ấn đường. Cuối chân mày gọi là khâu lăng tủng mộ nên nổi và rộng. Dưới lông mày bên trái là ngoại dương, bên phải là ngoại âm. Thông thường, ta gọi mí mắt nên rộng rãi sáng đẹp, khi lông mày mọc chùm lớp xuống dó tức là áp nhãn, phá hoại cung điền trạch (Xin xem lại Chương Thập Nhị Cung).
  Sách tướng nói :
  "Mi vũ khoan quảng tâm điền viên bình", nghĩa lông mày rộng rãi thanh thoát tâm hồn, sẽ thiện lương, trông xa, đại lượng, biết tiến, biết thoái, lạc quan hương lương.
  Mi cốt bình khởi nổi lên bằng phẳng mới hay. Ụ cao hoặc lõm đều không tốt.
  Nhưng tối kị lõm xuống. Người nào mi cốt lõm luôn luôn tự ti thích báo thù vặt khiến cho tinh thần mất khoáng đạt.
  Gặp ai mi cốt lõm, hãy xem luôn lông mi ra sao đã. Dù mi cốt lõm nhưng lông mày thanh tú, ngang cao hướng lên thì không tự ti, trái lại thường tự đắc coi mình là nhất, cuộc đời có thể thành tựu. Tuy nhiên dễ đi vào con đường tàn bạo, bất nhân đến nỗi về sau thân bại danh liệt. Mi cốt lõm mà lông mày thấp cúp xuống là người yếu hèn, ưa nịnh bợ, xu phụng kẻ quyền thế, chỉ biết lợi cho mình, đem điều oán để báo ân đức.
  Mi cốt lõm mà lông mi thanh tú thưa thì bi quan, chán đời âm thầm lạnh nhạt khó hòa thuận với người khác, lòng dạ hẹp hòi, hiếu sát hoặc dễ tự sát.
  Mi cốt lõm mà lông mi mọc ra ngoài mi cốt là người cực nguy hiểm, nói một đằng làm một nẻo, mâu thuẩn và nghi ngờ.
  Nói tóm lại, người có mi cốt lõm không phải là hạng người quân tử, toàn là một lũ cô độc tàn nhẫn.
  Mi cốt u cao nói lên cá tính quá mạnh thiếu tu dưỡng, tuy có chí lớn nhưng ưa đại ngôn, vội vàng dễ nóng giận, chẳng chịu ai, luôn luôn thích mọi người biết đến mình, quá tự tin. Nếu có tài thì thường cậy tài, chỉ biết tiến không biết thoái. Đến lúc việc hỏng hối chẳng kịp.
  So với mi cốt lõm thì mi cốt cao vẫn hơn vì dù sao nó cũng còn chút ít căng khí anh hùng không chịu xu viêm phụ nhiệt chảy theo với dòng nước dơ bẩn.

      Thô hậu ngu lỗ
      Tú huỳnh tuệ minh
Nghĩa là thô và dầy là ngu, thanh tú và sáng là thông tuệ.
  Lông mày rậm tối kỵ thô mà thiếu nét trông như một vệt mực đen lởm chởm tán loạn, khô cứng. Người mang loại lông mày này thuộc dân cướp trộm vừa ngu như heo, vừa dữ như hổ.
  Lông mày rậm phải có nét dáng lên xuống mềm mại đi đôi với đôi mắt lớn sáng rất tốt.
  Tú huỳnh là thanh tú và sáng rỡ, không vàng đục đen bóng sớm hiển đạt, rất thông minh.

      Đoản bất cập mục bần tiện
      Trường năng quá nhãn sủng vinh
  Lông mày là nghi biểu của bộ mặt, cần dài, chớ ngắn. Lông mày dài quá mắt, quá nửa là loại thông minh tài sĩ, phú quý, lợi đạt. Nếu ngắn không bằng bề dài của mặt thì nhu nhược ưa làm ác nên thường bị khốn ách.
  Tướng lý cổ nhân nói vậy. Tuy nhiên qua kinh nghiệm, tôi thấy không nên quyết đoán cứ hễ ngắn là bần tiện vài dài là sống vinh thành ra võ đoán.
  Thật ra những người ngắn không bằng mắt đa số tính hạnh cô độc là tiền vận từ ba mươi trở về trước, hoàn cảnh khách quan gặp nhiều trở ngại thiếu may mắn. Nếu mắt sáng tức là vận đi sau đó tốt sẽ vẫn hanh thông như thường, có điều không được toàn vẹn mà thôi. Ngoài ra, lông mày ngắn ngang ngang hướng thượng biểu hiện con người ưa phỉnh nịnh, bẩy thân hàng vàng mua lấy trận cười như khôn, hay đi vào chốn ăn chơi bài bạc giao du với bọn chó ngựa, nhất thời vinh hoa, chung vacuộc thất bại. Lông mày ngắn, hẹp thuộc loại hà tiện, biển lận, tiện chất, nô lệ cho tiền bạc, chuyên ăn bám, vô chí khí. Lông mày dài hơn mắt và thanh tú có nét thì đông anh em, chí khí cao xa, thông minh, thạo việc, dễ nổi tiếng nhất là về mặt văn học nghệ thuật, con đường quyền thế gặp may mắn. Lông mày dài quá mắt nhưng lởm chởm hỗn loạn thì lại vất vả đủ mọi bề.
     
      Vĩ tán tài tụ
      Đầu giao thân mệnh tảo khuynh.
 
   Lông mày về cuối cứ nhạt thưa dần, mọc không tụ vào một đường gọi là vĩ tán. Tính tình người này hào sảng, khảng khái, giàu nhiệt tâm, trọng đạo nghĩa. Khuyết điểm lớn nhất của tướng vĩ tán mi là dễ xung động cực đoan, làm việc gì ít suy nghĩ cho thật chính chắn, không biết lượng sức để thành cái họa "tài nhỏ chí lớn". Tinh thần cho sự nghiệp thừa thãi mà khả năng nhẫn nại hết sức thiếu.
   Trong đời chúng ta thường gặp những nhân vật nhất thời phong vận tới cuối cùng tịch mịch tiêu điều, đại đa số có tướng vĩ tán mi. Tài nan vụ y nói tiền bạc lúc có lúc không tức là sự nghiệp chìm nổi chẳng vững chắc
 
      Đầu mày giao hợp tại sao lại yểu?
   Bởi vì ấn đường thuộc mệnh cung.Lông mày xâm phạm ấn đường có nghĩa là hai hung tinh La Hầu và Kế Đô đem sát khí vào mệnh cung cho nên không thọ, khó lòng qua tuổi bốn mươi. Nếu mắt và trán xấu nữa, tuổi thọ càng rút đi hơn. Sách "Kim Tỏa Kinh" viết: "Mi giao phá ấn vô thọ cành vô lộc" (Đầu mày giao tiếp nhau chẳng những yểu mà còn kém cả đường y lộc). Kỷ Tín ngày xưa vì tướng liên mi mà chết tại trận. Trong trận Huỳnh Dương, Hạng Võ bao vây Lưu Bang, Kỷ Tín phải đóng giả Lưu Bang đem quân ra hàng cho Lưu Bang trốn thoát. Hạng Võ bị lừa tức giận phanh thây Kỷ Tín.
 
      Trung tâm trực đoạn huê tính thiểu
      Lưỡng đầu cao ngưỡng tráng khí hoành
   Lông mày đột nhiên bị đứt quãng giữa hoặc vì nó mọc như thế hoặc vì nó bị một vết răn trên mặt ngăn đôi, gọi là gián đoạn mi.
   Người có tướng mi gián đoạn tính tình ngay thẳng đến độ tàn nhẫn chỉ biết lý mà không xét tình, nhiều lý trí, thiếu tình cảm, lạnh nhạt, ít nói cười cho nên khắc cha mẹ, xa anh em, bạn bè kể cả vợ chồng. Trong cuộc sống, vận tốt chen lẫn vận xấu. Nếu như có vầng trán nở nang, sáng sủa sẽ thành một nhà khoa học gia thành công. Nếu như có mũi cao lớn, quyền cao rộng sẽ thành một đại tướng. Còn như trán hẹp, sắc mày vàng khô, mũi thấp hãm thì chỉ có cơ khổ bần hàn.
   Đầu lông mày, cuối lông mày tượng trưng cho chí khí của một người. Đầu lông mày cao khởi, đuôi lông mày hướng lên bộ vị thiên sương (giáp thái dương) hoặc chạy dài đến tóc mai đều là loại người mang chí lớn.
   Nói đầu mày cao khởi không có nghĩa là nó vểnh lên đâu vì chỉ có đuôi mày mới nên vểnh (phất thiên sương) còn đầu mày nên ngang bằng không nên chúc xuống thôi, nếu đầu mày cao quá thì lại thành ra loại tự cao tự đại, hỗn láo. Đuôi mày cũng thế, không nên vểnh quá mức như bay lên vì nếu bay lên thì nhiều kẻ thù.

Đăng nhập để trả lời
0
trang 96

trọng đến sắc tướng mà chỉ chú ý đến hình tướng. Tướng lý Đông phương có thêm sắc tướng.
"Nhân Luân Đại Thống Phú viết:
Phong long minh giá sinh tất tảo đạt
Tỉ bạc ám giả từ vô sở táng.
nghĩa là: Đầu trán mà nở nang, sáng sủa thành công sớm. Thấp mỏng hôn ám chết không có đất chôn.
Hình thể đầu trán sung thực, rộng rãi, cao ráo cùng với khí sắc minh nhuận lãng huy là người tài cao, chí cao, sức sống mạnh, làm việc hăng.
Hình thế đầu trán thấp, mỏng manh cùng với khí sắc ám hăm, kiển trệ là người thiếu ý chí lực, nhiều thói xấu và nguyên thần, bất túc.
Tảo đạt hay vô sở táng thiết tưởng tướng lý mà "Nhân Luân Thống Phú" đưa ra đâu có gì là hoang đường.

Tai và Miệng
Tai to mặt lớn, tai chuột mặt giới, đó là những tướng lý đã trở thành phương ngôn để nhận người.
Theo cổ nhân, tai nối liền với óc và thông với tâm thận. Thận khí tốt tai sáng, thận khí hư tai nghễnh ngãng.
Tướng sư Hứa Phụ nói:
Tai cao hơn mắt, hơn chân mày không bao giờ khổ. Tai nở, sáng và tròn có chức vị. Ái tai mọng đỏ, tai sáng và sạch phú quí trường cửu. Có lông tai dài thì thọ. Mắt có thể liếc nhìn thấy tai đại cát. Lỗ tai, cửa tai rộng rãi thông minh. Tai trắng hơn mặt đại phú. Vành trong vành ngoài tai phân minh bề thế, người nhân nghĩa, chính trực. Đứng trước mặt mà không trông thấy tai, tai dấu mặt giầu sang. Phong Văn Từ nói:
Tai nhọn như tai dơi, vênh ta phía trước, mỏng manh là tai trộm cấp bất nhân.
Tai cần tròn, đầy đặn và lớn, luân quách rõ rệt. Nếu không lớn thì phải đầy nghĩa là có thịt. Tai mỏng nhọn là tai xấu.
Nguyên tắc trên làm thành những câu phú đoán về tai kể sau đây:
Sắc như huỳnh ngọc, niên thiếu tác tam công. Màu sắc tai trắng như ngọc tuổi trẻ nổi tiếng quyền vị cao.
Đối diện bất kiến nhĩ, vấn thị thùy gia tử. Trông mặt không thấy tai, phải hỏi xem con nhà ai.
Điểm nhục thùy châu hồng nhuận tự nhiên chủ tài lộc hanh thông. Đầy đặn ôm sát lấy đầu, dái tai (thùy châu) mọng, Sắc hồng nhuận thì tài lộc tự nhiên kéo đến.
Hậu đại thùy kiên cực quí thiên quá bát thập phương hung. Dày lớn chảy xuống vai cực quý, tuổi thọ nhất định phải ngoài 80 tuổi (chảy xuống vai, lớn và đầy mà ta thường thấy ở tượng Phật).- Vô luân kiêm phản bạc gia phá nang không. Không có luân quách mỏng lộn ra ngoài thì nhà đồ túi rỗng.
Tiêm tiểu trực như tiến vũ an đác bất cô cùng. Nhọn nhỏ thẳng như đuôi tên làm sao không cơ khổ, bần cùng.
Mệnh môn nan nhập chỉ thọ nguyên đoản, thiểu ngu mộng. Lỗ tai nhỏ quá ngón tay vô không lọt, kém thọ. Lỗ tai nông, kém thông minh.
Sách "Thần Tướng Toàn Biên" nói về nhiều hình tai khác nhau:
Thổ nhĩ: Tai thuộc hành thổ, dầy chắc mập khí sắc hồng nhuận, phú quí, trường thọ.- Viên kỳ nhĩ: Tai tròn như quân cờ, dày đặn sáng đẹp, tay trắng làm nên.
Hổ nhĩ: Tai hổ nhỏ khuyết nhưng đứng trước mặt không thấy tai. Ưa mạo hiểm, hoạt động có thể thành công.
Kim nhĩ: Tai thuộc hành kim, nhỏ trắng hơn mặt. Nổi tiếng.
Tiến vũ nhĩ: Tai đuôi tên, nhọn đuôi, nhọn đầu không có dái tai cứng như gỗ hoặc mỏng như giấy. Phá tổ nghiệp, phiêu bạt giang hồ.
Mộc nhĩ: Tai loăn xoăn như cái mộc nhĩ ta vẫn nấu ăn, luân quách đảo ngược. Bần khổ.
Thủy nhĩ: Tai tròn, cao trên mắt, áp vào đầu, thùy châu thật lớn, sáng đẹp là đại trượng phu trên thế gian.
Hỏa nhĩ: Vị trí tai cao hơn chân mày, vành ngoài nhỏ, vành trong lộn ra ngoài dù có thùy châu vẫn là loại tai xấu tướng.
Chư nhĩ: Tai heo không có luân quách, dù thùy châu lớn, hậu vận tất bị hung tai.
Dê phản nhĩ: Tai mọc thấp, luân quách đảo lộn gọi là phản cô bần, có thể chết đường chết chợ.
Khai hoa nhĩ: Tai nở hoa, mỏng manh vô luân quách, phá gia nghiệp.
Phiến phong nhĩ: Tai quạt dương vểnh ra đằng trước, bần khổ vô cùng.
Thử nhĩ: Tai chuột mọc cao trên mắt, vểnh ra vô luân quách, ăn cắp, ăn trộm, ở tù.
Đăng nhập để trả lời
0
Lư nhĩ: Tai lừa to mà mỏng, bần khổ.
Miệng là cơ quan để ăn cơm, uống nước và nói năng, là cửa ngõ của con tim, lẽ thị phi ở miệng mà thành. Không nói vọng ngôn bậy bạ, cổ nhân gọi là khẩu đức, hay phỉ báng chửi rủa là khẩu tặc. Miệng vuông vắn có thành có bồ chủ quí, như vầng trăng treo chủ lộc, rộng đầy đặn chủ phú. Miệng lệch mỏng, bần hàn. Không nói là miệng động rung rung đói khổ. Hai bên mép xệ xuống như miệng cá phá bại.
Hứa phụ dạy về tướng miệng như sau:
Khẩu như vòng cung, vị đến tam công (Miệng như thoa son không sợ cơ hạn).
Miệng dầu chỉ ăn sau người, tâm tình như chó.
Miệng như túi buộc túm, chết đói.
Miệng thổi lửa, nghèo hèn.
Các sách Thùy Kính, Ma Y, Liễu Trang, Tướng Lý Hành Châu đưa ra nhiều hình miệng khác nhau.
Tứ tự khẩu: Miệng vuông chữ Tứ, đôi môi thăng bằng dầy dặn quang minh, góc miệng muốt lên, thông minh và đa tài, có danh phận.
Ngưỡng nguyệt khẩu: Miệng như vầng trăng treo, góc miệng đưa lên thật rõ, răng trắng, môi hồng, văn chương đầy bụng, thiên hạ biết tên.
Loan cung khẩu: Miệng như vòng cung, góc miệng nhếch lên, đôi môi dày đỏ, phú quí lâu dài.
Ngưu khẩu: Miệng trâu, đôi môi thật dầy quang minh hồng nhuận là tướng trọc trung đới thanh (trong đục có thanh) thì tâm linh sáng suốt, phú quí phúc thọ.
Long khẩu: Miệng lớn, đôi môi đầy đặn, hồng nhuận quang minh, hơi thở thơm tho, tiếng nói chư sấm, đại phú quí.
Hổ khẩu: Miệng hùm thật rộng có thể nuốt được nắm đấm. Tích ngọc đôi kim, vàng bạc đầy nhà.
Dương khẩu: Môi mỏng miệng nhọn, ăn uống hùng hục. Hung bần nghèo khổ dễ bị tai nạn.
Chư khẩu: Miệng heo môi trên dài và thô, môi dưới nhỏ, hai bên mép ưa chảy dãi. Tâm gian nham hiểm không sống quá năm mươi, phiêu bạt.
Suy hỏa khẩu: Miệng như thổi lửa, nhọn, cười và há được, ngậm miệng vẫn hở. Gian tham khổ sở.
Sô văn khẩu: Miệng có vệt dúm như người khóc dù có thọ cũng cô đơn, tứ cố vô thân.
Anh đào khẩu: Miệng trái anh đào, môi hồng, răng trắng và đều như hạt lựu, cười tươi, tính tình ôn nhã. Rất thông minh, có thể lên tới bạc nhất phẩm.
Hầu khẩu: Miệng khỉ, miệng dài, nhân trung dài và sâu. Phúc lộc nhiều.
Khanh ngư khẩu: Miệng cá ngão. Bần cùng.
Phúc thuyền khẩu: Miệng như cái thuyền lật úp, mép xệ xuống, môi dày thâm. Ăn mày.
Đi với miệng là răng, lưỡi và môi, cho nên phải xem tướng cả môi, răng và lưỡi.
Sách tướng nói môi là thành quách của miệng. Môi nên dày và có bờ môi, không nên mỏng và thiếu bờ (dan từ Hán gọi bờ là làng). Màu sắc hồng nhuận, quang minh mới tốt. Xanh sám thì bệnh tật hoặc tai họa, hôn ám và đen có thể bị hung từ. Bóng bẩy đỏ tham khoái lạc. Sắc trắng đẹp có vợ tài giỏi. Sắc vàng đỏ minh sinh quí tử. Môi dúm dó, chết yểu. Mỏng và yếu, tham lam. Môi trên mỏng, ngôn ngữ xảo trá. Môi dưới mỏng, bần tiện. Môi trên môi dưới đều dầy, người trung tin. Cả hai môi đều mỏng, hay nói láo. Môi trên to, môi dưới nhỏ hay ngược lại, môi dưới nhỏ, môi trên thót thì bần hàn, ăn cắp, ăn trộm.
Có những câu phú đoán về môi như sau:
Thần dược kê can chí lão bần hàn (Môi màu gan gà nghèo đến già).
Thần như thanh hắc ngã tử đồ bách (Môi màu xanh đen chết đói giữa đường).
Thần sắc quang hồng bất cầu tự phong (Môi sắc hồng sáng, khong cầu tiền cũng tới).
Thần sắc đạm hắc độc sát chỉ khách (Môi sắc đen nhờ nhờ, người rất độc ác).
Thần bình bất khởi cỏ ngã mắc tỉ (Môi không ụ lên, không có gờ, đói rách).
Thần khuyết nhi hẳm chủ nhân hạ tiện (Môi khuyết hăm, người hạ tiện).
Tinh hoa của xương cốt hiện vào bộ răng. đối với tướng pháp răng phải chặt, khít và thẳng. Nếu răng hở cong queo, xiêu vẹo, khô lộ và xấu. Cổ
nhân coi tướng răng ngoài những điểm kể trên còn xem răng nhiều hay ít. Tam Quốc truyện nói Tào Tháo có 38 cái răng là một bằng chứng.
Tam thập bát sỉ giả vương hầu
Tam thập lục sỉ giả khanh tướng.
Tam thập tứ sỉ giả cư phúc (phúc lớn).
Đăng nhập để trả lời
0
Ba mươi tám, ba mươi sáu, ba mươi tư là kể mọc trên hai hàm răng, mọc chỗ khác gọi là nghịch, sinh không kể.
Trắng như bạch ngọc, cao quí.
Đều như hạt lựu, phúc lộc.
Đen sám, đoản thọ.
Vàng khè, chuân chuyên.
Răng như răng cưa, tính thô bạo (trên rộng dưới nhọn được ăn thịt, trên nhọn dưới bằng chỉ ăn rau).
Răng trâu to rộng hàm khum, tự lập thân, tay trắng làm nên.
Nhỏ như răng chuột, yểu.
Lại có câu thơ về tướng răng:
Thần hồng sỉ bạch văn chương sĩ
Nhãn tú mỉ cao thị quí nhân
Tế tiểu đoản thô bần thà yếu
Đăng song phí lực uổng lao tần.
Nghĩa là: Môi hồng răng trắng sĩ từ văn chương
Mắt sáng mi cao đúng quí nhân
Răng nhỏ ngắn thô nghèo chết sớm
Uổng công đèn sách nhọc tinh thần.
Tướng lưỡi quí, ngay ngắn, cử động dễ dãi, sắc hồng.
Nếu nhỏ quá hay ngắn lưỡi quá, vất vả mà ngu,
Nhọn và nhỏ là tham lợi
Lưỡi dài có thể liếm được đầu mũi, đại quí.
Sắc lưỡi đen, bần tiện.
Đỏ chót như son, hoạnh tài.
Trắng bệch, khổ sở.
Có nốt ruồi ở trên đầu lưỡi, nói dối đại tài.
Chưa nói lưỡi đã thò, dối trá.
Vừa nói vừa liếm môi, con gái cực dâm.
Lưỡi ngắn, ngu muội.
Lưỡi cử động như lưỡi rắn, tâm độc ác.


Những nếp răn ở trên mặt
Nếp răn ở trên mặt sách tướng gọi là Văn tức là vằn vết. Nếu dùng chữ nếp răn người ta lầm với vết biểu hiện của sự già nua, cho nên ta dùng chữ văn cho hợp với tướng lý hơn. Những vằn ấy già trẻ đều có, tỉ dụ phép lệch văn, cái vết từ góc lỗ mũi vòng qua miệng xuống cằm hay những vết trên trán hình thù mỗi người một khác nhau.
Văn có văn ngang và văn dọc.
Văn ngang hay thấy ở trên trán, nếu chỉ có một vệt chạy dài không đứt đoạn, cổ nhân gọi là xuất nhân đầu địa rất tốt. Nếu có hai vết chạy dài không đứt đoạn, thiếu niên hơi lặn đận, sau này mỗi hay. Nếu ba vết chạy dài không đứt đoạn lại có một vết thẳng ở giữa trông như chữ Vương là văn vương thì cực quí. Nếu ba vết chạy dài không đứt đoạn là trí lực phát đạt, suy nghĩ chắc chắn không lông bông.
Nhiều vết không ngang đứt đoạn, bập bềnh như ta vẽ nước goi là thủy văn, dễ gần người quyền quí.
Nhiều vết dọc chạy trên má mỗi khi cử động bắp thịt má gọi là hỏa văn, dễ kiếm tiền.
Nhiều vết dọn dưới mắt như dòng nước chảy, không tót về đường con cái.
Có ba vết dọc nằm giữa trán như chữ Xuyên gọi bằng xuyên tự văn, nếu ấn đường cao, sắc đẹp, vết không đứt thì thiếu niên tảo đạt tác công khanh.
Có một vết dọc nằm giữa trán như cái kỉm treo gọi là huyền trâm văn, nhiều ưu phiền.
Có những vết chạy vào miệng (không có pháp lệnh), nghèo đói.
Trên mũi có vết chạy vòng như móc câu thì lòng dạ độc ác.
Nếp văn trên mặt xem cốt để bổ trợ chứ không phải là coi chủ yếu.
Quan trọng nhất là pháp lệnh, văn nhập khẩu, thứ đến thủy văn và hỏa văn, ngoài ra nên bỏ, nếu xét kỹ thì chỉ để hoàn thành mục đích tìm những phá cách mà tướng diện gây nghi hoặc.
Về các vết trên ấn đường như xuyên tự văn mà cổ nhân bảo rằng thiếu niên tảo đạt tác công khanh, tôi thấy sai vì nó mâu thuẫn với nguyên lý, ấn đường vô văn phá. Thục ra ấn đường phải sáng đẹp, nở nang nếu có xuyên tự văn làm sao nó sáng được.
Trong các sách tướng, các vết trên mặt không thấy ghi rõ của tướng sư danh tiếng nào cả. Ngờ rằng các tay giang hồ thuật sĩ bịa thêm cho tương học ngày càng khó khăn huyền bí chăng!
Các nhà xem tướng Trung Quốc, ngoài pháp lệnh văn nhập khẩu, còn rất sợ một loại văn khác là vết rắn đi hiện trên trán (Sà hành văn tại ngách thượng) nó là một loại văn nắm một mình ngang trên trán không
Đăng nhập để trả lời
0
Phạm vào tướng ngũ trọc thì thân thể khôi vĩ, quần áo chỉnh tề để làm gì?
Hỏi: Tướng ngũ trọc hiện lên thế nào?
Đáp: Tóc mọc thấp lấp trán, lông mày để vào mắt, hai mắt đục mờ, hai tai cửa nhỏ, ấn đường bó hẹp, miệng nhỏ môi trắng, tóc rậm da sáp, mặt không thành quách.
Hỏi: Người kia khá thông mẫn, tại sao đọc sách bất thành, mưu lợi chẳng được?
Đáp: Mắt sáng, ngươi linh hoạt là người thông mẫn nhưng trán như quả trứng gà, tìm đâu ra danh. Cằm lẹm, mũi như mỏ vẹt, lấy đâu ra lợi. Tiếng nói như thanh la vỡ suốt đời chạy ngược chạy xuôi.
Hỏi: Tướng đoản mệnh và trường mệnh ra sao?
Đáp: Người tướng thọ bao giờ tinh thần cũng tàng tụ, có phong thái như cây tùng, cây bách cho nên sống lâu mà không sợ sương tuyết. Người đoản mệnh thì tinh thần tán, lộ mảnh mai như hoa như liễu dễ gẫy không chịu được tuyết sương. Đại ý như thế, còn phải coi tướng bộ vị nữa.
Hỏi: Tiên sinh từng đoán người kia trước nghèo sau giầu. Nay tôi thấy đúng. Vậy tiên sinh căn cứ vào đâu?
Đáp: Tướng pháp nói rằng" ăn nói lưu lợi không bao giờ bị nguy khốn". Người ấy đầu mũi nở nang, địa các (cằm hàm) lớn rộng đầy đặn, tâm thuật chính trực, mắt trông tỏ tường, tai nghe tỏ tường, tâm hiểu tỏ tường. Chỉ vì bộ vị thượng đỉnh khí sắc còn hãm phải đợi hành vận ngoài bốn mươi sang vận mũi thì phát.
Hỏi: Người kia tướng mạo đầy phúc trạch, tính tình lại ôn tĩnh, lẽ ra thọ mới phải, tại sao lại yểu tán?
Đáp: Người ấy đành rằng tướng phong mãn phúc trạch nhưng tính tình ôn tĩnh không phải là chân tĩnh mà là vô thần, tướng pháp nói:"ngồi lặng đi như thế gian này chẳng còn ai nhất định chết sớm".
Hỏi: Tiên sinh nói người kia hay bị ghét bỏ, tại sao?
Đáp: Tại môi không che được răng, thái độ lại bất hòa nên dễ chiêu hiền.
Hỏi: Bọn nha môn công sai chốn phủ đường có thành tướng hay không?
Đáp: Có chứ. Phần lớn cổ dài, tay thoa thường là công thức bàn giấy. Tiếng lớn quyền nhọn, tay chân các ông lớn. Lưỡng quyền ủng thũng, mặt vênh, ngực gồ, ưa quát tháo, lấy râu làm uy là bọn vệ sĩ.
Hỏi: Tiên sinh bảo người kia lúc về già tất phá bại, nay quả đúng thế. Tại sao?
Đáp: Phàm những ai bộ phận trung đỉnh dài, mũi nở nang cao, lưng dầy, mắt có thần nhưng lúc đi đầu đâm đằng trước, gót chân không đặt xuống đất, thế nào về già cũng bán hết ruộng vườn.
Hỏi: Người kia mắt tai miệng mũi đoan chính, ai cũng nói về sau sẽ phát đạt vượng tử, tiên sinh đoán là cô bần, nay quả nhiên, xin tiên sinh cho biết tại sao?
Đáp: Hình tốt mà tinh thần khuyết, lệ đường thâm hăm, bước đi lệch lạc cho nên cô bần.
Hỏi: Người kia có 6 con trai, tiên sinh lại đoán lúc chết không ai chống gậy. Tại sao?
Đáp: Vì nam nữ cung sâu hãm, miệng thổi lửa, luôn luôn mắt ướt lệ về già cô độc.
Hỏi: Người kia tướng mạo hổ hình toàn, lẽ ra phải là cự phú hưởng phúc lâu dài, tại sao lại suốt đời long đong?
Đáp: Sách tướng có dạy "thượng đoản hạ trường hề nhất sinh tung tích phiêu bồng". Bởi vì chân dài hơn thân mà ra vậy.
Hỏi: Bọn tu hành, tăng lữ có phân phú quí, bần tiện hay không?
Đáp: Sao lại không? Dù trong tăng đạo đi nữa cũng vẫn có phú quí, bần tiện. Sư mà mắt trong sáng, đầu tròn, tai cao, mũi nở tất người đời trọng vọng, của thập dư ăn dư dùng.
Hỏi: Ở trông tiệm kia có kẻ tướng mạo khôi vĩ, tay dầy, mắt sáng thế mà vẫn phải đi làm cho người. tại sao?
Đáp: Tại mũi nhỏ, trán lệch, không có móng tay hoặc tay cụt ngủn, tai mọc thấp, thần khí đoản.
Hỏi: Lưng mỏng, vai so có phải là tướng nghèo hay không?
Đáp: Tướng ngheo rất nhiều chanwngr cứ lưng mỏng vai so. Nhưng tướng nghèo mạt trông như con gà đứng trong mưa.
Hỏi: Tôi nghe nói tướng pháp dạy: mi thanh mục tú là tướng đại quí, lưng đầy đi như ngỗng là tướng giầu. Nhưng tôi lại thường thấy trong đám hạ lưu không ít người mi thanh mục tú. Tại sao?
Đáp: Mi thanh mục tú còn phải đi đôi với thần uy bộ vị tương xứng. Nếu mi thanh mục tú mà thái độ nịnh bợ, hay nũng nịu thì chỉ là kẻ có đôi chút thông minh nhưng hạ tiện.
Hỏi: Bọn trộm cướp thường có hổ hình tướng, trong khi theo tướng pháp, hổ hình tướng là tướng cực quí. Tại sao?
Đáp: Hổ hình tướng cũng có nhiều loại. Kháo sơn hổ tọa sơn hổ, xuyên sơn hổ, xuất sơn hổ và thất sơn hổ. Trộm cướp thuộc loại thất sơn hổ ví như con hổ bị lùa khỏi núi.
Hỏi: Hổ hình tướng phân ra nhiều loại. Vậy phương hình, long hình, hạc hình cũng vậy ư?
Đáp: Phải, mắt phượng có ba loại: mắt đan phượng, mắt phượng ngủ, mắt phượng hot, đều chủ quí. Duy mắt phượng ngủ thường là võ tướng xuất thân sau khi biến ra chức. Hình long có ba loại: phi long, du long và khốn long. khốn long bao giò cũng phát đạt rất muộn. Hình hạt cũng có ba loại: hạc đậu, hạt bay và hạt đi. Chỉ có tướng hạt đi mới là đại phú quí.
Đăng nhập để trả lời
0
LUẬN VỀ HÌNH CỤC NGŨ HÀNH
Xem tướng đến bậc cao là xem hình cục ngũ hành và khí sắc. Hình cục ngũ hành là gì?
Con người ta sinh ra chịu ảnh hưởng của ngũ hành chi khi để thành hình cục, thành khí sắc, thành bộ vị.
Ngũ hành là: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ nghĩa là năm yếu tố căn bản của thiên nhiên.
Tướng được toàn hình cục ngũ hành hoặc theo lý sinh của ngũ hành là cực quí. Nếu khắc thì nguy hại.
Lý sinh của ngũ hành là: kim sinh thủy, thủy sinh mộc, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim.
Khắc là: kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim.
Người hình kim thì vuông chắc, da dẻ trắng, xương lớn thịt đầy (nếu xương nhỏ thịt nhiều, ngồi càng lâu càng nặng, tiếng nói vang vang) là kim cục toàn.
Người hình mộc thân thể chân tay đều dài, xương lớn, thịt vừa phải không cần đầy. Đi đứng thẳng thắn, sắc khí thanh tú. Gầy gò nhưng cân vẵn nặng. Nếu lưng quá mỏng là hỏng. Mộc hình phải khoẻ thì mới mong làm cột trụ. Tinh thần sảng trực, da dẻ xanh hay đen là một cục toàn. Người thủy hình thân thể tròn nặng, mập chắc, lưng ụ lên, bụng xệ, đi rất nhanh như nước trên cao chảy xuống, da dẻ đen hay trắng là thủy cục toàn. Người hỏa hình da ngăm ngăm nhiều sắc đỏ, động tĩnh bất thường, ngồi lâu không mệt, xương cốt như có ngọn vút lên trên, dưới lớn trên nhỏ là hỏa cục toàn. Người thổ hình thân thể mập mạp, đôn hậu, da dẻ hồng pha vàng tính tình điềm đạm, xương lớn thịt đầy là thổ cục toàn.
Được toàn cục tướng thì đại phú, đại quí.
Có bài thơ cho dễ nhớ (bài này trích từ sách "Tướng Lý Hành Chân").
Mộc sưu, kim phương thủy chủ phì
Thổ hình thân hậu bối như qui
Thượng tiêm hạ khoát danh vi hỏa
Ngũ danh nhân hình tử tế suy
nghĩa là:
Mộc gầy kim vuông thủy mập phì
Thổ hình đầy đặn lưng linh qui (con rùa)
Dưới rộng trên nhọn là hình hỏa
Năm vẻ nhân hình cứ thế (mà) suy
Hình cục ngũ hành tối kị:
Kim mộc đi đôi.
Thủy hỏa đi đôi.
Luận hình cục cứ chọn theo số nhiều.
Gầy là mộc.
Vuông vắn là kim.
Mập mập là thủy.
Nhọn là hỏa.
Dầy chắc là thổ.
Nên tương sinh đừng tương khắc.
Kim hình được kim cục gặp thổ hay vì thổ kim sinh.
Thổ hình được thổ cục gặp hỏa tốt vì hỏa sinh thổ.
Người hình kim mà da đỏ hồng thì tiền bạc hư hao như hỏa đốt kim (hỏa khắc kim).
Người hình mộc mà da trắng bạch thì tiền bạc tiêu ra như nước, như dao chém gỗ (kim khắc mộc).
Hình cục ngũ hành nếu toàn mới đại phú, đại quí nếu pha dù tương sinh cũng kém đi.
Sách "Thần Tướng Toàn Biên" có thơ rằng:
Tú Lệ vỉ kim cốt hựu thanh
Tị cao phong khởi quán thiên đình
Ngữ ngôn ưởng lượng như chung cổ
Tự thi triều trung hữu đại danh.
nghĩa là: Dáng người thanh tú trắng trẻo, xương cốt thanh nhã là hình kim. Mũi cao âm thanh ưởng lượng như chuông đồng thì tất phải có đại danh nơi triều đường.
Quảng trường vi mộc nhược lan can
Hình tự thanh tùng nại tuế hàn
Phương tiện sở vi tâm tính hoãn
Tự nhiên lân vật tác thanh quan
nghĩa là: Người dài vai rộng sẽ như khối ngọc là hình mộc. thân giống như cây tùng chịu dược gió lạnh. Tâm tính hiền hòa, nhưng tinh thần sáng suốt. Thương người tất là một vị cao quan thanh liêm.
Thủy thể năng phương diện hựu viên
Cốt thanh thần tú ỷ đa ban
Vị nhân tự thị tâm nan trắc
Chung thị minh kha nhất phẩm quan
nghĩa là: Người dày dạn chắc chắn mặt lại tròn là thủy hình. Xương cốt thanh, tinh thần sáng, dạ mưu trí. Có thể làm quan bạc nhất phẩm.
Cốt nhục cao đê diện bất bình
Hỏa hình kiêm sưu khí tu thanh
Hữu quyền mãnh liệt đa năng đoán
Kiếu tiết phong hầu trực thủ thành
nghĩa là: Xương cốt da thịt nôi cao hướng thượng là hỏa hình. Người thường gầy, thần khí thanh sáng. Quyền vào trong tay hành động như sấm sét, quyết đoán nhanh. Rất trung trực và kiên trì.
Đôn hậu kiêm thanh, tú hưu phong
Hổ mi, qui bối hạnh như hùng
Bình sinh tự thị đa hào phú
Vị ứng trung ương bất khả cùng.
nghĩa là: Người to lớn, mập mạp nhưng trông vẫn thanh tú. Xương mày gồ cao, lưng to chắc cổ bự như cổ gấu. Mũi thổ tĩnh ở trung ương thật to là hình thổ, đại phú.


KHÍ SẮC
Khí sắc là chỗ tế vị của tướng pháp. Xem bộ vị là xem toàn bộ mệnh số.
Hơn nữa, khí sắc chính là sức sống của bộ vị, nếu mũi cao mà không có sắc tốt thì bộ vệ cũng chẳng đáng kể, ví như cái cây lớn nhưng bên trong đã hết nhựa rồi. Xem khí sắc chính là xem sức sống của con người vậy.
Sách "Thủy Kinh Tướng Pháp" nói:
Đăng nhập để trả lời
0
Vàng lúc đến như tằm nhả tơ, ong ong như mầu tơ kén, lúc đi nhợt như hạt kê bóc vỏ.
Đỏ lúc đến như lửa cháy, lúc đi nhạt như cánh sen.
Trắng lúc đến như mỡ đông, lúc đi như mỡ gạo.
Đen lúc đến như quết vệt than, lúc đi cáu bẩn.
Trên đây là lối nói của cổ nhân, sự thật mặt con người ta chẳng có ai lại vàng như tơ tằm hoặc xanh như rỉ đồng. cổ nhân, nhất là người Trung Quốc vẫn hay quá hỏa. Vậy ta chỉ chấp nhận rằng sắc có ẩn hiện, đậm nhạt, đi và đến thế thôi. Chớ có lệ cổ. Vàng tơ tầm không phải đúng in như tơ tằm.
Sắc có hình thù hay không?
Sắc có hình thù hoặc lớn như hạt gạo, hạt đậu hoặc như những sợi tơ, hoặc một miếng vuông như con dấu hoặc tròn như hạt ngọc hoặc như đám mây.
Nổi lên trên da gọi là sắc.
Nằm ở dưới da gọi là khí.
Sáng hẳn lên thanh sáng hoặc nổi lên hoạc chìm xuống hoặc tản mạn hoặc hỗn loạn.
Càng rõ rệt bao nhiêu vận càng nhanh bấy nhiêu.
Thần là gốc, khí là thân, sắc là cành lá.
Tuy phân ra làm ba nhưng vẫn chính là một thể, cho nên người có tinh thần vững chãi, không bao giờ khí lại táo cấp và sắc lại vội vàng.
Hữu thần tất hữu khí, hữu khí tất hữu sắc.
Cả ba nối buộc chặt chẽ với nhau là tốt.
Nếu chỉ có thần mà vô khí sắc, thần bị chèn ép gọi là thần thảm.
Nếu chỉ có khí mà vô sắc vô thần, khí không có chỗ phát động gọi là khí trệ.
Nếu sắc mà không liên hệ với thần khí là loạn sắc.
Thần huyết hãm hay sung thực nhìn ở đôi mắt.
Khí huyết hãm hay sung thực xem ở cái mũi.
Sắc khuyết hãm hay sung thực trông ở đôi môi.
Cho nên xem tướng dù người kia khí sắc tố thế nào chăng nữa trươc khi luận đoán phải trở lại vấn đề thần.
Dù sắc tốt thế nào chăng nữa, trước khi luận đoán phải trở lại vấn đề khí.
Dù sắc tốt thế nào chăng nữa, trước khi luận đoán phải xét lại đôi môi.
Trở lại gốc cốt để xem triệu chứng tốt ấy có lâu bền hay không? hoặc xem triệu chứng xấu có nặng không? Khi nào thấy thần bại, khí tán là hết thuốc chữa.
Đăng nhập để trả lời
0
Tứ thời khí sắc là nói toàn bộ do mặt chứ không phải nói một vết một vầng hiện lên bộ vị. Nếu mùa thu mặt trắng rất tốt, nhưng nếu chỉ có vết trắng trên mũi vẫn phải theo luật khí sắc mà đoán. Có điều vệt trắng trên mũi vào mùa thu vì hợp với thời tiết nên bớt xấu. Xanh đỏ đen cũng cứ như thế mà đoán.
Thế nào là lưu niên vận khí?
Vận khí là khí sắc hiện lên trên mặt. Đời người quí tiện tuy thuộc cách cục nhưng nhất thời cát hung thì thuộc khí sắc. Phàm diện bộ khí trệ sắc ám, dù cho tướng cách hay cũng vẫn cùng khốn. Nếu khí sắc sáng đẹp, dù cho tướng cách có dở cũng vẫn thông lọt.
Xem khí sắc lưu niên trên mặt để đoán biết thời vận trong một năm.
Vàng, hồng chủ cát (tốt lành).
Xanh, trắng, đỏ, đen chủ hung.
Nhưng nếu dầy kinh nghiệm và xem tướng đạt đến bực cao thì sẽ hiểu khí sắc có thể biến ra hung hoặc biến thành cát.
Lưu niên kể từ một tuổi đến 100 tuổi. Tỉ dụ 1 tuổi đến 5 tuổi, xem ở thiên luân (vành tai). Từ 40 đến 45 tuổi, xem ở thiên căn và sống mũi. (Về lưu niên bộ vị xin xem tướng trong hình vẽ).
Vận khí cực thịnh thì ấn đường, thái dương, đầu mũi đều ứng ánh vàng hồng, râu ria mượt bóng, tóc nhuận sáng. Cầu quan cầu lợi, việc nào cũng như ý.
Nhưng nếu lưu niên bộ vị chủ chốt lại có khí sắc xấu thì những ánh vàng hồng kia tốt giảm đi quá nửa.
Khi nào vận khí thoái thì khí sắc chỗ khô, chỗ nhuận không đều, sáng không ra sáng, ám không ra ám, địa các thì sắc trắng, đầu mũi lại vàng hồng. Chỉ nên giữ gìn địa vị đã có, chớ vọng động.
Vận khí lâu bền thì tai, lưỡng quyền, ấn đường suốt năm sáng rỡ không ám hãm, lòng bàn tay đỏ hồng. mắt có thể kém tươi sắc, nhưng khí vẫn bằng bằng. Mọi việc vẫn phát đạt.
Tụ sắc là sắc tốt nhất. Tụ sắc là sắc có khí mạnh làm cho sắc trở nên sống động, sắc mà vô khí là sắc chết. Tụ sắc trông nó phơn phớt ong ong, mâng mâng từ dưới da đùn lên, phơn phơn vàng non, tầng tầng hồng nhạt, nhẹ ? xanh xanh.
Sắc ám trệ nhưng đôi mắt vẫn tinh anh, trong sáng tức là mắt có thủ thần, sắc mặt xanh u ám nhưng đầu mũi vẫn ong ong màu vàng, mặt đỏ nhưng dưới da có sắc vàng. Vận đang bỉ nhưng sắp bước qua vận tốt.
Diện sắc tốt nhưng hai mắt mờ đục, mật hồng hào nhưng chốc chốc lại đỏ hoặc đen sạm, mặt ong ong vàng nhưng chốc chốc lại xơ xác tiêu khô, cứ một hai ngày lại biến mầu, mọi việc đều bất lợi.
Xem người già, xem huyết khí, không xem bộ vị, nếu da dẻ nhuận mịn màng, tóc râu óng mượt còn thọ, tiêu khô hết thọ.
Xem thanh niên lấy đầu mũi làm chuẩn, thấy hiện khí sắc vàng hồng là vận tốt. Ít hay nhiều tùy sự phối hợp với bộ vị.
Xem khí sắc muốn cho thật chuẩn xác thì phải xem buổi sáng lúc con người chưa ăn uống gì vì ăn rồi có thể làm sắc loạn.
THÊM MỘT CÂU CHUYỆN VỀ KHÍ SẮC
Thuật xem tướng như chúng ta đã biết chia làm hai bộ môn: hình tượng và khí sắc.
Xem tướng khí sắc khó gấp bội hình tượng.
Hiện nay rất ít người đạt đến mức "thiện quan khí sắc". Có chăng thì chỉ mới xem được sắc, chứ quan khí chưa chắc đã có.
Tượng dễ nhận hơn hình. Hình dễ nhận hơn sắc. Sắc dễ nhận hơn khí.
nói về phép Vọng Khí đời Xuân Thu Chiến Quốc chỉ có hai người là Thúc ?? quan nội sử Chu triều và Cô Bố Tử Khanh, làm quan đại phu nước Tấn.
?? Giản Tử nắm đại quyền ở Tấn, một ngày Cô Bố Tử Khanh gặp Giản Tử để xem con cái Giản Tử sau này có nối được sự nghiệp cha ông hay không? Giản Tử lúc này quyền còn hơn cả vua nữa, nên có dã tâm muốn cướp ?.
Các con Giản Tử đứa nào cũng được Cô Bố lần lượt ngăm nghía nhưng đều ?? chê chẳng có đứa nào đáng bậc tướng quân đả thiên hạ.
Giản Tử hỏi:
Nếu thế họ Triệu tôi hết thời rồi sao?
Cô Bố nói:
Lúc vào đây, tôi thoáng trông thấy một đứa nhỏ tướng cách vượt hẳn ? đứa này.
Cô Bố tả hình dáng. Giản Tử cho gọi vào thì ra đứa bé ấy là con riêng của Giản Tử là Vô Tuất, do một tì nữ hạ tiện sinh đẻ cho nên Giản Tử không xem Vô Tuất vào hàng công tử.
Cô Bố xem tướng cho nó xong nói:
Tôi chỉ thấy nó đáng bậc tướng quân thôi.
Triệu Giản Tử bảo:
Mẹ nó là con tiện tì mà nó cũng có quí tướng sao?
Cô Bố đáp:
Đăng nhập để trả lời
0
Đánh máy: đoangiangyen

tác cho Hồng Hồng. Văn chương tiến sỹ hợp với giọng ca thiên phú biến Hồng Hồng thành một tác phẩm tuyệt vời.
Thấy bao nhiêu vương tôn công tử và kẻ quyền thế say đắm mình Hồng Hồng lo sợ vì nàng chỉ yêu Vi Thanh nên ngàn đánh bạo ngỏ ý muốn làm vợ Vi Thanh
Vi Thanh tiếc cái tài của Hồng Hồng nên muốn nàng cứ sống cho âm nhạc thêm vài năm nữa rồi lấy nhau cũng chẳng muộn.
Ngờ đâu danh tiếng Hồng Hồng lọt vào tai Bảo Lịch hoàng đế, ông vua mới kế vị rất trẻ tuổi, cũng rất mê sắc đẹp, tiếng ca.
Bảo Lịch hoàng đế gặp mặt Hồng Hồng mê ngay nên cho lệnh đưa nàng vào cung, phong cho nàng chức Khúc Nương (người trông coi ca khúc) nàng chẳng hy vọng bao giờ về với Vi Thanh nữa. Thời gian trôi đi buồn thảm, tấm lòng tương tư của Hồng Hồng với Vi Thanh khiến nàng héo hắt thành bệnh.
Vua cho uống thuốc, nàng lén đổ đi. Để rồi đến một bữa xuân yến, Hồng Hồng gục xuống chết đi khi bài ca mới được nửa chừng, kết thúc một kiếp hồng nhan bạc mệnh.
NỮ MỆNH, NỮ TƯỚNG, TỐI KỴ ĐỚI ĐÀO HOA
Theo lời kể của nhà tướng số danh tiếng Nghiên Nông cư sĩ thì hơn 30 năm tại Trung Quốc, ông đã xem không biết bao nhiêu tướng số của phụ nữ thì ông nhận thấy rằng lá số nào mà co dính dấp đến đào hoa thì không tốt, sớm hay muộn rồi cũng gặp những điều bất hạnh. Ông khẳng định lới nói của cố nhân: nữ nhân tối kỵ đới đào hoa là một trăm phần trăm chính xác.
Những phụ nữ dâm đãng, đám ca nhi, bọn con gái của vũ trường những bà thiếp hầu bị bỏ rơi, hoặc những giai nhân danh tiếng vì sự phiền não của tình duyên mà tự sát hoặc bị giết hoặc bị hủy hoại thân thể, nhan sắc. Hết thảy trên lá số hay trên tướng mạo đều có đào hoa sát, hồng diêm sát.
Cách đây 40 năm, tại một xóm yêu hoa ở Quảng Châu có nàng Kim Kiều mà ở Trung Quốc chẳng ai không biết tiếng và bây giờ những công tử ấy có tới 90 phần trăm đã từng viếng một của ngàn ở Quảng Châu.
Kim Kiều thật xứng đáng là một đóa hoa tuyệt sắc. Người nào cũng chỉ nhớ hai chữ Kim Kiều mà chẳng cấn biết tên họ thật của nàng thế nào. Nàng có đôi mi cong vút, mắt đẹp và đa tình, má đào, da trắng. Tuy là kỹ nữ nhưng tướng mạo ngay ngắn, diễm lệ, chỉ có một điều ai trông thấy nàng cũng mê vì có đào hoa diện.
Đã biết bao đại quan quý nhân và vương tôn công tử đã bị nàng làm cho điên đảo, chỉ nguyện một điều là được làm thần dân dưới bóng hồng quần.
Họ ném tiền qua phòng nàng như rác. Tối tối yến tiệc và sênh ca thâu đêm suốt sáng.
Nhưng ai ngờ một đêm kia hỏa hoạn xảy ra. Kim Kiều không chạy thoát, chết trong đống lửa với tất cả tiền bạc, tư trang nàng dành dụm.
…………. Nàng chết lan truyền khắp Trung Hoa, các người yêu của nàng từ bốn phương đều đổ về Quảng Châu. Người ta bới trong đống lửa nắm xương tàn của Kim Kiều mang chôn và xây cất cho nàng một ngôi mộ tráng lệ. Cổng vào mộ có đôi câu đối đề:
Bôi thổ hương hồn, vân sự sai đồng Tô Tiểu mộ
Nhất chiên tàn chiếu, thanh du bất giảm hương tà.
Sau đó còn có người sáng tác kịch và bài ca về nàng, tỉ dụ như vở Tế Kim Kiều (cũng giống như sự tích Mồ cô Phượng bên ta vậy).
Ắt là hoa thảo chi mộc, sinh vào mùa đông giá buốt mà trong tứ trụ lại vây bọc nhiều kim khắc cho nên thân thế phải phiêu linh lưu thủy lạc hoa (nước chảy hoa trôi)
Tài bạch tinh quá lộ gặp kiếp bởi vậy y lộc chẳng qua như áng mây bay. Quan tinh là phu quân lại không thấy hiền tất là phải chịu phòng không.
Tứ trụ trùng điệp quý nhân, quý nhân vây bọc số đàn bà là số làm điếm, đây cũng là một cách đới đào hoa.
Cuối cùng là sát trọng thân khinh, chết thảm vì vậy.
Cái lý đào hoa trên là số như vậy,
Còn đào hoa tướng thế nào?
Đào hoa thực ra là một cái tên mà cổ nhân mượn đào để làm nghĩa tượng trưng cho cái gì thuộc về tình duyên.
Về số lý đào hoa có tốt, có xấu nhưng chỉ tốt cho số đàn ông thôi, đàn ông vận đào hoa thường đi đôi với tài vận, còn đàn bà, cả số lẫn tướng mà có đào hoa đều không hay hay vì tính chất của đào hoa là hữu sắc nhi vô hương. Riêng phần lý, ta hãy lấy hai câu trong Cung Oán nâm khúc:
Áng đào kiểm đâm bông não chúng
Khóe thu ba rợn sóng khuynh thành.
Áng đào kiểm là chỉ đào hoa diện.
Khóe thu ba là chỉ đào hoa nhãn.
Cổ nhân dùn hình tượng hoa đào để nói vẻ đẹp lồ lộ dễ lôi cuốn người khác phái.
Đi vào tướng lý hoa đào là cái đẹp chứa chất nhiều phong lưu mị thái khiến cho người mới gặp lần đầu đã vui thích thèm muốn nhất kiến khả hi.
Nói thế chắc có người cãi lại, gặp gái nào ai chả muốn ôm cứ gì phải đào hoa diện với đào hoa nhãn.
Lý luận trên thiếu suy xét về tường lý nên có phần nông cạn. Chẳng phải tìm đâu xa. Chúng ta hãy đem so sách Marilyn Monroe cùng Deborah Kerr thì Marilyn trông nhiều phong lưu mị thái hơn, nhễ nhại hơn và Deborah đoan trang hơn.
Trong đời, người ta thường ômg ấu Marilyn chứ không Deborah.
Hãy so sách Brigitte Bardot và cô đào Hussey đóng vai Juliette trong Roméo et Juiliette thì Brigitte khả hỷ còn Hussey lại khả ái. Với Brigitte người ta cần xem nàng cởi chuồng còn với Hussey người ta không ai nghĩ tới đòi hỏi điều ấy.
Nếu lại đem Bigitte Bardot so với Marilyn Monroe thì Bigitte tự nhiên thanh khiết hơn, mắt, dáng người, điệu bộ của Bigitte không thể dĩ thỏa hơn Marilyn Monroe.
Tướng đới hoa đào tuyệt nhiên không mang nghĩa ti tiện hay dâm tiện.
Ti tiện hay không còn phải tùy nhưng bộ vị khác phối hợp.
Sách “Nhân luận đại thống” có câu:
-Kiểm bạc xích nhi tiểu tiết.
Kiểm là mí mắt mỏng có ánh hồng hồng, số gái đào hoa. Cũng theo số lý mà phân ra: đào hoa sát, đào hoa kiếp và đào hoa diện.
Đào hoa sát là mí mắt ấy đi đôi với mắt có hung quang lồ lộ có thể bị đâm chém vì tình duyện hoặc tự sát vì tình.
Đào hoa kiếp là mí mắt ấy đi đôi với mắt thật buồn có thể bị lênh đênh chìm nổi hoặc ô danh vì tình.
Đào hoa diện là mí mắt ấy đi đôi với mắt vui tươi, hoạt bạt thuộc loại đàn bà thiểu tiết không giữ gìn, không coi tình yêu là thiêng liêng.
Cũng nên cần phân biệt điều này:
Tướng đới đào hoa khác với vận đào hoa.
Vận đào hoa cho con trai cũng như cho con gái là quãng thời gian kết tóc với người trăm năm. Người đàn bà có tướng tốt thì khi gặp vận đào hoa mới hay. Người đàn bà có tướng đới đào hoa mà gặp vận đào hoa là lúc bắt đầu cuộc đời sóng gió.
Tướng cách phụ nữ với vận đới đào hoa tốt xấu ra sao?
Tướng học gia Nhật Bản Điền Khẩu Nhị Châu có những nhận xét sau đây:
- Đàn bà thuộc loại đa huyết thì đôi má ửng hồng tròn trịa, đầu lớn, mắt và lỗ mũi nở nang, cổ đầy, thân thể mập, thuy châu mọng, da thịt đầy đặn mịn màng. Có điềm đáng chú ý là phần trên thân nẩy nở hơn phần dưới. Vì huyết dịch lưu lên trên nên thường nhức đầu hoa mắt hay đỏ mặt. Ngoại quan như vậy là người…………….
Người này thuộc loại gái bà nghĩa là tuy con gái nhưng đã nếm đủ tình yêu xác thịt.
Đàn bà nõn nà bụ bẫm, mình chắm thật đầy, má trắng ngần, thân thể nhu nhuyên nghĩa là có một lớp mỡ dầy dưới da, khiến cho thịt sáng sủa, mịn màng, tính tình nũng nịu dễ khiến cho đàn ông mê mệt. Loại này, ái tình phi thương nồng hậu.
Đàn gàn gân cốt gầy, mặt thâm, chân tay dài da ngâm đen, xương lộ thì ý chí mạnh hơn tình dục, nhiều nhẫn nại.
Loại này thường làm việc giỏi, tháo vát nhưng ít đem lại vui thú cho tình yêu.
Nữ nhân thuộc thần hình chất thì mặt trên nở, dưới họp, trán rộng, cằm thuôn, da trắng xanh, thân thể mảnh dẻ, cảm tính rất nhạy.
Loại này rất lý tưởng, rất say đắm, có thể là người băng giá (frigide) sống với ảo tưởng hay lý tưởng tôn giáo hay ngược lị rất bỏng cháy với lửa tình. Nếu có thêm đôi môi dầy đỏ hồng thì đa tình vô tả, dầy quá độ thì biến thành hoang dâm.
Về đôi môi càng mỏng càng bạc tình. Môi mà thiếu sắc hồng nhuận có màu xanh hoặc trắng thì tính tình dễ biến đổi.
Cô tướng trên đây thường khiến cho hạnh phúc gia đình trở nên tiêu điều, nếu không bị khốn quẫn vì tiền bạc.
Môi mỏng ưa uốn éo dẻo như kẹo cùng đi với cái miệng lớn thì ngồi lê mách lẻo. Tướng môi miệng không được quá khổ, to quá hay nhỏ quá đều là tướng xấu.
Miệng quá nhỏ thường là hạ tiện vô lời. Cái 9dáng tiêu không tiêu, cái không đáng tiêu thì phung phí. Cai quản tiền bạc rất dở. Miệng quá lớn dễ thành phóng đãng.
Đàn bà dẫu mỏ tham cả tình lẫn tiền
Môi loe ra không chụm lại được sẽ trụy lạc phong trần.
Trán con gái đầy đặn bàng bận nở nang, chân tóc thanh sáng, con gái dễ được kính yêu, có hy vọng một vận đào hoa rất đẹp, nhưng trán quá khổ, vừa cao vừa rộng là người tướng quản phụ. Trán ngắn và hẹp tóc xâm lấn vào trán dễ bị con trai dùng lời đường mật lửa dối. Hai bên góc trán sáng sửa, lấy chồng sang hiền. Trán con gái có tỳ vết hoặc nốt ruồi thượng gặp nghiệt duyên.
Dung nhan thanh tú có đào hoa vận tốt.
Dung nhan đầy vẻ cô tịch, con gái duyên chậm, có lấy chồng rồi cũng rơi vào cảnh phòng khuê ngủ một mình (con trai bị phiền não vì vợ con đau ốm).
Da mặt mọng mà mặt như bọt nước (nghĩa là thịt chảy xệ), đào hoa vận rất xấu.
Có thể đoán cả tính phụ nữ qua những thái độ kể sau đây:
- Mắt đong đưa, con gái dễ bị khêu gợi.
- Tay mân mê mái tóc, nữ tình trầm tư với tâm sự.
- Hay lấy lưởi liếm răng hoặc môi, tính hiếu dâm. – Thường nắm tay rồi xòe tay, nhiều dục vọng. – Ném phịch người xuống ghết, rất đa tình.
- Khi ngồi vai lệch bên phải, có nhiều chuyện xấu.
- Tai đỏ hồng hơi ướt, dễ xúc động và sắc tình.
- Răng lợi thâm là dâm loạn.
- Không cười mà lộ răng, lợi tính hiếu sắc.
GIÓ ĐÁNH ĐÒ ĐƯA
Ca dao có câu:
Gió đánh đò đưa, gió đập đò đưa
Sao cô mình lơ lửng mà chưa lấy chồng?
Gió đánh cành hồng, gió đập cành hồng
Hỏi cô mình đã muốn lấy chồng hay chưa?
Đó là câu tán của anh chàng muốn lấy vợ và đó cũng là nút chuyển quan trọng của đời anh, anh sẽ có một gia đình hạnh phúc, hay anh sẽ tan gia bại sản hay sẽ thành người mọc sừng trên đầu hay anh sẽ chết sớm. Cái đó còn tùy vợ anh tướng cách thế nào?
Bởi lẽ: Đàn bà năm bẩy đàn bà,
Đem bỏ ngoài chợ kiến tha nó về.
Một người vợ lý tưởng phải có những điều kiện gì?
Có năm loại:
a) Gầy nhỏ bé, xinh xinh, kiều diễm
Người đàn bà này chỉ là đóa hoa cắm trong bình cho đẹp vì thế thái nhuyễn nhược, nhất nhất cái gì cũng phải dựa vào chồng, vì sức vóc yếu mềm nên không thể chịu được lao khổ. Không phải là người vợ lý tưởng. Đại biểu cho người đàn bà nhỏ gầy kiều diễm tìm trong mỹ nhân Trung Quốc có Mai phi. Nàng sinh ra ở Mai Hoa thôn, thên thực là Giang Thái Tần do Cao Lực Sĩ tuyền vào cung dâng lên Đường Minh Hoàng. Vì nàng yêu hoa mai nên vua mới đặt cho cái tên là Mai Phi. Mai Phi có sắc dáng mảnh dẻ, gió thổi bay và có hai mắt sáng đẹp như hai viên ngọc. Mai Phi đã chết đúng như một bông hoa mai héo hắt sau khi không được vua sủng ái như trước vì ông chuyển sang say mê Dương Quý Phi.
Cùng loài với Mai Phi còn có Đào Hoa Nữ trong tích chuyện Thôi Hộ đề thơ nâhn diện đào hoa tương ánh hồng, Thôi Oanh Oanh của Tây Sương Ký. Họ phần nhiều sống với mộng ảo, thị ạo, thị chân đô thị mộng.
b) Tài, đẹp, giỏi
Người đàn bà này chỉ thích hợp với các anh hùng hảo hán đã thành công hoàn toàn không đóng được vai trò của người đàn bà bếp nước.
Xưa kia gọi là bậc quân quắc anh hùng. Hay thì thật hay nhưng nếu gã đàn ông nào số dởmà kết tóc với quân quắc anh hùng dễ chết lắm vì quân quắc anh hùng thường hàm chứa cái lý sát phu.
Điển hình cho loại này là tôn phu nhân vợ của Lưu Bị đời Tam Quốc, Hoa Mộc Lan, Tần Lương Ngọc v.v…
c) Đẹp nhưng hay gây sóng gió và sóng xô bờ, nói nhanh, nói thẳng, chẳng kiêng nể ai, chưa thấy người đã nghe thấy tiếng, mắt long lanh hoạt động, xem chồng như đồ chơi.
Điển hình cho loại này là Bao Tự vợ U Vương, Dương Quý Phi.
Đẹp thì có đẹp nhưng khó sống.
d) Yêu quái và man rợ.
Cực diễm lệ nhưng cũng rất quái dị như giọt sương trong hoa, như gái Liêu Trai. Người đàn bà này không thể sống ngoan, hiền, êm đềm với chồng.
Điển hình cho loại này là Võ Tắc Thiên, Lan Nhi Tây Thái Hậu, Trương Lệ Hoa.
Trương Lệ Hoa là người yêu của Trần Hậu Chủ. Tóc nàng dài ba thước, mượt mà như một dòng suối. Nàng thường ngồi trên đùi Hậu Chủ giữa chiều làm loan hết cương kỷ. Trần Hậu Chủ đã vì nàng mà đặt ca khúc Ngọc Thụ Hậu dinh hoa, bài hát làm cho Trần Hậu Chủ mất nước.
Về sau, Trương Lệ Hoa bị dân chúng nổi lên chém chết hệt như nàng Matie Antoinette, vợ vua Louis 16. Theo truyền thuyết của dân gian kể lại thì chết rồi Trương Lệ hoa hóa thành quỉ, đêm đêm xõa tóc đến với các chàng trai khỏe, đẹp.
c) Hiền thục.
Người vợ lý tưởng là người đàn bà diện thân đầy đặn, cao, trắng, đức độ thiện lương, từ ái ôn hòa, không làm mất long ai, lạc quan phấn đấu, thương chồng quý con. Mẫu người mà André Maurois định nghĩa: “Petit animal tidèle silencicux sensucl”.
Bây giờ ta bắt đầu đi vào chi tiết của tướng cách. Trên nguyên tắc của cuộc sống thì hoàn cảnh giầu sang của người đàn bà phần lớn định đoạt bởi ông chồng.
Nhưng trên tướng lý, sách có câ:
Sinh phú quí tướng giả bất giá bần tiện chi phu.
Sinh bần tiện tướng giả bất nhập phú quí chi thất.
Nghĩa là:
Sinh ra có tướng phú quí tất không lấy chồng bần tiện.
Sinh ra có tướng bần tiện tất không được vào nhà phú quí.
Như vậy, tướng mạo phụ nữ cũng quan trọng chẳng kém gì nam tử.
Chẳng những thế mà còn ảnh hưởng ghê gớm cho người chồng, nếu tướng sát phu, anh chồng phải chết, nếu tướng vượng phu, anh chồng sẽ ăn nên làm ra.
Phụ nữ mang rất nhiều tướng cách, đại lược có thể kể: quí trọng, phục hậu, trinh khiết, khắc phu, bần khổ, hiền thục, hung hãn, cô độc, gian tư v.v…
Thế nào là tướng quý trọng?
Đàn bà con gái đầu tay ngắn, trán tròn rộng, tóc đen óng mượt, chân mày thanh tú, mắt trong sáng và hiền hòa, quyền cốt bằng phẳng không nhô cao, tai đầy đủ luân quách, nhân trung rõ rệt, răng trắng môi hồng, ngón tay nhỏ dài mà thon. Lúc nói, lúc trông, lúc đứng ngồi, mọi củ chỉ đều cẩn trọng là quan hệt nhất, còn đẹp xấu là vấn đề phụ, có thể là quí phu nhân. Cổ ngữ có câu: xũ xũ nhân tướng, câu này rất đúng.
Thế nào là tướng phúc hậu?
Sóng mắt dài, nhãn thần thanh tú không lộ thần, hai tai dán vào đầu đầy đặn, hai cánh mũi phân minh, nhân trung dài, địa các mở, gò má rộng, góc miệng triều thượng, bàn tay hồng nhuận, eo tròn, lưng đầy, thân thể mập mạp. Giàu có nếu đang mập, mà gầu của cải mất đi.
Thế nào là tướng trinh khiết?
Hai mắt trắng đen phân minh, không tà thị, nõn nà nhưng vẫn có uy, mũi ngay ngắn, pháp lệnh sâu dài, tai đầy đặn, cười không lả lơi, đi chậm, bước nhẹ, thân thể ngay ngắn, tính tình nhu thuận, tiếng nói thanh tế.
Thế nào là tướng khắc phu?
Khắc phu có rất nhiều tướng cách:
- Trán dài, trán vuông hẹp, trán lệch, trán lõm, trán có xoáy, trán có ba vệt ngang chạy dài, trán có vệt dọc giữa thiên trung.
Tóc cuốn rối, tóc khô, tóc vàng ệch, tóc cứng, tóc nặng, lúc thiếu nhiên mà tóc đã rụng.
Mi thô, mi dựng, mi ngược, mi cốt gồ cao.
Mắt đỏ, mắt vàng, mắt cực lớn, mắt tròn, mắt lồi, mắt bốn phía lòng trắng, mắt hình tam giác, dưới mắt da thịt khô, dưới mắt có vết như tấm lưới.
Mũi bẹp dí, mũi gẫy khúc, sơn căn có nốt ruồi.
Môi cong, răng lộ, miệng dúm.
Quyền ngang, quyền cốt cao.
Tai nhỏ quắt, đầu nhọn, mặt vênh, xương thô, bàn tay cực lớn, sắc mặt xanh lam, mặt gầy nổi gân, có lông trên mặt, mắt trễ như bùn, tiếng nói đàn ………, mày lớn trắng bóng.
Thế nào là tướng bần khổ?
Trán thật hẹp, tóc mọc lấn xuống trán. Tai nhỏ có sắc đen. Lông mày lưa thưa chạy ngang chữ nhất. Mũi nhọn lệch, gẫy khúc. Miệng dúm. Trán …………., mũi sun. Miệng rộng như quai sọt. tai ngắn, ngón tay thô. Thịt thô………….. ngang. Môi quá dầy, hơi thở hôi hám. Tiếng nói nhỏ mà đục rè. Mặt như …………. Lúc ngồi hay rung đùi. Trán óp, cằm nhọn.
Thế nào là tướng hung hãn?
Mũi gãy nổi khúc, lỗ mũi lộ. Mắt có hung quang. Mày thô mặt đen. Mắt ……. Tí hí, lá dăm. Tiếng nói the thé, mình dài. Tính gian hoạt, có tiếng nói ………. Lương quyền cao nhô.
Thế nào là tướng cần kiệm?
Tóc thật đen, mày thanh nhẹ nhàng. Thân nhãn ẩn tàng. Cử chỉ ấn trọng. ………..
Thế nào là tướng trợ phu (giúp chồng)?
Bàn tay lụa mịn màng sắc hồng hồng. Mắt dài, mũi trái, mặt nhỏ nhắn. …… thanh mục tú. ở cổ và lòng bàn chân có nốt ruồi.
Thế nào là tướng không biết cai quản gia đình?
Nói rụt rè như có gì mắc ở cổ. Mi đầu giao nhau. Sống mũi hẹp. Sơn căn ………. Nói năng hàm hồ, ưa trang điểm, đánh bạc ham chơi. Mắt như khiếp sợ.
Theo trên đây, vấn đề kể hơi phức tạp. Vậy nên thâu tóm lại cho dễ dàng. Cố nhân đưa ra chín mỹ tướng và chín ác tướng của phụ nữ để việc kén vợ được thoải mái hơn.
Cửu mỹ tướng gồm có:
1. Đầu tròn, trán bằng phẳng.
2. Xương nhỏ nhắn, da thanh sạch.
3. Môi hồng, răng trắng.
4. Mày dài, mắt tú.
5. Ngón tay thon, lòng bàn tay đầy.
6. Tiếng nhỏ nhẹ, âm thanh như suối chảy.
7. Cười mà không lẳng lơ, không lộ sỉ (hở răng, hở lợi)
8. Bước đi ngay ngắn mà chậm, nằm ngồi nhàn nhã.
9. Thần khí thanh hòa, da dẻ thơm tho, mịn màng.
Được một trong chín tướng trên đây là có thể lấy làm vợ khỏi lo.
Cửu ác tướng gồm có:
- Nhất ác: Mặt xấu quyền cao, hại chồng.
- Nhị ác: Lộ hầu, chiêu họa.
- Tam ác: Đầu xù, mặt bần, hạ tiện.
- Tứ ác: Đi rắn trườn, chim nhẩy, bần tiện
- Ngũ ác: Mày giao nhau, áp mắt, cùng khốn.
- Lục ác: Trên mũi có vết móc câu, hại chồng.
- Thất ác: Mắt lộ bốn phía lòng trắng, hung hãn vụng dại.
- Bát ác: nói như đàn ông, khắc sát phu.
- Cửu ác: Tóc xoắn như ốc, bần tiện, khắc tử.
Có một trong chín tướng trên đây thì chớ có lấy, hễ lấy là khốn ngay
LUẬN VỀ 72 TƯỚNG DÂM CỦA VIÊN LIỄU TRANG
Theo sách Liễu Trang ghi có 72 tiện tướng về dâm tính như sau:
- Da trắng như phấn (bì bạch như phấn)
- Da trơn như dầu (bì hoạt như du).
- Mặt xanh lướt (huyết bất hoa sắc).
- Thịt nhũn như bông (nhục nhuyễn như miên).
- Mặt nhiều ban điểm châm hương (diện da ban điểm).
- Hai mắt lộ quang (lưỡng nhãn phù quang).
- Đuôi mắt đổ xuống (nhãn dốc đê thùy)
- Chưa nói đã cười (vi ngữ tiên tiếu)
- Mặt nhọn, trán thót (diện đới lưỡng tước)
- Ấn dương và mũi hãm (diện toàn lưỡng hãm)
- Mặt tưng ụ thịt (diện nhục đôi phù)
- Mắt ba hoặc bốn lòng trắng (nhãn lộ bạch quang)
- Môi luôn luôn mấp máy (chủy thần tự động)
- Vẻ mặt đào hoa (đào hoa chi diện)
- Khóe miệng có vết (khẩu dốc sinh văn)
- Đi như ngan ngỗng (nga hành áp bộ)
- Cúi đầu liếc mắt (trác diện thùy đầu)
- …………
- Tự nói một mình (tự ngôn tự ngữ)
- Ngực ưỡn, đít cong (hong cao, điến kiêu)
- Vai to eo nhỏ (yêu tế kiên hàn)
- ………….. vị trí thấp (tế đột cân hạ).
- Đầu vú chì xuống đất (nhũ đầu chỉ địa)
- Da nhăn nheo (bì sô như sa). Mặt to mũi nhỏ (diện đại tị tiểu)
…………………..
……………………..
………………………. (thần thanh như dính)
……………………………… (nhất độ tam giao)
- Nói một câu đứt ba đoạn (nhất ngôn tam đoạn)
- Cười như ngựa hí (tiếu như mã tê)
- Nói chuyện huyên thuyên (ngữ ngôn phạp tạp)
- Đầu lớn ít tóc (đầu đại vô phát)
- Thân gầy như liễu (thân như phong liễu)
- ……………………… (hạc thoái, phong yêu)
- Âm hộ vô mao
- Đầu lớn đuôi chuột (chướng đầu thử nhĩ)
- Rụt cổ lè lưỡi (súc đầu thân nhiệt)
- Hay xoa hàm, hay cắn móng tay (thác tai giảo chỉ)
- Âm mao như cỏ
- Mặt dài mắt tròn (trường diên viên tinh)
- Răng gậm nhấm, tay vân vê tà ào (dịch sỉ lông y)
- Ưỡn lưng thở dài (thán khí thân yêu).
- Đầu đi đằng trước (đầu tiên quá bộ)
- Đi hay ngoái cổ (hồi đầu tầm cổ)
- Ngồi đứng không yên (tọa bất an ổn)
- Bắp đuồi mọc lông (thoái thượng sinh mao)
- Lưỡi nhọn môi cong (thiệt tiêm thần hân)
- Cử chỉ si mê
- Đứng nghiêng đứng ngả (điếm lập thiên tà)
- Trán thật rộng tóc mai thật rậm (ngách quảng mấn thâm)
- Răng chuột (nhỏ lăn tăn) (thử sỉ)
- Răng nhọn răng quỷ (quỷ nha)
- Tính tình hay thay đổi (tính tình đa biến)
- Như mã hoán đề (tướng này không rõ nghĩa)
- Thân dài cổ ngắn (thân trường hạng đoản)
- Tị ngưỡng triều thiên (mũi hếch lên trời)
- Mắt lúc nhắm làm chân mày nhăn (nhãn bế mi kiềm)
- Mình con rắn ăn như chuột (sà hình thử sán)
- Cổ nhỏ mày nhăn (hạng tế mi hàn)
- Ngón tay ngắn, co lệch (chỉ đoản yêu thiên)
- Ăn uống không biết no chán (ẩm thực vô tận)
- Chẳng có chuyện gì cũng sợ hãi (vô sự tự kinh)
- Đầu lệch trán hẹp (đầu thiên ngách trá)
- Lưng cong bụng thót (bối hãm phúc tiểu)
- Ngủ mộng rên la (thụy mông thường đề)
Đọc 72 tướng của Viên Liễu Trang kể trên đây, đàn bà chẳng mấy ai tránh khỏi không có một trong những tướng đó. Nếu vậy thì đàn bà tiện dâm hết rồi còn gì.
Đương nhiên là như thế. Đàn bà đa số tiện dâm. Tính theo bách phân phải 80%. Trong một trăm người đàn bà phải có hơn tám chục người lẳng, chỉ còn phân biệt nhiều hay ít nữa thôi.
Tiên dâm có nghĩa là một ý thức thấp đối với vấn đề giao tiếp nam nữ và tùy tiện đối với tiệc làm tình.
Nói tóm lại là người đàn bà nhẹ dạ, dễ dãi. Cái nghĩa tiện dâm có theo thời đại mà biến đổi không? Chẳng hạn bây giờ đàn bà được bình đẳng, được giải phóng không phải đàn bà thâm khuê kín đổng như xưa thì cái việc chung dụng không thể nhìn bằng con mắt nghiêm khắc thời cổ.
Tướng học không thấy có sự biến đổi nào hết. Tiện dâm vẫn là tiện dâm, xưa hay nay là một. Chẳng phải bây giờ có phong trào phụ nữ giải phóng “Women LIB”. Với những “campus” làm tình tập thể mà những hành động tùy tiện bừa bãi trong tình yêu không còn bị coi là tiện dâm nữa. Có thể nó bởi chịu nghiêm khắc trên pháp luật hay trên đạo đức. Nhưng với tướng học nó vẫn thế bởi tướng học không đặt trên căn bản của đạo đức học, tướng học là một khoa riêng biệt hẳn.
Dù cho “campus” đầy rẫy chung quanh mà một người không mang chúng tiện dâm sẽ không bị lôi cuốn vào đó. Cũng như ngày xưa thâm nghiêm là vậy mà người có mang tướng tiện dâm tất sẽ có những hành động tùy tiện về mặt tình ái như thường.
Đọc “72 tướng tiện dâm” của Viên Liễu Trang cần phải phân biệt tính chất nặng nhẹ của mỗi tướng. Tỉ dụ, hai tướng rụt cổ, lè lưỡi và mặt dài, mắt tròn khác hẳn nhau. Tướng mặt dài, mắt tròn nặng gấp mười lần hơn tướng rụt cổ, lè lưỡi. Nguyên tắc chung để phân biệt nặng nhẹ là phàm tướng hiện lên qua thái độ, cử chỉ bao giờ cũng nhẹ hơn tướng hiện lên qua bộ vị.
Người ta thường lầm tiện dâm với đa tình. Có những người đàn bà đa tình ma 2không hề có hành động tiện dâm (Fornication)
Khi Tô Đông Pha bị đày di Huệ Châu, ông ở bên cạnh nhà Ôn Đô Giám. Đô Giám có người con gái rất xinh đẹp, học giỏi. Bố mẹ nhiều lần gả chồng nhưng chẳng ai vừa ý Ôn Nữ. Tô Đông Pha tới đây, Ôn Nữ đã từng mến mộ tài danh của họ Tô từ lâu, cho nên tối tối nàng thường chạy sang vười nấp bên song cửa nghe Tô Đông Pha ngâm thơ. Ôn Đô Giám biết chuyện con gái. Nàng khảng khái thú nhận và ngỏ ý chịu làm thiếp của họ Tô. Ôn Đô Giám thấy con gái cương quyết như vậy chẳng biết làm sao đành chấp thuận và hứa sẽ tìm người mai mối.
Nhưng đột nhiên triều đình gọi Tô Đông Pha về. Ông lật đật đi nên ý định của Ôn Đô Giám không thành. Phần Ôn Nữ thì uất ức thành bệnh chẳng bao lâu thì chết.
Về sau có lần Tô Đông Pha trở lại Huệ Châu, nghe được chuyện Ôn Nữ. Ông làm một bài thơ từ để khóc người thiếu nữ đa tình. Bài tứ ấy ở vùng Huệ Châu, con trai con gái đều thuộc.
Đời Nam Tống có người con gái tên Chu Thục Chân, ngàn là tác giả tập Thi từ lừng danh mà danh sĩ đời sau đặt cho cái tên là Đoạn Trường Tập.
Thục Chân, người Hải ninh, tình Chiết Giang. Cha mẹ nàng đã gả bán nàng chó một người chồng ngu si. Vì vậy nàng đau khổ chỉ còn sống với ảo tưởng.
Tất cả những bài thơ trong Đoạn Trường Tập đều là tiếng lòng ai oán của Chu Thục Chân. Người ta thấy những câu:
- Lê hoa tế vũ hoàng hôn hậu
Bất thị sầu nhân dã đoạn trường
………………
- Khứ niên cửu nhật sầu hà hạn
Trùng thượng tâm lai ích đoạn trường
Trong đoạn Trường Tân Thanh với những cảnh: Gặp Kim Trọng
Tình trong như đã mặt ngoài còn e
Chập chờn cơn tình cơn mê
………….
Bóng tà như dục cơn buồn
Khách đà lên ngựa người còn ngó theo.
Thái độ trước mả Đạm Tiên
Lại càng mê mẩn tâm thần
Lại càng đựng lại tần ngần chẳng ra
Lại càng ủ dột nét hoa
Sầu tuôn dứt nối châu sa vắn dài.
Thần sắc lúc mộng thấy Đạm Tiên
Giọng Kiều rền rĩ trước loan
Nhà huyên chợt tỉnh hỏi duyên cớ gì
Cớ sao trằn trọc canh khuya
Mầu hoa lê hãy đầm đìa giọt sương
Kiều qua nhà Kim Trong
Cánh hoa khẽ đặng tiếng vàng
Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông
……………..
Xắn tay mở khóa động đào
Rẽ mây trông tỏ lối vào thiên thai
So những mối tình của Ôn Nữ, của Chu Thục Chân và Vương Thúy Kiều, người ta có thể thấy ngay Ôn Nữ và Chu Thục Chân thuộc loại đa tình. Phần Thúy Kiều cũng đa tình nhưng còn pha cả phần tiện dâm. Cái tiện dâm hiện ra lúc mộng mị rên la và tần ngần khóc lóc trước mả Đạm Tiên.
Tướng đa tình thế nào?
Tiện dâm thì tướng đục, đa tình thì tướng trong. Đôi mắt người đa tình thanh tú nhưng mắt long lanh ướt lệ. Sắc diện người đa tình trong sáng nhưng về buồn hiu quạnh. Điểm căn bản để phân biệt tiện dâm và đa tình là:
Tiện dâm thường ngu độn dễ bị dụ dỗ, hoặc dữ dằn thô lỗ để buông thả bừa bãi, ngã về xác thịt nhiều hơn
Đa tình thường đi đôi với đa tài, ngả về tinh thần nhiều hơn.
Đàn bà yêu quái (vampire) không phải là người tham dâm cuồng dâm mà là người đàn bà dùng tình dục như một thủ đoạn để chi phối nam giới. Mục đích của người đàn bà yêu quái không ở nơi thỏa mãn tình dục, mà mục đích ở nơi chi phối đàn ông.
Alexandre Dumas tả tâm lý của yêu phụ qua lời nàng Gautier túc Trà Hoa Nữ:
Tất cả đàn ông đều cùng một ruộc. Khi chúng được thỏa mãn rồi là bắt đầu chán ghét, nếu người đàn bà yêu chúng, chúng dễ dàng ruồng bỏ và áp chế. Riêng tôi, tôi không bao giờ để cho đàn ông thỏa mãn và bắt chúng chịu ba điều kiện của tôi: tin tôi hoàn toàn, nghe tôi tuyệt đối và quì mọp dưới chân tôi. Ba điều trên đây là đòi hỏi căn bản của bất cứ yêu phụ nào. Nàng dùng dung mạo mỹ lệ và xác thịt khêu gợi cùng miệng lưỡi gian ngoan để thỏa mãn tâm lý bạo chúa trong người nàng. Đàn ông trước đàn bà yêu quái chỉ là một thứ đồ chơi. Tình yêu được người đàn bà đó biến thành thứ vũ khí đấu tranh. Ái tình hoàn toàn bị tiêu diệt, chỉ có chi phối bởi tham vọng là chính.
Tướng cách yêu phụ phải kết hợp giữa tâm lý với hình thái mới đoán biết được
Yêu phụ thường có ba đặc điểm:
Đẹp lạ lùng ma quái
Lòng tự tin rất cao
Đa năng và thông minh hơn người
Các nhà tâm lý phân yêu phụ ra làm hai loại:
a) Yêu phụ trong máu huyết, bản chất từ nhỏ đến lớn.
b) Yêu phụ do biến thái của một duyên cớ uất ức đau thương
Bao tự, Đát kỷ đời Thương, Chu là điển hình cho loại đàn bà yêu phụ.
Cléopatre và Mata Hari cũng thuộc loại này.
Người đàn bà cuồng dâm là người đàn bà đòi hỏi tình dục vượt xa mức bình thường. (Oversexed women)
Như Messaline, vợ của vua Claudius đêm đêm nàng cải trang thành thường dân để tìm bắt các chàng trai khỏe mạnh chông dân giã để làm tình với vị thế một con điếm
Như Catherine de Russie, nữ hoàng Nga, mỗi ngày một sỹ quan trẻ tuổi túc trực để giải quyết sinh lý cho bà.
Như Vũ Tắc Thiên làm tình ngay giữa triều đình
Như George Sand, nữ văn sĩ Pháp, thay nhân tình như cơm bữa.
Như Phan Kim Liên, vợ Võ Đại Lang, anh Võ Tòng, ngày nào cũng đòi hỏi thỏa mãn tình dục.
Khoa tướng học không nói tướng cuồng dâm như thế nào. Chỉ bảo rằng đó là một bệnh tâm lý hoặc một bệnh trong cơ thể. Có thể nó là một biến thái của một yêu phụ. Vì cuồng dâm thường thấy ở những người đàn bà thông minh hơn người đàn bà đầu óc bình thường
LUẬN VỀ ĐA TRUÂN
Đời thường, bất luận nam hay nữ, có muôn vạn sắc thái khác nhau.
Tướng mệnh học không thể chỉ rõ từng chi tiết của đời mỗi người. Cho nên mới tóm lược phân ra quí tiện, bần phú, dâm, trinh, bình an, đa trân, thọ, yếu, thiện chung và bất thiện chung, rồi lại căn cứ vào lưu niên vận hạn để chỉ bĩ thái cùng thông cho mỗi thời kì.
Có người thân thế thấpkém nhưng tinh thần, tư cách thanh cao, xuất thân ca kỹ làm tì thiếp nhưng thực sự là một hiền phụ.
Nàng Quan Miến Miến xuất thân ca kỹ, cánh tay đã từng có cả trăm người gối, đôi má đã từng có ngàn người hôn, nhưng sau Miên Miến về làm thiếp hầu cho quan Thương thư Trương Ẩm. Ít lâu thì thượng thư Trương Ẩm chết, nàng ở Yêu Tử Lâu thủ tiết thờ chồng mười năm không lấy ai. Nhà thơ Bạch Cư Dị mới làm một bài thư chọc ghẹo. Nhận được thơ, Quan Miến Miến khóc nói rằng: “Chẳng phải thôi không dám chết, tôi sợ nếu chết theo chồng ngay người đời sẽ cười chồng tôi ham sắc dục chết rồi còn đem thiếp hầu đi theo. Bây giờ sao 10 năm cũng là lúc tôi có thể làm như vậy”
Rồi Quan Miến Miến tuyệt thực chết tại Yêu Tử Lâu.
Tin lan ra, Bạch Cư Dị rất hối hận nói:
Tôi không giết Miến Miến nhưng chính vì tôi mà nàng chết.
Xúc động về cái chết ấy, thi sĩ Bạch Cư Dị mới làm ba bài thơ để khóc Quan Miến Miến trong có bốn câu:
Mãn song minh nguyệt mãn liên sương
Bị lãnh đăng tàn phất ngọa sàng
Yếu tử lâu trung sương nguyệt dạ
Thu lai chỉ vì nhất nhân trường.
Nghĩa là:
Đầy cửa ánh trăng, đầy riềm sương ướt
Chân gối lạnh, ánh đèn tàn bên giường
Trong lầu Yêu Tư đêm trăng sương
Thu về dài đằng đẵng trong lòng một người
Có những người vốn là công chúa, vương tôn, suốt đời khổ hận như Nam Dương công chúa. Nàng là con vua Tùy Dạng Đế Dương Quảng bị cha gả cho con trai người cận thần Vũ Văn Thuật là Vũ Văn Sĩ Cập.
Nhà họ Vu gốc tích người rợ Hồ, toàn tay võ biền thô lỗ, trong khi công ….. Nam Dương lại là người đàn bà nhàn tinh thi văn.
……….Văn Sĩ Cập tuy thuần lương hơn hai anh em là Hóa Cập và Trí Cập nhưng phần ngu độn thì chẳng kém.
Khi Vũ Văn Thuật chết, Tùy Danh Đế trao quyền lớn cho hai anh em Hóa Cập và Trí Cập. Hai anh em liền trơ trẽn dở trò khốn nạn với em dâu. ………..anh em trở thành thù nghịch.
Thiên hạ đại loạn. Anh em họ Vu, Hóa Cập và Trí Cập, tạo phản đánh …………giết vua Tùy Danh Đế, lập cháu Dương Quảng lên làm vua rồi tự phong cho mình những chức lớn nhất, đồng thời sai người đi bắt toàn gia Nam Dương Công chúa giết hết. May nhờ kẻ đi làm phận sự không nỡ nên thóat chết.
Lúc anh em nàh họ Vu thua trận thì Nam Dương công chúa và con cái đã bị quân nhà Đường bắt. Theo phép tất cả giòng giống họ Vu đề bị xử chém riêng Nam Dương công chúa được tha. Cha chết và các con cũng chết hết, Nam Dương công chúa xin vào một ngôi chùa hẻo lánh cắt tóc đi tu.
Có những cảnh éo le xảy đến như trường hợp nàng Trinh Nương xóm Chu Thôn.
Trinh Nương lớn lên trong loạn lác cuối đời nhà Minh. Khắp nơi binh họa và cướp bóc. Nàng là con một vị tú tài ở Chu Thôn, đã đính hôn nhưng chưa về nhà chồng.
Hốt nhiên đạo tặc kéo về Chu Thôn, cầm đầu bởi tên La Nhữ Tài. Về làng, giặc giết dân như phát cỏ, ai không bị giết thì bị chúng bắt giữ. Trinh Nương có sắc đẹp nên La Như Tài cưỡng hiếp. Nàng bèn lợi dụng xin tướng giặc tha cho những người bị bắt. Nhữ Tài bằng lòng
Khi nàng thóat khỏi tay giặc về với gia đình, thì cha nàng lấy cớ dòng dõi thư hương mà nay nàng bị giặc cướp làm nhục nên bắt nàng phải tự sát. Trinh Nương không nghe. Cha nàng ra lệnh cho người nhà nàng bắt nàng treo cổ. Trinh Nương trốn được. Khi bị bắt lại, sắp sửa đem ra hành hình thì người chồng chưa cưới họ Cao tới ngăn, nhân danh là chồng nàng cấm không cho ai phạm hình và trước mắt mọi người, chàng họ Cao thề không hủy bỏ hôn phối dù nàng bị bọn cướp làm nhục.
Hai họ đều cho đó là việc bất sỉ nên đồng tình đuổi hai người khỏi Chu Thôn.
Họ từ biệt người thân cùng nhau chạy xuống miền nam. Không biết làm gì để sống, họ phải đi hành khất.
Người chồng không chịu được cơ khổ nên luôn luôn có những lời ai oán ta thán qui lỗi cho Trinh Nương
Trinh Nương hết sức nhẫn nại không một lời oán hận. Nhiều lúc cơm thiếu, nàng phải nhịn dành phần cho chồng.
Một ngày, Trinh Nương bắt được một cái trống ai bỏ rơi bên đường, nàng đem về nhà gõ hát cho chồng nghe tiêu sầu giải muộn. Rồi nàng đem bài ca ra phố dạo hát kiếm tiền.
Tiếng ngàn phong phú, ai cũng thích nghe, tiền kiếm mỗi ngày một nhiều hơn. Thừa thãi, Trinh Nương thường đem chia cho người đồng cảnh ngộ. Lâu dần Trinh Nương thành lãnh tụ của đám nghèo khốn.
Thấy vợ ngày phải đem sắc đẹp ra kiếm sống, Cao thấy tủi nhục bỏ đi. Trinh hốt hoảng theo tìm.
Đúng lúc bọn giặc La Nhữ Tài đổ xuống miền Nam bắt được Cao Thị. Trinh Nương…………đến nơi thì chồng không còn nữa vì chàng không chịu nổi sự ……của giặc.
La Nhữ Tài gặp lại Trinh Nương. Nhớ tình cũ hắn mời nàng đến cộng …………. Trinh Nương nuốt nhục để lập kế báo thù.
………….., La Nhữ Tài ngủ say, nàng rút dao nhọn đâm mạnh vào mặt hắn, xuyên thủng con mắt. La Nhữ Tài đau đớn rút gươm đâm loạn vào ….
Trinh Nương chết cùng lúc với La Như Tài. Đời sau chep chuyện này đặt…….: Phương Dương hoa cổ.
Qua những chuyện Quan Miến Miến, Nam Dương công chúa và Trinh Nương ta thấy thế nào là đa truân. Đa truân có hằng hà sa hố hình thái khác ……
Người xem tướng đầy kinh nghiệm, tinh thông tướng học thì mới ………….được những điểm chí huyền chí diệu của sự sắp xếp trong cuộc sống.
PHƯƠNG PHÁP CÔ ĐỐI VỚI TƯỚNG PHỤ NỮ
Theo sự phân tích của cổ tướng học thì nhất âm nhất dương, cái đạo ấy ………thể loạn nhất cương nhất nhu, cái lý ấy không thể trai.1
Đàn ông là thuần dương chi hình nên thể cương.
Đàn bà là thuần âm chi hình nên thể nhu.
Chỗ dụng của thể cương là hùng mạnh. Chỗ dụng của thể nhu là nhuyễn ……Nay nếu nữ hình lại cương mà dũng, tính tình bạo mà cấp gọi là phản…….không được cái đẹp trung hòa của lý và đạo. Nếu nữ tính nhu hòa, tướng ………mềm mại, tú lệ mới thật là tướng tốt có thể phú quí. Nếu tướng mạo hung bạo nhiều chất đực là tướng xấu bần tiện hung tai.
Cổ tướng pháp nghiên cứu tướng phụ nhân gồm có:
Đạt ma phụ nhân tướng.
Ma Y thu đàm nguyệt
Quỉ cốc tướng phu nhân ca
Nữ ngọc quản quyết
…………… Đi động nguyên kinh.
Xin lần lượt ghi lại những phần quan trọng tinh hoa của những sách ghi…….
Nói về tướng vương phi và phu nhân và tướng vượng phu ích tử:
Phàm đàn bà xương cốt tiên tuấn, thần khí uy nghiêm, ẩn trọng mà ít mị, ngũ nhạc khoan đại, hành động thông minh, nhanh nhẹn như lưu thủy thanh âm êm và trong sáng như ngọc rơi là tướng vương phi.
Phàm đàn bà ngũ nhạc đoan hậu, cốt khí lỗi lạc, thần sắc ôn hòa là tướng phu nhân.
Cốt khí hiện lên ở đâu?
Toàn bộ cốt khí sang quí hiện lên ở trán và mũi. Người nào long hổ dốc có ẩn cốt chạy lên đến chân tóc, người nào mà ấn đường hoặc thiên trung mà cốt khí hiện lên một miếng vuông mà bằng phẳng, sáng sủa gọi là ngọc hoàn cốt. Người nào xương sống mũi chạy dài nối với ấn đường, khí sắc rực rỡ gọi là phục tề quán dinh. Tất cả đều là những bà cực cao sang.
Điều cần chú ý là cốt khí đẹp vẫn phải được phối hợp với các bộ vị khác, nếu có bộ vị hình khắc thì ngôi bậc phu nhân khó lòng trường cửu.
Long nhan phượng cảnh tất phối quân vương. Đàn bà diện mạo thân hình có xương cốt tiên tuấn như rồng nổi bật lên quan thái tú đi và cổ như con thái phượng chính là tướng hoàng hậu vậy.
Ở xã hội hiện đại, vợ một nguyên thủ quốc gia thường không có tướng đẹp như hoàng hậu xưa bởi lẽ ngôi nguyên thủ không mang thính chất bệ rồng chín tầng như thời cổ, thêm nữa chính quyền ngày nay đã chia sẻ làm nhiều trung tâm. Có thể vợ của một nhà đại tư bản nắm vận mệnh quốc gia mang nhiều tướng đẹp hơn vợ vị nguyên thủ.
Có những câu thơ phú về tướng vượng phu rằng:
Hữu nữ sinh lai diệt tế viên
Ngũ quan lục phủ tế tu khan
Nhan trường phát hắc liên hoa kiểm
Định giá triều trung phú quí hiền.
Nghĩa là:
Có người con gái sinh ra mặt tròn xinh xắn
Ngũ quan lục phủ thăng bằng dễ ưa
Mắt dài tóc đen đôi má ửng hồng
Sẽ lấy chồng hiền và phú quí.
(Trích “Ngọc Quản Quyết”)
Phụ nữ thân hình thượng hạ bình
Mục như biểm tất tất thông minh
Thân tài chu chính tam tài mãn
Phú quí phong nhiêu túc nhất sinh.
Nghĩa là:
Người đàn bà thân hình trên dưới đều đặn
Mắt đen như sơn thì thông minh
Mũi lưỡng quyền tương đối vừa vặn
Suốt đời phú quí phong lưu
Thần khí phân minh hắc bạch phân
Bất sân nhi nộ cốt hoàn thành
Thanh tự kim huỳnh, ưỡng thanh vận
Tử dạt phu vinh sự quí nhân
Nghĩa là:
Thần khí sáng suốt, mắt đen trắng phân minh
Lúc giận mà không dữ, không túc
Tiếng nói trong trẻo như chông vàng
Chồng sang con hiển đạt, suốt đời quyền quí
Phụ nữ uy nghiêm, tiếng nói như chim yến hót, lời lẽ ôn tồn, tai trắng và đầy, trán rộng tròn trịa, tóc đen như lông quạ, mục thần trong sáng, nhìn chính trực, nhân trung rõ ràng, quyền cốt ẩn ẩn bằng phẳng và rộng rãi, trán phẳng đoan chính, môi hồng răng trắng, xương thịt tương xứng, ngón tay dài, mũi thon, thẳng là những tướng sang quí.
Phụ nữ tai mọng tròn, bàn tay mịn đỏ hồng, trán thẳng, mắt đẹp, tính tình khoan hậu, hàm đầy, nhân trung dài, góc trán chân tóc không khuyết hãm, dưới mắt đầy đặn là những tướng giàu.
Mặt vuông vắn chữ điền, lưng rộng bụng tròn, mặt đen thân trắng, môi hồng, ngón tay búp măng, lông mày trăng treo, răng đều như hạt lựu, người thơm tho vừa giàu vùa sang.
Nói về tướng đa phu:
Ra đướng đánh giá người trinh thục
Trong dạ sao mà những gió trăng
Mới biết hồng nhan là thế thế
Trăm năm trăm tuối lại trăm thằng.
Những câu thơ trong bài “Cười người lang chạ” của Trần Tế Xương có một điểm sai ở chỗ: “Đã trăm năm trăm thằng” thì không có cách gì mà đánh giá người trinh thục dù chỉ là che đậy bề ngoài, vì gian tư đa phu, khắc sát phu đều có tướng cách hiển hiện thật rõ ràng.
Về đa phu, ngạn ngự Tàu có câu: “Phụ nấht nhi dĩ, nhân tận khả phu”, nghĩa là: chỉ có một bố đẻ ra thôi nhưng ai cũng có thể làm chồng cô ấy được
Tướng đa phu thường đi cặp hai loại tướng:
a) Tiện dâm
b) Hung dữ.
Nữ lấy phu làm cung chủ yết cho cuộc đời. Phu cung đã không ra gì thì đời cũng chẳng ra gì.
Người đàn bà hung dữ và tiện dâm thế nào cũng đa phu.
Sau đây là một câu chuyện vui về tướng và số đa phu:
- Tại Bắc Bình có thấy số nổi danh ngoài nhà treo bảng Phúc Cát Tinh, hai bên cổng mỗi cột đề bốn chữ:
Thiết bản luận mệnh
Di thư vĩ bằng.
Hôm ấy, một người đàn bà đến xem, nói ngày sinh, tháng sinh đâu đấy rồi hỏi:
- Số năm nay có thể lấy chồng được không?
Thấy Phúc Cát Tinh bấm đốt ngón tay lẩm bẩm tính, xong rồi cười nói rằng:
- Hữu hỉ, hữu hỉ nhất định xuất giá. Số này của cô hay cô xem cho ai?
- Tôi xem dùm người bạn
- Nếu vậy thì dễ cho tôi lắm. Số này lạ lắm, ứng với câu vị xuất khuê môn tiên hữu tử. Trăm năm đã trác có duyên trời. Chưa cưới nhưng ………..hãy để chơi, hà… hà…
- Thật thế sao? Số cũng đoán luôn cả điều đấy nữa ư?
- Chẳng phải chỉ có thế thôi đâu thưa cô. Bạn của cô, cứ như tôi đoán thì là con người cực hung dữ, chanh chua, hai năm lấy hai chồng, chẳng có chồng nào ở qua năm mới.
- Đây là số người chị họ tôi. Xin thầy xem tường tận cho. Năm nay vận khí thế nào?
- Xin cô đừng giận. Số ra sao tôi đoán vậy không có ý chê trách bới móc ai. Chị ọ của cô cách đây ba tháng đã lấy một người, nhưng vì bà ấy mệnh cách thuộc loại như lão hổ (hổ cái) cho nên đàn ông sợ, bà ấy hiện tại lại đang tính lấy chồng nữa. Lần này chắc cũng vậy, không qua nổi một năm đâu.
- Thầy Phúc Cát Tinh chưa nói dứt lời, bỗng nghe cái rầm! chén dĩa trên bàn kêu loảng xoảng. Cô ta cầm chén nước hắt vào mặt thầy mà xỉa xói:
- Thằng mù kia, đoán mệnh thì đoán mệnh, can cớ gì mà mày xỏ xiên hổ cái với thư lão hổ. Tao là hổ cái hồi nào, tao đã gậm mất cái đầu lâu của mày chưa?
- Tướng với số thật hợp
Sách “Bí Truyền Tướng Pháp” viết:
- Nhất kiến khả úy cương cường nhi đa phu.
Vừa trông thấy đã gây cho người đàn ông cảm tường ơn ớn thì đa phu.
Nhất kiến khả khùng hình khắc nhi tâm ác.
Vừa trông thấy đã khiến cho người đàn ông ghê sợ thì khắc phu và tâm ác.
Nói về tướng khắc sát phu.
Khắc phu là làm cho chồng lụn bại, chia lìa. Sát phu là làm cho chồng chết.
Sách “Tử Bất Ngữ” của Viên Mai chép chuyện “Người đàn bà chín chồng” như sau:
- Vùng Cúc Dung có chín ngôi mộ nằm chung một chỗ. Dân chúng gọi là mộ cửu phu. Theo truyền thuyết thì trước đâyvùng này còn có người đàn bà rất đẹp, chồng chết, có một con, gia tư khá. Lấy chồng nữa lại được một con, chồng lại chết. Đem chồng sau chôn cạnh chồng trước và cứ thế tiếp tục đến chín người đẻ chín con.
Đến khi người đàn bà ấy chết, nhà đem chôn với chín ngôi kia. Cứ mỗi khi mặt trời xế bóng là nơi đó âm phong nổi lên, đêm về ngh tiếng cãi nhau om sòm để tranh dành mỹ nhân. Dân vùng này chẳng ai dám đi qua. Họ bèn làm đơn lên quan huyện lệnh tên Triệu Thiên Tước. Viên huyện lệnh truyền cho đem đội lính lện vác hèo xuống đánh vào mộ cửu phu mỗi mộ 20 hèo. Từ đấy về sau mới yên.
Đánh hèo vào mộ cho ma quỷ yên là chuyện hoang đường, nhưng mộ cửu phu thì có thật đến nay vẫn còn.
Chuyện sát phu lại càng là chuyện rất thường xảy ra. Nhất là vào thời ….loạn, tướng sát phu đầy rẫy.
Tướng sát phu như đã nói ở trên rất nhiều nhưng mạnh nhất là tiếng nói, thứ đến mũi và lưỡng quyền, rồi sau mới đến các bộ vị hoặc các ám tướng khác.
Tướng gia Tề Đông Dã kể rằng: “Thủa thiếu niên, ông theo người cậu ruột đi yến hội, tại một nhà ở đường Tây Trục thủy phủ Bắc Kinh. Người cậu vốn là công chứ cao cấp chính phủ đương thời lại rất giao du rộng cùng am tường tướng thuật. Biết tướng thuật cũng là một tài năng cần thiết để giao thiệp trong chính giới thời bấy giờ. Bữa yên hôm ấy, vấn đề tướng số được đem ra bàn cãi sôi nổi. Đề tài đưa ra là tướng về âm thanh. Nhiều người không tin tiếng nói có thể ảnh hưởng đến chồng con như cậu tôi lập luận.
Cuối cùng, chủ nhân bầy cuộc thử tài. Buồng bên trong có một bàn các …..đánh mà chược, tấm màn phủ kín. Chủ nhân ông yêu cầu cậu tôi lắng nghe tiếng nói của năm bà trong đó để đoán vận mệnh về đường chồng con. Mọi người ngồi im lặng. Vào lúc buồng bên vừa có bán bài ù muỗi, các bà huyên náo ầm lên vì ba bà khác người nào cũng có bài ù lớn.
Ông cậu tôi bỗng nói:
- Nữ đới nam thanh (đàn bà nói tiếng đàn ông). Ai có tiếng nói ấy tất đã khắc phu.
Chủ nhân chịu ngay và cho biết bà ta là gọa phụ của họ Tiều trong Bộ Giáo dục.
Cậu tôi vẫn lắng nghe tiếp.
Còn han thất quần chi thanh ly phu (Tiếng như vừa mới khóc lại cắt đoạn chẳng khác chi con chim nhạn lìa đàn. Người này phai xa lìa chồng con.)
Chủ nhân phục quá, mặt vui tươi nói rằng:
- Tiên sinh đoán không sai. Đó là tiếng nói của bà vợ ông tổng lý bên Bưu Điện, ông ta đã bị bọn quyền phỉ bắt đi mất tích từ năm năm nay chẳng hiều sống chết như thế nào?
Cậu tôi không mấy để ý đến lời tán tụng, ông say sưa với sự tìm tòi, nghe tiếp và nói luôn:
- Cuồng thuyền vẫn tháo sát nhị phu, ồ át như tiếng ve sầu kêu buổi chiều, sát hại chồng. Đến đây thì chủ nhân hoàn toàn bái phụ, ông vỗ tay khen lấy khen để rồi dục cử tọa đồng thanh yêu cầu cậu tôi giải thích.
Cậu tôi chậm rãi giải thích:
- Nữ đới nam thanh là một loại phá tướng của phụ nữ, nhưng không nhất định phải khắc phu vì cuối tiếng có âm thanh sắc nhọn làm chói tai (thích nhĩ). Bà ta lấy chồng không qua hai năm thì chôn chồng. Còn về cô nhạn thất quần chi thanh muốn đoán thì cần phải nói rõ nó đã trở thành tiếng kêu thương chưa. Nếu chuyền rồi mà tiếng kêu thường thanh trường thì chồng chết, thanh đoàn may ra người xa còn sống, đến như cuồng thuyền văn tháo tiếng đầu tiếng cuối đồng âm vốn là tướng bần tiện chứ không khắc phu. Tướng ấy chỉ khắc phu khi nào tiếng đầu tiếng cuối như có khoảng nghẹn ngào cắt đứt.
Chủ nhân chen vào nói:
- Chúng tôi bội phục tiên sinh đoán tướng ba góa phụ, bây giờ đến lượt hai người đàn bà mà tiên sinh chưa nói tới.
Trong số thực khách cũng có vài ba vị nghiên cứu tướng học nên cậu tôi quay lại thỉnh họ cho ý kiến. Thế là mấy vị nghe theo lời chủ nhân cùng lắng tai nghe.
Một lát, ông họ Kha nói:
- Tiếng nhẹ nhưng có lực, vượng phu ích tử
Ông họ Đặng nói theo:
- Thanh âm có vận điệu, trường thọ chi tướng.
Và cuối cùng ông họ Ngũ:
- Nhỏ nhẹ như tiếng suối reo, nữ nhân tài đức kiêm toàn.
Cậu tôi nghe tất cả mọi người nói, phê phán xong rồi mới nói:
- Các vị đoán trên đại để rất đúng nhưng vào chi tiết có điều sai. Thanh âm người đàn bà này tuy hữu lực như tiếng suối reo, khốn nỗi vì thanh hơi cụt cho nên dù thừa tài năng nhưng không thọ. Bà ấy năm nay chừng ngoài bốn mươi, tôi chắc không thể sống lâu quá năm mươi.
Chủ nhân lại hỏi đến bà thứ năm thì các vị kia sau khi nghe tiếng nói của bà ta không ai đoán định được một điểm nào đặc biệt. Riêng cậu tôi đã làm cho mọi người sửng sốt vì ông nói giọng chắc như đanh:
- Người này trước ở thanh lâu bây giờ làm thân vợ bé. Lẽ ra tướng kỹ nữ phải trông ở sắc diện mới thấy, nghe tiếng nói mà đoán ra thì thật hoang đường.
Tôi không nhớ cậu tôi giảng ra sao, sau nay đi học tướng thuật tôi thấy sách có ghi: “đàn bà tiếng nói mà tán mạn tức là “kim thanh phạt mộc chi tượng” thường ở thanh lâu hoặc hành nghề chứa gái”.
Coi tướng phụ nữ trước hết phải nghe tiếng nói rồi mới đến sắc mặt, rồi đến hình thể, rồi mới đến tâm tư. Tiếng nói đặc biệt liên hệ tới tính mạng, hạnh phúc lứa đôi. Thanh âm phá thì các bộ vị khác dù có tốt đẹp cũng khó lòng cứu vãn khỏi mệnh số sinh ly tử biệt với chồng con.
Tiếng nói nam tử lấy âm thanh hồng lượng làm tốt, còn tiếng nói nữ tử chủ nhu hòa phải nhỏ nhẹ có âm điệu mới hay. Tối kị là tiếng nói sắc nhọn chói tai thì chẳng chôn chồng cũng khóc con, đàn ông tiếng nói chói ti suốt đời phá sản.
Thanh âm làm chói tai có hai loại: một loại thuộc kim, một loại thuộc mộc. Khắc phu vào loại thuộc mộc thì người chồng chết bình thường, nếu sát vào loại kim thì người chồng chết bất đắc kì tử.
Có một lần ở Bắc Bình, tôi (vẫn lời Tề Đông Dã) được gặp Bành rất rành tướng học. Tuy nhiên, tiên sinh ítk hi xem tướng cho ai. Sở dĩ thế vì tiên sinh cho rằng trên đời này phúc tướng thì hiếm mà tai họa thì nhiều. Nếu không nói thẳng lòng mình thì áy náy, nói thẳng hay gây mất lòng. Cho nên tiên sinh thường tránh né đề cập đến tướng số. Chỉ những người thân lắm.
Lần ấy gặp tôi, tiên sinh cao hứng không e ngại như mọi người khác.
Vào lúc đó có một bọn vừa nam vừa nữ vào vườ chơi, cả thảy năm người, hai nam ba nữ. Ba người đàn bà đều ở tuổi hơn bốn mươi. Họ ngồi không xa chúng tôi cho nên chúng tôi có thể dễ dàng nhận rõ mọi cử chỉ động thái của họ.
Bành tiên sinh hỏi tôi:
- Cháu thử xem bà kia đồng cách chỗ nào và dị cách ở chỗ nào?
Tôi nói:
- Cả ba suốt đời vừa no đủ ấm không lo khốn cùng. Đó là chỗ đồng cách. Còn dị cách thì ở nơi chồng con và thọ yểu.
- Hãy đoán về phu cung của họ.
Tôi chỉ từng người: bà này chồng sang, bà kia chồng giàu và bạ nọ khắc phu.
Bành tiên sinh cưới nói:
- Đại thể cháu nói không sai, nhưng bên trong còn có điểm chưa ổn.
Vừa nói Bành tiên sinh vừa uống ngụm trà rồi tiếp:
- Bà này chồng sang đúng, nhưng bà kia chồng giàu thì sai, chính bà ta giàu mới đúng. Cả ba đều khắc phu và đã khắc rồi.
Tôi được cậu tôi dạy mới năm sáu năm nên những chỗ ảo diệu thật tình tôi chưa thấu đáo. Tôi chỉ biết tướng nào rõ ràng còn ám tướng tôi chưa tinh. Ngoại ngũ hành tôi có thể nhận thấy nhưng nội ngũ hành tôi còn lờ mờ. Nhân dịp này tôi được học thêm. Tôi nói:
- Quả cháu không biết tướng cách khắc phu của họ. Vậy hai bà kia khắc phu căn cứ vào điểm nào?
- Tướng hiện rõ ràng về khắc phu cách, tướng học chia ra: diện mạo, thể hình và cử động, ba phương diện. Người sơ học chỉ biết diện mạo mà thôi. Tướng khắc phu trên mặt quan hệ nhất là mắt, mũi, lưỡng quyền. Thông thường, ta chỉ biết phàm người đàn bà mũi nhọn, mũi hãm, mắt hung, quyền cao là khắc phu. Nhưng khắc phu sớm hay muộn thì ít người đoán trúng. Bây giờ, bác chỉ cháu rõ. Cái bà mũi tước như đao khắc phu sớm lắm trước 40, không chỉ khắc một đời, ít nhất cũng phải khắc hai. Cái bà mũi hãm có khắc sẽ khắc sau 44 tuổi. Còn cái bà mà cháu bảo chồng sang quí, tướng khắc phu ở đôi mắt, vành mắt lớn quá lại có quang phù (sáng bong ra).
Có những câu thơ câu phú về tướng khắc sát phu rằng:
- Chuẩn tiêm, sỉ lộ tinh hầu kết
Ngách trắc thần hân cốt lộ thô
Phát tiêu tự hỏa long cung hãm
Bại tận nhân gia khắc tận phu
Nghĩa là:
Đầu mũi nhọn, răng lộ hầu lộ
Trán lệch, môi cong, xương lộ thô
Tóc khô cháy long cung hãm
Phá bại mọi nhà, khắc sát chồng.
- Cầu đầu ngách quảng bối phong long
Nhĩ phản thần thanh thần cánh hồng
Tu khắc nhất phu tịnh phá tổ
Cốt thanh y lộc tự nhiên phong.
Nghĩa là:
Đầu tròn lớn quả cầu, trán rộng lưng đầy
Tai phản, tinh thấn sáng suốt môi đỏ
Khắc một chồng phá gia một lần
Rồi sau mới có y lộc.
- Khuyết thần hỏa nục đầu vô phát
Chi thể tương thương thần đới sát
Phương hình phụ mẫu khắc phu đa
Quan quả cô độc tư bất yết.
Nghĩa là:
Môi mỏng, mắt đỏ đục, đầu ít tóc
Thân nhỏ, chân tay lớn, tinh thần sát phạt
Ở nhà làm hại cha, xuất giá sát phu
Quan quả cô độc suốt một đời
- Nữ nhân sinh nam đắc nhi tướng
Khí lãnh thần cương cốt bất thanh
Nhất sàng cẩm bị tu nhàn bán
Hưu vấn nhi tâm uổng dụng tâm.
Nghĩa là:
Người đàn bà có tướng đàn ông
Lạnh lùng cứng rắn cốt thô
Chiếc giường bằng gấm nhưng ngủ một mình
Đường con cái cũng chẳng nên hỏi nữa
- Quyền cao, ngách phá phượng trì thâm
Thô cốt tam đường thiểu tử tôn
Nhãn hạ la văn hoàn túc trái
Lưỡng phú hình phu tam độ hôn
Nghĩa là:
Quyền cao, trán hẹp, mắt sâu
Xương thô làm gồ đôi mắt, kém đường con cái
Dưới mắt nhiều vết, phải trả nợ tiền duyên
Vài lần khắc phu, vài lần tái giá.
- Khán nhân tà thi tịnh hồi cố
Dâm đãng tinh thần tiện hưu dư
Hạng đoàn phát nùng yêu bối lộ
Vi xuất khuê môn tảo khắc phu.
Nghĩa là:
Nhìn ai cúi mặt liếc ngang lạihay ngoái cổ
Tâm hồn dâm đãng bùa bãi hạ tiện
Cổ ngắn, tóc rậm, xương lưng xương sườn lộ
Chưa ra khỏi khuê phòng đã khắc phu
- Đoan nghiêm tôn trọng thân phì mãn
Ngách thượng hoành văn ngữ khí hùng
Tuy sát đa phu do vị chỉ
Không phòng độc tọa nguyệt minh trung.
Nghĩa là:
Trông oai vệ thân thể đẩy đà
Trán có vệt ngang tiếng nói đàn ông
Tuy đã sát nhiều chồng nhưng chưa hết
Vẫn còn ngồi dưới trăng trong phòng một mình.
- Nữ nhân nhãn hạ nhục can khô
Bất khuất tam phu khắc nhi phu
Kiến nhân yểm khẩu tiếu bất đoạn
Ái trục hành nhân dạ bán đồ.
Nghĩa là:
Đàn bà dưới mắt thịt tiêu khô
Không khắc ba cũng hai chồng
Thấy người ôm miệng cười chẳng dứt
Nửa đêm dậy chạy theo kẻ đi đường.
- Nhược thị diện trường ngách hựu trường
Hình phu khắc tử quyế nan dương
Mi thô khẩu thóat tinh thần cấp
Đào sử vô môi tự giá lang.
Nghĩa là:
Nếu mặt dài và trán cũng dài
Quyết nhiên là hình phu khắc tử
Mày thô miệng rộng tính nóng nảy
Lấy chồng lung tung bừa bãi.
- Nhãn tinh hoàng xích gia vô lương
Khắc tử hình phu biệt di hương
Nhược bất đầu hà tự ải tử
Dã tu sản ách huyết trung vong.
Nghĩa là:
Mắt đỏ ngầu hay vàng ệch nhà nghèo mạt
Khắc tử hình phu lưu lạc tha hương
Nếu không thắt cổ, từ trầm
Thì cũng bị sản ách mà chết.
Nói về tướng trăng hoa gian dâm
Trăng hoa là gì?
Hãy đọc những câu ca dao sau đây:
Ai làm cho bướm lìa hoa
Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng
Ai đi muôn dăm non sông
Để ai chứa chất sầu đong vơi đầy.
Đó là tâm trạng chót nhỡ của người con gái, không phải trăng hoa.
Chơi cho thủng trống long chiêng
Rồi ta sẽ lại lập nghiêm lấy chồng
Chơi cho thủng trống long bồng
Rồi ta sẽ lấy chồng lập nghiêm
Đó là tính trăng hoa
72 tướng tiện dâm của Viên Liễu Trang cũng là để chỉ tướng trăng hoa. Để cho rõ hơn, xin đọc những câu phú và câu thơ của các sách “Quỷ Cốc Phụ nhân ca, Thu Dàm, Linh Đài Bí Quyết”:
Âm dương tiêu tận như khang tỉnh
Biên địa toàn vô địch mã doanh
Tà thị đào hoa thị sắc lãnh
Bát họa phong trần tất tác ni
Nghĩa là:
Vầng mắt trên dưới gầy xác lõm khuyết
Góc trán siêu vẹo, dịch mã cung không đầy
Nhìn chộm mắt moơ màng mặt lạnh
Hoặc lưu lạc phong trần hoặc làm ni cô
- Hưu mị vô uy cửa chỉ khinh
Thử nhân chung thị lạc phong trần
Giả như bất thị sương môn nữ
Dã thị bình phong hậu lập nhân.
Nghĩa là:
Lẳng lơ nũng nịu cử chỉ dễ dãi
Đấy chính là hạng phong trần
Nếu như không ở lầu xanh
Thì cũng làm hầu thiếp
- Hữu nữ sinh lai phát mấn vô
Đầu tà thân trắc diện tiêu khô
Cánh kiêm tà thị đa hi sắc
Nhất dạ tam phu dữ tứ phu.
Nghĩa là:
Có người con gái tóc lưa thưa
Đầu lệch, thân nghiên mặt tiêu khô
Mắt nhìn liếc ngang hay cười cợt
Một đêm có đến ba bốn chồng
- Đầu lệch hoành phì phát mấn vô
Nhãn quang huynh trắc bội nhi phu
Hành hành tọa tọa vô đa tinh
Đáo xứ phùng nhân tiên thi phu.
Nghĩa là:
Đầu to như cái dành, tóc thưa ít
Mắt đong đưa thì phản bội chồng con
Đi đi ngồi ngồi không yên chỗ
Gặp ai cũng vơ làm chồng
- Phụ nữ dâm đa diện đới thanh
Nhẵn căn tà khởi thất vô trinh
Ngách phương tận thị du tình tật
Giá phu khắc tử thụ đa tâm.
Nghĩa là:
Đàn bà đa dâm mặt xanh xanh
Mắt hay liếc trộm ở trong nhà cũng mất trinh
Trán vuông góc ưa ăn trộm ái tình
Lấy chồng thì bỏ chồng để chịu tân khổ.
- Phụ nữ đầu ngưỡng đa dâm dục
Tự giá tâm tình thường bất túc
Vô mấn xinh mao mãn diên qua
Thông đồng đáo xứ tùy nhân túc.
Nghĩa là:
Đàng bà mặt vênh đa dâm dục
Theo giai rồi mà tình còn chưa đủ
Không có tóc mai, mặt nhiều lông
Loại người thông gian ngoại tình
- Dương mục phụ nhân sắc dục đa
Du gian dâm loạn nại như hà
Trương phu phao khước tùy nhân khứ
Thế đặc vi thê đinh thị bà.
Nghĩa là:
Chơn chơn mờ đục ấy là mắt thèm sắc dục
Dâm loạn và gian tư không biết thế nào
Bỏ chồng cắp nón theo trai
Làm vợ mọi người rồi làm mụ đầu
- Nhất kiến kiều tư đa tiểu ngữ
Đê đầu trắc thị ám du dâm
Hành như tước bộ tịch quang tị
Tâm lý gian cơ dụng ý thâm.
Nghĩa là:
Mới gặp lần đầu đã làm điệu nói nói cười cười
Cúi mặt liếc nhìn con gái dâm loạn
Đi như chim nhẩy, đầu mũi bóng loáng
Dễ đi vào đường gian dâm.
- Phu nhân, nhân dữ nhân đàm thoại
Chỉnh khâm lộng tụ hựu đê đầu
Dục thức nhân gian nữ tử sự
Tư tình như hải hựu như dầu.
Nghĩa là:
Đàn bà lúc nói chuyện với ai
Hay chỉnh lại áo quần hoặc vân vê tà áo và cúi mặt
Thì tình lai láng như biển khơi.
- Nhân trung lưỡng khúc phi lương phụ
Chí lão tâm trung dã hiếu dâm
Nữ nhân nhược thi năm nhân tướng
Dâm loạn phương tâm tất hữu danh
Nghĩa là:
Đàn bà nhân trung gẫy khúc
Đến già lòng vẫn rạo rực với điều dâm
Đàn bà mang tướng đàn ông
Dâm loạn nổi tiếng khắp nơi
Nói về tướng cô độc và không chồng.
Cô độc do nguyên nhân lấy phải chồng đần, chồng không hợp nên bỏ để ở một mình.
Cô độc vì cá tính cương cường chẳng chịu lấy ai
Cô độc vì nhỡ thì làm con gái suốt đời
Cùng nhau một phận má hồng
….. đã có chồng người vẫn nằm trơ
………….vô phu và cô độc giồng có:
Mặt đàn bà quá dài xương cốt thô như đàn ông
Thân thể mềm nhũn quá yếu đuối.
Môi cong, răng lộ mà răng không đều, lởm chởm.
Mặt to, thô, người cứng như sắt nguội.
Tai quắt không đều có thùy châu.
Mũi tẹt đi mà mi cốt quá cao
Mặt buồn mà tiếng nói như khóc
Mặt đàn ông.
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»