Chữ Việt tình tôi [2.2]
Hàn Lệ Nhân
Phần 2.2
Những tác giả bàn về chữ Việt abc tôi đã đọc qua đều đồng ý việc các giáo sĩ thừa sai, khởi từ năm 1548, đã phiên âm các thứ tiếng Hoa (Pinyin), Nhật (Romaji) (1) trước khi phiên âm tiếng Việt, đầu thế kỷ XVII. Ở đây, tôi xin thêm: Từ đầu thế kỷ XVI, các giáo sĩ thừa sai không những đã phiên âm mà đã in sách văn phạm, tự điển về các thứ tiếng như QueChua/QuiChua của người Incas tại Pérou ; tiếng Tupi ở Brésil ; tiếng Nahuatl của người Aztèque tại Mexico… Mấy giáo sĩ như Leonardo de Vale, José de Anchieta, Alonso de Molina, André de Olmos…là những nhà tiên phong lẻ loi soạn ra các sách này. Đơn cử dăm tiếng Nahuatl viết theo lối chữ la-tinh:
ilalla, xolal : Đất
ilhuicatl : Trời
atl : Nước
tletl, tlitl : Lửa
tlacatl : Đàn ông
cihuatl : Đàn bà
tlacua : Ăn
atli :Uống
yahualli : Ban đêm
ilhuitl : Ban ngày
inka: Vua
ing-Kóngr: Vua của nòi giống / của dân tộc
(tôi dịch từ sách Pháp)
Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp quốc là ba nước theo Công giáo, chịu ảnh hưởng trực tiếp của Giáo Quyền Rôma, cho nên trên mỗi chiếc hay mỗi đoàn thương thuyền từ ba nước này mạo hiểm "mang văn minh và thịnh vượng" đến tận chân trời góc biển tít mù, đều có vài giáo sĩ thừa sai đi theo để truyền đạo vào "đất mới". Nhưng ngôn ngữ bất đồng thì làm sao giảng ?
Các giáo sĩ vốn không cùng gốc gác, khác quốc tịch, khác dòng đạo do đó đã nảy ra hai chủ trương đối lập rõ rệt trong việc truyền giáo:
1/ Chủ trương " tabula rasa / table rase" tức tiêu thổ / hũy diệt mọi "quốc hồn quốc túy" của dân bản địa "man di mọi rợ", thay vào đó là những phong tục, tập quán, văn hoá…đến ngôn ngữ, văn tự "văn minh" của người chiếm đóng, của người truyền giáo, nói gọn là đồng hoá triệt để.
Chủ trương "tabula rasa" được áp dụng và đã thành công "vượt chỉ tiêu" ở Trung và Nam Mỹ. Ngày nay (2009), toàn bộ Trung và Nam Mỹ vẫn chính thức sử dụng ngôn ngữ và văn tự "thực dân: đời-đạo, đạo-đời". Ngôn ngữ và văn tự là vũ khí đồng hoá khủng khiếp, hơn cả 2 quả bom nguyên tử ở Nhật trong Thế chiến 2. Ngày nay, 2009:
Trung Mỹ: Sáu trên bảy (6/7) nước sử dụng ngôn ngữ và văn tự Tây Ban Nha: 1. Costa Rica, 2. Guatemala, 3. Panama, 4. Honduras, 5. Nicaragua, 6. Salvador, 7. Belize: Anh ngữ.
Nam Mỹ: Chín trên mười hai (9/12) nước sử dụng ngôn ngữ và văn tự Tây Ban Nha: 1.Bolivia, 2. Colombia, 3. Ecuador, 4. Peru, 5. Paraguay, 6. Chile, 7. Argentina, 8. Uruguay, 9. Venezuala.
10. Brazil (Bồ Đào Nha), 11. Surinam (Hoà Lan), 12. Guyana (Anh );
13. Guyane-française (không được tính là "nước") đương nhiên dùng tiếng Pháp vì vẫn còn là 1 tỉnh tại hải ngoại của Pháp (DOM = Département d'Outre-Mer).
Đa số các đảo (còn là thuộc địa) hay đảo quốc độc lập quanh Caraïbes và Antilles đều dùng tiếng Anh hay tiếng Pháp; đặc biệt ở Cuba, 2 triều Castro cách-mạng-anh-truyền-em-nối vẫn chưa chịu làm cách mạng ngôn ngữ và văn tự, đành tạm chính thức sử dụng, từ nửa thế kỷ qua, tiếng và chữ của đế quốc tư bản xâm lược Tây Ban Nha !
2/ Chủ trương "convenção / convenance" tức thích nghi.
Việt Nam nói riêng được "may mắn" nằm trong chủ trương này. Đơn cử 1 ví dụ trên phương diện thích nghi văn tự: Trong cuốn Tự điển Việt-Pháp (Dictionnaire Annamite-Français) của giáo sĩ JFM Génibrel, Imprimerie de la mission à Tân Định - SG 1898 (2), mỗi từ đứng đầu đều được ghi bằng chữ Nôm, tuy nhiên trong lời mở đầu, giáo sĩ Génibrel gọi đó là "những chữ chỉ định các tiếng trong ngôn ngữ An nam bình phàm" (des caractères indiquent les Mots de la langue annamite vulgaire), so với "ngôn ngữ nhà nho" (langue des lettrés), "ngôn ngữ quan lại" (langue mandarine), ý nói tiếng và chữ Hán-Việt "thánh hiền"!
Vậy, trên phương diện truyền giáo theo chủ trương thích nghi:
1. Giáo sĩ phải học kỳ được ngôn ngữ của người bản xứ, thích nghi với phong tục, tập quán của họ.
2. Học được ngôn ngữ rồi thì phải soạn sách giáo lý, dịch Thánh Kinh và tiểu sử chư thánh. Mà muốn soạn sách tất phải rành văn tự (nếu có), văn phạm…của ngôn ngữ đó, xong tìm mọi cách phiên âm nó ra vần la-tinh: Mọi nẻo đường đều dẫn về thành La Mã (tous les chemins mènent à Rome) !
3. Mẫu tự la-tinh có 1 tiện lợi tức thời : Dễ in sách vở giáo lý cho đặc vụ quảng bá đức tin Thiên Chúa.
Như thế, việc phiên âm các ngôn ngữ bản địa ra văn tự la-tinh là một đại chính sách của Giáo Hội La Mã. Riêng ở nước ta, "lúc mới đầu chắc cũng chưa nghĩ ra một lối viết nào nhất định; mỗi người dịch ra một cách, tuỳ cái âm vận riêng của tiếng quốc âm mình. Sau dần dần mới hợp nhất lại mà thành một lối chữ thông dụng ở trong "Nhà chung" hồi bấy giờ." (Phạm Quỳnh: Khảo về chữ quốc ngữ, Nam Phong số 122 tháng 10 năm 1927, trang đầu).
Tiến trình hình thành chữ Việt ABC trên sách báo giấy
"Ở bên Á đông ta thì từ thời nhà Đường (618-907) sử chép có Cảnh giáo tức là một phái Gia-tô-giáo đã sang Tàu, nhưng vì bấy giờ đạo Phật đang thịnh, cho nên đạo Cảnh giáo mất dần đi. Mãi đến đời nhà Nguyên (1280-1341), nhà Minh (1368-1628) mới thật có giáo sĩ sang giảng đạo Gia-tô ở nước Tàu."
"Theo sách Khâm định Việt sử, thì từ năm Nguyên hoà nguyên niên đời vua Trang Tông nhà Lê (1533) có người tây tên là I-rê-khu đi đường bể vào giảng đạo Thiên Chúa ở làng Ninh Cường, làng Quần Anh, thuộc huyện Nam Chân (tức là Nam Trực) và ở làng Trà Lũ, thuộc huyện Giao Thuỷ."
"Sách Nam Sử (Cours d'histoire annamite) của Trương Vĩnh Ký chép rằng năm bính thân (1596) đời ông Nguyễn Hoàng có người giáo sĩ Tây Ban Nha tên là Diego Adverte vào giảng đạo ở trong Nam trước hết cả. Nhưng lúc bấy giờ lại có mấy chiếc tàu Tây Ban Nha cùng đến, chúa Nguyễn sợ có ý quấy nhiễu gì chăng, bèn đuổi đi."
"Đến năm ất mão (1615) đời chúa Sãi [Nguyễn Phúc Nguyên, 1613-1635], giáo sĩ là Busomi [Buzomi] lại đến giảng đạo [ở Cửa Hàn (Kẻ An)], rồi đến năm giáp tí (1624) có giáo sĩ tên là Alexandre de Rhodes [trong sách ghi Jean Rhodes (?)], người Pháp Lan Tây, đến giảng đạo ở Phú Xuân và lập ra các giáo đường. Năm bính dần (1626) đời vua Lê Thần Tông, giáo sĩ là Baldinotti vào giảng đạo ở ngoài Bắc, bị chúa Trịnh không cho, phải bỏ đi. Được ít lâu, ông A. de Rhodes ở trong Nam ra Bắc vào yết kiến chúa Trịnh và đem dâng cái đồng hồ quả lắc, chúa Trịnh cho ông A. de Rhodes được giảng đạo tại kinh đô." (Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, nxb Tân Việt in lần thứ 6, SG 1958, trang 341-342).
Trong VNSL, cụ Trần Trọng Kim không nhắc tới Francesco de Pina vốn đã đến nước ta từ năm 1617, Christoforo Borri năm 1618 v.v…
Có lẽ cụ Phạm Quỳnh là người Việt đầu tiên đưa vấn đề chữ quốc ngữ ra bàn trong bài đã dẫn, kế đó là mấy cụ như Dương Quảng Hàm , Đào Duy Anh…, nhưng nhìn tổng quát, các cụ chưa có định hướng rõ rệt trong việc bàn thảo, ví dụ cụ Phạm Quỳnh chỉ nhắc phớt và dừng lại ở thời Alexandre de Rhodes, 1651 (Phạm Quỳnh, sđd trang 334) ; cụ Dương Quảng Hàm cũng vậy (VN Văn Học sử yếu, HN 1950 tr 183 ; SG 1968, tr 191).
Phải đến giáo sĩ người Pháp L. Cadière, qua loạt bài "Những người âu châu đã thấy cố đô Huế - Les européens qui ont vu le vieux Huê" đăng trong tập san Đô Thành Hiếu Cổ Huế (Bulletin des Amis du Vieux Huê – BAVH Juillet-Décembre 1931), là người đề xướng đường lối mới cho việc đi tìm nguồn gốc chữ Việt la tinh hoá. (Nguyễn Khắc Xuyên, sđd, trang 9). Giáo sĩ L. Cadière có ý kiến chia lịch sử chữ quốc ngữ (abc) ra nhiều thời kỳ hay giai đoạn, hàm ý việc phiên âm chữ nước ta là công sức của nhiều người, nhiều quốc tịch, qua nhiều thời kỳ ; sau đó nhà sử học Charles B. Maybon cũng đồng quan điểm đó (An Nam tân sử / Việt sử hiện đại - Histoire moderne du pays d'Annam, Paris 1919 tr 36).
1. Chữ Việt la tinh trước thời Đắc Lộ : 1618-1645 (A)
Từ thế kỷ XVI, giáo đoàn Dòng Tên (Jésuite, dòng đạo mang tên đức Chúa Giê-su) đã hoạt động mạnh tại Nhật Bản, lập nhà in, xuất bản sách giáo lý. Nhưng do có sự cạnh tranh, xung đột giữa các cường quốc da trắng, nhất là sự kém đẹp, kém hay giữa các giáo sĩ "đồng đạo mà chẳng đồng bào, đồng hương" hay giữa các dòng tu Kitô "đồng gốc dị cành" với nhau (dòng Jésus, dòng Dominicain, dòng Franciscain…), hoặc giữa các giáo đoàn Kitô nói chung với giáo đoàn Tin Lành, nên xảy ra lắm vụ tố cáo lẫn nhau làm cho triều đình Nhật đâm ra ngán sợ thế lực ngoại quốc, lấy quyết định thi hành chính sách bế môn toả cảng, khủng bố Kitô giáo. Đó là năm 1614. Đó cũng là nguyên nhân giáo đoàn Dòng Tên bắt đầu nghĩ tới Việt Nam. Về vụ bách hại đạo ở Nhật sẽ được nói rõ hơn khi nhắc tới chỉ thị của Thánh bộ truyền giáo năm 1622 và văn kiện điều trần năm 1625.
* Đàng Trong
Ngày 18 tháng 1 năm 1615, từ Ma Cao theo thương thuyền của người Bồ Đào Nha, giáo sĩ Francesco Buzomi (người Ý), cầm đầu một giáo đoàn gồm 5 người đầu tiên đến Cửa Hàn (Porte de Kéan = Đà Nẵng), 4 người kia là giáo sĩ Diego Carvalho và thầy Antonio Diaz (cả hai là người Bồ), cùng hai thầy giảng người Nhật: Joseph và Paul, thành lập cơ sở rao giảng đức tin Kitô đầu tiên tại nước ta. Bấy giờ Hội An đã có nhiều người Nhật (đa phần theo Công giáo) đến tỵ nạn bức đạo ở quê nhà. Lần lượt ở Hội An có thêm giáo sĩ Francesco de Pina (1617), 2 giáo sĩ Christoforo Borri và Pedro / Pierre Marquez (1618).
Dưới đây chỉ nói qua mấy giáo sĩ có ít hay nhiều ảnh hưởng tới Chữ quốc ngữ abc, từ thuở sơ khai:
- Giáo sĩ Francesco de Pina (1588-1625)
Giáo sĩ de Pina sinh năm 1588 tại Guarda (Bồ Đào Nha), vào tu năm 1605, sau đó không lâu qua Nhật nhưng không rõ năm nào. Khi qua Đàng Trong (1617) thì ông đã rành tiếng Nhật nên ở lại Faïfo (Hải phố / Hội An) làm việc với Pedro/Pierre Marquez - người Nhật lai Bồ hay Bồ lai Nhật. Về hoạt động của de Pina người ta biết được nhờ hai văn kiện: một của Christoforo Borri (1631) và một của Alexandre de Rhodes (1651), sẽ nói sau. Chỉ biết rằng ông giảng giáo lý trực tiếp bằng tiếng việt (không cần thông ngôn như các vị khác), và là thầy dạy tiếng Việt cho giáo sĩ A. de Rhodes, khi ông này qua nước ta năm 1624. Giáo sĩ de Pina mất sớm vì tai nạn thuyền đắm ngoài vịnh Đà Nẵng ngày 15 tháng 12 năm 1625 (hưởng dương 37 tuổi), theo lẽ
"không để lại một bút tích hay văn kiện nào về tiếng Việt. Có thể nói: De Pina như một trong số những người vô danh, những giáo sư lỗi lạc có công đức đào luyện một lớp môn đồ, song chính mình không gửi lại cho hậu thế một tác phẩm nào, ngoài những tác phẩm tinh thần và sống động
" (Linh mục Nguyễn Khắc Xuyên: Vần đề hình thành chữ quốc ngữ, Đại học Đà lạt 1962-1964, trang 73).
Trên kia tôi nói "theo lẽ" là vì có người đã viết hoàn toàn khác với linh mục Nguyễn Khắc Xuyên, như sinh viên (linh mục) Roland Jacques, trong luận án DEA (Diplôme d'Etudes Approfondies) tại Viện ngữ học Đông Phương INALCO-Paris năm 1995, mà sau này được hồn nhiên trích dẫn tràn lan trên net (chữ đậm là do tôi):
[
"Les premières traductions en vietnamien de textes religieux chrétiens datent de 1618, et sont dues pour l’essentiel à Francisco de Pina. Jésuite natif du Portugal [49], celui-ci avait terminé ses études [de quoi et quand ?] au collège de Macao, où le grand grammairien de la langue japonaise João Rodrigues ‘Tçuzzu’ était présent depuis 1610 [50]. Pour son travail, Pina reçut l’aide efficace d’un jeune lettré vietnamien baptisé sous le nom de Pêro [Phêrô], dont les bonnes connaissances en chinois durent être fort utiles en la circonstance. Ces faits ressortent d’un rapport officiel de la mission: « Cet homme [un lettré ami de la mission] a un fils de seize ans, le plus vif et le plus intelligent du lieu, et le meilleur écrivain de lettres chinoises, un art très estimé chez eux...
Ce jeune homme, baptisé sous le nom de Pierre, est grâce à sa connaissance des lettres d’un grand secours pour le Père, pour traduire dans la langue du pays le Pater Noster, l’Ave Maria, le Credo et le décalogue, que les Chrétiens ont déjà appris par cœur. Le Père a composé également dans cette langue les articles de foi; on y déclare de façon suffisante qu’il y a un seul Dieu, les mystères de la Sainte trinité, de l’Incarnation et de la Rédemption, et la nécessité où nous sommes d’avoir part aux mérites du Christ, notre Seigneur, par le moyen de la foi et des saints sacrements. Les Chrétiens mettent tout par écrit, et commencent déjà à réciter le rosaire comme chez nous » [51]. Selon l’usage des rapports annuels des Jésuites, « le Père », auteur des travaux en question, n’est pas expressément nommé. Trois Jésuites étaient alors présents à la mission de Pulo Cambi (correspondant approximativement à l’actuel Quy Nhơn) où se situe l’épisode: Buzomi, atteint d’une « grave maladie, qui fut cause qu’il ne put s’occuper de la conversion de ces gens » [52], Pina, et Borri, nouvel arrivant qui commençait à peine à étudier la langue. Nous comprenons que les travaux ont été faits sous la supervision de Buzomi, ancien supérieur de la mission de Cochinchine (1615-1618) et supérieur local, mais que les artisans principaux en ont été Pina et le jeune collaborateur vietnamien.
Selon sa propre affirmation, Pina avait achevé dès 1622 la mise au point d’un système de transcription alphabétique adapté à la phonétique et aux tons de la langue vietnamienne. Il avait collecté un florilège de morceaux choisis et commencé à rédiger une grammaire. Ce résultat, il l’avait acquis en travaillant sans ménager sa peine, aidé seulement par l’un ou l’autre des écoliers vietnamiens regroupés autour de lui [53].(Les portugais et la romanisation de la langue vietnamienne: Faut-il réécrire l'histoire?)
Bản dịch của Nguyễn Đăng Trúc:
["Những bản dịch các bản văn Kitô giáo đầu tiên ra tiếng Việt có từ năm 1618, và phần thiết yếu do công của Francisco de Pina, linh mục dòng Tên sinh ở Bồ Đào Nha; [49] ông đã tốt nghiệp [khoa nào?, năm nào ?] ở trường Macao, bấy giờ nhà văn phạm nổi tiếng về tiếng Nhật Jaão Rodrigues “TÒuzzu” cũng hiện diện tại đấy từ năm 1610.[50] Trong công việc của mình, linh mục Pina nhờ đến sự giúp đỡ rất hữu hiệu của một văn nhân Việt Nam trẻ tuổi có tên rửa tội là Phêrô; kiến thức uyên bác về chữ Hán của người trẻ tuổi nầy hẳn rất là hữu ích trong công việc của Pina.
Những sự kiện đó rút ra từ một bản phúc trình chính thức của cơ sở truyền giáo: “người ấy [một nhân sĩ thân quen với đoàn truyền giáo] có một người con trai mười sáu tuổi, là thanh niên lanh lợi và thông minh nhất trong vùng; anh nầy lại viết tiếng hán rất đẹp, được dân chúng hâm mộ vô cùng
... Anh tên thánh rửa tội là Phêrô, nhờ có tài hay chữ nên giúp linh mục rất nhiều trong việc dịch kinh Pater noster, Ave Maria, Credo và Mười điều răn ra tiếng địa phương, (các kinh) mà Kitô hữu đã thuộc lòng. Linh mục cũng viết ra các điều phải tin bằng tiếng địa phương ấy; trong bản đó người ta tuyên xưng rõ rệt chỉ có một Đức Chúa Trời, các mầu nhiệm về Ba Ngôi, về Chúa Nhập thể làm người, về chuộc tội, cũng như sự cần thiết của đức tin và các bí tích để được tham dự vào ơn ích của Chúa Kitô, Chúa chúng ta. Các kitô hữu chép lại tất cả những điều ấy, và đã bắt đầu lần hạt mân côi y như tại xứ chúng ta.[51] Theo thói quen thực hiện các biên bản hằng năm của các tu sĩ dòng Tên, “linh mục”, tác giả các công trình liên hệ không minh nhiên được nêu tên. Ba tu sĩ dòng Tên bấy giờ có mặt tại cơ sở truyền giáo Pulo Cambi (có thể tương ứng với tên gọi Quy Nhơn ngày nay), lúc công trình nầy tiến hành là: linh mục Buzomi, bị “bịnh nặng, nên không đi giảng cho người ta trở lại được”,[52] linh mục Pina và linh mục Borri, một người vừa đến và mới bắt đầu học tiếng. Chúng ta hiểu rằng các công trình được thực hiện dưới sự giám sát của Buzomi, cựu bề trên cơ sở truyền giáo Đàng Trong (1615-1618) và hiện là bề trên cơ sở địa phương, nhưng những tác nhân chính yếu thực hiện công trình nầy là linh mục Pina và chàng thanh niên Việt Nam cộng tác với ông ấy.
Theo chính lời xác nhận của chính linh mục Pina, ngay từ năm 1622, ông đã hoàn thành việc xây dựng một hệ thống chuyển mẫu tự latinh cho thích hợp với lối phát âm và thanh điệu tiếng Việt Nam. Ông đã làm được một tuyển tập và bắt đầu viết một bản văn phạm. Kết quả đó, linh mục Pina đã đạt được một cách vất vả, với sự trợ giúp của một số ít học sinh Việt Nam qui tụ chung quanh ông."] [53](Nguyễn Đăng Trúc chuyển qua Việt ngữ và dịch đăng trong Tập San Định Hướng No. 17 / Fall 1998, Pp 18-62.)
Vì chưa từng thấy qua bản chụp thủ bút "
Những bản dịch các bản văn Kitô giáo đầu tiên ra tiếng Việt có từ năm 1618" và "
kinh Pater noster, Ave Maria, Credo và Mười điều răn ra tiếng địa phương, (các kinh) mà Kitô hữu đã thuộc lòng…, tuyển tập…bản văn phạm" của giáo sĩ Francesco de Pina, nên tôi chép nguyên lại như trên để tồn nghi, trong bài ôn của tôi, với chút thắc mắc:
Giáo sĩ De Pina "tốt nghiệp đại học ở Ma Cao", nhưng môn nào và vào năm nào? Chẳng lẽ ở Ma Cao thời đó đã có đại học Việt ngữ ?
Giáo sĩ Francesco de Pina qua nước ta năm 1617, vậy mà chỉ non một năm sau, năm1618, ông đã thông thạo tiếng việt đến mức thành dịch giả, rồi soạn giả văn phạm…, thì hoặc là tiếng nước ta quá dễ, hoặc là ngài quá siêu, hoặc là người ta quá điêu về ngài. Xem hai hàng cuối ở tiết "Tiếng nước ta" trong phần nói về Christoforo Borri.
Và cũng theo R. Jacques: Giáo sĩ Francesco De Pina còn là tác giả của bức thư hay tài liệu "Manuductio ad Linguam Tunckinensem" mà TS Phạm Văn Tình dịch là "Nhập môn học tiếng Tonkin (Đàng Ngoài - tức tiếng Bắc)" và TS họ Phạm có nhận định thế này: ["
Tác giả (R. Jacques) cũng phát hiện các văn bản đó không phải văn bản gốc. Nó được học giả José Montanha và cộng sự chép lại cho Viện Hàn lâm Hoàng gia Bồ Đào Nha (để làm căn cứ nghiên cứu lịch sử Bồ Đào Nha).
"Bức thư của F. de Pina dài 7 trang, theo căn cứ sao chép, nó được viết từ năm 1600. Như vậy là tài liệu này ra đời trước cuốn Dictionarium annamiticum, lusitanum et latinum (ta thường quen gọi là Từ điển Việt-Bồ-La) của A. de Rhodes (công bố tại Roma 1651) tới nửa thế kỉ." (Phạm văn Tình:
Tấm lòng của một người Pháp yêu tiếng Việt, Lao Động 29/07/2007)
Tôi đã lo xa chụp hình trọn lời của Tiến sĩ Phạm văn Tình để tồn nghi, và cũng có chút thắc mắc:
Chắc chắn Tiến sĩ Phạm văn Tình đã đọc trọn, đọc kỹ cuốn sách của nhà sử học Roland Jacques:
Thưa Phạm tiến sĩ, giáo sĩ Francesco de Pina sinh năm 1588, vào tu năm 1605 tức lúc ngài 17 tuổi. Vậy mà, theo tiến sĩ, từ năm 1600 (Một Ngàn Sáu Trăm), chú bé giáo sĩ Francesco 12 tuổi đã "sơ khảo" được "Nhập môn học tiếng Tonkin" !
Xem ra chú bé Francesco còn siêu hơn nhân vật chính trong "tiểu thuyết" Cha và Con của nhà văn thiếu tướng Hồ Phương: cậu Ám Côn 13 tuổi chưa biết đọc chữ quốc ngữ !
Tóm lại, bài "Tấm lòng của một người Pháp yêu tiếng Việt" của tác giả Tiến $ĩ Phạm văn Tình làm tôi chạnh nhớ thêm 1 lần bài "Đi tìm nguồn gốc chữ quốc ngữ" của tác giả Tiến sĩ Phạm văn Hường ! (ngày 07/01/2007, Người Lao Động): Tuy tác phẩm của Tiến $ĩ Hường đã bị lặng lẻ bóc mất, nhưng tôi còn và trên Net cũng còn, Tiến $ĩ ạ.
Có bao giờ Việt Nam ta "dám xét lại", truy cứu tính khả tín những tài liệu Roland Jacques cước chú trong sách của ông ta không ? Tôi nghĩ là không. Tại sao ? Tại vì Roland Jacques là người ngoại quốc ! Nếu sách luận án "Những người Bồ Đào Nha tiên phong trong lĩnh vực Việt ngữ học" được ký bằng một cái tên tác giả da vàng, ví dụ ông Việt kiều Trần Văn Lọ hay bà người Việt ở nước ngoài Nguyễn Thị Lem thì nó có được "ta" đón tiếp như đã xảy ra không ? Hỏi tức là trả lời.
Tôi soạn bài này, chủ đích duy nhất là để ôn việc học sử Chữ nước ta, xin bạn đọc chớ nghĩ dại tôi đang làm sử học, oan uổng và tội nghiệp cho thân tôi. Nhưng tôi có quan điểm học sử của tôi: đã là sử thì, khi cần, phải có chứng liệu "sờ được" – khoa học mà, bởi vì sao ? - Bởi vì có những trường hợp, có những đề tài rối rắm u minh, mà 120 hay 1.200 cước chú trong một bài tiểu luận, luận án cũng chỉ là cước chú, không giá trị bằng 1 vật chứng trên giấy hay phóng ảnh "without photoshop" của vật chứng đó. Pháp có câu "une photo vaut mille mots" (một bức hình bằng nghìn lời nói). Nói thêm, thời 1995 đâu phải ai cũng rỗi để truy lùng, kiểm chứng cả trăm cả ngàn cước chú, vả lại đâu phải dễ. Thời 2007-2009 thì lại khác, ít ra trong đề tài này, phải chứng minh bằng "hình", nếu quả thật muốn chứng minh khoa học, thì chỉ cần 1 cú photocopy rồi 1 cú "unpolished scanning" là xong ! Tôi chờ.
Tôi chờ giáo sư tiến sĩ linh mục Roland Jacques cập nhật luận án sử học, nay đã thành sách, của ông và trưng ra đầy đủ vật chứng, xác minh cái siêu của giáo sĩ Francesco de Pina, để tôi cúi đầu nhận cái tội chẳng chịu khó tin điêu. Tôi chờ. Tôi chờ như đã từng chờ người ta suốt mấy năm trời trong việc giải mã lịch sử "cây đuốc sống" Lê văn Tám…xạo trong bài "Văn hoá nói thật, văn hoá nói láo" của chính HLN tôi !
- Giáo sĩ Christoforo Borri ( ? – 1632)
Giáo sĩ C. Borri sinh tại Milan, nước Ý, không rõ năm nào. Đến Đàng Trong năm 1618, cùng lúc với giáo sĩ Pedro/Pierre Marquez. Ông đảm nhiệm việc truyền giáo tại miền Bình Định (Thuận An, Đà Nẵng, Nước Mặn, Quảng Nam) trong vòng 4 năm. Borri rời Việt Nam năm 1622. Có lẽ ông là người thứ hai, sau De Pina, chịu khó học tiếng Việt nên đã thu phục được nhiều người cải đạo, như ông kể lại trong sách bằng chữ Ý và chữ Pháp của ông dưới đây:
Năm 1631, Borri cho xuất bản tại Rôma và tại Paris cuốn «Relatione della nuova missione delli PP della Compania di Giesu, al regno del Cocincina / Relation de la nouvelle mission des Pères de la Compagnie de Jésus au royaume de la Cochinchine» (Sự liên hệ về giáo đoàn mới của các linh mục Dòng Tên tại vương quốc Đàng Trong). Sách in năm 1631, nhưng chúng ta phải hiểu nội dung nằm trong khoảng thời gian 1618-1622, tức lúc ông đến và rời bỏ nước ta.
Có thể xem sách này là một "ký sự" khách quan và thú vị về đất nước, con người Việt cách nay gần 400 năm. Trước khi nhắc tới phần Chữ quốc ngữ trong sách này, xin chủ quan trích lược vài đoạn tác giả Borri nói về:
1. Con người Đàng Trong: Ông có những nhận xét rất thiện cảm, thí dụ ông cho người Việt khoẻ mạnh, can đảm, hiền từ và lịch thiệp khi nói chuyện, hơn tất cả mọi dân tộc Á đông, mặc dầu đôi khi cũng nổi nóng, giận nhiều. Người Việt, theo ông, còn có nhiều đức tính khác như đoàn kết, thông minh, thương người, nhất là người ngoại quốc, trọng kẻ già, dễ cho và cũng dễ xin. Đối với ngoại nhân, ta thường hay khen những phong tục, lề thói của họ, trái với người Tàu, chỉ hay khoe nước mình, phong tục và giáo thuyết của mình (trang 50). Sau cùng, ông bảo "đất có dân dễ giao hảo, thân ái và tự do quảng đại, có thể giao du dễ dàng, sống an ninh, vì họ là những người có giá trị, có lòng can đảm, mạnh bạo, những người miền Nam, đến nỗi các nước lân bang cũng đều biết tới" (trang 219).
Ghi thêm: Đọc đi đọc lại đoạn trên, tôi (HLN) không khỏi tủm tỉm chạnh nhớ tới mấy tác phẩm, chẳng hạn "Người Việt Cao Quý" của A.Pazzi = Hồng Cúc = Vũ Hạnh, và của… Tôi nghĩ, hoa đẹp hoa thơm tự hoa hoa đâu biết, dẫu có biết tự hoa không nên loè ra, hãy để thiên hạ phẩm bình !
2. Tiếng nước ta
["Mặc dầu tiếng miền Nam (Cocincina) tương tự như tiếng Tàu, và như người Tàu, người miền Nam này chỉ dùng những tiếng đơn âm, song có nhiều giọng và thanh khác nhau, nhưng thực ra rất khác nhau, bởi vì tiếng Nam phong phú và dồi dào nguyên âm hơn, do đó dịu dàng và thích thú hơn: giàu cung giọng và thanh hơn, bởi thế du dương và dịu dàng hơn. Cũng vì thế mà họ có tai âm nhạc, thích âm nhạc và có đặc tính biết phân biệt sự thay đổi trong các cung giọng và âm thanh.
Theo thiển ý tôi (Borri), thì tiếng Nam là tiếng dễ hơn mọi tiếng, bởi vì không chia động từ, không có biến cách danh từ (conjugaisons des verbes et déclinaisons des noms): Chỉ có một tiếng hay một chữ một lời, kèm theo một trạng từ hay một đại danh từ, là cho ta biết về thời quá khứ, hiện tại hoặc vị lai, cũng như số ít hay số nhiều. Tựu trung, nó thay thế cho hết mọi lề lối, mọi thời, mọi ngôi và mọi cách.
Ví dụ trong tiếng miền Nam, động từ "Avoir" là Có: Chữ này không thay đổi. Nếu thêm một đại danh từ vào thì sẽ dùng vào hết mọi chỗ. Trong tiếng ta (ở đây là tiếng Pháp), ta sẽ chia: J'ai, Tu as, Il a…nhưng họ, họ chỉ thêm đại danh từ mà không thay đổi biến thể động từ: Tôi có (Je Avoir), mày có (Tu Avoir), nó có (Il Avoir)…
Cũng vậy, để thay thế vào các thời khác nhau, thì họ nói, về thời hiện tại: Tôi nay có (Je maintenant Avoir), về thời quá khứ: Tôi đã có (Je déjà Avoir), về thời vị lai: Tôi sẽ có (Je après hoặc à l'avenir Avoir), và cứ như thế, song không bao giờ biến đổi chữ "Có"…
Cho nên, người ta dễ nhận ra rằng: tiếng này dễ học, vì trong sáu tháng tôi ở đó, tôi đã học được đầy đủ, để có thể tiếp xúc với họ và nghe họ xưng tội, mặc dầu tôi chưa thấu hiểu tới triệt để. Bởi vì nói cho đúng, muốn hoàn toàn thành thạo, thì phải mất bốn năm trọn."
3. Chữ nước ta
"Tiếng họ nói thường rất khác với tiếng họ dạy và họ đọc (hay học) trong lớp hay viết trong sách. Cũng như ở nước ta (nước Ý), tiếng thông dụng chung cho mọi người thì khác, còn tiếng la tinh sử dụng trong học đường thì lại khác. Họ cũng khác người Tàu ở chỗ: người Tàu chỉ nói một thứ tiếng mà họ gọi là quan thoại, nghĩa là thứ tiếng nói của nhà trí thức: tiếng này các nho gia và quý tộc dùng, cũng là tiếng các quan toà trong việc cai trị. Tiếng này cũng được viết thành sách, thứ sách in trong đó có chừng 80 nghìn chữ, mà chữ nào cũng đều khác nhau hết thảy. Bởi đó các giáo sĩ Dòng Tên phải dành những tám và có khi tới mười năm để học các sách đó, trước khi thành thông thạo và có đủ khả năng giao dịch với họ.
Nhưng người Nam đã giảm số các chữ vô kể ấy đi và chỉ còn chừng 3 nghìn [chữ Nôm] là cùng. Họ thường dùng những chữ này để soạn các bài diễn văn, viết thư từ, đơn khế, ký sự và những việc khác không có hệ gì tới những sách in: những sách này thiết yếu phải được thảo bằng chữ nho."] (Borri, Nguyễn Khắc Xuyên dịch, sđd tr 55).
4. Linh tinh: Ông sống ở nước ta vỏn vẹn 4 năm mà đã có những quan sát tỉ mỉ, thí dụ ông tả những con voi, tổ yến, quả / trái mít hay quả / trái…sầu riêng ! (Tôi (HLN) nghĩ bụng: không biết ngài có "dám" ăn chưa, vì đâu phải người Việt nào cũng "chịu" được mùi này) ! Thật là thích thú khi ông tả những phong tục như rửa chân khi vào nhà lúc trời mưa, những bữa tiệc nơi đình chung, tiệc trong những buổi lễ làng, cưới xin, tang ma…
Chữ Việt phiên âm trong sách Borri
Nguyên tác sách này viết bằng tiếng Ý, trong đó có đúng bảy mươi lăm (75) tiếng Việt được phiên âm, sắp theo thứ tự ABC như sau:
Vài nhận xét (lược từ Nguyễn Khắc Xuyên, sđd tr 65-70 – HLN kiểm chứng theo nguyên tác)
Trong sách này, tác giả Borri hoàn toàn không nhắc tới chuyện phiên âm tiếng nước ta ra vần la tinh.
Đọc kỹ bảng kê trên đây, chúng ta nhận ra vài đặc điểm trong các chữ phiên âm của C. Borri:
1. Không có dấu thanh (Sắc, Hỏi, Nặng), 2 dấu Huyền và Ngã vốn đã có sẵn trong mấy nguyên âm Âu châu (à, ã, è, ò, ù, ũ…);
2. Không có các nguyên âm: ă, â, ô, ơ, ư. Có thể vì chưa nghĩ ra hoặc vì nhà in ở Âu châu chưa có để xếp in;
3. Không thống nhất trong cách ghép 2 nguyên âm: oo = o, ví dụ: Gnoo = Nho , Gnoo = Nhỏ ; aa = a, ví dụ: Maa = Ma, Man = Mặn (trong Nước Mặn) ; uu = u, ví dụ: Chiuua = Chúa ; Sinnua = Thanh Hoá.
4. Không thống nhất cách dùng "On" và "Om", ví dụ: On = ông (sãi), Tlong = Trong ; Om = ông (nghè), Tlom = Tlong = Trong ;
5. Không có phụ âm Đ: (lý do như tiết 2)
6. Dùng SC như ta viết X ngày nay, ví dụ: Scin = Xin. Chữ S vẫn giữ đúng: Sai = Sãi, Saij = Sãi;
7. Dùng Gh thay Nh như trong Quignin = Qui Nhơn;
8. Dùng TL thay cho TR, ví dụ: Tlom = Trong;
9. Dùng phụ âm ghép CH trong Chiam = Chăng, Chiu = Chữ, Chuua = Chúa, nhưng kế đó lại có Ciam = Chẳng.
v.v…
Nhìn chung, cá nhân tôi nhận thấy giáo sĩ Borri phiên âm hoặc do nhu cầu cá nhân khi viết sách hoặc chỉ mới vô thức chớm ý phiên Âm chứ chưa nghĩ tới chuyện phiên Thanh.
Tôi nghĩ vậy, bởi chưng qua bản thảo của linh mục Nguyễn Khắc Xuyên, soạn tại Đà Lạt năm 1962-1964, thì ngày 17 tháng 12 năm 1621, giáo sĩ Dòng Tên Gaspar Luis, từ Macao, có viết một bức thư gửi về Rôma cho Bề trên, thuật lại các sự việc xảy ra trong giáo đoàn ở Đàng Trong từ 1615-1621, sau có in trong cuốn
"Lịch sử những gì đã xảy ra tại Ethiopie, Malabar, Brésil và Đông Ấn, trích từ những bức thư viết từ năm 1620 đến năm 1624 (Histoire de ce qui s'est passé en Ehiopie, Malabar, Brésil et es Indes orientales, tirée des lettres écrites es années 1620 iusques à 1624 - Paris 1628, tr. 122-148), dưới nhan đề
"Những bức thư trong năm 1621" (Lettres de l'an M.DC.XXI).
Trong bức thư này tôi đếm được đúng mười (10) chữ Việt phiên âm như sau, sắp theo thứ tự từng trang trong sách:
01.
Unque (ông nghè) trang 122, 125, 131;
02.
Cacian (Kẻ Chàm) trang 126 ;
03.
Noücman (Nước Mặn) trang 126, tr 132;
04.
Facfo (Faïfo) trang 127;
05.
Taifo (Faïfo) trang 129;
06.
Turon (Tourane, Thuận An) trang 130;
07.
Focisays (Phật Sư Sãi) trang 131;
08.
Ontrum (ông Trùm) trang 133;
09.
Zegro (???) trang 135;
10.
Barro (có lẽ là Bàn Cổ vì trong bức thư viết
:"Ông ấy nói rằng: vũ trụ bắt nguồn do một vị khổng lồ cao lớn khôn lường, tên là Barro (Bàn Cổ)" trang 136;
Riêng chữ Zegro số 09 (???): Giáo sĩ Louis Cadière chú thích: "Tôi không tìm được văn kiện nào cắt nghĩa tiếng Zegro. Có lẽ đây là một ướm thử phiên âm bằng chữ Rôma về một tên Việt ? hay là một tên riêng, hoặc một tên đệm thêm do tiếng Bồ hay tiếng Ý ? Tôi không dám nói chi" (sđd trang 426).
Vậy chúng ta đánh giá thế nào về mấy chữ phiên âm của giáo sĩ Gaspar Luis?
a/ Nên xem mấy chữ này là do nhu cầu cá nhân nhất thời của đương sự, bởi vì nếu để ý chúng ta thấy hầu hết hoặc là địa danh (Noücman = Nước Mặn / vùng Qui nhơn), Facfo, Taifo (Hội An), hoặc là đặc danh rất Việt (Unque / ông nghè), (Ontrum / ông trùm), (Barro / Bàn cổ)… Nghĩa là giáo sĩ Gaspar Luis buộc phải mượn vần abc ghi âm ra như thế trong bức tường thuật của mình. Không có phương pháp thứ hai.
Hay chúng ta cho đấy là mấy sáng nghĩ đầu tiên trong việc la-tinh hoá chữ nước ta ?
b/ Nếu cho 10 chữ trên kia của Gaspar Luis là phát kiến ban đầu (1621) thì tôi e lịch sử Chữ quốc ngữ la-tinh phải sửa, phải viết lại. Vì sao ?
- Vì tôi còn tìm được 4 chữ khác trong một bức thư đề ngày 12 tháng 11 năm1626, in chung trong "Các thư tín từ Ê-ti-ô-pi, năm 1626 đến tháng 3 năm 1627 và từ Trung quốc, năm 1625 đến tháng 2 năm 1626" (Lettere dell' Ethiopa dell' Anno 1926 fino al Marzo del 1927, e della Cina dell' Anno 1625 fino al Febrio del 1926) của giáo sĩ người Ý Giuliano Baldinotti, xb tại Rôma năm 1629. Bốn chữ đó nằm trong phần nói về Tumquim/Tonkin (Đàng Ngoài), trang 73 và 74 (bản tiếng Ý năm 1629), trang 77 và 78 (bản tiếng Pháp, BEFEO năm 1903, Volume 3, N°1):
1.
Zinum (không hiểu nghĩa là gì)
2.
Lai (Lào)
3.
Bau (có lẽ là Cao Bằng: Tác giả viết (dịch theo bản tiếng Pháp): "Vua xứ Bắc làm chúa chín nước; ba vua phải triều cống là vua
Lai, xứ Nam và
Bau. Chính vua xứ Bắc thì lại triều cống Trung Quốc…".
4.
Kaidum (có lẽ là Quảng Đông: Tác giả viết (dịch theo bản tiếng Pháp): "Nguyện xin thượng đế mở cho chúng tôi miền truyền giáo mới này [xứ Bắc, Đàng Ngoài], để có thể nhờ đường đó mà vào nội địa của nước Tàu (có thể làm được rất dễ, như người Nhật đã bảo tôi, những người này đã vào được nước đó qua một xứ bên Tàu gọi là
Kaidum, xứ này chỉ cách xứ Bắc chừng bốn ngày đường), và để rồi còn qua nước của người Lai nữa…".
Hình chụp hai nguyên tác tài liệu Gaspar Luis kể trên, tôi hiện có trong tay, tôi sẽ đưa lên khi cần.
Còn hai phóng ảnh dưới đây là của Giuliano Baldinotti:
Xin nhắc lại: Giáo sĩ Francesco de Pina sang nước ta năm 1617, nhờ thông thạo tiếng Nhật cho nên làm việc tại Hải Phố (Hội An, có đông người Nhật) với Pedro/Pierre Marquez, một người Nhật lai Bồ hay Bồ lai Nhật. De Pina chưa biết tiếng Việt. Christoforo Borri sang nước ta năm 1618, làm việc tại Thuận An.
Trong sách của Borri chúng ta mới bàn qua, không một dòng nào nhắc tới việc de Pina dịch kinh, soạn văn phạm, cũng không hề có mấy chữ "Manuductio ad Linguam Tunckinensem". Borri viết về de Pina: "Ngài rất thạo tiếng Việt và nói rất tự nhiên, do đó ngài không bao giờ ngừng việc truyền dạy đạo lý".
Hàn Lệ Nhân
(Còn tiếp)
Kỳ tới, phần 2.3: Chữ Việt la tinh trước thời Đắc Lộ : 1618-1645 (B)
(1) Riêng chữ Hàn không thấy nhắc tới, có lẽ do chữ Hàn đã được chính người Hàn phiên âm từ thế kỷ XIV-XV ; mãi sau này chữ Hàn mới có thêm 2 phương pháp phiên âm: McCune-Reischauer và Yale.
(2) Cuốn tự điển Génibrel này là do bác Âu Trường Thanh ký tặng tôi ngày 24/10/2007, sau hơn chục lần tôi đến "trị vi-rút" cho cái máy vi tính của bác, có gắn hệ gõ chữ việt WinVN-ThinArt của tôi, đồng thời hàn huyên về chữ nghĩa Việt Nam. Có lần bác hỏi: - Cháu thích nhất cái gì của Việt Nam ? Tôi trả lời không một giây do dự: - Phở Hà Nội, bún bò Huế, Mắm và Rau và sách cũ HN trước 54, SG trước 75 ! Bác Âu Trường Thanh qua Pháp từ năm 1968, chưa một lần về lại VN và đã qua đời tại Rueil-Malmaison, ngoại ô Paris, ngày 12/04/2009, thọ 84 tuổi (1925-2009). Xem:
Diễn Đàn.org