Tết Đoan Ngọ - Khóc Khuất Nguyên
Theo tập quán lâu đời của dân tộc, ngoài ba ngày đầu xuân, thiêng liêng rất được mọi người trân quý, Tết Đoan Ngọ hằng năm nhằm ngày mồng năm tháng năm âm lịch, cũng rất được coi trọng, nên mới có câu phong dao trử tình, được truyền khẩu từ lâu đời, mà hầu như ai cũng thuộc :
' tháng tư đong đậu nấu chè,
ăn Tết Đoan Ngọ, trở về tháng năm..'
Lúc này thời tiết cả nước đã vào cuối hạ nhưng nơi nơi nắng ấm chói chang, xanh rực một màu. Chim chóc bé lớn đủ loại từ muôn phương rũ nhau về, xây tổ trên khắp các cành lá xum xê, ngay cả mái đình trường học, líu lo bay nhảy. Tháng năm cũng là thời gian bận rộn ở nông thôn vì sắp vào mùa cấy :
'tháng tư đi tậu trâu bò,
để cho ta lại làm mùa tháng năm '.
Vì truyền thống của dân tộc Việt, là vừa làm vừa ăn, nên mọi người đã cử hành Tết Đoan Ngọ một cách vui nhộn và trang trọng, theo đúng phong tục tập quán của tổ tiên bao đời.
Theo tài liệu có ghi nơi các sách Phong Thổ và Tuế Thời Tạp Ký..thì Đoan có nghĩa là mở đầu, còn Ngọ là giữa trưa. Bởi vậy Tết Đoan Ngọ thường được cử hành vào giữa trưa, thời gian mà vầng Thái Dương, treo ngay giữa đỉnh trời. Người Tàu còn gọi Tết Đoan Ngọ là ngày Trùng Ngũ. Nhưng dù có được gọi bằng tên gì chăng nữa, ý nghĩa ngày tết trên, là tưởng nhớ tới Khuất Nguyên, một thi gia lỗi lạc đầu tiên của Trung Hoa, cũng là một anh hùng nghĩa sĩ, suốt đời vì vua vì nước. Cuối cùng vì không đạt được lý tưởng, cảm thấy tủi hận buồn sầu, nên đã tuẩn tiết trong dòng sông Mịch La. Hôm đó nhằm ngày mồng năm tháng năm âm lịch. Trong dòng sử Việt, ngay từ thời phong kiến cho tới ngày nay, xã hội Hồng-Lạc được xây dựng theo truyền thống Tam Giáo (Nho-Lão-Phật), lấy tam cương, ngủ thường, trung-hiếu-tiết-nghĩa, làm kim chỉ nam khi dấn thân vào đời. Do trên, danh tiết của Khuất Nguyên cũng đã ảnh hưởng tới sĩ phu trí thức VN, như Lữ Gia, Trưng-Triệu, Trần Bình Trọng, Nguyễn Biểu, Lê Lai, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Thái Học, Thủ Khoa Huân ..Mới đây lại có Phạm văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn..cùng nhiều chiến sĩ vô danh của VNCH, cũng đã chọn cái chết vinh, để không sống nhục, giữa lúc đất nước và dân tộc lọt vào cùm gông nô lệ.
1- Ý NGHĨA CỦA NGÀY TẾT ĐOAN NGỌ
Trước khi Khuất Nguyên tuẩn tiết, người Trung Hoa cổ cũng đã tổ chức lễ hội vui chơi vào ngày mồng năm tháng năm âm lịch nhưng chỉ nhằm mục đích cúng tế thần linh, xin phù hộ cho nhân gian tránh được những bệnh thời khí, do sự nóng bức quá độ của nắng hè gây ra. Về sau để ngày tết có ý nghĩa hơn, nhân dịp quan Đại Phu nước Sở là Khuất Nguyên, trầm mình chết trên sông Mịch La vào ngày mồng năm tháng năm. Thêm vào đó, trong ngày này có Lưu Thần-Nguyễn Triệu vào núi hái thuốc, lạc bước tới được cõi Thiên Thai và đã kết duyên cùng tiên nử. Tất cả các ý nghĩa trên, được cô đọng trong ngày Tết Đoan Ngọ. Ngày này, các thầy thuốc cũng tổ chức cúng Tổ Đình và lễ tết các gia sư trong ngành.
** KHUẤT NGUYÊN :
Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên, thì Khuất Nguyên sống vào thời Chiến Quốc (403-221 trước Tây Lịch TTL). Ông tên là Bình, tên chử là Nguyên, sinh năm 340 trước tây lich (TrTL), trong một gia đình quý tộc tộc, lại cùng họ với nhà vua. Sở lúc đó, là một trong bảy nước, có lãnh thổ rộng lớn, nằm ở bờ nam sông Dương Tử, tới tận biên giớiViệt-Lào-Thái-Miến ngày nay. Nước này đất rộng, dân đông nên rất cường thịnh. Từ lúc còn trẻ, ông rất ham mê đọc sách, nên gần như đã ngấu nghiến hết các tác phẩm danh tiếng đương thời, qua mọi lĩnh vực thiên văn, địa lý, lịch pháp, nông nghiệp, văn học và nghệ thuật. Bởi vậy ông có kiến thức rất là uyên bác và thực tế, nên được triều đình lúc đó rất coi trong.
Tham chính, được giữ chức Tả Đồ, một tước vị chỉ đứng dưới vua và quan tể tướng mà thôi, nhằm thời Sở Hoài Vương, có nhiệm vụ can ngăn, khuyên nhũ nhà vua mỗi khi hành động lầm lẫn. Ngoài ra Ông còn nổi tiếng văn hay, chữ tốt và là một thiên tài ngoại giao, nên được vua tin dùng, giao trọng trách Từ Lệnh, giúp Thiên Tử thảo Văn Án, soạn Sắc Lệnh..Tóm lai, trong triều ông thân cận bên vua, cùng bàn bạc việc nước. Ngoài ngõ, thay mặt thiên tử, tiếp xúc, bàn bạc với các phái bộ ngoại giao, của các lân bang và chư hầu. Nhờ vào tài trí lỗi lạc của Khuất Nguyên, nên vua Sở Hoài Vương lúc đó, được các nước Tề, Yên, Triệu, Nguỵ, Hàn, cử làm Lãnh Tụ phái Hợp Tung, do Tô Tần xướng xuất, để chống lại nước Tần hùng mạnh, lúc đó đang lăm le tóm thâu sáu nước, trong đó có Sở. Về đối nội, Khuất Nguyên chủ trương rất nhiều cải cách, trọng đó trọng dụng người hiền tài không phân biệt xuất xứ, làm cho dân giàu nước mạnh, để thống nhất Trung Nguyên, đã bị chia rẽ loạn lạc từ mấy trăm năm qua.
Thời nào cũng vậy, sĩ khí của đấng trượng phu trí thức, luôn khác biệt với tư cách hèn kém của bọn khoa bảng ích kỷ. Đó là không bao giờ vênh váo tự mãn khi đắc thời, cũng như chẳng thèm luồng lọt bưng bợ cấp trên, để vinh thân phì gia, giữ yên địa vị. Ngoài ra Khuất Nguyên vốn là bậc chính nhân, tình tình cương trực, chí khí trong sáng, không buông thả bản thân và lúc nào cũng đặt tổ quốc-danh dự-trách nhiệm, trên tầng cao ngất của cuộc đời, nên không bao giờ biết vị nể những kẻ làm bậy, dù đó là nhà vua hay hoàng thân quốc thích.
Nên mới bảo chữ tài liền với chữ tai một vần là thế đó. Bởi vậy ông đã đụng chạm tới bọn sâu dân mọt nước, lúc đó đang đầy rẫy trong triều đình nước Sở, mà đầu sỏ là Cận Thương, đang giữ chức Thượng đại phu. Bên cạnh đó còn có tập đoàn quý tộc nước Sở, do Tử Lan điều khiển, bị thua thiệt quyền lợi về những cải cách vừa ban hành, nên cũng ra mặt chống đối. Để loại trừ bậc trung thần, cũng là cái gai nhức nhối, bọn tham quan và quý tộc, đem rất nhiều vàng bạc châu báu, tới đút lót hối lộ cho ái thiếp của vua là Trịnh Tụ, nhờ đâm thọt, bôi bac Khuất Nguyên trước mặt thiên tử, với đủ tội xấu và tố cáo ông ỷ tài, lạm quyền, khi dễ nhà vua trước quần thần.
Nguyên Hoài Vương là một vị vua hôn muội, nên trúng kế gian, nghe lời sàm tấu, lần hồi xa lánh và không còn tin dùng hay nghe bất cứ một lời gì của ông như trước. Đã vậy, vua còn tin dùng Cận Thương, Tử Lan và đám nịnh thần. Quan trọng hơn hết là Sở Hoài Vương đã trúng kế ly gián của thuyết khách nước Tần là Trương Nghi, làm lũng bại kế sách Hợp tung chống Tần của Tồ Tần đề ra, khiến cho sự liên hiệp quân sự sáu nước tan rã. Trước tình cảnh nguy ngập của đất nước, Khuất Nguyên lúc đó tuy bị giáng chức, chỉ còn lo việc cúng tế trong cung đình, nhưng cũng hốt hoảng lo sợ, không phải vì bị bãi quan lột chức, mà là sự tồn vong của Sở quốc. Quả nhiên Hoài Vương, vì không chịu nghe theo lời can khuyên của ông, nên trúng kế phản gián của Trương Nghi, bị giam lỏng tại Hàm Dương và chết nhục hận trên đất Tần.
Khoảnh Tương Vương tức vị làm vua nước Sở, càng hôn muội hơn vua cha, lại thêm bên ngai có đầy bọn quan quyền thân Tần do Tử Lan cầm đầu. Bọn này bầy kế, dụ vua đầy Khuất Nguyên xuống cõi Giang Nam, ra khỏi triều chính. Tại đây ông thất chí, ngày ngày ca hát nghêu ngao như người điên, làm bài phú cuối cùng là ' HOÀI SA ' , trong đó gủi gấm tâm tình của một sĩ phu trí thức yêu nước nhưng bất lực trước bọn khoa bảng khỉ đột, gởi tới hậu thế như một lời vĩnh biệt. Trong nổi buồn đau thảm tuyệt, khi nhận được tin Sinh Đô của Sở đã lọt vào Tần và đất nước đang sắp diệt vong. Vì quân Tần đã tràn ngập Hán Bắc, nên ông cùng mọi người chạy loạn qua Hồ Động Đình, men theo sông Thuận Nguyên tới tận Tương Tây. Cuối cùng sống những ngày lang thang ở ngoại thành Trường Sa, rồi trong phút tuyệt vọng, ông ôm đá nhảy xuống dòng sông Mịch La, trầm mình tuẩn quốc, kết thúc cuộc đời của kẻ nặng tình với dân nước nhưng sinh bất trùng thời.
Hôm đó nhằm ngày mồng năm tháng năm âm lịch.
Được tin Khuất Nguyên tử tiết, vua Sở Tương Vương vô cùng thương xót và ân hận, nên ra lệnh cho dân chúng cõi Giang Nam, làm cổ bàn để cúng tế ông. Từ đó mới có tập tục gói Bánh Ú Tro bằng lá dông, ngoài buộc chỉ Ngủ Sắc, ném xuống sông. Riêng Mịch La là tên của một con sông nhỏ, chảy qua ngoại ô thành phố Trường Sa của tỉnh Hồ Nam, quê hương Mao Trạch Đông và Chu Dụng Cơ, nguyên thủ tướng Trung Cộng. Tại đây, hằng năm vào dịp Tết Đoan Ngọ, đều có tổ chức đua thuyền với ý nghĩa, cứu vớt linh hồn của Khuất Nguyên, qua mấy ngàn năm u uất , phiêu lãng trên sông nước muôn trùng.
Sau khi Khuất Nguyên qua đời, nước Sở cũng có nhiều bậc văn nhân tài tử, danh tiếng lẫy lừng lúc đó như Tống Ngọc, Đường Lặc, Cảnh Sái..Những người này tuy rập đúng khuông mẫu của Khuất Nguyên trong sáng tac nhưng không có một ai có được tấm lòng yêu nước thương dân nồng nàn, cao đẹp như người sĩ phu trí thức họ Khuất. Bởi vậy cái đám khoa bảng ăn hại ích kỷ này, chỉ giỏi khoe danh và bằng cấp, để nổ và được mời ngồi trên chiếu trước giữa sân đình, chứ không một ai dám nói thật, can vua vì đâu có ai dại yêu nước, để chuốc lấy thân bại danh liệt và cái chết thảm khốc như bậc trung thần, nghĩa sĩ Khuất Nguyên. Rốt cục nước Sở từ đó, trên thì vua dốt, chung quanh là đám quan quyền quý tộc, ngu dốt tham lam chỉ biết kết bè hưởng thụ, ai chết mặc bây, tàn nhẩn phá nát triều cương, đâm sau lưng chiến sĩ, góp sức làm cho nước Sở bị tiêu diệt bởi bạo Tần.
Ngoài danh tiếng lẫy lừng về chánh trị và ngoại giao, Khuất Nguyên còn sáng tác rất nhiều thơ văn, hiện còn lưu lại hậu thế 25 tác phẩm rất nổi tiếng, vì ông là một thi hào lớn, có địa vị cao trong nền văn học cổ điển Trung Hoa, đã ảnh hưởng sâu sắc tới tinh thần yêu nước, chẳng những của Hán tộc, mà còn truyền bá sâu rộng tới các dân tộc Á Đông theo Nho giáo.
Là người viết rất nhiều và tác phẩm nào, từ Cửu Ca, Cửu Chương, ThiênVấn..tới Ly Tao..bài nào cũng dượm nồng nhiệt tình khí phách, hiên ngang dũng cãm, thể hiên tính hào hoa phong nhã của một bậc kỳ tài.
Cửu Chương, gồm 9 bài thơ với chung một chủ đề ' buồn-hận', nói lên tâm trạng của một bề tôi trung quân ái quốc, tức Khuất Nguyên, vì can vua mà phải trải qua nổi khốn khổ trong cảnh lưu đày. Riêng ' Cửu Ca và Thiên Vấn', được các nhà nhà biên khảo lịch sử đời sau, đánh giá là tuyệt tác trong nền văn học cổ điển Trung Hoa. Thiên vấn đề cập tới 170 vấn đề, về các hiện tượng có liên quan tới trời đất, xã hội và các sự việc xãy ra hằng ngày. Đây là một sáng tác rất mới mẽ vào thời đó, khi hầu hết các văn nhân thi sĩ chỉ biết khóc gió thương mây. Riêng Cửu Ca là những khúc hát dân gian, với nội dung cúng tế thần thánh nhưng lại chứa đựng một sự tưởng tượng phong phú, được lồng trong những áng văn chương lãng mạn, làm cho các bài ca tế thần thánh khô khan, trở thành vũ điệu ca múa, được mến mộ trong chốn cung đình.
Nhưng tiêu biểu hơn hết trong sự nghiệp văn chương của Khuất Nguyên, vẫn là bài trường phú ' Ly Tao ' thuộc loại phú thơ trữ tình, xuất hiện sớm và có số câu dài nhất lúc đó, ảnh hưởng mạnh mẽ tới các thế hệ sỉ phu về sau.
Ly Tao có nghĩa là xa vua nên buồn. Đây là thi phẩm đầu tay của Khuất Nguyên, được sáng tác khi quân Tần tràn vào Hán Bắc, lúc ông bị bãi chức lưu đầy qua các miền đất, suốt Động Đình Hồ, tới tận hạ lưu Tương Tây thuộc Hồ Nam. Thơ viết theo thể trường phú, có 370 câu, gói trọn nổi niềm bi tráng thương hận, của một nhà ái quốc, trước nạn nước nhưng đành phải trơ mắt gục đầu bất lực. Suốt dòng thơ, Khuất Nguyên dùng văn bút máu lệ, để thể hiện cái lý tưởng cao đẹp, tinh thần yêu nước nồng nàn, qua những ngày tháng đấu tranh không mệt mõi của một sĩ phu trí thức.Toàn bài thơ nồng đượm nhiệt tình, ý tưởng khống đạt cao quý, nói lên cái khí phách của bậc đại nhân quân tử, khiến cho thơ dù đã viết cách đây gần mấy ngàn năm, vẫn có sức thu hút truyền cảm với hậu thế., nhất là đối với người Việt vong quốc ly hương. Trong thơ Ông còn dùng lối nhân cách hóa để tượng trưng vớí các điển tích thần thoại, biểu lộ mối tình cảm chân thành, dành cho Dân-Nước (Vua). Có thể nói được, mỗi chữ trong thơ như một giọt lệ sầu, còn một câu một đoạn, có khác gì dòng máu tươi thay mực viết, diển tả nổi nghẹn uất của trái tim khô, sau bao ngày hoài mơ tuyệt vọng. Tình tiết bi tráng như thế, làm sao không bắt người đọc phải ngẩn ngơ, cảm xúc và rơi những giọt lệ buồn.
Thế Lử, nhà thơ mới nổi tiếng của VN thời tiền chiến, đã cảm xúckhi đọc, nên trìu mến gọi thi phẩm bất hủ của Khuất Nguyên là ' Nàng Ly Tao ' :
' mượn lấy bút NÀNG LY TAO tôi vẽ,
và mượn cây đàn ngàn phím tôi ca ..'
Do ảnh hưởng to lớn nhử thế, nên suốt dòng lịch sử Trung Hoa, hình ảnh nhà chính trị cũng là một thi hào, đã bàng bạc trong tâm khảm mọi người, mà đồng điệu, đồng tình và gần gũi với ông nhất trong phong cách của người chính nhân quân tử, bậc sĩ phu trí thức, khiến ai cũng cúi đầu ngưởng mộ. Người đó là Văn Thiên Tườn (1236-1282 sau tây lịch ). Ông chẳng những là một nhà thơ lổi lạc, mà còn là chí sĩ yêu nước nồng nàn. Trong triều đình, làm quan tột đỉnh với chức Khu Mật Sứ-Hửu Thừa Tướng vào thời Tống Mạt. Khi quân Mông Cổ xâm lăng, chiếm kinh đô Lâm An (Hàng Châu) của Nam Tống. Ông tự cầm quân, phò vua Tống Đoan Tông chống ngăn giặc. Tại Quảng Đông vào năm 1278 vì thế giặc quá mạnh, nên cả chúa tôi đều bị giặc bắt. Vua bị giết, còn Ông được giải về cầm giam tại Yên Kinh hơn ba năm. Trong tay giặc, người chiến sĩ trí thức, khước từ tất cả lợi danh, phú quý, noi gương người xưa, thà chết sớm mà chết vinh, để không sống lâu lên lão làng nhưng sống để chuốc lấy nhục nhã một đời làm quan-tướng khiếp hèn :
' Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm, chiếu hãn thanh...'
Tại Việt Nam, các gương trung liệt trên, cũng đã được các bậc liệt nử anh hùng, trong dòng sinh mệnh dân tộc Hồng Lạc như Nhị Trưng, Bà Triệu, Nguyễn Biểu, Trần Bình Trọng, Đặng Dung, Võ Tánh, Ngô Tùng Chu, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương..và gần đây, trong cuộc chiến chống xâm lăng (1955-1975), nhiều tướng lãnh............. chấp nhận cái chết, để muôn đời sánh vai với tiền nhân, sống vinh trong cõi thênh thang miên trường.
Có thể khẳng định một điều về đạo đức của Khuất Nguyên, trong mấy ngàn năm qua, đã là tấm gương chung để mọi thế hệ cùng soi sáng. Đó là cái tiết tháo của bậc anh hùng, há không phải là những tấm phao tiếp sức cho các sĩ phu mọi thời, từ Chu văn An, Nguyễn Trãi, Phạm Quý Thích, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Thông..sáng tạo nên những bài thơ hùng hồn bi tráng, kêu gọi toàn dân nổi dậy, chống giặc xâm lăng trong lúc nước nhà bị ngoại bang dày xéo đô hộ, vua quan u tối bất lực, khiến chính trị đảo điên, nhân tâm phân tán chia rẽ, làm sao đủ sức chống chọi với giặc thù ?.
Ngoài quan điểm chính trị và thái độ xử thế trên, phần lớn các nhà thơ VN xưa cũng như nay, hay lấy cuộc đời bất hạnh, thân phận éo le của Khuất Nguyên, để gửi gấm tâm sự ngang trái của chính mình. Tiêu biểu hơn hết là thi hào Nguyễn Du, tài hoa nhất trong dòng văn học nước nhà xưa nay chưa ai sánh kịp, nhưng đường công danh thì trôi nổi bềnh bồng bất như ý của một hàng thần lơ láo. Riêng Cao Bá Quát lại càng bi thiết hơn, với kiếp số hùng tài nhưng thân phận bèo bọt, sinh bất trùng thời, cuối cùng bất đắc chí phải làm giặc, để liên lụy tới toàn gia phải bị bêu đầu. Tuy vậy lúc nằm vào máy chém, người sĩ phu trí thức Cao Bá Quát đã noi gương Khuất Nguyên, không hề run sợ :
' Phóng bộ học hành ngâm
Thí thụy Ly Tao ông
ba hồi trống giục mồ cha kiếp
một nhát gươm đưa đ. mẹ đời '
Thật là sĩ khí của người quân tử, luôn coi cái chết nhẹ hơn lông hồng, khác biệt một trời với bọn tham quan hàng tướng, khi đắc thời thì la lối khua mồm, lúc giặc mới chỉ vào tới biên quan, đã rủ nhau ù chạy ra ngoại quốc. Nay yên thân phì gia mập mặt, lại tiếp tục đắc thời, không bao giờ biết xấu hổ với thuộc cấp và đồng bào hằng ngày.
Được quý trọng tột cùng, nên Khuất Nguyên chẳng những có một địa vị cao quý trong tâm khảm các bậc trí thức, trong một số lớn thơ vịnh và chính Tùng Thiệu Vương, bậc tài hoa thời nhà Nguyễn, tùng được vua Tự Đức không tiếc lời khi hạ bút khen tặng:
-văn như Siêu Quát, vô Tiền Hán
thi đáo Tùng Tuy, thất Thịnh Đường.'
Ông này đã không tiếc tiền bạc, lập riêng một nhà thờ, để tưởng nhớ Khuất Nguyên cũng như các nhà thơ nổi tiếng của VN.
Ngoài Ly Tao, bài phú Hoài Sa, sáng tác cuối cùng của Khuất Nguyên, tuy lời lẽ không được trau chuốc như bài trên, nhưng cũng được hậu thế đánh giá là tuyệt tác vì lời lẽ ai ốn thảm tuyệt, ai đọc qua cũng không thể ngăn được thương tâm chính mình.
...................
Hồ Đinh
Số: 3733
Ra Ngày: 22/6/2005
http://www.vietbao.com/