Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Thơ văn Phan Huy Ích

0 trả lời, 590 lượt xem — Trang 1 / 1

Thơ văn Phan Huy Ích


(1750 - 1822)


Hiệu là Dụ Am, tự là Khiêm Thụ Phủ, nguyên quán thôn Thu Hoạch, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh (Nghệ Tĩnh), ngụy quán thôn Thụy Khuê, huyện Thạch Thất, Sơn Tây (Hà Sơn Bình). Nổi tiếng thông minh từ nhỏ, năm 1771 đậu giải nguyên, năm 1775 đậu hội nguyên và đình nguyên tiến sĩ, ra làm quan dưới triều Lê, được chúa Trịnh Sâm trọng dụng. Tây sơn dựng nghiệp, ông ra hợp tác và được vua Quang Trung tin dùng, cùng với Ngô Thì Nhậm lo việc ngoại giao.

Phan Huy Ích sáng tác rất nhiều (chữ Hán, chũ Nôm) được ghi chép trong Dụ Am ngâm lục và Dụ Am văn tập.


1. Sơ văn tôn tổng đốc thoái sứ Xương Giang ngẫu phú

Vạn lý chinh huy viễn xuất cương
Phù điên bài nạn điện Nam hoàng
Nghĩa thanh trực túc khu xuyên nhạc
Nhung mạc hà lao ngọc tuyết sương
Phục quốc quân thần cầu ngọn yết
Độ kiều nhân mã tối thương hoàng
Khả lân sổ vạn thành biên cốt
Oán khí tùy phong quá Thọ Xương.


Dịch nghĩa:

Mới nghe tin tổng đốc họ Tôn(1) lui quân về thành Xương Giang(2) ngẫu nhiên làm thơ.
Ngọn cờ chinh chiến muôn dặm ra ngoài biên cương
“Phù nguy, trừ nạn” và sắp đặt cõi Nam!
Nếu chính nghĩa đủ khu xử núi sông
Thì lều quân hơi đâu nằm trong sương tuyết?
Vua tôi phục quốc đều tham lam lười biếng (3)
Người ngựa qua cầu rất hoảng hốt!
Thương thay mấy vạn nắm xương bỏ lại bên thành
Khí oán hận theo gió đến Thọ Xương…

Dịch thơ:

Muôn dặm cờ binh trỏ xuất cương
Rằng phò nguy cấp định Nam phương
Nghĩa cao vi đủ nên sông núi
Màn soái cần chi dãi tuyết sương?
Phục quốc vua tôi đều biếng nhác
Qua cầu người ngựa xiết kinh hoàng!
Đáng thương mấy vạn xương ngoài lũy
Theo gió hồn oan đên Thọ Xương.

Đào Phương Bình
(Thơ văn Phan Huy Ích, tập I nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978. Trang 184-185)


2. Xuân trung phụng chiếu sai Bắc sứ, đắc mệnh ngẫu phú

Huyền trạch sơ doanh, hiếu lễ hoàn
Hoàng hoa dao phụng chiếu thư ban
Tang hồ hề tuất trì khu viễn
Ngọc tiết tư tri ứng đối gian
Thần phận phục lao tùy miếu xã
Khách du thừa hứng phẩm giang san
Biệt lai đa thiểu gia môn kế
Toàn chúc kinh thoa bố trí gian.

Dịch nghĩa:

Giữa mùa xuân, phụng chiếu sai đi sứ phương Bắc, khi nhận được mệnh, làm thơ
Vừa sửa sang phần mộ, lễ hiếu trọn vẹn
Nhận chiếu thư từ xa ban xuống sai đi sứ
Chí tang bồng ngại, gì giong ruổi phương xa
Giữa tiết ngọc (4) nên biết ứng đối là khó.
Bầy tôi phải vất vả để giúp ích xã tắc
Du khách khi cao hứng lại đề vịnh núi sông
Bao nhiêu việc nhà cửa sau khi ra đi
Đều nhờ người vợ nghèo (5) ra tay sắp đặt.

Dịch thơ:
Phần mộ phong rồi, tế lễ xong
Hoàng hoa nâng chiếu tự sân rồng
Ruổi giong không quản, luôn bên chí
Ứng đối cho hay, cũng khó lòng
Đã phận làm tôi, phò miếu xã
Lại thơ đi sứ điểm non sông
Chia tay bao việc trong nhà cửa
Đều dặn bần thê xếp đặt chung

Đào Phương Bình
(S.đ.đ trang 197-198)


3. Thu phụng chiếu ban giáo đạo tiết chế công đắc mệnh ngẫu thuật

Triền để thê trì nhất lữ nhân
Phiên cung khải địch thiểu sư thần
Khởi câu Nam Bắc đa thù chỉ
Tu thức Xuân Thu cu đại luân
Tuế vị bàng ky thao tích trượng
Cư thương thanh tịch bỉnh tri trần
Chấn lên hảo khán anh tư mại
Lẫm phụng cân nghiêm phó sủng lân.

Dịch nghĩa:

Mùa thu, nhận chiếu chỉ vua ban cho dạy bảo Tiết chế công (6), nhận được mệnh vua làm thơ.
Một mình một nhà, nhởn nhơ như một người khách
Dậy dỗ vương tử, thẹn chưa xứng bậc sư thần
Há đâu câu nệ vì Nam Bắc có nhiều ý khác nhau
Cần phải biết rằng kinh Xuân Thu (7) chứa đủ luân thường lớn.
Tuổi chưa già lắm mà đã được ban gậy chống
Thường được ở nơi tĩnh mịch, xa nơi bụi bặm
Mừng thấy vương tử nhân hậu (8) có thiên tư anh tuấn hơn người.
Kính cẩn vâng mệnh, cần mẫn nghiêm túc để xứng với lời chiếu ân cần dạy bảo.

Dịch thơ:

Việc nước xem chừng nhẹ một thân
Con vua dạy bảo, thẹn sư thần
Há đâu Nam Bắc lòng nê chấp
Phải biết Xuân Thu chưa nghĩa nhân
Tuổi tác chưa cao, ơn chiếu cố
Trú nơi tĩnh mịch, lánh hồng trần
Mừng thay vương tử thiên tư vượt
Vâng mệnh vua ban dạ ân cần.

Quang Hưng

4. Tiến kinh triều yết ngật ký sự

Gia môn hà nhạ sự
Phong cảnh phất ninh cư
Thần phận tồn hình tích
Uyên thông dữ chiếu thư
Xu thương vương dịch nhược
Úy tạ cánh ôn như
Cảm kích đàn trùng tố
Quân thiều mộng mị dư.

Dịch nghĩa:

Vào chầu xong ghi việc

(Nguyên dẫn: Vừa qua tôi vì có em mắc tội, lòng nơm nớp lo sợ, khi ở Bắc Thành dâng biểu trần tình tạ tội, nhận được chiếu truyền: “Tính người ta thiện ác khác nhau, cha còn chả được lòng với con, huống chi anh đối với em, việc đã không dính líu thì còn có hiềm nghi gì”, và cho vào kinh triều kiến. Khi vào chầu lại được tới trước mặt căn dặn ân cần, bấy giờ tôi mới dám cởi mở tâu bày. Ở triều về, kính ghi bài này).

Gia đình sao sinh nhiều việc?
Tình cảnh muốn yên không xong.
Phận làm tôi đã có dấu vết
Đấng sang suốt (9) lại ban chiếu thư
Khi tới lui càng thấy sợ hãi
Lời an ủi lại ôn tồn.
Cảm kích, tấc thành xin giải hết
Trong mơ vẫn vẳng nhạc quân thiều (10)


Dịch thơ:

Gia đình xảy bao chuyện
Tình cảnh sống không yên
Phận tôi tiếng đã mắc
Ơn trên chiếu vẫn truyền
Đi vội lòng nơm nớp
Yên ủi ân cần khuyên
Cảm động bày tấc dạ
Mơ màng khúc nhạc tiên.

Hoàng Tạo
(S. đ. Đ trang 68-69)


5. Thu phụng quốc tang, cảm thuật

Mộng thành suy cữu vị thi ai
Cảm trọng di cung thất phụng bồi
Quốc tế gia tình đa củ kết
Phong thần nguyệt tịch độc bồi hồi
Trần hoàng bào ảnh phù sinh huyễn
hải điện bình bồng lữ mộng thôi
Sắc ngộ tự tàm khuê phân nghị
Cô tung yếu hướng cố sơn lai

Hồng thiên thủy dự đăng luân các
Long khứ hà kham vọng Đỉnh Hồ
Tao tế cơ duyên nan tái đắc
Tùng kim cơ lữ nhạn thần cô.


Dịch nghĩa:

Mùa thu phụng quốc tang (11), cảm thuật.
Điềm chiêm bao nấu cơm bằng cối (12) chưa hết nỗi đau thương.
Cảm xúc nặng vì chiếc cung để lại (13) từ nya mất dịp theo hầu.
Việc nước, tình nhà nhiều điều bối rối.
Đêm trăng sớm gió, riêng những bùi ngùi
Cõi tràn như bọt nước, như bóng sáng, phù sinh huyền ảo.
Góc biển lênh đênh như cánh bèo như cỏ bồng, giác mộng lữ khách giục giã.
Gặt cảnh ngặt nghèo, riêng thẹn xa cách tình nghĩa
Gót chân cô đơn muốn trở về núi cũ.

Như chim hồng tung cánh, mới được dự lên bí các
Rồng đã bay đi, lòng sao kham nổi khi trông ngóng Đỉnh Hồ (14)
Duyên may gặp gỡ, khó có một lần nữa,
Từ nay ở quê người, thần như chiếc nhạn lẻ bầy.

Dịch thơ:

Uyên bay thuở ấy, vẫn còn đau
Rồng lại đi xa mất dịp hầu!
Việc nước tình nhà thêm bối rối
Đêm trăng, sớm gió xiết âu sầu
Cõi trần thấp thoáng, thân trôi nổi
Góc bể lênh đênh, mộng hắt hiu
Cảnh ngộ không may, tình nghĩa cách
Quê nhà trở gót muốn từ lâu
Tung mây hồng mới lên hoàng cát
Lánh tục rồng bay ngóng Đỉnh Hồ
Duyên phận gặp người khôn thấy nữa
Đời thần giống chiếc nhạn đơn cô!

Đào Phương Bình
(S. đ. đ, trang 73-75)


6. Tiễn binh bộ Tả Phụng Nghị nghi thành Nguyễn hầu phó Qui Nhơn thành
Ngã Hoan hảo giang sơn
Chung bẩm đa kỳ trác.
Thế đức diệu tiên hương
Nhân thụy xuất lân nhạc.
Tiến phủ bão tài khí
Diệu linh kiến đầu giác.
Cơ thức tảo duyệt thục
Khí thức du hoành bác.
Tùng tiết nại nghiêm ngưng
Ngọc chất kinh ma trác.
Bản lĩnh tự trung tín
Động tức thường lỗi lạc.
Chúc lý cập hào mang
Lập đàm sinh phong ngạc.
Biến giao thế gian nhân
Hệ thuộc vi tâm lạc.
Nhàn thị thiên hà sự
Vận dụng tại chưởng ác
Tạo hóa dữ kỳ phẩm
Giáng nhậm; lương bất thác.
Tao tê thánh minh thì
Tuân tư giá hoa lạc.
Vọng học vu thần cố
Chu tuyền thanh tỏa các
Tam niên cầm kiếm du
Ngâm chước bất cải lạc.
Trượng phu phó công danh
Bỉnh chí hà đoan xác.
Hạo diểu hải chi nam
Hy đại tân khái thác
Qui Nhơn thang mộc địa
Khu hoản ỷ khôi thạc.
Dân dung sơ phủ tập
Quân thanh phương trấn bạc
Triều đình trọng hành biên
Khái khảng tựu nhung mạc.
Tráng tâm tễ yên lam
Thanh khiếu đái cầm hạc
Thị Nại đào hung dũng
Cù Mông vân lạc mạc.
Huyền hồ thù sơn chí
Ma nhai lặc giai tác.
Khải ca tấu kỳ huân
Chung đỉnh đàm tân ác
Bả bôi tống chinh huy
Cư giả diệc tâm tạc.

Dịch nghĩa:
Tiễn ông Tả Phụng Nghị bộ binh nghi thành hầu họ Nguyễn (15) đến thành Qui Nhơn
Sông núi tốt đẹp của châu Hoan ta,
Chung đúc nên lắm bậc kỳ tài.
Đạo đức trên đời làm rạng rỡ quê tiên
Điềm lành sinh ra kỳ lân loan phượng
Là những người tiến thủ, tài ba khí phách
Từ trẻ đã tỏ ra xuất sắc
Cơ trí ở đời từng trải sớm
Đức độ kiến thức ngày càng rộng lớn.
Khí tiết hư thông, chịu đựng sương buốt,
Phẩm chất như ngọc, bao phen mài rũa
Bản lĩnh có từ lòng trung tín
Hành động cử chỉ đều lỗi lạc
Hiểu nghĩa lý đến tận kẽ tóc chân tơ
Thoáng câu chuyện tỏ người sắc bén
Làm bạn với khắp thế gian
Gắn bó như tình ruột thịt
Nhìn rõ mọi việc thiên hạ
Nắm vững để vận dụng
Tạo hóa ban phẩm chấtt kỳ lạ
Giao cho trách nhiệm thật xứng đáng
Gặp gỡ buổi thánh minh
Đi thăm hỏi, gióng xe ngựa qui
Học thức nổi tiếng, vua cũng nể vì
Miệt mài nơi thanh tỏa (16)
Ba năm, cây đàn thanh kiếm đi khắp đó đây
Khi chén rượu lúc câu thơ, vẫn thường vui vẻ
Đấng trượng phu trên đường công danh
Giữ chí sao mà đoan trang đúng mực!
Phía Nam miền biển miên mang
Đất mới khai thác của triều thịnh
Qui Nhơn là ấp thang mộc (17)
Cũng nơi then chốt cần bậc anh tài
Dân vừa được vỗ về yên ổn
Uy thanh quân đội đang lừng lẫy
Khi triều đình cần người ra trấn giữ bờ cõi
Thì khảng khái đến nơi hổ trướng cầm quân
Lòng hùng mạnh khiến mây khói khí độc tan hết
Tiếng thanh cao tỏ rõ ở cây đàn con hạc
Cửa bể Thị Nại sóng cuồn cuộn
Đỉnh núi Cù Mông mây man mác
Chí bốn phương nay được thỏa nguyền
Mài vách núi khắc câu thơ đẹp
Khúc khải ca công lớn tấu lên
Miếng chung đỉnh ơn trên thấm xuống
Nâng chén rượu tiễn lá cờ lên đường
Kẻ ở lại lòng tự thấy thẹn.

Dịch thơ
Hoan Châu quê ta đẹp
Chung đúc lắm kỳ tài
Đức sáng càng thêm rạng
Tiếng lành mãi bay xa
Tấn thủ kìa bao kẻ
Mưu trí đã vượt người
Việc đời sớm từng trải
Trí đức cộng thêm dày
Thông tùng chịu sương buốt
Ngọc quí chịu bao phen
Bản lĩnh từ trung tín
Hành động nào đơn sai
Lý tình từng thấu đạt
Đối đáp rõ ràng thay
Bầu bạn khắp trời đất
Tình gắn bó lâu dài
Thông tỏ việc thiên hạ
Xuất xử lẽ đều hay
Phẩm chất tạo hóa phú
Trách vụ thật xứng tay
Gặp gỡ buổi minh thánh
Thăm hỏi ngựa xe đây
Học thức vua biết tiếng
Xa gần cùng nể vì
Ba năm đàn cùng kiếm
Rượu nồng thơ càng vui
Trượng phu vì sự nghiệp
Chí lớn gió nào lay
Phương Nam miền biển rộng
Đất mới cần góp tay
Quy Nhơn đất dấy nghĩa
Mong sức bậc hiền tài
Uy thanh dội từ nay
Triều đình trọng hiền sĩ
Trướng hổ khảng khái bày
hùng tâm xua ám khí
Tiếng hạc vút tầng cao
Thị Nại cuồn cuộn sóng
Cù Mông lớp lớp mây
Chí bình sinh được thỏa
Vách núi khắc thơ hay
Khải hoàn ca khúc nhạc
Mưa mốc thấm hai vai
Nâng chén rượu tiễn bạn
Tự thẹn với lòng này!

Quang Hưng

Xem thêm

1. Ức gia huy

Lục tháp thành nam hệ nhất quan (18)
Hải Vân dạ độ thạch toàn ngoan
Cùng xu lam chướng tam niên thú
Cố quốc yên hoa nhị nguyệt hàn
Nhất biệt bất tri hà xứ trú
Trùng phùng đương tác tái sinh khan
hải thiên mang diểu thiên dư lý
thần phách tương cầu mộng diệc nan.

Nguyễn Du

Dịch nghĩa:

Nhớ anh

Một chức quan buộc anh ở phía nam tòa thành sáu tháp
Ban đêm vượt đèo Hải Vân đá lởm chởm
Ba năm đóng thú ở vùng núi lam chướng
Tiết tháng hai lạnh lẽo nhìn hoa khói quê nhà
Một phen từ biệt, không biết nay ở nơi nào?
Cuộc trùng phùng, có lẽ phải đợi đến kiếp sau
Trời bể mênh mông, đường xa nghìn dặm
Hồn phách tìm nhau, dầu trong giấc mộng cũng khó.

Dịch nghĩa:

Quan nơi sáu tháp thân ràng buộc
Đêm tối qua đèo đá nhấp nhô
Ba tết đồn xa miền hẻo lánh
Tháng hai quê cũ cảnh tiên sơ
Chia tay chẳng biết phương nào trú
Gặp mặt âu đành kiếp khác chờ;
Trời bể mịt mùng ngàn dặm thẳm
Tìm nhau khó cả thấy trong mơ.

Lê Thước.
(thơ chữ Hán Nguyễn Du, nhà xuất bản văn học, in lần thứ hai, Hà Nội 1978, trang 95-96)


2.Xuân trung phụng giám đốc Sơn Nam đế vụ kỷ sự

Bang gia nông chính trọng hà phường
Nam lộ công trình hệ giám đương
Đê đạo trấp dư hưng bản trúc
Diền tiền ngũ vạn kế phong cương
Sau thù quán trạch dân lao mẫn
Kiên trí hoàn công địa lợi trường
Lịch thứ tuần hành tuyên thạc hoạch
Yếu giao xứ xứt ung Cam Đường.


Dịch nghĩa:

Ghi việc giữa mùa xuân phụng mệnh giám đốc việc đắp đê ở lộ Sơn Nam (19) 1975
Chính sách nông nghiệp của nhà nước coi trọng phòng lụt
Công trình của lộ Sơn Nam thuộc quyền đôn đốc
Hơn hai chục đoạn đe cần đắp lại
Năm vạn quan tiền đầu mẫu đã thu
Ơn trên san sẻ thật đều, dân chịu khó làm nhanh
Đê đập hoàn thành vững chắc, lợi ích lâu dài
Nhiều lần đi các vùng để truyền đạt qui hoạch lớn
Cốt sao cho nơi nơi đều tụng thơ “Cam Đương”(20)

Dịch thơ:

Việc nông nhà nước trọng đê điều
Sơn Nam đê vụ, lệnh vua giao
Ngắn dài lớn nhỏ lo tu bổ
Năm vạn quan tiền đã tận thu
Ơn trên san sẻ, dân chung sức
Cơ nghiệp chóng thành, lợi bền lâu
Nhiều phen đi khắp truyền đạt mệnh
Mong cho đất nước được sang giàu.
Quang Hưng

3. Nhâm Tuất nguyên nhật, nhung trường dạ túc kỷ sự (1802)

Thái thốc cư hồi noản luật tân
Hải sơn nhất đới khởi nhung trần
Thúy hoa sức giá tương xung trận
Hỏa pháo trì thanh khởi báo xuân
Cảm kích viên tiền huề trạm khách
Thê lương lũy ngoại hạ qua nhân
Binh cơ lợi độn quan kim dạ
Bỉnh chúc yêu lai dịch bảo tần.


Dịch nghĩa:

Ghi việc đêm mồng một năm Nhâm Tuất (1802) chầu chựa vua ở nơi mặt trận (21)
Luật Thái thốc(22) bỗng về, đem hơi ấm trở lại
suốt một dải từ trên núi xuống bãi bể, nổi trận binh đao
Xe vua treo cờ thúy hoa toan xông ra trận
Tiếng súng liên tiếp, đâu phải báo tin xuân.
Cám cảnh cho người chạy thư trước cửa quân
Lạnh lùng thay kẻ mang gươm dáo ngoài chiến lũy
Thế quân được thua quan hệ ở đêm nay
Cầm đuốc đón chờ tin ở mặt trận chạy về.

Dịch thơ:

Thời tiết đem về hơi ấm xuân
Biển non chinh chiến nổi phong trần
Nhường cho cờ thúy hoa vua xe tiến
Chẳng phải pháo xuân, tiếng súng gần
Cám cảnh quân môn người trạm chạy
Thương tình chiến lũy kẻ gươm cầm
Được, thua trận đánh đem nay định
Đốt đuốc chờ tin trước cửa quân.

Vũ Đình Liên
(Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, thế kỷ XVIII-nửa đầu thế kỷ XIX, nhà xuất bản Văn học, in lần 2, Hà Nội năm 1978, trang 281-282).


9.Vọng tiền giá trú vĩnh dinh khâm mệnh cảo tế trận vong tướng sĩ lâm đàn cảm tác (1802)

Sưon tưu hải phệ giả nhung huy
Địch khái tề tâm giá tiến thì
Thiếu đệ bang gia thù vị phục
Phiêu binh hàng trận hiểm hà tì (từ)
Chẩm qua ninh tuận phong cương sự
Văn khánh thường triền phủ ỷ ti (tư)
Lễ điển khuyến trung long chẩn tuất
Tiểm linh tư ủy thử phương chi.

Dịch nghĩa:

Trước ngày rằm (23) xe vua trú lại Vĩnh Dinh (24) khao tế tướng sĩ tử trận, cảm tác khi lên đàn tế
Sườn non, bờ bể, vâng mệnh xuất quân
Lúc xe vua tới, mọi người đồng lòng căm thù giặc
Xa xôi nước nhà, thù chung chưa trả
Tan tác mặt trận, gian hiểm không từ
Gối giáo (25), thà liều chết để bảo vệ đất nước
Nghe khánh (26), nhà vua thương tưởng nhớ đến chiến sĩ
Bày tế lễ tỏ kòng vua thương xót những người trung nghĩa
Vong linh các ngươi nhạn lấy chén rượu này để tự an ủi.

Dịch thơ:

Non biển ra đi, cảm khái lòng
Theo xe vua tiến, quyết tranh công
Nước nhà xa vắng, thù chưa báo
Chiến trận gian nguy, bước chẳng chùng
Dáo gối, liều mình bờ cõi giữ
Khánh nghe, nhớ kẻ chiến trường xông
Xót người trung nghĩa, lên đàn lễ
An ủi vong hồn, chén rượu thơm.


Vũ Đình Liên
S.đ.đ trang 283-284)



10. Văn khao tế những tướng sĩ trận vong (Mùa xuân năm Nhâm Tuất (1802)

Than rằng:
Gió thổi bụi bay nơi chiến lũy, người chiến sĩ dũng cảm dường bao!
Áo khuya cơm muộn chốn Ngự Bình, long thánh thượng ót thương xiết nỗi.
Giặc nước chưa trừ xong,
Hồn thiêng khó yên ủi
Hôm nọ cờ hoa nam tiến, quyết tâm khôi phục cựu đô
Thủy bộ quan quân một lòng ghét địch.
Nhung hàng quản suất, chức phận chăm lo
Là kẻ quân nhân, phép quân gìn giữ.
Muộn hiểm không trừ, mảnh thân xem nhẹ
Hoặc có kẻ xông pha tên đạn, gửi mối giận ở chốn sa trường,
Cũng có người chìm nổi ba đào, ôm nỗi hờn tại nơi cửa bể.
Lại có kẻ đường về sa sỉa, bỏ mình nơi khe thẳm vực sâu,
Hay có người gặp vận rủi ro, dấn thân vào da beo miệng cọp
Gian khổ chinh phu, nói càng đau xót
Những tưởng quân thù chưa diệt, mài gươm kia, rèn dáo nọ, quyết lòng thẳng tiến với ba quân;
Nào ngờ việc binh thêm gây, con mất cha, vợ mất chồng, đến nỗi vấn vương trên chín bệ!
Nay truyền sắm sửa lễ vật, khao tế tai chốn dừng chân ở Trung kinh, khuyến hồn thiêng các nơi thảy đều về hưởng.
Nên nhận rõ quốc gia thật là sáng suốt, nếu phải đem quân ra trận, ấy là bởi sự bất đắc dĩ mà thôi.
Dầu ai thân bị đạn, thây bọc da, đó chỉ bởi lòng dũng cảm quyết liều mình vì nghĩa. Suối vàng như có biết, thì đó là điều nên tự hào.
Vậy có lời cáo thị để hồn thiêng đều biết rõ.

(S.đ.đ, trang 286-287)
-------
(1) Tổng đốc họ Tôn: tức Tôn Sĩ Nghị.
(2) Thành Xương Giang do quân Minh đắp ở xã Thọ Xương, huyện Bảo Lộc, phủ Lạng Giang (nay thuộc thị trấn Bắc Giang)
(3) Vua tôi phục quốc: chỉ vua Chiêu Thống và bọn bề tôi lưu vong hồi ấy.
(4) Tiết ngọc: cờ tiết vua ban cho sứ thần khi đi làm việc
(5) Vợ nghèo: dịch chữ “kinh thoa” trong thơ cổ (kinh thoa bố quần).
(6) Tiết chế công: Tước phong của Nguyễn Quang Thùy, con vua Quang Trung.
(7) Kinh Xuân Thu: một trong năm bộ sách của Nho giáo (Ngũ kinh) do Khổng Tử soạn.
(8) Thiên Chu nam kinh Thi có câu: “Lân chi chỉ, chấn chấn công tử” nghĩa là: “chân của con Lân ví như người công tử hiền hậu, (chỉ con vua nhà Chu ở đây, tác giả mượn từ này để khen con vua Quang Trung)
(S.đ.đ. T2 trang 55-56)
(9) Đấng sáng suốt: chỉ vua Quang Trung
(10) Nhạc quân thiều: Nhạc trong cung đình.
(11) Quốc tang: chỉ về việc vua Quang Trung mất vào mùa thu năm 1792.
(12) Nấu cơm bằng cối: dịch chữ “xuy cữu’ trong thơ, lấy từ điển tích trong sách “Dậu dương tạp trở” nói về giấc mộng của Tương Chiêm. Trong bài ý nói vợ của tác giả đã qua đời.
(13) Chiếc cung để lại: dịch chữ “di cung” trong thơ, chỉ việc nhà vua băng hà, lấy điển từ sách Sử Ký.
(14) Đỉnh Hồ: Nơi Hoàng đế đúc đỉnh, tu đắc đạo rồi cỡi rồng bay đi. “Hoàng đế đúc đỉnh ở Kinh Sơn (Đỉnh Hồ), tu đắc đạo thành tiên cỡi rồng bay lên trời, để lại chiếc cung, bầy tôi ôm cung gào khóc” (Sử ký)
(15) Nghi thành hầu họ Nguyễn tức là Nguyễn Đề, còn gọi là Nguyễn Nễ (1761-1805) hiệu là Quế Hiên, anh ruột nhà thơ Nguyễn Du. Nguyễn Nễ ra giúp Tây Sơn từ năm 1789, từng đi sứ sang Trung Hoa, năm 1791 được thăng Tả phụng nghị bộ binh, vào thành Qui Nhơn giữ chức hiệp tán nhung vụ.
(16) Thanh tỏa: dây móc xích màu xanh, chỉ cung điện. Ngày xưa trên cửa các cung điện có chạm trổ thành những hình dây mốc xích, đến đời Hán thì dùng nước sơn màu xanh sơn lên.
(17) Ấp thang mộc: chỉ quê hương của nhà vua.
(18) Lục tháp thành: chỉ thành Qui Nhơn
(19) Lộ Sơn Nam: Tên đất cổ thời Lê bao gồm các vùng Hà Nội, Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình.
(20) Bài thơ “Cam Đường” trong kinh Thi ca ngợi cách cai trị dân của Thiệu Bá thời Chu.
(S.đ.đ, trang 147-148)
(21) Vua đây là Nguyễn Quang Toản. Bấy giờ kinh đô Phú Xuân đã bị mất, chiến trận đang xảy ra ở vùng Đồng Hới, Quảng Bình.
(22) Thái thóc là một trong 12 ống luật nói ở kih Lễ, thuộc về tháng giêng.
(23) Tức rằm tháng giêng năm Nhâm Tuất (1802). Lúc ấy quân Tây Sơn đã bị thua ở trận Nhật Lệ, vua Quang Toản đem quân ra Bắc, tạm dừng ở Vinh, sai Phan Huy Ích làm văn tế các tướng sĩ chết trận.
(24) Vĩnh Dinh tức Trung Đô, gần Bến Thủy (Nghệ Tĩnh)
(25) Gối dáo: dịch chữ “chẩm qua” trong thơ, lấy từ điển tích cũ, ý nói quyết tâm đánh giặc.
(26) Nghe khánh: dẫn từ câu trong kinh Lễ, ý nói lòng vua tưởng nhớ đến các tướng sĩ đã hy sinh.
Đăng nhập để trả lời
0