Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Thơ văn Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803)

0 trả lời, 679 lượt xem — Trang 1 / 1

Thơ văn Ngô Thì Nhậm

(1746 - 1803)


Tự là Hi Doãn, hiệu là Đạt Hiên, đạo hiệu là Hải lượng, người thôn Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Sơn Bình) xuất thân từ một gia đình khoa bảng, năm 1766 đời Cảnh hưng thứ 37, ông đậu hội nguyên hoàng giáp (đỗ đầu thi Hội và thi Đình), làm quan đến chức Thị Lang. Khi Nguyễn Huệ ra Bắc Hà lần thứ nhất, ông cùng với một số nhà khoa bảng khác đã ra cộng tác và được Nguyễn Huệ tin dùng, giao cho giữ việc từ lệnh. Lúc Tôn Sĩ Nghị cùng mấy mươi vạn quân Thanh ồ ạt sang xâm lược nước ta, ông đã góp phần lớn vào kế lui quân về đèo Tam Điệp để bảo toàn lực lượng, giúp điều kiện cho Quang Trung đại phá quân Thanh sau này. Hai lần ông được triều Tây Sơn cử đi sứ sang Trung quốc. Hầu hết thư từ bang giao giữa ta và Trung Quốc bấy giờ đều do ông thảo ra.

Ngô Thì Nhậm là một bề tôi có tài năng của triều Tây sơn và là tiêu biểu cho hình ảnh người trí thức chân chính trong hoàn cảnh lịch sử khá phức tạp thời bấy giờ.

Sau khi nhà Tây Sơn mất, ông cùng một số quan văn khác bị Gia Long làm nhục cho đánh đòn trước văn miếu. ông bị đánh rất nặng, về nhà thì mất (1803) thọ 58 tuổi.

Ngô Thì Nhậm sáng tác rất nhiều (thơ, phú, chiếu, biểu v.v…) hầu hết đều bằng Hán văn.

1. Tòng giá vọng trận cung xuân nhật xuất binh phụng ký

Xuân khai vọng trận thúy hoa lâm
Vũ tễ vân thu tảo tính âm
Vạn đội tinh kỳ nghênh hiểu nhật
Mãn thiên kim cổ triệt bình lâm
Trần thanh hoàng đạo điều bành tứ
Lôi lệ vương sư thí tiển cần
Nhị bút từ thần bồi pháp giá
Nguyện canh lục nguyệt khải ca âm


Dịch nghĩa:

Theo xa giá đến hành cung xem tập trận, mùa xuân, kinh ghi.
Cờ Thúy hoa (1) tới xem mở cuộc tập trận mùa xuân
Mưa tạnh mây quang, âm u quét sạch
Muôn đội tinh kỳ, đón mặt trời buổi sáng,
Đầy trời chiêng trống, vang vọng tới rừng sâu.
Sạch bụi đường vua đi, ruổi dong ngựa tứ
Sấm vang quân vua tiến, sắn bắt chim muông
Bề tôi văn từ giắt bút theo hầu xa giá
Nguyện hát khúc khải hoàn ca Lục Nguyệt (2)

Dịch thơ:

Xa giá ngày này rộn tiếng quân
Mây quang mưa tạnh ấm trời xuân
Tinh kỳ muôn đội, hòa trong nắng,
Chiêng trống vang trời vọng tới rừng
Đường sạch, vua đi dòn vó ngựa
sấm vang quân tiếng gạt chim muông
Bề tôi văn bút lòng thư thái
Khải hoàn nguyện hát khúc mừng công
Quang Hưng

2) Dạ triệu thị ngự doanh tụng thiên thi, cung ký

Ngự doanh bán dạ trích đồng long
Nội sử truyền tuyên nội hãn tòng
Hải diện nguyệt minh quan án thiếp
Thiên nhan nhật lệ kiến ung dung
Kim thanh lãnh tụng thần tiên cú
Thiếp giáp kinh đương trở đậu xung
Đức tụ ưng hàn Tây tặc phủ
Ninh duy bút trận lộ anh phong


Dịch nghĩa:

Đêm được triệu vào ngự doanh đọc thơ tiên, kính ghi
Giọt rồng Ngự doanh vừa điểm nửa đêm
Quan nội sử truyền gọi quan nội hàn cùng theo vào (3)
Mặt biển, vầng nguyệt sáng soi coi phẳng lặng
Vẻ vua, mặt trời rạng rỡ thấy ung dung
Tiếng vàng sang sảng đọc câu thần tiên
Giáp sắt kính cẩn trước nơi trở đậu (4)
Uy đức ngưng tụ, mất mật bọn “giặc Tây” (5)
Há chỉ trận bút mới lộ rõ nét anh phong

Dịch thơ:

Giọt rồng vườn ngự điểm canh thâu
Nội hãn bút văn đạt lệnh hầu
Vầng nguyệt phẳng phiu đường biển lặng
Vẻ vua rạng rỡ mặt trời cao
Tiếng vàng sang sảng thơ tiên đọc
Giáp sắt dè kiêng cạnh án đầu
Uy đức kết tinh, lùi bọn giặc
Anh phong trận bút rõ làu làu
Quang Hưng

2. Sóc vọng thị tấu nhạc Thái tổ miếu, cung ký.

Nhất tự Kiều Sơn mật bát âm
Kim liên ngự chúc tuyết hoa trầm
Cửu công thấtt đức lưu hoàng vũ
Bách tích quần công ngưỡng hiển lâm.
Thanh miếu đài đầu quân hán nhĩ
Đan lăng thức mục tử vân thâm
Chỉ kim pháp khúc trân huyền hối
Lệ hạc hàm ưu dạ dạ tâm

Dịch nghĩa:
Ngày lễ rằm, mồng một, tấu nhạc miếu Thái tổ (6) kính ghi
Từ lúc Kiều Sơn (7) bát âm im bặt (8)
Đài sen nến ngự, chìm ngập tuyết hoa
Chín công, bảy đức, còn lưu múa Hoàng Vũ (9)
Quần thần, cônghầu ngửa mong thần giáng lâm
Nơi thanh miếu, ngẩng đầu miền quan hán gần gũi (10)
Chốn Đan Lăng, ngước mắt, áng tử vân âm u (11)
Gặp nay nhạc pháp khúc trình diễn ngày tuần tiết (12)
Nhỏ nước mắt, tấm lòng đêm đêm ngậm nỗi đau buồn.

Dịch thơ:

Từ thuở Kiều Sơn bặt tám âm
Đài sen nến ngự, tuyết hoa trầm
Chín công, bảy đức, lưu thiều khúc
Trăm tướng nghìn khanh, đợi giáng lâm
Ngước mắt, Đan lăng mây tia phủ
Ngẩng đầu, thanh miếu bến Ngân gần
Gặp kỳ sóc vọng nghe trình nhạc
Ruột quặn đêm đêm lệ ướt đầm.
Ngô Linh Ngọc
(Sđđ, trang 227-229)

4. Tòng giá bái tảo đan lăng, cung ký

Ngũ niên hoàn liễu đại kinh doanh
Trung Quốc tiên tri vẫn chủ tinh
Hạ lạc nhân hoàn lưu chính trị
Thượng mâu thiên đức xướng uy thanh
Chí nhân đại nghĩa, tồn Lê miếu
Hậu trạch, thâm ân xá Mãn binh
Bảo tộ miên hồng bằng yến dực
Sơn lăng vạn cổ điện thần kính .

Dịch nghĩa:

Theo xa giá đi bái tảo đan lăng, kính ghi
Năm năm, đã hoàn thành sự nghiệp lớn (13)
Trung Quốc biết trước: sa vị chủ tinh (14)
Bước xuống dưới cõi đời, để lại chính trị (15)
Bên trên sánh với đức trời, vang dội oai thanh
Chí nhân, đại nghĩa, bảo tồn tông miếu nhà Lê (16)
Đức dày, ơn sâu, khoan hồng binh sĩ giặc Mãn (17)
Ngôi báu dài lâu, dựa vào công đức của người để lại (18)
Sơn lăng muôn thuở, là nơi yên nghỉ tinh thần (19)

Dịch thơ:

Năm năm, nghiệp lớn chốc hoàn thành
Bậc thánh minh đà rụng tướng tinh!
Dưới giúp đời sau, truyền chính trị
Trên so trời thẳm, dậy uy thanh
Nhân cao, nghĩa cả, còn Lê miếu
Lượng rộng, ơn dày, thả Mãn binh
Ngôi báu dài lâu nhờ đức lớn
Sơn lăng bền vững rạng tinh linh.
Ngô Linh Ngọc
(Sđđ trang 230-231)

5. Ninh Minh giang ký kiến

Bất đãi Phân Mao nhận Lĩnh Mai
Sóc Năm giới hạn tựu an bài
Thiên Sơn bính củng Vân, Kiều giáng
Nhất thủy càn lưu Bác, Lãng lai
Địa đạo ẩn cơ phi ngẫu nhĩ
Thiên công thâm ý khởi đồ tai !
Bảo thư “phận định” nhàn khan thục
Hựu bả đồ kinh nhất triển khai.


Dịch nghĩa:

Ghi lại những điều trông thấy ở sông Ninh Minh (20)
Không đợi đến núi Phân mao (21) mới nhìn ra cành mai Lữu Lĩnh (22)
Giới hạn Nam Bắc đã tự xếp đặt
Nhìn ngọn núi chầu về đông nam, từ Kiềm Châu, Vân Nam kéo xuống.
Một dòng nước chảy qua tây bắc, từ An Bắc, Thoát Lãnh đổ về.
Mạch đất huyền vi chẳng phải ngẫu nhiên
Ý trời sâu thẳm nào phải bâng quơ !
Sách trời vạch rõ cương giới, ngày thường đã xen kỹ (23)
Nay lại mở bản đồ xem lại một lần nữa.


Dịch thơ:

Chẳng đợi Phân Mao nhân Lĩnh Mai
Bắc Nam ranh giới đã an bài
Chầu Nam, núi hướng Vân, Kiềm ruổi
Ngược Bắc, sông từ Bác, Lãng trôi
Mạch đất ẩn tàng do sẵn định
Ý trời xếp đặt há rằng chơi
Sách thiêng “định phận” làu bàu thuộc
Lấy bản dư đồ mở lại coi.

Khương Hữu Dụng
(Sđđ, trang 266-298)

6. Hóa nhĩ ngâm

Triêu phát Nam Ninh thành
Mộ túc Tam Giang khẩu
Thu thủy tối trùng ngưng
Thu sơn diệc thanh sấu.
Trường không vô vân yên
Tĩnh đường thiểu trần cấu
Thôi bồng khán thúy vi
Trầm ngâm tưởng cao hậu
Ngã hành vạn lý trình
Lai khứ tạm thời hậu
Mục đỗ dữ nhĩ văn
Nam Bắc vô thù thú,
Nhật nguyệt đáo xứ trung
Sơn xuyên tùy lý tấu.
Kê noãn bình phân ngoa
Nam nữ tam nhất mậu
Di Hạ âm dương phân
Thử ngôn thái thiển lậu
Thiên lý tại nhân tâm
Phong khí đãn tiên hậu
Giai tri tôn quân vương,
Giai tri thân phụ mẫu
Âm, dị thân tắc đồng
Kiến thức nhất tình đậu
Đường đường Chu phu tử
Hiền ngôn thậm suy thấu
Thịnh xưng Tây Nam phiên
Văn tự đa cao thủ
Tất hữu khai kỳ tiền
Bất độc Trung Quốc hữu.
Khuyếch nhiên dung ngã tâm
Qui ngô ngữ ngã hữu
Hạnh tai sinh Nam bang
Nhiễm nhiên bội thân thụ .
Vật vịn ngã bất hoa
Việt Thường hữu Hoàn cẩu
Thí khán inh Minh giang
Cổn cổn thủy đông tẩu
Phát nguyên hà sở tự ?
Ngọ đinh chuyển Canh dậu.


Dịch nghĩa:

Bài ca cười mỉm
Buổi sáng, từ thành Nam Ninh ra đi (24)
Buổi tối, đến bến Tam giang (25) nghỉ lại
Nước mùa thu rất trong, lặng
Núi mùa thu cũng xanh gầy
Tầng không chẳng có khói mây
Đường vắng ít bụi bặm
Đẩy mui thuyền, ngắm núi xanh,
Lặng lẽ ngẫm nghĩ về trời cao đất dày
Ta đi đường nghìn dặm
Đi về trải ba mùa
Mắt nhìn và tai nghe
Nam Bắc, không khác nhau
Ở những chốn mặt trời mặt trăng chiếu đến
Núi sông theo mạch mà tụ lại
Bảo là “lòng trắng đỏ lòng đỏ trứng gà bằng nhau” là nhảm
Bảo rằng “ba phần trai một phần gái” là sai !
Nói rằng ngày đêm ở Di, Hạ khác nhau
Lời nói ấy quá thiển cận
Lẽ trời ở tại lòng người
Chỉ có phong khí là có chỗ đến trước, đến sau
Đều biết tôn quân vương
Đều biết yêu cha mẹ
Âm khác nhưng thanh thì giống
Kiến thức đều cùng khuôn phép
Lớn lao thay! thầy Chu (26)
Lời bậc đại hiền thực thấu suốt !
Thầy Chu khen các phiên bang phía Tây Nam
Có những người giỏi văn chương
Tát nhiên có người mở mang trước
Không riêng gì Trung Quốc mới là hơn!
Lời bàn rộng lớn ấy thật hợp lòng ta!
Ta về, nói cùng các bạn:
May mắn thay! Chúng ta được sinh ra ở nước Nam
Đường hoàng đai lưng, dây ấn
Chớ bảo rằng ta kém văn minh
Xưa kia đất Việt Thường có bậc kỳ lão (27)
Nay hãy xem dòng sông Ninh Minh
Cuồn cuộn nước về đông
Nguồn sông phát từ đâu ?
Phát từ phương Nam chuyển sang phương tây bắc

Dịch thơ:

Sớm Nam ninh ra đi
Tối Tam giang nghỉ lại
Nước thu trong, lặng lờ
Núi thu xanh, còm cõi
Trời thu không khói mây
Đường vắng không vương bụi
Đẩy song nhìn núi xanh
Lẽ đất trời nghĩ ngợi
Ta đi vạn dặm đường
Đã ba mùa tiếp nối
Mắt thấy và tai nghe
Bắc Nam chung lẽ ấy.
Nhật nguyệt khắp trên đầu
Núi sông tùy hội tụ
Đâu lòng trứng bằng nhau ?
Đâu ba trai một gái ?
Di, Hạ khác ngày đêm
Lời sao nông cạn bấy!
Lẽ trời ở lòng người
Sớm muộn tùy phong khí
Đâu chẳng trọng quân vương?
Đâu chẳng yêu cha mẹ ?
Khác âm mà giống thanh
Phép khuôn chung trí tuệ
Vĩ đại thay thầy Chu
Lời hiển, suy cạn lẽ
Khen vùng phiên Tây Nam
Lắm bậc tài chữ nghĩa
Ắt có người mở mang
Há chi Trung Nguyên nhỉ ?
Ta mở lòng đón ghi
Về cùng bạn bè kể:
May sinh ở nước Nam
Đường hoàng thân áo mão
Chớ bảo không văn minh
Việt Thường có “hoàng lão”
Thử trông dòng Ninh Minh
Về đông cuồn cuộn vỗ
Sông bắt nguồn từ đâu ?
Từ Nam sang Bắc đó.
Ngô Linh Ngọc
(Sđđ trang 315-319)

7. Dạ hành


Cửu tiêu tuyên chỉ thôi triều sứ
Mã sậu xa trì chỉ Đẩu tiêu
Thiên thự tinh thần khai huyết lạn,
Địa di nham lĩnh thất thiều nghiêu
Hoàng hoàng minh chúc truyền mai dịch
Bái bái hành tinh phất liễu điều
Ngũ dạ loan thânh tần nhập mộng
Y hi Nam khuyết bang Quân Thiều


Dịch nghĩa:

Đi trong đêm (28)
Cửu trùng xuống chiếu giục giã sứ giả vào chầu
Ngựa ruổi bon nhắm hướng chuôi sao Đẩu
Trời sáng, các vì ao chói lọi
Đất bằng phẳng, hết núi nhấp nhô
Đuốc sáng huy hoàng truyền khắp trạm mai,
Cờ bay phấp phới chạ vào cành liễu
Năm cánh tiếng loan nghi luôn vào giấc mộng
Phảng phất như đang ở cửa Khuyết phương Nam nghe nhạc Quân Thiều (29)

Dịch thơ:

Chiếu ra giục giã sứ chầu vua
Hướng bắc giong xe ruổi vó lừa
Trời sáng ngàn sao soi lấp lánh
Đất bằng đồi núi hết lô nhô
Trạm mai đuốc sáng huy hoàng dọi
Cành liễu, cờ bay phấp phới lùa.
Xe giá năm canh vào giấc mộng
Tưởng bên cửa Khuyết nhạc Thiều đưa
Khương Hữu Dụng
(sđđ trang 339-340)

8. Vũ hành

Nhật dạ kiêm trình ngũ bách lý
Nhân mã trì khu bất cảm thụy
Khổn thần hỏa tốc đằng chiếu thư
Phiên sứ tinh trì phụng thiên chỉ
Cửu thiên cao vũ nhuận tùy xa
Nhất hồi ông ế nhất bàng đà
Bộc bố như lôi thủy như tiễn
Tài độ liễu hà phục đăng lĩnh
Lĩnh thạch như tiên, thiên sắc minh
Không sơn tịch mịch vô thôn yên
Nhân ngữ đãn phục vân ngoại thinh
Bản kiều dao dao cúc diệt minh
Thủ tốt truyền hô lai tiếp nghênh
Yên vụ mông mông sắc bất hiện
Tu du đông sơn nhất luân sinh
Giang sơn nhập nhãn kham đồ họa
Đăng chúc tinh huỳnh thiên bất dạ
Vĩnh phúc thành trung nhân vật hoa
Lâm lưu lân tập sưởng đình tạ
Ngũ dạ thái kết quán tân đường
Sứ thần hàm tuất từ bất đương
Sảnh tào, tòng sự các gia ngạch
Cá cá bất vong ngô tiên vương
Tích nhân, tằng ngôn Tỉnh hình đạo
Khuynh hiểm vô như gia ý hảo
Hành viễn đăng cao yến tự trì
Thiên vương dĩ hứa hồi qui tảo.


Dịch nghĩa:

Đi trong mưa
Đi cả ngày đêm năm trăm dặm đường
Người và ngựa ruổi dong không dám ngủ
Quan triều đình (30) hỏa tốc đem chiếu thư
Viên phiên sứ (31) ruổi sao tuân chiếu chỉ
Mưa móc từ chín tầng trời làm trơn bánh xe
Một hồi tối sầm lại, một hồi mưa tầm tã
Tiếng suối kêu to như sấm, nước chảy nhanh như tên
Người lái đò gọi vang: “mời ông sang đò”
Vừa sang khỏi sông đã lại phải leo núi
Đá núi nhọn hoắt, sắc trời mờ mịt.
Núi vắng tanh chẳng có khói bếp của làng xóm.
Tiếng người nói hình như nghe thấy trên mây
Cầu ván xa xa, đèn đuốc lập lòe
Lính đồn thú gọi nhau đến đón rước
Khói sương mờ mịt, chẳng trông rõ mặt người
Phút chốc núi đằng đông một vầng sáng nhô lên
Núi sông in vào trong mắt tưởng có thể vẽ nên tranh
Đèn đuốc sáng choang, đêm như ban ngày
Trong thành Vĩnh Phúc (32) nhân vật phồn hoa
Lâu đài ve sông san sát như vẩy cá,
Nơi nhà tiếp khách chẳng đèn kết hoa suốt đêm
Sứ thần đang có nỗi đau thương (33) từ chối không dự cuộc vui
Quan chức và người tùy tùng đều ôm trán,
Ai ai cũng không quên tiền vương ta
Người xưa thường nói đường tĩnh Hình hiểm trở (34)
Dù hiểm trở, hễ cẩn thận thì sẽ tốt lành
Đi xa lên cao cần tự giữu mình
Thiên vương (35) đã hứa cho về nước sớm.

Dịch thơ:

Năm trăm dặm đường ngày đêm đi
Người ngựa ruổi mau không dám ngủ
Quan triều hỏa tốc mang chiếu thư
Tuân chỉ ruổi rong đoàn viễn sứ
Trời mưa lầy lội bánh xe trơn
Mây kéo liên hồi nước ngập tuôn
Suối gào nước lũ như tên bắn
Lái giục qua sông tiếng gọi dồn
Vượt khỏi sông sâu lên núi thẳm
Đá như dùi nhọn, trời u ám
Núi hoang vắng vẻ, xóm làng xa,
Tiếng người phảng phất trên mây vắng
Cầu gỗ xa xa đuốc chập chờn
Linh thú hô nhau đón xứ thần
Mờ mịt sương dày không rõ mặt
Non đông, chợt thấy ánh dương bừng
Trước mắt núi sông ngời bức họa
Đèn đuốc tưng bừng đêm sáng lóa.
Trong thành Vĩnh Phúc văn vật bày.
Lầu gác bên sông liền vẩy cá
Thâu đêm nhà khách rực đèn hoa
Sứ ngậm đau thương dám dự mà!
Trong sảnh, các quan đầu cúi thấp
Không ai quên nỗi tiền quan ta!
Xưa dạy đi núi nên dè bước
Vượt hiểm sao bằng lo liệu trước
Đi xa, trèo cao phải giữ mình
Vua trời hứa sớm cho về nước

Ngô Linh Ngọc
(sđđ, trang 361-364)

Xem thêm

1. Chiếu lên ngôi hoàng đế

Trẫm nghĩ: Ngũ đế đổi họ chịu mệnh trời, Tam Vương nhân thời mở vận nước (36). Đạo có thay đổi, thời phải biến thông, nhưng đấng thánh nhân vâng theo đạo trời để làm vua trong nước, yêu dân như con thì cái nghĩa cũng chỉ là một.

Nước Việt ta, Từ Đinh Lê Lý Trần mở nước đến nay, bậc thánh minh dấy lên chẳng phải là một họ. Nhưng phế hưng dài ngắn, vận mệnh trời cho, chẳng phải sức người làm được.

Trước đây nhà Lê mất quyền họ Trịnh và họ Nguyễn chia nhau cương vực, hơn hai trăm năm giềng, mối rối loạn, ngôi vua chỉ là hư vị. Mỗi họ tự ý gây dựng bờ cõi riêng mình, kỷ cương trời đất một phen đổ nát không dựng lên được; chưa có thời nào quá quắt như thời này. Thêm nữa, những năm gần đây, nam bắc đánh nhau, dân sa vào chốn lầm than.

Trẫm là kẻ áo vải đất Tây Sơn, không có một tấc đất, vốn không có chí làm vua. Chỉ vì lòng người chán ghét loạn lạc, mong có vị minh chúa để cứu đời yên dân. Cho nên tập hợp nghĩa quân, xông pha chông gai, phá núi mở rừng, giúp đỡ Hoàng đại huynh (37) giong ruổi binh mã, nay dựng nước ở cõi Tây, dẹp Tiêm La, Cao Miên ở phía nam, rồi hạ thành Phú Xuân, lấy thành Thăng Long. Bản ý chỉ muốn quét trừ loạn lạc, cứu dân trong chốn nước lửa, rồi trả nước cho họ Lê, trả đất cho đại huynh, ung dung áo gấm hài thêu, ngắm cảnh yên vui ở hai cõi đất mà thôi. Nhưng việc đời dời đổi, rốt cuộc trẫm không được như ý nguyện. Trẫm dựng lại nhà Lê, nhưng Lê tự quân (38) để mất xã tắc, bỏ nước chạy trốn. Sĩ dân Bắc hà không theo về họ Lê lại dựa vào trẫm. Đại huynh vì khó nhọc mà mệt mỏi, chỉ muốn giữ một phủ Qui Nhơn, khiêm nhường sưng làm Tây vương. Mấy nghìn dặm ở cõi Nam thuộc về trẫm cả. Trẫm tự nghĩ mình lương bạc, tài đức không theo kịp cổ nhân mà đất đai rộng lớn như thế, nghĩ đến việc cai quản, lo sợ như cầm dây cương mục mà dong sáu ngựa!

Vừa đây, tướng sĩ văn võ, thần liêu trong ngoài đều trẫm sớm định vị hiệu, để thu phục lòng người, dâng biểu khuyên mời đến hai ba lần. Các tờ biểu vàng suy tôn, không hẹn nhau mà cùng một lời. Trẫm nghĩ, nghiệp lớn rất trọng, ngôi trời khó khăn, trẫm thật lòng lo không đương nổi. Nhưng ức triệu người trong bốn bể trông cậy vào một mình trẫm. Đó là ý trời, há phải việc người? Trẫm ứng mệnh trời, thuận lòng người, không thể cố chấp nhún nhường mãi, lấy ngày 22 tháng 11 năm nay lên ngôi thiên tử, đặt niên hiệu là Quang Trung nguyên niên.

Hỡi trăm họ muôn dân các ngươi! “Lời nói lớn lao của ngôi hoàng cực là lời giáo huấn phải thi hành”(39). Nhân, nghĩa, trung, chính là đầu mối lớn của đạo làm người. Nay trẫm cùng nhân dân đổi mới, theo mưu mô sáng suốt của tiền thánh để trị và dạy thiên hạ.

Thân ôi! “Trời vì hạ dân, đặt ra vua, đặt ra thầy là để giúp trời vỗ yên bốn phương”(40). Trẫm có cả thiên hạ, sẽ cùng dắt dìu dân lên con đường lớn, đặt vào đài xuân.

Hỡi thần dân các ngươi! Ai nấy hãy yên chức nghiệp, chớ làm những chuyện không phải đạo thường. Người làm quan hãy giữ phong độ hòa mục, người làm dân yên trong lệ tục vui hòa, trị giáo mở mang hưng khởi đến chỗ rất thuận lợi, để vãn hồi thời thịnh trị của Ngũ đế, Tam Vương, khiến cho tông miếu xã tắc được phúc không cùng, há chẳng đẹp đẽ sao?

Mai Quốc Liên dịch
(sđđ, quyển 2, trang 107-108)

2. Chiếu phát phối hàng binh người nội địa (41)

Chiếu cho quân sĩ tòng chinh của nội địa biết:
Việc binh là việc độc hại cho dân thiên hạ. Đã đánh là phải quyết thắng nên khi hai bên đánh nhau, hễ gặp quân địch là giết, đó là lẽ thường trong vệc dụng võ. Bắt được quân địch mà tha xưa nay chưa từng có.

Trẫm ứng mệnh trời, thuận lòng người, nhân thời thế làm việc cách mệnh dùng binh bình định thiên hạ. Việc tổng đốc Tôn Sĩ Nghị các ngươi, tài đong đấu rá, nghề mọn thêu may, không biết những điều chủ yếu trong việc dùng binh, vô cớ đem hai mươi chín vạn quân ra khỏi cửa quan, vượt núi trèo đèo, vào sâu hiểm địa, xua lũ dân vô tội các ngươi vào vòng mũi tên ngọn dáo, đó đều là tội của viên Tổng đốc nhà các ngươi.

Trẫm một phen vẩy cờ lệnh, quét sạch lũ các ngươi như quét đàn kiến. Lũ ngươi một thua tan vỡ chết hại kể hàng vạn tên. Những kẻ hiện bị bắt tại trận tiền, và thế bách phải đầu hàng, lẽ ra phải chiếu theo quân luật, đem chém sạch đi để răn đe những kẻ bạo ngược. Chỉ vì thế đức hiếu sinh của thượng đế nên ta bao dung che chở, tha chết cho các ngươi.

Vậy ban chiếu này, phát phối các ngươi vào cơ đội, sung vào quân ngũ, cấp cho lương hưởng, để các ngươi khỏi bị cái khổ gông cùm, được ra trận tòng quân, dùng làm nanh vuốt.

Đấng vương giả coi bốn bề như một nhà. Trẫm đặt lòng mình trong bụng người, các ngươi phải nên hiểu rõ điều ấy, chớ nên ngờ sợ. Hãy nên nguôi lòng nhớ quê để đền ơn tái tạo. Phải kính tuân tờ đặc chiếu này.

Mai Quốc Liên dịch
(Sđđ, quyển 2, trang 116)
______________
(1) Cờ Thúy hoa: Cờ của nhà vua
(2) Lục Nguyệt: tên bài thơ trang Thiên Tiểu Nhã, kinh thi nội dung ca ngợi Doãn Cát Phủ giúp vua nhà Chu đi Bắc phạt có công.
(Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội 1978, quyển I, trang 205-206)
(3) Nội sử: một chức quan trong tòa Trung Thư, một cơ quan phủ tách việc văn thư của vua. Nội hàn: chức quan Trung Thư trong nội các, ở đây là tác giả.
(4) Trở đậu: đồ dùng vào việc tế lễ ngày xưa.
(5) Giặc Tây: chỉ bọ Nguyễn Ánh. Đáng lẽ phải gọi là “Nam tặc” song có lẽ xưa thường dùng chữ “Tây” để chỉ miền trong (Sđđ, trang 223-224)
(6) Miếu Thái Tổ: Miếu thờ vua Quang Trung
(7) Kiều Sơn: tên một ngọn núi ở Trung Quốc nơi có mộ vua Hoàng đế. Ở đây chỉ nơi chôn vua Quang Trung.
(8) Bát âm im bặt: Lấy điển từ kinh Thư, chỉ sự thương tiếc vua Quang Trung mất.
(9) Chín công: nói về văn trị; bảy đức: nói về võ trị. Hoàng vũ: một điệu múa nhạc thời cổ.
(10) Quân hán: chỉ trên trời xa thẳm
(11) Đan lăng: chỉ lăng vua Quang Trung
(12) Pháp khúc: khúc nhạc của đạo quán
(13) Năm năm: chỉ vua Quang Trung ở ngôi được năm năm(1788-1792)
(14) Tác giả ghi chú, cho rằng Trung Quốc đã theo dõi “tướng tinh” của vua Nam.
(15)Cũng theo tác giả chú là có lần nằm mộng thấy vua Quang Trung, nhà vua đã “ngự bút” chữa chiếu thư của tác giả, có câu “Trẫm lạc nhân hoàn lưi chính trị” (Trẫm xuống cõi đời, để lại chính trị).
(16) Chỉ việc vua Quang Trung ra Bắc Hà lần thứ 2 (1787) lập Sùng Nhượng công làm giám quốc để thờ phụng tông miếu nhà Lê.
(17) Khoan hồng đối với tù binh Mãn Thanh. Xem thêm bài chiếu “Phối thuộc nội địa hàng binh chiếu”.
(18) Công đức của Người để lại, Lấy điển trong thơ cổ “Yến dực di mưu” chỉ việc cha ông để phúc đức lại cho con cháu.
(19)Yên nghỉ tinh thần: ý nói nơi tinh linh yên nghỉ ở đó
(20) Sông Ninh Minh: phát nguồn từ châu Thượng Tư, chảy qua châu Ninh Minh, rồi đổ vào sông Tả Giang, chỗ gần Bằng Tường (Trung Quốc).
(21) Núi Phân Mao: Nơi có rẽ ra hai bên Nam-Bắc.
(22) Dữu Lĩnh: Tức Đại Dữu Lĩnh, một dãy núi từ Quảng Đông qua Giang Tây. Núi có nhiều mai nên gọi là Mai Lĩnh. Các nhà thờ thường dùng chữ “Dữu Lĩnh mai” hay “Lĩnh mai” để nói sự phân biệt phía Nam phía Bắc.
(23) Nhắc lại câu thơ của Lý Thường Kiệt:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư…”
(24) Nam Ninh: thuộc Quảng Tây Trung Quốc
(25) Tam Giang: ngã ba sông, chắc là sông Bát Xích giang ở thị trấn Ung Ninh, cách Nam Ninh hơn bốn dặm.
(26) Thầy Chu: tức Chu Hi, đời Tống.
(27) Nguyên văn là “hoàng cẩu” là ông già tóc bạc da mồi và là ông già hiền minh.
(28) Chỉ đoàn sứ giả đang trên đương đi.
(29) 2 câu cuối ý nói: hình ảnh vua Quang Trung luôn luôn vào giấc mộng,phảng phất như mình đang nằm nghe nhạc Quân Thiều bên cửa Khuyết phương Nam.
(30) Chỉ đoàn đi sứ phải đi vất vả (đi sứ năm 1793, cầu phong cho vua Quang Toản).
(31) Quan triều đình: chỉ quan nhà Thanh.
(32)Phiên sứ: chỉ đoàn sứ mình (lời nói khiêm nhường).
(33) Vĩnh Phúc: tên huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.
(34) đau thương: tức đang có tang vua.
(35) Tĩnh Hình: tên núi thuộc tỉnh Hà Bắc. Người ta thường dùng hai chữ Tĩnh Hình để chỉ những đoạn đường hiểm trở khó đi.
(36) Thiên vương: chỉ vua nhà Thanh.
(37) Ngũ đế: Năm đời đế thời cổ Trung quốc: Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn.
(38) Hoàng đại huynh: chỉ Nguyễn Nhạc.
(39) Tự quân: vua nối ngôi, chỉ Lê Chiêu Thống.
(40) Nguyên văn ở kinh Thư, thiên Hồng Phạm.
(41) Nguyên văn ở Kinh thư. ThiênThái Thệ.
(42) Nội địa chỉ Trung Quốc.

Tieuboingoan sưu tầm

Đăng nhập để trả lời
0