Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Trần Đăng Khoa và những bài thơ ở nước Nga

7 trả lời, 2.336 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-09-12 05:43:07tamvanvov>
                                Trần Đăng Khoa và những bài thơ ở nước Nga
                      
                                                                                                                            Nguyễn Chu Nhạc                                        
 
          Năm 1984, Trần Đăng Khoa sang Nga học chuyên ngành văn học tại Trường Đại học Gorki, sau khi anh học xong Trường viết văn Nguyễn Du của Việt Nam. Theo tôi biết, Trần Đăng Khoa có một giai đoạn dài khủng hoảng sáng tác. Năm 1975, sau khi tốt nghiệp phổ thông ( thực ra anh còn chưa kịp dự kỳ thi tốt nghiệp thì đã nhập ngũ và được xét đặc cách tốt nghiệp phổ thông ),  ấy là những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh chống Mỹ Ngụy giải phóng Miền Nam. Có thể tính từ thời điểm đó đổ về trước, là thời kỳ hoàng kim thơ thiếu nhi của Trần Đăng Khoa, làm nên hiện tượng thần đồng thơ đất Việt, theo cách đánh giá của các nhà phê bình văn học ở ta. Về cách đánh giá này, Trần Đăng Khoa không đồng tình. Đã hơn một lần, anh bày tỏ quan điểm của mình, ấy là việc không nên dùng cách gọi thơ thiếu nhi Trần Đăng Khoa , mà đúng ra là thơ Trần Đăng Khoa làm thời thiếu nhi . Sở dĩ vậy, bởi nếu gọi thơ thiếu nhi Trần Đăng Khoa , tức là đánh giá những bài thơ này chỉ có tính thiếu nhi ; còn như gọi thơ Trần Đăng Khoa làm thời thiếu nhi, thì chỉ nhấn đến thời gian làm thơ thôi, còn tính chất thơ có thể thiếu nhi, có thể không thiếu nhi. Theo ý Trần Đăng Khoa, toàn bộ thơ ca của anh là một thể thống nhất, nếu ai đó có phân chia thì chỉ có thể tạm phân ra là thơ làm thời thiếu nhi và thơ làm lúc trưởng thành. Quả thật, trong những bài thơ Trần Đăng Khoa làm thời thiếu nhi, có nhiều bài, nhiều ý tứ rất người lớn ( chẳng biết Trần Đăng Khoa nói theo người lớn, giả làm người lớn,hoặc học theo người lớn ?- nhiều người đã đặt vấn đề như vậy ). Tôi nghĩ, cho dù thế nào đi chăng nữa, thì đấy cũng là những câu thơ Trần Đăng Khoa làm ra ( trời cho chăng ? ), chúng vượt lên tuổi tác của tác giả, bởi ngôn từ, sức khái quát, tầm tư tưởng, thậm chí có bài, có câu chạm tới cái vĩnh cửu ...
          Sẽ là dài dòng, song trước khi đến với những bài thơ Trần Đăng Khoa làm ở nước Nga và về nước Nga, tôi phải kiến giải nhận định mà tôi nêu ra ở trên, đó là sự khủng hoảng sáng tác của Trần Đăng Khoa trong khoảng thời gian khá dài ( 1976-1983 ). Có một bối cảnh mới, khiến Trần Đăng Khoa không thể viết như trước nữa, ấy là cuộc chiến tranh trường kỳ chống Mỹ Ngụy đã kết thúc thắng lợi ( tuy rằng sau đó đất nước còn kinh qua hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc ) ; Thứ nữa, anh không còn là học trò mà đã trở thành người lính trẻ ; Và tự thân, anh muốn làm mới mình. Trong thời gian quân ngũ, Trần Đăng Khoa được thuyên chuyển qua nhiều đơn vị với các công việc khác nhau, tuy nhiên nhiệm vụ chính của anh vẫn là xâm nhập thực tế để sáng tác.
          Tôi nhớ, ngày ấy tôi đang học Đại học Nông nghiệp ở Gia Lâm ( Hà Nội ) , cứ vài tuần lại về nghỉ chủ nhật với gia đình ở Văn Lâm ( Hưng Yên ) Lâu lâu, thường là vào xẩm tối thứ bảy, bỗng thấy Trần Đăng Khoa gọi to ngoài cổng. Anh quân phục chỉnh tề,  xe đạp lọc xọc, ba lô buộc ở boóc-ba-ga. Thấy Khoa, tôi mừng lắm. Nhà có khách quý, mẹ tôi làm thêm món trứng tráng, rồi xào cả khoai tây, thêm canh rau tập tàng và cà muối. Bữa cơm tối thật vui và ngon miệng. Mẹ tôi luôn miệng giục hai đứa chúng tôi ăn. Cơm nước xong xuôi, bên ngọn đèn dầu hỏa đỏ quạch, Khoa ngồi khoanh chân giữa giường, mở ba lô lấy ra tập bản thảo chép tay. Chữ Khoa không đẹp song cứng cáp và sạch sẽ. Đấy là bản thảo tiểu thuyết Bước chân thứ nhất. Khoa đọc từ chương mở đầu, tuy anh cầm bản thảo trên tay soi dưới ánh đèn, song thực ra anh thuộc lòng, vừa đọc vừa giải thích, rằng sự việc này, nhận vật nọ là dựa vào người thật việc thật ở làng quê anh. Khoa đọc cả thơ nữa, song quả thật tôi không mấy ấn tượng nên không nhớ. Chỉ các nhân vật, các tình tiết cười ra nước mắt trong tiểu thuyết gây cho tôi ấn tượng mạnh. Cứ thế, cho đến đêm khuya, mẹ tôi phải giục đi ngủ, để mai còn có sức đi sớm. Đêm Khoa ngủ rất ngon, song anh lại tỉnh dậy sớm vì quen tác phong quân đội. Mẹ tôi vội vào bếp, nấu nồi canh bánh đa, chỉ phi hành mỡ nấu suông nêm chút mì chính. Khoa xì xụp  ăn hết tô canh bánh đa nóng, chiêu vội nước rồi chào ra đi. Tiễn Khoa ra cổng, nhìn anh vẹo vọ đạp xe đi trong sương sớm đường làng, lòng tôi dâng lên một nỗi buồn, biết lúc nào mới gặp lại nhau đây ? Cũng có lần Khoa đến, gặp cả người chị gái tôi học đại học trên tôi mấy năm. Những lần như thế, mọi người vui lắm, chuyện sinh viên rồi chuyện lính tráng, mấy chị em vừa chuyện vừa trêu tròng nhau. Buổi tối, Khoa lại đọc thơ, đọc tiểu thuyết. Vẫn là Bước chân thứ nhất, nhưng so với bản thảo trước anh đã sửa chữa nhiều, thậm chí viết lại cả chương. Rồi sáng hôm sau lại đạp xe đi sớm. Tôi biết, những lần như thế, người vui nhất không phải là mấy đứa chúng tôi mà là mẹ tôi. Bà vui vì đám trẻ. Khoa xưng hô với mẹ tôi, mẹ mẹ con con thân mật tự nhiên. Tôi biết, mẹ tôi còn hỏi dò Khoa xem tôi có bạn gái chưa, yêu đương ra sao ? Khoa hay đùa, bảo là tôi và Khoa đang tranh nhau yêu cùng một cô gái. Mẹ tôi cười vì bà không tin. Sau này, mẹ tôi già yếu và ít nhiều bị lẫn trước khi bà mất. Bà cụ lẫn lung tung nhiều chuyện, song những chuyện về Khoa, và lạ là có nhân vật cùng một số tình tiết trong tiểu thuyết của Khoa, bà vẫn nhớ, và còn nhắc lại được cả chi tiết hài.
          Cho đến nay, tiểu thuyết Bước chân thứ nhất của Trần Đăng Khoa vẫn chưa được xuất bản, ngoài vài chương trích đăng trên tạp chí Nhà văn, sau khi bản thảo bị thất lạc bỗng được tìm thấy trong kho của Nhà xuất bản Phụ nữ. Chẳng biết rồi đây, anh có cho in hay không, giữ nguyên hay sửa chữa, song quả là nó đã có một thân phận riêng, một đời sống riêng, chí ít từng được xuất bản miệng tại nhà tôi, mà độc giả là mấy mẹ con tôi. Giờ đây nhiều nhân vật và sự việc trong tiểu thuyết, cả tôi và chị tôi không mấy nhớ, nhưng nó đã được mẹ tôi nhớ, và mang theo vào cõi vĩnh hằng...  
          Vậy là cả một thời gian dài, Trần Đăng Khoa chuyển qua nhiều đơn vị và công việc, song có lẽ anh ở lâu nhất với Bộ đội Hải quân. Anh đã có những bài thơ được nhiều người biết đến, như Chút thơ tình của người lính biển, Cây phong ba trên đảo Nam Yết, Lính đảo hát tình ca trên đảo, Đồng đội tôi trên đảo Thuyền chài, Ghi ở đảo chìm, Cô tổng đài Hải đảo, Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn... Rồi chiến dịch Tây Nam cũng cho anh vài ba bài thơ đọc được. Nhưng tôi vẫn cho rằng, đấy chỉ là những sáng tác mang tính thử nghiệm, cho dù, có bài trong số đó được phổ nhạc thành nổi tiếng, có bài được trao giải cao trong một cuộc thi thơ có uy tín. Ở vào thời điểm ấy, cái anh quan tâm là văn xuôi, là tiểu thuyết kia...Và cũng có thể, đấy chỉ là một khoảng lặng để ý thức lại mình chăng ? Quả là, bước đệm trong quãng thời gian khủng hoảng sáng tác ấy ( khủng hoảng- thực ra tôi chưa tìm được cách gọi khác, vả lại không muốn diễn đạt dài dòng ) , đã giúp anh đi những bước đi dài trên cả mấy lĩnh vực ít lâu sau. Văn xuôi có Đảo chìm. Phê bình và tiểu luận văn học, thì là những manh nha cho tác phẩm Chân dung và đối thoại sau này. Còn với thơ, chính là những bài thơ viết ở nước Nga, viết về nước Nga.
          Đó là các bài thơ : Trăng Matxcơva, Qua Bôrôđinô, Matxcơva-Mùa đông 1990, Uống rượu với người bạn Nga, Qua Xuzđan, Đêm Nga, Chiều Riazan, Với bạn.
          Không nhiều, chỉ chưa đến chục bài thơ, song theo tôi, những bài thơ ấy làm nên một diện mạo thơ Trần Đăng Khoa-Hậu thơ thần đồng, hay nói như cách nói của chính Trần Đăng Khoa- thơ thời kỳ trưởng thành.
          Bài thơ Mat xcơva- Mùa đông 1990, một bài thơ tự sự, thoạt đầu là kể những chuyện thời sự, rồi chuyện dông dài bên lề. Vậy thì có gì phải bàn ? Đơn giản, xen vào đấy là những câu thơ mang tính triết lý, làm bài thơ vượt hẳn lên:       " Có kiệt tác hôm nay, mai đã bẽ bàng rồi
                     Bao thần tượng ta tôn thờ cung kính
                     Mưa nắng bào mòn còn trơ lõi đất thôi ".
                   " ...Trái đất mỏng manh và đáng thương biết mấy
                     Trước những mưu mô toan tính của con người . ".
                    "  Tất cả sẽ qua đi. Chỉ tình yêu còn lại
                      Tình yêu giữ cho ta mãi mãi là Người
                      Nếu thế giới này không còn tình yêu nữa
                      Thì biết đâu trái đất đã tan rồi ... ".
          Cùng mạch này, có bài thơ Uống rượu với người bạn Nga. Khề khà chuyện của hai kẻ say. Người xưa có câu Chân lý trong rượu, vừa để chỉ sự lung lay của chân lý, song cũng nhấn đến một đặc điểm, là chỉ khi say thì con người ta mới dễ trải lòng, mới dễ nói thật những điều lúc bình thường hay giấu kín. Khi say rượu, người ta nhìn đời vừa gần vừa xa, nửa thật nửa ảo... Bài thơ có những câu rút thật hay, đúng thực tế mà hàm ý sâu xa làm sao : " Mới hay trái đất/ Cũng chẳng rộng dài lắm đâu ..." ;  " ... Ghế cao thôi chẳng cần đâu/ Tốt nhất ta ngồi xuống đất/ Nếu có ngã thì không đau...". Kể lể dông dài để rồi kết, đấy là tứ của bài thơ :
                   " Ước gì cả nhân loại này
                     Đều ngắm nhau qua cốc rượu
                     Chứ không phải nhìn nhau
                     Qua những mũi súng bẩn thỉu ".
          Đó là chính là những gì cả thế giới này đều mong mỏi : Đối thoại chứ không đối đầu ; Đàm phán hoà bình chứ không phải chiến tranh.
          Người ta bảo, nước Nga có hai thứ đặc sản, làm nên hồn cốt nước Nga, ấy là bánh mì đen với muối & văn chương. Nhiều thế hệ người Việt Nam trong gần một thế kỷ qua, đã thấm đẫm tâm hồn Nga qua những áng  thơ văn xuất sắc của những tên tuổi lớn như : Puskin, Lermontov, Nhekraxov, Tsiuchev, Blok, Amakhtova, Exenhin, Maiakovski, Gogol, L.Tolstoi, Turgeniev, Korolenko, Tsekhov, Gorki, Prisvin, Grin, A.Tolstoi, Pautovsky, Solokhov, Aimatov, Paternak, Erenburg v.v... Những tâm hồn  Nga, những nỗi niềm Nga ấy, giờ đây lại thấm đẫm trong những bài thơ, câu thơ của Trần Đăng Khoa : " ... Thấp thoáng căn nhà gỗ/  Nương hồn nước Nga xưa/ Dòng sông trôi mộng mị/ Chết đuối trong sương mờ .../ ...Chiều như người mộng du/ Đi về đâu chẳng biết/  Lẽ nào nước Nga còn/  Mà Xécgây lại chết ... " ( Chiều Riazan ) ; "  Những nỗi niềm khao khát/  Bay mờ chiều tuyết giăng/  Hay hồn người chết trận/  Còn hiện về đây chăng?/ Tuyết vẫn rơi không tiếng/ Trắng muốt dưới gót giầy/  Như chẳng hề có máu/  Chảy đầm đìa nơi đây ... "  ( Qua Bôrôđinô ) ; " Thành xưa đổ bóng vào trời/ Khói sương lãng đãng- Một thời đã qua/  Tháng năm lừng lững đi qua/  Chỉ còn mấy đỉnh tháp già  ngẩn ngơ ... "  ( Qua Xuzđan ) .
          Hai bài thơ Trăng Matxcơva, Đêm Nga là nỗi niềm người, nỗi niềm ta. Dù không niêm luật như thơ Đường song sự hàm súc và phong vị khiến người ta nghĩ đến thơ Đường.
          Riêng bài thơ Với bạn, đề tặng Nguyễn Đình Chiến và Bùi Quang Thanh, những nhà thơ Việt cùng đang học tập và làm việc tại Nga như mình, Trần Đăng Khoa mượn cớ tâm sự với bạn thơ, để nhủ chính mình và nói với hết thảy mọi người, đâu chỉ có những người làm thơ, cầm bút :
                   " Nào ta cạn chén đi anh
                       Đời người mấy chốc mà thành cỏ hoa
                       Biết bao thành lũy quanh ta
                       Nhấp đi, ngoảnh lại đã là khói sương ... "
                    
                    "Cái thời ríu rít đi qua
                       Ngày mai còn lại biết là mấy ai
                       Nhấp nhô toàn những thiên tài
                       Cuối cùng thơ vẫn ở ngoài tầm tay... "
                     
                   " Viết sao cho hết niềm người
                        Uống sao cho cạn nỗi đời đắng cay
                        Thì thôi còn một chén này
                        Rồi ra mỗi đứa lưu đày một phương ... " .
          Tôi nghĩ, có lẽ những năm tháng sống ở nước Nga, với bối cảnh lịch sử là sự chuyển biến từ thành lũy Liên xô vững chãi sang một nước Nga mỏng manh và đầy biến động với hệ lụy là hệ thống những quan niệm, những giá trị cũ bị đổ vỡ ; với bối cảnh văn học là một nền văn học đỉnh cao gắn cùng các tên tuổi lớn của văn chương thế giới bỗng bị rơi tõm xuống đáy vực sâu với sự khủng hoảng tột độ về giá trị ; còn bản thân, anh xa cánh với giới văn chương nước nhà chí ít là về địa lý.... , tất cả những yếu tố đó tác động và hòa trộn trong anh. Và khi cầm bút, Trần Đăng Khoa đã làm mới mình. Mới về phong cách, lớn về tư duy, biết phủ lên hiện thực sự huyền ảo, khói sương, chính vì thế mà ám ảnh. Cũng vẫn còn đó sự tài hoa trong cách dùng từ , trong nhạc điệu ... Tất cả những yếu tố đó, bắc cầu thơ từ những bài thơ viết ở nước Nga sang những bài thơ làm sau này ( như : Lính thời bình, Gửi em ở Ninh Bình, Hoa lư, Mùa xuân của lính biên phòng, Đỉnh núi, Gửi bác Trần Nhuận Minh... ).Tôi cho đó là bút pháp và phong cách thơ Trần Đăng Khoa bây giờ.
          Trong một bài viết, Trần Đăng Khoa đã tự nhận mình là phải mang vác cây thánh giá từ thuở bé, chính vì thế mà đến tận bây giờ khi đã là một gã năm chục tuổi bệ vệ, vẫn bị người ta cho là trẻ con, là cậu bé Khoa thần đồng thuở nào. Quả là, khó có thể trách cứ thiên hạ, vì hễ nghĩ đến Trần Đăng Khoa thì tự nhiên người ta liền mang thơ của anh mà bắc lên cân, rồi thấy ngay nửa cân bên thơ thiếu nhi quá nặng, còn quả cân thơ hiện tại bên này bị treo bổng nhẹ tênh, tòng teng trên đòn cân...
          Song không nên đối xử với thơ văn cơ học như vậy !... Vả lại, Trần Đăng Khoa còn có những thứ khác cũng thuộc diện đặc sản, ấy là văn xuôi, là phê bình và chân dung văn học.
          Thêm nữa, anh đâu có bỏ thơ !...  
         
                                                             ( Rút từ tập Những người thắp lửa -NXB Văn học - 2009 )
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-20 03:25:40tamvanvov>
                                                                              Chính danh gọi Tễu...
                                     ( chân dung nhà thơ Phạm Công trứ )
          
                                                                                                           Nguyễn Chu Nhạc 
 
         
          Ấy là một gã đặc biệt. Đặc biệt người, đặc biệt thơ. Cứ nhìn cách gã đặt tên cho những đứa con tinh thần của gã-các tập thơ là đủ thấy : Lời thề cỏ may I-II-III, rồi Cỏ may thi tập ; Phồn thi I-II và tới đây là Phồn thi III, để hoàn tất thành Phồn tập.
          Tôi thì nhất quyết gọi gã là Tễu. Đơn giản bởi tôi thấy gã đã tự họa chân dung mình khá ấn tượng trong bài thơ Tễu : 
                   Cởi trần đóng khố múa chơi
                   Hát rằng, giữa đất và trời có ta
                   Đất là mẹ, trời là cha
                   Chính danh là Tễu, tự là Thảo Dân ...       
          Còn tên khai sinh do cha mẹ đặt cho là Phạm Công Trứ- Tiến sĩ Luật- Nhà thơ- Nhà báo.  
          Thật khốn khổ cho cái thân gã, sinh ra lớn lên đã phải mang vác những tên tuổi lớn trên thân xác cực kỳ quê mùa của mình.
          Thoạt đầu là cái tên. Công Trứ , khiến người ta nhớ đến danh nhân Nguyễn Công Trứ- Doanh điền sứ, nhà thơ và nhà khẩn hoang lỗi lạc của đất Việt thời Nguyễn, đầu thế kỷ 19. Có lẽ cha mẹ gã, những nông dân của vùng đất biển bồi Hải Hậu ( Nam Định ) vốn là những người hiểu biết nên lấy tên Công Trứ  đặt cho gã, một để tỏ lòng kính trọng với danh nhân Nguyễn Công Trứ, người đã có công sáng lập ra hai huyện nguyên là vùng đất mới bồi, Tiền Hải ( Thái Bình) , Kim Sơn  (Ninh Bình ), hơn nữa, cũng là sự kỳ vọng vào tương lai của gã. Hẳn sau này, nếu tài danh không mấy nổi thì gã cũng có cớ để biện bạch rằng, vị danh nhân kia họ Nguyễn, còn gã họ Phạm.
          Khốn nỗi, chẳng hiểu gã có biết rằng, trong lịch sử xa xưa, còn có một người trùng danh tính với gã, song lại rất nổi tiếng, ấy là Phạm Công Trứ, một nhà chính trị danh tiếng, nhà sử học thời Lê, đầu thế kỷ 17. Ông này sinh năm 1600, quê Liêu Xuyên, Đường Hào ( Hưng Yên ), đậu tiến sĩ năm 1628, làm quan to trải các chức Đô ngự sử, Thượng thư Bộ Lễ, Thượng thư Bộ Lại, Tham tụng phủ Chúa, tước Yến quận công, người từng được nhà vua giao trọng trách cùng với cộng sự đương triều sửa chữa và duyệt bộ quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư .
          Thôi rồi, gã hết đường biện bạch nếu chẳng may sự nghiệp không thành. May thay, gã không hổ danh đội tên danh sĩ, danh nhân, dù thân xác quê mùa, trí tuệ chú Tễu. đã từng và hiện vẫn đứng trên bục giảng của giảng đường đại học mà cao giọng giảng luật học, cũng tiến sĩ và thơ phú như ai, lại thêm cái danh nhà báo, dẫu chẳng dám so sánh với tiền nhân, thì cũng có thể tự hào mà đứng trong trời đất này !...
          Tôi biết Phạm Công Trứ khi đã nổi danh với bài thơ Lời thề cỏ may, sau cả khi lấy bằng Phó tiến sĩ Luật từ Liên Xô về, làm việc tại Báo Pháp luật, và còn độc thân. Trứ tuổi Quý Tỵ, tôi tuổi Đinh Dậu, hơn kém những 4 tuổi, song chơi ngang hàng, xưng hô ông-tôi thân mật. Chúng tôi biết nhau nhờ cùng là cộng tác viên của Báo Nông nghiệp Việt Nam. Biết thì thế, song chơi được với nhau lại qua trung gian là Trần Đăng Khoa và Trịnh Bá Ninh  ( hiện là Phó Tổng biên tập Báo NNVN ). Tiếng là thân, nhưng không gần. Cứ ai việc nấy, lâu lâu gặp nhau do hẹn hò hoặc tình cờ thì vẫn có chuyện để mà nói. Ngồi với nhau, lúc tại công sở, khi nhâm nhi tách cà-phê nơi quán xá, đủ độ thân để thật lòng chuyện nghề, chuyện thơ văn, chuyện gia đình, chuyện đời... Khi nghe nhau nói, lúc hăng lên cùng tranh nhau nói, một bộc trực to tát, một uyển chuyển nhỏ nhẹ hơn, và chưa bao giờ bất đồng hoặc gay gắt đến phát cáu, đến mức một ai đó phải bỏ đi trước. 
          Song le, nhắc đến Phạm Công Trứ, thì phải nói đến thơ của gã. Thơ lại dăm bảy loại, Phạm Công Trứ chỉ gắn với thơ lục bát thôi. Thế quả có thiệt cho gã, bởi thơ không lục bát gã cũng có ối bài hay, song người đời đã nghĩ thế, cho là thế, nên đành vậy, thanh minh mà làm gì .
          Như một định mệnh, Phạm Công Trứ đến với người yêu thơ bằng lục bát Lời thề cỏ may, rồi cứ đà tiếp mạch nguồn tuôn chảy. Hễ đụng đến lục bát là ngòi bút của gã trơn tru, tung tẩy, uyển chuyển làm sao. Tôi biết, với ngần ấy tập thơ, Phạm Công Trứ đã được nhiều nhà phê bình thơ để mắt, săm soi, và trong số đó, đáng kể là Vũ Quần Phương, Trần Đăng Khoa, Vũ Nho và Chu Văn Sơn. Khen chê đủ mùi, có cả chuyện bảo gã ngồi vào chiếu của Nguyễn Bính. Dẫu vậy thì có sao đâu.
          Quả thật, Phạm Công Trứ sở trường về thơ lục bát. Song le, khốn nạn thay cho gã, ngay cái tên đã đội danh nhân lên đầu, đến nghiệp thơ cũng không thoát khỏi kiếp con rùa vào chùa đội hạc ra đình đội bia , phải đội các bậc cao thủ  tiền bối thơ lục bát là Nguyễn Du, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu và Nguyễn Bính. Là kẻ hậu sinh, dẫu chỉ bén gót các bậc danh tài tiền bối cũng chẳng có gì xấu hổ. Xét hiện tại, trong làng thi ca Việt mình, chiếu thơ lục bát có mấy người thành danh thì trong số ấy cũng có tên gã. Bốn người ngồi bốn góc : Nguyễn Duy-Lê Đình Cánh-Phạm Công Trứ-Đồng Đức Bốn, mỗi người riêng một vẻ hay.
          Chơi với Phạm Công Trứ, cũng thích nhiều bài thơ của gã, tôi đã tự chọn và bình dăm ba bài, đăng báo chỗ này chỗ nọ. Lẽ dĩ nhiên, cũng na ná những bài viết của làng phê bình ta, khen một tý và chê một tý, rồi cộng thêm tham số hy vọng bằng kết quả bài thơ ( tập thơ ). Tôi không thông báo, cũng chẳng kể công gì với gã, song gã để ý và gom góp đủ cả. Lại còn tuyên bố, khi làm tuyển các bài giới thiệu phê bình thơ gã, thì gã sẽ chọn lựa đưa vào. Không rõ đến bao giờ gã mới làm cái tuyển đó? A ha, gã đã vậy thì sợ gì mà không biếm họa chân dung gã ?
          Tôi từng viết một bài tạp văn Sân trăng ( in trong tập Lên núi tầm mai - NXB Văn học-2005 ), lấy cảm hứng từ mấy câu thơ của gã: " ... Vợ thì mặt khó đăm đăm/ Con thì ọ oẹ đái dầm cả đêm/ Mình thì ngồi xuống đứng lên/ Trăng thì cứ vãy đầy thêm như trêu ". Tôi gán chàng thi sĩ trong tạp văn ấy vào gã, và còn rủa khéo, bảo gã hãy bỏ cái chốn phồn hoa đô hội mà về quê cày cuốc cấy hái, để rồi tha hồ ngắm trăng. Gã biết, không giận bạn, mà lại cười hiền.
          Thoạt trông tướng gã quê quê, lại thêm ẩm ương thơ phú, nhiều người lo không biết gã làm gì ra tiền để nuôi vợ con ( một vợ, hai con-một gái một nữ ). Đùng một cái, gã mua đất xây nhà lầu ở Cầu Giấy. Xây nhà rồi, lại còn bắt chước người xưa đặt tên chữ nữa. Thảo am thì quyết không phải rồi, thế thì phải là hiên, hoặc các, lâu chi đó. Kể từ đấy, nhiều bài thơ, gã đề bên dưới là Quan Hoa các, hoặc giả Nghênh Phong hiên, hay Vọng Nguyệt lâu...cho thêm phần nho nhã. Vậy mà Tễu , một kẻ đặc quê mùa và láu cá lại được ra đời từ đấy.
          Đa phần người yêu thơ, biết đến Phạm Công Trứ là nhờ Lời thế cỏ may. Hẳn tự thân gã cũng nghĩ vậy, thế nên mới có chuyện gã lấy tên một bài đặt cho cả tập, rồi không những một mà cả ba tập, lại còn thành tên tuyển. Tôi biết, trong cuộc đời, đã có bao nhiêu cô gái sướt mướt chùi nước mắt, bao kẻ ngậm ngùi nhớ về cái thuở " ngồi gỡ lời thề cỏ may ". Song chuyện gió trăng ấy chỉ là những phút thăng hoa ban đầu dễ làm người ta lầm tưởng, thực ra, không mấy hợp cái tạng của gã. Gã là fonklore , gã tưng tửng mang mình ra mà tự trào để rồi bông lơn, trêu ghẹo, châm chọc cả  làng, cả tổng, cả thiên hạ.( Đâu kém cạnh gì các cụ Nguyễn Khuyến, Tú Xương cùng quê với gã ). Tôi lại cho rằng, sự nghiệp thi ca của gã là ở trâu với cỏ, là ở Bờm với Cuội, là ở Tễu kia.
          Tễu sinh ra ở quê, đích thị nông dân. Ở quê, Tễu là đệ nhất, đếch sợ bố con thằng nào. Vậy nên, Tễu mới " cởi trần đóng khố múa chơi ". Hãy xem cái chú Tễu của gã tự bạch : " Đất là mẹ, trời là cha/ Chính danh gọi Tễu, tự là Thảo Dân/ Gia tài độc một chữ cần/ `Trọng thực thường lấy chữ ăn làm đầu / Bạn thì những chó cùng trâu... ". Nhưng đâu chỉ lầm lụi, hèn mọn, cần lao,Tễu bình thường cam phận là thế : " Ra trận đành phận tốt đầu/ Về làng thì lại cưỡi trâu ra đồng " , song lúc máu yêng hùng nổi lên thì nhất là bét nhé: " Kéo cày đã cực chai lỳ/ Khi giương sừng nhọn hổ thì ngán ta ". Gì thì gì, Tễu vẫn biết và trở về với thân phận giáo trò của mình.
          Đấy là Tễu gốc. Biến tướng sang Tễu II , Tễu ta không còn chính hiệu nông dân nữa, mà đã nhuốm màu thị dân rồi. Nghĩ phận mình bèo bọt, cỏ rả " Độc một mảnh vải che thân/ Giấc mơ xuất ngoại đâu phần Tễu tôi ", Tễu đâu tài cán như Trạng tiên tri mà biết, chỉ là chó ngáp phải ruồi, há miệng chờ sung may sung rụng thôi: " Ai ngờ dân dã lên ngôi/ Thế rồi Tễu cùng được ngồi máy bay ". Tễu ta ngồi máy bay, nhòm xuống nhân gian thấy dân làng mình cấy cày vất vả, mới ô hay biết phận mình bấy lâu là thế. Rồi trải đất Tàu trời Tây, diễn trò đồng áng , thảo dân ma lanh hết xứ gà trống đến xứ sương mù, trở về quê, chợt thấy mình không còn là nông dân nữa. Vậy không là nông dân thì là ai ? Là thị dân chứ còn gì. Nhưng muốn thành thị dân thì cũng phải có điều kiện gì chứ? Đơn giản thôi, thì cứ  " sống lâu ở phố/ hóa thành thị dân ".
          Thế là thành Tễu III, thị dân, kiêm nghệ sĩ. Tễu-thị dân khác hẳn với Tễu-nhà quê hồi mới bén mảng ra phố " Nhà quê khí huyết tràn trề/ Tớ đi rung cả vỉa hè Đồng Xuân ".  Thêm nữa, sau lần đầu xuất ngoại, Tễu ta quen mui. Bây giờ xuất ngoại với Tễu không còn là may, đã thành chuyện cơm bữa. Tễu biểu diễn chuyên nghiệp, mặc thì quen với gi-lê , mũ phớt, ăn thì quen xúc-xích, dăm-bông, màn-thầu, sủi-cảo, nói năng thì gút-bai, nỉ-hảo... Đấy là trước đám đông Tây Tàu bộ tịch thế thôi, chứ hễ xong việc trở về, Tễu ta chỉ dễ chịu khi là chính mình, với khố áo , với tre trúc ngõ quê, với ao bèo sân đình, với ối a điệu chèo và câu dân ca não buồn giã bạn đếm trăng.
          Tễu ta đành lột xác, song chớ trêu thay, nỗi ám ảnh nông dân bám lấy Tễu, lẽo đẽo theo đi mọi lúc mọi nơi, trung thành và nhẫn nại. Kỳ thực, bước ra với đời thì cũng bộ tịch thế thôi, chứ sâu thẳm cõi lòng, nếp văn hóa làng quê Việt luôn ẩn chứa " Này nước tre trúc lung linh/ Này mây lồng bóng thủy đình gần xa ". Kỳ cùng cho đến một ngày kia, con cháu Tễu tiễn đưa Tễu về nằm lại nghĩa địa làng bằng một đám rước ra trò !... Song trước khi sắp đặt sẵn cho Tễu một kết cục bi hài, hãy xem Tễu ta sống ở phố thế nào, ăn ở với dân khối phố, đối xử với kẻ phường ra sao ?
          Tễu ta, thị dân : " Thị dân trong mặc/ Váy áo ngắn dần/ Thị dân trong ăn/ Chán cơm có phở/ Thị dân trong ở/ Nhà ống mái tôn/ Thị dân phát ngôn/ Cám ơn! Hân hạnh/ Thích coi phim ảnh/ Thuê đĩa xi-đi/ Muốn uống cà phê/ Quán vườn mờ ảo/ Rất chăm đi dạo/ Vì ngại bụng to/ Cần gọi xích lô/ Thì ra đầu phố/ Thuê một tốp thợ/ Cứ đến chợ người/ Cả đến khóc cười/ Cũng có dịch vụ ...". Mọi việc dễ ợt, như là lẽ đương nhiên. Ở quê khó hơn nhiều.
           Quanh đi quẩn lại, Tễu thấy mình chỉ có thể về quê, đánh bạn với trâu. Đấy là con vật luôn gần gũi, thân mật với mình, buồn vui chia xẻ cùng mình. Tễu nhận mình là Thảo Dân. Trâu lại là bạn của thảo dân : " Từ ngày về với thảo dân/ Trên thừng xiên mũi, dưới chân lội bùn/ Trưa hè nước bỏng như đun/ Chiều đông sương muối rét run từng hồi/ Vụ năm cho chí vụ mười/ Hạt vàng người hưởng, rơm mời trâu ăn/ Lòng riêng thoáng chút lăn tăn/ Vẫn thề đi với thảo dân trọn đời ".
          Xin được nhắc lại, gã biết tuốt song giả ngây giả ngô, tưng tửng, chất chưởng, chẳng ngại gì và cũng không ngán ai . Thấy chướng tai gai mắt là phê, là trào lộng. Bây giờ thì gã quen với cái giọng điệu này rồi. Châm chọc, chê bai rồi gã cười. Cười chán cười chê, cười đến trào nước mắt. Rồi gã giật mình, tỉnh ngộ. Lại buồn, lại hoài cổ, hoài quê... Thân phận gã đâu khác thân phận Tễu kia chứ ?!
          Khi ngồi với vài ba bạn bè thân mật, lúc ngồi riêng với tôi, Phạm Công Trứ không tiếc lời khen chúng bạn, rằng ông này nhàn, cậu kia thì sướng, tay nọ khôn ngoan...chỉ riêng gã là khổ. Cơ khổ. Rằng cái mặt gã ... ý muốn nói là khó coi, khó chơi, hãm tài ... ! Có phải vậy không ? Có lần tôi giở trò chữ nghĩa suy luận, mang tên gã ra chiết tự mà đoán : Trứ , có nghĩa là sự rõ ràng, còn chỉ sự soạn thuật, làm văn, làm sách ( theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh ), chữ này bao gồm chữ giả và bộ thảo đầu. Giả ở đây là chỉ người ( như học giả, hiền giả ), còn bộ thảo chỉ cây cỏ . Vậy là kẻ đội tên Trứ muốn thành  giả ( như tác giả thi ca chẳng hạn ) là phải nhập vào cây cỏ. Chẳng trách, thoạt đầu gã thành danh là nhờ cỏ may. Rồi để nổi tiếng hơn lên, gã phải gắn với trâu, với cỏ, rồi hóa thân vào Bờm, vào Cuội, vào Tễu, toàn những loại gần gũi thân thuộc với thôn xóm, với chuyện cỏ rơm và công việc nông phu.
          Phạm Công Trứ nghe. Gã gật gù cười ra chiều tán đồng, lại như nghi ngờ. Thì cũng là chuyện vui thôi mà. Định viết thêm về gã, song thấy chẳng hơn gì gã tự bạch rất ngắn gọn : " Đúng là/ Hồn gửi ngõ quê/ Xác chôn hẻm phố/ Chưa giây phút thăng thiên/ Đã đôi lần thất thố/ Nhờ câu thơ làm tin/ Lấy đức năng thắng số/ Sớm muộn trời gọi mình/ Việc chi mà lo sợ ".
          Không những thế, ở phần V bài Thơ phú giao duyên , gã thẳng thắn tự giễu cợt mình : " Nửa kim nửa cổ/ Dăm câu trần tình/ Vừa thơ, vừa phú/ Chắp nhặt linh tinh/ Nếu có điều gì/  Xin được lượng thứ/ Hoặc nữa : chấp chi / Hắn-Phạm Công Trứ ! ".     
          Gã đã chơi bài ngửa, trắng phớ trước bàn dân thiên hạ.Trước tiên, gã lấy bản thân ra mà châm biếm cái đã ( kiểu như cụ Tú Xương, người cùng quê Nam Định với gã, tự rủa mình là kẻ cao lâu thường ăn quỵt, thổ đĩ lại chơi lường, rồi mới xỏ đổng thiên hạ ; hoặc như bạn thơ cùng thời là Trần Đăng Khoa, trước khi chê cả làng văn chương thì hạ mình tự nhận là kẻ vô tích sự ). Đến ngay cái thân mình cũng chẳng buồn nương tay, thề thì thương xót và nương nhẹ  ai đây ?!...   
 
                                                                                                                                         ( Rút từ tập Những người thắp lửa –NXB Văn học-2009 )
         
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-09-12 05:55:10tamvanvov>
                                                                                      Phùng Cung
       
                                                                                                       Nguyễn Chu Nhạc
 
1. Có một nông thôn trong thơ Phùng Cung
 
          Tôi có nguồn gốc nông thôn. Tuy sinh ra ở thành phố, song đến tuổi đi học lại về quê sinh sống. Bản thân bạch diện thư sinh nên công việc đồng áng không mấy thạo, tuy cũng lóng ngóng làm được đôi ba việc nhà nông. Thôi thì cứ mạo nhận là nông dân nửa mùa. Lúc theo nghiệp cầm bút, viết về thành phố thì như kẻ ngô ngọng. Đành tập tọng kể chuyện làng quê vậy. Biết cũng chẳng hay ho gì, nhưng còn có cái để mà viết. Lâu lâu rồi cũng thành quen, lại tự nhận thấy rằng, cái sự nửa tỉnh nửa quê của mình phần nhiều là dở, dở hơi dở hám, nhưng cũng có cái được. Mình nhìn làng quê, nông thôn lại thấy ngồ ngộ hay hay, cũng ra chiều nên thơ, chứ không đến mức tẻ nhạt, chán ngắt như chính bà con nông dân tự nhìn nhận về đời sống và cảnh ngộ của họ. Nghĩ thế rồi, nên cứ yên tâm mà viết. Đều đều, đường được. Có tặng sách cho người này người nọ, rồi cũng có người mua sách của mình. Cũng lại chưa thấy ai chê bai. Mà có lẽ, người ta không chê, không muốn chê và chẳng thèm chê. Có lẽ, phần vì không để ý, vì không nỡ, hoặc giả có đi  chăng nữa thì cũng chẳng có gì đáng để chấp nê ...?
          Thế rồi một ngày cuối thu. Đầu óc u u minh minh với việc công sở. Tản bộ ra một hiệu sách gần, nhà sách của Trung tâm văn hóa và ngôn ngữ Đông Tây nằm trên phố Bà Triệu. Nhìn những giá sách mới ngồn ngộn những quyển, những bộ dày mình, bóng lộn và sặc sỡ đến hoa mắt choáng đầu.  Thầm nghĩ, tri thức nhân loại đầy cả đây mà sao phân vân chẳng biết mua quyển gì. Bèn ngó nghiêng sang quầy sách đại hạ giá cũ kỹ đầy bụi phủ. Rút bừa một cuốn bìa xám sỉn lép xẹp trên cái kệ có treo bảng ghi giá chung cho mọi quyển là 5 nghìn đồng. Lại là thơ ư ? Lâu nay mình đã ớn  thơ phú lắm rồi. Song khi nhẩm đọc tên sách, tên người và cảm thấy, hình như mình đã đọc hoặc nghe ai đó từng nói về cái nhà ông Phùng Cung, tác giả của tập thơ này, có cuộc đời truân chuyên, chìm nổi lắm lắm... Thôi thì thử đọc xem sao...
          Nào ngờ, cái tập thơ Xem đêm ( NXB Văn hóa thông tin-1995 ) đã được in từ mấy năm trước, nay thuộc diện hàng chậm luân chuyển, bỏ bán lấy vốn ấy, đã đem đến cho tôi sự thích thú. Cảm nhận thì nhiều, song trước hết, xin bàn về hình bóng một nông thôn lạ lẫm, vừa sâu rộng, lại có gì đó chập chờn nửa thực nửa hư ...
          Ấy là một nông thôn đầy sắc màu, thanh âm ngồ ngộ, lạ mắt lạ tai, song vẫn rất thân thuộc và gần gũi : " Sông chảy bồn chồn hoa nắng/ Chim chả nguệch bàn cờ bến vắng " ; " Ngô lúa quanh làng/ Một màu xanh-cánh-chấu ;   "Hoa bầu rụng/ Lèo tèo tóp mỡ/ Pháo đất bốp bờ ao " ; " Tu hú trên ngọn sung chùa/ Giật mình, xông giọng " ; " Ốc luộc lá bòng thơm tấy ngõ/ Lúa non chấp chới dậy thì/ Nhũng nhẵng dây cò-phơi tã " ; " Hạt mồng tơi kênh đất nghe trời/ Chuối con gái vội hong búp lụa " ; " Con sộp phùm vỗ hão bóng hoa lay/ Lá tre rụng/ Nhuộm hoàng hôn tím đỏ " ; " Diều lá vông cỡn gió/ Con rắn bay/ Đuổi gấp vầng trăng " v.v và v.v...
          Một vùng nông thôn trũng úng, lầm lụi sống, vật vã với cái đói cái rét, nhẫn nại trong lam lũ cực nhọc để mà vượt lên : " Trắng lưng trời/ Làng thôn nơm nớp/ Củ ráy đẫy gang " ; " Tép riu sang khế/ Khăn bùn thuyền thúng-đăm chiêu/ Đồng chiêm ơi/ Khóe mắt ngời nắng cũ " ; " Lẻ tấm/ Búng rền/ Đũm mắm/ Đểnh đoảng mùi cháo canh "; " Ngô phong cờ/ Chó chạy hở đuôi/ Cái đói-tròn/ Lăn-kín bốn mùa"; " Gió bấc về/ Gà con lên cơn sốt/ Nhong nhóc đi, đứng/ Chen nhau tìm chỗ ấm/ Cẳng gày lội gió " ; " Bến đò quán chợ-ngã ba/ Vật vã mùi cháo thí đêm hè "; " Tiếng cuốc bèo da diết gọi ngày mai " ...v.v...
          Và trong những cảnh huống ấy, trăn trở, nặng trĩu, nghèn nghẹn, da diết một nỗi niềm người, nỗi niềm ta : " Bạc tóc trở về quê/ Bỡ ngỡ tìm dò bến mới/ Nhìn dáng lạt bó rau/ Nhận được người làng " ; " Mảnh tình riêng/ Dạt nẻo hoa trôi " ; " Em vừa ốm dậy/ Cơm bắp, dưa sung/ Thèm canh chuối/ Sảy tay vỡ bát/ Em run rảy nhìn ngơ ngác " ; " Xì xẹt sái nhì-tắc điếu/ Cút tương kiến gió đánh đai/ Rổ không hờ hững quang treo/ Nắng thả chào mào nghiêng nghé " ; " Sáo diều ai hóc-gió ven sông " ; " Nhớ người đi xa/ Đãy sắn khô/ Lão đẽo-thơm-giáp hạt " ; " Sương chiều nghe-lạnh bước chân/ Khách áo cũ/ Tìm về bến cũ/ Ai đốt rác lá tre bên ngõ/ Lối đi đầy mùi khói cuối năm " ; " Đêm  chợt nghe/ Trong gối vọng tiếng ru/ Lắng tai nghe mới rõ/ Tiếng tóc mình chuyển bạc " ; " Lúc ra đi/ Đãy quê thao thức gối đầu/ Trót-dông dài-trăng nước/ Mặt va-giông chớp/ Rạc mái phong lưu/ Gót nhọc/ Men về thung cũ/ Quỳ dưới chân quê/ Trăm sự cúi đầu/ Xin quê rộng lượng " ...v.v...
          Quả là tôi không thể nhắc hết được những câu thơ như thế. Nhiều lắm những chữ, những câu, những tứ lạ, súc tích và ám ảnh. Nguyên là một cây bút về văn xuôi, bẵng đi mấy chục năm, khi tái xuất lại bằng thơ, không ngọt như mía lùi kiểu Hoàng Cầm, không ấn tượng như Hoàng Hưng, Phùng Cung lặng lẽ , thâm trầm mà như khắc như tạc...
          Tôi biết, thơ phú bây giờ nhiều vô kể. Cứ mỗi ngày trôi qua, có cơ man những bài thơ được đăng báo, có bao nhiêu tập thơ từ các câu lạc bộ thơ xã phường đến các sa-lông văn học sang trọng nơi đô thị, rồi các nhà xuất bản tiếng tăm ở trung ương cho ra lò, trình với làng thơ ca ? Rồi nữa, quan niệm về thơ, về thơ hay luôn trong cảnh chín người mười làng, mỗi kẻ một phách, mấy ai chịu nhau. Riêng với tôi, thơ hay là đọc rồi, nó cứ ám ảnh mình mãi. Tôi cũng lại biết, có nhiều nhà thơ, nhà phê bình đang sốt ruột lắm, vì họ cho là nền thi ca Việt Nam cứ ì ạch mãi thế này thì có đến mùng thất cũng không giật được cái Nobel văn chương. Thế rồi họ cách tân, họ cổ súy, thi nhau đăng đàn mà tiếp thị thơ, tung hô cái sự cách tân. Song le, hết thơ văn xuôi, thơ không vần, thơ diễn nôm na ná dịch nghĩa thơ Tàu thơ Tây, và gỉ gì gi nữa, rốt cuộc thiên hạ vẫn không mấy ai thuộc, cũng chẳng mấy ai bị ám ảnh, ngoại trừ sự tự kỷ ám thị của họ. Thực ra, đổi mới luôn là một ý đồ tốt, là một biểu hiện bình thường của sự vận động xã hội  nói chung, huống chi là văn chương, thơ phú .
          Xem đêm của Phùng Cung đã thực sự ám ảnh tôi, lấy lại tình yêu với thơ ca ở nơi tôi, kích hoạt tôi làm việc... Cứ xem cho kỹ, thơ Phùng Cung cũng mới đấy chứ. Câu chữ, ý tứ, nhịp điệu, hình ảnh, vần vèo đều mới cả. Mới song không sượng, nhuyễn mà không cũ. Đấy là cách tân chứ phải tìm đâu xa. Và thế, tôi cho là thơ hay !...
          Đọc rồi, cứ rẩm riu tự hỏi, sao các nhà ông này lại thấu hiểu thôn quê đến thế, viết hay đến thế ? Ngẫm ra, thấy những bài mình viết về thôn quê chẳng đáng giá gì. Tôi không rõ quê ông cụ thể ở đâu, song cứ qua thơ mà đoán, thì hẳn là một quê chiêm trũng thuộc đồng bằng Bắc bộ. Cũng na ná như vùng quê tôi. Mùa thối chiêm khê, cấy chay bừa chùi, đồng xa bước chầy bước thụt nặng những gánh lúa ướt sũng, hạt ngâm nước lâu ngày lên mộng mạ, đập ra đánh đống nơi sân kho hợp tác xã hâm hấp nóng bốc hơi nước mờ mịt mùi men rượu ... Thóc vậy mà đâu có được ăn cho no bụng, vì vẫn phải đủ nghĩa vụ lương thực, còn dành dụm cho tiền phương. Cứ thế, thắt lưng buộc bụng, khoai sắn, rau dưa độn vào cho ấm lòng. Vậy mà không một ai kêu ca, eo xèo, bởi mọi người đều hiểu rằng, có thấm tháp gì với những gian khổ hy sinh nơi chiến trận. Giá của mỗi chiến thắng ngoài mặt trận, của mỗi ngày bình yên chốn làng quê ấy phải đổi bằng máu, bằng mồ hôi nước mắt, bằng chính những bó lúa mộng mạ nóng hổi hơi nước kia !... Những ngày tháng đầy gian khổ lo âu ấy trôi qua nặng nề làm sao mà cũng bình thản làm sao. Không một người dân quê nào hiểu nổi nó đã trôi qua bằng cách nào, chỉ biết mình vẫn sống, làng quê mình vẫn sống, dân tộc mình vẫn tồn tại một cách vững chãi. Tôi đã cảm nhận được một nông thôn như thế qua những bài thơ của Phùng Cung, tất nhiên, trong đó có cả những nỗi niềm riêng tây, nỗi đau bản thể. Phùng Cung đã khắc họa bằng ánh sáng sắc màu, thanh âm và cảm quan để ra một nông thôn của một thời đã qua, chân thực đến xót xa, đẹp một cách âu sầu, song lại vô cùng lung linh huyền ảo. Hiểu một nông thôn như thế trong quá khứ chưa xa, mới càng thấm thía một nông thôn đang khởi sắc của ngày nay!...
          Nông thôn ta ngàn đời vẫn vậy, dẫu đời sông nông dân có khấm khá lên nhiều, song thói quen tằn tiện, chịu khó chịu khổ vốn đã ăn sâu vào máu thịt thì đâu dễ phai lạt. Còn là ở cái tâm lý: " Được mùa chớ phụ ngô khoai. Đến khi thất bát lấy ai bạn cùng ".
          Thì cứ cho là những câu thơ của Phùng Cung viết về nông thôn như ngô như khoai đi. Bình thường chỉ là ăn chơi, mấy ai để ý. Đến khi xót lòng, mang ra ăn, càng nhai càng ngọt càng bùi. Đấy là chưa kể, mấy ai đâu đã nghĩ, một ngày nào đó, ngô khoai lại trở thành đặc sản như bây giờ !...
         
         
         
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-09-12 06:01:10tamvanvov>
                                                                    Phùng Cung  ( tiếp theo )
 
                                                                                                 Nguyễn Chu Nhạc
 
2. Không đổi giọng Tân Cương                             
         
          Sau khi tình cờ mua được tập thơ Xem đêm của Phùng Cung, tôi đọc đi đọc lại nhiều lần và càng đọc càng thấy thích. Theo thiển ý riêng tôi, đây là một tập thơ hay nhất được xuất bản trong những năm gần đây. Tôi đã viết một bài về tập thơ ấy đăng báo, đó chính là phần 1 trên đây. Thực lòng khi ấy, tôi không biết gì nhiều về ông ngoài chút thông tin rằng ông chính là tác giả của truyện ngắn Con ngựa già của Chúa Trịnh. Và chính vì truyện ngắn đó mà cuộc đời ông long đong, khổ ải.
          Rồi những thông tin về ông cứ ngày một nhiều và rõ dần ra, nhất là khi đọc Cát bụi chân ai của nhà văn Tô Hoài. Thế nhưng, phải đến khi cuốn sách Ba phút sự thật của nhà văn Phùng Quán ra đời, thì tôi mới có hình dung tương đối rõ hơn về con người và văn chương Phùng Cung, kể cả mối quan hệ của ông với cụ Nguyễn Hữu Đang và Phùng Quán, cùng các văn nghệ sĩ khác .
          Trước đây, qua tập thơ Xem đêm, tôi cứ hình dung rồi đồ rằng, Phùng Cung chắc sinh ra và lớn lên ở một làng quê đồng bằng Bắc bộ như Thái Bình hoặc Hà Nam chi đó. Nào ngờ ông quê Sơn Tây, xứ Đoài với sông Đáy, sông Đà, núi Tản thơ mộng, nơi đã từng nuôi dưỡng hồn thơ Quang Dũng. Lại nữa, ông đã từng vì chuyện văn chương mà phải sống cuộc sống cách biệt với đời thường và môi trường văn chương những đủ vòng năm con giáp. Rồi những tháng ngày khó khăn thiếu thốn, để sinh nhai và nuôi con khôn lớn ông từng phải lăn lộn với nghề đập đinh nặng nhọc, kể cả việc phụ vợ làm bánh rán thêm thắt. Khi đã có thơ rồi thì không có tiền in. May mà được Phùng Quán chăm chút bản thảo và còn định mở một đợt lạc quyên lấy tiền in sách cho ông. Lại may, được cụ Nguyễn Hữu Đang dồn tiền dành dụm dè sẻn của mình, mang cho in sách. Thế mới có tập thơ Xem đêm ra đời  (NXB Văn hóa thông tin, năm 1995 ), in trên giấy xấu, trình làng với bạn yêu thơ. Tôi biết cảm ơn ai đây vì được đọc tập thơ này, Phùng Cùng- Phùng Quán-Nguyễn Hữu Đang, và còn những ai nữa ?
          Càng đọc, lại càng thấm. Những bài thơ ngắn- nhưng nỗi đau đời thì dằng dặc- song đầy xẻ chia, an ủi- rồi trải mênh mang như sự  thiền định- và nữa, ngộ ra để tự răn như những bài kệ nhà Phật...
          Ta thử đồng hành cùng Phùng Cung. Thoạt đầu là những nỗi đau đời nếm trải : " Tội nghiệp nhà thơ/ Hợm mình/ Lầm lạc/ Bởi không biết sống/ Nên không biết chết/ Nửa thế kỷ/ Bị lưu đày/ Trong cõi tung hô "  ( Tội nghiệp ) ;  " Binh lửa bay rồng đá/ Còn đây vũng trâu đầm/ Màu càn khôn lăn lóc/ Gào thét sóng-hoa-văn " ( Vết cũ ) ; " Vạn thuở hồn xanh cỏ/ Mặt đất thơ gắn bó/ Bất hạnh nào hơn/ Già rụi quê người ..." (Ăn năn ); " Phận-lấm/ Tối ngày đào ngoáy/ Lưng nắng-vẽ/ Hoa văn tiền sử/ Chài chãi đồng chiêm/ Mấy kiếp rồi " ( Cua đồng ) ; " Tôi đập nghiên gấm/ Ném vút lên vòm trời Gô-tich/ Gõ cửa phái mê hồn/ Xem lên tiếng ra sao/ Tôi ghép chữ-thơm/ Bắc cầu lên hỏi/ Cõi bất tử siêu phàm/ Liệu có dung nổi một nhà thơ " ( Kỳ vọng ) ; " Đêm đen/ Kìm kẹp ngọn đèn/ Gãy lửa/ Vẫn vinh danh nguồn sáng" ( Nguồn sáng ) .v.v...
          Còn đây là những xẻ chia, an ủi - với người, với vạn vật đất trời, với cõi hư vô, cũng là để tự mình : " Mưa nhỏ ngang sông/ Cò vạc thay nhau/ Săn dòng nước đục/ Cái phù du giả chết/ Vật vờ trôi... " ( Giả chết );" Đầu trần/ Chân đất/ Đường cơm áo vụng về/ Kéo lê cái bóng/ Thân nhơ bóng sạch..."  (Vụng về ) ; " Nửa đời/ Nước thải/ Hưu non/ Vã mồ-hôi-son/ Tảo tần chiều sớm/ Quốc lủi lưng vơi/ Ngấm câu thành ngữ/ Mắt trước mắt sau/ Kinh hoàng di lụy/ Tóc bạc-vào-mùa/ Răng hơi bị đuối/ Trệu trạo trái sung/ Ruột tím cơ hàn " ( Tím cơ hàn ) ; " Đèn bên sông/ Hay bụi-sao rơi/ Mà hiu hắt/ Cơ hồ muốn tắt/ Có phải hình bóng người đã khuất/ Mộng công hầu chưa đạt/ Nay lại lần về mượn cửa tái sinh " ( Bụi sao rơi ) ; " Ai làm cho bạc- tuổi nhau/ Nhìn trời xanh/ Nhớ mái đầu xanh xưa/ Tuổi xanh bạc giữa bất ngờ/ Trời xanh quên nửa bài thơ đoạn trường " ( Bạc tuổi ); " Mái rạ trở mình/ Mưa-hơi-thô/ Hoa dứa gai/ Thơm-lại mùi biên ải/ Đêm trằn trọc/ Xé đôi giấc ngủ/ Nửa giấc tù ngồi/ Nửa giấc trăng " ( Trằn trọc ) ; " Trở giấc xem đêm/ Cuối trời trăng-mỏi/ Trái gấc chín-ngập ngừng/ Tóc rụng trạt lối đi... " ( Xem đêm ) v.v ...
          Cái tính A.Q. đã giúp Phùng Cung xoa dịu mọi nỗi đau đời, để trở về trạng thái cân bằng - một cân bằng động. Dẫu vậy, đấy là con đường tất yếu để người ta qua những trải nghiệm mà đến với Thiền. Phùng Cung lắng đọng và chắt lòng mình ra những bài kệ : " Trăng tà/ Trĩu ánh/ Sương rơi/ Đong-trăng lá lạnh/ Đầy vơi bao lần " (Đong trăng ) ; " Cổng hè đổ vụn-nắng son/ Con trâu gốc phượng/ Nhai-mòn-gần xa " ( Trưa hè ); " Lênh đênh muôn dặm nước non/ Dạt vào ao cạn/ Vẫn còn lênh đênh " ( Bèo ); " Ai chuốc rượu/ Cánh buồm say lảo đảo/ Quanh quẩn quãng sông chiều/ Quên nẻo ra khơi " ( Say ); " Lạnh nhịp sương rơi/ Chiều-gạo-đổ/ Dế đào chân mộ/ Trăng lên... " ( Nghĩa trang ) ; " Em mải hái dâu/ Chiều-sông- nước/ Tằm đau lạc bến/ Trong kén tơ/ Thấp thoáng bóng thuyền " ( Bóng thuyền );  "Sống quá khó khăn/ Chết chẳng dễ dàng/ Tôi phải sống/ Hẳn tôi còn được chết/ Chết là chơi nốt/ Một trò chơi/ Mãn khóa hỗn sinh " ( Trò chơi ) ;         " Mặt chịn nắng/ Ngả màu chum vại/ Hỳ hụi lối mòn-tử đạo/ Mồ hôi tháo/ Lưng cơm chan đẫm phong trần " ( Phong trần ) ; " Ngón son/ Đu nhành biếc/ Trái bồ hòn/ Con vành khuyên hót-ngọt/ Đắng-dư âm " ( Chim vành khuyên ) ; " Dưới bóng đại hùng/ Băng hà, núi lở/ Cái kiến con ong tất tả/ Cõi hỗn sinh/ Tội chết đói/ Hồn không nhập mộ/ Nhà ơi! cây nhót bán rồi/ Hết chua, hết ngọt hết lời nhỏ to " ( Nhỏ to ) v.v...
          Đại loại, còn nhiều, nhiều lắm những bài thơ ngắn như thế, hao hao thể thơ Haiku của Nhật Bản, lại mang phong vị thơ Thiền, và dáng dấp kệ kinh nhà Phật.
          Đây là tập thơ để đời của Phùng Cung. Cứ theo như Phùng Quán, thì cụ Nguyễn Hữu Đang từng đánh giá thơ Phùng Cung còn hay hơn văn của ông. Tôi không được đọc văn Phùng Cung nên không dám so sánh. Song hai trăm bài thơ trong tập, hẳn được Phùng Cung chắt chiu, nghiền ngẫm đằng đẵng nhiều năm trời, cả khi ông bị bứt khỏi đời sống thường và môi trường văn chương, lẫn lúc ông lăn lộn cực nhọc để kiếm sống sau này. Ấy là những bài thơ nằm lòng, mỗi bài như một khúc ruột đau. Đau tái tê đến độ cảm thấy như không. Đạo của người quân tử là vậy chăng? Đạo của Trà, đạo của Thi văn, đạo của Người :
                             " Quất mãi nước sôi
                               Trà đau nát bã
                               Không đổi giọng Tân Cương ." ./.
 
 
                            ( Rút từ tập Những người thắp lửa – NXB văn học -2009 )
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-10-11 09:33:47tamvanvov>
                                             Lữ hành cô độc
 
                                                                                    Tiểu luận của Nguyễn Chu Nhạc
 
          Tôi biết đến cái tên Lâm Huy Nhuận bắt đầu từ bài thơ Thung lũng tiếng chim đoạt giải cao cuộc thi thơ của Báo Văn Nghệ khi cuộc chiến tranh chống Mỹ Ngụy chưa kết thúc, cùng với người bạn thơ mặc áo lính với anh là Hoàng Nhuận Cầm. Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình, mãi cho đến quãng năm 1978 tôi mới biết mặt Lâm Huy Nhuận, khi đó đang là sinh viên Hán Nôm khóa 22 của Đại học Tổng hợp Hà Nội. Số là, tôi có mấy người bạn học cùng khoa với anh, hay rủ tôi sang chơi vào dịp cuối tuần nhân thể dự đêm thơ của trường ấy. Ở vào thời điểm đó, Khoa Văn Đại học Tổng hợp hay tổ chức đêm thơ ở khu giảng đường Thanh Xuân, Hà Nội. Người đọc thơ thì nhiều, sinh viên có và cả những nhà thơ bên ngoài cũng có, song nổi bật nhất thì chỉ có hai, ấy là Hoàng Nhuận Cầm và Lâm Huy Nhuận. Giảng đường chật ních những người, đa số là dân Tổng hợp, cũng có sinh viên của một số trường đại học khác ở Hà Nội mò đến dự, kiểu như mấy đứa chúng tôi. Tôi nhớ, khi Hoàng Nhuận Cầm đọc thơ, anh như người nhập đồng. Đám cử tọa nữ sinh bên dưới nhiều đứa lén chấm nước mắt. Còn Lâm Huy Nhuận thi khác, thơ anh không êm dịu, ru rín lấy nước mắt như thơ Hoàng Nhuận Cầm, mà câu chữ có gì đó rổn rảng, tinh xảo. Thực ra, anh trình diễn thơ, giọng khỏe, điệu bộ chân tay như diễn đạt ý tưởng. Nghe rồi, tôi thầm so sánh. Hoàng Nhuận Cầm, lời thơ bộc trực, ý lộ, như chuyện kể giàu nhạc điệu, nên hiệu quả tức thì, dễ lay động tuổi mới lớn đang yêu. Trái lại, Lâm Huy Nhuận chắt lọc, ẩn ý, câu chữ ấn tượng nên dễ át người nghe, thoáng qua thì khó hiểu, sau xem lại bằng mắt mới thấy từ, thấy tứ. Chính vì sự khác hẳn nhau, nên khi cả hai cũng xuất hiện trên diễn đàn, đều nổi bật tuy hiệu lực trái nhau...
          Bẵng đi, mãi năm 1987, tôi về nhận công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam, đã thấy bóng dáng Lâm Huy Nhuận vật vờ đâu đó trong sân trụ sở 58 Quán Sứ. Thì ra, anh đã trở thành biên tập viên của Ban Văn nghệ nhà đài mấy năm rồi.
          Với Lâm Huy Nhuận, để chơi được thì trước hết người đó phải ôn hòa và có sức chịu đựng, hoặc không thì tính cách dữ dội cỡ tương đương. Điều này, có lẽ nhiều người trong làng văn thơ, làng họa và cả những người quen biết anh còn hiểu hơn tôi. Tôi chơi được với anh là nhờ chọn cách ôn hòa, và dù nhiều khi có thể nói là chịu đựng, song cũng là phù hợp với tính cách tôi.
          Lâm Huy Nhuận là người đa tài, chí ít trong  bốn lĩnh vực: thơ- họa-  bốc phệ và xem mạch bốc thuốc đông y.
          Với thơ, đấy là duyên nghiệp của anh. Lâm Huy Nhuận được bạn đọc, công chúng biết đến trước hết là nhờ thơ. Thân sinh ra anh là thi sĩ Yến Lan, con kỳ lân của nhóm Tứ Linh đất Bình Định từ thời tiền chiến ( Hàn Mặc Tử-Chế Lan Viên- Yến Lan- Quách Tấn ). Có lẽ Lâm Huy Nhuận chỉ thừa hưởng ở cha mình cái gen thơ phú lãng tử, còn lại anh tự lập ngôn. Sớm nổi tiếng với giải cao cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ khi còn là lính chiến với bài thơ Thung lũng tiếng chim, song nếu chỉ có vậy, sẽ chẳng là gì cả. Sau khi phục viên, học ngành Hán Nôm -Tổng hợp Văn Hà Nội, rồi về Đài TNVN, Lâm Huy Nhuận nhũng nhẵng làm thơ. Nói vậy bởi anh không bỏ mà cũng chẳng ham. Khi đọc thơ thì trong đêm thơ sinh viên hàng mấy trăm người, đọc cho dăm ba người xung quanh nghe, hoặc lúc say rượu chỉ đọc cho người bạn đối ẩm, anh đều bốc như nhau. Đọc thơ thì vậy nhưng làm thơ không vậy, không bốc đồng và cũng chẳng hề sốt ruột. Mặc ai đó thiên hạ làm thơ đăng báo và in tập như điên, để rồi thành nhà này nhà nọ. Anh thì không. Chỉ làm khi có tứ, có cảm xúc thật. Câu chữ , ý tứ chắt lọc lắm thay. Rồi ra cũng chẳng cần đăng báo. Thích thì đọc bạn bè nghe chơi. Ai đó thấy thích bảo đăng thì đăng. Cứ nhũng nhẵng thế hàng chục năm trời, đến nỗi bạn bè anh em sốt ruột hộ, và nghe nói cả Hội Nhà văn cũng sốt ruột lây cho anh. Quy chế hội là chí ít phải ra tập, mà Lâm Huy Nhuận chẳng chịu ra cho. Hội thì cứ chờ ra tập rồi mới giới thiệu kết nạp hội viên. Mãi thì chuyện gì đến cũng phải đến, anh xuất bản tập thơ đầu tay " Chiều có thật " ( NXB Văn học, 1999 ), và sau đó trở thành hội viên Hội nhà văn. Với anh, chẳng có gì khác trước, sống vẫn vậy và viết cũng vậy, thất thường, nhũng nhẵng và dai dẳng !...
          Với những người không biết Lâm Huy Nhuận, quả là cầm tập thơ Chiều có thật mỏng mảnh với 62 bài, phần nhiều là thơ ngắn, sẽ chẳng thể cảm sức nặng của nó. Bìa sách màu nâu nhạt do họa sĩ Phan Cẩm Thượng, bạn anh, bỏ công vẽ, thoạt nhìn sơ sài, phải ngắm kỹ mới thấy sự độc đáo. Song sự độc đáo chính lại ở ruột của của tập thơ. Đọc qua thấy bài nào cũng được. Đọc nhẩn nha, rồi ngẫm nghĩ, thấy lạ và hay. Hầu như, bài nào cũng có cái được, khi ở cấu tứ, khi ở câu chữ , lúc là nhịp điệu, mạch thơ ... Có những bài hay như : Tự xông đất, Chiều thu,  Mặt hồ, Váng sương, Và đôi lúc ...Song khi bảo phải chọn một bài thôi, thì thật khó. Nhìn chung, thơ Lâm Huy Nhuận ngôn từ sắc lẻm và táo bạo, kiệm chữ, mà không gian vẫn hư ảo. Đọc rồi, ưng hay không là tùy ở người, song bao giờ cũng đọng lại một cái gì đấy. Tôi nghĩ, thơ Lâm Huy Nhuận được, và có chăng hơn ai đó, là nhờ đấy.
          Tuy thơ làm nên tên tuổi Lâm Huy Nhuận, song với anh thơ chỉ là non nửa, nếu không đả động gì đến những cái tài khác.
          Họa chẳng hạn. Cũng như thơ, Lâm Huy Nhuận đều đối xử bạc bẽo như thế. Anh chơi với nhiều họa sĩ, chẳng học họa ngày nào, thấy người vẽ  thì anh cũng vẽ. Khoái lên, điên điên lên thì vẽ. Anh chọn chất liệu bột màu giấy dó là chính. Anh vẽ phố, vẽ người, vẽ con vật... Vẽ xong, xếp đồng giấu sau tủ. Lâu lâu tự lôi ra ngắm, hoặc sau trận nhậu, tây tây lên, lôi bạn bè đàn em về nhà và lôi tranh ra khoe. Vẽ thế, song xem tranh anh người ta thấy lạ, thấy quái, rồi thì tìm thấy sự hợp lý trong cái lạ, cái quái, mà thích. Chơi họa nghiệp dư song làng tranh gán gọi anh là ông " tôm ôm đá, cá trên mái nhà, đàn bà một vú, hổ tứ đuôi ". Vậy cũng đủ thấy tranh của Lâm Huy Nhuận không thường chút nào. Lý giải cho cái sự không học mà vẽ của mình, hơn một lần Lâm Huy Nhuận tuyên bố rằng : " Có triết ở trong đầu, tự sẽ thấy bố cục, cấu tứ , mảng màu ... mà thành tranh ". Phải chăng đấy là tuyên ngôn nghệ thuật của anh ? Dân họa chịu anh đến đâu thì có trời biết ...
          Mặc dù lối sống hơi bụi bặm, song tự trong máu, Lâm Huy Nhuận là một người thấm đậm chất phương Đông, nho sĩ. Nhưng anh là nho sĩ của thời đại mới. Chẳng thế mà một lần đến chơi thăm Tào Mạt, sau vài giờ đồng hồ đàm đạo văn chương, kê đơn thuốc tiêu ung cho Tào Mạt, đường về, anh phán một câu xanh rờn: " Ông này có chất nho sĩ, nhưng mà là hủ nho ". Khoan bàn về việc đúng sai khi nhận định Tào Mạt như vậy, song rõ ràng ở đây, Lâm Huy Nhuận nhận thấy anh và Tào Mạt có nhiều điểm giống nhau, duy chỉ có điều, ông ôn nhu và kém lãng tử hơn anh. Thực ra, Tào Mạt là người yêư nghệ thuật chèo và đã từng khởi xướng việc cách tân chèo thì hẳn ông không phải là người cổ hủ. Có chăng, ông luôn biết giữ sự mực thước mà thôi.
          Nho y lý số, xưa nay các bậc túc nho đều có. Lâm Huy Nhuận không phải và sẽ chẳng bao giờ là bậc túc nho, song anh khá tam tường về những lĩnh vực ấy. Anh có căn duyên với nghề thuốc. Lại cũng như họa, không trường lớp, anh tìm thày theo học, rồi mầy mò tìm sách, vận dụng cái chất triết, chất lý trong đầu và vốn chữ nghĩa Hán Nôm mà tự học thành nghề thày thuôc Đông y, và cũng khá nổi tiếng. Đấy mới là cái nghề thực sự nuôi sống gia đình anh. Chỉ thế thôi, anh đâu có ham tiền, ham làm giàu từ nghề thuốc, bởi không, là trái với tính cách con người anh, trái với đạo nghề. Không những thế, Lâm Huy Nhuận còn được nhiều người biết đến với tài bốc phệ, lấy quẻ tử vi, xem tứ trụ. Nhiều lần anh giữ mục Thày thuốc Đông y cho tờ báo này báo nọ. Rồi mỗi độ tết đến xuân về, bạn đọc lại thấy những bài viết của anh dự đoán vận khí năm mới đó đây trên mặt báo. Còn với bạn quen, người lạ, có lúc phải rợn người bởi lời phán về vận khí cá nhân mình khi tình cờ gặp lúc anh nhập đồng. Đâu phải với người khác, với chính bản thân mình, anh cũng vậy. Cách đây vài năm, anh em cơ quan và bạn bè thân quen bỗng thấy anh tuyên bố, rằng anh phải hành phương Nam thì mới hợp vận, hợp cách của mình. Tưởng đùa vậy thôi, anh đùng đùng nộp đơn lên lãnh đạo xin vào công tác ở văn phòng phía Nam. Và anh đi thật. Lúc ở gần, nhiều khi thấy bừng bực về sự thái quá của anh, song anh đi rồi lại thấy thiêu thiếu văng vắng...
          Lữ hành cô độc là tên một truyện ngắn của tôi lấy cảm hứng từ Lâm Huy Nhuận, viết cách đây mười mấy năm, được in trong tập truyện đầu tay Đêm nguyệt thực. Bài viết này về anh, tôi thích giữ nguyên cái tít ấy, bởi nó đúng với anh. Đa tài và đa tình, song cô độc. Lâm Huy Nhuận sống ồn ào đấy, nhưng thực ra anh là người lặng lẽ, thu mình, khó chia sẻ. Là gỗ quý nhưng vỏ nhựa độc, khó dùng. Tự thân muốn làm gì thì làm, miễn là phải đạo. Cũng khá tự do, tự tại, ấy là sướmg, song lại tự vây hãm mình. Cô độc là vì thế chăng ?
          Ngẫm cho kỹ, thực ra từ ngót hai mươi năm trước, Lâm Huy Nhuận đã tự họa mình, hình và bóng, tâm tư và tính cách  : " Tự mình xông đất cho mình/ Căn phòng vắng ngắt lặng thinh suốt mùa/ Tự đốt pháo, tự giao thừa/ Bắt tay chúc tết như vừa thấy nhau/ Giật mình hai mắt trũng sâu/ Người trong gương ấy còn đau hơn mình " ( Tự xông đất ).
          Cho đến giờ, Lâm Huy Nhuận chưa ra tập thứ hai. Thơ thì vẫn làm, nhưng người ta nhắc đến anh như một thày thuốc đông y và có tài bốc phệ nhiều hơn. Dường như, với thơ, anh đang nén đợi một điều gì đấy ?!...
         
         
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-10-14 03:31:19tamvanvov>
                                   Phạm Hổ, người thắp lửa ...

                                         Tiểu luận của Nguyễn Chu Nhạc
 
          Tôi định viết về ông nhưng rồi lần lữa mãi. Viết về ông không khó, song cũng chẳng dễ chút nào. Về con người, tôi chỉ vào hàng con ông, bản thân không phải là người quảng giao, ít đi lại với giới văn chương, phần vì bản tính vậy, phần vì ngại, nên không có điều kiện tiếp cận ông. Về sự nghiệp, ông đã thành danh với những tác phẩm thơ văn dành cho thiếu nhi. Tôi biết ông có rất nhiều bài thơ hay và độc đáo cho trẻ em, song thú thực, cho đến giờ tôi thuộc duy nhất một bài, ấy là bài thơ Xe cứu hỏa. Đơn giản bởi bài thơ đó được đưa vào sách giáo khoa cấp 1 từ thời tôi đi học.
          Hè năm 2007, nhà thơ Phạm Hổ mất, báo chí đăng nhiều bài viết về ông. Tôi có đọc bài này bài kia, tuy không hết song cũng biết thêm khá nhiều về ông. Nhưng đấy là bài viết của thiên hạ, họ nhìn nhận ông với cách nhìn và tình cảm của họ. Tình cờ, tôi có gặp và trò chuyện đôi chút với con gái của ông, nhà văn Phạm Sông Hồng khi chị thay mặt gia đình đến Ban Văn học nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam cảm ơn sau lễ tang ông. Đây cũng là lần đầu tiên tôi gặp Phạm Sông Hồng.
          Từ thuở học trò, tôi biết đến Phạm Hổ với tư cách là một nhà thơ viết cho thiếu nhi. Càng về sau, tôi thấy thơ viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ khá tài hoa, độc đáo và không kém phần ngộ nghĩnh. Có người đã ví ông với ông Marshak ( Samuil Jakovlevitsh Marshak, 1887-1964, Nhà thơ và nhà văn Nga, nổi tiếng thế giới , viết cho thiếu nhi rất hay, và là một trong những người sáng lập nền văn học thiếu nhi ở Liên Xô trước đây ), và còn gán cho Phạm Hổ biệt danh là Marshak Việt Nam  Rồi tôi còn biết, ông có tới những ba ái nữ, tên gọi cũng rất chi là đặc sắc, hai ả tố nga đầu là Sông Hồng và Sông Đông, và nghe đâu cả hai đều tài hoa giỏi giang. Sông Hồng thì thành danh với dịch thuật và một số truyện ngăn ngắn. Ở vào cái thời truyện ngắn đang nổi đình đám trên văn đàn , nhiều cây bút truyện ngắn tài năng lộ diện, nhiều truyện ngắn có tầm vóc như truyện vừa, mà Phạm Sông Hồng lại chuyên trình làng những truyện ngắn mi-ni thì xem ra cũng là độc đáo. Người con thứ hai của ông, Sông Đông học cùng khóa Tổng hợp Văn với mấy người bạn của tôi ( đó là Ts. Nguyễn Hữu Sơn và Ts.Trịnh Bá Đĩnh nay ở Viện văn học Việt Nam ), và sở dĩ tôi biết vậy là vì trong các câu chuyện ngày ấy của mấy chàng sinh viên này thấy có bóng dáng của cô nàng.
          Khi bước chân vào nghề làm báo, rồi bản thân cũng viết lách này nọ, tôi có để ý hơn đến giới văn chương nghệ sĩ. Tôi có nghe một giai thoại liên quan tới Phạm Hổ. Rằng ông là một người rất hiền lành, nhưng khá giỏi võ thuật, mà là võ Bình Định kia. Chuyện là, có một chàng làm thơ nào đấy, muốn tiếp cận ông, nhờ ông giới thiệu hay bỏ phiếu chi đó nhằm vào Hội nhà văn. Thấy chàng ta chưa thật xứng đáng, ông kiên quyết chối từ. Chằng hiểu lời qua tiếng lại thế nào, chàng kia nổi khùng xông vào ông định động thủ. Ông không buồn đánh lại, chỉ né tránh và một động tác võ thuật nhẹ nhàng đã quật chàng ta ngã nhào, khiến anh chàng xanh mắt mà thôi luôn. Chuyện thật hư thế nào thì tôi không rõ, nhưng nghe  rồi thấy nó khá bi hài với anh chàng kia mà lại tôn vinh được Phạm Hổ. Và chuyện đó được mọi người kể mãi cho nhau nghe.  
          Và rồi, có một chuyện khiến tôi ấn tượng mạnh về Phạm Hổ. Nếu tôi nhớ không nhầm thì vào mùa hạ năm 1995, tôi tham dự Trại sáng tác văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam mở tại Hà Nội. Lúc bấy giờ, tôi chủ yếu viết truyện ngắn cho người lớn, tuy nhiên cũng có dăm ba cái truyện thiếu nhi gửi phát trên chương trình Văn nghệ thiếu nhi của Đài Tiếng nói Việt Nam mà nhà thơ Lê Đình Cánh làm trưởng phòng. Khi ấy, hình như anh Lê Đình Cánh còn là ủy viên Hội đồng Văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn thì phải. Anh động viên tôi và Phạm Thành, người làm cùng cơ quan, vốn đã được biết với truyện dài Hậu Chí Phèo, đăng ký tham dự. Tôi ngại lắm, song trước sự thuyết phục khó thể chối từ của anh Lê Đình Cánh, tôi đồng ý tham dự và có gửi đến Trại sáng tác hai truyện ngắn là  "Con chó Mực của bà tôi " và " Có một bà già ai nhớ ". Cả hai truyện này đã được đăng trước đó ở Báo Người Hà Nội. Nhưng rồi chỉ có tôi, còn Phạm Thành không dự với lý do là chưa hề viết gì cho thiếu nhi. Hôm đến Hội nhà văn làm thủ tục, tôi gặp nhà thơ Phạm Hổ và nhà văn Vân Thanh, là những người phụ trách Trại sáng tác. Có thêm sự động viên của hai đại lão gia trong làng văn học thiếu nhi, tôi thêm vững tâm.
          Trước hôm khai mạc, nhà thơ Lê Đình Cánh gặp tôi, anh vui vẻ vỗ vai tôi bảo : " Hai cái truyện của em được nhà văn Nguyên Ngọc đọc thẩm định. Cụ ấy khen đấy. Hôm này khai Trại, Ban Tổ chức dự định là sau phần diễn văn khai mạc, đến phần của trại viên, nhà văn Nguyên Ngọc sẽ đọc nhận xét thẩm định tác phẩm của em, kế đó em sẽ tự đọc truyện ngắn của mình ". Tôi nghe mà ớn cả ngươi, rồi trối đây đẩy. Nhà thơ Lê Đình Cánh cười bảo: " Có gì mà ngại. Nhà văn là người của công chúng rồi . Tác phẩm của mình đem công bố hệt như mũi tên đã bắn ra khỏi cung, trúng trật, khen chê thế nào là việc của thiên hạ ". Nghe thấy chí lý, tôi có vẻ xuôi xuôi, song thực lòng vẫn ngần ngại lắm. Mấy ngày không yên đợi hôm khai trại.
          Rồi cũng đến ngày đó. Trại được tổ chức tại khoa sinh viên nước ngoài trong khu Đại học Bách khoa Hà Nội. Tôi đồ chừng khoảng ba chục người từ các địa phương về dự. Tôi không thuộc hết mặt, chỉ loáng thoáng biết và nhớ là có Thai Sắc ( Đồng Tháp ), Hoài Khánh ( Hải Phòng ), Thái Chí Thanh, Lê Minh Hoài ( Hà Nội ) và hình như còn mấy bạn trẻ lứa tuổi học trò ở Hà Nam Ninh thì phải...  ( Nếu hiện có bạn nào trong số ấy nay thành danh trên văn đàn, thì cho tôi xin lỗi vì đã không nhớ được quý danh, không phải vì khinh thị, mà chẳng qua khi đó tôi chỉ dự buổi khai mạc, không học tập và sinh hoạt cùng anh chị em trong trại viết, vả lại lâu rồi nên không nhớ nổi ).
          Sự lo ngại khiến tôi chẳng nghe thấy gì khi ngưới ta khai mạc. Đúng như dự kiến, nhà văn Nguyên Ngọc đọc bài thẩm định hai tác phẩm gửi tham dự Trại của tôi. Chi tiết thế nào tôi không còn nhớ, song khen cũng nhiều và chê cũng không ít. Sau đó, tôi được mời lên, ngồi vị trí trang trọng nơi bộ bàn ghế kê chính diện trước hội trường. Tôi đã đọc cái truyện ngắn  của mình " Con chó Mực của bà tôi ". Lúc đầu còn e ngại, rồi bạo dần lên, rồi nữa như nhập đồng. Tôi vừa đọc vừa ứa nước mắt, nấc thành tiếng. Tôi quên hết mọi người, tôi nhớ đến bà ngoại tôi, đến mẹ tôi, đến con chó Mực nhà tôi... Bà ngoại tôi bị mù lòa từ ngày còn trẻ, vậy mà vẫn những mười lăm lần sinh nở, nuôi con đến trưởng thành còn chín người. Hết nuôi con rồi lại chăm cháu, đầy đàn đầy đống. Suốt những năm chiến tranh chống máy bay Mỹ, đám cháu nội ngoại từ thành phố ùn ùn kéo nhau về sơ tán, bà ngoại tôi nhận chăm sóc tất thảy. Bao nhiêu là chuyện phải lo, cơm cháo, rau khoai, tắm giặt, học hành, lúc khỏe mạnh cũng như lúc ốm đau...Chẳng thế mà sau này, lũ cháu chúng tôi nên người, đi đây đó khắp xứ ta xứ tây, luôn nhớ về bà với tâm niệm bà như một bà tiên trong cổ tích. Giờ thì bà ngoại tôi  đã mất và cỏ đã xanh lần hai trên mộ. Con chó Mực cũng đã chết lâu rồi. Chỉ còn mỗi mẹ tôi. Mẹ tôi đang sống hiu quạnh ở chốn quê nhà, ngày ngày chăn nuôi lợn gà, quét tước lá tre, trông giữ đất vườn và nếp nhà gianh, cho mấy chị em tôi thoả sức bay nhảy nơi phố xá đô thị ... Tất thảy sống dậy trong tôi. Tôi mường tượng lại tuổi thơ tôi sống với bà ngoại thế nào, bà yêu quý và chăm chút tôi ra sao...Và tôi đã khóc. Khóc vì sao ư ? Không rõ nữa. Có lẽ vì tất cả. Chỉ biết là cố kìm nén mà không nổi. Tôi đã phải ngừng đọc những mấy lần, để nuốt tiếng nấc nghẹn, để lau nước mắt vì chữ nghĩa trước mắt cứ nhòe đi. Lúc ấy, trong tôi chỉ còn một ý nghĩ là cố gắng làm sao đọc cho xong cái truyện, chẳng tâm trí đâu để ý xem mọi người ra sao. Song quả là tôi có thấy, nhà thơ Phạm Hổ cũng rân rấn nước mắt. Điều ấy khiến tôi tự tin hơn, và bỗng dưng tôi thấy cái sự khóc của mình không vô lý nữa, giúp cho tôi đủ sức đọc tiếp mà không bỏ dở. Gần cuối, khi đã bình tĩnh tôi bắt đầu nhận thấy đâu đó những tiếng rì rầm ở bên dưới của những trại viên, hình như cũng lại chuyện khen chê này nọ...  
          Sau phần của tôi, nhà văn Ma Văn Kháng nhận xét những sáng tác của mấy bạn trẻ ở Hà Nam Ninh. Tôi không được đọc truyện của họ, song chỉ qua thẩm định của nhà văn Ma Văn Kháng thì có thể thấy những sáng tác ấy khá hay. Có lẽ còn do ông Ma Văn Kháng viết nhận xét rất giỏi. Tôi nghe ông đọc lời nhận xét thấy hay và thật đáng nể phục. Tôi rẩm riu nghĩ, trước đây mình đã phục ông nhà văn này qua mấy tiểu thuyết " Mưa mùa hạ ",  "Đồng bạc trắng hoa xòe " và " Mùa lá rụng trong vườn ", nay lại phục tài viết phê bình nữa. Lúc nghỉ giải lao, tôi nhận thấy hình như mọi người vẫn tiếp tục trò chuyện với nhau, đưa ra những ý kiến nhận xét này nọ. Và loáng thoáng đâu đó, có lời chê bai chi tiết này, câu chữ nọ từ cái truyện của tôi. Lại nữa, còn có cả lời bai, rằng tại sao cái tay ấy lại có thể khóc khi đọc truyện nhỉ v.v... Thú thật là lúc ấy tôi chạm tự ái, nóng mặt. Đó cũng là lý do khiến tôi đứng một mình nơi hành lang, không nhập vào nhóm nào, cũng chẳng muốn trò chuyện cùng ai cả.
          Đúng lúc ấy, nhà thơ Phạm Hổ đến bên tôi. Ông vỗ nhẹ lên vai tôi, miệng cười xúc động :" Em khá lắm... Viết cảm động lắm... Viết cho thiếu nhi không khó ... Điều khó là ...cần một tấm lòng...Vì ở đấy không có chỗ cho cái ác... ". Tôi thấy rõ là ông thể hiện sự xúc động một cách chân thành, thế nên tôi cảm động lắm. Sự cảm động còn bởi một lý do riêng tư, trong khi đám đông coi thường sự cảm động của mình, thì lại có một vị đại lão gia biết trân trọng nó. Tôi không muốn, nhưng không thể không so sánh. Ông còn căn dặn thêm gì đấy, song sự cảm động khiến tôi không còn tỉnh táo để mà ghi nhớ. Đợi ông dừng lời, tôi dụt dè xin phép ông và Ban Quản lý Trại sáng tác được vắng mặt một số buổi vì công việc cơ quan không cho phép tôi dự đủ. Điều này tôi cũng đã bày tỏ với nhà thơ Lê Đình Cánh từ trước. Ông động viên tôi rồi bảo: " Tiếc nhỉ ?! Nhưng hễ rảnh buổi nào là đến với anh em bạn bè của Trại cho vui ". Lúc quay lại hội trường, Phạm Hổ ân cần: " Này em, chớ có bỏ viết cho thiếu nhi... Đồng hành với trẻ em là khó lắm đấy... Đã có nhiều người bỏ cuộc rồi ... ". Ông lại cười, một nụ cười buồn...
          Sau buổi khai mạc, phần vì bận việc cơ quan, phần vì tự trong lòng thấy ngài ngại, nên tôi không tham dự thêm một buổi nào nữa. Hôm bế mạc và liên hoan kết thúc, tôi có đến dự. Không khí bia rượu và sự chia tay thường chỉ đem đến cho người ta một cảm xúc có phần thái quá. Khách khứa từ các cơ quan báo chí và Hội nhà văn đến đông lắm. Các nhà văn Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng, nhà thơ Phạm Hổ là tâm điểm vây quanh của mọi người. Tôi đứng ở một góc, cụng ly bia với nhà thơ Trần Nhật Lam. Lê Đình Cánh, những người mà tôi quen biết. Mới chỉ khẽ chạm đến văn chương thôi cũng là đủ để biết " mùi ca ngâm " của nó... Tôi nghĩ, điều quan trọng là mình có viết được hay không ?...
          Những năm sau này, lâu lâu lại thoáng thấy Phạm Hổ ở đâu đó, phần lớn là qua tivi. Thấy ông mỗi năm mỗi già song sự điềm đạm và hiền hậu thì dường như mỗi dày thêm. Tôi nhớ, có một lần bật ti vi lên, thấy đưa cảnh nhà thơ Phạm Hổ đến thăm một trương mẫu giáo nào đó ở Hà Nội ( hình như trương Việt Triều thì phải ?). Ông cười hiền, trả lời rất hóm hỉnh các câu hỏi của đám trẻ. Ông đọc thơ ông cho chúng nghe. Và trong số đó có bài thơ Xe cứu hỏa, bài thơ mà tôi thuộc lòng từ tấm bé : " Mình đỏ như lửa/ Bụng chứa nước đầy/ Tôi chạy như bay/ Hét vang thành phố/ Nhà nào có lửa/ Tôi dập được ngay/ Ai gọi cứu hỏa/ Có ngay, có ngay  !".
          Phạm Hổ đọc chậm rãi. Nhịp điệu theo từng câu từng chữ. Vừa đọc ông vừa làm điệu bộ. Đám trẻ con khoái lắm, chúng thích chí cười. Ông cười theo, và tôi thoáng thấy nơi khóe mắt có ngấn nước. Nước mắt của sự nhân hậu, bao dung và xẻ chia. Nước mắt của người suốt đời đi theo bọn trẻ. Chúng như đám con cháu ông ngày ngày quây quần bên ông. Nước mắt của người tự lượng sức mình, biết chẳng bao lâu sẽ xa chúng mà đi vĩnh viễn ...
          Tôi lại nhớ lời nhắc nhở của ông ngày ấy, rằng hãy viết gì đó cho thiếu nhi, chớ nên bỏ cuộc. Tuy đã xuất bản được mấy tập sách cho người lớn song tôi không quên viết cho thiếu nhi. Đăng rải rác, rồi đến năm 2001, tôi cũng tập hợp lại thành một tập truyện cho thiếu nhi  (Tập  "Công cống mùa thu " - NXB Kim Đồng ). Giờ thì vẫn túc tắc.
          Khác với chiếc xe cứu hỏa của mình, hễ cứ thấy ở đâu có lửa cháy là lao đến dập tắt ngay, còn riêng ông, ông lại luôn tìm cách thắp lửa. Ấy là những ngọn lửa nơi tâm hồn mỗi đứa trẻ, những ngọn lửa sáng tạo trong mỗi cây bút trẻ mà ông biết !...
Đăng nhập để trả lời
0
Gửi người phụ trách thư mục.
 
Trân trọng nhờ các anh ( chị ) phụ trách thư mục " Tác giả Việt " đưa hộ toàn bộ những bài viết của Nguyễn Chu Nhạc vào Thư mục riêng của tác giả có sẵn trong Sách truyện của Thư viện.
 
Cảm ơn. 
 
Nguyễn Chu Nhạc
Đăng nhập để trả lời
0
Thân các Điều hành viên
 
Một lần nữa, nhờ các bạn đưa gúp những bài viết của tác giả ( Nguyễn Chu Nhạc ) trong mục này vào thư viện ( thư mục của tác giả ).
 
Cảm ơn
NCN.
Đăng nhập để trả lời
0