Diễn Đàn » Hiệu Đính Truyện

Kỹ thuật đảo chánh - Curzio Malaparte - HẾT 🔒

6 trả lời, 8.669 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-08-31 03:57:04huytran>


CHƯƠNG III

1920: KINH NGHIỆM BA LAN
TRẬT TỰ THIẾT LẬP Ở VARSOVIE




Sau mấy tháng ở Hội đồng chiến tranh Tối cao Versailles, đến tháng 10 năm 1919, tôi được cử làm tùy viên ngoại giao Lãnh Sự quán Ý ở Varsovie, vì lẽ đó, tôi lại có nhiều dịp gặp gỡ Pilsudzki. Nhờ thế tôi hiểu ông sống bằng tưởng tượng và đam mê hơn là bằng suy luận, vốn kiêu căng hơn là tham vọng và, trong bản chất, ông là người giàu nghị lực hơn trí thông minh. Chính ông không ngần ngại thú nhận rằng ông có vẻ khùng khùng và cứng đầu, như mọi người dân Balan ở Lithuanie.
Không phải lịch sử đời ông đã có thể làm cho ông điều hợp được lòng ngưỡng mộ của Plutarque hay Machiavel. Tôi thấy nhân cách cách mạng của ông cũng ít đáng chú ý, không như của những tay đại bảo thủ Wilson, Clemenceau, Lloyd George hay Foch mà tôi đã từng tiếp xúc và quan sát ở Hội nghị Hòa Bình (Conférence de la Paix). Dù là tay cách mạng, tôi nhận thấy trong tư thế đó Pilsudzki còn kém, và non kém hơn rất nhiều cả Stambuliski, ông đã cho tôi cảm tưởng ông hoàn toàn thiếu ý thức đạo đức nhưng lại quá hăng, quá bạo tàn, dám nói về hòa bình và công lý ở giữa những đám quần chúng Âu châu năm 1919.
Khi lần đầu diện kiến Pilsudzki tại lâu đài mùa hạ của ông ở Varsovie, tác phong của ông đã làm tôi kinh ngạc. Người ta nhận thấy ngay ở ông mẫu người Catilina trưởng giả, mải lo nghĩ và thi hành những dự định táo bạo nhất trong những giới hạn mà nền đạo lý văn minh và lịch sử của thời đại của dân tộc ông có thể cho phép, và lại đi tuân phục một thứ pháp lý ông vẫn chủ tâm chà đạp, nhưng vẫn không ra khỏi vòng pháp luật. Quả vậy, ở trong vai trò lãnh đạo trước và sau cuộc đảo chánh 1926, Pilsudzki không bao giờ đi đâu xa câu châm ngôn của Marie-Thérèse đã theo trong sách của bà ở Balan: “Hành động như người Phổ, nhưng cứ giữ bề ngoài lương thiện”.
Không nên ngạc nhiên Pilsudzki đã lấy câu châm ngôn của Marie-Thérèse làm của mình và đã luôn lo giữ những bộ mặt hợp pháp. Sự bận tâm thường xuyên này, cũng là bận tâm của một số nhà Cách mạng khác, đủ để tố giác ông thiếu khả năng (người ta đã thấy rõ điều này năm 1926) để quan niệm và thực hiện một cuộc đảo chánh theo những luật tắc của một ngành nghệ thuật không nhất thiết chỉ là thuần túy chính trị. Ngành nghệ thuật nào cũng có kỹ thuật của nó. Nhưng không phải mọi nhà đại cách mạng đều am hiểu kỹ thuật đảo chánh. Chỉ kể một số nhà đại cách mạng như Catilina, Cromwell, Robespierre và Napoléon, hay cả Lénine nữa, tất cả đã chứng tỏ họ biết hết về việc đảo chánh, trừ kỹ thuật thì không. Giữa Napoléon ngày 18 Brumaire ([1]) và tướng Boulanger, chỉ có Lucien Bonaparte.
Cuối mùa thu năm 1919, trước mắt của toàn dân Balan, Pilsudzik là người duy nhất khả dĩ nắm giữ vận mệnh của nền cộng hòa. Bấy giờ ông là Quốc trưởng, nhưng quyền hành được ủy nhiệm cho ông chỉ là tạm thời, trong khi đợi chờ bản Hiến pháp do Quốc hội đắc cử vào tháng giêng soạn thảo. Thực ra, sự vận động của các đảng phái chính trị và của những tham vọng cá nhân đã giới hạn triệt để quyền hạn của Quốc trưởng. Trước Quốc hội Lập hiến, Pilsudzki cũng ở trong tình trạng như của Cromwell trước Nghị viện vào ngày 3-9-1654.
Bất chấp dư luận chung vẫn kỳ vọng ông, ông đã không dám giải tán Quốc hội và nắm lấy mọi quyền nhiệm. Cái loại độc tài đó, vừa cục súc vừa trưởng giả, phiến loạn nhưng lại hết sức lo tới vấn đề hợp pháp cùng tỏ ra thiên vị trước mắt quần chúng cái cung cách của một vị tướng xã hội, cách mạng thì tới nửa lưng còn phản loạn thì cứ lưng tới đầu, kẻ đã không quyết định dứt khoát giữa nội chiến và cuộc chiến chống Nga-sô-viết, kẻ đã tuần này qua tuần khác đe dọa có một cuộc đảo chánh và biểu tỏ cái nguyện vọng lớn lao nhất là được thừa nhận bằng một bản Hiến pháp khai sinh, loại người đó luôn luôn kích động dư luận, làm cho quần chúng lo lắng hoảng hốt. Không những chỉ đảng viên xã hội mà cả những người thuộc phe hữu cũng ngạc nhiên tự hỏi ông ta chờ đợi cái gì nữa từ hơn một năm mà không dám dùng chìa khóa vấn đề mình đã giữ được để, hoặc ra khỏi được hỗn trận đồ chính trị và tài chánh trong đó quốc gia đang lạc lối, hoặc để tìm cách bóp chết nền Cộng hòa, và ông thích mất thì giờ để so tài mưu kế, thủ thuật với vị chủ tịch hội đồng Paderewski, trong lúc nhàn hạ ở Lâu đài mùa hạ của các vị vua chúa Ba lan. Trong khi đó tại Hoàng cung giữa lòng Varsovie, Paderewski trong Lâu đài mùa đông vua chúa, đáp lại tiếng kèn đồng của những thương kị binh Pilsudzki bằng những điệu đàn Clavecin.
Trước con mắt của quần chúng, uy thế của Quốc trưởng ngày càng suy giảm bởi những cuộc tranh luận ở nghị trường và bởi mưu đồ của các đảng phái. Thái độ thụ động khó hiểu của Pilsudzki, trước những tình trạng nguy hiểm bên trong cũng như bên ngoài, đã thử thách nặng nề lòng tín cẩn của những đảng viên xã hội đối với ông bạn già nhiều âm mưu và đã từng bị lưu đầy này. Sau mưu toan thất bại của Hoàng tử Sapieha, anh hùng của cuộc đảo chánh hụt tháng giêng 1919 chống Pilsudzki, giai cấp quí tộc đã bỏ hẳn ý định chinh phục quyền bính bằng bạo lực; nhưng không bao lâu, trở lại với những ảo ảnh tham vọng của họ, giai cấp quí tộc tin chắc rằng Pilsudzki không đủ sức bảo vệ tự do của quần chúng chống lại mưu toan nào đó của phe hữu, và ông ta từ đây không còn là một nguy cơ nào cho tự do nữa.
Pilsudzki không thù hận hoàng tử Sapieha, một người Lithuanie như ông, nhưng lại có cốt cách ông hoàng bà chúa, xử sự khuyên dụ và nhã nhặn, và đưa sự lịch sự này đến chỗ lạc quan giả tạo, cái lịch sự kiểu Ăng lê, ung dung tự tại và hững hờ, mà người ngoại quốc lớn lên ở Anh quốc đều học lấy làm một bản tính thứ hai. Hoàng thử Sapieha không phải là người khơi động lên lòng nghi ngờ cũng như lòng ghen ghét của Pilsudzki; mưu toan làm cách mạng của hoàng tử đã hiển nhiên chỉ là mưu toan của kẻ tài tử hay của một thày lang và không đáng làm cho ông lo ngại. Vì cẩn trọng cũng như vì phiến loạn và muốn đẩy lòng khinh bỉ của mình đối với giai cấp quí tộc Ba lan đến mức độ vô tâm, Pilsudzki phục thù bằng cách bổ Sapieha làm đại sứ ở Luân Đôn; ông hoàng này vốn học ở Cambridge bây giờ trở lại Anh quốc để tiếp tục sách đèn.
Nhưng không phải chỉ trong số những kẻ phản động vốn lo lắng về mối nguy của Ba lan do hỗn loạn nghị trường mang lại, mà người ta hình thành và hoàn tất kế hoạch chiếm đoạt quyền hành bằng bạo lực. Sau khi đã can đảm chiến đầu ở mặt trận Pháp, chiến tranh chấm dứt, tướng Joseph Haller trở về Balan, thủ lãnh của đạo chí nguyện quân gồm những người chỉ trung thành với ông ta mà thôi. Vẫn đứng trong bóng tối là địch thủ của Pilsudzki, Haller lo chuẩn bị lên nắm quyền thay thế trưởng phái đoàn quân sự Anh, tướng Carton de Wiart, người mà dân Balan bảo rằng giống Nelson bởi lẽ ông đã bị chiến trường lượm mất một mắt và một cánh tay, tuyên bố rằng Pilsudzki rất nên nghi ngờ Haller, người đi khập khễnh như Talleyrand.
Tuy nhiên, nội tình càng ngày càng tệ hại. Sau cuộc lật đổ Paderwski, cuộc đấu tranh giữa các đảng phái trở nên sôi động hơn, và Skulski, vị thủ tướng mới không tỏ ra là người khả dĩ đương đầu nổi với xáo trộn hành chính cũng như chính trị, với những yêu sách bè phái, với những biến cố toan tính trong vòng bí mật. Khoảng cuối tháng ba, trong một cuộc họp hội đồng chiến tranh ở Varsovie, tướng Haller đã cương quyết chống đối những kế hoạch quân sự của Pilsudzki.
Khi cuộc chinh phục Kiev đã được quyết định cho thi hành, Haller rút lui về tỉnh nhà và giữ thái độ dè dặt mà những lí do chiến lược không đủ để biện minh.
Ngày 26 tháng 4 năm 1920, quân đội Balan tiến qua biên thùy Ukraine và ngày 8 tháng 5 vào đến Kiev. Những chiến thắng dễ dàng của Pilsudzki khơi động một nguồn hứng khởi lớn lao trong khắp nước Balan. Ngày 18 tháng 5, dân chúng Varsovie tiếp đón người hùng chinh phục trở về, kẻ mà những người cuồng tín ngây thơ nhất đã so sánh với kẻ chiến thắng ở Marengo. Song, vào những ngày đầu tháng, đạo quân Bôn-sê-vích do Trotzky thống lãnh, mở cuộc tấn công, và vào ngày 10, ky binh của Budyonni tiến vào Kiev. Trước cái tin bất ngờ này, nỗi khiếp sợ và sự rối loạn làm các đảng phái nổi cơn thịnh nộ, những kẻ tham vọng càng đòi hỏi, yêu sách. Thủ tướng Skulski trao truyền cho Grabski và bộ trưởng ngoại giao Patek được thay thế bởi hoàng tử Sapieha, đại sứ ở Anh, ông hoàng trở về này đã hòa dịu nhiều với các bài học về chủ nghĩa tự do của Anh. Toàn dân nhứt loạt đứng lên võ trang chống cự làn sóng xâm lăng đỏ. Chính tướng Haller, đối thủ của Pilsudzki, cũng kéo toán chí nguyện quân đến cứu nguy kẻ thù của mình bị lăng phục. Tuy nhiên, các phe nhóm đã nổi loạn; và bị choáng váng vì tiếng la ó của họ, người ta hầu như không nghe thấy tiếng vó ngựa rầm rập của ky binh Budyonni.
Đầu tháng tám, đạo quân của Trotzky đã hiện ra ở ngưỡng cửa Varsovie giữa một đám đông đầy lo lắng, trầm ngâm, xúm xít nghe ngóng tin tức trên đường phố, người ta thấy những bọn đào binh, những kẻ tị nạn, những người dân quê chạy trốn; người ta nghe tiếng gầm thét của chiến trận đến gần và lớn dần. Grabski, tân thủ tướng, bị hạ bệ, và người kế tiếp là Witos vốn bị những kẻ khuynh hữu khinh ghét, cố gắng đưa ra một cuộc chiến với các đảng phái và tổ chức nhân dân kháng chiến, nhưng vô ích. Trong những khu ngoại ô thợ thuyền, trong khu vực Nalewki, khu vực Do thái ở Varsovie, 300.000 người Do thái đang lắng nghe âm vang của chiến trường, và sự nổi loạn đã bắt đầu, nảy mầm. Trong hành lang Quốc hội, trong tiền sảnh của các Bộ, trong các văn phòng ngân hàng và báo chí, trong những quán cà phê, trong trại lính đâu đâu cũng nghe đồn những tin hết sức lạ lùng. Người ta nói có thể có sự can thiệp của những đơn vị quân lực Đức, do lời thỉnh cầu với Bá linh của Witos, đến để ngăn cản cuộc tấn công của Bôn-sê-vích. Về sau người ta mới hiểu ra, qua một cuộc chất vấn ở nghị trường, rằng quả có một cuộc thương nghị với nước Đức, nhưng là do Witos đã thỏa hiệp với Pilsudzki. Người ta đối chiếu giữa các cuộc thương nghị đó với sự viếng thăm của tướng Weygand, mà người ta coi vừa như là một sự từ khước Witos và vừa là một sự kém sút của Pilsudzki. Những người thuộc phe hữu, vẫn luôn luôn cấu kết với chính sách của Pháp, kết tội Witos là lật lường và bất lực, và đòi hỏi phải có một chính phủ mạnh. Chính ngay Witos, không thể nào dẹp yên được những đám phản loạn, qui trách tai họa cho hết cánh tả lại đến cánh hữu, vô tình làm rối loạn càng trầm trọng thêm.
Địch quân đã ngấp nghé ở đầu thành phố; nạn đói kém và phiến loạn đã tràn ngập Varsovie. Từng đoàn biểu tình diễu hành qua các nẻo đường ngoại ô và, trên những vỉa hè Krakowskie, trước những công trường, ngân hàng và tư thất của hạng quí tộc, những toán lính đào ngũ lượn qua lượn lại với những cặp mắt hoảng hốt trên khuôn mặt gầy xanh hốc hác.
Ngày 6 tháng 8, Đức ngài Ratti Khâm mạng tòa thánh, bây giờ là Giáo hoàng Pie II, với tư cách niên trưởng ngoại giao đoàn, cùng đi với các ngoại trưởng Anh, Ý và Lỗ đến gặp hội kiến với thủ tướng Witos, để yêu cầu ông chỉ định ngay thành phố mà Chính phủ sẽ di chuyển tới trong trường hợp có sự triệt thoái khỏi kinh đô. Cuộc vận động này vốn đã được quyết định từ hôm trước, sau một cuộc tranh biện dai dẳng của ngoại giao đoàn trong Dinh Khâm mạng. Đa số các đại diện ngoại quốc theo gương ngoại trưởng Anh, Sir Horace Rumbold và ngoại trưởng Đức, bá tước Oberndorff thảy đều tán thành một cuộc di chuyển cấp tốc phái đoàn ngoại giao đến một thành phố an ninh hơn, Posen hoặc Czenstochowa. Sir Horace Rumbold còn đòi hỏi chính phủ Balan phải chọn lựa thành phố Posen làm kinh đô tạm thời.
Duy chỉ có Đức Khâm mạng, Đức ngài Ratti và ngoại trưởng Ý, ông Tommasini là người chủ trương cần phải ở lại Varsovie cho đến cùng. Thái độ của hai vị này đã gây ra trong cuộc hội thảo những lời phê bình sôi nổi, và chính phủ Balan đã coi thái độ đó là có hậu ý, bởi lẽ họ ngờ rằng nếu Đức Khâm mạng của Giáo hoàng và ngoại trưởng Ý chủ trương ở lại Varsovie, chính là trong hy vọng thầm kín, muốn rằng cuối cùng họ bị ngăn cản không đi được bắt buộc phải ở lại kinh đô trong sự chiếm đóng của quân cộng sản. Người ta nói rằng làm như thế, Đức Khâm mạng mới có cách thiết lập ngoại giao giữa Vatican và chính thể Sô viết để bàn luận những vấn đề tôn giáo liên hệ tới Giáo hội. Lý do vì Giáo hội luôn luôn chú trọng đến những biến cố ở Nga, chờ có cơ hội để mở rộng ảnh hưởng của họ ở vùng Đông Âu; ý muốn này không những chỉ chứng tỏ bằng sự bổ nhiệm Cha Genochi là Phái viên quan sát Tòa thánh ở Ukraine, mà còn bằng sự hậu thuẫn công khai của Đức Khâm mạng Ratti đối với Tổng giáo chủ Léopolis là Đức ngài André Szeptycki. Quả vậy, Giáo hội Thống nhất Galicie đông phương luôn luôn được Tòa thánh coi như là một trung gian tự nhiên cho sự truyền đạo Gia tô ở Nga. Còn đối với Ngoại trưởng Ý Tommasini, người ta ngờ rằng ông tuân theo những chỉ thị của Tổng trưởng Ngoại giao, bá tước Sforza, người bị chi phối bởi những quan điểm chính trị quốc nội: những yêu sách của các đảng viên xã hội Ý, muốn bắt liên hệ với Sô viết. Nếu quân cộng sản chiếm cứ thủ đô Balan, sự hiện diện của ngoại trưởng Tommasini cho bá tước Sforza cơ hội thuận thời để đặt liên hệ ngoại giao với chính phủ Moscou.
Sự vận động của Đức ngài Ratti niên trưởng ngoại giao đoàn đã bị thủ tướng Witos tiếp nhận lạnh lùng. Tuy nhiên, ông đã quyết định là trong trường hợp nguy kịch, chính phủ Balan sẽ thiên di đến Posen và sẽ cung cấp mọi phương tiện dời chỗ cho ngoại giao đoàn. Ngày 8 tháng tám, nghĩa là hai ngày sau đó, một phần lớn những viên chức ngoại giao rời Varsovie.
Đạo quân tiền phong cộng sản đã đến đầu thành phố. Trong những khu thợ thuyền ngoại ô, những phát súng đầu tiên bắt đầu nổ. Đã đến thời điểm đảo chánh.
Varsovie suốt trong những ngày đó như một thành phố buông thả mặc tình cho sự khuấy phá. Một hơi nóng nặng nề làm tắt nghẽn giọng nói và tiếng động; một sự yên lặng sâu kín trùm lên đám đông quần tụ trong các đường phố. Lâu lâu, lại có từng dãy xe điện dài dằng dặc chở người bị thương, chậm chạp rẽ đám đông. Những kẻ bị thương thò đầu ra cửa sổ và đưa nắm tay lên trời chửi thề. Một điệu xì xào bán tán lan truyền từ đầu đến cuối phố. Giữa một toán kỵ binh áp tải, qua hàng ngựa, người ta thấy tù binh cộng sản đi thành hàng, đầu cúi xuống, khập khiễng, áo quần rách bươm, trên ngực còn nguyên ngôi sao đỏ. Khi đoàn tù đi qua, đám đông lặng lẽ rẽ lối và rồi tự động khép lại. Những hỗn loạn bỗng bùng ra đây đó, bị làn sóng đám đông bóp nghẹt tức khắc. Bên trên biển đầu người đó, những thập tự đen kịt cao nghệu do quân nhân gầy ốm nhưng hăng say, đưa vượt lên và kéo thành đám diễn hành; dân chúng chậm rãi bước theo, như sóng lũ; một dòng người tràn ngập đường phố kéo theo những thập tự giá, có khi ứ đọng lại, rồi kéo lui, rồi phân ra thành nhiều cánh hỗn loạn. Ở đầu cầu bắc qua sông Vistule, một đám đông lặng lẽ lắng nghe một tiếng nổ vang dội từ xa. Những đám khói dày đặc, vàng óng do ánh nắng và bụi, phủ kín chân trời rung chuyển ầm ầm như sự chấn động của một loại động cơ phá thành lũy.
Nhà ga trung ương đêm cũng như ngày đầy ắp những toán đào binh bỏ ngũ đói khát, những kẻ lánh nạn đủ mọi chủng loại, đủ mọi thành phần. Chỉ có những người Do thái trong những ngày đó là tỏ ra thỏa thích trong sự hỗn loạn: khu vực Nalewki là nơi quản thúc dân Do thái bừng lên nỗi hân hoan. Lòng căm phẫn người Ba lan ngược đãi con cháu của xứ Israel, sự thỏa mãn được dự khán cái bất hạnh lớn lao của Ba lan theo Thiên chúa giáo mà không có lòng bao dung, đã thể hiện nơi đó bằng những hành động đầy can đảm và mãnh liệt dị thường của dân Do thái sống ở Nalewki, vốn là những người kín đáo và khéo phục tùng do tự bản chất thận trọng và bởi truyền thống. Người Do thái trở thành những kẻ phiến loạn và đó là điềm xấu cho dân Balan.
Tin tức từ những vùng bị chiếm đóng do những người lánh nạn mang về đã nuôi dưỡng tinh thần phiến loạn: trong mọi thành phố, mọi làng mạc bị xâm chiếm, chẳng phải là cộng quân đã vội vàng thiết lập Ủy ban Sô viết gồm những người Do thái trong vùng đó sao? Dân Do thái, đang từ thân phận những kẻ bị hành hạ bạc đãi, trở thành những người đi hành hạ bạc đãi. Tự do, phục thù, quyền hành, là những trái cây quá ngon ngọt để cho hạng dân đen khốn cùng Nalewki không ước vọng cho được. Hồng quân, bây giờ chỉ cách Varsovie vài ba dặm, đã tìm được một người bạn đồng minh tự nhiên trong khối lượng khổng lồ dân chúng Do thái sống trong thành phố, mà con số và sự hoạt động tăng tiến từng ngày. Vào những ngày đầu tháng tám, con số này ít ra cũng đến năm trăm nghìn ở Varsovie. Bấy giờ tôi cũng có mặt ở đó và thường hỏi không biết cái gì có thể ngăn giữ đám dân phiến loạn khổng lồ, đang hâm đốt bằng cuồng bạo căm tức, đang khát khao tự do; và cái gì mới có thể ngăn cản không cho họ toan tính nổi dậy.
Quốc gia đang hồi tan rã, chính phủ trong cơn hấp hối, một phần lớn lãnh thổ bị chiếm đóng, thủ đô làm mồi cho hỗn độn và đã bị bao vây: Chỉ cần một ngàn người cương quyết, hoàn bị đủ để chiếm thành phố mà không phải giao tranh. Nhưng kinh nghiệm trong những ngày đó làm tôi tin chắc rằng, nếu Catilina là người Do thái thì những đồng chí cách mạng, nghĩa là những tay thực hiện đảo chánh, chỉ có thể huy động được từ các con cháu Israel. Tháng mười 1917 ở Pétrograd, Thủ lãnh cuộc bạo động Bôn-sê-vích là người Do thái Trotzki chứ không phải người Nga Lénine; nhưng những kẻ thực hiện cách mạng, những kẻ bạo động cách mạng thì gồm thủy thủ, thợ thuyền, binh sĩ đa số lại là người Nga. Trong cuộc đấu tranh chống Staline năm 1927, Trotzki đã phải rút bài học đắt giá trong cuộc đảo chánh khi trao việc thực hiện cho những phần tử đa số là người Do thái.


***


Hầu như ngày nào ngoại giao đoàn cũng hội họp ở dinh Khâm mạng để thảo luận tình hình. Tôi thường tháp tùng bộ trưởng bộ ngoại giao Ý Tommasini, người đã không vừa lòng về thái độ của các đồng sự hết thảy đều tán đồng chủ trương của Sir Horace Rumbold và của bá tước Oberndorff. Duy chỉ có ngoại trưởng Pháp, ông Panafieu, ước chừng tình thế đã đến hồi nguy ngập, mới nói toạc ra rằng sự thiên di phái đoàn ngoại giao đến Posen có hậu quả như một cuộc chạy trốn và gây ra một sự căm phẫn trong quần chúng. Ông cũng đồng quan điểm với Đức ngài Khâm sứ Ratti và với bộ trưởng Ý, là phải lưu lại Varsovie cho đến cùng, và lời khuyến dụ của Sir Horace Rumbold và của bá tước Oberndorff, những người chủ trương bỏ rơi thành phố ngay tức khắc, chỉ nên theo trong trường hợp nội tình tan rã làm phương hại đến lượng quân đội bảo vệ thành phố.
Thật ra chủ trương của ông Panafieu gần với chủ trương của các vị bộ trưởng Anh và Đức hơn là của đức Khâm mạng tòa Thánh và của bộ trưởng Ý. Quả vậy, nếu ông Tommasini và Đức ngài Khâm mạng Ratti - mà dự định ở lại Varsovie dù có sự chiếm đóng của Cộng sản là điều hiển nhiên - biểu lộ một thái độ lạc quan chân thật về tình hình quân sự cũng như về khủng hoảng quốc nội, và các vị đó nhấn mạnh rằng nếu có hoãn ngày đi Posen cho đến phút chót, ngoại giao đoàn cũng không nguy hiểm gì, thì ông Panafieu chỉ coi có tình hình quân sự là đáng lạc quan mà thôi. Ông không thể tỏ ra thiếu tin tưởng ở tướng Weygand. Vấn đề phòng thủ thành phố kể từ giờ được giao phó cho một tướng lãnh Pháp. Ông bộ trưởng Pháp ra vẻ ủng hộ tích cực chủ trương của Sir Horace Rumbold và của bá tước Oberndorff, không phải vì lý do quân sự mà vì xét tới những nguy hiểm nội tình cho thấy có thể sẽ xẩy tới. Bộ trưởng Anh và Đức sợ nhất là mất Varsovie vào tay Hồng quân Nga. Chính thức mà nói, ông Panafieu không có thể e ngại gì khác hơn là một cuộc nổi loạn của dân Do thái hay của Cộng sản. Ông nói: "Điều tôi e sợ là một nhát dao đâm vào sau lưng Pilsudzki và Weygand".
Qua lời xác nhận của Đức Cha Pelleginetti, bí thư tại dinh Khâm mạng thì tòa Thánh không tin là có thể có một cuộc đảo chính. Tướng Carton de Wiart, trưởng phái bộ quân sự Anh vừa nói vừa mỉm cười "Đức khâm mạng không nhận thức được rằng bọn cùng đinh khốn nạn ở những khu Do thái và ngoại ô thành phố Varsovie dám mưu đồ cướp chính quyền. Nhưng nước Ba lan không phải là Giáo hội, nơi mà chỉ có những vị Giáo hoàng và những Hồng quân mới làm đảo chính."
Dầu cho ngài có cảm tưởng rằng chính quyền, hàng tướng tá và giai cấp lãnh đạo, nghĩa là những kẻ có trách nhiệm trước tình thế, không làm hết tất cả những gì có thể làm để tránh những nguy hiểm khác trầm trọng hơn, Đức ngài Ratti vẫn tin rằng mọi âm mưu khởi loạn sẽ thất bại. Tuy nhiên những lý lẽ Panafieu viện dẫn quá vững chắc, đến độ Đức khâm mạng cũng lo lắng.
Thế nên tôi không ngạc nhiên gì khi một buổi sáng, Đức Cha Pellegrinetti đến gặp bộ trưởng Tommasini để buộc ông này phải làm sao cho chính quyền sắp đặt mọi phương sách cần thiết để đối phó với một âm mưu nổi loạn bất thần. Tommasini liền cho mời viên Tổng lãnh sự Ý là ông Paulo Brenna, trình bày những nỗi lo ngại của Đức Khâm mạng và trước mặt đức cha Pellengrinetti, yêu cầu ông ta tức khắc báo cáo rõ những biện pháp phòng bị của chính quyền để ngăn chặn mọi rối loạn và đàn áp mọi biến động. Tin tức mà tướng Romei, trưởng phái bộ quân sự Ý vừa xác nhận là Hồng quân gia tăng tấn công hữu hiệu không ngừng, làm cho ông không còn mảy may nghi ngờ gì nữa về số phận Varsovie.
Đêm 12 tháng 8, quân của Trotzki đã đến cách thành phố chừng 20 chục dặm. Ông Tommasini lại lên tiếng: "nếu binh đội Ba lan còn cầm cự được vài hôm nữa thì tướng Weygand có thể xoay xở thành công được. Nhưng chúng ta không nên có nhiều ảo vọng làm chi". Ông khuyến dụ viên Tổng lãnh sự nên đi đến những khu ngoại ô thợ thuyền và khu Nalewki là những nơi đáng lo ngại để thị sát coi thử những phương sách chính quyền chủ trương có đủ để bảo bọc cho Weygand và Pilsudzki, và có bảo đảm cho chính quyền tránh khỏi một biến cố bất ngờ không. Vị Bộ trưởng kết luận: "Tốt nhất ông không nên đi một mình", và khuyên ông Brenna nên để đại úy Rollin tùy viên Sứ quán Pháp theo cùng.
Đại úy Rollin, sĩ quan kỵ binh cùng với thiếu tá Charles de Gaulle, một trong những cộng sự viên đứng đắn nhất và giàu kiến thức nhất của Panafieu và của tướng Henrys, trưởng phái bộ quân sự Pháp. Ông này thường lui tới sứ quán Ý và đàm đạo thân mật với bộ trưởng Tommasini. Sau đó tôi lại gặp ông ở La mã vào những năm 1921 và 1922, trong thời cách mạng phát xít; hồi đó ông ở Dinh Farnèse, tùy viên tòa Đại sứ Pháp và tỏ ra rất ca ngợi chiến thuật Cách mạng của Mussolini. Từ khi quân đội Nga bao vây Varsovie, hầu như ngày nào tôi cũng cùng ông đến những tiền đồn quân đội Balan để theo sát những biến chuyển quan trọng ở chiến trường. Nhưng ngoài những kỵ binh Cosaque tàn bạo, xứng hợp với những màu cờ vẻ vang nhất, còn những binh sĩ Nga tỏ ra không nguy hiểm lắm. Họ tiến chậm trong khói lửa với vẻ thảm hại; trông dáng dấp họ không khác nào những kẻ đói khát, tả tơi và lý do duy nhất thúc đẩy họ tiến là sợ hãi và đói. Kinh nghiệm chiến tranh lâu năm ở mặt trận Pháp và mặt trận Ý làm tôi không hiểu nổi tại sao quân đội Balan lại có thể phải rút lui trước những binh sĩ như vậy.


*


Tôi bèn theo viên lãnh sự Ý, ông Brenna và đại úy Rollin.
Đại úy Rollin cho rằng chính phủ Balan không am hiểu cả những phương thức sơ đẳng trong nghệ thuật phòng vệ một quốc gia hiện đại. Nhận định đó có thể áp dụng vào trường hợp Pilsudzki, dù trong một nghĩa khác. Binh sĩ Balan vốn nổi tiếng là dũng cảm. Nhưng làm sao có thể sử dụng lòng dũng cảm đó của binh sĩ khi những cấp chỉ huy không biết rằng nghệ thuật tự vệ là phải am tường những điểm yếu của mình? Những biện pháp dự phòng chính phủ dùng để đối phó với một âm mưu nổi loạn bất thần là chứng cớ rõ rằng nhất tỏ ra chính quyền không biết đến những nhược điểm của một quốc gia hiện đại. Kể từ Sylla, kỹ thuật đảo chính đã có những tiến bộ khả quan. Những phương sách Kérenski dùng để cản Lénine cướp chính quyền hẳn là hoàn toàn khác hẳn những phương sách Cicéron dùng để bảo vệ nền Cộng hòa chống lại cuộc tạo phản của Catilina. Điều gì trước kia là một vấn đề Cảnh sát thì ngày nay trở thành vấn đề kỹ thuật. Người ta đã thấy rõ sự khác biệt giữa tiêu chuẩn Cảnh sát và tiêu chuẩn kỹ thuật ấy trong cuộc đảo chính của Kapp ở Bá linh tháng ba năm 1920.
Chính quyền Balan đã hành động giống hệt Kérenski: kinh nghiệm rút từ Cicéron. Tuy nhiên nghệ thuật chinh phục và bảo vệ một quốc gia qua các thế kỷ đã đổi thay dần dần theo đà thay đổi của tính chất quốc gia. Nếu một vài biện pháp cảnh sát đủ để đánh bạt kế hoạch tạo phản của Catilina thì đối với Lénine, những phương pháp đó không thể dùng được. Lầm lẫn của Kérenski là đã muốn bảo vệ những nhược điểm của một thành phố tân tiến gồm có Ngân hàng, Nhà ga, trung tâm điện thoại và điện tín bằng những phương cách mà Cicéron dùng để bảo vệ La mã hồi đó có các điểm then chốt nhất là Forum và Subure.
Vào tháng 3 năm 1920, Von Kapp đã quên rằng ở Bá linh, ngoài Trụ sở Quốc hội Reichstag và trụ sở các bộ ở khu Wihemstrasse còn có những trung tâm điện lực, các nhà ga xe lửa, các trung tâm vô tuyến điện và các cơ xưởng. Cộng sản đã lợi dụng lầm lẫn của Kapp để làm tê liệt mọi sinh hoạt của thành phố Bá linh, bắt buộc cái chính phủ đã nắm quyền bính bằng sức mạnh với những phương pháp an ninh quân đội ấy phải đầu hàng. Đêm hai tháng chạp, Louis Napoléon bắt đầu cuộc đảo chính bằng cách chiếm đóng những nhà in và các gác chuông nhà thờ. Nhưng ở Balan không ai để ý đến những kinh nghiệm riêng, lại càng không để ý đến những kinh nghiệm của người khác. Lịch sử Balan đầy rẫy những sự kiện mà người Balan tự coi như những kẻ phát minh. Họ không tin rằng một biến cố nào của quốc gia họ cũng xảy ra trong những quốc gia khác; chính trong quốc gia họ mà một biến cố xẩy ra đầu tiên; người ta không bao giờ thấy biến cố đó ở một nơi nào khác.
Những biện pháp dự phòng của chính phủ Witos chỉ là biện pháp cảnh sát quen thuộc. Cầu xe lửa và cầu Praha bắc ngang sông Vistule chỉ được canh giữ mỗi đầu có bốn binh sĩ. Trung tâm điện lực thì bỏ ngỏ; ở đó chúng tôi không thấy dấu hiệu gì là có canh phòng cả.
Ông giám đốc cho chúng tôi hay rằng vài giờ trước, vị tư lệnh quân đội phòng thủ thành phố có gọi điện thoại bảo rằng ông được coi như là nhân vật chịu trách nhiệm về mọi hành động phá hoại máy móc và gián đoạn hơi điện. Bên kia khu vực Nalewki, thành nội, hoàn toàn ở ranh giới của Varsovie, đầy ắp kỵ binh Uhlan và ngựa; chúng tôi có thể vào ra tự do mà không có lính gác hỏi giấy thông hành. Hãy nhớ rằng trong thành nội cũng có một kho vũ khí và một kho khác chứa thuốc súng. Tại ga xe lửa, thôi thì cả một cảnh hỗn tạp thật khó mà tả xiết: những toán lính đào ngũ đua nhau đổ xô tới, một đám người huyên náo chạy ngược chạy xuôi trên sân ga và trên đường rầy, những nhóm lính say rượu nằm ngủ ly bì sóng sượt trên đất: "Sommo vinoque sepulti", đại úy Rollin nguyên là người biết tiếng Latinh vừa quan sát vừa nói thế. Chỉ cần mười người trang bị lựu đạn cũng đủ rồi.
Tại bộ tham mưu quân lực, tọa lạc trên công trường chính của thành phố Varsovie dưới bóng nhà thờ Nga nay đã bị tàn phá chỉ do bốn lính tuần cảnh đứng gác như thường lệ. Các sĩ quan và những liên lạc viên tấp nập lui tới, bụi phủ thấu đầu, chen chúc nhau ra vào cửa ở tiền sảnh của tòa công thự. Lợi dụng sự lộn xộn, chúng tôi lên lầu, vượt qua một dãy hành lang, đi ngang một gian phòng treo đầy bản đồ địa hình địa vật, một sĩ quan ngồi sau bàn giấy đặt trong góc ngẩng đầu chào chúng tôi với vẻ hơi khó chịu. Sau khi vượt qua một hành lang khác và vào được trong một phòng đợi, mà ở đó một số sĩ quan áo đầy bụi đang đứng chờ bên cạnh một cánh cửa hé mở, chúng tôi lại trở xuống tiền sảnh. Và khi trở lại ngang qua trước hai người lính gác để ra công trường, đại úy Rollin nhìn tôi mỉm cười. Nhà bưu điện có một toán quân canh giữ do một trung úy chỉ huy. Sĩ quan này nói với chúng tôi là ông có phận sự án ngữ đám đông không cho vào bưu điện, trong trường hợp có gì ồn ào xẩy ra. Tôi tỏ ý rằng một tiểu đội lính bố trí có kỷ luật chắc chắn sẽ đẩy lùi được một đám người nổi loạn ở lối vào không mấy khó khăn, nhưng không thể ngăn cản nổi hành động chớp nhoáng của chừng mười cảm tử. Viên trung úy cười và chỉ những người vào ra yên lặng, vừa trả lời tôi rằng có lẽ mười người đó đã len lỏi vào bên trong rồi, hoặc giả họ đang lẻn vào ngay trước mắt chúng tôi cũng nên. Cuối cùng vị sĩ quan kết thúc: "Tôi ở đây để đàn áp bạo động chứ không phải để ngăn cản một cuộc hành động đặc công chớp nhoáng nào cả."
Từng nhóm binh lính đứng trước các Bộ tò mò nhìn dân chúng và công nhân đi lại. Tòa Quốc hội được Hiến binh và kỵ binh Balan bảo bọc; các nghị sĩ ra vào trò chuyện thì thầm. Vào đến phòng chính, chúng tôi đụng đầu ngay với ông chủ tịch Quốc hội Trompczinski, người mập phì và có vẻ bận rộn, ông chào chúng tôi có vẻ thờ ơ. Một nhóm nghị sĩ của thành phố Posnanie chăm chú và lạnh lùng vây quanh ông. Trompczinski thuộc phe hữu và là người ở Posnan, công khai chống đối chính sách của Pilsudzki và trong những ngày đó người ta đã nói đến nhiều về những thủ đoạn bí mật ông dùng để lật đổ chính phủ Witos. Ngay chiều hôm đó, ở câu lạc bộ Săn bắn, ông chủ tịch Quốc hội nói với Cavendish Bentink, bí thư đại sứ quán Anh: " Pilsudzki không biết bảo vệ nước Balan, còn Witos thì không biết bảo vệ nền cộng hòa". Đối với Trompczinski, Cộng hòa chính là Quốc hội. Cũng như tất cả những kẻ phì nộn khác, Trompczinski không cảm thấy được che chở đầy đủ.
Suốt cả ngày chúng tôi đi khắp mọi ngõ ngách trong thành phố, cũng đi đến tận những vùng ngoại ô xa xôi nhất. Khoảng mười giờ tối, khi chúng tôi đi ngang trước khách sạn Savoy, bỗng nghe có ai gọi tên đại úy Rollin. Đứng ở ngưỡng cửa khách sạn, tướng Bulach Balachowitch ra hiệu gọi chúng tôi vào. Là đồng chí của Pilsudzki, nhưng đồng chí với nghĩa người ta dùng ở Nga và ở Balan, tướng Bulach Balachowitch thống lãnh những đạo kỵ binh đen lừng danh kháng cự với kỵ binh đỏ của Buydyonni để bảo vệ Balan.
Là thủ lĩnh mang bộ mặt thảo khấu, từng quen thuộc những thủ thuật đánh du kích, gan dạ, cương quyết, Bulach Balachowitch là một lá bài quan trọng trong cuộc chơi của Pilsudzki. Pilsudzki đã dùng Bulach Balachowitch và tù trưởng Petlioura để nuôi dưỡng sự nổi loạn chống bọn Bôn sê vích và Denikine ở Bạch Nga và ở Ukraine. Ông đã thiết lập tổng hành dinh ở khách sạn Savoy, nơi mà thỉnh thoảng người ta thấy ông xuất hiện chốc lát để giám sát tình hình chính trị. Không có một khủng hoảng chính trị nào không có hậu quả cho ông: hoặc có lợi, hoặc có hại. Đáng lẽ phải theo dõi những làn sóng kỵ binh của Budyonni thì ông lại luôn luôn theo dõi những biến cố nội bộ. Dân Balan nghi ngờ ông ta và ngay Pilsudzki cũng sử dụng ông ta hết sức thận trọng, coi ông như một đồng minh nguy hiểm.
Balachowitch liền bắt đầu trình bầy quan điểm của ông về tình hình, không còn che đậy gì nữa là theo ông, chỉ có một cuộc đảo chính của những phần tử khuynh hữu mới có thể cứu Varsovie khỏi nanh vuốt của kẻ thù và cứu nước Balan khỏi suy sụp. Ông tóm tắt: "Witos không đủ khả năng đương đầu với những biến cố xảy ra, cũng như không đủ sức che chở cho hậu cứ của những đạo quân của quân lực Pilsudzki. Nếu không có ai đứng ra nắm chính quyền để chấm dứt xáo trộn, tổ chức phong trào nhân dân kháng chiến và bảo vệ chế độ Cộng hòa đang bị nhiều nguy cơ đe dọa, thì trong một vài ngày nữa, chúng ta sẽ (dự?) khán một cuộc đảo chánh của Cộng sản." Đại úy Rollin cho rằng vấn đề chặn đứng mưu toan của Cộng sản đặt ra bây giờ quá chậm, còn các đảng phái khuynh hữu thì không có nhân vật nào khả dĩ đảm đang nổi trọng trách như vậy.
Trong hoàn cảnh của Balan, các tránh nhiệm về một cuộc đảo chính để cứu vãn nền Cộng hòa đối với Balachowitch không nghiêm trọng như đối với Rollin. Về những khó khăn trong việc thực hiện thì kẻ u mê nào cũng có thể chiếm chính quyền được. Ông nói thêm: "Thế nhưng, Haller còn ở ngoài mặt trận, Sapieha không có bằng hữu tốt, còn Trompczinski thì nhát gan". Đến đây tôi lưu ý mọi người rằng những đảng phái khuynh tả cũng thiếu những nhân vật đủ khả năng đương đầu với tình thế: vậy ai ngăn cản mưu toan đảo chính của Cộng sản đây? Balachowitch tán đồng ý kiến đó, nói rằng: "Ông nói chí lý; ở địa vị của họ tôi không chờ đợi lâu như thế đâu. Giả dụ tôi không là dân Nga, không là người ngoại quốc ở trong xứ sở này, xứ sở đang chấp nhận tôi và vì nó mà tôi chiến đấu, thì bây giờ là lúc tôi làm đảo chính." Rollin mỉm cười nói: "Nếu ông là người Balan đi nữa thì chắc ông cũng chưa làm gì ở Balan, khi nào chưa quá trễ thì bao giờ cũng là quá sớm."
Balachowitch quả thật là một người có thể lật đổ Witos chỉ trong vài giờ. Chỉ cần một nghìn kỵ binh là đủ để ông bất thần chiếm những trung tâm đầu não của thành phố và duy trì được trật tự trong một thời gian nào dó. Nhưng sau đó thì sao? Balachowitch và thủ hạ của ông thẩy đều là người Nga, và hơn thế, lại là người Cosaque. Cuộc đảo chính ấy vẫn có thể thành tựu, không gặp những khó khăn nghiêm trọng: nhưng khó khăn sẽ đến sau mới là không vượt qua nổi. Một khi nắm được chính quyền, Balachowitch chắc sẽ tức khắc nhường lại cho những nhân vật khuynh hữu, thế nhưng không một người Balan yêu nước nào lại nhận quyền bính do một người Cosaque trao cho. Tình hình đã đến mức đó thì chỉ có những tay Cộng sản thủ lợi mà thôi. Balachowitch kết luận: "Cuối cùng, đó là một bài học hay cho những đảng phái khuynh hữu."
Chiều hôm đó, tại câu lạc bộ Săn bắn, chúng tôi thấy qui tụ bên cạnh Sapieha và Trompczinski một số nhân vật đại biểu cho sự chống đối của giai cấp quí tộc và những tay địa chủ đối với chính sách của Pilsudzki và Witos. Những nhân vật ngoại giao ngoại quốc thực ra chỉ có bá tước Oberndorff, bộ trưởng Đức, tướng Anh Carton de Wiart và bí thư Lãnh sự quán Pháp. Mọi người đều ít nói, chỉ trừ Hoàng tử Sapieha và bá tước Oberndorff. Sapieha làm như thể không nghe thấy những lời bàn tán chung quanh, lâu lâu nghiêng đầu qua phía tướng Carton de Wiart đang thảo luận về tình hình quân sự với bá tước Potocki, để nói vài câu. Binh đội Bôn-sê-vich ngày đó đã tiến bước thấy rõ trong khu vực làng Radzymin cách Varsovie chừng hai chục cây số.
Bá tước Potocki lên tiếng: "Chúng ta sẽ chiến đấu đến cùng".
"Có phải ông muốn nói chiến đấu đến ngày mai", tướng Wiart cười đáp lại.
Bá tước Potocki từ Ba lê mới trở lại có vài hôm, thế mà ông đã tính chuyện về lại Ba lê thật sớm, ngay khi vận may đến cho Balan. Carton de Wiart phê bình: "Tất cả các ông đều như nhân vật nổi danh Dombrowski, người thống lĩnh những đoàn quân Ba lan ở Ý trong thời Napoléon. Dombrowski có nói: Tôi luôn sẵn sàng chết cho tổ quốc, nhưng không muốn sống trên đất tổ".
Thiệt là bá nhơn bá ý. Từ xa người ta nghe vọng tiếng đại bác. Buổi sáng trước khi từ giã chúng tôi, ông bộ trưởng Tommasini bảo chúng tôi buổi chiều đợi ông tại câu lạc bộ Săn bắn. Đến thật chiều, khi chúng tôi định bỏ đi thì đúng lúc ông tới. Những nhận định của chúng tôi về sự thiển cận của chính phủ Witos có vẻ nghiêm trọng, nhưng không là điều mới lạ đối với ông. Chính Witos trước đó vài giờ đã thú nhận với ông rằng ông ta không làm chủ được tình hình. Tuy thế, ông Tommasini vẫn tin rằng trong số những đối thủ của Pilsudzki và Witos, không ai có thể làm đảo chính được. Chỉ có những người Cộng sản là khả dĩ đáng lo ngại. Nhưng họ lại sợ vì bất cẩn mà phương hại đến tình hình, nên không liều lĩnh lao mình vào một cuộc phiêu lưu, nếu không nguy hiểm cũng chẳng ích gì. Rõ ràng là các vị này cho rằng đã thắng cuộc và yên lặng chờ Trotzky đến. Quay lại phía tôi, ông Bộ trưởng nói thêm: "Ngay Đức Ngài Ratti cũng đã dứt khoát không từ bỏ thái độ cho đến hiện giờ chúng tôi vẫn giữ, qua một thỏa hiệp chung. Đức Khâm mạng Tòa thánh và tôi sẽ lưu lại Varsovie cho đến kết cuộc, dẫu đến đâu thì đến".
Giọng đầy mỉa mai, giây lát sau, đại úy Rollin bình phẩm: "Thật đáng tiếc, thật đáng tiếc nếu không có gì xẩy ra cả!"
Buổi chiều hôm sau, khi hay tin quân đội Bôn-sê-vich đã chiếm làng Radzymin và tấn công tuyến đầu của Varsovie, ngoại giao đoàn hối hả rời thủ đô, đến Posen ẩn náu. Ở Varsovie chỉ còn Đức khâm mạng tòa thánh, bộ trưởng Ý cùng các vị xử lý thường vụ của đại sứ Hoa kỳ và Đan mạch.
Suốt đêm, thành phố ngập chìm trong cơn khủng khiếp. Hôm sau, ngày 15 tháng 8, ngày lễ thánh Sainte - Marie, toàn thể dân chúng diễu hành sau lưng Đức mẹ đồng trinh và lớn tiếng cầu nguyện Đức bà cứu vớt nước Balan khỏi cuộc xâm lăng. Trong khi tất cả dường như đã mất, trong khi đám rước vĩ đại đọc kinh cầu nguyện trông chờ một đội tuần tiễu của Hồng quân gồm những người Cosaque đổ ra từ các ngả đường, thì tin tức về chiến thắng đầu tiên của đại tướng Weygand lan truyền như một tiếng sét. Quân đội của Trotzky đang lùi trên mọi chiến tuyến.

Trotzky đã thiếu một đồng minh tối cần thiết: Catilina.






[1] Tức là ngày 9-11-1799
📎 97A6BB545A..75879284
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-08-20 01:57:47huytran>
CHƯƠNG IV

KAPP, HAY LÀ CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG BA CHỐNG MARX




"Chúng ta, vốn đặt tin tưởng ở một cuộc cách mạng tại Balan, và cuộc cách mạng này đã không xẩy đến", đó là lời tuyên bố của Lénine với Clara Zetkin vào mùa thu 1920. Đối với những người như Sir Rumbold cho rằng rối loạn là điều cần thiết nhất trong mọi tình thế thuận lợi để đảo chính, thì lý do nào biện minh những phần tử bạo động cách mạng Balan? Sự hiện diện của quân đội Trotzky trên ngưỡng cửa Varsovie và sự suy yếu cùng cực của chính phủ Witos cùng tinh thần dấy loạn của dân chúng không là những tình thế thuận lợi cho một âm mưu cách mạng hay sao? Balachovitch đã nói: "Bất cứ một tên ngu ngốc nào cũng có thể chiếm đoạt quyền hành". Vậy mà vào năm 1920 không chỉ ở Balan mà toàn châu Âu đầy rẫy những kẻ ngu ngốc như vậy. Như vậy tại sao lại không hề xẩy ra một âm mưu đảo chính tại Varsovie, kể cả từ phía người Cộng sản?
Kẻ duy nhất không mang ảo vọng về khả năng thực hiện cách mạng ở Ba lan, đó là Radek. Chính Lénine đã thú nhận tình trạng này với Clara Zetkin. Radek đã hiểu sự bất lực của những phần tử cách mạng bạo động của người Ba lan và quan niệm rằng cuộc Cách mạng ở đây phải được tạo ra một cách giả tạo, từ bên ngoài. Radek cũng không vọng tưởng ở các phần tử bạo động cách mạng ở các quốc gia khác. Diễn tiến các biến cố đã xẩy ra tại Ba lan vào mùa hè 1920 không những phơi bầy tình trạng bất lực của các phần tử cách mạng bạo động tại Ba lan mà còn phơi bày sự bất lực của các phần tử ấy ở toàn thể châu Âu nữa.
Bất cứ kẻ vô tư nào nhận định tình hình châu Âu vào những năm 1919 và 1920 không thể không tự hỏi bởi phép lạ nào mà Âu châu đã có thể thoát khỏi một cuộc khủng hoảng cách mạng trầm trọng đến thế. Trong hầu hết các nước, giới trưởng giả tự do đã tỏ ra bất lực trong việc bảo vệ Quốc gia. Phương pháp bảo vệ của họ bao gồm và chỉ bao gồm việc áp dụng thuần túy và đơn giản mạng lưới cảnh sát công an, phương pháp mà vào bất cứ lúc nào, và cho đến ngày nay, người ta đều ưa dùng dù là các chính phủ độc tài hay chính phủ tự do. Nhưng sự bất lực của giới trưởng giả trong việc bảo vệ quốc gia đã được bù trừ bởi sự bất lực của các đảng Cách mạng trong việc sử dụng một chiến thuật tấn công tân kỳ chống phương pháp phòng vệ cổ hủ của các chính phủ và chống lại các biện pháp cảnh sát bằng một kỹ thuật cách mạng.
Ngưởi ta cũng ngạc nhiên thấy rằng vào năm 1919 và năm 1920, trong thời kỳ khủng hoảng cách mạng trầm trọng nhất ở châu Âu, những phần tử cách mạng bạo động của phe hữu cũng như phe tả đều không biết lợi dụng kinh nghiệm của cuộc cách mạng Bôn sê vích.
Họ thiếu hiểu biết về phương pháp, chiến thuật và kỹ thuật mới về đảo chính mà Trotzki đã từng cho bài học kiểu mẫu đầu tiên. Quan niệm chiếm đoạt quyền hành của họ, là một quan niệm lỗi thời chắc chắn dẫn dắt họ đến địa thế do chính đối phương đã lựa chọn, làm hao mòn các hệ thống và khí cụ mà bất cứ chính phủ yếu hay thiển cận nào cũng có thể chống lại thành công bằng những hệ thống và khí cụ cổ điển thường dùng để bảo vệ quốc gia.
Tình hình cách mạng của châu Âu đã chín muồi, nhưng các đảng cách mạng tỏ ra không biết lợi dụng tình thế thuận lợi cũng như những kinh nghiệm của Trotzky. Đối với họ thành công của cuộc khởi loạn Bôn sê vích tháng mười năm 1917, thành công chỉ vì những điều kiện đặc biệt của nước Nga và do những lỗi lầm của Kérenski. Họ không thấy rằng Kérenski có uy quyền hầu khắp các quốc gia châu Âu; họ không hiểu rằng trong quan niệm và trong sự thực hiện cuộc đảo chính. Trotzky không may (mấy?) để ý đến những điều kiện đặc biệt đó. Sự mới mẻ do Trotzky sáng tạo trong chiến thuật khởi loạn, chính là không thèm đếm xỉa đến tình trạng chung trong nước. Chỉ có những sai lầm của Kérenski là ảnh hưởng tới quan niệm và sự thực hiện cuộc đảo chính Bôn sê vích. Cho dù tình hình nước Nga có khác thế, chiến thuật của Trotzky vẫn không thay đổi.
Những sai lầm của Kérenski hồi đó vẫn là đặc điểm của giới tư sản tự do ở châu Âu ngày nay. Sự yếu kém của các chính phủ thật tồi tệ: Vấn đề tồn tại của họ chỉ còn là một vấn đề cảnh sát công an. Tuy nhiên các chính phủ tự do đã có cái may mắn là những phần tử cách mạng bạo động cũng coi cách mạng như một vấn đề cảnh sát công an.
 
  ***

Cuộc đảo chính của Kapp là một bài học cho những ai quan niệm chiến thuật cách mạng như một vấn đề chính trị chứ không phải là kỹ thuật.
Trong đêm 12 rạng ngày 13 - 3 - 1920, vài sư đoàn từ Baltique, tập trung gần Bá linh dưới mệnh lệnh của đại tướng Von Luttwitz, gởi một tối hậu thư cho chính phủ Bauer, hăm dọa chiếm thủ đô nếu chính phủ không trao lại quyền hành cho Kapp. Mặc dù Kapp tự phụ tự cho mình là làm một cuộc đảo chánh  bằng đường lối nghị viện và mình là Siéyès của Von Luttwitz, nhưng ngay lúc khởi đầu, mưu toan cách mạng của ông  vẫn giữ khuôn mặt cổ điển của một cuộc đảo chính quân sự rõ rệt ngay trong quan niệm cũng như trong hành động.
Trước mệnh lệnh trên của Von Luttwitz, chính phủ Bauer đã từ chối và xử dụng những biện pháp cảnh sát cần thiết để bảo vệ quốc gia và giữ trật tự công cộng. Trong trường hợp như vậy, thường thường chính phủ đối kháng với quan niệm quân sự bằng một quan niệm cảnh sát; cả hai đều giống nhau và chính vì đó đã làm mất đi tính chất cách mạng của cuộc khởi loạn quân sự. Cảnh sát bảo vệ quốc gia như thể bảo vệ một thành phố, quân đội tấn công quốc gia như thể đó là một pháo đài.
Biện pháp cảnh sát của Bauer là dựng chướng ngại vật trên các công trường, các đường phố chính và chiếm đóng các công thự. Von Luttwitz tiến hành cuộc đảo chính bằng cách đưa các toán quân của mình thay thế các phân đội cảnh sát án ngữ các ngã ba đạo lộ, các lối dẫn đến các công trường, trước trụ sở quốc hội Reichstag và trước các bộ ở khu vực Wihelmstrasse. Vài giờ sau khi vào được thành phố, Von Luttwitz đã làm chủ tình hình. Cuộc chiếm đóng thành phố đã hoàn tất không đổ một giọt máu, đều đặn như một vụ đổi phiên gác. Nhưng nếu Von Luttwitz là một nhà quân sự thì Kapp, nguyên cựu tổng giám đốc Nông nghiệp, lại là một công chức cao cấp, một thư lại. Trong lúc Von Luttwitz tin đã chiếm chính quyền bằng hành động duy nhất là thay thế cảnh sát bằng binh đội riêng của mình trong các công sở an ninh công cộng thì Kapp, vị thủ tướng mới quan niệm rằng sự chiếm đóng các Bộ đủ để bảo đảm sự chuyển vận bình thường của guồng máy Quốc gia và tấn phong tính cách hợp pháp cho chính phủ cách mạng.
Vốn là kẻ tầm thường nhưng có nhiều lương tri, hiểu rất rõ các tướng lãnh và công chức cao cấp của chế độ Reich nên ngay buổi đầu, Bauer đã biết rằng chống đối lực lượng quân sự đảo chính của Von Luttwitz là vô ích và nguy hiểm. Sự chiếm đóng Bá linh bởi những đoàn quân Baltique là điều không thể tránh được. Cảnh sát không thể chiến đấu nổi với binh lính thiện chiến: cảnh sát chỉ là một vũ khí có khả năng chống lại những âm mưu và những vụ nổi dậy vô tổ chức, nhưng chống với các tay lão luyện, nó chẳng có nghĩa gì. Khi những chiếc mũ sắt xuất hiện, phân đội cảnh sát án ngữ lối vào khu Wihelmstrasse đã đầu hàng quân nổi loạn. Ngay chính Noske, một người đầy nghị lực, kẻ tán thành chủ trương chống cự đến cùng, khi được tin về sự rã ngũ đầu tiên, cũng đã quyết định tán thành thái độ của Bauer và các bộ trưởng khác. Nhược điểm của chính phủ cách mạng, theo Bauer suy luận, chính là bộ máy nhà nước. Bất cứ ai đình chỉ bộ máy hay chỉ ngăn các chuyển vận, cũng đã là đập thấu tim chính phủ Kapp. Muốn làm ngưng trệ Quốc gia, phải làm tê liệt mọi sinh hoạt công cộng.
Thái độ của Bauer là thái độ của một người tiểu tư sản được giáo huấn ở trường phái Marx. Chỉ một kẻ trưởng giả ở giai cấp trung lưu, một kẻ tiêm nhiễm những tư tưởng xã hội có thói quen xét đoán con người và những sự kiện xa lạ nhất căn cứ vào tâm lý, vào giáo dục và quyền lợi với bản chất khách quan và hoài nghi của một công bộc quốc gia, mới có thể mang một dự tính táo bạo làm đảo lộn sâu xa và mãnh liệt sự sinh hoạt công cộng, để ngăn trở Kapp củng cố quyền hành bằng việc sử dụng trật tự đã có.
Chính phủ Bauer, trước khi rời Bá linh để ẩn náu ở Dresde, đã kêu gọi giới vô sản, hô hào thợ thuyền tuyên bố (đình công?). Quyết định của Bauer đã tạo cho Kapp một tình thế hiểm nguy. Cuộc phản công của các lực lượng vẫn trung thành với chính phủ hợp pháp Bauer đối với Kapp còn ít nguy hiểm hơn là một cuộc tổng đình công, bởi vì quân đội Von Luttwitz sẽ dễ dàng thanh toán các lực lượng đó. Nhưng làm thế nào ép buộc đám thợ thuyền khổng lồ đó đi làm việc trở lại?
Chắc chắn không phải bằng vũ lực rồi. Vào buổi trưa ngày 13.3, Kapp còn tin tưởng còn làm chủ được tình hình, thì ngay buổi chiều hôm đó đã trở nên tù nhân của một kẻ thù không ngờ tới. Trong vài giờ, sinh hoạt Bá linh đã tê liệt. Cuộc đình công lan tràn khắp nước Phổ. Thủ đô ngập chìm trong bóng tối; các con đường trung tâm thành phố vắng ngắt; sự yên tĩnh tuyệt đối bao trùm khu ngoại ô thợ thuyền.
Tê liệt đã bóp chết các công sở: cả những y tá cũng rời bỏ bệnh viện. Giao thương giữa nước Phổ và phần nước Đức còn lại cũng đình trệ; chỉ sau buổi trưa vài giờ, Bá linh đã thấy đói. Về phần giới vô sản, không một cử chỉ bạo động, không một hành động phiến loạn nào. Thợ thuyền rời khỏi nhà máy rất lặng lẽ. Sự rối loạn đã xẩy ra cùng khắp.
Trong đêm 13 rạng 14 tháng 3, Bá linh như chìm đắm trong giấc ngủ say. Tuy nhiên ở khác sạn Adlon, trụ sở những phái bộ Liên minh, mọi người thấp thỏm chờ đợi những biến chuyển quan trọng cho đến sáng. Thủ đô lúc bình minh không có bánh mì, không nước, không báo chí, nhưng vẫn yên tĩnh. Trong các khu dân cư, chợ búa vắng ngắt; sự đình chỉ vận chuyển hoả xa đã cắt đứt lương thực cung cấp cho thành phố. Và cuộc đình công như vết dầu loang tràn trong mọi công, tư sở. Các điện thoại viên, điện tín viên không có mặt ở nơi làm việc; các ngân hàng, tiệm buôn và quán giải khát vẫn đóng cửa. Ngay một số công chức trong các bộ cũng không thừa nhận chính phủ cách mạng. Bauer đã tiên đoán được sự lây lan này. Bất lực trong phản ứng chống lại sự đối kháng thụ động của thợ thuyền, Kapp cầu cứu các kỹ thuật gia và công chức tin cậy để ráng sức cho chạy các bộ phận tế nhị nhất của guồng máy công vụ; nhưng đã quá muộn. Sự tê liệt đã lan tràn đến ngay cả guồng máy Nhà nước.
Quần chúng thợ thuyền các khu ngoại ô không còn giữ thái độ yên tĩnh của những ngày đầu: những dấu hiệu thiếu kiên nhẫn, lo âu và nổi loạn phát lộ đó đây. Những tin tức dồn dập từ các tiểu bang miền nam đã đặt Kapp trong sự chọn lựa, hoặc đầu hàng nước Đức đang bao vây Bá linh, hoặc thường lại Bá linh đang cầm tù chính phủ bất hợp pháp. Phải trao quyền hành lại cho Bauer hay giao cho Ủy ban lao động đã đang là chủ nhân các khu ngoại ô? Cuộc đảo chính chỉ đem lại cho Kapp quốc hội Reichstag và các bộ. Tình hình mỗi lúc mỗi tồi tệ hơn: chính phủ cách mạng không còn lấy một yếu tố, một cơ hội nào để đánh một lá bài chính trị. Liên lạc tiếp xúc với các đảng tả phái và ngay đối với các đảng hữu phái dường như là điều không thể được nữa. Một hành động bạo lực chắc hẳn sẽ đưa tới những hậu quả không thể tưởng được... Vài mưu toan của quân đội Von Luttwitz để ép buộc thợ thuyền làm việc trở lại chỉ làm cho máu chảy vô ích. Những bài học đầu tiên tìm thấy trên đường phố: lỗi lầm tai hại nhất của một chính phủ cách mạng là đã quên chiếm cứ các trung tâm điện lực và các nhà ga xe lửa.
Giới thượng lưu đó đã để lại một vết hoen rỉ không xóa mờ được trên bộ máy nhà nước. Sự bắt bớ vài viên chức cao cấp thuộc Bộ Ngoại giao vào buổi chiều thứ ba đã cho thấy sự vô kỷ luật đã làm tan rã chế độ thư lại với mức độ như thế nào. Ngày 15-3, ở Stuttgart, nơi Quốc hội được triệu tập, Bauer bày tỏ cùng Tổng thống Ebert khi thông báo tin tức về những sự kiện đẫm máu ở Bá linh: "Lỗi lầm của Kapp, chính là đã làm rối loạn sự mất trật tự"
Kẻ làm chủ tình hình là Bauer, kẻ tầm thường Bauer, một kẻ mẫu mực, là kẻ duy nhất hiểu rằng muốn chiến đấu chống lại âm mưu cách mạng của Kapp thì vũ khí quyết định, đó là sự rối loạn. Một kẻ bảo thủ thấm nhuần nguyên tắc quyền bính, một kẻ có tự do tôn trọng pháp luật, một kẻ dân chủ trung thành với quan niệm đại nghị trong đường lối đấu tranh chính trị, hẳn là không bao giờ dám gây ra sự can thiệp bất hợp pháp của quần chúng vô sản và ủy thác việc bảo vệ nhà nước cho một cuộc tổng đình công.
Trong tác phẩm Le Prince, MACHIAVEL đã cực lực hô hào dân chúng giúp sức để ngăn một cuộc tấn công bất ngờ, một âm mưu của hoàng cung. Tuy nhiên, Le Prince của Machiavel chắc chắn còn bảo thủ hơn một Tory trong thời kỳ nữ hoàng Victoria, dù rằng quốc gia đã không dự phần vào, bằng những thành kiến luân lý hay bằng nền giáo dục chính trị. Nhưng ông đã được giáo huấn do những bài học kinh nghiệm đầy trong lịch sử, của những chế độ độc tài: tại Âu châu, Hy lạp, và các lãnh chúa nước Ý thời Phục hưng. Trái lại, trong tinh thần truyền thống của các chính phủ, bảo thủ hay tự do, của châu Âu hiện đại, ý niệm về nhà nước không chấp nhận trông cậy ở bất cứ một hành động bất hợp pháp nào của quần chúng vô sản, dù cho hiểm nguy có là thế nào. Sau này ở Đức, người ta tự hỏi thái độ của Stresemann sẽ là thế nào nếu ở trong tình trạng của Bauer. Chắc chắn rằng Stresemann sẽ xem hành động Bauer hô hào giai cấp vô sản ở Bá linh là một phương sách rất bất xứng.
Ở đây, phải hiểu rằng giáo dục mác xít hiển nhiên đã khiến cho Bauer không hề ngần ngại trong sự lựa chọn phương tiện để chống lại một mưu toan cách mạng. Ý tưởng sử dụng cuộc tổng đình công như một khí giới hợp pháp của các chính phủ dân chủ để bảo vệ quốc gia chống lại một cuộc tấn công bất ngờ của phe quân sự hoặc phe cộng sản, không thể nào xa lạ đối với một kẻ được giáo dục bằng lý thuyết Marx. Bauer đã là kẻ đầu tiên áp dụng một trong những nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa mác xít trong việc bảo vệ một quốc gia tư sản. Bài học kinh nghiệm này đã có tầm quan trọng lớn lao trong lịch sử cách mạng thời đại chúng ta.
Ngày 17-3 khi Kapp tuyên bố trao trả quyền hành vì lý do "nước Đức đang trong tình thế cực kỳ trầm trọng, mọi đảng phái, mọi công dân nhất thiết phải đoàn kết tạo thành một mặt đối phó với nguy cơ cách mạng của Cộng sản", niềm tin của dân chúng Đức đối với Bauer trong suốt 5 ngày có chính phủ bất hợp pháp đã nhường chỗ cho nỗi lo lắng và sợ hãi. Đảng Xã hội không còn kiểm soát được cuộc tổng đình công, và những kẻ làm chủ thực sự tình thế lại là những người Cộng sản. Vài khu ngoại ô Bá linh đã tuyên cáo theo chế độ Cộng hoà đỏ. Các Ủy ban Lao động thành lập hầu hết khắp nước Đức. Tại vùng Saxe và Ruhr, cuộc tổng đình công chỉ là màn khởi đầu của cuộc khởi loạn. Quân lực Đức đã đối đầu với một quân đội Cộng sản thực sự, trang bị trung liên và đại bác. Bauer sẽ làm gì? Cuộc tổng đình công đã lật đổ Kapp, cuộc nội chiến sẽ cuốn trôi Bauer?
Trước nhu cầu lấy sức mạnh đàn áp cuộc nổi loạn của thợ thuyền, nền giáo dục mác xít trở thành nhược điểm của Bauer: "Nổi loạn là một nghệ thuật", Karrl Marx đã khẳng định như thế. Nhưng đó là nghệ thuật chiếm đoạt quyền hành, không phải là để bảo vệ quyền hành. Mục tiêu của chiến lược cách mạng của Marx là chinh phục quốc gia; lấy đấu tranh giai cấp làm phương tiện. Để giữ vững quyền hành, Lénine đã phải đảo lộn một vài nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa mác xít. Đấy là điều Zinovieff đã nhận thấy khi ông viết "Ngày nay con người Marx thật sự không thể thiếu Lénine". Trong tay Bauer, cuộc tổng đình công là một khí giới bảo vệ chế độ, (bảo vệ nền Cộng hoà?) Reich phải là Quân lực Đức. Quân đội của Von Luttwitz bất lực trước cuộc tổng đình công nhưng chắc thắng cuộc nổi loạn của Cộng sản một cách dễ dàng: nhưng Kapp đã từ bỏ quyền hành ngay vào lúc giới vô sản đem lại cho ông cơ hội đương đầu với cuộc đấu tranh ngay trong chính lĩnh vực riêng của mình. Một lỗi lầm như thế, từ một kẻ phản động như Kapp thực không thể hiểu và không thể biện minh được. Nhưng về phía một kẻ mác xít như Bauer thì sự lầm lỗi không hiểu rằng vào lúc đó, Quân lực Đức là vũ khí hiệu nghiệm duy nhất để chống lại sự nổi dậy của giới vô sản, lại là điều có thể biện minh được về mọi phương diện. Sau những nỗ lực hòa giải vô ích với các lãnh tụ của phe Cộng sản nổi loạn, Bauer trao trả quyền hành lại cho Muller. Kết cuộc buồn bã cho một kẻ khá thật thà và tầm thường.
Âu châu tự do và cách mạng bạo động còn phải học hỏi nhiều ở Lénine và Bauer.
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-08-19 01:09:14huytran>
Chương V

BONAPARTE, HAY LÀ CUỘC ĐÀO CHÁNH TÂN KỲ ĐẦU TIÊN



 
Điều gì sẽ xảy ra vào ngày 18 Brumaire, nếu Bonaparte đụng đầu với một người như Bauer? Sự so sánh giữa Bonaparte và vị thủ tướng thực thà của chế độ mở ra nhiều viễn cảnh. Bauer, chắc chắn không hề là một kẻ anh hùng của Plutarque: đó là một người Đức thuộc giai cấp trung lưu mà giáo dục mác-xít đã bóp chết mọi khuynh hướng tình cảm. Sự tầm thường của ông thì vô tận. Số phận thật trớ trêu, một người đức hạnh bình thường như thế đã gặp phải Kapp, một vị anh hùng bình dân và khốn khổ! Bauer mới là đối thủ xứng tay của Bonaparte, một kẻ cần phải có để đương đầu vào ngày 18 Brumaire với anh hùng chiến thắng trận Arcole. Có như vậy, Bonaparte mới gặp một địch thủ xứng đáng với mình.
 
Tuy nhiên, người ta bảo rằng Bauer là một con người hiện đại, một người Đức của Versailles và Weimar, một người Âu của thời hiện đại; còn Bonaparte, một người Âu thế kỷ thứ 18, một người Pháp được 20 tuổi vào năm 1789: làm thế nào quan niệm được hành động của Bauer ngày 18 Brumaire để ngăn chặn cuộc đảo chánh? Bonaparte không phải là Kapp và tình thế Ba lê vào năm 1789 hoàn toàn khác với Bá linh 1920. Bauer không thể sử dụng chiến thuật tổng đình công để chống lại Bonaparte. Xét tổ chức xã hội và kỹ thuật của thời đại, vẫn còn thiếu những điều kiện cần yếu để một cuộc đình công có thể ngăn chặn cuộc đảo chánh. Vấn đề cần phải tìm hiểu là chiến thuật nào Bauer sẽ áp dụng vào ngày 18 Brumaire và những tương quan có thể có giữa Bonaparte và vị thủ tướng của chế độ Reich dù sao cũng đáng chú ý hơn người ta tưởng.
 
Bonaparte không chỉ là một người Pháp thế kỷ 18, trước hết đó là một người hiện đại, hiện đại còn hơn cả Kapp. Tương quan giữa tâm trí của Bonaparte và Bauer chính là tương quan giữa quan niệm về luật pháp của một Primo de Rivera hay là một Pilsudzki, nghĩa là của bất cứ một vị tướng hiện đại nào định chiếm chính quyền, và quan niệm về luật pháp của bất cứ vị bộ trưởng tiểu tư sản nào của thời đại chúng ta sẵn sàng dùng mọi cách để bảo vệ Nhà nước. Muốn cho một tương quan như vậy không có tính cách độc đoán, phải coi sự đối lập giữa quan niệm cổ điển và quan niệm hiện đại về nghệ thuật chiếm đoạt quyền hành đã biểu lộ lần đầu tiên ở Bonaparte và ngày 18 Brumaire là cuộc đảo chánh đầu tiên đã đặt ra các vấn đề chiến thuật cách mạng mới. Những sai lầm, bướng bỉnh, do dự của Bonaparte là của một người thuộc thế kỷ thứ 18, bị bó buộc giải quyết những vấn đề mới mẻ về (và?) tế nhị biểu hiện dưới hình thức như vậy lần đầu tiên và trong một hoàn cảnh khác thường, nghĩa là những vấn đề liên quan đến tính cách phức tạp của quốc gia tân thời. Lầm lẫn trầm trọng nhất của ông, lầm lỗi đã thiết lập kế hoạch ngày 18 Brumaire trên sự trọng pháp và trên cơ chế của thủ tục nghị viện, đã cho thấy ở Bonaparte một tri giác rất tinh tế về một vài vấn đề hiện đại của Nhà nước, một nỗi lo âu rất sáng suốt đối với hiểm nguy của sự phức tạp và tính cách mong manh của những tương quan giữa nhà nước và người công dân, tất cả đã tạo cho Bonaparte thành một con người hết sức tân tiến, một người Âu của thời đại chúng ta. Mặc dầu các sai lầm trong quan niệm và thực hiện, ngày 18 Brumaire vẫn còn là khuôn mẫu của cuộc đảo chánh nghị viện. Tính cách hiện đại của nó đã rõ rệt bao gồm trong điều này: tại Âu châu tân thời, cuộc đảo chánh nghị viện nào cũng có những sai lầm tương tự. Điều này dẫn chúng ta trở lại với Bauer, Primo de Rivera và Pilsudzki.

***

 
Trong vùng đồng bằng Lombardie, Bonaparte sửa soạn chiếm đoạt quyền hành bằng cách học hỏi các bài học kinh nghiệm cổ điển của Sylla, Catilina, và César. Những bài học sáng chói nhưng vô ích. Mưu mô của Catilina, đối với Bonaparte, không đáng chú ý đặc biệt. Thực ra, Catilina chỉ là một kẻ anh hùng bất đắc chí, một chính trị gia nổi loạn, quá thận trọng và thiếu táo bạo! Nhưng Cicéron, vị quận trưởng Cảnh sát thì thật kỳ diệu biết bao! Và khôn ngoan biết mấy, ông đã khiến cho Catilina và đồng bọn bị sa lưới! Với thái độ độc địa ông đã chống lại những kẻ âm mưu bằng chiến dịch mà ngày nay người ta gọi là chiến dịch báo chí. Ông đã khéo biết lợi dụng biết là chừng nào, cả những sai lầm của địch thủ, tất cả những cản trở của thủ tục tố tụng, những cạm bẫy, hèn nhát, tham vọng, bản năng thấp hèn của hạng quí phái và hạng dân đen! Lúc đó, Bonaparte sẵn lòng khinh thị các phương pháp cảnh sát. Dưới mắt ông, Catilina khốn khổ chỉ là một kẻ nổi loạn đầy cẩu thả, một kẻ bướng bỉnh không ý chí, đầy quyết định tốt và ý định xấu, một nhà cách mạng luôn luôn do dự về giờ khắc, địa điểm và phương tiện, không có khả năng xuống đường vào lúc thích hợp, một đảng viên Công xã phân vân giữa chướng ngại vật xây ngoài đường phố và âm mưu, phí thì giờ quí báu để nghe quousque tandem của Cicéron và để tổ chức cuộc vận động tranh cử chống lại khối quốc gia, một hạng Hamlet bị vu khống, nạn nhân những mưu mô của một luật sư nổi danh và những cạm bẫy cảnh sát. Nhưng con người Cicéron này, thật là kẻ vô dụng và cần thiết biết mấy! Người ta có thể nói về kẻ này bằng lời lẽ mà Voltaire đã nói về những tu sĩ Dòng Tên: "Muốn cho những tu sĩ Dòng Tên thành hữu ích phải cấm họ thành cần thiết". Mặc dù Bonaparte coi thường các phương pháp cảnh sát; mặc dù ý tưởng về một hành động bất thần do cảnh sát công an tổ chức đối với ông cũng ghê tởm như một cuộc cách mạng tàn bạo bằng quân sự, sự khôn ngoan của Cicéron vẫn làm ông ta suy nghĩ.

Có lẽ một con người tương tự như thế có thể cũng ích lợi cho ông vào một ngày nào đó, ai mà biết được? Vị thần May Mắn có hai khuôn mặt như Janus: khuôn mặt Cicéron và khuôn mặt của Catilina.

Bonaparte, cũng như những kẻ sửa soạn chiếm đoạt quyền hành bằng bạo lực, lo sợ mình xuất hiện như loại Catilina dưới mắt người Pháp, một kẻ chấp nhận tất cả để thành đạt các dự tính nổi loạn, tâm hồn tối tăm với âm mưu đen tối, một kẻ táo bạo đầy tham vọng và quá khích, một tội phạm sẵn sàng phá phách, tàn sát và tiêu hủy, quyết định thắng với mọi giá dù có gục ngã với kẻ thù, dưới những điêu tàn của tổ quốc mình. Ông biết rằng khuôn mặt của Catilina không như câu chuyện hoang đường và vu khống dựng nên, ông biết rằng những lời buộc tội của Cicéron không có căn cứ, rằng những bè lũ bạo động Catilinaires vốn chỉ là một chuyện thêu dệt, rằng trên quan điểm pháp lý, án tòa gắn cho Catilina là một tội ác, rằng trên thực tế, tội nhân này, kẻ có các âm mưu đen tối ấy chỉ là một chính trị gia tầm thường, một người không khéo xoay xở, một kẻ bướng bỉnh không quyết đoán mà Cảnh sát có thể loại trừ không mấy nhọc mệt với vài gián điệp và vài con mồi. Bonaparte biết rõ rằng lỗi lầm lớn nhất của Catilina là đã để mất thế đứng, đã để cho mọi người biết rằng ông ta chuẩn bị tối mật một cuộc đảo chánh và đã không thực hiện đến nơi đến chốn. Ít nhất ông đã có can đảm thử làm! Người ta không thể nói rằng ông ta thiếu cơ hội: tình trạng nội bộ đã đến độ chính phủ chắc bất lực trong việc bẻ gãy một mưu toan cách mạng. Không hoàn toàn là lỗi của Cicéron nếu một vài bài diễn văn và một vài biện pháp Cảnh sát đủ để cứu vãn nền Cộng hòa khỏi một nguy cơ trầm trọng như thế. Thực ra, Catilina cũng đã chấm dứt đời mình một cách tốt đẹp nhất: ông đã chết trên chiến trận với tư cách một nhà quý tộc lừng danh và là một chiến sĩ can trường. Nhưng Bonaparte cũng không lầm khi nghĩ rằng muốn chạy trốn đúng lúc vào vùng núi để tìm một cái chết xứng đáng của một người La Mã thì Catilina cũng không cần phải rầm rộ, phải làm tổn thương danh tiếng và phải kéo theo bao đau khổ đến như thế. Theo ý ông thì Catilina có thể kết thúc khá hơn.


***

Sự nghiệp của Sylla và Jules César đã cung cấp cho Bonaparte nhiều chất liệu nhất để suy tưởng về số phận riêng của mình: các sự nghiệp này gần gũi với thiên tài của ông và gần với tinh thần thời đại của ông hơn cả tư tưởng sẽ hướng dẫn ông trong sự chuẩn bị và thi hành cuộc đảo chánh 18 Brumaire đã chưa chín muồi trong ông. Với ông, nghệ thuật chính phục quyền hành hình như chỉ là một nghệ thuật quân sự: chiến lược và chiến thuật của chiến tranh áp dụng vào cuộc đấu tranh chính trị, nghệ thuật điều động quân đội trên lãnh vực tương tranh dân sự.

Trong kế hoạch chiến lược để chinh phục La Mã, không phải thiên tài chính trị của Sylla và Jules César đã biểu lộ mà chính là thiên tài quân sự của họ. Những khó khăn họ phải vượt qua để chiếm La Mã là các khó khăn hoàn toàn quân sự. Họ phải chiến đấu chống quân đội chứ không phải chống nghị viện. Thật sai lầm nếu xem cuộc đổ bộ ở Brindes và cuộc vượt sông Rubicon như là các hành động khởi đầu cuộc đảo chánh: đó là những hành động có tính cách chiến lược, không hề có tính cách chính trị. Dù họ là Sylla hoặc César, Hannibal hoặc Bélisaire, mục tiêu của quân đội của họ là chinh phục một đô thị: đó là một mục tiêu chiến lược. Hành động của họ là hành động của những tướng lãnh mà đối với họ nghệ thuật chiến tranh không có gì bí mật. Đối với Sylla cũng như César, rõ ràng rằng thiên tài quân sự của họ vượt trên thiên tài chính trị. Người ta có thể nhận thấy rằng, trong các chiến dịch của họ, dù bắt đầu bằng cuộc đổ bộ ở Brindes hay vụ vượt sông Rubicon, không phải tuân theo một quan niệm chiến lược: có một hàm ý chính trị trong mỗi cuộc điều động binh đoàn của họ. Nhưng nghệ thuật chiến tranh là một nghệ thuật đầy hiểu ngầm và ý định xa xôi. Mọi vị tướng như Turenne, Charles XII hay Foch đều là khí cụ của chính trị quốc gia. Chiến tranh luôn luôn có những cứu cánh chính trị: chiến tranh chỉ là một phương diện của chính trị quốc gia. Lịch sử không có những trường hợp một vị tướng đã phục vụ nghệ thuật vị nghệ thuật, chiến tranh vị chiến tranh. Không có những kẻ tài tử giữa các vị tướng lãnh anh hùng hoặc tầm thường, ngay cả trong những lính đánh giặc thuê. Lời nói của Giovanni Acuto, kẻ đánh giặc thuê người Anh phục vụ cho nền Cộng hòa ở Florence: "đánh giặc để sống chứ không để chết", không phải là lời nói hóm hỉnh của một tay tài tử, cũng không phải là châm ngôn của một tên lính đánh giặc thuê. Đó là biện minh cao nhất cho chiến tranh và cho luân lý chiến tranh. Đó có thể là châm ngôn của César, Frédéric, Nelson, Bonaparte.

Hiển nhiên rằng khi đưa quân chinh phục La mã, Sylla và César đã có một mục đích chính trị. Nhưng phải trả lại cho César cái gì của César và trả lại cho Sylla cái gì của Sylla. Họ không đảo chánh. Một cuộc âm mưu ở Hoàng cung giống với một cuộc đảo chánh nhiều hơn là những trận chiến danh tiếng mà hai vị tướng đã dùng để tiến chiếm nền cộng hòa. Sylla đã mất một năm để dùng quân đội mở đường từ Brindes đến La mã, nghĩa là để kết thúc âm mưu cách mạng khởi đầu từ Brindes. Như thế quá lâu cho một cuộc đảo chánh. Nhưng người ta biết rằng nghệ thuật chiến tranh có những qui lệ và những ngoại lệ. Sylla phải tuân theo và chỉ tuân theo có vậy thôi. Đối với những qui lệ và ngoại lệ chính trị, Sylla và César chỉ bắt đầu nghe theo chúng sau khi đến La mã và áp dụng ngoại lệ nhiều hơn qui lệ như bản chất và thói tục của các vị tướng khi họ muốn tạo nên những luật lệ mới và một trật tự mới cho các đô thị đã chinh phục.

Trong những cánh đồng xứ Lombardie, vào năm 1797 này, năm rất giàu lợi thế cho vị tướng nào không ngần ngại, táo bạo hơn là tham vọng, Bonaparte phải bắt đầu suy nghĩ rằng bài học của Sylla và César đối với ông có thể là tàn hại. Thực ra, giữa sự sai lầm của Hoche đã cẩu thả nhận đặt thuộc quyền Chấp chánh viện để âm mưu làm đảo chánh cộng với bài học của Sylla và César, thì đối với ông chính là lỗi lầm của Hoche có vẻ ít nguy hiểm hơn. Trong tuyên ngôn ngày 14-7 với đạo quân Ý, Bonaparte đã cáo tri cho hội Clichy rằng quân đội đang sẵn sàng vượt qua núi Alpes và tiến về Ba lê để bảo vệ Hiến pháp, bảo vệ tự do, chính phủ và các nhân vật của nền cộng hòa. Trong lời lẽ của ông, ta cảm thấy mối ưu tư đừng để mình bị ảnh hưởng bởi thái độ không kiên nhẫn của Hoche hơn là lòng đam mê thầm kín được ngang hàng với César. Giữ tình thân hữu với Chấp chính viện mà không quá công khai về cùng phe, đó là vấn đề của năm 1797. Hai năm sau trước ngày 18 Brumaire, vấn đề là sẽ giữ tình thân hữu với Chấp chánh viện và không quá công khai đứng vào hàng ngũ những địch thủ của viện này.

Từ năm 1797, tư tưởng bắt đầu phát hiện trong trí ông rằng phương tiện đảo chánh phải là quân đội, nhưng quân đội này phải có vẻ tuân theo luật lệ và hành động phải giữ cái vẻ hợp pháp. Chính mối ưu tư về tính cách hợp pháp này đã xuất hiện ở Bonaparte một quan niệm đảo chánh khác biệt các kinh nghiệm cổ điển, sáng chói và nguy hiểm.

Trong số nhiều nhân vật ngày 18 Brumaire, kẻ có địa vị mơ hồ là Bonaparte. Từ khi ở Ai Cập trở về, ông chỉ tỏ vẻ bồn chồn, làm đối tượng cho sự ca tụng, căm hờn, lố bịch và nghi ngờ: ông chỉ tự làm hại mình một cách vô ích. Cái vụng về của ông bắt đầu làm cho Siéyès và Talleyrand lo lắng. Bonaparte muốn gì? Phải để cho kẻ khác hành động! Siéyès và Lucien Bonaparte lo liệu mọi điều, cung cấp mọi thứ, công việc được điều chỉnh đến tận những chi tiết tỉ mỉ nhất. Siéyès, thắc mắc và câu nệ, nghĩ rằng một cuộc đảo chánh không thực hiện trong một ngày: mối nguy hiểm phải tránh, chính là sự thiếu kiên nhẫn của Bonaparte (và tính thích khoa tu từ học của ông ta, Talleyrand nói thêm vào). Đây (không?) còn phải là vấn đề của César hay Cromwell mà là của Bonaparte. Nếu người ta muốn cứu vãn những vẻ bề ngoài hợp pháp; nếu muốn cuộc đảo chánh không có vẻ một cuộc đảo chánh của trại lính, hoặc một âm mưu của cảnh sát công an mà là một cuộc đảo chánh nghị viện với sự đồng lõa của hai viện Nguyên lão và Thứ dân, thực hiện theo một thủ tục tố tụng tinh xảo và quanh co thì điều cần thiết là, Bonaparte không cố chấp giữ trong một vài thái độ. Một vị tướng bách thắng sửa soạn chiếm đoạt quyền hành không nên mong được hoan hô và không nên mất thì giờ trong các mưu mô. Siéyès đã lo liệu đủ và tổ chức chu đáo: ông học cả cách cưỡi ngựa, để diễu hành nếu chiến thắng hay để trốn chạy. Trong lúc chờ đợi, Lucien Bonaparte đã đắc cử Chủ tịch viện Thứ dân, dự dịnh bổ nhiệm 4 kiểm soát viên chắc chắn về cùng phe với mình vào văn phòng Viện. Khi có đảo chánh nghị viện, thì cả đến các nhân viên phục vụ tại phòng hội đồng cũng rất quan trọng. Những kiểm soát viên của văn phòng Nguyên lão nghị viện đều ở trong tay Siéyès. Để biện minh cho sự triệu tập các Viện tại Saint-Cloud, ở ngoài Ba lê, cần phải kiếm một cớ: một mưu loạn, một âm mưu của phe quá khích, một mối đe dọa chung. Chủ tịch Siéyès sử dụng guồng máy cảnh sát và lý do đã được tạo ra: cảnh sát đàn áp âm mưu khủng khiếp của phe quá khích đang công khai đặt nền Cộng hòa vào mối nguy hiểm sống còn. Các viện sẽ lặng lẽ họp nhau ở Saint-Cloud. Mọi sự đều phù hợp theo đúng chương trình vạch sẵn.

Bonaparte ép mình theo các kẻ khác: các thái độ dè dặt hơn, ngoại giao ít ngây thơ hơn, lạc quan cẩn trọng hơn. Dần dần ông tin rằng mình trở thành deus ex machina của toàn thể âm mưu, và tin tưởng này đủ mang lại cho ông sự chắc chắn tuyệt đối rằng mọi điều sẽ xảy ra theo ý muốn. Tuy nhiên chính là những kẻ khác đã hướng dẫn ông trong các âm mưu: chính Siéyès dắt tay ông vào mê lộ. Bonaparte khi ấy vẫn là một quân nhân không hơn không kém, thiên tài chính trị của ông chỉ xuất hiện sau ngày 18 Brumaire. Các vị tướng, dầu là Sylla, César hay Bonaparte trong thời kỳ chuẩn bị và thực hiện cuộc đảo chánh, cũng chỉ thuần tuý là những kẻ quân sự: họ càng cố gắng giữ tính cách hợp pháp, biểu lộ trung thành với “res publica” chừng nào thì hành vi của họ lại càng phi pháp, lòng miệt thị “res publica” càng biểu lộ rõ rệt. Mỗi lần xuống ngựa để dự vào lãnh vực chính trị, họ quên gỡ cái đinh thúc ngựa. Lucien Bonaparte quan sát người anh mình, chú ý đến cử chỉ, cố đọc những ý tưởng bí mật nhất của anh với một nụ cười như cảm thấy trước mùi vị oán hờn, tự cảm thấy rằng từ nay mình vững tin vào anh hơn chính mình. Mọi sự đã sẵn sàng. Ai có thể làm đổi hướng dòng biến chuyển, sức mạnh nào đương đầu được với đảo chánh.

Kế hoạch của Bonaparte xây dựng trên một sai lầm căn bản: tôn trọng tính cách hợp pháp. Ngay từ lúc đầu, Siéyès đã tỏ ra chống đối sự giữ gìn hành động trong giới hạn luật pháp: phải chừa lề cho những trường hợp bất ngờ, trong đó bạo động cách mạng giữ phần ưu thắng. Con đường gò bó luôn luôn nguy hiểm. Một cuộc đảo chánh hợp pháp dường như là một điều phi lý đối với lý thuyết gia về luật pháp này. Nhưng Bonaparte không thể lay chuyển được: ông sẵn lòng hy sinh cả thận trọng để tôn trọng pháp luật. Trong đêm 17 rạng 18 Brumaire, khi Siéyès báo cho ông hay rằng các khu ngoại ô đang rục rịch, và tốt hơn nên đề phòng trước bằng cách bắt giữ chừng 20 nghị sĩ, Bonaparte từ chối phạm một hành vi phi pháp. Ông muốn một cuộc khởi loạn nghị viện thôi: ông mong chiếm đoạt quyền hành dân sự mà không phi pháp và không bạo động. Fouché đề nghị xin được cộng sự, ông trả lời ông không cần tới Cảnh sát. Sansta simplicitas! Uy tín và vinh quang của tên tuổi ông đủ rồi.

Nhưng, tình trạng hợp pháp bằng mọi giá ấy, vị tướng hùng hổ này, người chiến sĩ say mê khoa tu từ học này không biết tiến thoái thích nghi. Buổi sáng ngày 18 Brumaire, vừa tới đứng trước Nguyên lão nghị viện, ông đã quên vai trò của mình, vai trò của một vị tướng bách thắng đến đem lưỡi gươm mình phục vụ cho những kẻ đại diện quốc gia. Ông quên rằng dưới mắt của viện Nguyên lão, ông không nên xuất hiện như một César mới, mà nên như một kẻ bảo vệ hiến pháp chống lại âm mưu của phe quá khích. Ông ta không nên làm gì khác hơn là một vị tướng được nguyên lão viện giao phó nhiệm vụ bảo đảm sự di chuyển yên lành Cơ quan Lập pháp đến Saint-Cloud. Ông phải cẩn thận ra vẻ giữ một vai trò thứ yếu trong vở hài kịch nghị viện mà nhân vật chính là Cơ quan Lập pháp.

Những lời ông tuyên bố, ở giữa một đám sĩ quan hộ tống trang phục đồ thêu vàng và bạc, trước cử toạ gồm những kẻ tiểu tư sản đeo mắt kính đầy run sợ, hình như là những lời bị xúi dục bởi một vị thần ghen ghét với thời vận của ông. Tất cả những căn bản tu từ học mà ông học không kỹ từ những sự nghiệp của Alexandre và César đã trào lên trên môi và làm ông líu lưỡi: “Chúng ta mong muốn nền Cộng hoà, thiết lập trên tự do thật sự, trên sự đại diện quốc gia: chúng ta sẽ đạt được, tôi thề như vậy!” – Các sĩ quan chung quanh đồng thanh lập lại lời thề. Các nguyên lão nghị viên tham dự đều câm lặng và sững sờ. Từ nơi nghị viện đã bị thuần hoá này, một người nào đó, một kẻ thấp hèn nào đó sắp sửa có thể đứng lên chống lại Bonaparte nhân danh tự do, Cộng hoà, Hiến pháp, những công thức tu từ học, những danh từ to lớn đã trở nên rỗng tuếch nhưng mà còn nguy hiểm. Siéyès đã tiên đoán mối hiểm nguy này và suốt đêm, những kiểm soát viên của văn phòng đã làm tiêu tán những yết thị triệu tập những nghị sĩ đáng ngờ. Nhưng Bonaparte phải đặc biệt phòng ngừa đối với những kẻ thấp hèn vô nghĩa mà ngay Siéyès cũng không ngờ vực. Một nghị sĩ tên là Garat đã đứng dậy phát biểu: "Không một quân nhân nào ở đây được xen vào vấn đề hiến pháp". Bonaparte xanh mặt, quay lại sửng sốt. Nhưng vị chủ tịch can thiệp đúng lúc, ngắt lời Garat và hội trường đứng dậy hô to: “Cộng hoà muôn năm”.

Trong lúc duyệt qua đoàn quân xếp hàng trong công viên Tuilleries, Bonaparte tự để rơi mặt nạ. Sau những lời nói lẫy lừng gởi cho Botte bằng giọng sang sảng khi rời phòng hội Viện Nguyên lão, bài diễn văn của ông dành cho quân sĩ rền vang như một lời thách đố và doạ dẫm. Giờ đây ông ta tự tin lắm rồi. Nhưng Fouché cố nhấn mạnh về sự cần thiết phải bắt giữ những nghị sĩ hay gây loạn nhất. Bonaparte từ chối, cho lệnh đó làm vậy là một lầm lẫn vô ích, bây giờ mọi sự đều thuận buồm xuôi gió rồi. Chỉ còn một vài thủ tục nữa là xong cuộc đảo chánh. Sự lạc quan của ông cho thấy ông không hiểu rõ vị trí của ông trong trò chơi đầy nguy hiểm này. Hôm sau, ngày 19 Brumaire, ở Saint-Cloud, khi chính Siéyès nhận thấy những sai lầm đã phạm và bắt đầu lo sợ, Bonaparte vẫn tiếp tục tỏ ra một (sự?) lạc quan, một tin tưởng vào uy danh của mình, một khinh thường bọn “trạng sư” của cơ quan Lập pháp đến nỗi mà Talleyrand không biết phải cho ông là ngây thơ hay vô ý thức.

Khi quan niệm kế hoạch của mình, thiết lập trên những hình thức hợp pháp và trên kỹ thuật tố tụng nghị viện, Siéyès không để ý đến những việc nhỏ. Bởi lý do nào mà các viện đã không được triệu tập ở Saint-Cloud vào ngày 18 thay vì ngày 19 ở Brumaire? Thật là một sự lầm lẫn khi để cho kẻ thù 24 giờ để nghiên cứu tình thế và tổ chức kháng cự. Ngày 19 ở Saint-Cloud, vì lý do nào Nguyên lão viện và Thứ dân viện đã không họp ngay vào buổi trưa mà lại là vào hai giờ lúc xế trưa? Trong hai giờ này, các nghị sĩ đã có thể trao đổi những cảm tưởng, những ý nghĩ, những dự tính để thoả thuận về những hành động chung để chống lại mọi âm mưu lường đảo hay bạo lực. Viện Thứ dân tuyên bố sẵn sàng đối với tất cả: sự xuất hiện của quân lính bao vây mọi phía khiến họ nổi giận. Họ bồn chồn giận dữ trong các lối đi và trong sân, họ to tiếng chất vấn nhau: tại sao chúng ta không họp ở Ba lê? Ai đã bịa ra chuyện có âm mưu này? Người nào? Nói thật đi! Siéyès đã quên dựng ra những bằng chứng về âm mưu của phe quá khích: ông ta nhìn quanh, nhận thấy nhiều kẻ mỉm cười, nhiều kẻ xanh mặt và bắt đầu hiểu rằng tình thế đã không mấy sáng sủa, mọi chuyện có thể tuỳ ở một lời nói, một cử chỉ. Giá như ông nghe theo lời Fouché! Nhưng bây giờ đã quá muộn, phải phó mặc cho rủi may, không có cách gì khác nữa. Xét về chiến thuật cách mạng, thì đó quả là một chiến thuật độc đáo.

Đúng 2 giờ, hội nghị Nguyên lão khai mạc. Kế hoạch của Siéyès bị hỏng ngay khi bắt đầu. Những kẻ tiểu tư sản vốn trầm lặng ấy dường như đang giận dữ ghê gớm, may mắn thay không có kẻ nào biết mở lời nổi giữa cảnh náo loạn ồn ào như vậy. Nhưng ở Orangerie, nơi viện Thứ-dân hội họp, một cơn thoá mạ, buộc tội và đe doạ đã đón chào chủ tịch Lucien Bonaparte. Mất tất cả rồi, Siéyès nghĩ thế, ông ta xanh mặt và tiến gần cửa khi nghe thấy tiếng huyên náo bất ngờ đó. Để đề phòng khi trốn chạy, một chiếc xe chực sẵn ở bên lề công viên. Xe tiện lợi và đảm bảo hơn ngựa. Khi chuẩn bị đảo chánh, một kẻ biết tiên liệu như ông không thể bỏ sót chi tiết này. Ít ra Siéyès cũng không phải là kẻ duy nhất cảm thấy khó chịu; trong các phòng khách ở tầng trên, Bonaparte và tuỳ tùng nôn nao đợi giờ đầu phiếu. Nếu Nguyên lão viện không tán thành sắc lệnh giải tán các viện, nếu họ chỉ định ba tổng tài lâm thời và quyết định tu chỉnh Hiến pháp, thì Bonaparte sẽ làm gì? Trong trường hợp này, kế hoạch cách mạng do Siéyès thiết lập đến tận những chi tiết tỉ mỉ nhất ấy sẽ tiên liệu được gì? Siéyès chỉ tiên liệu sự bôn tẩu bằng xe.

Cho tới lúc đó, hành động của Bonaparte, vốn bận tâm trên hết là cứu vãn vẻ hợp pháp để vẫn ở trong khuôn khổ thủ tục nghị viện, nếu dùng từ mới, ta có thể nói là hành động của một nhà tự do. Xét theo quan điểm này, Bonaparte là một vị trưởng giáo. Sau ông ta, tất cả các nhà quân sự thử chiếm đoạt quyền hành dân sự đã đều trung thành với nguyên tắc của chủ nghĩa tự do cho đến phút chót, có nghĩa là cho đến lúc phải sử dụng bạo lực. Phải luôn luôn, và đặc biệt là ngày nay, coi chừng chủ nghĩa tự do của các nhà quân sự.

Ngay khi nhận thấy rằng sự chống đối của Nguyên-lão-viện và Thứ-dân-viện hiển nhiên là làm hỏng kế hoạch của Siéyès, Bonaparte quyết định ra mặt đàn áp sự chống đối của nghị viện. Đấy vẫn là một hình thức của chủ nghĩa tự do (một thứ chủ nghĩa tự do quân sự, hiển nhiên là vậy), một phương cách bạo động tự do. Vừa thấy Bonaparte, sự huyên náo dịu bớt trong phòng Viện Nguyên lão. Nhưng nơi con người César này, con người Cromwell này, khoa tu từ học còn bội phản một lần nữa. Bài diễn văn của ông, ban đầu được sự im lặng kính trọng, dần dần nổi lên tiếng thì thào phản đối. “Nếu tôi là một kẻ bội ước thì tất cả các ngài hãy là Brutus”, khi nghe những lời này, một vài tiếng cười lớn vang dội từ cuối phòng. Diễn giả bối rối, ngừng lại, ấp úng, rồi tiếp tục với một giọng chói tai: “Các ngài hãy nhớ rằng tôi bước đi có vị Thần chiến tranh và vị Thần may mắn đi theo”. Các nghị sĩ nhỏm dậy, vây quanh diễn đàn. Tất cả đều cười. “Đại tướng, ngài không biết những điều ngài nói nữa”, kẻ trung thành Bourienne thì thầm vào tai Bonaparte và nắm chặt tay ông. Bonaparte đi theo, ông rời phòng hội.

Lúc sau, khi bước qua ngưỡng cửa Orangerie, có 4 vệ binh hộ tống và vài sĩ quan, Thứ dân Viện đã tiếp đón bằng sự ầm ĩ cuồng động tung ra, nặng lời lăng mạ và xúc phạm: “Đồ phi pháp! Đả đảo độc tài!” Bốn vệ binh xiết chặt quanh ông để che cho ông khỏi bị đấm đá, các sĩ quan cố đưa ông ra khỏi cảnh huyên náo; cuối cùng, Gardanne nắm được tay ông và mang ông ra ngoài. Không còn gì hơn là đào tẩu, Siéyès nghĩ thế, hoặc là bạo lực như Bonaparte nói với những người của ông. Trong phòng hội của Thứ dân viện, sắc lệnh phế trừ được biểu quyết. Trong vài phút nữa, con người César này, Cromwell này sẽ bị “đặt ngoài vòng pháp luật”. Thế là hết. Bonaparte nhảy lên mình ngựa và ra duyệt hàng quân: “Sẵn sàng chiến đấu!” ông ta hô lên. Quân sĩ hoan hô nhưng bất động. Đây là quang cảnh đặc biệt nhất của hai ngày lịch sử đó. Khuôn mặt thất vọng, run lên vì giận, Bonaparte nhìn chung quanh. Vị anh hùng Arcole đã không thể làm di chuyển nổi lấy một tiểu đoàn. Nếu Lucien không đến vào lúc này thì tất cả mất hết. Chính Lucien đã kích động binh sĩ, cứu vãn tình thế. Chính Murat đã tuốt gươm ra, đảm đương trách nhiệm chiến đấu, lôi kéo vệ binh chống Viện Thứ dân.

“Gọi là Tướng Bonaparte, điều đó không đúng”, Montron sau này đã nói thế khi nhắc lại vẻ xanh xao của con người César này, con người Cromwell này. Montron, kẻ mà Roederer gọi là một Talleyrand cưỡi ngựa, suốt đời đã giữ niềm tin rằng vị anh hùng Plutarque này ở Saint-Cloud đã cảm thấy một phút sợ hãi; và một con người lu mờ nhất nước Pháp, một trong những “trạng sư” của Cơ quan Lập pháp, một kẻ thấp kém nào đó có thể trong hai ngày lịch sử này, bằng một cử chỉ, một lời nói, bôi xoá định mệnh Bonaparte và cứu vãn nền Cộng hoà mà không gặp nguy hiểm.


***

Một sử gia đã nói: “ chưa bao giờ có cuộc đảo chánh nào quan niệm sai đến thế và bị lãnh đạo sai đến vậy”. Xây dựng trên sự trọng pháp và trên cơ chế của thủ tục nghị viện, kế hoạch ngày 18 Brumaire chắc chắn sẽ thất bại, nếu Nguyên lão viện và Thứ dân viện biết lợi dụng lỗi lầm của Siéyès. Một chiến thuật tấn công dựa trên sự trì chậm của thủ tục nghị viện chỉ có thể đưa đến thất bại. Nếu (không phải vì?) các viện, với sự đe dọa ban hành sắc lệnh phế trừ, đã ép Bonaparte phải cắt ngang, rời bỏ khuôn khổ pháp luật và dùng đến bạo lực thì cuộc đảo chính đã bị sa lầy trong thủ tục nghị viện. Chiến thuật tấn công của nghị viện là phải tranh thủ thời gian, kéo dài mọi sự. Xế trưa ngày 19 Brumaire ở Saint-Cloud, cuối cùng Siéyès đã hiểu sự lầm lạc của mình. Thời gian chỉ có lợi cho Cơ quan Lập pháp. Bonaparte đã vận động trên lãnh vực nào? Trên lãnh vực thủ tục. Sứ mạng của thủ tục nghị viện là gì? Sự trì trệ. Hai giờ nữa thôi và các phiên họp của các Viện phải hoãn lại ngày sau. Cuộc đảo chánh mới vừa để mất 24 giờ, lại phải chậm trễ nữa. Ngày hôm sau, ngày 20 Brumaire, ngày mở lại các phiên họp của Cơ quan Lập pháp, thì địa vị của Bonaparte chắc sẽ khác hẳn.

Siéyès đã hiểu thế. Trong kế hoạch cách mạng của ông, Nghị viện là những phương tiện của cuộc đảo chánh. Bonaparte không thể bỏ qua được các viện: họ thật cần thiết đối với ông. Phải hành động nhanh chóng, ngăn chặn sự hoãn các phiên họp, tránh mối nguy hiểm của một cuộc tranh đấu mở ra giữa Cơ quan Lập pháp và Bonaparte, giữa Hiến pháp và đảo chánh: nhưng với phương tiện gì? Kế hoạch của Siéyès và luận lý của Bonaparte đã là từ khước xử dụng bạo lực. Tuy nhiên phải ngắt ngang. Như vậy cần phải thuyết phục đi vào phòng hội, nói với các nghị sĩ, và bằng cách tốt lành tử tế, thử vượt khỏi thủ tục nghị viện. Căn nguyên hành động kỳ lạ ấy của Bonaparte là ở cái mà người ta gọi là chủ nghĩa tự do của ông.

May mắn thay cho ông, thái độ của ông đã gây nên cho Nghị viện sự lầm lẫn không phương cứu vãn, những bạo động chống lại cá nhân ông ta và sắc lệnh phế trừ. Nguyên-lão-viện và Thứ-dân-viện không hiểu rằng bí mật sức mạnh của họ đối với Bonaparte chính là kéo dài sự kiện, đừng gây khiêu khích, trông cậy vào sự trì trệ của thủ tục. Trong mọi cuộc đảo chánh, kỹ thuật của những phần tử Cách mạng bạo động là phải hành động thật nhanh, kỹ thuật của kẻ bảo vệ Quốc gia là kéo dài thời gian. Lỗi lầm của Nghị viện là đã đẩy Bonaparte đến chân tường: trốn chạy hay xử dụng bạo lực. Các “trạng sư” của Cơ quan Lập pháp dù không muốn, cũng đã cho Bonaparte một bài học về chiến thuật cách mạng.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-08-25 20:17:14huytran>
CHƯƠNG VI:

PRIMO DE RIVERA và PILSUDZKI:
MỘT KẺ SIỂM NỊNH và MỘT VIÊN TƯỚNG XÃ HỘI
 

Bài học kinh nghiệm của Bonaparte sử dụng quân đội như một công cụ hợp pháp để giải quyết vấn đề Chinh phục Quốc gia trên lãnh vực thủ tục nghị viện, bài học ấy hãy còn là một ám ảnh lớn lao cho những người như Kapp, Primo de Rivera hoặc Pilsudzki vốn chủ trương dung hòa việc dùng bạo lực và sự tôn trọng pháp lý, đồng thời muốn hoàn thành bằng sức mạnh vũ khí một cuộc cách mạng nghị viện. Chiến thuật ngày 18 Brumaire không phải là một chiến thuật phiến loạn của quân đội. Đúng ra đặc điểm của đảo chính này chính là nỗi bận tâm giữ gìn tính cách hợp pháp và điều này là nguyên tắc mới mà Bonaparte đã mang lại trong kỹ thuật đảo chính.  Người ta nhận thấy sự bận tâm hết sức mới mẻ đó trong những công cuộc của Kapp, của Primo de Rivera và của Pilsudzki. Chính đó là đặc tính làm cho ngày 18 Brumaire có tính cách hiện đại và làm cho chiến thuật của Bonaparte trở thành một trong những đe dọa trực tiếp nhất đối với những quốc gia theo chế độ nghị viện. Mộng tưởng của Kapp là gì? Là mộng trở thành một kẻ như Siéyès của Von Luttwitz, và thực hiện cuộc đảo chính nghị trường. Ludendorff vọng tưởng điều gì vào năm 1923 khi liên minh với Hitler và Kahr để tiến về thành phố Berlin? Chính là vọng tưởng ngày 18 Brumaire. Mục tiêu chiến lược của ông ta là gì? Cũng là mục tiêu của Kapp: Quốc hội Reichstag, Hiến pháp Weimar. Primo và Pilsudzki cũng thế: một người nhắm Quốc hội lập pháp Cortès (Tây Ban Nha), một người nhắm Quốc hội Diète. Đến cả Lénine, không kể giai đoạn đầu vào mùa hè 1917, cũng đã chẳng bắt đầu mô phỏng chiến thuật của Bonaparte hay sao. Trong những lý do giải thích sự thất bại của chiến thuật bạo động tháng Bảy 1917, thì lý do trọng đại nhất là Ủy ban Trung ương đảng Bôn sê vich và Lénine đã phản đối một cuộc bạo động sau những buổi Đại hội Xô viết đầu tiên. Họ không có mục đích nào khác hơn  là đối tượng nghị viện: chinh phục đa số trong Đại hội Xô viết. Cho tới buổi tối trước hôm đảo chính, mối bận tâm duy nhất của Lénine, đã lánh cư tại Phần Lan sau những ngày cách mạng tháng Bảy, là chiếm đa số ở Đại hội Xô viết: lần thứ nhì bắt buộc phải được triệu tập vào tháng Mười. Là chiến thuật gia tầm thường, ông chủ trương cần có sự an toàn về phương diện nghị viện trước khi khởi xướng bạo động. Lounatcharski nhận xét: “Cũng như Danton hay Cromwell, Lénine là một kẻ tùy thời có thiên tài”.
Quy luật nền tảng của chiến thuật Bonaparte, xây dựng trên chủ nghĩa tùy thời có tính cách tích cực nhất, là sự lựa chọn lĩnh vực nghị viện như một nơi thích hợp nhất để dung hòa việc sử dụng bạo lực và sự tôn trọng pháp lý. Đó là đặc điểm của ngày 18 Brumaire. Kapp, Primo de Rivera, Pilsudzki và xét theo một vài tương quan nào đó, cả Hitler nữa, đều là những kẻ ưa trật tự, những kẻ phản động dự tính chiếm đoạt quyền hành để phát huy uy tín, uy lực và uy quyền của họ nhưng lại bận tâm biện minh thái độ phản loạn của họ bằng cách tự tuyên dương mình không phải là kẻ thù mà chính là công bộc của quốc gia. Điều làm cho họ lo sợ nhất là bị đặt ra ngoài pháp luật. Khi nghe tin bị đặt ngoài vòng pháp luật, Bonaparte đã thất sắc; sự kiện này hẳn là một cái gì trong những mối bận tâm đã ám ảnh hành động của họ. Mục tiêu chiến thuật của họ là Nghị viện; họ muốn chinh phục quốc gia qua Nghị viện. Duy chỉ có quyền lập pháp, rất thuận lợi cho các trò hòa giải và đồng lõa mới có thể giúp đỡ họ trong việc đưa một sự đã rồi vào trong một trật tự có sẵn bằng cách ghép bạo lực cách mạng vào sự hợp hiến.
Hoặc là Nghị viện chấp nhận và tích cực hợp pháp hóa sự việc đã hoàn thành bằng cách biến đổi cuộc đảo chính thành một sự thay đổi nội các, hoặc là những kẻ cách mạng bạo động giải tán Nghị viện và thiết lập một Quốc hội mới để hợp pháp hóa bạo lực cách mạng. Nhưng nghị viện chấp nhận hợp pháp hóa cuộc đảo chính là chỉ để ban hành chính cái chung cục của mình. Trong lịch sử cách mạng không có một Quốc hội nào chấp nhận hợp pháp hóa cuộc đảo chính mà sau đó không là nạn nhân đầu tiên của bạo lực cách mạng. Để phát huy uy tín, uy lực và uy quyền Quốc gia, lý luận của Bonaparte chỉ quan niệm được một sự tu chính hiến pháp và giới hạn các đặc quyền của Nghị viện mà thôi. Sự đảm bảo hợp pháp duy nhất đối với cuộc đảo chính kiểu Bonaparte nằm trong một sự tu chính hiến pháp nhằm giới hạn các quyền tự do của nông dân và những quyền hạn của nghị viện. Tự do: chính là kẻ thù.
Chiến thuật kiểu Bonaparte, bằng mọi giá, bó buộc phải nằm trong phạm vi hợp pháp. Chiến thuật này chỉ sử dụng bạo lực để duy trì mình trên bình diện hợp pháp hoặc để trở lại bình diện này một khi bị bó buộc phải tách xa. Bonaparte làm gì, Bonaparte hợp pháp của ngày 18 Brumaire ấy, khi biết rằng Thứ dân viện đã tuyên bố đặt ông ra ngoài vòng pháp luật? Ông đã dùng tới bạo động: ông ra lệnh cho quân sĩ tống các dân biểu khỏi Orangerie, ông đã xua đuổi và phân tán những kẻ đại diện Quốc gia.
Nhưng vài giờ sau, Lucien Bonaparte, chủ tịch Thứ dân viện vội vã tóm cổ vài chục dân biểu, triệu tập lại Hội nghị và hợp pháp hóa cuộc đảo chính bằng thứ Quốc hội giả danh này. Chiến thuật ngày 18 Brumaire có lẽ chỉ có thể được áp dụng trên lĩnh vực nghị viện. Sự hiện hữu của Nghị viện là điều kiện tất yếu của cuộc đảo chính của Bonaparte. Trong chính thể Quân chủ chuyên chế, người ta chỉ có thể quan niệm được các âm mưu của hoàng cung hay các cuộc khởi loạn của quân đội mà thôi.

***

Primo de Rivera và Pilsudzki, mặc dù các đảng viên của họ đã làm họ biến thành người anh hùng kiểu của Plutarque (đó là số phận của tất cả các nhà độc tài), chắc hẳn sẽ gặp những khó khăn hết sức trầm trọng hơn nếu Nghị viện Cortès (Tây Ban Nha) và quốc hội Diète (Ba Lan) là Hạ viện Anh hoặc là quốc hội Pháp. Nhưng thành công của hành động bạo lực của họ không do bởi sự kiện Nghị viện Cortès và Quốc hội Diète không phải là Hạ nghị viện Anh hoặc Quốc hội Pháp, mà do sự kiện ở Tây Ban Nha năm 1923 cũng như ở Ba Lan năm 1926 không có một nền dân chủ nghị viện khả dĩ bảo vệ nổi các quyền tự do công cộng. Trong các mối hiểm nguy của Quốc gia ngày nay có thể gặp, một trong những mối hiểm nguy trầm trọng nhất là tính cách dễ bị tổn thương của nghị viện. Mọi nghị viện, không trừ ra ở đâu, đều yếu ớt nhiều hay là ít. Lỗi lầm của các nền dân chủ đại nghị chính là sự tin tưởng thái quá ở các tự do đã tranh đấu được trong khi chẳng có gì mong manh hơn chúng trong Châu Âu ngày nay. Thật là một ảo tưởng nguy hại nếu tin rằng nghị viện là cách bảo vệ quốc gia tốt đẹp nhất chống lại mưu toan kiểu Bonaparte và có thể bảo vệ tự do bằng sự hành xử tự do, bằng những biện pháp cảnh sát. Đó chính là điều mà các dân biểu nghị viện Cortès và quốc hội Diète vọng tưởng cho đến trước ngày các cuộc đảo chính của Primo de Rivera và Pilsudzki bùng nổ.
Trong những anh hùng có đời sống gương mẫu và Plutarque thuật lại thì thật hiếm có những người xuất thân từ hàng quý tộc. Có lẽ đó là lý do chống lại việc Primo de Rivera, một quý tộc đại tướng mang vóc dáng một anh hùng kiểu Plutarque trong lịch sử. Trong những chuyến phiêu lưu khốn khổ của loại nhà độc tài này, không có gì đáng chê bằng lòng trung thực và thành tín. Trách ông đã phục vụ xứ sở bằng một trí thông minh tầm thường là lầm. Thật ra nên trách ông đã phục vụ Hoàng đế bằng sự cao đẹp của tâm hồn. Mọi nhà độc tài đều phải như Metternich, phải biết nghi ngờ những ông vua được hiến pháp chấp nhận.
Sự đồng lõa của nhà vua là yếu tố đáng lưu ý nhất – có lẽ là yếu tố duy nhất đáng lưu ý của nền độc tài Tây Ban Nha. Nếu không có sự a tòng tạo phản của Alphonse XIII, Primo de Rivera đã không thể chiếm chính quyền, giải tán Nghị viện Cortès, cấm chỉ mọi tự do công cộng, cai trị bất kể hiến pháp Deus ex machina thật sự của cuộc đảo chính. Trách nhiệm duy nhất về sự độc tài, không phải là do Primo de Rivera, mà là nhà vua. Người ta nói rằng Rivera vốn là “Bonaparte bất đắc dĩ với vụ mô phỏng ngày 18 Brumaire”, nhưng trong vở hài kịch buồn tẻ đó của cuộc đảo chính và  của nền độc tài “nhân danh Vua”, Primo de Rivera chỉ giữ một vai trò của một “Mussolini bất đắc dĩ” để phục vụ chính sách cá nhân của một ông vua phản loạn. Trong một chế độ quân chủ lập hiến, không có chỗ cho một nhà độc tài; chỉ có những kẻ nịnh thần mới có thể làm đảo chính bằng óc xiểm nịnh mà thôi. Sự đồng mưu của nhà Vua và của Primo de Rivera có tính cách một thỏa hiệp mờ ám giữa một nịnh thần với ông Vua hơn là một dàn xếp giữa Hiến pháp và Độc tài. Primo de Rivera không hề là nhà độc tài, mà chỉ là một kẻ dua nịnh. Sự đồng mưu đó, với những bảo chứng là các bảo đảm tôn trọng hiến pháp, những quyền hạn của Nghị viện và những tự do công cộng chỉ có thể chấm dứt bằng sự phản bội. Chuyện một ông vua phối hợp phản bội và âm mưu trong việc thực hiện một công cuộc mà ông là kẻ chịu trách nhiệm duy nhất trước Hiến pháp và quốc dân, chuyện đó là thường.
Bài học rút ra từ những biến cố Tây Ban Nha, thật không thuận lợi chút nào cho những chủ trương độc tài theo kiểu “vương mệnh”. Để biện minh cho thái độ của Alphonse XIII đối với người đồng lõa và để cắt nghĩa sự thành lập của nền cộng hòa, người ta đã nói đáng lẽ thiết lập ở quốc gia Tây Ban Nha “nền dân chủ chuyên chế” thì ông chỉ mang lại có một chế độ độc tài. Có nên tin rằng Primo de Rivera đã không phục vụ đắc lực cho nhà Vua không? Sự độc tài của ông ta không nhằm phế bỏ những quyền hạn của Nghị viện và những tự do quy định trong hiến pháp và kiến tạo một Quốc gia dựa trên nền tảng “dân chủ chuyên chế” hay sao? Những biến cố kế tiếp cho thấy Primo de Rivera vốn chỉ thần phục ý muốn của nhà vua, với tư cách một bề tôi đắc lực cho Vương quyền. Không nên trách cứ ông (vì?) cái luận lý của nền độc tài mà một ông vua do hiến pháp quy định phải không bao giờ quên. Chính từ luận lý đó đã nẩy sinh nền Cộng hòa Tây Ban Nha.

***

Trong số những cuộc đảo chính gợi nhớ đến ngày 18 Brumaire, có lẽ cuộc đảo chính của Pilsudzki vào tháng năm 1926 là đáng để ý nhất. Pilsudzki, người mà năm 1920 Lloyd George gọi là "một Bonaparte xã hội" đã chứng tỏ rằng Pilsudzki biết dùng Karl Marx vào việc phụng sự cho đường lối độc tài trưởng giả (Lloyd George không bao giờ có thiện cảm với những viên tướng xã hội). Chính sự đồng lõa của những khối lao động đã là yếu tố độc đáo của cuộc đảo chính của Pilsudzki. Những kẻ thực hiện chiến thuật bạo động của ông không phải là thợ thuyền, mà là quân nhân trong những trung đoàn nổi loạn. Chính quân nhân đã chiếm cầu cống, chiếm những trung tâm điện lực, Thành nội, trại lính, chiếm những kho thực phẩm và quân trang, những ngã ba ngã tư, chiếm hỏa xa, các trung tâm truyền tin, các ngân hàng. Quần chúng không tham gia tấn công các đầu cầu chiến lược ở Varsovie, cũng như trụ sở Belvédère, nơi các vị chủ tịch Cộng hòa và các Bộ trưởng ẩn náu, nghĩa là những địa điểm vẫn được những binh đội trung thành với chính quyền Witos bảo vệ. Lần đó quân đội vẫn còn là yếu tố cổ điển của chiến thuật Bonaparte. Nhưng cuộc tổng đình công do Đảng Xã hội công bố để hỗ trợ Pilsudzki trong cuộc chiến đấu chống sự liên kết của phe hữu mà Witos nương tựa, là yếu tố mới mẻ của cuộc nổi dậy mang lại tính cách xã hội trước công luận cho hành động bạo lực, cho sự nổi loạn quân sự tàn bạo này. Sự đồng lõa của thợ thuyền giúp cho binh sĩ của Pilsudzki có bộ mặt của những chiến sĩ bảo vệ tự do cho giới vô sản. Trên lĩnh vực tổng đình công, nhờ sự tham dự của những lực lượng công nhân vào chiến thuật cách mạng mà người ta nhận thấy sự chuyển dạng từ cuộc nổi loạn quân sự sang cuộc nhân dân nổi loạn được một phần quân đội ủng hộ. Như vậy Pilsudzki vào lúc khởi đầu cuộc đảo chính chỉ là một viên tướng phản loạn, bây giờ trở nên một thủ lĩnh của nhân dân, trở nên anh hùng vô sản, hay theo Lloyd George là trở nên Bonaparte xã hội.
Thế nhưng cuộc tổng đình công không đủ để đưa Pilsudzki vào vòng hợp pháp. Chính ông cũng sợ bị đặt ngoài vòng pháp luật. Thật ra, viên tướng xã hội đó chỉ là một tay cách mạng bạo động trưởng giả, mải bận tâm suy nghĩ và thực hiện những dự mưu tàn bạo nhất nhưng lại vẫn nằm trong pham vi luân lý xã hội và lịch sử của thời đại ông và của dân tộc ông. Đó là một kẻ phản loạn chủ trương quấy phá quốc gia mà không muốn bị cho là ngoài vòng pháp luật.
Trong sự căm ghét Witos, Pilsudzki không thừa nhận là Witos có quyền bảo vệ nhà nước. Sự kháng cự của những binh đội trung thành với chính quyền, làm sống dậy ở ông cái con người Balan ở Lithuanie “điên khùng và cứng đầu”. Địch dùng súng liên thanh, ông chống trả bằng súng liên thanh. Chính cái con người Balan ở Lithuanie đó đã ngăn cản viên tướng xã hội này đi vào vòng hợp pháp, không cho ông lợi dụng những cơ hội để điều chỉnh sai lầm đã vi phạm lúc khởi đầu. Bởi lẽ không ai khởi sự một cuộc đảo chính nghị viện bằng một cuộc chinh phạt tàn bạo bằng quân đội. Và như Montron đã nói “Làm như vậy là sai”.
Pilsudzki có được một kẻ đồng lõa qua đảng xã hội, một sức mạnh chiến thuật trong cuộc tổng đình công, nhưng ông cần phải tìm có một đồng minh là vị chủ tịch quốc hội Diète. Chính qua trung gian Hiến pháp mà ông sẽ chiếm chính quyền. Trong khi chiến cuộc tiếp diễn ở những vùng ngoại vi Varsovie, trong khi tướng Haller chuẩn bị từ Posnanie về cấp cứu chính quyền thì ở trụ sở Belvédère, Chủ tịch Cộng hòa Woitciekowski và thủ tướng Witos quyết định theo Hiến pháp, trao quyền hành cho chủ tịch Quốc hội Diète. Kể từ giờ phút đó, ngưởi bảo đảm hiến pháp không còn là chủ tịch Cộng hòa mà là Chủ tịch quốc hội Diète. Cuộc đảo chính nghị viện chỉ mới bắt đầu: cho đến lúc này vẫn còn là một cuộc nổi loạn của quân đội được hỗ trợ bằng một cuộc tổng đình công. Về sau Pilsudzki nói rằng giả như Woitciekowski và Witos chờ cho tới khi những đạo binh trung thành với chính quyền đến, thì âm mưu cách mạng của ông có lẽ đã thất bại. Chính quyết định vội vàng của chủ tịch Cộng hòa và của Witos đã biến đổi cuộc nổi dậy bạo động thành một cuộc đảo chính nghị viện. Đến đây là việc của chủ tịch Quốc hội Diète đưa Pilsudzki vào vòng hợp pháp: “Tôi không muốn thiết lập chế độ độc tài", Pilsudzki vội vã tuyên bố ngay khi đặt chân đến lĩnh vực nghị viện: "Dự tính của tôi là hành động theo đúng Hiến pháp để gia tăng uy tín, uy lực và uy quyền quốc gia”. Thì ra ông cũng không khác những tay cách mạng bạo động của phe hữu chiếm chính quyền bằng bạo lực, mà không có tham vọng nào hơn tỏ ra mình là một công bộc trung thành của quốc gia.
Vì với tư cách kẻ bề tôi đắc lực của quốc gia, Pilsudzki đã vào Varsovie trên một chiếc ô tô bốn mã lực với đoàn kỵ binh cận vệ tháp tùng hớn hở. Quần chúng làm hàng rào dọc theo ven lộ Krakowski Przedniescie nghênh tiếp ông và hô to: “Vạn tuế Pilsudzki! Cộng hòa vạn tuế!” Chủ tịch quốc hội Diète tỏ ra không thấy khó khăn mấy trong việc thỏa thuận với ông về vấn đề hiến pháp. Vị này nghĩ: “Bây giờ Cách mạng đã chấm dứt, sắp có thể ăn ý nhau được rồi”.
Nhưng cuộc đảo chính nghị viện chỉ mới khởi đầu thôi. Đến hôm nay (1), sau những biến cố đã làm Hiến pháp thành công cụ cho độc tài, và làm nước Balan dân chủ vô sản, kẻ đồng lõa của cuộc nổi dậy, thành kẻ thù của viên tướng xã hội, sau biết bao mưu đồ, biết bao mộng tưởng mất đi, Pilsudzki vẫn không tìm thấy được phương sách điều hợp được bạo lực với pháp lý.
Năm 1926, cuộc đảo chính Nghị viện của Pilsudzki chỉ mới là những bước đầu. Ngày nay, chúng ta cho đó là một cuộc đảo chính chưa thành.









(1) Cuốn sách này được viết lần đầu trước Thế chiến II (người dịch)
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-08-31 04:22:54huytran>
CHƯƠNG VII

MUSSOLINI VÀ CUỘC ĐẢO CHÁNH PHÁT XÍT


Trong cuộc đảo chánh phát xít tháng 10-1922, một dịp may ngẫu nhiên đã khiến tôi quen biết Israël Zangwill, văn sĩ Anh, người đã không bao giờ muốn quên những ý tưởng tự do và những định kiến dân chủ của mình trong tác phẩm cũng như trong đời sống. Khi đến Florence, vừa ra khỏi ga, ông bị một vài người mặc sơ mi đen chặn bắt, những người mà ông không chịu xuất trình giấy tờ căn cước. Israël Zangwill, kẻ thù của bạo động và bất bình đẳng, là hội viên của "Hiệp hội kiểm soát dân chủ" ở Anh quốc. Thế mà những người võ trang chiếm đóng nhà ga không phải là những cảnh vệ, cũng không phải là lính, chẳng phải những nhân viên cảnh sát; đó là những sơ mi đen, nghĩa là theo ông không phải là những người có quyền chiếm đóng nhà ga và hỏi căn cước ông. Được dẫn tới Fascio, công trường Mentana, gần Arno, trong toà nhà trước kia là trụ sở của F.I.O.M (Liên đoàn công nhân luyện kim Ý đại lợi), tổ chức nghiệp đoàn xã hội mà đảng phát xít đã dùng bạo lực giải tán, văn sĩ Anh Zangwill được đưa đến trình diện viên tổng trấn Tamburini, bấy giờ là tổng chỉ huy sơ mi đen ở Florence. Tamburini gọi tôi tới làm thông ngôn và tôi không khỏi sửng sốt đứng trước Israël Zangwill, người đóng vai trò tuyệt hảo của một hội viên hoạt động đắc lực của Liên hiệp Kiểm soát Dân chủ, nạn nhân của một cuộc cách mạng không theo lối Anh, không tự do và cũng chẳng dân chủ.

Ông tỏ ra giận dữ. Bằng tiếng Anh đúng nhất, ông bày tỏ những ý kiến bất xứng nhất về những cuộc cách mạng nói chung, phong trào phát xít nói riêng. Mặt ông đỏ gay vì giận, mắt ông quắc lên dữ dội nhìn viên tổng chỉ huy Tamburini vốn không biết tiếng Anh và chẳng hiểu gì về ngôn ngữ tự do dân chủ ngay cả khi người lạ này nói bằng tiếng Ý. Tôi cố gắng hết mình dịch một ngôn ngữ cứng rắn như vậy đối với người phát xít, bằng những thành ngữ lịch sự. Tôi tin là đã làm lợi cho Israël Zangwill bởi vì trong những ngày đó, Tamburini không phải là một nhân vật của Théocrite, cũng không phải là một hội viên của Hội Fabian và chẳng biết gì về một Israël Zangwill, và hầu như không tin rằng đó là một văn sĩ nổi tiếng. Ông nói: “Tôi không biết tiếng Anh và tôi không tin rằng anh dịch đúng những điều y nói. Tiếng Anh là một tiếng phản cách mạng. Người ta từng nói rằng ngay cú pháp của nó cũng tự do. Dù sao đi nữa, anh hãy mang ông này đi với anh và gắng làm ông ta quên việc khó chịu này”. Tôi ra cùng Zangwill, theo ông về khách sạn, ngồi chuyện trò cùng ông, bàn luận về Mussolini, về hoàn cảnh chính trị và về cuộc tranh đấu cướp chính quyền vừa được mở ra.

Đó là ngày đầu tiên của cuộc nổi dậy. Dòng biến cố hình như tuân theo một luận lý không phải của chính phủ. Israël Zangwill không muốn tin rằng người ta đang ở cao trào của cách mạng. Ông nói: “Năm 1789 ở Paris, cuộc cách mạng không phải chỉ có trong đầu óc, mà còn cả trong đường phố”. Nói đúng ra, quang cảnh ở Florence không giống ở Paris năm 1789. Trên đường phố người ta có vẻ bình lặng, lãnh đạm và vẫn giữ nụ cười kiểu Florence cổ xưa, mỉa mai và thanh lịch. Tôi lưu ý ông rằng ở Pétrograd năm 1917, ngày mà Trotzky ban hành lệnh nổi dậy, không ai có thể nhận ra sự việc gì đang xảy ra, kịch trường, rạp xi nê, quán ăn, tiệm cà phê vẫn mở, rằng kỹ thuật đảo chánh ngày nay rất tiến bộ.

Zangwill kêu lên: “Cuộc cách mạng của Mussolini à, đó không phải là một cuộc cách mạng, mà là một trò hề”. Như nhiều người có tinh thần tự do và dân chủ Ý đại lợi, ông tin rằng có sự dàn xếp giữa nhà vua và Mussolini: cuộc nổi dậy chỉ là một trò kịch để che dấu hành động của nhà vua. Dù rằng sai lầm, nhưng ý kiến của Zangwill rất đáng được tôn trọng, như tất cả những ý kiến của người Anh. Tuy nhiên ý kiến này dựa trên niềm tin rằng những biến cố trong những ngày này là kết quả của một trò chơi chính trị mà những yếu tố chính không phải là bạo lực và tinh thần cách mạng, mà là thủ thuật và tính toán: trước mắt Israël Zangwill, Mussolini là đồ đệ của Machiavel hơn là của Catilina. Nói cho cùng, ý kiến của nhà văn Anh này lúc bấy giờ và cho tới tận giờ, rất phổ biến ở Âu châu. Từ đầu thế kỷ vừa qua ở Âu châu, người ta luôn luôn có thói quen coi nhân vật và biến cố ở Ý đại lợi như những sản phẩm của một nền thẩm mĩ học cổ xưa. Cái cách thế nhận định này về lịch sử của Ý đại lợi hiện đại phần lớn phải được qui trách cho khuynh hướng tự nhiên của người Ý đối với khoa tu-từ–học, với khoa hùng biện và văn chương, những thói xấu mà tất cả mọi người Ý không có nhưng nhiều người Ý không bao giờ chữa khỏi được. Dù rằng người ta phán đoán một dân tộc theo những thói xấu hơn là theo những phẩm hạnh của dân tộc đó, tôi tin rằng không gì có thể biện chính ý kiến của người ngoại quốc về nước Ý mới, ngay cả khi khoa học tu-từ-học, khoa hùng biện và văn chương làm người ta hiểu sai những biến cố đến độ mà lịch sử có cái vẻ của một vở kịch, những anh hùng có vẻ kịch sĩ, dân tộc có vẻ của một đám đông hỗn tạp làm khán giả bàng quan.

Muốn hiểu rõ nước Ý ngày nay, phải nhận định khách quan về nó, nghĩa là phải quên rằng đã có những người La-mã và những người Ý của thời phục hưng. Tôi nói với Israël Zangwill: “Ông có thể nhận thấy rằng chẳng có gì là cổ nơi con người Mussolini, ông ta luôn luôn là một người của thời đại mới”. Thuật chính trị của ông ta không phải là của César Borgia, sự quỷ quyệt và mưu kế của ông không khác lắm với Gladstone hay với Lloyd George và quan niệm đảo chánh của ông ta chẳng có gì giống với quan niệm của Sylla hay của Jules César. Vào lúc này, ông nghe nói nhiều tới César và Rubicon; nhưng đó là do khoa tu-từ-học thành tín không hề ngăn cản Mussolini quan niệm và áp dụng một chiến thuật nổi dậy tân kỳ mà để chống chọi lại, chính phủ không biết dùng cách gì khác hơn là những biện pháp cảnh sát.

Israël Zangwill mỉa mai lưu ý tôi rằng bá tước Oxenstiern trong tập “Ký ức” nổi tiếng của ông, nhân bàn về từ nguyên của tiếng “César” đã tìm thấy nguồn gốc của tiếng này là ở tiếng Carthage “cesar” có nghĩa “con voi”. Zangwill tiếp: “Tôi hy vọng rằng trong kỹ thuật cách mạng của mình, Mussolini khéo léo hơn một con voi và tân kỳ hơn César”. Ông rất tò mò muốn nhìn gần hơn cái mà tôi từng gọi là bộ máy nổi dậy phát xít, bởi vì ông không hiểu được làm thế nào người ta có thể làm cách mạng mà không có những chướng ngại vật, không có những cuộc đánh nhau trên đường phố, không có xác chết trên vỉa hè. Zangwill kêu lên: “Mọi sự diễn ra trong một trật tự hoàn hảo, đó là một vở kịch, chỉ có thể là một vở kịch mà thôi!” Trên những đường phố trung tâm người ta thỉnh thoảng thấy những chiếc xe cam-nhông đầy sơ mi đen phóng hết tốc lực, những thanh niên này, đội nón sắt, được võ trang bằng súng trường, dao găm, lựu đạn và ca hát bằng một giọng kiêu hãnh, phất những lá cờ đen có thêu những chiếc đầu lâu bạc. Zangwill không muốn tin rằng những thanh niên này, hầu hết là thiếu niên, đã tạo thành những toán xung kích nổi tiếng của Mussolini, rất nhanh nhẹn và rất vũ bão trong những phương pháp chiến đấu của họ. Ông nói: “Điều mà người ta không thể tha thứ cho đảng phát xít được là đã sử dụng bạo lực". Quân đội cách mạng của Mussolini không phải là Đạo quân Cứu rỗi; những sơ mi đen không phải được võ trang dao găm lựu đạn để phục vụ sứ mạng yêu loài người, nhưng để dùng cho cuộc nội chiến. Những ai muốn phủ nhận bạo lực phát xít và muốn coi những sơ mi đen là đồ đệ của Rousseau và Tolstoi, cũng giống y như những người bằng từ chương hùng biện, coi Mussolini như một người La mã cổ, một người đánh giặc thuê thế kỷ thứ XV, hay một lãnh chúa thời Phục hưng có những bàn tay trắng mềm của kẻ đầu độc và của môn đồ Platon. Với những đồ đệ của Rousseau và Tolstoi, người ta không thể làm nổi một cuộc cách mạng mà bất quá là một cái gì gần giống như một vở kịch thôi: người ta cũng không thể chiếm được một Quốc gia được bảo vệ bởi một chính phủ tự do nữa. Zangwill nói : “Ông không phải là nhà đạo đức giả, nhưng ông có thể chứng tỏ cho tôi thấy nhờ đâu mà người ta có thể nhận ra rằng cuộc cách mạng này không phải là một trò kịch”.

Tôi đề nghị ông đi cùng tôi vào buổi chiều đó để xem kỹ hơn cái mà tôi gọi là bộ máy nổi dậy phát xít. Những sơ mi đen đã chiếm bất ngờ tất cả những điểm chiến lược của thành phố và của tỉnh, nghĩa là những cơ quan sinh tử của tổ chức kỹ thuật, những nhà máy hơi đốt, những trung tâm điện lực, bưu điện, những trung tâm điện thoại và điện tín, những chiếc cầu, những ga xe lửa. Những nhà cầm quyền chính trị và quân sự đã bị bất ngờ sửng sốt bởi cuộc tấn công bất thần này. Sau vài lần kháng cự vô vọng để đuổi những phát xít khỏi ga xe lửa, nhà bưu điện và những trung tâm điện thoại, điện tín, cảnh sát rút lui về lâu đài Ricardi, nơi trú ngụ cổ xưa của Laurent de Magnifique, trụ sở của quận. Lâu đài Ricardi được bảo vệ bởi những phân đội cảnh vệ và ngự lâm quân cùng hai thiết giáp xa. Quận trưởng Pericoli không thể liên lạc với chính phủ La mã, với những nhà cầm quyền ở thành phố và ở tỉnh: Các đường dây điện thoại đã bị cắt và những họng trung liên bố trí trong những ngôi nhà chung quanh đe doạ mọi người đi tới Lâu đài Ricardi. Những đạo quân đồn trú, những trung đoàn bộ binh, pháo binh, kỵ binh, quân cảnh vệ và những ngự lâm quân đều bị cấm trại. Trong lúc này, những nhà cầm quyền quân sự theo chính sách trung lập. Nhưng đừng lạc quan về sự trung lập đó: Nếu tình hình không sáng sủa trong vòng 24 giờ, thì chắc dám hoàng tử Gonzague, chỉ huy quân đội, sẽ quyết định lập lại trật tự bằng mọi cách. Đối với cuộc cách mạng, một cuộc xung đột với quân đội có thể có những hậu quả cực kì trầm trọng. Florence, cùng với Pise và Bologne là chìa khoá giao thông giữa miền Bắc và Nam nước Ý. Để đảm bảo sự chuyển quân phát xít từ Bắc về Latium, bằng mọi giá phải giữ chìa khoá chiến lược của miền Trung Ý, trong khi chờ đợi quân đội phát xít trên đường tiến về thủ đô, ép buộc chính phủ trao quyền lại cho Mussolini. Muốn giữ Florence, chỉ có một phương tiện tranh thủ thời gian.

Bạo động không loại bỏ mưu kế. Theo lệnh đại tướng Balbo, một phân đội phát xít tiến tới Nazione, tờ nhật báo quan trọng nhất ở Toscane. Được đưa tới ông Borelli, giám đốc, hiện nay điều khiển tờ Corrire della Sera, phân đội trưởng yêu cầu ông cho in ngay một số đặc biệt loan báo rằng đại tướng Cittadini, quan hộ giá của nhà vua, đã tới Milan để thương thuyết với Mussolini và rằng sau đó Mussolini đã chấp nhận thành lập nội các mới. Tin này hẳn là sai; nhưng có vẻ thực: người ta biết rằng nhà vua đang ở dinh San Rossore gần Pise, nhưng dân chúng lại không biết rằng vua đã đi La mã chiều hôm đó, có đại tướng Cittadini tháp tùng. Hai giờ sau, hàng trăm cam nhông phát xít tung rải khắp Toscane những số báo Nazione đặc biệt trên. Những đoàn tuần hành thành hình: những người lính, những cảnh vệ cặp kè thân ái với sơ-mi đen, trong niềm hân hoan về một giải pháp chứng tỏ sự khôn ngoan và long yêu nước của nhà Vua cũng như của Mussolini. Chính hoàng tử Gonzague cũng tới Fascio để kiểm chứng tin tốt lành trên, tin tức sẽ chấm dứt cơn khủng hoảng ý thức và làm ông thoát được một trách nhiệm nặng nề. Bằng radio ông yêu cầu La mã xác nhận sự thoả hiệp giữa nhà vua và Mussolini nhưng ông nói: “Bộ trưởng chiến tranh từ chối mọi xác nhận”; ông đã trả lời rằng không nên trộn lộn tên nhà vua vào một cuộc tranh chấp đảng phái, rằng tin trên có lẽ là quá sớm. Theo kinh nghiệm, tôi biết rằng đối với chiến tranh, những tin chính xác luôn là quá sớm, hoàng tử Gonzague vừa mỉm cười vừa nói thêm như vậy.

***


Đại tướng Balbo vào buổi chiều đi tới Pérouse, tổng hành dinh của cách mạng. Tổng trấn Tamburini đã cùng binh đoàn của ông đáp xe lửa để liên kết với đội sơ-mi đen trong đồng bằng La mã. Tôi đến khách sạn lúc 2 giờ sáng nhằm chứng minh cho Zangwill thấy rằng cuộc cách mạng phát xít không phải là một trò kịch. Israël Zangwill đón tôi trong dáng vẻ thoả mãn. Ông cầm trong tay số báo Nazione đặc biệt; ông nói: “Hẳn bây giờ ông tin nhà vua đã thoả hiệp với Mussolini chứ? Chắc chắn một cuộc cách mạng hiến pháp sẽ chỉ là một trò dàn cảnh”. Tôi kể cho ông nghe câu chuyện cái tin sai trên, ông tỏ ra bối rối. Ông kêu lên: “Thế còn tự do báo chí?” Hiển nhiên là một ông vua lập hiến không thể nào thoả hiệp với những người cách mạng để huỷ bỏ tự do báo chí, đó chính là một trò kịch đã trở nên nghiêm trọng. Nhưng tự do báo chí chưa bao giờ đăng tải những tin tức sai lầm. Về điểm đó thì ông chẳng chống đối được, ông chỉ nói thêm rằng trong một xứ sở tự do như Anh quốc, không phải là những tin sai lầm đã tạo thành tự do báo chí.

Thành phố vắng tanh. Ở những góc phố, những lính tuần cảnh phát xít đứng im lìm trong mưa, mũ đen trùm tai. Trong Via de Pecori, một chiếc cam nhông đậu trước lối vào trung tâm điện thoại, một trong những chiếc có vũ trang trung liên và bọc sắt mà những đảng viên phát xít gọi là xe tăng. Trung tâm điện thoại bị chiếm đóng bởi những đạo quân xung kích của đội "Lys Rouge", họ đều mang trên ngực một hoa huệ đỏ. Cùng với "La Désespérée", đội này là một trong những đội dữ dội nhất của những binh đoàn ở Florence. Gần nhà ga Champ-de-Mars, chúng tôi gặp 5 xe cam-nhông chở đầy súng trường và trung liên mà những tổ phát xít của trại binh sau Giorgio đã giao cho vị tổng chỉ huy những binh đoàn phát xít. (Khắp nơi: trong những nhà máy, trong những trung đoàn, trong những nhà băng, trong những cơ sở hành chính công cộng đều có những tổ phát xít tạo thành mạng lưới bí mật của tổ chức cách mạng); súng trường và trung liên này được trao cho nhà hàng sơ mi đen ở Romagne vốn chỉ được võ trang dao găm và súng lục: người ta chờ đợi họ sắp đến bằng đường Faenza. Vị chỉ huy quân sự nhà ga nói với chúng tôi: Hình như ở Bologne và ở Crémone có những cuộc xung đột với lính cảnh vệ và bên phát xít có lẽ thiệt hại nặng". Những sơ-mi đen đã tấn công những trại binh cảnh vệ và gặp sức kháng cự mãnh liệt. Ở Pise, Lucques, Livourne, Sienne, Arezzo, Grosseto, tin tức tốt đẹp hơn: toàn thể tổ chức kỹ thuật của những thành phố này và tỉnh nằm trong tay quân phát xít. Israël Zangwill hỏi: “Có bao nhiêu người chết?”. Ông rất ngạc nhiên khi biết rằng ở Toscane không có những xung đột đẫm máu. Ông nói: "Như vậy có lẽ ở Bologne và ở Crémone cuộc cách mạng của quí ông tích cực hơn nhiều chăng. Cuộc nổi dậy Bôn-sê-vích hoàn thành gần như không có tổn thất vào tháng 10.1917 ở Pétrograd. Chỉ có chết chóc vài ngày sau khi Bôn-sê-vích nắm chính quyền, trong cuộc phản cách mạng khi mà những vệ binh đỏ của Trotzky phải ra tay đè bẹp cuộc nổi dậy của các junker, đẩy lui cuộc tấn công của quân cô-sắc của Kérenski và của tướng Krasnoff. Tôi nói: “Những xung đột đẫm máu ở Bologne và Crémone chứng tỏ rằng có vài khuyết điểm trong tổ chức cách mạng phát xít. Khi mà guồng máy nổi dậy chạy hoàn hảo như ở Toscane thì tai nạn rất hiếm”. Israël Zangwill không dằn nổi một nụ cười mỉa mai, ông nói: “Nhà vua là một chuyên viên cơ khí khéo léo: chính nhờ nhà vua mà guồng máy của quí ông mới chạy đều.”

Một chiếc xe lửa xịch đến giữa một đám hơi nước và giữa một cơn náo động tiếng nói, tiếng hát, tiếng trống. Một công nhân hoả xa vai mang cạc bin đi qua tôi: “Đó là quân phát xít ở Romagne”. Thoáng chốc chúng tôi bị đứng giữa một đám sơ-mi đen, vẻ mặt rạng rỡ và xốn xang, hình đầu lâu thêu trên ngực, nón sắt sơn đỏ, dao găm giắt trên những dây lưng da to bản. Mặt họ rám nắng, có những nét cứng của nông dân miền Romagne, chòm râu nhọn của họ làm cho khuôn mặt họ có một vẻ trân tráo, bạo tợn, đe doạ. Zangwill tỏ ra không bằng lòng mấy. Ông mỉm cười trang nhã và tìm cách mở một lối đi giữa đám đông ồn ào bằng những cử chỉ lịch thiệp khiến bọn người đeo dao găm nhìn ông ngạc nhiên. Ông than phiền nho nhỏ: “Họ không có vẻ dễ mến chút nào.” Tôi nói: “Tôi hy vọng rằng ông không mong muốn rằng những kẻ làm cách mạng là những kẻ dễ mến. Không phải bằng sự dịu dàng hay mưu chước mà Mussolini lao vào cuộc chiến đấu chính trị của ông từ 4 năm nay, mà chính là bạo lực: một trong những bạo lực cứng rắn nhất, khắc nghiệt nhất và khoa học nhất”. Cuộc phiêu lưu của Zangwill quả là phi thường, bị những sơ-mi đen cuồng nhiệt bắt giữ, được thả, rồi được dẫn đi trên xe hơi giữa đêm để hiểu tại sao cuộc cách mạng phát xít không phải là một trò kịch. Ông mỉm cười: “Tôi không nên có cái vẻ của Candide giữa đám tu sĩ Dòng tên". Đúng ra ông có cái vẻ của Candide giữa đám chiến sĩ hơn, nhưng có thể nào Candide ấy lại là một người Anh và tên là Israël? Những anh chàng nông dân vạm vỡ này, mắt dữ tợn, hàm vuông, bàn tay rộng được làm ra để mà đập đánh, nhìn Zangwill từ đầu đến chân bằng những tia mắt chăm chăm và khinh bỉ, ngạc nhiên và khó chịu về một người mặc áo cổ giả có những cử chỉ nhút nhát và lễ phép nhưng lại không có dáng vẻ của một viên cảnh sát hay một dân biểu tự do.

Chúng tôi trở lại xe hơi và trong khi xuyên qua những đường phố vắng vẻ, tôi nói với Israël Zangwill: “Sự khinh bỉ của ông đối với cuộc cách mạng phát xít mà ông coi như một trò kịch, quả là mâu thuẫn với sự thù ghét của ông đối với những sơ-mi đen, những người mà tư tưởng tự do của nước Anh hằng ngày chê trách là đã dùng bạo lực. Có thể nào những người cách mạng là những kẻ dùng bạo lực mà cuộc cách mạng lại là một trò kịch không? Tôi muốn nói cùng ông rằng những sơ-mi đen không phải chỉ là những người hung bạo mà là những kẻ không biết xót thương và tàn nhẫn”. Quả thực là đôi khi trên báo chí, những người phát xít chống lại luận điệu của địch thủ cho rằng họ là những kẻ hung bạo! Nhưng đó chỉ là một thứ đạo đức giả dùng cho những người tiểu tư sản. Hơn nữa chính Mussolini không phải là một người “ăn chay”, không phải là tín đồ khoa học thiên chúa giáo, cũng chẳng phải là đảng viên xã hội dân chủ. Giáo dục mác xít không cho phép ông có những thắc mắc lương tâm kiểu Tolstoi: ông không từng học những cung cách làm chính trị tốt đẹp ở Oxford và Nietzsche đã làm ông ta chán ngán thuyết lãng mạn và tình yêu nhân loại. Nếu Mussolini là một người tiểu tư sản có đôi mắt sáng, có giọng nói trong, chắc hẳn các đảng viên đã rời xa ông để chạy theo một lãnh tụ khác. Năm qua, việc đó đã xảy ra khi ông muốn ký một thoả hiệp ngưng chiến với địch thủ: trong đảng phát xít có những vụ nổi loạn, những phân ly, đa số sơ-mi đen tuyên bố tiếp tục cuộc nội chiến. Không nên quên rằng những sơ-mi đen thường xuất phát từ những đảng cực tả, nếu không phải là những cựu chiến sĩ, những thanh niên đầy nhiệt huyết. Cũng không nên quên rằng Thượng đế của những người võ trang này chỉ có thể là Thượng đế của bạo lực. Israël Zangwill nói vắn tắt: “Tôi không bao giờ quên điều đó”.


***

Khi chúng tôi trở lại Florence vào lúc rạng đông, Zangwill đã được thấy tận mắt quang cảnh thu gọn của cả nước Ý trong những ngày này: tôi đã đưa ông đi lướt qua vùng đồng quê Florence từ Emploi đến Mugello, từ Pistole tới San Giovanni Valdarno. Cầu, nhà ga, ngã tư đường, cầu treo, đập nước, vựa lúa, kho đạn, nhà máy hơi, trung tâm điện khí, tất cả mọi điểm chiến lược đều bị quân phát xít chiếm đóng. Bất thình lình từ trong bóng tối những lính tuần tiễu xuất hiện: "Ai đi đó". Cứ 200 mét dọc đường sắt lại có một sơ mi đen. Tại những ga Pistoie, Empoli, San Giovanni, Valdarno, những toán thợ đường rầy mang theo dụng cụ sẵn sàng cắt đường trong trường hợp cần kíp. Người ta đã dùng mọi biện pháp để bảo đảm hoặc để cắt đứt giao thông. Người ta chỉ sợ một sự tăng viện cảnh vệ và quân lính về phía Ombrie và Latium để tấn công vào lưng của những binh đoàn sơ mi đen đang đi về phía thủ đô. Một xe lửa đầy cảnh vệ, đến từ Bologne đã bị giữ lại gần Pistoie cách cây cầu danh tiếng Vaioni vài trăm mét: hai bên bắn nhau và xe lửa phải lùi lại không dám qua cầu. Những đụng độ nhỏ này xảy ra ở Serravall trên đường Lucques: những xe cam nhông chở đầy ngự lâm quân bị chặn lại dưới hỏa lực trung liên không tiến lên được đồng bằng Pistoie - Tôi nói với người bạn đồng hành: "Chắc hẳn ông đã đọc câu chuyện về trận chiến ở Serravale trong cuốn Cuộc đời của Castracane của Machiavel". Zangwill trả lời: Tôi không đọc Machievel. Trời đã sáng khi chúng tôi đi qua Prato, một thành phố nhỏ gần Florence, trung tâm kỹ nghệ vải có 25.000 công nhân trong 200 xưởng. Người ta gọi đó là Manchester của nước Ý, chính ở đó Frencesco tức Marco Datini đã sinh ra, kẻ hình như là người phát minh ra phiếu hối đoái. Trên quan điểm chính trị, thành phố đó có một tiếng tăm xấu: đó là thành phố của những cuộc đình công, những cuộc nổi dậy của thợ thuyền, quê hương của Bresci, người đã giết Humbert đệ nhất năm 1900, vị vua thứ hai của nước Ý. Dân cư của thành phố có tâm địa tốt nhưng thường hay nổi giận.

Đường phố nào cũng đầy công nhân đi làm việc. Họ có vẻ lãnh đạm, bước đi im lặng không ngó ngàng tới tuyên cáo của Hội đồng Cách mạng quân đội dán trên tường trong đêm. Tôi nói: "Có lẽ ông thích thú khi biết rằng chính Annunzio đã học ở trường Cicogini ở Prato". Zangwill trả lời: "Lúc này điều làm tôi quan tâm là biết được vai trò của thợ thuyền trong cuộc Cách mạng. Cái nguy hiểm cho các ông, không phải là chính phủ mà chính là cuộc đình công."

Vào cuối năm 1920, vấn đề mà đảng phát xít phải giải quyết không phải là cuộc đấu tranh chống chính phủ tự do hay chống đảng xã hội càng ngày càng có khuynh hướng đại nghị và trở thành một yếu tố rối loạn lớn lao trong sinh hoạt hiến pháp của xứ sở, mà đó chính là cuộc chiến đấu chống những nghiệp đoàn công nhân, lực lượng Cách mạng duy nhất có thể bảo vệ chính phủ tư sản khỏi rơi vào hiểm họa cộng sản hay phát xít.

Dù với nhiều dè dặt hơn, Giolitti đã hiểu rõ vai trò của những tổ chức thợ thuyền trong sự phòng thủ nhà nước tư sản mà Bauer đã biết khai dụng vào tháng 3-1920, chống lại cuộc đảo chính của Kapp. Những đảng phái chính trị chẳng thể làm gì chống lại đảng phát xít mà phương pháp chiến đấu (được sự bạo động của những vệ binh đỏ Cộng sản biện chính cho) không phải là một phương pháp chính trị. Hoạt động quốc hội của các đảng chính trị ấy nhằm đặt ra ngoài vòng pháp luật những lực lượng cách mạng không muốn tự "quốc hội hóa", hoặc "vào vòng pháp luật". (Các hoạt động đó không thể bắt buộc những đảng viên phát xít và cộng sản từ bỏ phương pháp bạo động. Chính phủ có thể làm gì để chống hành động cách mạng của những sơ mi đen và những vệ binh đỏ? Những đảng quần chúng (parti-masse), đảng xã hội và đảng thiên chúa giáo mà chế độ nghị hội đã giản lược vào vai trò của những đảng hợp pháp, chỉ có thể dùng để hợp pháp hóa trên bình diện hiến pháp một sự đàn áp của chính phủ. Nhưng cần phải có cái gì khác hơn là những biện pháp cảnh sát mới chấm dứt tình trạng hỗn loạn đang làm nước Ý đổ máu.

Thay vì dùng quân đội chống lại hành động cách mạng của phát xít và cộng sản. Giolitti thận trọng quyết định làm trung hòa cách mạng đó bằng cách dùng hành động nghiệp đoàn của những công nhân có tổ chức. Đó là phương pháp của Bauer đã áp dụng như phương pháp phòng ngừa chống lại hiểm họa cách mạng. Nhưng phương pháp đó Bauer đã áp dụng như một người mác xít, Giolitti lại áp dụng như một người tự do.

Chính như vậy mà những tổ chức nghiệp đoàn trở thành dụng cụ mà chính phủ có thể dùng để chống lại trong vòng bất hợp pháp, hành động bất hợp pháp của sơ mi đen và vệ binh đỏ. Trong tay của Giolitti, cuộc đình công trở thành một vũ khí nguy hiểm đối với phát xít và cộng sản cũng như từng nguy hiểm đối với chính phủ. Trước mắt người tư sản và chính cả thợ thuyền nữa thì cơn dịch đình công, đặc điểm của những năm 20 và 21, là một cơn bệnh của Nhà nước, là dấu hiệu báo trước cuộc cách mạng vô sản, một cơn khủng hoảng cần thiết mà giải pháp thiết yếu là cuộc nắm chính quyền của quần chúng. Cơn địch đó chính là triệu chứng một thay đổi sâu xa trong hoàn cảnh hiện diễn. Những cuộc đình công này được hướng dẫn không để chống lại nhà nước (như năm 1919), mà chống lại mọi lực lượng cách mạng muốn chiếm quyền từ bên ngoài, những tổ chức nghiệp đoàn của giai cấp vô sản hoặc chống lại các tổ chức này. Nguồn gốc sự chia rẽ từ lâu giữa những nghiệp đoàn thợ thuyền và đảng xã hội là vấn đề quyền tự trị của những tổ chức nghiệp đoàn. Những điều mà giai cấp vô sản phải bảo vệ chống lại những lực lượng cách mạng định chiếm quyền, không phải là quyền tự trị mà chính là sự hiện hữu của những tổ chức giai cấp của mình. Chính vì sự tự do của giai cấp mình mà những công nhân chống lại phát xít. Về thái độ của những nghiệp đoàn thợ thuyền đối với cộng sản, đó cũng là thái độ của những nghiệp đoàn Nga đối với đảng bôn sê vích trước cuộc đảo chính tháng 10-1917.

Nhưng quan niệm tự do của Giolitti trong khi ông áp dụng phương pháp mác xít của Bauer chỉ làm cho tình hình trầm trọng thêm. Chủ nghĩa tự do của Giolitti chỉ là chủ nghĩa lạc quan không khôn ngoan. Cay độc và khinh bỉ, là một thứ độc tài ở nghị viện quá khôn khéo để tin tưởng vào những ý tưởng và quá đầy thành kiến để tôn trọng người khác, Giolitti đi đến chỗ dung hòa thái độ cay độc và khinh thị với thái độ lạc quan, đến chỗ tạo ra những tình trạng mà ông có vẻ như không quan tâm đến, dùng những thủ đoạn bí mật để làm những tình trạng rối rắm thêm nhưng lại có vẻ như là để cho chúng tự chín muồi. Ông không tin tưởng chút nào vào Nhà nước: bí mật của đường lối chính trị của ông là coi thường Nhà nước. Áp dụng phương pháp mác xít của Bauer trong chiều hướng tự do của ông là thay thế hành động đàn áp của chính phủ bằng hành động cách mạng của các tổ chức nghiệp đoàn, như thế tức là giao cho những tổ chức này vai trò bảo vệ nhà nước Tư sản chống lại phát xít và cộng sản, và do đó ông tự do thi hành chính sách "quốc hội hoá" giới vô sản, nghĩa là chính sách làm ung vữa vô sản vậy.

Vào cuối năm 1959, những biến cố đã tạo ra ở Ý đại lợi một tình trạng vô song trong lịch sử những đấu tranh chính trị của Âu châu đương thời. D'Annunzio đã xâm chiếm Fiume và đe dọa bất cứ lúc nào tràn vào nước Ý để chiếm quyền với binh sĩ của ông. Ông có vài thân hữu trong giới công nhân: người ta biết những tương quan giữa Liên đoàn công nhân Hàng hải và chính phủ Fiume. Những lãnh tụ nghiệp đoàn không coi Annunzio như một kẻ thù mà như một con người nguy hiểm có thể đưa quốc gia vào vòng phức tạp quốc tế. Dù sao người ta không coi ông là đồng minh phát xít mặc dù ông có ghen tị với Mussolini và với vai trò của tổ chức cách mạng trong nội bộ Ý đại lợi. Sự kình địch giữa Annunzio và Mussolini không phải là một con bài xấu trong ván cờ của Giolitti, ván cờ mà ông ta chơi ngay thẳng trên những con bài xấu nhưng chơi gian lận với các con bài tốt. Còn về phía cộng sản thì họ kẹt giữa đám lửa giao phong giữa phát xít và chính phủ nên mất hết ảnh hưởng với công nhân. Phương pháp khủng bố ác độc và dại dột, sự hoàn toàn không am hiểu vấn đề cách mạng Ý đại lợi, sự cố chấp dùng những chiến thuật khủng bố lẻ tẻ, những cuộc nổi loạn trong trại binh và xưởng máy, cái chiến thuật kiệt quệ trong một cuộc chiến tranh ngoài phố xẩy ra, tất cả những điều đó làm cho đảng cộng sản chỉ còn giữ một vai trò thứ yếu trong cuộc đấu tranh nắm quyền; họ chỉ là những người anh hùng táo bạo và ác độc thuộc một loại bất mãn không tưởng và nổi loạn. Bao nhiêu cơ hội đã mất đi, bao nhiêu lần bỏ lỡ suốt một năm 1919, một năm đỏ, trong đó một cỡ Trotzky nhỏ nào đó, một Catilina cấp tỉnh, với chút xíu thiện chí, với một dúm người và vài tiếng súng lẹt đẹt lẽ ra đã chiếm được chính quyền mà không làm cho nhà vua, cho chính phủ và lịch sử Ý quốc phải quá bực tức. Trong những lúc rảnh rỗi ở điện Cẩm linh, cái chủ nghĩa bất mãn không tưởng và nổi loạn của những người Cộng sản Ý là đề tài đàm tiếu thích thú. Vui tính và khôn ngoan, Lénine cười chảy nước mắt về những tin tức từ Ý. "Khà khà! Cộng sản Ý đại lợi à?" Ông ta vui thích như một đứa trẻ con khi đọc những thông điệp mà d'Annunzio gửi cho ông từ Fiume.

Vấn đề Fiume càng ngày trở nên một vấn đề chính trị quốc ngoại. Nhà nước do d'Annunzio thành lập tháng 9.1919 đã chạy ngược dòng thế kỷ trong vài tháng. Trong ý hướng của d'Annunzio, nhà nước ấy sẽ là nhân đầu tiên của một tổ chức cách mạng hùng mạnh, là khởi điểm của quân đội nổi dậy để tiến chiếm La mã. Nhưng vào cuối năm 1920, Nhà nước ấy chỉ còn là một thứ đấu tranh nội bộ, bị ung thối bởi tham vọng, nếp sống xa hoa và lời nói văn hoa của một ông hoàng quá hùng biện để có thể theo những lời khuyên của Machiavel. Nhược điểm của Lãnh địa này không phải chỉ nằm trong sự kiện là hiện hữu của nó là một vấn đề chính trị ngoại vi hơn là nội bộ. Sự chinh phục Fiume không phải là một cuộc đảo chính, nó đã không thay đổi được hoàn cảnh chính trị nội bộ của nước Ý; nó đã ngăn cản sự áp dụng một quyết định quốc tế nhằm giải quyết vấn đề Fiume bằng một giải pháp trái ngược với quyền tự quyết của các dân tộc. Đó là giá trị to lớn của d'Annunzio và đồng thời cũng là nhược điểm to lớn của ông trong hoàn cảnh cách mạng của nước Ý. Do sự thành lập nhà nước ở Fiume, ông trở thành một yếu tố nền tảng của nền chính trị quốc ngoại nước Ý; nhưng như vậy là ông tự loại khỏi chính trường nội bộ, nơi ông chỉ còn có một ảnh hưởng gián tiếp. Vai trò mà d'Annunzio gán cho quân đội của ông đã chuyển qua đoàn sơ mi đen một cách hữu lý. Trong khi ông quanh quẩn ở Fiume, cai trị một Lãnh địa độc lập, có thể chế riêng, tài chính riêng, sứ thần riêng, thì Mussolini trải rộng hơn tổ chức cách mạng của mình trên khắp nước Ý. Bấy giờ người ta thường nói rằng d'Annunzio chỉ là một tượng trưng, một Jupiter quốc gia, vấn đề Fiume chỉ là một luận cứ mà Mussolini sử dụng để chống lại chính phủ về chính sách ngoại giao.

Nhưng sự hiện hữu của chính quyền Fiume, trong một thời gian nào đó loại khỏi đấu trường cách mạng một địch thủ nguy hiểm, đối với Mussolini vẫn là một nguyên nhân bất an: sự kình địch giữa d'Annunzio và ông không phải là không ảnh hưởng tới đồng chí của ông. Những người đến với ông từ phe hữu là những người có quá nhiều thiện cảm với d'Annunzio: những người từ phe tả, đảng viên Cộng hòa, Xã hội, Cộng sản, tạo thành cái nhân chính của những toán xung kích phát xít lại không che dấu mối ác cảm của họ đối với cái thoái trào về thế kỷ thứ 15 của d'Annunzio. Sự kình địch này, chính là con bài mà Giolitti đã sử dụng nhiều lần một cách vô hiệu quả để lừa ván cờ. Ông muốn gây một tranh chấp công khai giữa d'Annunzio và Mussolini nhưng ông cũng sớm hiểu rằng dừng lâu trên một ván bài vô ích là điều nguy hiểm. Bị thúc bách giải quyết chóng vánh vấn đề Fiume, ông quyết định dùng quân đội tiến đánh Lãnh địa của d'Annunzio, và đêm trước lễ Giáng sinh 1920, ông lợi dụng trường hợp thuận tiện tung vài trung đoàn tấn công Fiume.

***


Trả lời cho tiếng kêu la đau đớn của quân sĩ của d'Annunzio là tiếng kêu la phản kháng của toàn nước Ý. Đảng phát xít chưa sẵn sàng cho một cuộc tổng khởi nghĩa. Cuộc đấu tranh báo hiệu sẽ là rất gay gắt: những lá cờ đen, cờ đỏ của cuộc nội chiến đã tung bay khắp miền quê, phố thị, trong gió đông lạnh đầy điềm bất thường. Mussolini không những phải trả thù cho những người chết ở Fiume; ông phải phòng thủ chống lại những lực lượng phản động đe dọa chôn vùi đảng phát xít dưới tro tàn của Nhà nước d'Annunzio. Phản ứng của chính phủ và của các tổ chức thợ thuyền đã biểu lộ bằng những cuộc ruồng bố của cảnh sát và những cuộc xung đột đẫm máu do thợ thuyền chủ xướng. Giolitti muốn lợi dụng cơn khủng hoảng nội bộ đang xâu xé của đảng phát xít và lợi dụng sự rối loạn tạo ra trong hàng ngũ của đảng bởi đêm Giáng sinh thê thảm ở Fiume, để đặt Mussolini ra ngoài vòng pháp luật. Những lãnh tụ nghiệp đoàn hướng dẫn cuộc tranh đấu bằng những vụ đình công lớn. Nhiều thành phố, tỉnh lỵ, nhiều vùng bất ngờ bị tê liệt bởi cuộc xung đột vừa nổ ra trong một thị trấn nhỏ nào đó. Ngay từ những tiếng súng nhỏ đầu tiên, cuộc đình công bắt đầu; sau hồi còi thảm thiết, các nhà máy trống không, nhà nhà đóng cửa, lưu thông ngừng lại, phố xá vắng tanh mang vẻ thê thảm của cái cầu tàu của một thiết giáp hạm sắp lâm trận.

Thợ thuyền trong các nhà máy trang bị để chiến đấu; vũ khí hiện ra khắp nơi; dưới những bàn tiệc, sau những máy dệt, những bình điện hay những máy sup de: người ta thấy súng đạn nằm dưới những đống than. Những người đàn ông mặt bóng dầu, cử chỉ trầm tĩnh, lướt đi giữa những guồng máy im lìm, những pít tông, búa máy, đe, cần trục, trèo lên những chòi tháp, trên những cầu lăn, trên những mái nhà nhọn có kiếng: họ đang biến mỗi nhà máy thành một pháo đài... Những lá cờ đỏ mọc trên những ống khói lò. Trong các sân, thợ thuyền tụ tập: họ chia thành đại đội, trung đội, tiểu đội. Những toán trưởng đeo băng tay đỏ ban lệnh, những toán tuần tiễu đi thám sát; khi họ trở về thì thợ thuyền rời nhà máy, bước đi im lặng, sát những bờ tường, tiến về những điểm chiến lược của thành phố. Từ khắp nơi tiến về những Trụ sở Lao động, những toán người được huấn luyện theo chiến thuật chiến tranh đường phố để bảo vệ những trụ sở của nghiệp đoàn chống lại cuộc tấn công bất ngờ của sơ mi đen. Những ổ trung liên được đặt ở khắp lối ra vào, ở khúc quẹo của những cầu thang, ở cuối những hành lang và trên những mái nhà. Lựu đạn chất đống trong những bàn giấy gần các cửa sổ. Những cơ khí viên tháo rời đầu máy, để các toa lại giữa cánh đồng, chạy hết tốc lực về các ga. Trong những làng mạc, xe cộ được đặt ngang đường để cản quân tiếp viện của sơ mi đen đi từ thành phố này qua thành phố kia. Nằm phục sau những hàng dậu, những nông dân vệ binh đỏ, võ trang súng săn, chĩa cuốc, hái, rình rập những xe cam nhông phát xít. Những tiếng súng đã nổ dọc theo các con đường và những thiết lộ từ làng này qua làng kia cho đến tận khu ngoại ô của những thành phố rợp cờ đỏ. Khi những hồi còi đình công nổi lên, những cảnh vệ, những ngự lâm quân, cảnh sát rút lui vào doanh trại; Giolitti quá giữ lập trường tự do để nhào vào một cuộc đấu tranh do những công nhân điều động thừa khéo léo để chống lại những kẻ thù của nhà nước.

Trong cái trống rỗng đầy đe dọa mà cuộc đình công tạo ra chung quanh họ, những toán phát xít chuyên về chiến tranh đường phố trấn đóng tại những ngã tư, những trung đội được huấn luyện phòng thủ và tấn công các ngôi nhà sẵn sàng đi tăng cường những điểm yếu, đi bảo vệ những vị trí bị đe dọa, đi đánh chớp nhoáng giữa lòng địch thủ. Những toán xung kích phát xít được huấn luyện về chiến thuật xâm nhập, về lối đánh thần tốc, về cá nhân chiến đấu, vũ trang dao găm lựu đạn, vật dẫn hỏa, đang chờ đợi gần những cam nhông sẽ chở họ đến chiến trường. Chính những toán xung kích này được sử dụng trong công tác trả thù. Trả thù là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong chiến thuật của sơ mi đen. Ngay khi người ta phát giác có một người phát xít nào bị giết trong một vùng ngoại thành hay trong một làng là toán xung kích được phái đến trả thù liền. Những Trụ sở Lao động, những hội quán thợ thuyền, những nơi cư trú của các lãnh tụ những tổ chức xã hội bị tấn công tức thì, bị tàn phá và bị đốt rụi. Lúc đầu, khi chiến thuật đột kích trả thù còn mới mẻ thì những vệ binh đỏ còn chống trả bằng súng và một cuộc đấu tranh tàn sát diễn ra chung quanh những trụ sở Lao động, những hội quán thợ thuyền, trên những đường phố ngoại thành và làng mạc. Nhưng chiến thuật này chẳng bao lâu đã có hiệu quả. Sự sợ hãi những trả thù đã làm giao động tinh thần chiến đấu của vệ binh đỏ, làm họ mất can đảm chống cự, làm nao núng sức đề kháng của những tổ chức công nhân. Khi sơ mi đen tiến đến là những vệ binh đỏ, những lãnh tụ xã hội, những thư ký các nghiệp đoàn, những lãnh tụ đình công đều chạy trốn về các đồng quê, trốn trong các khu rừng. Cuộc săn người không còi, không tiếng la ó diễn ra đến rạng đông, dữ dội và tàn nhẫn. Đôi khi chính dân cư của một làng nào có một phát xít bị giết phải chạy trốn, khi toán xung kích đến thì nhà cửa trống trơn, đường vắng tanh, chỉ thấy một xác sơ mi đen nằm trên hè phố.

Đối đầu với chiến thuật phát xít, nhanh, mạnh, những lãnh tụ nghiệp đoàn chỉ đề ra một sự đối kháng mà họ gọi là kháng chiến không vũ trang. Dù họ chính thức trách nhiệm về các cuộc đình công, họ không biết kích thích tinh thần chiến đấu của thợ thuyền. Họ ra vẻ không biết rằng có súng đạn và lựu đạn trong những trụ sở Lao động và trong mọi hội quán thợ thuyền; tuy nhiên trong ý hướng, họ không cho rằng cuộc đình công là một biểu lộ ôn hòa, mà phải là một hành vi chiến tranh, điều kiện cần thiết để áp dụng chiến thuật chiến tranh đường phố của thợ thuyền. Họ nói: Cuộc đình công chính là cuộc trả thù của chúng tôi: đó là một sự kháng cự tay không chống lại dùi cui và dao găm của phát xít. Nhưng họ cũng biết rõ ràng thợ thuyền đã lấy vũ khí từ những Trụ sở Lao động. Chính cái không khí nặng nề sôi sục của cuộc đình công thúc đẩy người thợ lao vào cuộc đấu tranh vũ trang. Cái ý định để cho những nạn nhân vô tội không vũ trang của cơn bạo động phát xít mang cái vẻ của những con cừu non đỏ bị những con sói đen hút máu, ý định đó cũng lố bịch như ý nghĩ kiểu Tolstoi của một vài đảng viên phát xít gốc tự do không muốn chấp nhận cho những đảng viên Mussolini nổ một phát súng, đánh một cú dùi cui hay bắt uống một giọt dầu xổ. Cái đạo đức giả của những lãnh tụ thợ thuyền không ngăn cản đuợc cái chết của những sơ mi đen. Không nên tin rằng quân phát xít không biết tới những lúc nguy khiếp trầm trọng. Các khu phố, làng mạc, các vùng đôi khi cầm vũ khí chống lại họ; cuộc tổng đình công là dấu hiệu nổi dậy. Sơ mi đen bị tấn công trong nhà họ, những chướng ngại vật giăng ngoài phố, những đoàn thợ thuyền và nông dân vũ trang súng và lựu đạn, chiếm đóng làng mạc, tiến vào các thành phố và săn đuổi phát xít. Cuộc thảm sát ở Sarzana đủ để chứng tỏ rằng thợ thuyền không đạo đức giả như lãnh tụ của họ. Vào tháng 7-1921 ở Suzana, khoảng 50 sơ mi đen bị giết, những người bị thương bị cắt cổ trên băng ca ở ngưỡng cửa nhà thương; hàng trăm người khác chạy trốn về miền quê bị đàn bà mang chĩa, hái, đuổi qua những cánh rừng. Thời kỳ nội chiến ở Ý sửa soạn cho cuộc đảo chính phát xít, là thời kỳ đầy bạo động dữ dội như trên.

Để thắng những cuộc đình công cách mạng và những cuộc nổi dậy của thợ thuyền và nông dân càng ngày lan rộng trầm trọng đến độ làm tê liệt các vùng, quân phát xít dùng chiến thuật chiếm đóng toàn bộ những vùng bị đe dọa. Từ ngày này qua ngày khác, sơ mi đen tập trung trong những trung tâm được chỉ định theo một kế hoạch điều động. Hàng ngàn người võ trang, đôi khi mười lăm hay hai mươi ngàn, đổ xuống một thành phố, một vùng quê, các làng mạc, được di chuyển nhanh chóng từ tỉnh này qua tỉnh khác bằng cam nhông của họ. Trong vòng vài giờ, cả vùng bị chiếm đóng được đặt trong tình trạng thiết quân luật. Tất cả cái gì thuộc tổ chức xã hội và Cộng sản: Trụ sở Lao động, Nghiệp đoàn, hội quán thợ thuyền, báo chí, hợp tác xã bị thiêu hủy và đập phá một cách có phương pháp. Những vệ binh đỏ chưa kịp trốn được thanh lọc, chà xát và tẩy não; trong hai ba ngày, những chiếc dùi cui vùng vẫy trên hàng trăm cây số vuông. Cuối năm 1921, chiến thuật này, được áp dụng một cách có hệ thống trên một mức độ càng ngày càng rộng lớn, đã đập tan những trọng điểm của tổ chức chính trị và nghiệp đoàn của giới vô sản. Hiểm họa đỏ thế là bị gạt ra xa mãi mãi, và công dân Mussolini đã rất xứng danh phụng sự tổ quốc. Lớp trưởng giả nghĩ rằng khi sứ mạng hoàn tất, những sơ mi đen có thể yên ngủ. Nhưng chẳng bao lâu họ mới hiểu rằng chiến thắng của phát xít trên thợ thuyền cũng đã đập tan những trọng điểm của Nhà nước.

Chiến thuật mà Mussolini dùng để chiếm quyền chỉ có thể được quan niệm bởi một người Mác-xít. Không bao giờ nên quên rằng Mussolini được hấp thụ một nền giáo dục Mác-xít. Điều làm cho Lenine và Trotzky ngạc nhiên trong hoàn cảnh cách mạng Ý đại lợi, chính là sự bất lực của đảng Cộng sản Ý không lợi dụng được một sự gặp gỡ kỳ lạ của mọi trường hợp thuận lợi. Những cuộc tổng đình công năm 1919 và 1920, sự chiếm đóng các cơ xưởng Bắc Ý bởi những thợ thuyền đánh dấu giai đoạn quyết định, đã không làm nảy sinh ra được một lãnh tụ nào có thể lãnh đạo một nhóm nhỏ người (cướp?) chính quyền. Với hậu thuẫn là tổng đình công, bất cứ một Trotzky cỡ nhỏ nào cũng có thể chiếm chính quyền không cần xin phép nhà vua.

Mussolini, vốn phán đoán tình hình bằng con mắt Mác-xít, không tin tưởng vào những cơ hội thành công của cuộc nổi dậy phải chống cự với cả lực lượng của chính phủ lẫn của giới vô sản. Lòng khinh bỉ của ông đối với những lãnh tụ xã hội và cộng sản làm ông khinh lây cả những người như d’Annunzio cho rằng có thể lật đổ chính phủ mà không cần liên minh hay trung lập hóa các tổ chức thợ thuyền.

Mussolini không phải là người dễ vấp ngã vì một cuộc tổng đình công. Ông không đánh giá thấp vai trò của giới vô sản trong cuộc cách mạng. Cảm quan mới của ông, sự am hiểu theo quan điểm Mác-xít của ông về những vấn đề chính trị và xã hội trong thời đại chúng ta, không để cho ông có ảo tưởng về sự có thể hoàn thành được chủ nghĩa của Blanqui kiểu quốc gia vào năm 1920.

Không nên quan niệm chiến thuật đảo chánh của phát xít là một chiến thuật của kẻ phản động. Mussolini chẳng có một chút gì giống một d’Annunzio, một Kapp, một Primo de Rivera hay một Hitler. Chính như một người mác xít mà ông định giá những lực lượng vô sản và vai trò của chúng trong hoàn cảnh cách mạng 1920, chính như một người mác xít mà ông đi đến kết luận là trước tiên phải đập vỡ những nghiệp đoàn thợ thuyền, hậu thuẫn có thể của chính phủ. Ông sợ cuộc tổng đình công: ông không quên bài học của Kapp và Bauer. Khi muốn minh chứng rằng Mussolini không phải là kẻ phản động, những sử gia chính thức của phong trào phát xít nhắc lại chương trình của đảng năm 1919. Thực ra chương trình năm 1919 là một chương trình cộng hòa và dân chủ, mà đa số sơ mi đen từng thành khẩn tin tưởng, và đoàn vệ binh phát xít già nua hiện vẫn còn trung thành. Nhưng không phải chương trình 1919 bộc lộ nền giáo dục mác-xít của Mussolini, mà chính là quan niệm về chiến thuật đảo chính của phát xít, là luận lý, phương pháp, tinh thần hệ thống mà ông dùng để áp dụng chiến thuật đó. Về sau, khi bàn về Hitler, ta sẽ thấy một chiến thuật quan niệm bởi một người mác-xít có thể thoái hóa như thế nào trong đầu óc một kẻ phản động.

Những người thích nhìn phong trào phát-xít như một lực lượng bảo vệ Nhà nước chống lại hiểm họa cộng sản, như một phản ứng đơn thuần chống lại những chinh phục chính trị và xã hội của giai cấp vô sản, cho rằng vào giữa năm 1921 Mussolini đã kết toán công việc, rằng vai trò của ông đã hoàn tất. Bằng những nhận định khác hẳn, Giolitti cũng đi đến cùng một kết luận ấy từ tháng 3-1921 sau khi những cuộc tổng đình công thất bại đã cho thấy cường lực nguy hiểm của phát-xít. Cuộc nội chiến đã đạt đến mức độ bạo động khủng khiếp, cả hai phía đều tổn thất nặng nề; nhưng những cuộc đấu tranh đẫm máu này, được đánh dấu bằng những giai đoạn vô song trong những năm tháng đỏ, đã chấm dứt bằng sự thất bại của những lực lượng vô sản. Dùng con bài “nghiệp đoàn” chống lại phát-xít, Giolitti đã vấp ngã bất ngờ trước sự tan rã của các tổ chức thợ thuyền: đảng phát-xít ra khỏi trận chiến với một tinh thần gây hấn bừng bừng quyết liệt và được vũ trang một cách kinh khiếp cho cuộc đấu tranh chống Nhà nước. Giolitti có thể dùng lực lượng nào chống đối lại đảng phát-xít? Vai trò bảo vệ nhà nước của nghiệp đoàn đã chấm dứt. Những đảng phái chính trị chiếm đa số ở quốc hội cũng bất lực trước một tổ chức kinh khủng có võ trang tung hoành trên lãnh vực bạo động và hợp pháp. Ông không còn một phương sách nào kháng cự hơn là mưu toan “quốc hội hóa” đảng phát-xít. Chiến thuật cũ kỹ của kẻ tự do này trong vòng 30 năm trước đã cho nước Ý bài học kinh nghiệm về sự độc tài nghị viện phục vụ cho một chế độ quân chủ vốn không có những tiên kiến hiến pháp. Mussolini, mà chương trình chính trị không cản trở được chiến thuật cách mạng của ông, đã không để mình mắc vào bẫy của phe tả. Vào dịp những cuộc bầu cử chính trị tháng 5-1921, đảng phát xít chấp nhận tham dự vào Khối Quốc gia do Giolitti tạo lập nhằm làm giảm uy tín và làm ung thối quân sơ-mi đen bằng cuộc phổ thông đầu phiếu.

Khối Quốc gia được thành hình với nhiều khó khăn lớn. Những đảng phái pháp định không chịu cùng đứng với một tổ chức võ trang vốn không che dấu chương trình cộng hòa của mình. Nhưng điều làm Giolitti bận tâm không phải là cái chương trình cộng hòa và dân chủ của năm 1919, mà chính là mục đích của chiến thuật phát xít. Chiếm chính quyền, đó là mục đích của Mussolini. Phải chấp nhận chương trình của Mussolini trên lĩnh vực bầu cử, nếu người ta muốn cho đảng phát-xít đi lệch khỏi mục đích của chiến thuật cách mạng của nó. Chỉ chơi bài rất đúng với những con bài xấu, Giolitti không may mắn gì hơn khi ông thua ván bài trong khi sử dụng lòng ghen tuông của d’Annunzio đối với Mussolini. Không để cho bị “quốc hội hóa”, đảng phát-xít vẫn trung thành với chiến thuật của mình. Trong khi độ 20 dân biểu phát xít làm phân tán nhóm đa số của khối Quốc gia, thì những sơ mi đen quay lại chống những nghiệp đoàn cộng hòa và Ki-tô giáo bằng cùng thứ bạo động mà họ đã dùng đối với những nghiệp đoàn xã hội. Để sửa soạn cho cuộc nổi dậy cướp chính quyền, điều cần thiết là quét sạch mọi lực lượng có tổ chức (dù tả, hữu hay trung lập) có thể làm hậu thuẫn cho chính phủ hoặc làm cản trở đảng phát-xít vào thời độ quyết định của cuộc nổi dậy và cắt đứt những mấu chốt vào thời điểm quyết định của cuộc đảo chánh. Không những phải phòng ngừa cuộc tổng đình công, mà còn đề phòng cả mặt trận hợp nhất của chính phủ, Quốc hội và giới vô sản. Đảng phát-xít cần phải tạo một khoảng trống chung quanh mình, phải quét tan bất cứ lực lượng có tổ chức nào: chính trị, hay nghiệp đoàn, vô sản hay tư sản, các nghiệp đoàn, hợp tác xã, hội thợ thuyền, Trụ sở Lao động, báo chí, các đảng phái chính trị. Trong sự ngạc nhiên của giới tư sản phản động và tự do vốn cho rằng vai trò của phát-xít đã chấm dứt, và trong sự vui sướng của thợ thuyền và nông dân, sau khi đã dùng bạo động giải tán những tổ chức cộng hòa và thiên chúa giáo, những sơ mi đen khởi công chống những người tự do, dân chủ, tam điểm, bảo thủ và mọi người tư sản trí thức. Cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản được những đảng viên phát-xít ủng hộ hơn nhiều so với cuộc đấu tranh chống giai cấp vô sản. Những toán xung kích gồm phần lớn thợ thuyền, tiểu công nghệ gia và nông dân. Và hơn nữa, đấu tranh chống với giới tư sản cũng đã là chống chính phủ, chống Nhà Nước. Cảnh những người tự do, dân chủ, bảo thủ này khi kêu gọi phát-xít tham dự khối Quốc gia vội vàng đặt Mussolini vào điện Pathéon của những “cứu tinh của tổ quốc” (từ 50 năm nay nước Ý đầy rẫy “những cứu tinh của tổ quốc”: cái gì trước hết là một sứ mệnh đều trở nên một nghề nghiệp chính thức hay gần như vậy; người ta có thể chờ đợi mọi điều ở một nước đã được cứu quá nhiều lần), chính những người đó không muốn chịu hiểu rằng mục đích của Mussolini không phải là cứu vớt nước Ý theo truyền thống chính thức, mà là chiếm chính quyền: chương trình thành thật hơn chương trình năm 1919 nhiều. Nhưng bây giờ đối với giai cấp tư sản và cách mạng, không có gì kém hợp pháp, khó được chấp nhận hơn cái bạo lực phát-xít đã từng được hoan nghênh nhiệt liệt khi nó được dùng để chống lại những tổ chức vô sản. Ai tin được rằng Mussolini, con người yêu nước khi lãnh đạo đấu tranh chống cộng sản, xã hội, cộng hòa, lại ngày một ngày hai trở thành một con người nguy hiểm, một kẻ tham vọng không có tiên kiến tư sản, một tay bạo động quả quyết chiếm chính quyền chống cả Nhà vua lẫn Quốc hội?

Nếu đảng phát-xít trở thành mối nguy hại cho Nhà nước, thì đó là lỗi của Giolitti. Lẽ ra phải bóp nghẹt nó đúng lúc, đặt nó ra ngoài vòng pháp luật ngay từ đầu, đè bẹp nó bằng vũ khí như người ta đã đè bẹp d’Annunzio. Cái thứ “bôn-sê-vich quốc gia” này còn nguy hiểm nhiều so với hơn bôn-sê-vich kiểu Nga, mà giai cấp tư sản có thể khẳng định được là họ không e sợ. Chính phủ Bonomi có thể sửa chữa những sai lầm của chính phủ Giolitti không? Đối với Bonomi, cựu đảng viên xã hội, vấn đề phát-xít chỉ là vấn đề cảnh sát. Giữa con người mát-xít này, người định dùng phản ứng cảnh sát bóp nghẹt phát-xít trước khi đảng chiếm chính quyền, và Mussolini, người muốn cướp thời gian, có một đấu tranh một mất một còn vào những tháng cuối cùng của năm 1921, được đánh dấu bằng những cuộc hành hình, những bạo động, những xung đột đẫm máu. Mặc dù Bonomi chống lại sơ mi đen bằng cách thành lập mặt trận hợp nhất tư sản và vô sản (được chính phủ nâng đỡ, thợ thuyền cố gắng tái lập những tổ chức giai cấp của họ), chiến thuật của Mussolini vẫn tiếp tục phát triển có hệ thống. Sau sự thất bại của cuộc ngưng chiến giữa phát-xít và xã hội, sự thiếu can đảm và thiếu sáng suốt của những đảng tư sản, lòng ích kỷ hẹp hòi của họ mong chống lại bạo lực của sơ mi đen bằng một thứ chủ nghĩa Machiavel thô kệch, hùng biện và yêu nước, tất cả điều đó đã làm công nhân mất tinh thần. Năm 1922 mở đầu một bức toàn cảnh buồn thảm và u ám: đảng phát-xít, bạo động và có phương pháp, dần dần xâm chiếm tất cả những đường gân chủ yếu của xứ sở; tổ chức chính trị, nghiệp đoàn của nó giăng phủ khắp nước Ý. Bản đồ của bán đảo, đầy thành phố, làng mạc với những người xốn xang, hăng hái và ưa gây rối, được vẽ như một bức vẽ xâm mình trong bàn tay phải của Mussolini. Bonomi đã ngã quị trong một đám vụn vôi gạch, dưới những tàn tích của thế giới chính trị và nghiệp đoàn. Nhà nước bị đảng phát-xít đã chiếm đóng toàn xứ sở vây hãm, nằm trong tay những sơ mi đen. Uy quyền của Nhà nước chỉ thoi thóp trong vài trăm đảo nhỏ là quận xã, trại cảnh sát rải rác khắp nước Ý, giữa ngọn triều cách mạng. Giữa nhà Vua và chính phủ nhen nhúm lên sự sợ hãi những trách nhiệm, hố phân cách càng rộng. Mưu mẹo cũ kỹ của những chính phủ hiến định: Nhà vua dựa vào quân đội và Thượng viện, Chính phủ dựa vào cảnh sát và Quốc hội. Điều đó cũng không khỏi khơi dậy lên lòng nghi kỵ của giai cấp tư sản tự do và của công nhân.

***

Khi Mussolini (8.1922) loan báo cho toàn quốc biết là đảng phát-xít đã sẵn sàng chiếm chính quyền, thì chính phủ, trong một nỗ lực cùng cực, cố gắng đề phòng cuộc nổi dậy và cố gắng bẻ gãy vòng vây của phát-xít bằng một cuộc nổi loạn của thợ thuyền và nông dân. Cuộc tổng đình công bùng nổ vào tháng 8 theo lệnh của một thứ Ủy ban Cứu nguy Dân tộc qui tụ những đảng dân chủ, xã hội, cộng hòa và Tổng Liên đoàn lao công. Người ta gọi đó là cuộc “đình công hợp pháp”, trận chiến cuối cùng chống sơ mi đen của những người bảo vệ tự do, dân chủ, luật pháp và Nhà nước. Sau rốt, Mussolini đã đi đến chỗ có thể đập tan địch thủ nguy hiểm nhất, đáng sợ nhất cho cuộc đảo chánh phát-xít, là cuộc tổng đình công từ ba năm nay vẫn đe dọa từng giây phút đập vỡ những trọng điểm của Cách mạng, cuộc đình công phản Cách mạng mà ông đã chiến đấu từ 3 năm trời chống lại một cách có hệ thống, bằng cách chống những tổ chức nghiệp đoàn của giai cấp vô sản. Khi chống lại phát xít bằng cách phát động cuộc phản cách mạng của công nhân, chính phủ và giai cấp tư sản tự do phản động tính bẻ gãy đà nổi dậy của sơ mi đen, do đó tránh cho Nhà nước trong một thời gian nào đó khỏi bị hiểm họa của cuộc Cách mạng. Nhưng cùng lúc mà những toán phát-xít gồm kỹ thuật gia và thợ chuyên môn thay thế những người đình công trong những dịch vụ công cộng, thì cuộc bạo động khủng khiếp của sơ mi đen trong vòng 24 giờ đã đè bẹp đạo quân bảo vệ Nhà nước qui tụ dưới lá cờ đỏ của Tổng liên đoàn Lao công Không phải vào tháng 10 mà vào tháng 8 đảng phát-xít đã nắm được chiến thắng quyết định cho cuộc chinh phục Nhà nước. Sau sự thất bại của “cuộc đình công hợp pháp”, Facta - con người nhu nhược, lương thuận và trung thành – chỉ còn ngồi ở địa vị mình để bao bọc cho nhà Vua mà thôi.

Dù rằng chương trình phát-xít 1919 là chương trình cộng hòa mà những sơ mi đen của đội vệ binh cũ vẫn tin tưởng thành khẩn, nhà Vua không còn cần tới thái độ trung thành của Facta nữa: vào đêm trước cuộc đảo chánh, Mussolini cho dấu hiệu khởi nghĩa bằng tiếng hô: “Đức vua vạn tuế!” Cuộc đảo chánh không có chút gì gọi là có tính cách kịch như một vài đồ đệ Plutarque, những con bệnh từ chương, muốn gán cho. Không có những từ ngữ vĩ đại, những thái độ hào nhoáng, những cử chỉ theo kiểu Jules César, Cromwell và Bonaparte. May thay, những binh đoàn tiến về thủ đô không phải là những binh đoàn của César từ Gaules đến, và Mussolini không ăn mặc theo kiểu La mã. Người ta không viết lịch sử theo những thạch bản màu về những biến cố hay theo những bức tranh của các họa sĩ chính thức. Thật khó mà hiểu sao trước kia bức họa Napoléon của David đã từng có cái thần khí quá sáng chói, quá chính xác và quá tân kỳ như vậy lại làm cho ông khác với chính Napoléon đó được vẽ bởi David hay được điêu khắc bởi Canova, cũng như Mussolini khác với Jules César hay Bartolomeo Colleoni.

Trong một vài thạch bản màu người ta thấy những sơ mi đen đi dạo, trong cuộc khởi nghĩa tháng 10-1992, xuyên qua một nước Ý trang hoàng bằng những cánh cung của Titus, những nấm mộ, những nhà mồ, những cột, cổng vòm, tượng, dưới một bầu trời đầy phượng hoàng, làm như cuộc đảo chánh phát-xít lấy nước Ý của Ovide và Horace làm kịch trường, lấy những chiến binh La mã làm những anh hùng và lấy chính Jupiter làm bầu gánh, chỉ bận tâm lo cứu những bề ngoài hợp hiến bằng quan niệm cổ điển về sự đạo diễn. Những thạch bản khác lại cho chúng ta thấy một Mussolini lãng mạn lạc lõng trong một phong cảnh tân cổ điển: ông ta đó, hoặc đi bộ hoặc đi ngựa, dẫn đầu chiến binh của ông, vị anh hùng xanh xao và tươi tắn ấy đang giải thích lịch sử theo sở thích của thạch bản màu! Trên cái nền của những thủy lộ đổ nát, trong những cánh đồng La mã khắc nghiệt và tàn khốc, Mussolini hình như nổi bật lên từ một vở kịch của Pietro Cossa, từ một câu thơ của Carducci và d’Annunzio; người ta nói rằng túi quần của ông nhét đầy sách của Nietzsche. Những thạch bản màu này đều là sự sùng thượng cái sở thích xấu xa về văn hóa và văn chương Ý trong 50 năm gần đây. Trước những hình ảnh này về cuộc đảo chánh phát-xít, người ta ngạc nhiên thấy Mussolini đã có thể lật đổ chính phủ của Facta và chiếm quyền.

Nhưng Mussolini của tháng 10.1922 không phải là Mussolini của những thạch bản màu: đó là một người thời mới, lạnh lùng, bạo tợn, dữ dội và có tính toán. Vào đêm trước cuộc đảo chánh, tất cả những địch thủ của phát-xít đều bị loại khỏi vòng chiến (những tổ chức nghiệp đoàn của công nhân, đảng cộng sản, đảng xã hội, cộng hòa, thiên chúa giáo, dân chủ, tự do). Bị bóp nghẽn ngay từ tháng 8, cuộc tổng đình công không đập vỡ được những trọng điểm của cuộc nổi dậy: thợ thuyền không dám bỏ việc và xuống đường nữa. Những vụ đột kích trả thù mà phát-xít dùng để bóp nghẽn “cuộc đình công hợp pháp”, đã đập tan tinh thần chiến đấu của giới vô sản. Ngay khi Mussolini từ Milan trương cờ đen khởi nghĩa, thì những toán phát-xít gồm kỹ thuật gia và thợ chuyên môn đã chớp nhoáng xâm chiếm tất cả những điểm chiến lược của tổ chức kỹ thuật Nhà Nước. Trong vòng 24 giờ, toàn nước Ý bị quân phát-xít gồm 200.000 sơ mi đen chiếm đóng. Những lực lượng cảnh sát, những cảnh vệ, những ngự lâm quân không đủ để tái lập trật tự. Bất cứ nơi nào mà những lực lượng cảnh sát toan tính xua đuổi sơ mi đen khỏi những vị trí chiếm đóng, đều thất bại dưới hỏa lực của những ổ trung liên phát-xít. Từ tổng hành dinh cách mạng Pérouse, những nhân vật trong tứ trụ hay Ủy ban  Cách mạng Quân đội, gồm Bianchi Balbo, de Vecchi, và de Bono, điều động cuộc nổi dậy theo kế hoạch do Mussolini soạn từng chi tiết. Năm mươi ngàn người tập trung trong vùng nông thôn quanh La mã sẵn sàng tiến về thủ đô: chính trong tiếng hô “Đức vua vạn tuế", mà quân sơ mi đen vây hãm La mã, và trong La mã không phải chỉ có chính phủ, còn có cả Nhà Vua. Dù rằng thái độ trung quân của Mussolini, dựa trên một quân đội cách mạng, chưa có lâu lắc gì cho lắm, một ông Vua lập hiến vẫn phải ưa thái độ đó hơn là thái độ trung quân của một chính phủ không có quân đội. Khi Hội đồng Tổng trưởng quyết định xin nhà Vua ký sắc lệnh ban hành tình trạng thiết quân luật trên toàn quốc, hầu như nhà Vua đã không chịu ký. Người ta không biết chính xác điều gì đã xảy ra trong trường hợp ấy; điều được biết chắc chắn là tình trạng thiết quân luật đã được ban hành, nhưng chỉ kéo dài có nửa ngày. Quả là quá ít nếu nhà Vua đã ký sắc lệnh; và quá nhiều nếu nhà Vua đã không ký.

Bằng chiến thuật cách mạng đã áp dụng một cách có hệ thống trong 3 năm tranh đấu đẫm máu, đảng phát-xít đã chiếm chính quyền trước khi sơ mi đen vào thủ đô. Cuộc nổi dậy chỉ làm đổ chính phủ. Cả sự thiết quân luật, đặt Mussolini ra ngoài vòng pháp luật, lẫn sự đề kháng của quân đội cũng không thể làm thất bại được cuộc đảo chánh phát-xít vào năm 1992. Giolitti nói: “Tôi đã học được ở Mussolini điều này, là muốn bảo vệ nhà Nước cần chống lại chiến thuật cách mạng chứ không phải là chống chương trình của cuộc cách mạng đó". Ông mỉm cười thú nhận rằng ông đã không thể lợi dụng được bài học này.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-08-31 04:26:19huytran>
Cuốn này đến đây là đã hoàn thành. Xin cảm ơn tất cả các bạn đã vô cùng kiên nhẫn khi tham gia đánh máy nó.
 
Cho bạn nào quan tâm, đây là nguyên bản bằng tiếng Anh:
 
http://home.alphalink.com.au/~radnat/malaparte/index.html
0


Đã mang vào thư viện

Cảm ơn HuyTran và các hiệp sĩ : cunhoi, Pha Lê Dễ Vỡ, Tuyetnhung, tieuoc, catlove, tuusacqui, ly ly đã kiên nhẫn hoàn tất cuốn sách này

Chúc tất cả hiệp sĩ, một mùa Vu Lan thật nhiều an lạc

Chúc vui
0