Diễn Đàn » Khoa Học Huyền Bí

Tử-vi vào Việt-nam

26 trả lời, 2.436 lượt xem — Trang 1 / 1
Tử-vi vào Việt-nam
Có hai thuyết nói về khoa Tử-vi truyền vào Việt-nam.

1.- Thuyết thứ nhất
Nói rằng một nhân viên sứ đoàn Đại-việt thời Lý tên Trần Tự Mai đã trộm được trọn vẹn bộ Tử-vi chính nghĩa và bộ Ngự-giám tử-vi, rồi đem về nước. Nhưng chính Tự-Mai cũng chỉ nghiên cứu rồi truyền cho con cháu.

Ghi chú: Từ Trần Tự-Mai đến vua Trần Thái-tông gồm 8 đời. Trần Tự Mai sinh Trần Vỵ Hoàng. Trần Vỵ Hoàng sinh Trần Tự Quang. Trần Tự Quang sinh Trần Tự Kinh. Trần Tự Kinh sinh Trần Tự Hấp. Trần Tự Hấp sinh Trần Lý. Trần Lý sinh Trần Thừa. Trần Thừa sinh Trần Liễu, Trần Cảnh tức vua Thái-Tông nhà Trần.

Nên sau này Hoàng Bính đem Tử-vi cho vua Trần, thì có cuộc tranh luận về Tử-vi giữa Hoàng Bính với Chiêu Minh vương Trần Quang-Khải và Chiêu-Quốc vương Trần Ích- Tắc.

2.- Thuyết thứ nhì
Một thuyết khác nói khoa Tử-vi truyền vào Đại-việt từ niên hiệu Nguyên-phong thứ bảy đời vua Trần Thái-Tông (1257). Người truyền sang Đại-việt là tiến sĩ Hoàng Bính. Hoàng Bính sinh vào niên hiệu Gia-thái thứ nhì đời Tống Ninh-Tông (1203), đậu Tiến-sĩ làm Thị độc học sĩ (chức quan đọc sách và giang sách cho vua nghe) thời Tống Lý-Tông. Năm Bảo-hựu nguyên niên (1253), tiên sinh nhân ở chức vụ Thị độc học sĩ, nên nghiên cứu, hiểu tường tận các bộ sách Tử-vi chính nghĩa, Triệu Thị Minh Thuyết Tử-vi kinh, tiên sinh nghiên cứu số Tử vi của vua, Hoàng-hậu, các vương thần, khanh sĩ, văn võ đại thần, thì thấy số người cũng sắp táng gia bại sản, hoặc chết thê thảm, hoặc gia đình ly tán. Lúc đầu tiên sinh cho rằng có cuộc thay đổi ngôi vua trong triều, nhưng sau xem đến số của các vị trấn thủ đại thần, cũng đều tương tự cả. Tiên sinh cho rằng đó là vận nước sắp mất. Tiên sinh lại xem số mình và vợ con đều thấy thân cư Thiên-di, mệnh lập tại Tý, cung Thiên-di ở Ngọ. Tiên sinh mới giải đoán rằng: Tý là phương Bắc, Ngọ là phương Nam, vậy gia đình mình có số lập nghiệp ở phương Nam. Lại xem thiên văn, thấy tất cả các tinh hoa đều tụ cả ở phương Nam, mới bàn với phu nhân rằng:

- Ta xem thiên văn thấy phương Nam sáng rực, tương lai thánh nhân đều xuất hiện ở đó. Nay quân Thát-đát (Mông-cổ) chiếm gần hết giang sơn rồi, mà triều đình trên thì vua hôn ám, các quan thì nhũng lạm, lòng dân đã mất, cái vạ vong quốc không xa cho lắm. Âu là ta cáo quan về hưu, rồi đem tộc thuộc xuống phương Nam lánh nạn.

Năm 1257, Hoàng Bính đem tộc thuộc hơn ba nghìn người, đến biên giới Hoa-Việt, xin được vào đất Đại-Việt làm cư dân. Vua Thái-tông nhà Trần sai người lên tra xét, thấy họ quả thật tình, không có chi giả dối, mới thuận cho Hoàng Bính lập nghiệp ở vùng Yên bang. Hoàng Bính dâng người con gái út 16 tuổi, nhan sắc diễm lệ, làu thông thi thư và thuật số, Tử-vi tên Hoàng Chu-Linh. Vua Trần Thái-Tông thu nhận, phong làm Huệ-Túc phu nhân rất sủng ái.




Đăng nhập để trả lời
0
Khoa Tử-vi đời Trần


1.- Trường hợp được trọng dụng
Khoa Tử-vi được triều Trần biết đến trong một dịp đặt biệt: Thái-tử Hoảng bị bệnh mê man suốt ba ngày rồi mắt trợn ngược, tưởng qua đời. Vua đem thanh Thượng-phương bảo kiếm và áo Ngự-bào để bên cạnh rồi tuyên chỉ ;
- Nếu tỉnh dậy sẽ ban cho. Ý nói sẽ truyền ngôi. Nhưng Thái-tử mắt vẫn trợn ngược.

Hoàng hậu, phi tần khóc lóc thảm thiết, chuẩn bị chôn cất, nhân thấy Huệ-Túc phu nhân văn hay chữ tốt, có ý nhờ viết bài vị. Vì vậy phu nhân biết ngày, giờ, tháng, năm sinh của Thái-tử. Phu nhân bấm số, rồi tâu:
- Xin Hoàng-hậu đừng lo, Thái-tử chỉ mê man thôi, giờ Sửu ngày mai sẽ tỉnh dậy. Vua và Hoàng-hậu tin tưởng và hỏi tại sao phu nhân biết? Phu nhân tâu:
- Thần tính số Tử-vi của Thái-tử thấy Đồng, Âm thủ mệnh tại Tý. Cung phúc tại Dần có Cự, Nhật. Tử-vi kinh nói rằng:

“ Phú, thọ, quý, vinh, yểu, bần, ai, khổ,
Do ư phúc trạch cát hung”.

Nghĩa là : Giàu, sống lâu, làm lớn, tiếng tăm, chết non, đau thương, khổ, do cung phúc tốt hay xấu. Đây cung Phúc của Thái-tử có Cự, Nhật tại Dần, lại có Tả, Hữu, Xương, Khúc hợp chiếu, thì căn cơ là người thọ lắm. Mệnh lại được Đồng, Âm tại Tý... thế thì Thái tử không chết non, sau còn trở thành vị minh quân anh hùng, tạo sự nghiệp rạng rỡ cho họ Đông-a và cho nhà Đại-Việt nữa. Hiện Thái-tử bị hạn Tang, Hổ, Kiếp, Hình thì đau yếu nặng đó thôi.
Vua và Hoàng-hậu còn phân vân chờ đến giờ Sửu hôm sau, thì Thái-tử tỉnh dần, rồi khỏi hẳn. Sau là vua Trần Thánh-tông, một vị vua anh hùng trong lịch sử Đại-Việt. Nhân đó vua Thái-tông mới hỏi lý do tại sao phu nhân biết, phu nhân mới trình bày khoa Tử-vi. Vua Thái-tông triệu Hoàng Bính vào cung, tiên sinh dâng lên hai bộ sách Tử vi chính nghĩa và Triệu Thị Minh Thuyết Tử-vi kinh. Vua Thái tông và hoàng tộc nhà Trần lại đua nhau nghiên cứu Tử-vi, và dùng như một nguyên tắc để cử người giúp nước.

2.- Một sự kiện sáng tỏ nhờ Tử-vi
Qua những lá số được Huệ-Túc phu nhân và vương hầu đời Trần chấm còn để lại, ngày nay chúng ta thấy được nhiều khía cạnh lịch sử. Như hiện trong văn học sử, người ta không biết vị thiền sư đắc đạo Tuệ-Trung thượng sĩ đời Trần, bản sư của Trần Nhân-tông là Trần Quốc Tung, anh ruột Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, tước phong Hưng-Ninh vương hay là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng, con thứ nhì của Hưng Đạo vương?

Căn cứ vào lá số của Huệ-Túc phu nhân, người sống đồng thời với Hưng Ninh vương, lại là thím của ngài, là sư phụ của ngài về khoa Tử-vi, thì những gì do phu nhân viết về ngài phải đúng. Hơn nữa phu nhân lại là người tích cực tiến cử Hưng Đạo Vương giữ chức vụ Tiết-chế binh mã, tức là Tổng tư lệnh quân đội, thì chắc chắn tình nghĩa thím cháu, vua tôi, thầy trò, phu nhân viết về gia đình Hưng Ninh Vương, Hưng Đạo vương không sai. Phu nhân chấm số cho Hưng-Ninh vương có phê như sau:

"... Kinh vân Tử, Tham, Mão Dậu đa vi thoát tục chi tăng. Ngô kim nhật kiến Tuệ Trung chi số: Tử, Tham ư Dậu ngộ Quyền, Đào, tuấn nhã chi lang. Tả, Hữu hợp chiếu thị tất đa tài, đa năng. Đãn hiềm Tử, Tham cư Dậu ngộ Không, Kî tất thoát tục vi tăng”. Nghĩa là sách Tử-vi kinh nói rằng: người mệnh lập tại Dậu hay Mão, mà có Tử-vi, Tham lang thủ mệnh đa số là người thoát tục đi tu. Nay ta xem số của Tuệ Trung thì thấy mệnh lập tại Dậu, Tử-vi, Tham-lang thủ mệnh, còn gặp Đào-hoa, Hóa-quyền thì là người đẹp đẽ. Được Tả, Hữu hợp chiếu thì là người đa tài, đa năng. Nhưng tiếc rằng cái số và mệnh lập tại Dậu, Tử-vi, Tham-lang thủ mệnh,gặp Thiên-không, Hóa-kỵ thì thế nào cũng đi tu."

Từ sự kiện trên ta tìm được Tuệ Trung thượng sĩ là Hưng-Ninh vương Trần Quốc Tung, chứ không phải là Trần Quốc Tảng.

3.- Phá cách, trợ cách
Qua các tài liệu còn lại, thì khoa Tử-vi đời Trần có một sắc thái đặc biệt hơn ở Trung-quốc, đó là Phá cách và Trợ cách. Câu chuyện Đoàn Nhữ Hài là một bằng cớ. Nếu Tống Thái-tổ biết Trịnh Ân bị nạn mà cứu không được, thì vua Trần Nhân-Tông biết Đoàn Nhữ Hài bị nạn mà cứu thoát. Câu chuyện như sau:

Đoàn Nhữ Hài là học trò trường Quốc-tử giám ở Thăng-long. Năm 20 tuổi, Hài chuẩn bị để thi Thái-học sinh (tiến sĩ), muốn được thi Thái học sinh thì Hài phải qua một kỳ khảo hạch của trường trước, nếu thấy khá thì mới được cử đi thi. Một hôm ra chùa Diên hựu (chùa Một-cột) chơi, thấy vị tăng ngồi nhìn trời, Hài hỏi:
- Bạch hòa thượng, tiểu sinh nghe rằng người tu hành có thể biết được vận số sau này sẽ ra sao, có đúng không?
Hòa thượng hỏi:
- Tiên sinh muốn biết điều gì?
- Tiểu sinh muốn biết mai sau hoạn lộ ra sao. Tiểu sinh mong sư phụ chỉ giáo cho tương lai.

Hòa thượng hỏi ngày, giờ, tháng, năm sinh của Hài rồi nói:
- Số của tiên sinh là số tá cửu trùng ư kim điện, nghĩa là số phò tá vua ở sân rồng, tức là số làm tới tể tướng. Mệnh lập tại Mùi, Tả, Hữu thủ mệnh là người đa tài, đa năng. Tử-vi kinh nói, Tả-phụ, Hữu-bật bình tính khắc khoan, khắc hậu nên tính tình từ tốn, hành sự cẩn trọng. Cái cách Nhật tại Mão, Nguyệt tại Hợi chiếu là cách Nhật, nguyệt tịnh minh, nên thì sớm gặp minh quân. Nhưng tiên sinh lại có một cách rất xấu Đào-hoa, Hồng loan cư nô, lại gặp Hình, thì tất thế nào cũng vì đàn bà mà tan nát sự nghiệp, đến phải vong mạng. Đáng tiếc, đáng tiếc.

Hài mừng lắm trở về lo học hành, tháng sau trong kỳ thi khảo hạch của trường Quốc-tử giám, Hài bị trượt vì văn ngông nghênh, kênh kiệu quá. Hài giận lắm, tìm vị hòa thượng hỏi:
- Hôm trước đại sư đoán rằng sau này tôi sẽ làm Tể-tướng, thế sao tôi thi trượt? Không đậu thì làm sao thi Thái-học sinh được? Không đậu Thái-học sinh thì sao có thể làm Tể-tướng?
Vị Hòa-thượng cười đáp:
- Từ xưa đến giờ có biết bao nhiêu vị Tể-tướng mà không đậu đại khoa? Bần tăng đoán tiên sinh làm Tể-tướng, chứ có đoán tiên sinh thi đậu đâu? Này năm nay tiểu hạn tiên sinh nhập cung Dậu được Thái-dương miếu địa, Hóa-khoa từ Mão chiếu sang thì thanh vân đắc lộ gặp được thiên-nhan. Nhưng đại hạn đóng ở cung Tỵ. Thiên-mã gặp Đà-la tức là ngựa què. Ngựa đã què lại còn đi đến cung Dậu gặp Tuần thì ngựa bị chặt cụt chân. Vậy khi nào tiên sinh gặp ngưạ cắn hoặc đá là lúc gặp vua, nhưng tiên sinh nhớ một điều:

Khi được gặp vua, nếu hoàng-thượng ban thưởng cho bao nhiêu vàng bạc phải nộp cho lão tăng một nữa. Hài mừng lắm, về nhà, đúng ngày mà hòa thượng đoán gặp vua, không thấy linh nghiệm. Hài tìm đến chùa Diên-hựu để hỏi tội hòa-thượng. Nhưng trên đường đi, Hài bị một người cỡi ngựa đụng phải, té lăn vào bụi cỏ. Hài túm lấy dây cương hạch tội:
- Nhà ngươi đi đâu mà có mắt như mù đụng phải ta?
Người cỡi ngựa, mình chỉ mặc áo lót, mũ đội phía sau ra trước, nhảy xuống ngựa tạ lỗi:
- Xin lỗi tiên sinh, tôi đi tìm cha tôi để tạ lỗi. Tiên sinh có biết chữ không? Tôi muốn nhờ tiên sinh một việc đây!
Hài bực mình nói:
- Ta học trường Quốc-tử giám, sắp thi Thái-học sinh, thì Bách-gia, Chư-tử, Cửu-lưu, Tam-giáo đều thông. Sao lại không biết chữ?
Người cỡi ngựa tiếp:
- Vậy tiên sinh làm dùm tôi bài biểu tạ tội với cha tôi, tôi sẽ bảo quan Quốc-tử giám tư nghiệp cho tiên sinh đậu. Năm sau thi Thái-học sinh tôi sẽ lấy tiên sinh đậu Trạng nguyên, được chăng?
- Nhà ngươi điên à? Nhà ngươi có biết, chỉ có một người cho Thái-học sinh đậu Trạng-nguyên, đó là vua. Nhà ngươi là ai mà dám nói lớn lối như vậy?
Người kia đáp:
- Tôi là Vua đây.
Đoàn Nhử Hài nhìn lại mũ người đó, quả là vua, vội thụp xuống đất tạ tội. Người cỡi ngựa chính là vua Trần Anh-tông. Nguyên sau khi chiến thắng Mông-cổ, năm 1293 vua Trần Nhân-tông nhường ngôi cho con là vua Trần Anh-Tông rồi đi tu. Vua Anh-Tông thường hay rượu chè say sưa. Nhân một hôm uống rượu Xương-bồ say quá nằm ngủ, thì Thượng-hoàng từ Thiên-trường về Thăng-long. Các quan trong triều không ai biết cả. Nhân-Tông thong thả xem cung điện từ giờ Thìn đến giờ Tỵ. Thái-giám dâng cơm. Thượng-hoàng không thấy vua đâu hỏi thái-giám. Thái-giám đánh thức vua dậy, nhưng vua say quá không tỉnh được. Thượng-hoàng giận quá bỏ về, lệnh cho các quan về Thiên trường họp, có ý truất phế Anh-tông. Đến giờ Mùi, Anh-tông mới tỉnh dậy, cung nhân đem việc ấy tâu. Vua sợ quá không kịp mặc áo, nhảy lên ngựa chạy tới chùa Từ-phúc, thì đụng phải Đoàn Nhữ Hài. Hai người xuống thuyền về Thiên-trường. Dọc đường Đoàn Nhữ Hài làm tờ biểu dài hai ngàn chữ tạ tội. Nhưng Thượng-hoàng vẫn còn giận, không cho vào. Hai người phải quỳ ở ngoài. Các quan liếc mắt nhìn tờ biểu, thấy văn hay, truyền nhau đọc.
Thượng-hoàng nghe được hỏi:
- Văn ở đâu mà hay như vậy?
Các quan tâu rằng đó là bài biểu tạ tội của vua. Thượng-hoàng truyền:
- Đưa vào đây!
Ý ngài muốn nói rằng đưa bài biểu vào, nhưng các quan hiểu lầm đưa cả Vua và Đoàn Nhử Hài vào. Thượng-hoàng thấy sự đã rồi, đành tiếp biểu xem, thấy lời văn điêu luyện, thống thiết, bèn xá tội cho vua Anh-Tông. Ngài phán rằng:
- Ta đang cần một thiếu niên anh tài phụ tá cho con ta. Nay gặp tiên sinh ở đây
thực là may mắn. Hài trình việc gặp hòa thượng ở chùa Diên-hựu, được hòa thượng đoán trước sự việc. Thượng-hoàng phán:
- Khoa Tử-vi do Hoàng Bính truyền sang Đại-Việt, khoa này đâu có truyền ra ngoài dân dã? Hòa thượng xem Tử-vi cho tiên sinh đó là sư phụ của ta, tức Tuệ-Trung Thượng-sĩ đó (tức Trần Quốc Tung).
Hài nghe xong hoảng sợ, nghĩ hôm trước nếu mình gây với hòa thượng thì bị ốm đòn rồi. Bởi Tuệ-Trung là một võ học danh gia đời Trần. Thượng-hoàng hỏi số của Hài, rồi phán:
- Số của tiên sinh là số của bậc tể thần. Sau này làm nên sự nghiệp hiển hách. Nhưng tiếc rằng Đào, Hồng cư Nô, thì thế nào cũng xảy ra một chuyện bất chính trong tình trường, lại thêm Tham, Hình nữa thì thế nào cũng vì má đào mà sự nghiệp tan vỡ, chết vì nghiệp tình, đáng tiếc thay.
Vua Anh-tông tâu rằng:
- Thần nhi nghe nói căn cứ vào khoa Tử-vi có thể cải được số mạng. Thỉnh cầu phụ hoàng có cách nào cứu được Đoàn tiên sinh không?
Thượng-hoàng bèn xé từ bìa kinh Kim-cương viết mấy chữ Tứ đại giai không, miễn tử trao cho Đoàn Nhữ Hài. Tứ đại Giai không là chữ lấy trong kinh Kim-cương:

“Vô nhân tướng, Vô ngã tướng, Vô chúng sinh tướng, Vô thọ giả tướng, tứ đại giai
không”. Nghĩa là không có hình tượng của người, của ta, của chúng sinh, không có cái gì lâu dài cả. Bốn cái đó đều là hư ảo..

Thượng-hoàng phán:
- Ta xem số thấy cái vạ vì má đào của tiên sinh sắp tới. Nay ta trao cho tiên sinh mảnh giấy này, khi bị nạn, có thể dùng nó để cứu mạng. Muốn giải cái nạn Hồng, Đào, Hình, Tham thì phải dùng đến Quyền. Nay ta viết chữ miễn tử tức là dùng Quyền rồi, phụ với Hóa-quyền đóng chung ở Tham-lang nữa. Muốn giải hạn Thiên-hình thì dùng đến Không-vong. Ta dùng bìa cuốn kinh Kim-cương, tức là dùng cái Không của đạo Phật. Như vậy mong có thể cứu được tiên sinh.
Trở về Thăng-long, vua Anh-Tông phong cho Đoàn Nhữ Hài làm Ngự-sử trung tán, đây là lần đầu tiên một người không đậu đạt gì, mới 20 tuổi được phong làm Ngự-sử trung tán. Người thời đó ghanh ghét làm thơ giễu Hài như sau:
Phong hiến luận đàm truyền cổ ngữ, Khẩu tồn nhũ xú Đoàn trung tán. Có nghĩa là: Ôn câu cổ ngữ tại đài Ngự sử. Miệng của Trung-tán Đoàn Nhữ Hài còn hôi sữa.
Ba năm sau hạn của Đoàn Nhữ Hài qua cung Tý gặp Đào, Tham, Quyền, Hồng và Thiên-thương, triều đình khám phá ra mối tình của Đoàn Nhữ Hài với một cung nữ của vua Anh-Tông. Luật triều Trần rất khắt khe với tội ngoại tình. Ngay với thường dân khi ngoại tình xảy ra, gian phu bị tử hình, dâm phụ tùy người chồng tha hay không. Nay tội đó xảy ra giữa một đại thần với một cung nữ. Nên cả hai bị khép tội chém đầu. May nhờ có thủ bút của Thượng hoàng, viết trên bìa cuốn kinh Kim-cương nên cả hai được miễn tử. Vua Anh- Tông truyền gả cung nữ cho Đoàn Nhữ Hài.

Đoạn trên đây chúng tôi tóm lược trong sách Đông-a di sự, phần Đoàn Nhữ Hài liệt truyện.

4.- Tinh hoa khoa Tử-vi đời Trần
Hầu hết những bậc vua chúa, vương hầu nhà Trần đều nghiên cứu Tử-vi, để làm chìa khóa biết kẻ trung, người nịnh, biết vận hạn, mưu đồ đại sự.
Như khi triều đình phân vân không biết nên hòa với Mông-cổ, cho Mông-cổ mượn đường đánh Chiêm-thành, hay nhất định chống lại, vua Thái-tông do dự không quyết, Huệ- Túc phu nhân chấm số cho tất cả vua, hoàng-hậu, vương hầu, tướng sĩ, thấy đa số là những vĩ nhân, làm nên những chuyện kinh thiên động địa. Có một số bị chết thảm nhưng tiếng tăm vang dậy. Phu nhân quyết định rằng: nên đánh. Bởi đánh thì sẽ thắng, có thắng các vương hầu mới có sự nghiệp vĩ đại như vậy. Một vài người tuy tuẫn quốc thật nhưng danh thơm muôn thuở.
Có ai ngờ việc quyết định vận số quốc gia như thế, mà do khoa Tử-vi chiếm một phần. Khoa Tử-vi đời Trần cũng dựa theo bộ Tử-vi chính nghĩa, rồi nghiên cứu rộng ra về phá cách và trợ cách. Tỷ dụ, Tử-vi kinh nói rằng :
Thiên-hình, Thất-sát cương táo nhi cô. Nghĩa là, người có thiên-hình, Thất-sát thủ mệnh thì tính tình nóng nảy, cứng rắn quá mà hóa cô độc. Muốn khuyên răn, chế ngự bớt sự cuồng táo đó, phải dùng người mệnh có Thái-dương, Thiên-đồng, Thiên-lương, Văn-xương, Văn-khúc, Đào-hoa, Hồng-loan. Bởi các sao này có thể giảm bớt sức nóng nảy của Hình, Sát. Tuyệt đối không dùng người mệnh có Kiếp, Không, Kình, Đà, Tang, Hổ đã đành mà còn tránh dùng người có Tử-vi, Thiên-phủ, bởi Tử, Phủ kỵ Hình, Sát. Như muốn phá người mệnh có Tử, Phủ thì dùng người có Kiếp, Không, Kỵ, Hình thủ mệnh. Tử, Phủ thì ngay thẳng, Kiếp, Không thì gian trá, tiểu nhân vậy dùng những mánh lới hạ cấp sẽ làm cho người Tử, Phủ khốn khổv.v.... Khoa Tử-vi còn đi sâu hơn nữa. Như người có cung Phúc tại Thìn được Thái-dương tọa thủ, tức là được hưởng phúc ngôi mộ ông hoặc bố. Muốn ếm người đó, thì dùng cách ếm mộ ông nội hay cha y, thì y khốn khổ ngay.

Lối này trước đây người ta đã dùng để ếm mộ ông nội nhà văn Phạm Quỳnh, sau này ếm mộ nhà Ngô. Khi cố Tổng-thống Ngô Đình Diệm còn tại vị, nhiều người thù ghét, sau biết ngôi mộ tổ được cách Long phụng triều thì con trai, con gái, con dâu sự nghiệp đều vĩ đại cả. Người ta đã ếm ngôi mội này. Thành ra khi con long bị đau, nó dẫy lên, lại một người nam bị nạn, khi con phụng dẫy lên thì có một người nữ bị nạn. Cái lối ếm này rất thất đức, nên chúng tôi không trình bày chi tiết vào đây. Tỷ dụ: Nhà Trần đã dùng lối ếm đó để diệt dòng dõi họ Chế ở Chiêm-thành. Trần Khắc Chung vì thương yêu Huyền Trân công chúa, mà công chúa bị triều đình nhà Trần gả cho Chế Mân, Khắc Chung tìm biết số Tử-vi của Chế Mân, rồi tìm ngôi mộ cung Phúc đức ếm, nên chỉ một năm sau Chế Mân chết.



Đăng nhập để trả lời
0
Dị biệt chính, Nam phái
1.- Sự khác biệt về số sao

1.1. Bộ Tử-vi chính nghĩa
Được coi như là chính thư. Không nói về số sao. Song trong mục dạy an sao có 93 sao, đó là:
1.1.1. Các chòm.
Tử-vi: 6 sao là Thiên-cơ, Thái-dương, Vũ-khúc, Thiên-đồng, Liêm-trinh.
Thiên-phủ: 8 sao là Thiên-phủ, Thái-âm, Tham-lang, Cự-môn, Thiên-tướng, Thiên-lương, Thất-sát, Phá-quân.
Thái-tuế: 5 sao là Thái-tuế, Tang-môn, Điếu-khách, Bạch-hổ, Quan-phù.
Lộc-tồn: 17 sao là Lộc-tồn, Kình-dương, Đà-la, Quốc-ấn, Đường-phù, Bác-sĩ, Lực-sĩ, Thanh-long, Tiểu-hao, Tướng-quân, Tấu-thư, Phi-liêm, Hỉ-thần, Bệnh-phù, Đại-hao, Phụcbinh, Quan-phủ.
Trường-sinh: 12 sao là Trường-sinh, Mộc-dục, Quan-đới, Lâm-quan, Đế-vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai Dưỡng.
1.1.2. Các sao an theo tháng: 7 sao Tả-phụ, Hữu-bật, Tam-thai, Bát-tọa, Thiên-hình, Thiên-riêu, Đẩu-quân.
1.1.3. Các sao an theo giờ: 8 sao Văn-xương, Văn-khúc, Ấn-quang, Thiên-quý, Thai-phụ, Phong-cáo, Thiên-không, Địa-kiếp.
1.1.3. Tứ trợ tinh: 4 sao là Hóa-quyền, Hóa-lộc, Hóa-khoa, Hóa-Kî.
1.1.4. Các sao an theo chi: 17 sao là Long-trì, Phượng-các, thiên-đức, Nguyệt-đức, Hồngloan, Đào-hoa, Thiên-hỉ, Thiên-mã, Hoa-cái, Phá-toái, Kiếp-sát, Cô-thần, Quả-tú, Hỏatinh, Linh-tinh, Thiên-khốc, Thiên-hư.
1.1.5. Các sao an theo can: 5 sao là Lưu-hà, Thiên-khôi, Thiên-việt, Tuần-không, Triệtkhông.
1.1.6. Các sao cố định: 4 sao là Thiên-thương, Thiên-sứ, Thiên-la, Địa-võng.

1.2.Bộ Triệu Thị Minh Thuyết Tử-vi kinh
Đều ghi có 93 sao, giống như bộ Tử-vi chính nghĩa.

1.3.Bộ Tử-vi đại toàn
Ghi rõ ràng rằng trong lá số phải có 93 sao như Hi-Di tiên sinh, kỳ dư an thiếu, đủ hay khác đi đều là tạp thư, ma thư của bọn đạo sĩ bịa đặt để lừa nhau, còn giả đạo đức, tỏ ra là người bác học, song chẳng qua là phường lưu manh!

1.4.Bộ Tử-vi Đẩu-số toàn thư
Nói về số sao rất lờ mờ. Phần dạy cách an sao có ghi rõ 85 sao. Các sao cũng giống như ba bộ trên. Duy thiếu các sao sau đây: Đào-hoa, Phá-toái, Kiếp-sát, Cô-thần, Quả-tú, Lưu-hà. Nhưng khi đọc bài phú nói về các sao, thì lại thấy nói tới Đào-hoa, Ân-quang, Thiên-quý v.v...

1.5.Bộ Đông-a di sự
Thấy ghi đúng 93 sao như bộ trên, nhưng khi xét các lá số để chiêm nghiệm thì thấy thiếu các sao: Bác-sĩ, Thiên-la, Địa-võng, Thiên-thương, Thiên-sứ. Có lẽ các Tử-vi gia đời Trần quan niệm rằng các sao trên đều ở vị trí cố định, nên không cần an vào như sao Bác-sĩ bao giờ cũng đóng chung với sao Lộc-tồn. Sao Thiên-thương bao giờ cũng ở cung Nô, sao Thiên-sứ bao giờ cũng ở cung Tật-ách và sao Thiên-la bao giờ cũng ở cung Thìn cũng như sao Địa-võng bao giờ cũng ở cung Tuất.
Trên đây là các bộ chính thư, dưới đây là các bộ tạp thư.

1.6.Bộ Tử-vi Ấm-dương chính nghĩa Bắc-tông
Thấy ghi đến 104 sao. Các sao cũng như giống như chính thư về số sao cũng như cách an sao, song thêm các sao sau đây: Thiên-tài, Thiên-thọ, Thiên-trù, Thiên-y, Thiên-giải, Địa giải, Giải-thần, Thiên-lộc, Lưu-niên văn tinh, Thiên-quan quý nhân, Thiên-phúc quý nhân.

1.7.Bộ Tử-vi âm-dương chính nghĩa Nam-tông
Ghi tới 128 sao, các sao cũng giống như sao Bắc-tông, nhưng thêm 24 sao là Thái-túc, Niên-xá, Thiên-khôi, Nguyệt-khôi, Niên-thổ-khúc, Nguyệt-thổ-khúc, Thiên-thương (Nghĩa là kho lúa khác với Thiên-thương ở cung Nô, như vậy trong lá số có hai sao Thiên-thương). Thiên-phủ-khố, Thiên tiễn, Hồng-diệm, Địa-không, Phù-trầm, Sát-nhận. Vòng Thái-tuế được thêm vào 7 sao nữa cho đủ 12 sao, đó là các sao Thiếu-dương, Thiếu-âm, Tử-phù, Tuế-phá, Long-đức, Phúc đức, Trực-phù, Tứ-phi-tinh, Thiên-trượng, Thiên-dị, Mao-đầu, thiên-nhận.

1.8.Bộ Tử-vi thiển thuyết gồm 128 sao
Giống như bộ Nam-tông nhưng thêm vào 13 sao nữa rất quái dị, không có trong thiên-văn mà chỉ có trong tiểu thuyết thần kỳ chí quái, ma trâu đầu rắn. Đó là các sao: Nam-cực, Đông-đẩu tinh-quân, Bắc-đẩu tinh-quân, Nam-đẩu tinh-quân, Cửu-thiên huyền nữ, Dao-trì kim mẩu, Vũ-tinh, Lôi-tinh, Thiên-vương tinh, Địa-tạng tinh, Thái-bạch kim tinh.

1.9.Lịch số Tử-vi toàn thư
Số sao cũng giống như bộ Tử-vi thiển thuyết song dạy an sao ngược với các bộ trên. Như sao Trường-sinh không những chỉ an ở Dần, Thân, Tî, Hợi mà còn thấy ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Vòng Tử-vi an xuôi, vòng Thiên-phủ an ngược. Số sao cũng có 128 mà thôi.

2.- Sự khác biệt về sao lưu niên
2.1.Chính thư
Các sao lưu niên đều an giống nhau, số sao cũng giống nhau:
-Vòng Lộc-tồn với 15 sao không có Quốc-ấn, Đường-phù. (Bộ Tử-vi đẩu số toàn thư chỉ nói đến hai sao Kình, Đà thôi)
- Thiên-khôi, Thiên-việt, Thiên-mã, Thiên-khốc, Thiên-hư và vòng Thái-tuế 5 sao, Vănxương, Văn-khúc. Tất cả 27 sao.

2.2.Tạp thư
Vẫn gồm các sao như bộ chính thư nhưng thêm: Hỏa-huyết, Lan-can, Quân-sách, Quyện thiệt, Bạo-tinh, Thiên-ách, Thiên-cẩu, Huyết-nhận, Huyết-cổ, Ngũ-quỷ và vòng Trường sinh 12 sao.

3.- Sự khác biệt về đại hạn

Chính phái an đại hạn như sau:
- Từ lúc đẻ ra tới số cục thì đại hạn an tại cung Mệnh.
- Đại hạn thứ nhất sẽ an vào cung phụ mẫu, hoặc huynh đệ.

Tỷ như: Người Hỏa-lục-cục, thì từ 1 tới 5 tuổi thì đại hạn ở cung Mệnh. Từ 6 tuổi trở đi thì đại hạn ở cung Huynh đệ hoặc Phụ-mẫu.

- Nhưng Nam phái lại an ngay đại hạn thứ nhất ở cung Mệnh, rồi đại hạn thứ nhì ở cung Phụ mẫu hoặc Huynh đệ. Như vậy từ lúc đẻ ra tới số tuổi “số cục” không có đại hạn.
Sự khác biệt này, đã khiến cho Nam phái phải đi tìm nhiều sao khác, hoặc nhiều thuật khác, để đoán cho đúng, nhất là đoán vận hạn chết rất quan trọng. Bắc phái đoán rất trúng, nhưng theo Nam phái lại khó khăn. Sự khác nhau về hạn, khiến cho Nam phái không dùng bài phú đoán của Hy-Di tiên sinh được. Bởi phú đoán thì an đại hạn theo Bắc phái. Những người học theo Nam phái thường tỏ ý nghi ngờ các bài Phú. Họ phải dò dẫm, tìm hiểu lâu năm mới đưa ra lối giải quyết. Trong khi những người học theo Bắc phái, thì ngay sau khi học an sao, học có thể học cách giải đoán bằng cách xử dụng phú đoán được.

Tỷ dụ: Chính phái đoán số Hạng Vũ, căn cứ vào phú đoán:
Hạng Vũ anh hùng hạn ngộ Thiên-không nhi táng quốc. Thạch Sùng hào phú, vận phùng Địa-kiếp dĩ vong gia. Nghĩa là Hạng Vũ anh hùng nhưng hạn ngộ Thiên-không nên mất nước. Thạch Sùng giàu có nhưng hạn gặp Địa-kiếp nên tan nhà nát cửa. Nếu xét theo Nam phái thì câu phú trên không đúng được:

- Thứ nhất, theo Bắc phái chỉ có sao Thiên-không, Địa-kiếp đi đôi với nhau, không có sao Địa-không. Sao Thiên-không không đóng ở vị trí sao Địa-không của Nam phái và không
có sao Thiên-không trước Thái-tuế một cung. Hạng Vũ, đại hạn tới Dần gặp Địa-kiếp, tiểu hạn ở Thân gặp Thiên-không. Đại, tiểu hạn Kiếp, Không gặp nhau nên táng quốc. Dù đại hạn có Đồng, Lương, Quyền cũng không giải nổi. Bàn về số Thạch Sùng cũng tương tự. Nếu đoán theo Nam phái bài phú trên cũng không đúng:

- Đại hạn đang tới cung Mão, gặp Thái-tuế, mà Thiên-không đóng ở Thìn.
Như vậy không có vụ Hạng Võ chết về Kiếp, Không lâm nạn, Sở vương táng quốc. Mà chỉ có việc Hạng Võ gặp hạn Địa-không ở Thân mà thôi.
Hồi còn ở Việt-nam, chúng tôi dạy Tử-vi cho các vị yêu khoa này, thường thì những vị chưa biết gì học mau hơn. Còn các vị học theo Nam phái, học thêm mấy chục bài phú nữa, mất công chỉnh đốn lại. Bởi vậy chúng tôi có lời khuyên: Các vị học theo Nam phái thì không nên học những bài phú của Hy-Di, mà học các bài phú của Ma-Y thuộc Nam phái mà thôi. Nếu không đầu óc sẽ lộn tùng phèo.

4. Sự khác biệt về an sao

Trong 93 tinh đẩu không có sự khác biệt. Nhưng duy sau này những bộ tạp thư đưa ra an những sao mới, hoàn toàn do họ đặt ra, có sự quái gở khi an vòng Trường-sinh: Họ khởi Trường-sinh ở cả Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
Về an Khôi, Việt thì chính thư, tạp thư chỉ khác nhau có tuổi Canh mà thôi: Chính thư Khôi ở Sửu, Việt ở Mùi. Trong khi tạp thư thì cho ở Dần, Ngọ. Về an tứ hóa: Tuổi Canh cũng bị lộn như Hóa-lộc đi với Thái-dương, Hóa-quyền đi với Vũ-khúc, Hóa-khoa đi với Thiên-đồng, Hóa-kî đi với Thái-âm. Trong khi tạp thư Hóa-khoa đi với Thái-âm, trong khi Hóa-kî đi vối Thiên-đồng.

5. Đối với sách Tử-vi hiện tại

Trừ bộ Tử-vi đẩu số toàn thư do Vũ Tài Lục lược dịch, một vài đoạn đúng với chính thư, còn các sách khác, chúng tôi không tiện phân tích xem sách của vị nào ảnh hưởng của phái nào bên Trung-quốc! Vân Điền Thái Thứ Lang là một đại đức Phật giáo, ông bị tử nạn xe hơi đã lâu, nên chúng tôi có thể bàn về sách của ông: Rất gần với chính phái. Ông Vũ Tài Lục là con của cụ Kép Nguyễn Huy Chiểu, hiện ở Hoa-kỳ. Còn ông Nguyễn Phát Lộc với chúng tôi có chút duyên văn nghệ, trước đây ông là phó Đặc-ủy trung ương tình báo VNCH, không rõ nay ở đâu, nếu ông còn ở Việt-nam thì có lẽ đã bị giết rồi.

Chúng tôi quan niệm: Dù tất cả Tử-vi gia thuộc phái nào đi nữa, cũng cần có kinh nghiệm. Về phương diện nghề nghiệp, họ phải dùng Tử-vi làm kế sinh nhai là điều bất đắc dĩ, bới bỏ tâm não ra, an sao, chấm số, giải đoán một lá số Tử-vi không tiền nào, bạc nào trả họ nổi cả. Dù không trả tiền với tinh thần khoa học, họ cũng say mê nghiên cứu. Chính
chúng tôi kiếm tiền rất dễ dàng, nhưng khi thấy một lá số kỳ lạ, cũng chẳng ngần ngại gì mà không bỏ ra cả ngày để nghiền ngẫm cho ra nguyên lý.






Đăng nhập để trả lời
0
Tử-vi không phải là một khoa học độc lập, nó là kết tinh trong nhiều khoa học khác trong học thuật tư tưởng Á-châu. Người sáng lập ra không phải là Hy-Di tiên sinh. Ông chỉ là người kết hợp các khoa lại. Chính ông, ông cũng công nhận khoa này có trước ông. Ông chỉ là người bổ túc và đưa nó trở thành một khoa nổi tiếng.
Khoa Tử-vi truyền vào Đại-Việt thời Lý do Trần Tự Mai, hay Hoàng Bính mang vào không cần thiết. Dù Tự Mai hay Hoàng Bính thì Tử-vi đó cũng thuộc chính phái. Nhưng bí truyền trong dân gian. Đợi mãi đến khi ông Lê Quý Đôn đi sứ Trung-hoa về mang theo bộ Tử-vi của Nam phái, bấy giờ khoa Tử-vi mới được đại chúng hóa. Nhưng cũng chính vì vậy khoa Tử-vi ở Việt-nam có hai trường phái: Một trường chính phái, học rất mau, theo sát Hy-Di tiên sinh.
Một trường phái nữa ảnh hưởng Nam phái, vì thất truyền thành ra không có hệ thống nào cả.
Những người nghiên cứu Tử-vi cần phân biệt rõ hai hệ thống, để lúc học mới khỏi bị bỡ ngỡ. Tuy nhiên không phải những sách vở nào của Nam phái cũng hỗn tạp, không phải những vị nào của Nam phái đều đoán liều cả. Tử-vi cũng như y học cần đi đến đối tượng là kết quả, ai đoán trúng, người đó đạt được học thuật. Cũng như y học, nói, viết không phải là cứu cánh, mà ai trị khỏi bệnh, người đó có lý.
Một vấn đề trước mắt của chúng ta là, làm sao có đủ sách cho các vị nghiên cứu tìm hiểu.

Sách vở của cổ nhân chỉ là nền móng lúc đầu. Tại sao xưa kia Hy-Di tiên sinh đã tìm ra được nhiều nguyên lý Tử-vi, ngày nay chúng ta không thể đi sâu hơn tìm ra những nguyên lý khác. Cái xe hơi thế kỷ thứ 18 thô sơ, người sau cải tiến dần, nay trở thành những xe tối tân. Tử-vi là khoa học, chúng ta có thể tìm thêm, nghiên cứu rộng, để đưa ra những phát hiện mới. Bấy giờ mới đi tìm vận số con người, lại có thể đi xa hơn, phát triển phá cách, trợ cách, một lối phát huy độc đáo đời Trần, cần được đào sâu để đạt được tuyệt đích khoa học vậy.

Viết tại Bruxelles, mùa Đông, Tân-dậu (1981)
Trần Đại Sỹ
TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Hầu hết bằng Hoa-văn, và vài bộ bằng Việt-ngữ, gồm những bộ ghi trên.




Đăng nhập để trả lời
0
Ngôi Tử - Vi đóng vào chốn hãm
Quyền cứu tha thiểu đảm vô uy .

Phủ phùng không xứ tài suy
Thủy chung nan bảo tư cơ lưu truyền .

Mấy người phú - quý nan toàn
Bởi vầng Ô - Thỏ đóng miền sát tinh . ( Ô Thỏ là Thái Dương , Thái Âm )

Mấy người bất hiển công danh
Bởi vì Nhật - Nguyệt đồng minh Sửu Mùi

Mấy người Thủy - ách hỏa - tai
Sát Liêm ngộ Hỏa , Riêu ngồi Kỵ Tham

Khốc Hư ngộ hãm mạc đàm
Quý phùng không xứ ai làm cho nên

Phụong Long Mão Dậu đôi miền
Vượng thì Kim - bảng chiếm tên ở đầu

Quí Ân Mùi Sửu hạn lưu
Đường mây nhẹ bước danh cao bảng rồng

Quan cung Hỉ ngộ Đào Hồng
Thiên Di tối kỵ Kiếp Không lâm vào

Công danh đợi tuổi tác cao
Giáp Liêm giáp Sát đóan nào có sai

Giáp Bát -Tọa giáp Tam-Thai
Thiếu niên sớm dự các đài nghêng ngang

Thiên Nguyệt _ Đức , Giải Thần tàng
Cùng là Quan , Phúc một làng trừ hung

Xét xem đến chốn Thủy cung
Kỵ tinh yểm Nhật úy đồng Kình Dương

Đà La Địa -Kiếp chiếu phương
Linh Tinh lại gặp bất tường chẳng sai

Xét xem phú -quí mấy người
Mệnh vô chính diệu trong ngoài Tam Không

Đẩu Quân ngộ Tử -Tức cung
Địa -Không Tật -ách bệnh phùng huyết hư

Hạn phùng Riêu Hổ khá ngừa
Những loài ác thú phải xa chớ gần

Hạn hành Kỵ Cự hung thần
Phải phòng những chốn Giang Tân mới lành

Âm dương đôi ngả cho minh
Âm cư âm vị , Dương hành dương cung

Vận phùng Đại Tiểu trùng phùng
Cát thì thịnh vượng hung thì truân chuyên

Dương Đà trùng nhiễu mệnh viên
Nói năng loạn -thuyết kẻo phòng khẩu tai

Số muộn màng gái trai ôm ẵm
Kỵ Đà len lỏi Tử cung

Ách cung ác sát trùng phùng
Khí âm lạnh lẽo chẳng cùng khí dương

Hồng -Loan ngộ Kiếp Không đồng thủ
Xá bàn chi bần lũ yểu -vong

Kỵ Đà Thái Tuế Thân cung
Khỏi nàn nào được thung dung mấy người

Phụng Long Mão Dậu số ai
Trước sau vinh -hiển trong ngoài nổi danh

Sao Quan Quí cùng Khôi tinh
Lâm cung Thân Mệnh để danh bảng rồng

Tọa hướng Quí chẳng phùng Không xứ
Gặp Khoa thì nhất cử thành danh

Nhật -Nguyệt chiếu trong ngoài đồng vị
Công danh mỹ hỹ cao quan

Con em xa khứ xa hoàn
Bởi vì Nhật diệu chiếu miền Nô cung

Bệnh đởm trí tức rất hung
Bởi vì Tật -ách Bệnh phùng Kiếp Cơ

Kiếp Không hai ấy khá ngừa
Lâm vào Huynh -Đệ đơn sơ một mình

Phụ -Mẫu cung ắt có Thiên Lương
Cha mẹ hưởng phúc lành thượng thọ

Đồng Lương hội nhập Thê hương
Vợ chồng cùng một tổ đường sinh ra

Thai tinh lại gặp Đào Hoa
Tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng

Mạnh cung gặp Kiếp Không lâm thủ
Xá bàn chi bần lũ về sau

Ấn mang vi liệt Công Hầu
Sao lành Tướng Cáo hội vào Mệnh cung

Làng có giếng không chẳng uống
Sao Mộc tinh chiếu xuống Tật cung

Nhật phùng hãm địa Thanh Long
Có người phương ấy vẫy vùng khôn lên

Đăng nhập để trả lời
0
Bàn luận đến khoa Tử Vi, ai ai cũng đều biết Đế tinh Tử Vi là tên một vị sao với khá nhiều "quyền lực" trong tay hơn tất cả 118 vị sao khác ! trước kia, con số này cao hơn thế nữa (135), nhưng không hiểu sao khi bộ môn TV vào VN ta, thì Cụ Lê Quý Đôn, hay Cụ MạcĐĩnhChi, "revised" lại và bỏ đi 17 !

Trong số 118 vị còn lại này, và trên 12 vị trí trong lá số mà những vị sao này tuần tự"cư ngụ", có những vị trí tốt và cũng có những vị trí xấu mà trong danh từ của môn TV thường gọi bằng "đắc địa" (tốt) hay "hãm địa"
(xấu). Đế tinh Tử Vi, với đặc tính là cứu khốn, phò nguy vào bậc nhất, với rất nhiều uy quyền, hay vì là "vua" trong những vua, nên có một ngoại lệ, không có vị trí xấu hay hãm địa mà chỉ có vị trí "bình hoà" !

Nếu nói như thế, thì nó đi ngược lại hẳn hai câu phú trên, hay người xưa sợ "phạm huý" mà không dám dùng đến chữ xấu hoăc hãm cho vị sao đầy uy quyền này ! Hoặc vì quá uy quyền, mà người ta đã phải đề cao
một cách thiếu đắn đo, chứ trên thực tế, dù có quyền hành trong tay, nhưng không gặp được thời, không gặp được người, và không phải là đất dụng võ thì uy quyền chỉ là con số không !

Với lập luận này, Đế tinh Tử Vi không còn cái ngoại lệ nữa mà những vị trí có cái tên "bình hoà", sẽ được coi là những vị trí hãm địa như ở những cung Hợi, Tý, Mão, Dậu !

Khi một người nào đó có Phúc, Mệnh, Thân, Tật .v.v. lọt vào 4 cung trên, do Đế tinh Tử Vi trụ trì, đương số không trông chờ được sự cứu khốn phò nguy như vị Đế tinh này thường làm ! Ngoài 4 vị trí trên đã vậy, những vị trí còn lại, Tử Vi cũng chỉ có uy quyền khi không gặp Triệt, Tuần, Không, Không kiếp, Địa Kiếp v.v..

Nếu gặp thì Tử Vi vẫn chỉ có cái tên, cái ngai chứ không có quyền hành, hay nômna gọi là có "tiếng" mà không có "miếng" !Đó là "hoàn canh của những người mang lá số có cách Tử Phủ Vũ Tướng, một trong những cách tốt, đáng lẽ ra gặp được may mắn mà sao hoạn nạn, tai ương cứ dồn dập !
Có phải chăng : Ngôi Tử vi đã đóng vào chỗ .....hãm !
__________________
Đăng nhập để trả lời
0
"Phủ phùng Không xứ tài suy
Chung thân nan bảo tư cơ lưu truyền"

"Phủ", hay là Thiên Phủ, là một trong 14 chính tinh, và cũng còn được gọi là đệ nhị Đế Tinh và chỉ sau Tử Vi . Đệ nhị Đế tinh này cũng có những dặc tính giống Tử Vi, và cũng không có những vị trí "hãm địa" mà chỉ có vị trí "bình hoà" như ở các cung Sửu, Mão và Dậu .

Thiên Phủ gốc là Tài tinh và Quyền Tinh, nhưng còn mang theo những ý nghĩa khác nữa như phú quí cũng như thọ ! Vì là Tài Tinh lẫn Quyền tinh, lại còn mang thêm Quí và Thọ, nên khi Thiên Phủ ở cung nào thì đưa những ý nghĩa này đến cho đương số ! Tuy nhiên khi Phủ ở những vị trí tạm gọi là "bình hoà" (hay "hãm địa nói theo cách khác) thì những ý nghĩa trên sẽ giảm đi đáng kể !

Khi Thiên Phủ đi lạc vào những nơi, mà những nơi này có Tuần không, Triệt Không, Thiên Không, Kiếp Không, thì tất cả những gì oai phong
lẫm liệt của vị đệ nhị Đế tinh này không còn nữa ! nhất là những cung mà Kiếp Không cũng như Thiên Không gọi là "sân nhà" !? Ngay cả khi chỉ gặp Hoả, Linh, Kình, Đà không thôi, cũng đã làm cho Thiên Phủ kém đi quyền hạn một cách đáng kể lắm rồi, và một khi Thiên Phủ gặp những "không" như kể trên, thì dù ở cung nào, đương số cũng sẽ mang cùng ý nghĩa
"không" : Không phú, không quí, không thọ...vv khi ở Mệnh, và khi không có được những yếu tố trên thì đương số chỉ có cách đi tìm chốn "cửa thiền"
thì "may ra" khá hơn !

Ở Phúc, Tài, Điền .......cũng vẫn là chữ không, hung hoạ luôn luôn đến, túng bấn, vô điền sản đến vô giacư !
Ở Phu Thê, Nô thì vợ chồng kém cỏi, chồng bê tha vợ mất nết !

Trở lại cái đệ nhất cách "Tử Phủ Vũ Tướng", màtrong lý số vẫn cho là cách đẹp nhất, mà trong đócó sự có mặt của hai "Đế tinh", Tử Vi và Thiên Phủ
nhưng nếu hai đế tinh này gặp phải bọn "cùng đồ" (Triệt, Tuần, Không Địa Kiép..Linh, Hoả.v.v) mà trở nên suy, tai hoạ thì xin được cái "hạ cách"
có lẽ thú vị hơn !


Đăng nhập để trả lời
0
"Mấy người phú quý nan toàn,
Bởi vầng Ô Thỏ đóng miền sát tinh ! "

Trở lại 14 chính tinh trong TV, ngoài những tên gọi chính thức, một vài chính tinh trong số này còn có những tên gọi khác, chẳng hạn như sao
Thái dương, Thái âm, còn được gọi là Nhật, Nguyệt hay cho Nhật Nguyệt là Ô Thỏ !

Trong lá số TV, Thái Dương được gọi là đắc địa khi cư ngụ tại 7 cung liên tiếp từ Sủu đến Mùi, và những cung này cũng được gọi là những cung
ngày ! Riêng tại cung Mùi, vì đây là lúc hoàng hôn, nên TD đã kém đi độ sáng !

Thái âm , thì ngược lại, được gọi là đắc địa cũng 7 cung liên tiếp nhưng từ Mùi đến Sửu, và những cung nàycòn được gọi là cung đêm ! Riêng tại Sửu, vì là lúc tảng sáng, nên độ sáng của Nguyệt kém đi để nhường chỗ cho Nhật ! Do đó ở hai cung Sửu và Mùi, là hai cung tranh tối tranh sáng giữa Nhật và Nguyệt, vì vậy mà hai câu phú sau đây ra đời :

"Mấy ai bất hiển công danh,
"Bởi vì Nhật Nguyệt đồng minh (đồng cung) Sửu Mùi !

Một khi Mệnh, Tài, Quan nằm vào hai cung này, thì có thể Mệnh Tài Quan đã ở trong trạng thái nhập nhằng, đó là sự lập luận đơn giản, nhưng khi đi vào chi tiết thì sự nhập nhằng này được minh định rõ ràng hơn đôi chút, như người mang lá số có tuổi dương nam, sanh vào ban ngày, ngũ hành mạng là Hoả, mà Mệnh Tài Quan ở tại Sửu, thì công danh cũng có thể đạt vì Nhật hợp với những người có những "yếu tố" trên, vả lại đối với dương nam, chiều đi của lá số là chiều thuận, nên Nhật càng ngày càng sáng ra !

Nhưng cũng với những yếu tố trên, mà Mệnh Tài Quan ở tại cung Mùi, thì có lẽ "bất hiển" thật ! vì Nhật nhường chỗ cho Nguyệt, mà những yếu tố
của đương số không còn thích hợp với Nguyệt nữa !

Khi một lá số có TDương ở những cung ngày, hay Thái Âm ở cung đêm thì Nhật Nguyệt được coi là hợp cách cũng như thuận lý ! Nhất là khi những cung cường (quan trọng) như Phúc,Mệnh, Tài ,Quan ddược TDương,TÂm là chính tinh . Có được những điểm tốt này, thì đương có nhiều hứa hẹn đạt được ba chữ "Phúc Lộc Thọ" .

Nhưng, bất cứ vấn đề nào có chữ "nhưng" tiếp theo, thì sự việc sẽ thay đổi cục diện ! Một khi Nhật,Nguyệt hay Ô Thỏ dù ở vào những vị trí tốt, nhưng gặp những "Sát tinh" (lục sát) hay những "ám tinh" (tam ám), thì ba chữ "Phúc Lộc Thọ" này khó mà có, mà có có thì cũng khó mà giữ !

Vì vậy cổ nhân ta mới có câu phú :

"Mấy người phú quý nan toàn,
"Bởi vầng Ô Thỏ đóng miền sát tinh !
Đăng nhập để trả lời
0
Phụng còn được viết là Phượng hay Phượng các
Long là Rồng hay Thanh Long

Cả hai tên gọi này là tên trong Tử Vi, và đầy đủ cả bộ của hai sao này là "Long, Phượng, Hổ, Cái" hay còn được gọi là "tứ linh" !

Trong lá số Tử Vi, phần ngoài được chia ra 12ô, cho 12 cung, và mỗi cung có một tên gọi theo 12 Chi, bắt đầu là Tý, theo chiều thuận (chiều kim đồng hồ) và chấm dứt là Hợi ! Cung Hợi nằm tại góc bên phải, phía dưới cùng của lá số !

Khi biết cung Hợi nằm ở góc đó, thì việc đi tìm cung Mão và Dậu không còn khó khăn gì nữa ! Hai cung Mão và Dậu nằm đối xứng nhau theo
chiều ngang nhưng hơi xéo lên !

Khi lá số của một người nào đó, có Long,Phượng tại hai cung Mão và Dậu, rơi vào đúng cung Quan hay Mệnh,hoặc đại tiểu hạn ngộ được hai sao này
hay cả bộ "tứ linh" , mà ngũ hành của tam hạp Quan,Mệnh, đại tiểu, hạn không khắc chế, mà vào những năm có thi cử, ra trường, hay nói chung có "mưu sự" gì đó thì có cơ may thành công trong tầm tay !
Chứ nói "dĩ nhiên" hay "hẳn nhiên" là bảng vàng, võng vàng thì chỉ là ru ngủ mà thôi !

Một lập luận khác thì cho rằng :

Long là Long trì
Phụng là Phượng hay Phượng các

Mão ,Dậu là người có tuổi Mão hay Dậu chứ không có ý muốn nói hai cung Mão và Dậu như lập luận thứ nhất . Vì hai sao này an theo Chi nên người tuổi Mão hai sao này đồng cung ở Mùi, người tuổi Dậu hai sao này đồng cung tại Sửu . Hai sao này lại có vị trí tốt nhất là Mùi và Sửu .

Ngoài yếu tố mang hai tuổi Mão và Dậu, những người mang bộ sao văn tinh (Cơ Nguyệt Đồng Lương) và tam hạp với Mệnh gặp được hai sao này, thì đương số nhẹ bước thang mây ! Còn chuyện "dĩ nhiên" khoa bảng
thì cần phải xét lại, vì còn cần nhiều những yếu tố khác nữa !

Quí Ân Sửu Mùi hạn lưu
Đường mây nhẹ bước, danh cao bảng rồng !

Quý Ân là tên gọi tắt của Ấn Quang và Thiên Quý, hay còn được gọi là Thiên Ất Quí nhân, hai sao này mang rất nhiều ý nghĩa về Quí nhân &Trời Ngoài ý hai nghĩa này còn mang một nghĩa khác nữa là may mắn !
Cũng với những người mang bộ sao văn tinh, mà tam hạp Mệnh, đại, tiểu hạn gặp được Quý Ân tại Sửu hay Mùi thì "công danh" hay mưu sự dễ thành đạt , hai sao này cũng có hai vị trí tốt nhất là Sửu với Mùi !

Đăng nhập để trả lời
0
* Song hao : chữ tắt của Đại hao và Tiểu hao,thường khi gặp hạn này, thì đổi việc, dời nhà, đi xa, du lịch ! Nếu ngộ cả Đào Hồng, lấy thêm vợ mới, tiêu pha thêm món tiền cho nàng, dắt nàng đi xa để du lịch,và hưởng hon ni mun gì đó !
*Nguyệt hạn : nguyệt là trăng, là tháng ( chứ không phải hoa nguyệt đâu) hạn là hạn ! Do đó "nguyệt hạn" là hạn trong tháng , danh từ này dùng cho cả hai phái.

"Mấy người Thuỷ ách, Hoả tai
Sát Liêm ngộ Hoả, Riêu ngồi KỵTham"

Sát : Thất Sát
Sát: Kiếp sát, nếu cả hai di chung thì thường
được gọi là "lưỡng sát"
Liêm : Liêm Trinh
Hoả : Hoả tinh
Tất cả 4 sao trên đều thuộc hành Hoả

Riêu : Thiên riêu
Kỵ : Hoá Kỵ
Tham : Tham Lang
Tất cả 3 sao trên đều thuộc hành Thuỷ

Thất Sát là một võ tinh, và là hung tinh, nếu cặp kè được với Kiếp Sát thì sẽ trở thành một cặp rất tâm đầu ý hợp, và có tên là "lưỡng sát" ! Bản tính
của lưỡng sát là thích sát phạt, huỷ hoại bằng bạo lực và thường là nhanh chóng !

Khi một lá số nào đó có Thất Sát ở Mệnh hay Tật, ngộ Kiếp Sát, Hoả tinh, hay Linh tinh, Thiên Hình,Thiên Việt , dù rằng Mệnh hay Tật ở những cung
mà Thất Sát được goi là miếu địa đi chăng nữa, nó đà nói lên một cái chết đột ngột, mà thân xác ít khi còn toàn vẹn, như hoả hoạn, súng đạn, bom
mìn v.v. Tất cả những thứ trên được gọi chung là hoả tai . Những hoả tai này càng rõ rệt hơn đối với những người có mạng thuộc hành Hoả, và cả Mệnh Thân trong bộ Sát-Phá-Liêm-Tham ! Ngoài Mệnh /Thân/Tật lẽ dĩ nhiên là phải kể cả đến hạn nữa !

Ngoài hoả tai cho những người đã nói ở trên, thì một số người khác lại qua một thứ "họa" khác, mà trong đây được gọi là "thuỷ ách" ! Đành rằng ai cũng phải trả?a 4 bước đường : Sinh, Lão,Bệnh, Tử, nhưng lại khác nhau ở cái "cách" !

Đối với những người mang lá số có Tham ở Mệnh Thân, Tật, hay hạn, nằm vào những cung như : Tỵ, Hợi, Tý Ngọ,Mão, Dậu ,và nhất là những người
có mạng thuộc hành Thuỷ, một khi ngộ Kỵ, Riêu thì phải đề phòng sông nước tối đa !

Nếu Mệnh, Thân, Tật nằm ở "tứ mộ" (Thìn Tuất Sửu Mùi)thì hung hoạ giảm đi chút chút ! Không hẳn chỉ những người có Tham, Kỵ, Riêu không mà
thôi, mà còn cả những người Mệnh, Thân, Tật có Cự Kỵ (Cự Mộn Hoá Kỵ) cũng bị tai hoạ sông nước này !

Riêng với đàn bà, con gái, "Cự Kỵ" ngoài tai hoa sông hồ, còn mang một "tai hoạ"khác nữa như bị tình gạt "đến nơi đến chốn", mất cả chì lẫn chài, mất luôn cái "nghìn vàng, nghìn bạc". Đôi lúc cả hai xẩy ra một lúc !
Cái này cũng được gọi là thuỷ tai hay thuỷ ách, vì tai biến cũng do "nước" mà ra !!!!


Đăng nhập để trả lời
0
Trong Tử Vi, ai ai cũng đều biết có rất nhiều thang nấc để đánh giá sự tốt, xấu của từng lá số, mà người ta thường gọi là "cách", từ thượng cách đến hạ cách, quý cách và .....rồi đến bần tiện cách !

Thượng cách là cách tốt nhất, cách này không cứ phải là những lá số có bộ sao "Tử, Phủ, Vũ, Tướng" như một số người thường nghĩ, mà có thể là những bộ sao khác như :

-Cơ Nguyệt Đồng Lương
-Sát Phá Liêm Tham
-Cự Nhật
-Nhật Nguyệt ......v.v....

Nhưng những bộ này phải ở những vị trí như "nhập miếu", "vượng địa" hay "đắc địa" và hội, gặp được những bộ phụ đi kèm như Tả hữu, Xương Khúc, Khôi Việt, Long Phượng, Đào Hồng, "tam hoá" (Khoa, Quyền, Lộc)
Về ngũ hành, Mệnh Cục phải tương sinh . Về nguyên lý âm dương phải thuận lý .

Những người có lá số mà hội đủ những điều trên luôn luôn là những người mà công danh, phú quý, hoặc tất cả mọi phương diện đều hoàn mỹ !
Nhưng thường những lá số như thế rất hiếm !

Khi một, hai .... ba yếu tố trên không có, thì cách của "thượng cách" kém dần, và khi những "điều kiện ắt phải có" trên không có được, hoặc nằm vào những vị trí không thích hợp để hỗ tương cho nhau (xung chiếu, tam hạp, nhị hạp) thì những người có lá số "thượng cách" họ chỉ còn có cái vỏ mà không có cái ruột, hay nói nôm na, có tiếng mà không có miếng !

Nếu đã nói trên đời này không có gì tuyệt đối, thì theo lối xếp hạng "cách" , rồi cách tốt xấu trong Tử Vi của các nhà nghiên cứu chuyên môn cũng không mấy hoàn hảo như thứ tự ưu tiên sau đây :

* 1 Tử Phủ Vũ Tướng
* 2 Sát Phá Liêm Tham
* 3 Cơ Nguyệt Đồng Lương
* 4 Nhật Nguyệt v.v......

* 1 Tử Phủ Vũ Tướng : Thường được coi như cách tốt nhất, cách này có ưu điểm trước hết là thích hợp được với cả hai giới, mà không làm mất đi cái "cứng" của đàn ông, cũng như không làm giảm cái "mềm" của phụ nữ, trong khi hai bộ (cách) chính còn lại, không thoả mãn được điều kiện này !

Bộ cách Tử Phủ Vũ Tướng, không còn tốt hay "oai phong" như người ta thường nghĩ cũng như đánh giá, một thí dụ điển hình và dễ hiểu như khi ở một lá số nào đó mang cách Tử Phủ Vũ Tướng mà Tử Vi và ThiênTướng cư ở Thìn chẳng hạn, vì ở đây Tử Tướng chỉ cần gặp La Võng không thôi là đã mất nhiều uy quyền, vì La Võng như một sợi giây thừng cột chặt chân tay, thì dù võ vẽ có cao cũng đành thua ! Nếu còn gặp thêm Tuần, Triệt thì lúc đó Tướng có tài, Vua có giỏi cũng chỉ là cái mão, cái hư danh mà thôi !

Một vài người mang lá số Tử Phủ Vũ Tướng, mà sao cuộc đời cứ thê thảm, chắc cũng ở chỗ Tử Tướng gặp La Võng hay Tuần Triệt mất rồi ! Đó là chưa kể đến chiều đi của lá số (theo tuổi âm hay dương), chỉ chạy lộn chiều thôi, là cũng khiến cuộc đời hoặc lên voi, hay xuống chó ngay thôi ! Đó là chưa đề cập đến ngũ hành hay nguyên lý âm dương! Tử Phủ Vũ Tướng ở sai vị trí, chẳng khác nào cá mắc cạn, hoặc bộ này không có những "bộ trợ tinh" phụ đi kèm (Xương Khúc Khôi Việt Tả Hữu v.v.) thì lại là màn Vua, Tướng "độc diễn" !

Đăng nhập để trả lời
0
(Trích Tử Vi nghiệm lý-toàn thư của cụ Thiên Lương)

Nhật Nguyệt là bộ âm dương của số,biểu tượng cho thiên địa cần sự phân tích thận trọng trong từng vị trí phải làm sao cho hợp lý,không thể bao gồm căn cứ từ Dần đến Thân là thuộc địa của Thái dương,từ Thân đến Dần là nơi sáng tỏ của Thái âm.

1-Thái Dương ở Ngọ,Thái Âm ở Thân.Thái Dương ở đây kể như tuyệt đối với người Dương Hỏa mệnh nếu được thêm là tuổi Dần Ngọ Tuât.Thái Âm kể như là thất bại cho cả 2 hạng Âm Dương,bị Thiên Cơ lợi dung.

2-Thái Dương ở Tỵ thất cách đối với người Dương,chỉ là nhất thời tạm bơ.Thái Âm ở Dậu đắc cách hoàn hảo cho tuổi Âm mệnh Thủy

3-Thái Dương ở Thìn phò trợ đắc lực cho người Dương Thổ,Thái Âm ở Tuất không tương xứng gì cho cả 2 tuổi Âm và Dượng

4-Thái Dương ở Mão nhờ Thiên Lương một phần lớn tương sinh vẫn không lợi bao nhiêu cho người Dương so với người Âm trong trường hợp Mệnh ở Mùi vô chính diệu được Thái Âm ở Hợi quá sáng tỏ đồng chiếu

5-Thái Dương ở Dần người Dương được hưởng tương lai hậu vận bỡi Cự Môn bao phủ lúc ló dạng.Thái Âm ở Tý kể như là hay thêm Thiên Đồng phụ lực,nhưng vẫn là nghịch cảnh của người tuổi Âm mà người tuổi Dương cũng không mấy thuận lý

6-Sửu là mộ địa tận chung cũng như cung Mùi,cả 2 là căn cứ thuộc Âm,Thái Dương đứng ở đây bị sút kém ở 2 nơi là vì LUẬT ÂM DƯƠNG,mà Thái Âm cũng không tót đẹp vì LUẬT NGŨ HÀNH.Hai cung Sửu Mùi là chỗ tập chung để chuyên chế từ Thái Âm sang Thiếu Dương(Sửu) và từ Thái Dương sang Thiếu Âm (Mùi) thành chếch tối chếch sáng.Vậy phải có phép thần thông tách rời Thái Dương lui sang Ngọ,Thái Âm chuyển sang Thân cũng như Thái Âm về Tí và Thái Dương bước đến Dần (TUẦN-TRIỆT)

7-Thái Dương ở Tí là nghịch cảnh sa lầy ghê sợ cho người tuổi Dương,Thái Âm không mấy tốt đẹp hơn Thái Dương chỉ là hợp tình.Thái Âm ở Mão vẫn đẹp với người tuổi Âm...

8-Thái Âm ở Hợi là sa lầy ghê sợ cho người tuổi Dương...

9-Thái Dương lâm Tuất là cảnh u tối,người tuổi Dương vẫn hợp cách và hy vọng có tương lai,Thái Âm ở Thìn là đáng ngại

10-Thái Dương ở Dậu là sôi hỏng bỏng không,nhờ Thiên Lương phù trợ lại bị cung KHẮC mất.Thái Âm ở Tỵ có bề hợp cảnh.

11-Cự Nhật ở Thân là bước đường đời gặp nhiều trở lực cho người tuổi Dương....

12-Nhật Nguyệt ở 12 vị trí sự thiết yếu là:bao giờ Nhật cũng phải ở Dương cung và Nguyệt phải ở Âm địa (Âm cung).Nhật đắc cách là tuổi Hỏa, Nguyệt phải là tuổi Thủy. Sáng sủa hay đen tối chỉ là phụ...Trường hợp mập mờ (lại cái) không bao giờ hợp cách,cho nên Nhật Nguyệt TỐI CẦN bộ Tam minh là ĐÀO-HỒNG-HĨ để được coi như là quang minh-lộng lẫy.Ngoài Đào-Hồng-Hĩ,Nhật Nguyệt RẤT NÊN gặp 1 trong 3 bộ là:XƯƠNG-KHÚC,LONG- PHƯỢNG,QUANG- QUÝ và HÓA KHOA có công dụng như Bộ Tam Minh,nhất là Long-Phượng nâng cao phẩm giá của Nhật Nguyệt lên hàng danh dự anh minh

Nhật Nguyệt được những bộ trên tô điểm sáng rực rỡ bao nhiêu,trái lại rất cần xa lánh Tứ Hung KÌNH-ĐÀ-HÌNH-KỴ chúng bao vây che lấp Nhật Nguyệt mất cả ánh sáng
Nhật Nguyệt ở 2 vị trí Sửu Mùi rất cần TUẦN-TRIỆT,Hóa Khoa hoặc Thiên tài để điều chỉnh tách rời ra...
Đăng nhập để trả lời
0
Nhị diệu quang huy công danh tảo đạt

-Cung Mệnh (Thân) có Nhật,Nguyệt sáng sủa thì tuổi nhỏ đã có công danh
Nhật Nguyệt bất khả nhàn cung
-Sao Thái Âm,Thái Dương không nên cư hãm địa rất xấu
-Cung Mệnh (Thân) an tại cung Thìn có Nguyệt tọa thủ, hay tại Tuất có Nhật tọa thủ ,gọi là Phản bối không sáng được nếu gặp Khôi,Việt hội họp thì tốt
-Cung Mệnh(Thân) an tại Mùi có Nhật tọa thủ là người không bền chí làm việc gì cũng chỉ siêng lúc đầu sau biếng nhác và bỏ dỡ.
-Cung Mệnh(Thân) an tại Dần có Nguyệt tọa thủ là người làm việc gì cũng chỉ có đầu mà không có đuôi
-Cung Mệnh(Thân) có Nhật, Nguyệt tọa thủ không tốt bằng xung chiếu hoặc hợp chiếu hoặc giáp biên
-Số đàn ông kỵ nhất cung Mệnh(Thân) có Nhật hãm địa tọa thủ và số đàn bà kỵ nhất cung Mệnh(Thân) có Nguyệt hãm tọa thủ
-Cung Mệnh(Thân) vô chính diệu có Tuần,Triệt án ngữ hay Thiên Không, Địa không hội họp có Nhật,Nguyệt đắc địa chiếu tất vinh hiển giàu sang
-Cung Tài bạch giáp Nhật giáp Nguyệt không giàu cũng sang
-Cung Mệnh(Thân) an tại Ngọ có Nhật tọa thủ người tuổi Canh,Tân,Đinh,Kỷ(Thổ) được hưởng giàu sang hơn người
-Cung Mệnh(Thân) có Nhật,Nguyệt,Cơ,Lương sáng hội họp là người trường thọ
-Cung Tài bạch có Nhật sáng sủa tọa thủ tuy gặp Sát tinh cũng vẫn được hưởng giàu sang
Đăng nhập để trả lời
0
Sao Thái dương(Nhật):

-Phù trợ một cách hoàn hảo cho người tuổi Dương(Dương Nam,Dương Nữ)-Càng gia tăng giá trị hơn nếu như sanh vào Ban ngày cộng thêm lại là mạng Hỏa,Thổ,Môc...Dù cho có bị Lạc hãm vẫn có hậu vận sau này...
Ngoài những yếu tố này ra thì dù Nhật có Miếu vượng cũng chỉ là cái vỏ bọc bên ngoài mà thôi.(đối với tuổi Âm Nam,Âm Nữ hoặc mạng Kim,Thủy & sanh vào Ban đêm)

Sao Thái Âm (Nguyệt) :

-Phù trợ đắc lực cho người tuổi Âm (Âm Nam,Âm Nữ),nếu có thêm càng nhiều những yếu tố sau đây thì càng phù trợ một cách đắc lực theo CẤP SỐ NHÂN :-Sanh vào Ban Đêm & nhất là vào ngày trăng tròn(từ 12 đến 17 âm lịch)-Tuổi Thủy,Mộc,Kim...Đắc được những yếu tố này dù Nguyệt có lạc hãm thì vẫn được PHÚC-THỌ song toan...Đối với những tuổi khác thì cũng tương tự như ở Nhật

Nhật-Nguyệt là 2 chính tinh vô cùng quan trọng trong Tử Vi,là biểu tượng của:Thông Minh,Trí Tuệ,Công Danh,Tài Sản,Tuổi Thọ...
Và nếu cung THÂN được may mắn nằm trong tam hợp THÁI TUẾ nữa thì rất dễ được Như ý & thành công trên đường đời !!!
Đăng nhập để trả lời
0
Khoa Tử Vi có một tính tổng quát cao, nó chỉ nói lên mối tương quan trực tiếp giữa các yếu tố trong quá trình xét đoán. Vì thế không nên đòi hỏi ở Tử Vi một độ chính xác tuyệt đối như với Tứ Trụ hay Kinh Dịch mà chỉ nên chấp nhận một độ chính xác tương đối nào đó, thông thường, Tử Vi đạt mức chính xác 75% - 90%. Khi nói đến Tử Vi như một Khoa Học, một Hàm Số chỉ các loại năng lượng trong cơ thể con người được trừu tượng hóa qua tên các Sao, thì các hàm số này có sự lệ thuộc vào những ẩn số, và hàm số biến thiên theo ẩn số. Nếu người giải đoán tìm được đáp số của ẩn số thì ẩn số đó trở thành biến số thì ẩn số đó giúp xác định Hàm Số Tử Vi một cách thích đáng.

Thực vậy, mỗi sao trong một cung có nhiều ý nghĩa. Ý nghĩa đó thay đổi tùy sự kết hợp với các Sao khác. Người lý giải phải lựa chọn ý nghĩa nào đó thích hợp nhất trong thế liên hoàn kết hợp đó. Chính vì phải lựa chọn như vậy nên trên một sao có thể có nhiều luận đoán, căn cứ trên ý nghĩa khác nhau của một sao.

Tử Vi thường chỉ nhấn mạnh đến các cung và xem nó như yếu tố căn bản của Tử Vi. Đi sâu vào chi tiết, ta thấy trong mỗi cung đều có cả chính tinh lẫn phụ tinh. Các sao này tác hóa lẫn nhau theo quy luật tương quan về âm dương, ngũ hành theo ảnh hưởng chế hóa lẫn nhau về ý nghĩa. Vì vậy, đi sâu đến các sao trong một cung, luận đoán Tử Vi càng phức tạp hơn. Chẳng những hàm số này phải quan tâm đến xử chế hóa trên 2 bình diện âm dương, ngũ hành và ý nghĩa các sao mà còn phải lưu ý đến số lượng các sao tốt xấu trong cung. Người lý giải phải nhận định về nhiều mặt của một sao.

Tính phức tạp của Tử Vi còn được thể hiện qua sự phức tạp trong cách tiếp cận và cách lý giải của cung Phúc Đức. Bản thân cung Phúc Đức cũng có một cách lý giải riêng và làm tăng cường hay chế giảm sức mạnh cũng như ý nghĩa của tất cảc các sao trong các cung.

Tính phức tạp này còn do đặc trưng về con người, sinh vật không đơn giản trong cấu tạo, trong sự phản ứng. Nó có quá nhiều nhân tố cấu tạo. Nó cũng không bao giờ phản ứng theo một căn bản nào. Có khi lý trí lấn áp tình cảm, có khi tình cảm lại có ưu thế hơn, có người chẳng phản ứng theo căn bản nào mà chỉ xu hướng theo dư luận.

Do đó, Tử Vi không thể chỉ đơn giản là một phương pháp, một công thức, một đồ biểu, không đo lường được về lượng cũng như về phẩm một cách chính xác. Chính vì vậy làm cho Khoa Tử Vi một cách rất tương đối.

Trước hết, Tử Vi là một hệ thống tương quan giữa các yếu tố phức tạp, và khi đưa ra không thể lý giải một cách máy móc hay bằng một ước đoán cụ thể nào. Công dụng của nó chỉ nêu lên một ý niệm tương quan, phân tích những yếu tố tương quan .

Tử Vi nhắc nhở người xem số về sự kiện liên hệ chặt chẽ giữa các yếu tố. Đều này tránh những ngộ nhận vội vàng hay phiến diện. Người giải đoán, nhờ nhãn quan tổng hợp của Tử Vi, phải gom góp, đối chiếu, cân nhắc, ngõ hầu có thể kết luận trên sự tổng hợp các nhận định cục bộ.

Tử Vi quan niệm con người một cách toàn diện, bao hàm cả thể chất lẫn tinh thần, cả di truyền lẫn bản tính cá nhân, cả môi trường gia đình và xã hội, cả công danh lẫn tài lộc. Khoa Tử Vi không tách rời các phương diện của con ngưuời. Con người trong Tử Vi được xem là một tổng hợp các phương diện chớ không phải là một phương diện riêng biệt nào.










Đăng nhập để trả lời
0
Có người cho rằng Tử Vi là một học thuật giải đáp mọi bí ẩn về số phận con người, tiên liệu được mọi biến cố, đề ra các kết luận chính xác về cốt cách, nhân phẩm, tâm tính, gia đình, bè bạn, quan trường, tài sản,...gói ghém mọi thiên định của Trời Đất dành cho một cá nhân. Tử Vi chỉ cần mở lá số ra là có thể biết mọi việc quá khứ vị lai như: bao giờ phát tài, bao giờ cưới vợ, khi nào thì có con,...Quan niệm này đề cao quá đáng vai trò của Tử Vi, cho nó một giá trị huyền bí quá lớn. Các vì sao được xem như một vị thần hộ mệnh hay án mệnh mà không ai có thể cưỡng lại nổi. Và con người không thề chủ động tạo được tương lai của mình, mà phải chịu phó mặc cho thiên định.

Trái lại có người cho rằng Tử Vi là một dị đoan, mê tín, thậm chí là một tà thuật của những nhà bói tóan nhằm trục lợi trên tín ngưỡng của thiên hạ. Mọi luận đóan của Tử Vi đều là sai, không đáng tin cậy.

Hai ý kiến trên đều là những ý kiến phiến diện và hời hợt. Tử Vi thật sự không có một giá trị huyền bí nào, các vì sao trong Tử Vi không phải là những vị thần linh giám sát điều khiển vận mệnh con người gì cả. Đó chỉ là yếu tố có ảnh hưởng đến con người. Chứ không hề có sự điều khiển của đấng chí tôn nào cả. Các sao trong Tử Vi chỉ là các tên gọi biến kiến, mượn tên một vật thể để mệnh danh một yếu tố trong con người. Các sao trong Tử Vi là những danh từ chỉ mức năng lượng (*) trong cơ thể con người và chu kỳ họat động của nó, qua đó phân tích con người thành những yếu tố nhỏ rồi hợp lại.


(*) Hiện nay khoa học đã tìm được 3 mức năng lượng là: Trí Tuệ, Sức Khỏe và Tinh Thần, và có thể vẽ nó trên đồ thị hình SIN. Tử Vi có tất cả 118 mức năng lượng.




Đăng nhập để trả lời
0
Từ khởi thủy đến nay, khoa Tử Vi vẫn không thay đổi đối tượng : Tìm hiểu con người.

Tác giả Khoa Tử Vi là đạo sĩ Trần Đoàn, sinh dưới thời nhà Tống. Ông này đã dựa vào Kinh Dịch cùng những khai triển về lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành của Đổng Trọng Thư, một triết gia thời Hán, để lập ra khoa Tử Vi.Theo nguyên ngữ, danh từ Tử Vi không nói lên đối tượng khảo cứu, Tử là màu Tím, Vi là từ của vi diệu. Nhưng mục đích của Tử Vi là tìm hiểu con người và số phận con người, dựa trên hệ thống quy luật biến hóa của triết thuyết về Vũ Trụ thời đó. Dù căn bản triết lý của Tử Vi cao siêu, nhưng đối tượng chỉ nhắm vào con người mà thôi.

Trong việc tìm hiểu này, Tử Vi có tham vọng khảo sát cả con người lẫn đời người, tức các chi tiết sau:


1. Đặc tính cá nhân của mỗi người, bao hàm các yếu tố :
- Cơ thể
- Tướng mạo
- Tính tình
- Bệnh tật

2. Đặc tính gia đình :
- Cha mẹ
- Anh chị em
- Vợ chồng
- Con cái
- Đời sông ngoại hôn

3. Đặc tính kinh tế :
- Nghề nghiệp
- Tài lộc
- Điền sản

4. Đặc tính xã hội :
- Môi trường sinh sống
- Những mối giao thiệp

5. Đặc tính dòng họ :
- Phúc Đức
- Ảnh hưởng của Phúc Đức

6. Đặc tính vận số :
- Các giai đọan của đời người.
- Các biết cố lớn trong một khỏang thời gian.




Đăng nhập để trả lời
0
Tử Vi quan tâm đến nhiều ảnh hưởng trên con người, từ cá tính đến sinh kế, gia đình, xã hội và phúc đức. Đặc biệt, Tử Vi chú trọng nhiều đến cung Phúc Đức, được xem như một cung cường, tiên niệm rằng hạnh phúc của con người tùy thuộc nhiều ở phần Duy Linh, âm đức của ông cha để lại.

Nhưng đây chỉ là một cánh cửa hé mở vào phần linh thiêng mà thôi. Kỳ thực, Tử Vi hướng về nhân sinh quan hơn là thế giới vô hình. Mặt khác, cần phải lưu ý rằng khoa Tử Vi hướng về nhân sinh quan của con người thế tục, chớ không phải của con người tôn giáo. Hầu hết các bộ sao trên các cung đều nói về các đặc điểm, biến cố của người đời chớ không phải của người đạo.

Tử Vi, căn bản là dành cho người thế tục cho nên không thể xem được cho người có bật chân tu vì đây là những người nhân sinh siêu thoát, khác hẳn với người đời. Bên cạnh đó, Tử Vi cũng không thể xem được cho những người ái nam ái nữ vì đây là những người không có giới tính rõ ràng, mà với Tử Vi giới tính rất quan trọng.

Giá trị Tử Vi được đặt trên nền tảng của học thuyết Âm Dương Ngũ Hành, và các yếu tố sao được gán cho nhiều ý nghĩa phức tạp khác nhau. Do đó, khi nói đến giá trị Tử Vi ắt phải nói đến giá trị học thuyết Âm Dương Ngũ Hành cũng như ý nghĩa các sao :

1. Giá trị Tử Vi về mặt Âm Dương Ngũ Hành : Các qui tắc về Âm Dương Ngũ Hành vốn vô cùng phúc tạp, và khi áp dụng vào Tử Vi thì người ta chỉ rút ra được các qui tắc tổng quát nhất. Chiếu theo qui luật tương sinh tương khắc của Ngũ Hành, nên các giá trị của Tử Vi cũng sẽ bị thay đổi khi gặp phải các nhân tố khác, điều đó khiến cho Tử Vi vô cùng phức tạp và đôi khi thiếu các đáp số cụ thể. Đây là một trong những thiếu sót của Tử Vi. Và để khắc phục thiếu sót này, người ta thường kết hợp Tử Vi và Kinh Dịch để giải đáp về vận mệnh toàn cục hoặc cục bộ về con người.

2. Giá trị các sao trong Tử Vi : Tử Vi có khoảng 118 sao, mỗi sao được gán cho nhiều ý nghĩa, và khi các sao kết hợp với nhau thì cũng cho ra các ý nghĩa khác. Nhìn chung, ý nghĩa các sao bao hàm hầu hết các biến cố của đời người. Biết được nhiều trường hợp cụ thể điển hình của đời người trong phạm vi tính tình, tướng mạo, bệnh tật, vợ chồng, con cái, sự nghiệp . . . một phạm vi lại diễn đạt nhiều uẩn khúc và nhiều tình trạng khác nhau. Tuy nhiên, dù ý nghĩa các sao có phong phú, tinh vi, bao hàm nhiều khía cạnh nhưng thực sự chưa nói hết chi tiết một đời người, chi tiết các biến cố. Và trình độ cụ thể của Tử Vi vẫn còn nhiều hạn chế nhất là ở các cung như : Phu Thê, Huynh Đệ. Tử Vi cũng không phân biệt các số mệnh cũng như các nhân sinh trùng giờ, người tu hành.

Đó là những giá trị ưu khuyết của Tử Vi, và ta cũng không nên đòi hỏi quá nhiều vào một môn khảo sát con người còn sơ khai, tuy khoa Tử Vi có tham vọng đó.




Đăng nhập để trả lời
0
Ý nghĩa của 12 con vật

Nước ta hiện nay đang tồn tại hai loại lịch : trong khi du lịch đang có xu hướng lan rộng thì âm lịch vẫn tiếp tục khẳng định vị trí và sức mạnh của nó trong đời sống tâm linh của dân tộc . Âm lịch gắn liền với tế tự , lễ hội , với sinh hoạt ma chay , cưới gả , dựng nhà , dựng cửa ... Và cứ mỗi lần tết Nguyên Ðán về , người ta lại nghênh đón một con vật mới và lưu luyến tiễn đưa con vật biểu trưng của năm củ đã đi về quá khứ với lời hẹn gặp lại sau 12 năm . Việc chọn các con vật làm biểu tượng đứng đầu mỗi năm - tức là 12 con giáp - phải chăng là một sự ngẫu hứng , tuỳ tiện hay là nó tuân theo một quy luật nhất định nào đó ?

Trước hết , ta phải thừa nhận dân tộc nào cũng có quan niệm , cũng có cảm thức về thời gian , nhưng không phải nước nào cũng làm được lịch , cũng có chuẩn mực về lịch . Lịch Pháp gắn liền với thiên văn , với chiêm tinh học , là sản phẩm quan trọng mà các nền văn minh tối cổ như Trung Hoa , Ai Cập , Babilon , Hy Lạp .đạt được . Có thể nói rằng chính vẻ đẹp hùng vĩ của bầu trời ban đêm góp phần quan trọng cho tư thế của con người mãi mãi đứng thẳng , giúp con người hoàn thiện dần để trở thành Con Người viết hoa . Ngưỡng mộ vẻ đẹp của bầu trời sao còn thúc đẩy con người vươn tới khát vọng chinh phục vũ trụ , một khát vọng mang tính chất định mệnh của nhân loại . Về điều này , các huyền thoại xưa về Ica , về chiếc thảm bay , về Hậu Nghệ xạ nhật , Nữ Oa vá trời , Phù đổng thiên vương về trời sau khi dẹp xong giặc ngoại xâm , Chử Ðồng Tử và Tiên Dung trở về thượng giới . Thật vô cùng đẹp đẽ và mang tinh thần nhân văn . Mười hai con giáp , về nhiều mặt cũng mang vẻ đẹp đó.

Thứ hai , nước ta không có lịch (Sau này các triều đại ta có làm lịch khác với lịch Trung Quốc , nhưng vẫn từ cách nhìn chung . Tuy nhiên , vấn đề này còn để ngỏ để chờ nghiên cứu thêm các tài liệu thời cổ sử . ) Âm lịch mà chúng ta sử dụng có nguồn gốc từ Trung Quốc và được hoàn thiện , bổ sung bởi thực tiễn kinh nghiệm sản xuất ,kinh nghiệm thiên văn của dân tộc ta. Nói chung việc giao thoa văn hoá giữa các nền văn minh bao giờ cũng xảy ra với những thành tựu về nhiều lãnh vực . Dân tộc này vay mượn của dân tộc khác những sản phẩm hoàn thiện hơn , mang tính thực tiễn cao hơn . Nhấn mạnh điều này để thấy rằng muốn hiểu được mười hai con giáp thì phải trở về với cội nguồn Trung Hoa của nó , trở về với triết học Trung Hoa cổ xưa , đặc biệt là thuyết Âm Dương Ngũ Hành .

Thứ ba , các cách gọi , cách định danh ngoài ý nghĩa biểu tượng cụ thể , chúng còn mang sức mạnh khái quát rất lớn . Chúng trở thành các "ký hiệu thông tinh "để chứa các nội dung thông tin theo một cách mã hoá thông tin nào đó, vì thế , giải thích việc mười hai con giáp không tách rời việc giải mã này .


o0o


Âm Dương Ngũ Hành gắn liền với tư duy Dịch lý là nền tảng để xây dựng các quan điểm trong đó có thiên văn . Người xưa xuất phát từ quan sát thực tiễn để định dạng sự vật :

Âm là thái âm tức là Mặt trăng

Dương là Thái dương tức là Mặt trời

Ngũ hành là Kim , Mộc , Thuỷ , Hỏa ,Thổ

Là năm hành tinh mà người cổ đại sớm nhận biết được cuả hệ mặt trời . Bên cạnh đó , quan niệm Trời = cha , Ðất= mẹ và quan niệm về một vũ trụ hài hoà cũng đóng vai trò quan trọng đối với người xưa . Và như vậy Trời = thiên là dương , Ðất = địa là âm , thượng giới và hạ giới được phân định , trật tự của vũ trụ được xác lập và trật tự xã hội cũng theo đó được hình thành . Trong xã hội có quan hệ vua - tôi , quân tử - tiện dân , có nội trị - ngoại giao , trong - ngoài ,trên - dưới , trước - sau , phải - trái , đúng - sai , thật- giả . tất cả đều được quy tụ vào phạm trù âm dương , được quy vào các phẩm chất ngũ hành . Tuy nhiên , sự phân chia âm - dương không phải thùân tuý máy móc mà nó xuất phát từ nguyên lý của dịch học : : "Dịch có thái cực , thái cực sinh lưỡng nghi , lưỡng nghi sinh tứ lượng , tứ lượng sinh bát quái " , nghĩa là trong sự xếp đặt đó đã bao hàm một sự vận động biện chứng , đặc biệt là quan niệm trong "âm có dương , trong dương có âm " trỡ thành nguyên tắc cấu trúc sự vật . Do đó , khát vọng về một cuộc sống hiền hòa , một xã hội ổn định , một trạng thái cân bằng là giấc mộng đẹp và là đích hướng tới , của người xưa . Vậy thì quan niệm âm dương ngũ hành có liên quan gì đến mười hai con giáp .

Theo sự phân tích của người xưa , mưòi hai con vật được tuyển chọn , bao gồm cả vật nuôi lẫn thú vật hoang dã , vừa có thật vừa tưởng tượng , đều đáp ứng nguyên tắc âm dương , chẵn lẽ . Ở đây cũng cần nói thêm về dương cơ , âm ngẫu , cơ là số lẽ , ngẫu là số chẵn . Các con vật được chọn đều có phẩm chất chẵn lẽ mang đặc trưng loài của chúng , thể hịên qua số ngón chân của chúng . Cụ thể là :


Tý = con chuột = 5 ngón = lẻ = dương .

Sửu = con trâu (trong thiên văn Trung Quốc nghĩa là ngưu = con bò ) = 2 ngón = chẵn = âm

Ngọ = con ngựa = một ngón = lẻ = dương

Mùi = con dê = hai ngón = chẵn = âm

Thân = con khỉ = năm ngón = lẻ = dương

Dậu = con gà = bốn ngón = chẵn = âm

Tuất = con chó = năm ngón = lẻ = dương

Hợi = con lợn = bốn ngón = chẵn = âm




Như vậy , số ngón tối đa là 5 , tối thiểu là 1 , còn lại là 2 và 4 . Tuyệt nhiên không có số 3.

Số 3 được đưa vào hệ tam tài : Thiên - Ðịa - Nhân , hệ tọa độ quan trọng mà người xưa xác nhập được nhằm khẳng định vai trò của nó trong vũ trụ . Con người luôn có ý thức dùng kích thước vũ trụ để đo bản thân . Vì thế , người Hy Lạp cổ mới mãn nguyện về việc "con người sánh tựa thần linh " , và họ sáng tạo ra thế giới điêu khắc có một không hai để ca ngợi vẻ đẹp này . Con người không hề ích kỷ khi cố gắng hoàn thiện bức tranh vũ trụ . Họ đưa các con vật thực vừa huyền thoại tạo ra sự đúng lúc cho thế giới nhân quần , nhưng đồng thời đó cũng là những con vật mà họ thuần hoá hoặc những con vật họ thường gặp và thường gây những nguy hiểm cho họ .

Như vậy , tiêu chuẩn số chẵn lẻ của ngón chân đã gíup các loài vật được chọn làm 12 con giáp . Nhưng số ngón chẵn lẻ cũng như cái tên chuột , mèo , rồng , rắn .của chúng chưa đủ để đưa chúng vào vũ trụ . Con người lại phải gán cho chúng các phương vị :

Tý = Bắc Ngọ = Nam

Mão = Ðông Dậu = Tây

Và hàng đêm khi quan sát sao Bắc Ðẩu , người ta thấy cái đuôi của nó cứ quay đều đặn trên tinh cầu theo một vòng tròn , duy có điều nó giống kim đồng hồ quay ngược . Vòng tròn đó được chia theo phương vị 12 cung và 12 con giáp được trấn giữ 12 phương vị này .

Chuyện vẫn chưa hết .Trong những phát hiện quan trọng của thời tối cổ có việc phát hiện ra đường hoàng đạo -đường dịch chuyển của mặt trời .Vòng Hoàng đạo được chia làm phù hợp với mười hai tháng của năm .Và 12 con giáp lại được trấn giữ 12 cung Hoàng đạo này . Tuy nhiên con số 12 được người xưa chọn không phải là một con số tuỳ tiện mà là một con số hoàn toàn khoa học và để hiểu được diều đó thì không đơn giản lúc nào20.

Có liên quan 12 cung Hoàng đạo cần phải kể đến Ngũ Hành: năm hành tinhKim Mộc Thuỷ Hoả Thổ ,trong chu kỳ vận hành của sao Mộc mà người phương Tây đặt tên là Juypiter được người xưa ghi nhận bởi tính đặc hiệt của nó . Sao Mộc vận hành xung quanh Mặt Trời trọn 12 năm . Mỗi năm nó xuất hiện một phương vị nhất định . Nơi do trong12 con giáp đang trấn giữ . Tên gọi của nó cũng từ đó mà ra vì thế sao Mộc được gọi là ssao Tuế (sao năm) và vì nó là hành tinh lớn nhất trong hệ Mặt Trời và của các hành tinh mà người xưa quan sát được nên nó còn gọi là sao Thái Tuế . Vùng sao Thái Tuế là một mã thông tin quan trọng của phép tính tính tử vi.

Liên quan đến việc chọn mười hai con giáp là những quan sát , những nhận xét về cuộc sống của những loài vật này .Vào những khoảng giờ nhất định , các loài vật -ta chỉ giới hạn trong mười hai con giáp -chịu sự tác động qua lại của các lực vũ trụ đã có các biểu hiện trạng thái sống khác nhau . Cái trạng thái xấu nhất cho sự sống còn của chúng được biểu hiện bằng các khoảng thời gian (giờ , ngày , tháng, năm ) và được gọi theo tên của chúng . Cụ thể :



Tên giờ : Ảnh hưởng xấu tới :
Tý - Chuột
Sửu - Trâu
Dần - Hổ
Mão - Thỏ
Thìn - Rồng
Tỵ - Rắn
Ngọ - Ngựa
Mùi - Dê
Thân - Khỉ
Dậu - Gà
Tuất - Chó
Hợi - Lợn

Chúng ta thử kiểm nghiệm điều này vì các con vật này không xa lạ với chúng ta . Tất nhiên trừ con rồng huyền thoại .

Đăng nhập để trả lời
0
Cũng có thể do quan sát đời sống của các loài vật mà người đi đến chỗ thống kê đặc điểm sinh học của chúng , từ đó khái quát thành mười hai con giáp . Ðặc biệt người xưa chú ý tới các thời điểm có vấn đề của con vật :

Tháng Tý = tháng mười một : loài chuột hay bị bệnh và chết . Thực tế còn cho thấy đây là tháng bắt đầu lạnh nhiều , đồng ruộng vào vụ cày bừa , chuột không có ăn và không chống nổi rét nên dễ chết .

Tháng Sửu = tháng mười hai, tháng chạp : tháng rét đậm với đại hàn , tiểu hàn cây cỏ tàn lụi . Ăn không đủ mà còn phải kéo cày nữa nên loài trâu sinh bệnh mà chết .

Tháng Dần= tháng giêng : thức ăn của hổ là các loài thú khác . Tháng này các loài ăn cỏ như hươu nai đi kiếm ăn vì cỏ tranh đã nhú mầm . Hổ cũng đi tìm mồi , dẩm phải các mầm cỏ tranh nhọn cứng mà bị thương và kéo theo cái đói nên dễ bệnh .

Tháng Mão = tháng hai :Mão là con mèo , nhưng trong thiên văn cổ Trung Quốc thì biểu tượng của tháng này là con thỏ . Tiết này là tiết kinh trập (sâu nở) và cùng với sâu là chất độc do sâu thải ra , thỏ ăn vào tất phải chết .

Tháng Thìn =tháng ba : Rồng là một con vật của huyền thoại , nhưng khi được xác định (cho dù chỉ là tưởng tượng ) thì tất yếu nó cũng có đời sống riêng , kể cả ốm đâu , bệnh tật và cái chết nhưng tháng này Rồng có bị bệnh không thì không ai biết . Nhưng nếu trở lại cội nguồn huyền thoại thì có thể hiểu được phần này . Rồng là một con vật được giao phó làm mưa , đi liền với sấm sét . Cha ông ta có câu tục ngữ : tháng ba sấm chạy . phải chăng vì trách nhiệm nặng nề này mà con rồng dễ bị gặp những điều không may ?

Tháng Tỵ =tháng tư : Sau thời kỳ ngủ tránh rét và liền sau đó là mưa xuân ấm áp , thức ăn dồi dào , rắn phải lớn lên bằng cách lột xác . Trong thời kỳ lột xác , rắn yếu nhất và là miếng mồi ngon cho các con vật khác .

Tháng Ngọ = tháng năm : Mùa hè nóng nực , lại là thời kỳ thu hoạch mùa màng nên ngựa phải làm việc nhiều , dễ mắc bệnh mà chết .

Tháng Mùi=tháng sáu :Loài sơn dương dễ mắc bệnh vì thức ăn không còn ngon lành nữa : lá cây già cứng , mưa nhiều và thất thường nên khả năng mắc bệnh .

Tháng dậu=tháng tám:đầu tháng lụt lội,cúi tháng gió heo may,gà vừa đói vừa rét, ôn dịch phát sinh và gà chết.

Tháng tuất=tháng chín : tháng này chó hay bị mắc bệnh . Kinh nghiệm dân gian Nghệ Tĩnh cho thấy tháng này trùng hợp với mùa mưa, chó rất hay chết. Ðặc biệt nếu chó đẻ vào tháng này thì chó nuôi rất khôn.

Tháng hợi=tháng mười : gió đông bắc về mang theo các mầm bệnh . Lễ hội mở ra, trâu, bò,lợn,khỉ bị giết nhưng điều kiện vệ sinh không tốt nên lợn được các khoảng thức ăn thừa thì tất nhiên rất dễ nhiễm bệnh và chết .

Tất cả nhận xét trên đây đều cho thấy sự quan sát tỉ mỉ của người xưa cũng như sự quan tâm tới môi trường , tới thiên nhiên của họ. Quan sát và tưởng tượng là hai phẩm chất quí giá của con người . Quan sát để rút ra các bài học kinh nghiệm bổ ích . Tưởng tượng để cuộc đời cao đẹp hơn . Bạn hãy tự kiểm nghiệm về bản thân mình , biết đâu những ghi nhận hàng ngày của bạn liên quan đến tuổi tác của bạn, phối hợp với nhịp sinh học của bản thân lại trở nên hữu ích và vô cùng cho chính bạn .

Câu chuyện mười hai con giáp sẽ thiếu sót nếu không đề cập đến can chi . Can chi là hệ đếm số 60,nó phối hợp các hệ đếm cơ số 2,10,12 và một hệ đếm liên quan tới nhiều nền văn minh cổ . Người Babilon cách đây 3000 năm với hệ đếm 60 đã chính xác một năm có 360 ngày . Với hệ đếm 60 hệ can chi dẫn đến các tiện lợi cho phép tính thời gian vì 60 là bộ số của nhiều số như :


Số 3 =số tháng trong một quí

Số 6=số tháng trong nửa năm

Số 10=số ngày trong một tuần trăng (âm lịch)

Số 12=số tháng của một năm -số năm của một con giáp

số giờ trong một ngày (giờ âm lịch)

Số 15=số ngày trong một tiết

Số 30=số ngày của một tháng.

Hệ đếm này xuất hiện từ lâu, được ghi lại trong giáp cốt văn.

Can có nghĩa là thân cây có gốc ở Trời (nên gọi là Thiên can) . Người ta dùng ngũ vận để tính Thiên căn : tức là 2 x 5=10 Thiên can . Bản thân Thiên can cũng có âm dương :

Dương can :Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm.

Âm can : Ất, Ðinh, Kỷ, Tân, Quí.

Chi có nghĩa là cành trúc bị lìa khỏi thân, là cành nơi mặt đất (nên gọi là Ðịa chi). Ðiạ chi được tính theo lục khí là 2 x 6=12 . Ðịa chi cũng có âm dương .

Dương chi : Tý,Dần, Thìn,Ngọ,Thân,Tuất.

Âm chi :Sửu,Mão,Tỵ,Mùi,Dậu,Hợi.

Ngyên tắc phối hợp can chi là dương hợp dương , âm hợp âm ,thiên can là cha(cũng có nghĩa là dương ), đứng trước địa chi (có nghĩa là âm )đứng sau.

Ta có:

Giáp tý......................

.....................Ất sửu

Bính dần...............

....................Ðinh mão . Cứ thế tiếp tục mãi. Song thiên vì can thiên có 10 , Ðịa chi có 12, nên một vòng can chi là 60 . Số 60 được gọi là lục thập hoa giáp , Nguyên tắc dương kết hợp với dương ,âm kết hợp với âm là bất di bất dịch, vì vậy không bao giờ có Giáp sửu , Mậu dần cả , nguyên tắc kết hợp này cho phép từ dương tạo ra dương , từ âm tạo ra âm, trong 60 ngày thì có 30 ngày âm, 30 ngày dương tạo ra nhịp vận động của thời gian , tạo ra sự thăng giáng .

Cách gọi can chi trước tiên là để chỉ ngày,sau đó vì tính tiện ích tổng hợp của nó , nó được dùng gọi giờ , tháng và năm. Như vậy can chi trở thành đơn vị thời gian âm lịch . Nếu có điều kiện để kiệm thì các nhận xét về bệnh tật của các con giáp đã nêu ở trên , cho phép thừa nhận sự chặt chẽ và khoa học hệ đếm can chi này .

Ðể hiểu rõ hơn trước hết ta tìm hiểu ý nghĩa của can chi . Nguồn gốc của can chi đều từ cây :

Thiên can:

1. Giáp=cây cỏ đội đất nẩy mầm,dương cốt âm bì.

2. Ất =cây cỏ mới mọc yếu ớt, cong gập.

3. Bính=là cán , như mặt trời sáng chói , mọi vật đều sáng rõ.

4. Ðinh=cây cỏ trưởng thành mạnh mẽ , như người lớn đã trưởng thành "tráng đinh".

5. Mậu=rậm rạp ,nghĩa là cây cỏ phát triển rậm rạp

6. Ky=là ghi chép. Các con vật từ cong(Ất) nay đã thẳng dậy, nên ghi chép lại.

7. Canh=thay đổi , lúc này là mùa thu , mùa hái lượm , thu cất,tất cả hẹn mùa sau.

8. Tân=là mới muôn vật thay đổi , hoa quả mới thành . Tân cũng có thể là hợp chất của kim loại , là vị cay , quả chuyển vị , vật thành có vị.

9. Nhâm=là thai nghén , dương khí tiềm ẩn trong đất,mọi vật đang kỳ thụ thai.

10. Quí=là đỏ ,mọi vật mang mầm thai đang ẩn tàng, bản thân thai mầm đang từng bước chuyển hoá.

Ðịa chi :

1. Tý=là mầm cây , là hạt giống cây cỏ đang hút nước trong đất để nẩy mầm , là hiện tương hạt trương nước để khởi đầu một mầm dương .

2. Sửu=mầm nảy trong đất , trạng thái cong queo , đang chờ đội đất để mọc lên .

3. Dần=phát triển,từ chỗ uốn gấp , mầm đón ánh sáng để đội đất vươn lên .

4. Mão= rậm tốt , mặt trời từ phương đông toả sáng rực rỡ giúp muôn loài sinh trưởng tươi tốt

5. Thìn =chấn động,dương khí tràn về , muôn vật thoả sức phát triển .

6. Tỵ=vươn dậy và phát triển sung mãn , âm khí đã hết , thuần dương .

7. Ngọ=muôn vật đã trưởng thành đầy đủ , dương khí đầy đặn , mùa gặt hái đã về .Âm khí đã bắt đầu hình thành .

8. Mùi = là vị , quả đã chín và có vị ngọt .

9. Thân = thân thể ,vật đã trưởng thành

10. Dậu = co lại phát triển bên ngoài ngừng .

11. Tuất = diệt cành khô lá úa héo cây cỏ úa tàn sinh khí không còn.

12. Hợi = bóp chết , âm khí tràn ngập , mọi vật chìm trong chết chóc.

Dùng can chi để đặt tên các năm thì gọi là "can chi ký niên" và cứ 60 lại quay lại quay lại vòng tròn . Vòng này là vòng Giáp Tý . Theo truyền thuyết Trung Quốc thì đến năm 1983 , đã diễn ra 77 vòng Giáp Tý . Năm 1984 năm Giáp Tý là vòng xoay thứ 78 . Dùng can chi để ghi tháng gọi là "can chi ký nguyệt" can chi để ghi ngày thì gọi là "can chi ký nhật" . Tên can chi của tháng gọi là nguyệt kiến , tên can chi của ngày gọi là nguyệt sóc .

Đăng nhập để trả lời
0
Ngoài việc phân chia can chi thành âm dương , người ta còn chia can chi theo ngũ hành , cụ thể :

NGŨ HÀNH THIÊN CAN ÐỊA CHI
MỘC Giáp Ất Dần Mão
HOẢ Bính Ðinh Tỵ Ngọ
THỔ Mậu Kỷ Thìn Tuất Sửu Mùi
KIM Canh Tân Tân Dậu
THỦY Nhâm Quý Hợi Tý

Từ đó cũng có can chi xung hợp. Cụ thể:

1.Những thiên can hợp nhau:

Giáp hợp Kỹ Ất hợp Canh

Bính hợp Tân Ðinh hợp Nhâm

Mậu hợp Quý


2.Những thiên can xung nhau :

Giáp xung Mậu Ất xung Kỹ

Bính xung Canh Ðinh xuân Tân

Mậu xung Nhâm Kỷ xung Quý

Canh xung Giáp Tân xung Ất

Nhâm xung Bính Quý xung Ði

3.Ðịa chi:


LỤC HỢP
LỤC XUNG

LỤC HẠI
LỤC TUYỆT

Tí hợp Sửu

Dần hợp Hợi

Mão hợp Tuất

Thìn hợp Dậu

Tí hợp Thân

Ngọ hợp Mùi
Tí xung Ngọ

Mão xung Dậu

Sửu xung Mùi

Dần xung Thân

Thìn xung Tuất

Tị xung Hợi
Tỵ hình Thân

Tý hình Mão

Sửu hình Tuất

Mùi hình Thìn

Dần hình Ngọ

Dậu hình Hợi
Sửu hại Ngọ

Dần hại Tị

Mão hại Thìn

Thân hại Hợi

Dậu hại Tuất

Tý hại Mùi


Ngọ tuyệt Hợi

Mão tuyệt Thân

Dậu tuyệt Dần

Tý tuyệt Tị

Thìn tuyệt Tuất

Tị tuyệt Sửu




Thiên can Ðịa chi còn được đặt trong quan hệ với cấu trúc cơ thể , là cách mã hoá các vùng , các bệnh tật , được xem xét trong tương quan với màu sắt , phương vị . Từ đó , chức năng mà mười hai con giáp đảm nhiệm không phải nhẹ nhàng . Và cũng do đó hiểu được mười hai con giáp giúp cho sự nhận diện cuộc sống đơn giản hơn , tức là tìm ra cốt lõi của nó , tìm cách cân bằng và đảm bảo sự hài hoà trong cuộc sống .




Đăng nhập để trả lời
0
VIỆC CHỌN MƯỜI HAI CON GIÁP
Ở CÁC NƯỚC



Lịch Pháp là phát kiến của các nền văn minh tối cổ và điều này liên quan đến việc phát hiện ra vòng hoàn đạo . Người Ai Cập đã sớm phát hiện ra vòng này và đặt tên là vòng Zodiac (nghĩa đen là vòng động vật . ) Vòng này được khắc trên tảng đá lớn . Ðây là dấu tích cho thấy người xưa ở các nơi khác nhau trên thế giới đều đã quan tâm quan sát bầu trời và họ đặt tên cho các cung hoàng đạo (cũng có nghĩa là cho các ngôi sao trong cung đó ) bằng tên của các loài vật hoặc rút ra từ truyền thuyết , hoặc gắn với cuộc đời họ , thậm chí gây nguy hiểm cho họ , trường hợp không có tên con vật thì người ta đặt theo hình thế ngôi sao. Ta có thể quan sát bảng sau :



CÁC SAO TRÊN 12 CUNG HOÀNG ÐẠO

1 - Aries - Cừu - Bạch Dương - Tuất - Bạch Dương

2 - Taurus - Bò - Kim Ngưu - Dậu - Kim Ngưu

3 - Gemini - Sinh Đôi - Song tử - Thân - Song Tử

4 - Cancer - Cua - Cự Giải - Mùi - Cự Giải

5 - Leo - Sư Tử - Sư Tử - Ngọ - Sư Tử

6 - Virgo - Trinh Nữ - Thất Nữ - Tị - Thất Nữ

7 - Libra - Cái cân - Thiên Bình - Thìn - Thiên Xứng

8 - Scorpius - Bò Cạp - Thần Nông - Mão - Nhân Mã

9 - Sagittarius - Nhân Mã - Nhân Mã - Dần - Bảo Bình

10 - Capricornus - Dê - Maket - Sửu - Maket

11 - Aquarius - Cái Bình - Bảo Bình - Tý - Bảo Bình

12 - Peces - Đôi Cá - Song Ngư - Hợi - Song Ngư

Cách đặt tên của vòng Zodiac và của âm lịch theo mười hai con giáp không liên quan gì đến nhau . Sự so sánh này để cung cấp cho các bạn cách nhìn tổng quan của quan niệm thiên văn Ðông Tây và cách gọi của Việt Nam để cho dễ gọi khi chiêm nghiệm bầu trời sao .

Các sao trong vòng Zodiac dùng để chỉ 12 cung Hoàng Ðạo chứ không phải để gọi tên tháng . Tạp chí Horoscope (chiêm tinh học) của Pháp xuất bản hàng tháng đều thấy sự tương ứng của tháng hiện tại với 12 cung Hoàng Ðạo này để đưa ra lời dự đoán và lời khuyên cần thiết . Cách gọi 12 cung Hoàng Ðạo được gọi theo danh từ của Pháp nhưng nghĩa của chúng thì không đổi . Ðó là Bélier , Taureau , Gémaeux , Cancer , Lion , Vieges, Balance, Scorpion, Sagitaire, Capicornes, Versau vàPoissons.

Cách gọi tên hàng tháng có nguồn gốc từ lịch sử Roma.

Ban đầu , lịch này quy định một năm có 10 tháng , thứ tự như sau:

1. Martius : Vũ thần

2. Aprilius : nảy mầm

3. Maius: phồn vinh

4. Junius : mẫu thuần

5. Quintilis :

6. Sextilis :

7. September :

8. October:

9. November :

10. December :

Về sau người ta thêm vào hai tháng nữa là :



11.Januarius : Môn thần
12.Februarius : Tẩy uế


Hai tháng này được thêm vào đầu năm , thành 2 + 10 , từ đó Martius thành tháng 3

Cách mạng Pháp 1789 cũng đưa ra lịch Cộng Hoà của mình vào ngày 22/9/1973. Nguyên tắc xác định tên tháng của lịch này dựa trên đặc điểm thời tiết hay mùa màng



Nivôse : tháng tuyết - (Khoảng từ tháng 1 đến tháng 3)

Pluvôse : tháng mưa

Venvôse : tháng gió


Germinal : tháng gieo mạ - (Khoảng từ tháng 4 đến tháng 6)

Floreal : tháng trồng hoa

Prairial : đồng cỏ

Messidor : tháng gặt - (Khoảng từ tháng 7 đến tháng 9)

Thermidor : tháng nóng

Fructidor : hái quả


Vendémaire : tháng hái nho - (Khoảng từ tháng 10 đến tháng 12)

Brumaire : tháng sương mù

Frimaire : tháng giá


Như vậy, ở đây không có con vật nào được dùng để đặt tên cho tháng . Cách đặt tên tháng theo nông lịch như trên cũng đã có trong thời cổ Trung Quốc . Ðã có một thời kỳ dài người Trung Quốc gọi tên tháng bằng tên các loài cây , loài hoa thường gặp trong tháng trong mùa đó :

Tháng giêng là nguyên nguyệt

Tháng hai là hạnh nguyệt

Tháng ba là đào nguyệt

Tháng tư là hoè nguyệt

Tháng năm là lưu nguyệt

Tháng sáu là hà(sen) nguyệt

Tháng bảy là đồng nguyệt

Tháng tám là quế nguyệt

Tháng chín là cúc nguyệt

Tháng mười là mai nguyệt

Tháng mười một là giá (lau) nguyệt

Tháng mười hai là lạp (tế lễ) nguyệt



Như vậy sự lên ngôi của các con vật để trở thành mười hai con giáp chẳng phải dễ dàng . Người Phương Tây vẫn giữ nguyên vòng Hoàng Ðạo Zodiac và bảo tồn tên gọi của các tháng mà họ đã kế thừa từ người La Mã


Đăng nhập để trả lời
0
Việc sử dụng mười hai con giáp làm biểu tượng cho thời gian chủ yếu gắn liền với các dân tộc nằm trong vòng ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa , trong số này có Nhật Bản . Người Nhật Bản sử dụng mười hai con giáp , sử dụng lịch can chi trong lịch pháp của họ . Việc nghiên cứu hệ can chi đã giúp người Nhật xây dựng phép đoán số tử bình với thành tựu đáng tin cậy . Phép tính tử bình cũng dựa trên tử vi , và sử dụng nhiều đặc điểm của tử vi . Phép tính tử bình dựa vào các yếu tố năm tháng ngày giờ , theo can chi của các yếu tố đó . Từ đây sẽ tạo ra bát tự và người Nhật xét đoán công việc cuộc đời trên sự tính tóan bát tự này theo các quy luật Âm Dương - Ngũ Hành . Họ còn xây dựng một quan niệm cho các tuổi theo các con vật . Sau đây là quan niệm của người Nhật với con người theo các tuổi :

1.Tuổi chuột :vui vẻ , xởi lởi , dễ gần , dễ mến nhưng hay lo vặt vẵnh nên cũng dễ cáu giận . Học thức ít nhưng tự tin và tự trọng . Thích làm đẹp làm sang cho bản thân nhưng trong khuôn khổ cho phép . Tuổi chuột hợp với các tuổi khỉ , rồng , trâu , kỵ các tuổi rắn , chó và lợn , đặc biệt tối kỵ tuổi ngựa .

2.Tuổi trâu :là người nhẫn nại , ít lời , không hay khoe mẽ về mình do đó dễ tranh thủ được sự gíup đỡ của người khác . Tính nóng và cục tính . Chăm làm , khéo tay và quyết đoán , không chấp nhận , không nhúng nhường kẻ cản trở họ . Làm ăn đối với họ là chính , tình cảm là chuyện thứ yếu nên họ khó lấy vợ . Tuổi hợp là tuổi chuột và tuổi gà , không nên lấy tuổi chó và kỵ nhất là tuổi lợn .

3.Tuổi hổ:là ngưởi nhạy cảm , đa tình có đời sống nội tâm cao nên thường do dự . Tuổi hổ trọng người ít tuổi , kỵ người cao tuổi hơn mình . Quả cảm kiên trì nhưng có vẽ ích kỷ , thiển cận , tuổi này giữ vía , ma quỷ cũng phải tránh đường , do đó người Nhật thường cầu mong trong gia đình có người tuổi hổ . Tuổi này hợp duyên với tuổi ngựa và rồng , khắc tuổi trâu , rắn và khỉ .

4.Tuổi mèo:là tuổi thành đạt , nhã nhặn, khiêm nhường , hiếu thảo, và giao thiệp rộng . Ðời người may mắn nhưng hay ba hoa , được cái ba hoa đúng lúc , đúng chỗ . Ít cáu giận, dễ đi vào kinh doanh buôn bán . Tuổi này dễ khóc dễ cười , chăm học, chăm đọc xong ít tài năng đặc biệt. Rộng rãi trong giao tiếp nhưng bảo thủ , so đo . Hợp với tuổi chó , dê, lợn, khắc với tuổi chuột , gà và không hợp tuổi rồng.

5.Tuổi rồng:khoẻ mạnh , năng nỗ , xốc vát, dễ bị khích bác, kích động, khó làm chủ bản thân. Vừa ương gàn vừa độ lượng nên dễ giàu và dễ được tiếng vang , dễ bị lôi kéo vào việc xấu . Tuổi này về già thì nhàn nhưng không kín miệng . Nên lấy người tuổi chuột, rắn, khỉ, gà. Tránh rồng, trâu, chó

6.Tuổi rắn:khôn ngoan, có ý chí, gặp may nhiều và dễ thành đạt. Thích loè loẹt , phô trương ,ích kỷ và keo kiệt. Ða nghi nhưng khi cho tiền ai, thì cũng cho rất nhiều . Họ rất thích khen nịnh vì tuổi này có lãng mạng . Con gái Nhật cho dù tuổi gì cũng thích được một lần gọi là "mỹ nhân tuổi tỵ" . Họ hợp tuổi trâu,gà , xung khắc với hổ, lợn.

7.Tuổi ngựa:vui tính , ba hoa , mồm mép và khá nổi tiếng và dễ được cảm tình . Giỏi kinh doanh , giỏi đoán ý đồ của người khác để "lựa lời mà nói" . Tuổi ngựa nhiều tài nhưng khó tính , cầu kỳ trong ăn mặc, cầu toàn trong công việc nên họ coi tình yêu là thứ yếu .Họ dễ bị lừa trong yêu đương cho dù họ rất thích độc lập sáng tạo . Họ hợp với tuổi hổ, dê, chó. Kỵ tuổi chuột.

8.Tuổi dê:nhạy bén , tinh tế trong cảm xúc, cuồng nhiệt nhưng cũng dễ thất vọng bi quan . Dễ thích nghi với người mọi kiểu . Cuộc đời ít gặp may nhưng rất mộ đạo . Ðời sống vật chất tạm ổn . Họ hợp với người tuổi mèo , lợn, ngựa . Tránh tuổi chuột, chó, trâu.

9.Tuổi khỉ :thông minh, hiểu biết , biết rộng nhưng không để tâm nhiều đến công việc . Nhớ thì làm , quên thì cho qua luôn mặc dù khi sử lý công việc thì khá nhanh . Dễ hoà nhập , quản giao , trí nhớ tốt . Ðường nhân duyên không lấy gì làm may mắn . Gặp tuổi chuột hoặc tuổi rồng thì tốt , gặp tuổi lợn , rắn thì kém may mắn , gặp tuổi hổ thì đại hoạ

10.Tuổi gà :tuổi bận rộn , lo toan, tham công tiếc việc, việc gì cũng muốn làm mà dễ bi quan , thất vọng. Thích hoạt động xã hội. Tự tin nhưng lại ít tin người . Luôn luôn tỏ ra viễn vông , kỳ cục .Tiêu pha hoang toàng nhưng cũng có sao nói vậy . Họ hợp người tuổi trâu , rắn , rồng. Tránh tuổi gà , chuột , chó. Kỵ nhất là tuổi mèo .

11.Tuổi chó:là biểu hiện tập trung mọi phẩm chất tốt của con người . Ngay thẳng , chân thành, biết mình, biết người , có đức tin và cao độ tin cậy cao . Ðại lượng , không vụ lợi, tuổi chó ít giao du, sống kín đáo ,bướng bỉnh và thẳng thắn , giỏi quản lý , giỏi hoạt động xã hội. Họ hợp người tuổi chó , tuổi mèo , ngựa không hợp tuổi trâu , gà kỵ nhất là tuổi rồng , dê.

12.Tuổi lợn:Kiên định, kiên trì , cuộc đời tuổi lợn mang tính mục đích rõ rệt . Ít bạn nhưng có tính sẵn sàng hy sinh vì bạn . Ít nói nhưng vẫn không biết giữ bí mật . Tuổi lợn không thích cãi vả . Ðường tình duyên không thuận . Họ hợp người tuổi mèo , dê , tranh tuổi khỉ , đại kỵ tuổi rắn.



Ðó là cách nhìn nhận của Phương Ðông (qua người Nhật) . Ở Phương Tây cũng có cách nhìn tương tự . Dưới đây là những điều tóm lược đã được trình bày trong tạp chí Elle của Pháp.



QUAN NIỆM VỀ TÍNH CÁCH CON NGƯỜI THEO CÁC TUỔI :

1.Tuổi Tý : Tý tương ứng với sao Aquaries .

Nhanh nhẹn , tò mò , lạc quan và gần gũi con người . Chuột là giống vật thích nghi với mọi hoàn cảnh . Trong sự nghiệp , người mang tuổi Tý sống thận trọng tỉ mỉ , nhưng luôn luôn xứng đáng với vị trí công tác và tình huống cần xử lý . Ẩn dấu sau bề ngoài bình tĩnh và nghiêm túc , người tuổi Tý có trái tim sôi nổi , luôn hướng về hành động . Trung thực , chung thuỷ với chồng (vợ) và các con , dễ bị xúc động rối loạn khi gặp nỗi đau về tình cảm . Về mặt tài chính, người tuổi tý tiêu tiền không cần tính toán.

Tương hợp:Tý và Sửu tương hợp (tức là hiểu được nhau và giúp đỡ lẫn nhau) , Tý và Thìn :có thành công đảm bảo , Tý và Tuất kính trọng lẫn nhau.

2.Tuổi Sửu:Sửu tương ứng với sao Capricornus

Người mang tuổi Sửu sống tự tin trong mọi hoàn cảnh . Tính kiên định , thực tiễn, làm chủ bản thân, tự khép mình vào kỷ luật thép , không cơ hội và khuất mình. Trung thực thích giao du rộng rãi nhưng chỉ trong mối quan hệ đứng đắn và bền chặt , nhưng có nhược điểm là khó tự diễn đạt những tình cảm sâu kín và thích số cô đơn trọng danh dự hơn là yêu một người chưa tương xứng với mình . Người tuổi Sửu lao động cần cù , làm ra tiền nhưng sống cần kiệm , tìm mọi cách để được cuộc sống an toàn , thanh thản .Ẩn mình sau bề ngoài khiêm nhường , nhưng không để ai nịnh bợ đánh lừa . Nhược điểm duy nhất , không thua thiệt ai bao giờ !

Tương hợp: Sửu và Tý : sống trọn vẹn với bản chất lương thiện sâu kín nhất, Sửu với Mão : có quan hệ bền chặt nhờ hợp tác được với nhau , Sửu và Tị : một câu chuyện tình thơ mộng , Sửu và Dậu : cùng lao động , Sửu và Hợi : chung sống hoà bình .

3.Tuổi Dần:Dần tương ứng với sao Sagittaries .

Theo đường Hoàng Ðạo , Dần tượng trưng cho đối nghịch . Người tuổi Dần mạnh mẽ nhưng luôn thận trọng, thích tranh đấu, ghét những tật xấu, dám lao mình vào những công việc đầy rủi ro để thử thách bản lĩnh . Người tuổi Dần được những người khác yêu mê say nhưng ngược lại cũng bị ghét cay ghét đắng . Người tuổi Dần không kìm hãm được tình cảm nửa vời . Tính tình lãng mạng, nhiệt huyết trong tình yêu, dao động giữa tính thiếu chung thuỷ và tính độc lập . Cũng chỉ vì bản chất hấp dẫn quá nhiệt tình .

Tương hợp : Dần và Mão :bổ sung cho nhau , Dần và Ngọ : cùng thích độc lập, Dần và Dậu : cùng nhau lao vào chuyện phiêu lưu , Dần và Tuất : chọn tính diệu hiền , Dần và Hợi : hỗ trợ cho nhau.

4.Tuổi Mão :Mão tương ứng với sao Scorpius.

Hiền diệu, thận trọng, cân bằng, ẩn sau bề ngoài bình thản . Nhiều khi dối lừa, bản chất ích kỷ, coi mình đứng trên người khác . Lối sống cầu kỳ, xa hoa nhưng lại không phấn đấu để đạt mục tiêu vì ít đấu tranh, không thích làm một mình . Thích các đồ vật trang trọng tinh tế, yêu nghệ thuật, thích đọc sách và nghiên cứu . Trong tình yêu hạnh phúc thường kín đáo. Khi yêu ai thích có quan hệ bình yên. Ða tình thích được chiều chuộng.

Tương hợp : Mão và Tý : chia vui, Mão và Mùi : có sự hiểu biết tương hổ, Mão và Tuất sống được với nhau, Mão và Hợi cặp hoàn hảo.

5.Tuổi Thìn :Thìn tương ứng với Libra

Người tuổi Thìn có cuộc sống độc đáo: xuất sắc, hấp dẫn, duyên dáng,Người tuổi Thìn giỏi nhìn nhận về thời trang , có đầu óc sáng tạo, nhiệt tình, dám lao mình vào những đề án lớn (không hẳn đã có thể thực hiện được.)với nhiệt tình cao . Tự xét mình có tầm vóc lớn và có cá tính mạnh . Với thuật chiêm tinh Trung Hoa , người tuổi Thìn được coi là người ban ơn và đem lại điều tốt lành cho người khác (Rồng là biểu tượng của hoàng đế Trung Hoa) . Trong lao động và tình yêu, người tuổi Thìn bao giờ cũng phải tìm được nguyên nhân để tự bảo vệ mình , tìm được quần chúng để ủng hộ và giúp đỡ . Người tuổi Thìn chung thuỷ với người mình yêu.

Tương hợp : Thìn và Tý : hợp tác chặt chẽ và năng động, Thìn và Dần : có những bất ngờ lường trước được , Thìn và Tỵ : hiểu biết lẫn nhau, chỉ cần nửa lời, Thìn và Thân : đùa vui với nhau.

6.Tuổi Tỵ:tương ứng với sao Virgo

Người tuổi Tỵ có nghệ thuật tìm được chỗ đứng và thời điểm đúng lúc , đúng thời.Dựa vào linh cảm, tìm cách tiêu năng lượng tối thiểu , nhưng lại đạt kết quả tối đa . Người tuổi Tỵ có tính biết tính toán, sáng suốt, kiên định, biết kìm mình và dấu diếm tình cảm thực của bản thân . Người tuổi Tỵ mê tiền tài, sự thanh lịch, sân khấu, âm nhạc và đồ quý hiếm . Là người có đầu óc thẩm mỹ, nên đòi hỏi cuộc sống bao giờ cũng phải tuyệt vời nhất . Người tuổi Tỵ có nhiều đòi hỏi cao trong tình yêu , nên rất thận trọng và tạo trước cho mình lối thoát an toàn.

Tương hợp : Tỵ hợp với các con vật trong vòng Hoàng Ðạo. Trừ với Dần, Ngọ và Hợi tương khắc.

7.Tuổi Ngọ:Ngọ tương ứng với sao Leo.

Người tuổi Ngọ vốn hay bồn chồn, cúi đầu lao mình trước gió bão và chỉ hạnh phúc khi thấy mình có tự do . Có tính xã giao, dễ giao du với mọi người , nhưng vẫn giữ tính độc lập, thích tìm cuộc sống dễ chịu , dễ dàng có nhiều thay đổi và những chuyến đi . Trong lao động, biết thả sức và chịu đựng gian khổ, không nề nà vượt qua mọi khó khăn nhưng không biết thích sống khép mình hay bị giam hãm . Không ai đóng cương được người tuổi Ngọ, kể cả trong tình yêu . Nhiệt tình, đam mê sống hết mình và dao động giữa ham muốn mê say và tính ích kỷ.

Tương hợp:Ngọ và Dần hợp nhau trong công việc kinh doanh và tình yêu, Ngọ và Mùi gần nhau và hỗ trợ nhau, Ngọ và Dậu hiểu nhau và tạo quan hệ bền nhưng chậm đến với nhau, Ngọ và Tuất bổ sung cho nhau.

8.Tuổi Mùi :Mùi ứng với sao Cancer.

Người tuổi Mùi thiên về tình cảm và mơ mộng , là đấu tranh mang tính Âm dịu hiền nhất trong Hoàng Ðạo Trung Hoa. Người tuổi Mùi luôn cần những lời khuyên, cần chỗ dựa, không thể sống một mình, người tuổi Mùi có tính thẩm mỹ, ưa các đồ vật đẹp, mỹ thuật, sống chung thuỷ gắn bó với những người hay đồ vật, trốn tránh hiện thực gây phiền luỵ tới đời sống riêng . Trong lao động, dao động giữa tính cần mẫn thông minh và tính lười biếng, vì ghép khép mình vào kỷ luật và cơ chế máy móc. Sống tình cảm nhưng yếu đuối , khó khăn khi chọn lựa về người thương nhưng sẵn sàng xả thân cho người mình yêu.

Tương hợp:Mùi và Mão hợp nhau vì cùng quan điểm sống, có quan hệ thành đạt với Ngọ, giúp cho Tị, có ham muốn và cuộc sống gia đình bình yên giống như Hợi.

9.Tuổi Thân:Thân tương ứng với sao Germini.

Người tuổi Thân nhanh nhẹn, láu lỉnh, khôn ngoan, là bậc thầy trong nghệ thuật ứng xử . Họ biết chọn lời chọn ý, chọn sáng kiến, biết tập trung trí tuệ vào những đề án, kể cả những đề án có nhiều rủi ro nhất . Có tài thuyết phục và lấy lòng người , nhưng tuổi thân luôn luôn năng động lao mình vào nhiều đề án cùng một lúc . Họ ưa tiếp xúc gặp gỡ, khám phá, không chịu cô đơn và nghỉ ngơi buồn chán, cả về phương diện sự nghiệp và tình cảm.

Tương hợp :Quan hệ tốt với Tý vì hợp nhau về tính cách , Thân và Thìn kính trọng lẫn nhau, làm vừa lòng nhau,với Ngọ tương đồng về mọi mặt , với Tuất giúp đỡ và kính trọng lẫn nhau.

10.Tuổi Dậu: Dậu tương ứng với sao Taurus.

Khi gà trống gáy, không phải cho người khác mà cho chính bản thân..Tư cách mạnh, tự tin (ít nhất cũng là vẻ bề ngoài), cao thượng trong công việc và tình yêu ,trung thực trong quan hệ, người tuổi Dậu ghét lời nói dối, tính thụ động và nhàm chán trong công tác và sống với trật tự trên dưới nghiêm minh. Chỉ có trật tự như thế người tuổi Dậu mới phát huy được năng lực lao động, nhưng vẫn giữ được tính độc lập và làm việc nhưng không quên vui chơi giải trí . Về tình yêu, ưa được người khác ngắm mình, khen ngợi để khẳng định tính hào hoa phong nhã, ưa các chuyện phiêu lưu tình ái . Biết yêu và chiều người khác nhưng cũng biết tự chiều mình.

Tương hợp :Dậu và Thìn chung nhau những nét về hạnh phúc và quyền uy , Dậu và Tỵ tin tưởng và tôn trọng đức tính quý của nhau , Dậu động viên cho Mùi , nhưng vẫn giữ tính độc lập , Dậu và Hợi hợp thành một gia đình yên ấm .

11.Tuổi Tuất :Tuất tương xứng với sao Aries

Có tính cảnh giác cao , nên người tuổi Tuất biết bảo vệ cho người mình yêu ... tới mức có thể làm mờ cả nhân các người khác . Trung thành , âu yếm , nhưng cũng buồn lặng và bi quan , nhất là khi sống cô đơn - trạng huống mà người tuổi Tuất khó chịu đựng hơn cả . Trong tình yêu , người tuổi Tuất luôn bị tình cảm ghen tuông hành hạ , vì cảm thấy người ta yêu mình chưa đủ . Tình cảm trách nhiệm là động lực sống , lao động . Không bị từ chối những trách nhiệm dù khó khăn nhất , ngược lại chấp nhận một cách nhiệt tình .Người tuổi Tuất không thích làm công việc dở dang , nửa vời .

Tương hợp :có quan hệ tốt và sâu sắc với Tý , có quan hệ năng động với Dần , bổ sung tính cách mạnh cho Ngọ , thông cảm và trung thành với người tuổi Tuất khác , có quan hệ bền vững và lâu dài với Hợi .

12.Tuổi Hợi :Hợi tương xứng với sao Pices.

Người tuổi Hợi là người có tư tưởng thực tiễn và duy vật .Ưa vui chơi hội hè , thích ăn ngon , mặc đẹp và chuộng các chuyện về tình cảm và yêu đương , nhưng thực chất lại là người có lý tưỡng .Nhược điểm chính : tính bướng bỉnh ương nghạnh đôi khi dẫn họ vào con đường xấu , làm cho họ sau này hối hận , nhưng đã quá muộn .Trong lao động , có tính làm cho người khác tin tưởng , luôn luôn tìm mọi cách làm vừa lòng người khác . Là người có tình cảm , ưa được vuốt ve chiều chuộng , lời nói dịu dàng và coi tổ ấm gia đình là hạnh phúc cao nhất .

Tương hợp : Cảm thấy an toàn khi sống với người tuổi Mão , với Ngọ ; có quan hệ bền chắc với Mùi : có nhiều hy vọng hạnh phúc , Tuất bổ sung tính cách cho Hợi , nhất là chuyện gia đình .



Đăng nhập để trả lời
0
Trong thuyết dịch, âm - dương là hai khí vô cùng không thể mô tả bằng lời mà phải mượn cái hữu hình để làm sáng lý - cái hữu hình đó được gọi là tượng . Dịch thuyết cương lĩnh nói rằng : "Hiểu lời thì nông, hiểu tượng thì sâu" để lưu ý người đọc dịch điều cốt yếu là hiểu được những ẩn ý hàm chứa trong tượng mới thấy cái hay của dịch, còn chỉ mới hiểu ở lời thì xem như chưa thông dịch dễ hướng theo cách suy nghĩ lầm lẫn . Phương pháp dùng tượng trong kinh dịch rất đa dạng và không dễ hiểu ngay cả đối với người Trung Hoa nên ở đây chỉ nói đến một dạng tượng tiêu biểu mà mọi người đều biết là các con vật được dùng như thế nào và ý nghĩa của chúng ra sao trong quy luật biến đổi của Âm- Dương khí.

Chu trình vận hành của Âm - Dương khí trong vũ trụ được dịch lý mô tả bằng một đường tròn khép kín biểu hiện sự biến đổi không ngừng của hai khí Âm- Dương qua trọn một năm gồm 12 tháng (tức 12 cung trên đường tròn ) được hiển thị bằng 64 quẻ dịch . Ðịnh luật biến đổi Âm - Dương khí tuân theo nguyên lý Âm - Dương Tiêu trưởng và luôn được bảo toàn nên có thể viết dưới dạng thức :

Âm + Dương = Hằng số (const)

Nghĩa là khi Dương khí lên (trưởng ) thêm một đơn vị thì Âm khí phải xuống (tiêu) đi một đơn vị tương ứng và ngược lại . Âm -Dương khí biến đổi theo phép biện chứng của tự nhiên "lượng đổi thì chất đổi " được kinh dịch diễn giải bằng 64 quẻ Dịch dưới hình thức ẩn dụ thông qua 12 quẻ dịch của 12 cung trên đường tròn Dịch lý nằm trong quy luật đó . Trên đường vẽ nửa cung bên trái (cung NES) biểu diễn quy luật Dương Trưởng Âm Tiêu qua 32 quẻ dịch (gồm 112 Hào Dương và 80 Hào Âm ) bắt đầu từ quẻ Phục với một Hào Dương (nhất Dương sinh ) và 5 Hào Âm biểu thị cho tháng một nên gọi là quẻ Nguyệt lệnh của tháng một . Sự biến đổi tiếp theo tăng thêm trọn một Hào Dương thành quẻ Lâm , biểu thị cho tháng Chạp và khí Dương cứ tiếp tục tăng lên như thế cho tới tháng Tư Nguyệt lệnh là quẻ kiền với cả 6 Hào Dương là khí Dương đã lên đến tột cùng (maximun) ;Nửa bên phải (cung SWN) biểu diễn quy luật Âm trưởng Dương Tiêu qua 32 quẻ dịch (gồm 112 Hào Âmvà 80 Hào Dương ) bắt đầu từ quẻ Cấn biểu thị cho tháng Năm (tháng Âm sinh) và cũng biến đổi theo quy luật nói tren cho tới tháng Mười Nguyệt lệnh là quẻ khôn với cả 6 Hào Âm là khí Âm đã lên đến tột cùng, kết thúc một chu trình vận hành của Âm Dương khí trong vũ trụ qua trọn một năm Âm lịch . Nửa bên trái xem như phần ban ngày bởi khí Dương mạnh , ngược lại nửa bên phải là phần Âm mạnh; suy ra độ Dương của các cung thuộc phần ngày sẽ lớn hơn ở các cung đối ứng thuộc phần đêm , còn độ Âm thì ngược lại - nhỏ hơn.



Mười hai quẻ dịch biểu thị cho 12 tháng của một năm theo quy luật tiêu trưởng của Âm- Dương , thuộc phần ngày đêm, cung Dương cung Âm đã rõ ràng rồi sẽ là cơ sở xem xét việc dùng loại tượng nào có thể diễn đạt được sáng tỏ cái lý của dịch ở 12 cung trên đường tròn dịch lý . Cuối cùng thì các con vật có "vinh dự" được chọn giao vào các cương vị "trọng trách" đó. Mười hai con vật được chọn làm tượng phải đạt được các "tiêu chuẩn" sau :

- Ðối nghịch nhau về tính cách nguyên lý đối nghịch nhau của Âm - Dương là : Ðộng - Tỉnh, Cương - Nhu, Nhanh - Chậm, Mạnh - Yếu , Dữ - Hiền ...để lấy 6 con có tính dương trội vào ngôi các cung Dương và 6 con có tính Âm đặt vào các vị trí cung Âm .

- Phải là những con vật được mọi người biết tính cách rõ nói trên và phải gần gũi với con người(vì thế các con vật nuôi được "ưu tiên" tuyển chọn) thoả mãn cả hai "tiêu chuẩn" này không dễ, nên cuối cùng chỉ có 11 "ứng cử viên" là các con vật có thực đắc cử, ngôi vị thứ 12 được đặc cách giành cho ..con Rồng là con vật hư cấu nhưng xét ra lại rất đạt "tiêu chuẩn" vì ai cũng biết các "thuộc tính" của Rồng, hơn nữa Rồng ở trên trời nên toạ lạc ở cung Dương thuộc ở phần ban ngày là hợp vị . Chú Ngựa "siêu sao" về tính năng động - ở ngôi sao cung Dương mạnh nhất là xứng đáng (trong kinh dịch thì chữ "Dịch" cũng tượng bằng hình bộ "Mã" ), còn như chú Heo "đại lân" , tĩnh toạ nơi Âm cực tiêu biểu cho sự trì chậm như yếu thì cả chí lý . Sự tinh vi và chính xác trong việc dùng tượng tới mức khó có thể đổi chỗ các con vật cũng như thay thế bằng một con vật nào khác hợp lý hơn .

Mười hai con vật được gọi là 12 địa chi chỉ có nghĩa đối với chu kỳ một năm, khi đem chúng kết hợp với 10 thiên can (Giáp, Ất, Bính, Ðinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Quý, ) sẽ tạo thành một chu kỳ lớn 60 năm gọi là một Hội (tức vòng Lục Giáp hoa ) thì chúng không có ý nghĩa nữa . Ðiều này cũng dễ hiểu cũng như hai chất A+B=C thì chát mới tạo thành phải có tên gọi khác ở đây điều đó có ý nghĩa tìm chọn các con vật làm tượng cho 60 năm quả là không dễ nên phải có sự "châm chước " về tiêu chuẩn , mới có được đủ số cần thiết (vậy là phải lấy "vớt" cả những con vật mà nhiều người ít biết đến , thậm chí không biết khiến cho một số hình tượng dùng không "đắt" trở nên khó hiểu )

Một chu kỳ 60 năm mỗi con vật biến tướng 5 lần và mang diện mạo của những con vật khác, ví dụ :

Giáp - Thìn : Rắn Ất - Mão : Dơi

Bính - Thìn : Chuột Ðinh - Mão : Gà

Mậu - Thìn : Quạ Kỷ - Mão : Rồng , Chồn

Canh - Thìn : Lạc đà Tân - Mão : Rái cá

Nhâm - Thìn : Sói Quý - Mão : Hươu



Thật là ngộ khi Mèo "Kỷ " thoắt cái đã biến thành Rồng, Mèo "Tân" là anh Rái cá, rồng "canh " lạc xuống làm lạc đà , rồng "Mậu " hoá ra quạ . Vậy sự biến hoá vô thường này mang ý nghĩa gì và liên can như thế nào đến con người sinh ra nhằm vào năm mang tên chúng ? Tượng vốn dĩ khó hiểu bởi nó hàm chứa nhiều ẩn dụ và có thể suy lý cho nhiều việc, ví dụ có thể suy lý ẩn dụ về tính cách : sinh năm Thìn xem như được cốt con Rồng là mới "cầm tinh" là cái hình hài mà chưa có tính cách , khi giao kết với Mậu , mới tạo ra cái tính và "xuất tướng tính " thành Quạ với ẩn dụ là người hay nói, thích "ăn to nói lớn" Hoặc Rồng kết hợp với "Canh".thì tính năng động sẽ biến mất trở thành người từ nói năng đến đi đứng đều chậm chạp đủng đỉnh như ...Lạc đà sa mạc "trưa không vội tối không cần ", còn người Tân Mão thì khôn ngoan lanh lợi và tinh ranh như Rái cá v.v .Thường thì biết tính cách để cho vui nhưng khi cần xác định vào một công việc nào đó thì đôi khi lại rất có ý nghĩa, ví như chân Lạc đà làm sao so sánh bằng chân Ngựa về tính năng động (Na pô lê ông ) hiểu biết tính cách của từng người lính nên biết sử dụng "đúng người đúng việc ", Khổng Minh biết rõ tính cách của Tư Mã Ý (ý nói dám dùng kế không thành).

Các con vật chỉ đắc dụng khi làm sáng cái lý của những kết hợp đơn giản như giữa Can - Chi của năm còn đối với những giao kết phức hợp (như giữa Can Chi của cả năm, tháng ,ngày , giơ) chúng sẽ không còn đất dụng võ nữa mà phải dùng đến chính con người làm tựa cho con người , mới có thể làm sáng được cái lý âm địa của dịch (các Ðại tượng và Tiểu ở mỗi quẻ dịch trong Kinh dịch chứng tỏ điều đó .)

Các con vật với ý nghĩa và tác dụng hạn chế nói trên nếu đem chúng ra "đối tác " với nhau để suy lý xét đoán cho con người thì e rằng quá ư đơn giản . Ví như năm mới là năm con chuột thì sẽ "xung " với con mèo (trong bộ "tứ hành xung "là Tý - Ngọ -Mão -Dậu) nhưng chuột "Bính " đã biến thành rắn còn mèo thì cũng biến chất thành Dê , Gà , Rồng ,Rái Cá , Hươu cả rồi . Vậy thì sẽ lấy con nào "xung" với con nào đây ? Thật khó mà biết được "mèo nào cắn Mĩu nào " (và nếu có sự "cắn nhau " ấy thì làm sao biết được là "cắn đau" hay chỉ là "cắn yêu " thôi ).



Đăng nhập để trả lời
0
Người ta bảo rằng : ngày xưa đâu có gọi tên các năm theo tên các con vật , mà chính thượng đế Ngọc hoàng , dạy cho con người biết chuyện ấy . Cũng vì chuyện đó mà một lần Người đã cho gọi tất cả muôn loài muôn thú về thiên cung . Thuở bấy giờ , mèo và chuột còn thân thiết nhau lắm , sống cặp kè bên nhau như chị em ruột thịt . Chúng mừng rỡ nhận được trát triệu về thiên cung , và hẹn nhau cùng đi .

Ai ai hẳn cũng biết mèo thích ngủ . Chính bản thân mèo cũng biết nhược điểm ấy , vì thế nó mới bàn trước với chuột .

-Cô chuột này , cô biết đấy , tôi là tôi thích ngủ - Mèo lịch sự bắt đầu .

-Sáng mai , khi nào đến lúc phải lên đường lên thiên cung , cô làm ơn đánh thức tôi dậy .

Chuột đấm tay thùm thụp ngực mà hứa hẹn :

-Em nhất định đánh thức chị rồi ! Chị cứ việc ngủ , không phải bận tâm gì hết !
-Cám ơn cô !- Mèo nói , vuốt ria và , không còn băn khoăn gì nữa , ngủ thiếp ngay đi .

Sáng hôm sau , chuột thức dậy lúc tinh mơ mờ đất . Nó cũng chẳng thèm nghĩ tới chuyện đánh thức mèo . Ăn uống xong , một mình nó lên đường đi luôn tới thiên cung . Còn bây giờ ta lại kể về Rồng, vốn sống vùng biển . Rồng cũng nhận được trát triệu lên thiên cung . "Ai cũng không biết , chứ ta thì nhất định được chọn !"

Rồng tâm niệm như thế . Mà cũng phải thôi , bộ dạng của nó thật là hùng dũng , giáp trụ trên người nó cứ lấp la lấp lánh , dưới mũi nó , bộ ria đâm ra tua tủa . Chỉ một điều duy nhất nó thiếu : đó là cái đầu nhẵn thin thín của nó chẳng có cái gì mọc cả .

"Chà! Giá mà ta kiếm được cặp sừng thì khi đó không có con nào có thể so sánh được với ta !" nghĩ bụng vậy , rồng liền tìm xem có thể mượn ai bộ sừng trong độ một tuần lễ . Vừa mới nhô đầu lên khỏi mặt nước rồng liền nhìn thấy ngay trên bờ là một chú gà trống . Ưỡn ngực lên , chú gà nhà ta bệ vệ đi đi lại lại . Vào thuở ấy gà trống có cặp sừng rõ to . Rồng mừng rỡ bơi ngay vào bờ và lên tiếng nói với gà trống : Bác gà này bác gà , bác làm ơn cho tôi mựơn cặp sừng mai tôi mang nó lên thiên cung .Ái chà chà ! Người anh em rồng ơi ! Gà đáp - Thứ lỗi cho tôi nhé, mai tôi cũng lên thiên cung . Bác gà trống ạ ! Cặp sừng to chẳng hợp với bác tí nào , đầu bác quá là bé , tốt hơn là bác cho tôi mượn . Bác ngẫm nghĩ xem ! Thật là hợp với tôi . Vừa lúc đó tình cờ chú rết ở trong kho bò ra . Mà cái họ nhà chú là chúa thích dính mũi vào chuyện người khác . Nghe thấy rồng nói thế , rết ta liền phụ họa ngay :Bác gà trống ạ! Bác gà trống ạ ! Bác cho ông anh em mượn cặp sừng đi , một lần thôi cũng đựơc . Mà nếu bác sợ gì , thì em xin sẵn sàng bảo đảm .Thế nào bác ? Bác cho ông anh em mượn chứ ?Gà trống bằng lòng . Bởi vì đã có rết bảo đảm kia mà . Vả lại không có cặp sừng nó cũng bảnh chọe chán . Ngày hôm sau , tất cả muôn loài muông thú đều lục tục kéo tới thiên cung . Muôn loài tụ tập đông khôn kể xiết . Ngọc hoàng ra ngự triều và phán bảo :Từ nay tên các năm sẽ được gọi theo tên các loài muông thú . Còn năm nào gọi tên con vật nào thì các thần tự lựa chọn lấy . Và thế là muôn loài lựa chọn :trâu ,ngựa , cừu , chó , lợn , thỏ , hổ , rồng, rắn , khỉ, gà trống , và chuột .Tại sao bấy giờ loài thú chọn những con vật ấy ? Không ai biết ! Tại sao là gà trống chứ không phải vịt bầu ? Hổ chứ không phải là sư tử ? Như vậy là : chúng lựa chọn được 12 con . Lựa chọn thì đã lựa chọn rồi đấy , nhưng xếp đặt thứ tự ra sao ? Ðến đây thì nổ ra cuộc tranh cải , giành giật ngôi thứ . Lớn nhất trong các khanh là trâu , để cho nó đứng đầu tiên , Ngọc hoàng phán .Muôn thú thậm chí hổ cũng thuận theo ngay . Nhưng đến đây thì chuột nhắt lại giơ tay và lên tiếng :Thế không lẽ tôi không to hơn trâu ư ? Vậy thì sao , khi nhìn thấy tôi , mọi người đều thốt lên : "Ái chà chà ! Con chuột to chưa !" ? Nhưng không ai lại thốt lên bao giờ: "Ái chà chà ! con trâu mới to làm sao !". hoá ra là , người ta cho tôi lớn hơn cả trâu !Ngọc hoàng ngạc nhiên :Nhưng nhà ngươi nói đúng chứ ? Ta không lấy gì làm tin cho lắm !Lúc này thì khỉ và ngựa cùng đồng thanh lên tiếng rằng , chẳng qua là chuột nói dóc , nhưng chuột làm như không có chuyện gì , lập tức trả lời :Các vị không tin ư ? Thì xin cứ thử xem xem!Gà trống , cừu , thỏ và chó đồng tình .Thôi được , thử xem sao ! - Cả Ngọc hoàng cũng bằng lòng .

Muôn loài thú kéo nhau đến chỗ con ngừơi .

Và ta thử tưởng tượng sự thể diễn ra thế nào ?Mọi chuyện xảy ra đúng như lời chuột nói .

Khi trâu đi đến chỗ mọi người , mọi người đều chỉ khen : "Con trâu đẹp , béo làm sao !" còn chuột ranh mãnh thì lúc đó leo tót lên lưng trâu , nhón đứng lên hai chân sau . Mọi người nhìn thấy nó bèn reo lên :

Ái chà chà con chuột to chữa !

Chính tai Ngọc hoàng nghe thấy điều đó, ngài cau mày và đành phán :

Thôi đựơc ! Một khi con người đã cho rằng , chuột to hơn trâu , thì trâu phải nhường chỗ đứng đầu cho nó , còn bản thân thì phải đứng thứ hai .

Tất cả đều đồng tình như thế , và bắt đầu từ đấy tính năm bắt đầu từ chuột , rồi đến trâu : tý , sửu ,...

Chuột trở về nhà hớn hở vui sướng , vì hóa ra nó lại đứng đầu các loài thú . Nó kiêu hãnh vênh vang ta đây . Còn mèo ta lúc ấy vừa thức dậy , đang mắt nhắm mắt mở , nhìn thấy chuột bèn hỏi :

Sao cô im lặng thế , cô chuột ? Không phải là hôm nay chúng ta được lên thiên cung ư?

Chẳng lẽ chị vẫn mơ ngủ đấy ư ? Còn em thì em đã ở thiên cung trở về đây rồi . Muôn loài đã chọn ra 12 con thú để theo đó mà tính năm , trong số đó em đứng đầu bảng ấy !

Mèo ngạc nhiên mở to mắt và hỏi :

Thế tại sao cô không đánh thức tôi dậy ?

Em quên ! - Chuột trả lời thản nhiên như không .

Mèo tức giận , chổng ngược ria lên , cất tiếng quát nạt :- Ðồ giẻ rách ! Vậy mà ta lại tin cậy mi , ngủ thiếp đi , không lo lắng gì! Không phải mi đã hứa đánh thức ta ư ? Ta biết : mi muốn hại ta ! Thôi được , ta phải tính sổ với mi !

Chuột không thừa nhận lỗi của mình mà nói :

Chị làm ầm ỉ uổng công ! Tôi không đánh thức chị - có nghĩa là tôi không muốn đánh thức nữa , đó là việc của tôi . Tôi đâu phải con ở của nhà chị !

Mèo nỗi giận đùng đùng , nó thở dốc ra , nghiến răng nghiến lợi , vồ lấy chuột và cắn nát cổ . Chuột chỉ kịp kêu chí chí , rồi duỗi thẳng cẳng .

Thế là mèo và chuột từ đó trở thành hai kẻ tử thù .

Còn bây giờ ta lại nói đến gà trống . Gà trống trở về buồn thỉu buồn thiu , nó nghĩ bụng : "Ngọc hoàng xếp rồng trứơc mình chắc hẳn vì trên đầu hắn có cặp sừng của mình ". Thế là gà trống quyết định đòi bằng được rồng trả lại cặp sừng . Nó bèn đi đến vùng biển , trên mặt nước rồng đang thích thú tung tăng vui đùa . Bấy giờ gà trống bèn nhã nhặn lên tiếng :

Người anh em rồng ! Anh làm ơn trả lại cho tôi cặp sừng !

A ! ra là bác gà trống đấy ư ? Mà bác cần gì cặp sừng kia chứ ? Nói thực sự ra thì , không mang cặp sừng trông bác còn đẹp hơn ấy . Còn với tôi cặp sừng mang vào thật hợp!

Hợp hay không hợp , không phải là chuyện của tôi - gà trống buồn rầu trả lời - Một khi anh mượn thì hãy trả đi

Rồng không nói năng gì . Nghĩ ngợi một lát , sau đó nó bỗng trịnh trọng kính chào gà trống và nói :

Xin bác đừng cố chấp thế , bác gà ơi ! Muộn rồi , đã đến lúc ta đi nghĩ . Còn chuyện này lần khác chúng ta sẽ bàn nhau thêm .

Gà trống chưa kịp há miệng nói nữa lời ,thì rồng đã lặn biến mất . Ðến đây thì gà trống nỗi đoá lên , nó vỗ cánh và hét tứơng :

Anh rồng , rồng , rồng ! Trả cặp sừng cho tôi đây .Anh rồng , rồng , rồng ! Trả cặp sừng cho tôi đây !

Nhưng trong lúc đó , rồng đã ngủ kỷ tận dưới đáy biển , chẳng còn nghe thấy gì hết

Gà trống la hét rất lâu , khản cả tiếng , người mệt lữ . Chẳng còn cách nào khác . Gà đã quyết định đi tìm rết. Bởi vì rết đứng ra bảo đảm cho rồng kia mà .

Gà tìm ngay đến rết trong đống đá , nói lại đầu đuôi cho rết nghe , rồi bảo :

Bà rết , bà đứng ra bảo đảm cho rồng , vậy thì không thể để sự việc như thế này được .

Rết ngửng đầu lên , im lặng và mãi sau mới liếng thoắng :

Anh rồng sẽ trả lại cho bác cặp sừng thôi . Còn nếu không trả : thì đành như vậy ! Tự bác xét lấy mà xem ! Tôi làm sao tìm được bác ấy tận dưới đáy biển kia chứ !

Giận quá gà trống đỏ mặt lên quát :

Thế thì bà là người bảo lãnh quái gì ! Không việc gì phải xộc vào chuyện của người khác . Tôi gặp chuyện bất hạnh , mà bác cứ như không ấy thôi !

Này ông gà trống , ông đừng có bực tôi làm gì cho uổng - Rết bắt đầu chống chế - Tự ông trao cho rồng cặp sừng . Còn tôi chẳng qua nói bảo đảm cho anh ấy thế thôi . Ai màbiết được anh rồng lại không đáng tin cậy như thế ? Nếu biết trước thì tôi chẳng khi nào lại đi bảo đảm cho anh ta .

Bây giờ biết làm sao ?- Nén giận gà trống hỏi .

Thì tôi đã nói rồi . Phải thừa nhận là ông anh không may , nếu như rồng dứt khóat không trả lại ông cặp sừng . Tự ông có lỗi . Trước khi trao , đáng ra phải suy nghĩ kỹ đã

Theo bà thì tôi ,chính tôi có lỗi ư ? - Gà trống trố mắt ra và ưỡn ngực và tiến tới áp đảo rết .

Chính ông có lỗi , chính ông có lỗi , đáng ra ông phải suy nghĩ kỹ đã . - Sống dỡ chết dỡ , rết khẳng định lại .

Gà trống càng đỏ mặt tía tai hơn , nó vươn dài cổ , mổ cho rết một cái vào đầu , rồi lắc lư mấy cái , gà nuốt sống rết vào diều .

Từ đó , ngày ngày gà tìm họ nhà rết trong sân mà mổ . Còn sáng sáng , hửng trời ra là gà trống gáy toáng : "Cúc cù cúc cù ! Anh rồng trả cặp sừng cho tôi "



(Lược Trích từ Sách 12 con giáp)
Đăng nhập để trả lời
0
[&:][&:]

Tôi đọc bài nói về Tử Vi của bạn (bidong) đăng lên diễn đàn, hầu như là rất đầy đủ.
Tuy rằng đầy đủ hơn những bạn khác đã dăng về Tử Vi trong diễn đàn nầy, nhưng vẫn còn thiếu phần an sao cũa hai chi nhánh lớn về cách an sao. Đó là cách an sao của Nam phái tử vi và cách an sao của Bắc phái tử vi (tử vi chính tông).
Không đưa ra cách an sao thì làm thế nào để những người muốn tìm hiểu và so sánh có thể học hỏi được.
Không đưa ra cách an sao dù những bài nầy có viềt sai cũng không lấy đâu để dẫn chứng sự sai đúng của hai phái !!!!!
Nhưng trong nầy tôi chấp nhận trăm phần trăm là sao Thiên Không an theo theo Nam phái là không trúng.
Những sao khác thì chưa đủ cơ sở để khẳng định.
Bạn có thể nào đưa ra những sao an khác nhau giữa hai phái Nam và Bắc, và cách an như thế nào.
không cần đề cập đến những sao an giống nhau vì không cần thiết.
Tử vi là một môn khoa học có thể cho người ta dự doán được chiều hướng của sự việc sắp tới, tôi không dám nói là trăm phần trăm, nhưng khả dỉ có thể tin được.
Nếu bạn có thể post bài về cách an các sao khác nhau của hai nhánh Nam và Bắc cho tôi được có cơ hội học hỏi không? Có thể không những tôi mà còn những người khác nữa, cũng mong muốn có cơ hội đó.
Nói suông không có dẫn chứng thì không biết trúng sai. Nếu biết cách an sao khác nhau thì của hai nhánh lớn thì người khác mới có thể so sánh và học hỏi.
Rất monng bạn có đủ tài liệu để post bài lên cho mọi người thưởng thức.

[:D][:D][:D]
Cuộc đời như những cơn mưa
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: lu_khach

[&:][&:]

Tôi đọc bài nói về Tử Vi của bạn (bidong) đăng lên diễn đàn, hầu như là rất đầy đủ.
Tuy rằng đầy đủ hơn những bạn khác đã dăng về Tử Vi trong diễn đàn nầy, nhưng vẫn còn thiếu phần an sao cũa hai chi nhánh lớn về cách an sao. Đó là cách an sao của Nam phái tử vi và cách an sao của Bắc phái tử vi (tử vi chính tông).
Không đưa ra cách an sao thì làm thế nào để những người muốn tìm hiểu và so sánh có thể học hỏi được.
Không đưa ra cách an sao dù những bài nầy có viềt sai cũng không lấy đâu để dẫn chứng sự sai đúng của hai phái !!!!!
Nhưng trong nầy tôi chấp nhận trăm phần trăm là sao Thiên Không an theo theo Nam phái là không trúng.
Những sao khác thì chưa đủ cơ sở để khẳng định.
Bạn có thể nào đưa ra những sao an khác nhau giữa hai phái Nam và Bắc, và cách an như thế nào.
không cần đề cập đến những sao an giống nhau vì không cần thiết.
Tử vi là một môn khoa học có thể cho người ta dự doán được chiều hướng của sự việc sắp tới, tôi không dám nói là trăm phần trăm, nhưng khả dỉ có thể tin được.
Nếu bạn có thể post bài về cách an các sao khác nhau của hai nhánh Nam và Bắc cho tôi được có cơ hội học hỏi không? Có thể không những tôi mà còn những người khác nữa, cũng mong muốn có cơ hội đó.
Nói suông không có dẫn chứng thì không biết trúng sai. Nếu biết cách an sao khác nhau thì của hai nhánh lớn thì người khác mới có thể so sánh và học hỏi.
Rất monng bạn có đủ tài liệu để post bài lên cho mọi người thưởng thức.

[:D][:D][:D]


VIII.- Dị biệt chính, Nam phái
1.- Sự khác biệt về số sao

1.1. Bộ Tử-vi chính nghĩa
Được coi như là chính thư. Không nói về số sao. Song trong mục dạy an sao có 93 sao, đó là:
1.1.1. Các chòm.
Tử-vi: 6 sao là Thiên-cơ, Thái-dương, Vũ-khúc, Thiên-đồng, Liêm-trinh.
Thiên-phủ: 8 sao là Thiên-phủ, Thái-âm, Tham-lang, Cự-môn, Thiên-tướng, Thiên-lương, Thất-sát, Phá-quân.
Thái-tuế: 5 sao là Thái-tuế, Tang-môn, Điếu-khách, Bạch-hổ, Quan-phù.
Lộc-tồn: 17 sao là Lộc-tồn, Kình-dương, Đà-la, Quốc-ấn, Đường-phù, Bác-sĩ, Lực-sĩ, Thanh-long, Tiểu-hao, Tướng-quân, Tấu-thư, Phi-liêm, Hỉ-thần, Bệnh-phù, Đại-hao, Phụcbinh, Quan-phủ.
Trường-sinh: 12 sao là Trường-sinh, Mộc-dục, Quan-đới, Lâm-quan, Đế-vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai Dưỡng.
1.1.2. Các sao an theo tháng: 7 sao Tả-phụ, Hữu-bật, Tam-thai, Bát-tọa, Thiên-hình, Thiên-riêu, Đẩu-quân.
1.1.3. Các sao an theo giờ: 8 sao Văn-xương, Văn-khúc, Ấn-quang, Thiên-quý, Thai-phụ, Phong-cáo, Thiên-không, Địa-kiếp.
1.1.3. Tứ trợ tinh: 4 sao là Hóa-quyền, Hóa-lộc, Hóa-khoa, Hóa-Kî.
1.1.4. Các sao an theo chi: 17 sao là Long-trì, Phượng-các, thiên-đức, Nguyệt-đức, Hồngloan, Đào-hoa, Thiên-hỉ, Thiên-mã, Hoa-cái, Phá-toái, Kiếp-sát, Cô-thần, Quả-tú, Hỏatinh, Linh-tinh, Thiên-khốc, Thiên-hư.
1.1.5. Các sao an theo can: 5 sao là Lưu-hà, Thiên-khôi, Thiên-việt, Tuần-không, Triệtkhông.
1.1.6. Các sao cố định: 4 sao là Thiên-thương, Thiên-sứ, Thiên-la, Địa-võng.

1.2.Bộ Triệu Thị Minh Thuyết Tử-vi kinh
Đều ghi có 93 sao, giống như bộ Tử-vi chính nghĩa.

1.3.Bộ Tử-vi đại toàn
Ghi rõ ràng rằng trong lá số phải có 93 sao như Hi-Di tiên sinh, kỳ dư an thiếu, đủ hay khác đi đều là tạp thư, ma thư của bọn đạo sĩ bịa đặt để lừa nhau, còn giả đạo đức, tỏ ra là người bác học, song chẳng qua là phường lưu manh!

1.4.Bộ Tử-vi Đẩu-số toàn thư
Nói về số sao rất lờ mờ. Phần dạy cách an sao có ghi rõ 85 sao. Các sao cũng giống như ba bộ trên. Duy thiếu các sao sau đây: Đào-hoa, Phá-toái, Kiếp-sát, Cô-thần, Quả-tú, Lưu-hà. Nhưng khi đọc bài phú nói về các sao, thì lại thấy nói tới Đào-hoa, Ân-quang, Thiên-quý v.v...

1.5.Bộ Đông-a di sự
Thấy ghi đúng 93 sao như bộ trên, nhưng khi xét các lá số để chiêm nghiệm thì thấy thiếu các sao: Bác-sĩ, Thiên-la, Địa-võng, Thiên-thương, Thiên-sứ. Có lẽ các Tử-vi gia đời Trần quan niệm rằng các sao trên đều ở vị trí cố định, nên không cần an vào như sao Bác-sĩ bao giờ cũng đóng chung với sao Lộc-tồn. Sao Thiên-thương bao giờ cũng ở cung Nô, sao Thiên-sứ bao giờ cũng ở cung Tật-ách và sao Thiên-la bao giờ cũng ở cung Thìn cũng như sao Địa-võng bao giờ cũng ở cung Tuất.
Trên đây là các bộ chính thư, dưới đây là các bộ tạp thư.

1.6.Bộ Tử-vi Ấm-dương chính nghĩa Bắc-tông
Thấy ghi đến 104 sao. Các sao cũng như giống như chính thư về số sao cũng như cách an sao, song thêm các sao sau đây: Thiên-tài, Thiên-thọ, Thiên-trù, Thiên-y, Thiên-giải, Địa giải, Giải-thần, Thiên-lộc, Lưu-niên văn tinh, Thiên-quan quý nhân, Thiên-phúc quý nhân.

1.7.Bộ Tử-vi âm-dương chính nghĩa Nam-tông
Ghi tới 128 sao, các sao cũng giống như sao Bắc-tông, nhưng thêm 24 sao là Thái-túc, Niên-xá, Thiên-khôi, Nguyệt-khôi, Niên-thổ-khúc, Nguyệt-thổ-khúc, Thiên-thương (Nghĩa là kho lúa khác với Thiên-thương ở cung Nô, như vậy trong lá số có hai sao Thiên-thương). Thiên-phủ-khố, Thiên tiễn, Hồng-diệm, Địa-không, Phù-trầm, Sát-nhận. Vòng Thái-tuế được thêm vào 7 sao nữa cho đủ 12 sao, đó là các sao Thiếu-dương, Thiếu-âm, Tử-phù, Tuế-phá, Long-đức, Phúc đức, Trực-phù, Tứ-phi-tinh, Thiên-trượng, Thiên-dị, Mao-đầu, thiên-nhận.

1.8.Bộ Tử-vi thiển thuyết gồm 128 sao
Giống như bộ Nam-tông nhưng thêm vào 13 sao nữa rất quái dị, không có trong thiên-văn mà chỉ có trong tiểu thuyết thần kỳ chí quái, ma trâu đầu rắn. Đó là các sao: Nam-cực, Đông-đẩu tinh-quân, Bắc-đẩu tinh-quân, Nam-đẩu tinh-quân, Cửu-thiên huyền nữ, Dao-trì kim mẩu, Vũ-tinh, Lôi-tinh, Thiên-vương tinh, Địa-tạng tinh, Thái-bạch kim tinh.

1.9.Lịch số Tử-vi toàn thư
Số sao cũng giống như bộ Tử-vi thiển thuyết song dạy an sao ngược với các bộ trên. Như sao Trường-sinh không những chỉ an ở Dần, Thân, Tî, Hợi mà còn thấy ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Vòng Tử-vi an xuôi, vòng Thiên-phủ an ngược. Số sao cũng có 128 mà thôi.

2.- Sự khác biệt về sao lưu niên
2.1.Chính thư
Các sao lưu niên đều an giống nhau, số sao cũng giống nhau:
-Vòng Lộc-tồn với 15 sao không có Quốc-ấn, Đường-phù. (Bộ Tử-vi đẩu số toàn thư chỉ nói đến hai sao Kình, Đà thôi)
- Thiên-khôi, Thiên-việt, Thiên-mã, Thiên-khốc, Thiên-hư và vòng Thái-tuế 5 sao, Vănxương, Văn-khúc. Tất cả 27 sao.

2.2.Tạp thư
Vẫn gồm các sao như bộ chính thư nhưng thêm: Hỏa-huyết, Lan-can, Quân-sách, Quyện thiệt, Bạo-tinh, Thiên-ách, Thiên-cẩu, Huyết-nhận, Huyết-cổ, Ngũ-quỷ và vòng Trường sinh 12 sao.

3.- Sự khác biệt về đại hạn
Chính phái an đại hạn như sau:
- Từ lúc đẻ ra tới số cục thì đại hạn an tại cung Mệnh.
- Đại hạn thứ nhất sẽ an vào cung phụ mẫu, hoặc huynh đệ.

Tỷ như: Người Hỏa-lục-cục, thì từ 1 tới 5 tuổi thì đại hạn ở cung Mệnh. Từ 6 tuổi trở đi thì đại hạn ở cung Huynh đệ hoặc Phụ-mẫu.

- Nhưng Nam phái lại an ngay đại hạn thứ nhất ở cung Mệnh, rồi đại hạn thứ nhì ở cung Phụ mẫu hoặc Huynh đệ. Như vậy từ lúc đẻ ra tới số tuổi “số cục” không có đại hạn.
Sự khác biệt này, đã khiến cho Nam phái phải đi tìm nhiều sao khác, hoặc nhiều thuật khác, để đoán cho đúng, nhất là đoán vận hạn chết rất quan trọng. Bắc phái đoán rất trúng, nhưng theo Nam phái lại khó khăn. Sự khác nhau về hạn, khiến cho Nam phái không dùng bài phú đoán của Hy-Di tiên sinh được. Bởi phú đoán thì an đại hạn theo Bắc phái. Những người học theo Nam phái thường tỏ ý nghi ngờ các bài Phú. Họ phải dò dẫm, tìm hiểu lâu năm mới đưa ra lối giải quyết. Trong khi những người học theo Bắc phái, thì ngay sau khi học an sao, học có thể học cách giải đoán bằng cách xử dụng phú đoán được.

Tỷ dụ: Chính phái đoán số Hạng Vũ, căn cứ vào phú đoán:
Hạng Vũ anh hùng hạn ngộ Thiên-không nhi táng quốc. Thạch Sùng hào phú, vận phùng Địa-kiếp dĩ vong gia. Nghĩa là Hạng Vũ anh hùng nhưng hạn ngộ Thiên-không nên mất nước. Thạch Sùng giàu có nhưng hạn gặp Địa-kiếp nên tan nhà nát cửa. Nếu xét theo Nam phái thì câu phú trên không đúng được:

- Thứ nhất, theo Bắc phái chỉ có sao Thiên-không, Địa-kiếp đi đôi với nhau, không có sao Địa-không. Sao Thiên-không không đóng ở vị trí sao Địa-không của Nam phái và không
có sao Thiên-không trước Thái-tuế một cung. Hạng Vũ, đại hạn tới Dần gặp Địa-kiếp, tiểu hạn ở Thân gặp Thiên-không. Đại, tiểu hạn Kiếp, Không gặp nhau nên táng quốc. Dù đại hạn có Đồng, Lương, Quyền cũng không giải nổi. Bàn về số Thạch Sùng cũng tương tự. Nếu đoán theo Nam phái bài phú trên cũng không đúng:

- Đại hạn đang tới cung Mão, gặp Thái-tuế, mà Thiên-không đóng ở Thìn.
Như vậy không có vụ Hạng Võ chết về Kiếp, Không lâm nạn, Sở vương táng quốc. Mà chỉ có việc Hạng Võ gặp hạn Địa-không ở Thân mà thôi.
Hồi còn ở Việt-nam, chúng tôi dạy Tử-vi cho các vị yêu khoa này, thường thì những vị chưa biết gì học mau hơn. Còn các vị học theo Nam phái, học thêm mấy chục bài phú nữa, mất công chỉnh đốn lại. Bởi vậy chúng tôi có lời khuyên: Các vị học theo Nam phái thì không nên học những bài phú của Hy-Di, mà học các bài phú của Ma-Y thuộc Nam phái mà thôi. Nếu không đầu óc sẽ lộn tùng phèo.

4. Sự khác biệt về an sao
Trong 93 tinh đẩu không có sự khác biệt. Nhưng duy sau này những bộ tạp thư đưa ra an những sao mới, hoàn toàn do họ đặt ra, có sự quái gở khi an vòng Trường-sinh: Họ khởi Trường-sinh ở cả Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
Về an Khôi, Việt thì chính thư, tạp thư chỉ khác nhau có tuổi Canh mà thôi: Chính thư Khôi ở Sửu, Việt ở Mùi. Trong khi tạp thư thì cho ở Dần, Ngọ. Về an tứ hóa: Tuổi Canh cũng bị lộn như Hóa-lộc đi với Thái-dương, Hóa-quyền đi với Vũ-khúc, Hóa-khoa đi với Thiên-đồng, Hóa-kî đi với Thái-âm. Trong khi tạp thư Hóa-khoa đi với Thái-âm, trong khi Hóa-kî đi vối Thiên-đồng.

5. Đối với sách Tử-vi hiện tại
Trừ bộ Tử-vi đẩu số toàn thư do Vũ Tài Lục lược dịch, một vài đoạn đúng với chính thư, còn các sách khác, chúng tôi không tiện phân tích xem sách của vị nào ảnh hưởng của phái nào bên Trung-quốc! Vân Điền Thái Thứ Lang là một đại đức Phật giáo, ông bị tử nạn xe hơi đã lâu, nên chúng tôi có thể bàn về sách của ông: Rất gần với chính phái. Ông Vũ Tài Lục là con của cụ Kép Nguyễn Huy Chiểu, hiện ở Hoa-kỳ. Còn ông Nguyễn Phát Lộc với chúng tôi có chút duyên văn nghệ, trước đây ông là phó Đặc-ủy trung ương tình báo VNCH, không rõ nay ở đâu, nếu ông còn ở Việt-nam thì có lẽ đã bị giết rồi.

Chúng tôi quan niệm: Dù tất cả Tử-vi gia thuộc phái nào đi nữa, cũng cần có kinh nghiệm. Về phương diện nghề nghiệp, họ phải dùng Tử-vi làm kế sinh nhai là điều bất đắc dĩ, bới bỏ tâm não ra, an sao, chấm số, giải đoán một lá số Tử-vi không tiền nào, bạc nào trả họ nổi cả. Dù không trả tiền với tinh thần khoa học, họ cũng say mê nghiên cứu. Chính
chúng tôi kiếm tiền rất dễ dàng, nhưng khi thấy một lá số kỳ lạ, cũng chẳng ngần ngại gì mà không bỏ ra cả ngày để nghiền ngẫm cho ra nguyên lý.

bidong thì thấy 2 cuốn Tử Vi Hàm Số + Tử Vi Tổng Hợp của Nguyễn phát Lộc tương đối đầy đủ và giúp cho người tìm hiểu về Tử Vi
Đăng nhập để trả lời
0