Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

BÀI THƠ TÌNH ĐẦU TIÊN CỦA VIÊT NAM

9 trả lời, 133 lượt xem — Trang 1 / 1
chào các bạn, hôm này lovely_có một điều thắc mắc muốn thỉnh giáo các bậc tiền bối
Mình muốn hỏi có ai biết bài thơ tình đầu tiên của việt nam là bài nào ko, theo như mình được biết thì đó là một bài thơ của nguyễn trãi viết tặng một cô bán chiếu. Ai biết bài thơ này nhớ báo gấp cho lovely nha
    Cảm ơn mọi người nhiều
  cho mình đa tạ trước



TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA_ MẢNH ĐẤT MÁU THỊT CỦA VIỆT NAM
Đăng nhập để trả lời
0
bùn quá diễn đàn văn học mà ko ai bik bài thơ này sao thất vọng ghê lun  [:(]



TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA_ MẢNH ĐẤT MÁU THỊT CỦA VIỆT NAM
Đăng nhập để trả lời
0
Làm sao mà mãi đến đời Lê mới có Nguyễn Trãi làm thơ tình?[:)] Đời Lý trước đó chắc đã có thơ tình rồi vì các vua Lý cũng rất "văn nhân". Lý Thường Kiệt chẳng làm thơ đó sao. Hơn nữa đời Lý có chuyện vua đi chơi tìm được cô thôn nữ ngoài ruộng dâu, chắc chắn phải có thơ (chuyện Ỷ Lan) [:)]. Mà xa hơn nữa đời Đường đầy nhà thơ người Việt. Chẳng nhẽ thơ Đường không có bài nào là thơ tình?
Trái tim anh chia ba phần tươi đỏ
Anh dành riêng cho vợ phần nhiều...

Đường đời http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=431926
Bút Tre http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=450048
Giao duyên http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=435187
Đăng nhập để trả lời
0
Thỏ ơi!
Quả thực đây là một câu hỏi khá rộng,và dường như P chưa thấy ai có thể chứng minh đầy đủ được.
P chỉ biết trong tập thơ Nôm Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi có một mục thơ đặc biệt,đó là mục Tích cảnh thi(Thơ tiếc cảnh)
Thi phẩm gồm 13 thủ nối tiếp nhau, mỗi thủ 4 câu, trong đó có 8 thủ dùng cách tuyệt cú thủ vĩ liên hoàn, câu cuối của thủ trước liên hoàn về ý, về chữ với câu đầu ở thủ sau. Trong 5 thủ còn lại, cũng có hai thủ cuối theo cách liên hoàn. Trong cổ thi thủ là bài, mục là tập hợp nhiều thủ. Đó là cách tính đơn vị theo hình thức. Ta thấy rất nhiều khi, mục tương đương với bài và thủ lúc đó tương đương với khổ thơ, nhất là khi làm thơ theo cách tuyệt cú thủ vĩ liên hoàn, một cách để chủ thể sáng tạo kéo dài ý thơ khỏi sự gò bó chật hẹp của khuôn khổ tứ tuyệt. Thực chất, Tích cảnh thi là một bài thơ dài khi ta thấy tâm trạng của tác giả tuôn chảy qua suốt 13 khổ liền mạch, nồng nàn. Đó là tâm trạng của một thi nhân biết mình đã già, đứng trước sự luân chuyển của thời gian, của cảnh sắc của tình cảm con người rồi cảm động mà thốt nên thơ.
 
[:D]Thỏ hãy tìm hiểu coi thế nào,P thấy rất thú vị đấy.
Bình yên là gì mà ai cũng thích thế
Bình yên là gì mà ai cũng mong muốn có
Bình yên là gì mà ai cũng muốn san sẻ cho nhau
Bình yên là gì mà nhiều lúc khó kiếm tìm
và...bước chậm lại một chút,ngắm nhìn,mỉm cười,đó có lẽ là Bình yên với ta
Đăng nhập để trả lời
0
Lâu lắm mới thấy Vũ Phong mở lời đấy, khi nào có thời gian thỏ sẽ tìm hiểu về bài thơ này
Tại giờ thỏ có ít thời gian lắm



TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA_ MẢNH ĐẤT MÁU THỊT CỦA VIỆT NAM
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-08-23 06:06:25ngày mai>
.

Mình muốn hỏi có ai biết bài thơ tình đầu tiên của việt nam là bài nào ko,theo như mình được biết thì đó là một bài thơ của nguyễn trãi viết tặng một cô bán chiếu


Thử đọc qua tài liệu này:

THI KINH QUỐC PHONG - KIM Y PHẠM LỆ OANH dịch thuật  

Và đi tìm lại các câu ca dao bình dân quê mùa nhất, ý vị nhất, thấm thía nhất trong lòng mọi người Việt...

"Thơ" là thể để ngâm, để hát, để diễn tả tình cảm.
Bài "thơ tình đầu tiên của dân Việt" phải là một bài lục bát, lọai truyền khẩu, không thuộc lọai văn chương bác học...

.
http://VoiceofVietnameseAmericans.blogspot.com
Đăng nhập để trả lời
0
theo như mình được biết thì đó là một bài thơ của nguyễn trãi viết tặng một cô bán chiếu. Ai biết bài thơ này nhớ báo gấp cho lovely nha
Cảm ơn mọi người nhiều

 Tôi không biết bài thơ tình đầu tiên của việt nam là bài nào nhưng biết bài thơ mà nguyễn trãi viết cho Đặng thị Lộ khi bà còn bán chiếu ở hồ tây
        Người ở đâu mà bán chiếu gon?
        Hỏi rằng chiếu bán hết hay còn?
        Xuân xanh chừng độ bao nhiêu tuuổi
       Đã có chồng chưa được mấy con

Bà Lộ đã trả lời
      Thiếp ở tây hồ bán chiếu gon
      việc chi chàng hỏi hết hay còn
      Xuân xanh cmới độ vừa đôi tám
      Chưa có chồng sao đã có con

Hai bài thơ này chỉ là dã sử nên có nhiều dị bản. Tôi viết theo bản mà tôi thích nhất
Đăng nhập để trả lời
0
Hai bài thơ này chỉ là dã sử nên có nhiều dị bản

 
Một dị bản có nhiều chữ Nôm và cách nói duyên dáng mà sâu sắc của người Việt:
 

Ả ở đâu mà bán chiếu gon?
Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn?
Xuân xanh xấp xỉ chừng bao lẻ?
Đã có chồng chưa? Được mấy con?
 
 
Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon
Can chi Ông hỏi hết hay cỏn?
Xuân xanh xấp xỉ trăng tròn lẻ
Chồng còn chưa có, hỏi chi con ...
 
 
.
.
http://VoiceofVietnameseAmericans.blogspot.com
Đăng nhập để trả lời
0
PHÁT HIỆN LẠI VỀ
VIỆT NHÂN CA
(
越人歌)
                                   Thanh Đo
Việt nhân ca quá nổi tiếng. Sau khi được đưa vào phim và hát thì nổi lên phong trào tìm hiểu Việt nhân ca trong dân gian chứ không còn là chuyện của các chuyên gia nghiên cứu văn hóa. Nổi tiếng vì có thể nói đó là bài thơ tình đầu tiên, bài dân ca xuất hiện sớm nhất được ghi nhận trọn vẹn, cách nay khoảng 2800 năm…
Tóm tắt về bối cảnh ra đời của Việt nhân ca: Lưu Hướng (刘向) là cháu bốn đời của Lưu Giao (刘交). Lưu Giao là em của Lưu Bang (刘邦) cao tổ của nhà Hán. Lưu Hướng là tác giả của sách Thuyết uyển (说苑). Sách có chương kể chuyện “Tương Thành Quân Thủy phong chi nhật” (襄成君始封之日). Tương Thành Quân là Sở Tương Vương (楚襄王) tên hiệu là Hùng Hoành (熊橫). Trong câu chuyện có nhắc đến Ngạc Quân Tử Tích (鄂君子皙) là vua Sở Hùng Ngạc (楚熊咢) dùng thuyền dạo mát ngoạn cảnh thì có người chèo thuyền hát bài dân ca Việt. Ngạc Quân Tử Tích nhờ người ghi lại và phiên dịch ra tiếng "Sở" là bài "Việt nhân ca".
Nguyên văn đoạn đó như sau:

"襄成君始封之日,衣翠衣,带玉剑,履缟舄(舄:xi4,古代一种双层底加有木垫的鞋;缟舄:白色细生绢做的鞋),立于游水之上,大夫拥钟锤(钟锤:敲击乐鼓的锤子),县令执桴(桴:鼓槌)号令,呼:“谁能渡王者于是也?”楚大夫庄辛,过而说之,遂造托(造托:上前求见)而拜谒,起立曰: “臣愿把君之手,其可乎?”襄成君忿然作色而不言。庄辛迁延(迁延:退却貌)沓手(沓:盥之误字,盥手即洗手)而称曰:“君独不闻夫鄂君子皙之泛舟于新波之中也?乘青翰之舟(青翰:舟名,刻成鸟形的黑色的船),极(:man2,上艹下两;芘:bi4。芘:不详为何物,疑为船上帐幔之类),张翠盖而检 (检:插上)犀尾,班(班,同“斑”)丽袿(袿:gui1,衣服后襟,指上衣)衽(衽:ren4,下裳),会钟鼓之音,毕榜枻(榜:船;枻,yi4,桨。榜枻:这里指代船工)越人拥楫而歌,歌辞曰:‘滥兮抃草滥予,昌枑泽予昌州州,饣甚州州焉乎秦胥胥,缦予乎昭,澶秦踰渗,惿随河湖。’鄂君子皙曰:‘吾不知越歌,子试为我楚说之。’于是乃召越译,乃楚说之曰:‘今夕何夕兮,搴中洲流。今日何日兮,得与王子同舟。蒙羞被好兮,不訾诟耻。心几顽而不绝兮,知得王子。山有木兮木有枝,心说君兮君不知。’ 于是鄂君子皙乃揄修袂,行而拥之,举绣被而覆之。鄂君子皙,亲楚王母弟也。官为令尹,爵为执圭,一榜枻越人犹得交欢尽意焉。今君何以踰于鄂君子皙,臣何以独不若榜枻之人,愿把君之手,其不可何也?”襄成君乃奉手而进之,曰:“吾少之时,亦尝以色称于长者矣。未尝过僇(僇:lu4,羞辱)如此之卒也。自今以后,愿以壮少之礼谨 命。”
Dịch nghĩa:

“Ngày đầu tiên Tương Thành Quân được phong quan tước, mặc áo đẹp, đeo kiếm ngọc, mang cao guốc, đứng phía trên dòng nước, đại phu gõ nhạc, đánh trống. Lệnh rằng: "Ai có thể đưa bổn vương lên đò?" Sở đại phu Trang Tân bước lên phía trước bái kiến, đứng thẳng nói rằng: "Thần nguyện nắm tay của quân vương, có được không ?" Tương Thành Vương phẫn nộ, mặt biến sắc và im lặng. Trang Tân mất mặt, phủi tay nói rằng: " Quân vương không nghe qua chuyện Ngạc Quân Tử Tích dạo thuyền trên làn sóng mới sao? Trên thuyền Thanh Hàn, cắm cờ xí, khoác áo choàng đẹp. Trong tiếng chuông trống, người chèo thuyền là người Việt đã hát. Lời hát là "Lạm hề biện thảo biện dư, xương Hoàn trạch dư xương châu châu, Thực thẩm châu châu yên hô tần tư tư, mạn dư hô chiêu, thẳn tần du sâm, đề tùy hà hồ ." Ngạc Quân Tử nói: " Ta không hiểu Việt ca, thử cho ta hiểu bằng tiếng Sở." Thế là cho người phiên dịch, bằng tiếng Sở nghiã là: "Kim tịch hà tịch hề, khiên trung châu lưu, kim nhật hà nhật hề, đắc dĩ vương tử đồng Chu. mông tu bị hảo hề, bất hiềm cấu sĩ. tâm kỷ phiền nhi bất tuyệt hề, tri đắc vương tử. Sơn hửu mục hề mục hửu chi, tâm thuyết quân hề quân bất tri.” "Nghe xong, Ngạc Quân Tử Tích xăn tay áo, đến ôm lấy, dùng mền thêu mà đắp lên. Ngạc Quân Tử Tích là em cùng mẹ với Sở vương, làm quan Lịnh-Doãn, tước vị cao sang, mà còn có thể cùng vui tận hết ý với người chèo thuyền Việt. Nay sao quân vương lại do dự hơn Ngạc Quân Tử Tích, thần tại sao không bằng người chèo thuyền, muốn nắm tay quân vương, tại sao lại không được ?" Tương Thành Quân đưa tay ra bước tới, nói: "ta từ nhỏ đã được người lớn khen đàng hoàng, chưa từng bất ngờ gập qua cảnh nầy. Từ nay về sau xin nghe lời chỉ dạy của tiên sinh."
Chính nhờ đoạn văn này mà Bài ca của người Việt còn tới ngày nay. Từ văn bản Hán ngữ đã nhiều người dịch ra tiếng Việt. Và đây là bản dịch có thể được coi là chuẩn:
Việt nhân ca
(Bản dịch Việt ngữ trên Diễn Đàn của Viện Việt Học)

Đêm nay đêm nào chừ, chèo thuyền giữa sông
Ngày này ngày nào chừ, cùng vương tử xuôi dòng.
Thẹn được chàng mến yêu chừ, nào chê phận thiếp long đong
Lòng rối ren mà chẳng dứt chừ, được gặp chàng vương tông
Non có cây chừ, cây có cành chừ; lòng yêu chàng chừ, chàng biết không?

Hơn hai nghìn năm nay, giai thoại vẫn nằm trong sách. Bao thế hệ đã đọc và ngợi ca đều bằng lòng với bản dịch mà chưa ai nghiên cứu nguyên văn của bài ca tức là bản tiếng Việt! Phải chăng đó là thứ ngôn ngữ bị mai một mà bao tháng năm do không hiểu được nên lớp lớp tài tử văn nhân bằng lòng với cái bóng, cái hình?

Biết bao nhiêu chuyên gia ngôn ngữ học cuả nhiều thế kỷ cận đại đã bỏ công nghiên cứu Ký âm của Việt Nhân Ca là ngôn ngữ gì? tập hợp cuả tập thể nghiên cứu Việt nhân ca gồm những người am hiểu hầu hết các ngôn ngữ, họ dẫn chứng là ký âm của Việt nhân ca có thể giãi thích bằng tiếng nói các dân tộc : Tráng tộc壮族、Đồng Tộc侗族, Bố y Tộc布依族, Thái tộc傣族, Thủy tộc水族, Mao Nam tộc毛南族, Hạ lào tộc仫佬族, Lê tộc黎族...Vì các dân tộc nầy đều có nguồn gốc từ Cổ-Việt-Tộc古越族。Và cuối cùng thì Thuyết Ký âm Việt Nhân Ca được kết luận là của người Choang-Tráng Tộc ...
...Hiện giờ Việt nhân ca được biết như là bài dân ca của dân tộc "Choang", được ghi lại bằng ký âm bởi người Sở thời Xuân-Thu.* Một số ý kiến cho rằng lịnh doãn nước Sở là Ngạc Quân Tử Tích sau khi nghe bài hát của người Việt rồi nhờ người phiên dịch ra tiếng Sở. Sở quá rộng lớn nên Bắc Sở thường tự xưng là Kinh Sở và Nam Sở tự xưng là Tương Sở hay Tượng Sở. Trong lịch sử xưa có khi Nam Sở tách ra độc lập là nước Dương Việt. Nếu ngược thời Xuân thu đi về xa nữa, thì tận xa xưa có “lịnh doãn" của nước Sở là Tử Văn vào triều đình nhà Chu nói chuyện bằng tiếng Sở mà nhà Chu xưng là Hoa lại không ai hiểu... Điều nầy được ghi nhận trong Sử ký. Xin quí vị xét kỹ yếu tố câu chuyện nầy mà đừng lầm rằng tiếng Sở là tiếng Hoa. Ngay cả "lịnh-doãn" nước Sở nghĩa là gì thì người Hoa cũng không biết, nên chỉ ghi chú: quan "lịnh-doãn" là chức quan tương đương với "tể tướng" hay gọi là "thừa tướng". Thực ra lịnh-doãn (令尹) là từ đa âm cổ: quan lịnh-doãn hay quan loãn à quan loan à quan lang chỉ có trong tiếng Việt và người Việt mới hiểu. Quan chức người Việt thời Hùng Vương được gọi là quan lang à loan, khi ký âm bằng chữ vuông thì biến thành lịnh - doãn (令尹). Thời Xuân thu vẫn dùng ngôn ngữ Việt làm tiếng phổ thông giữa các quốc gia nhỏ ở Trung Nguyên và gọi là Nhã ngữ. Nhã ngữ là Việt ngữ mà ngày nay cũng bị gọi là Hoa ngữ, đã đơn âm hóa nên nhiều người lầm tưởng "Việt" "Hoa" là hai ngôn ngữ khác nhau. Ví dụ "Trữ-la" thôn thì thực ra là "Tử la" thôn có nghĩa là “thôn Tả". "Trả" “tả” hay "trái" chính là "Tó" (Triều Châu), “Chỏ" (Quảng Đông), "Chò" (Bắc Kinh) dù chung một gốc mà sau khi biến âm thì vùng nầy lại không hiểu ngôn ngữ vùng kia.
*Điều quan trọng cần lưu ý, là nhà nghiên cứu cổ nhạc cuả các dân tộc ở Trung quốc là ông Phùng Minh Tường đã khẳng định "Việt Nhân ca" bị cho là tiếng Choang thật sự không ổn! vì tìm hết các thể điệu Dân Ca cuả Choang không hát được "Việt Nhân ca" trong khi đó là 1 bài dân ca. nhưng ông ta cũng không tìm ra được "Việt nhân Ca" là của Dân tộc nào.
-Ký âm tiếng Việt của bài ca được ghi lại là:

滥兮抃草滥予 Lạm hề biện thảo lạm dư
昌枑泽予昌州州 Xương hằng trạch dư xương châu châu
饣甚州焉乎秦胥胥 Thực thầm châu yên hồ tần tư tư
缦予乎昭 Mạn dư hồ chiêu 澶秦逾渗惿随河湖 thìn tần du sâm, đề tuỳ hà hồ

(Bản ký âm nầy khi phiên ra Hán-Việt thì thường bị thiếu một chữ ở câu số 3:"饣", đó chính là chữ 飠-Thực.)
Phiên dịch ra Hán Việt cho một bài dùng chữ tượng hình cổ để "phiên âm" tiếng Việt thì sẽ rất là khó vì có chữ không còn được dùng nữa, nên không có trong từ điển. Mà dù cho có tra tự điển thì chưa chắc đúng bởi vì giọng đọc ở các địa phương khác nhau. Thêm nữa, cách nhau đến ngàn năm thì tiếng nói và cách viết của một số chữ có thể thay đổi và lại biến âm theo từng miền ngôn ngữ v v... Bản ký âm nầy cho đến nay vẫn bị cho là phiên âm để ghi lại tiếng "Choang" tức là tiếng "Thái" của Tráng tộc.
Nay tôi xin trình bài "Phục nguyên" những chữ ký âm cuả Việt Nhân ca như sau :
Chữ đã ghi lại Việt nhân ca được thể hiện bằng 33 chữ. Xin trình bày lại và xếp theo ý tôi:

滥 兮 抃 草 滥 予 昌 枑 泽 予 昌 州 州 飠 甚 州 焉 乎 秦 胥 胥 缦 予 乎 昭 澶 秦 踰 渗 惿 随 渗 惿 随 ...河 湖。

- Đó là tiếng Việt, xin sắp xếp lại, vì rất quan trọng, cho đúng thơ lúc -bát , 6-8: (chú ý 2 chữ có gạch nối là 1 chữ "đa âm")

滥 兮 抃 - 草 滥 予 Lạm hề biện-thảo lạm dư
昌 枑 泽 - 予 昌 州 州 飠 Xương hoàng trạch-dư xương châu thực
甚 州 焉 乎-秦 胥 胥 Thẩm châu yên hô-tần tư tư
缦 予 乎-昭 澶 秦 踰 渗 惿-随 Mạn dư hô-chiêu thìn tần du sâm đề-tùy.
...河 湖。 Hà Hồ.
-Để dịch bài này từ tiếng Việt xưa ra tiếng Việt nay : xin giải thích những ký âm của Việt nhân ca:

滥 : "Lạm" là "Lam" hay "nam" tức là "Năm", "L" và "N" thường là biến âm, ngày nay màu "Lam" tiếng Triều Châu là "Nam". Rất nhiều nơi ở Quảng, Triều, Việt thường lẫn lộn "L" và "N".

兮: Hề... hầy, nầy, nè, đây... nhiều biến âm.

抃草: Biện-thảo là từ đa âm của "bảo".

予: "Dư" còn có âm "ia" (Triều Châu, Bắc kinh): Năm "dư" có thể như ngày nay là "năm kia", "năm Xưa" ;

昌: ký âm "xương" là "thương". Ngày nay tiếng Quảng Đông-thuần Việt là "Sẹc", Triều Châu-thuần Mân Việt là "Siaiê".

枑: "Hằng" hay "Hoàng".

泽予: "Trạch-Dư" hay "Trạch-Dử" là "Trử” hay "Tử",

飠: Thực, tiếng Quảng Đông à sực, Bắc kinh à Sữa: phát âm như là "Xưa".

甚 : Thẩm hay Thậm là Sẩm, sửm, sơm tiếng tiếng Quảng Đông, và Bắc kinh "Sum" phát âm như "Sớm".

州: Châu, phát âm Mân Việt -Triều Châu thì đọc là "Chiêu", "Chiệu" như "Chiều".

焉: (zen)Hiện nay phiên âm là "Yan" phát âm tiếng Bắc Kinh như em.

乎秦: "Hô-tần" đa âm, là "Hận" đơn âm.

乎昭: "Hô-chiêu" đa âm là "Hiểu" đơn âm.

澶: "Thẳn" hay "Đặng" hay "được". Nếu tra tự điển và phiên dịch là "Thìn" hay "chiền" là không đúng! Bên trái là bộ "Thủy" và bên phải là chữ "Đàn", đọc là "Thẳn" hay "đặng" và nghĩa là "nước xối... thẳng, thông, đặng". Tiếng Quảng Đông: "Thànn", Tiếng Triều Châu: "thànn" hay "thạnn".

胥胥: "tư tư" là Tương Tư.

秦 踰: Tần Du, là ký âm "tình duyên" hay "tình yêu", 秦 là Tsình của tiếng Triều Châu ngày nay, 踰, du, Duyè (Quảng đông), Dua (Triều Châu).

渗: "Sâm" là Sâu, tiếng Quảng Đông ngày nay "sâu" vẫn là "Sâm".

惿随: "Đề-Tuỳ" đa âm là "đùy" đơn âm, là "đầy"

河- Hà: Hò 湖- Hồ: Hớ

Như vậy, nghĩa Việt của bài ca như sau:

Năm nầy bảo năm xưa

Thương Hoàng tử thương chiều chiều xưa

Sớm chiều em hận tương tư

Mà ai hiểu đặng tình yêu sâu đầy.

....Hò Hớ.
Theo khảo cứu của tôi thì Việt nhân ca là thơ lục bát của tiếng Việt, phù hợp với câu hò của dân ca Việt. Nếu thể hiện bài ca bằng thể lục bát ngày nay thì sẽ là:

Hò... ... hớ...
Năm nầy bảo với năm xưa
Thương chàng hoàng tử thương chiều chiều xưa
Sớm chiều em hận tương tư
Mà ai hiểu đặng tình yêu sâu đầy.
Việc khảo cứu và giải mã bí mật của Việt nhân ca, đối với tôi rất là dễ bởi vì tôi biết chữ tượng hình người Hoa đang dùng vốn là chữ Việt. Khi nghiên cứu cổ sử, tôi thường đọc theo nhiều phương ngữ khác nhau là Bắc Kinh, Quảng Đông, Triều Châu, Hán Việt. Vì thế có thể nói, nhìn vào Việt nhân ca là thấy được bài thơ Việt liền! Thích thú với chi tiết 2800 năm về trước, tiếng Việt đã dùng "biện- thảo" là "bảo" , "nầy" kia, "nầy" xưa, "thương chiều chiều xưa", "em hận tương tư" v v... Nhưng có điều tôi chưa biết "Hò...hớ" là nghĩa gì và cũng chưa bao giờ nghĩ đến sẽ tìm hiểu "Hò......Hớ" là gì! Vậy mà Việt nhân ca bản gốc đã làm tôi kinh ngạc và "ngộ" ra rằng "Hò...hớ" là dân ca của người Việt khi gắn bó với sông hồ, với ghe, thuyền: Hò...Hớ nghĩa là "Hà 河" ..."Hồ 湖"

nguồn http://van-nhan.tk/
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-12-18 18:41:31Leo*>
Trích đoạn: lovely_rabbit

chào các bạn, hôm này lovely_có một điều thắc mắc muốn thỉnh giáo các bậc tiền bối
Mình muốn hỏi có ai biết bài thơ tình đầu tiên của việt nam là bài nào ko, theo như mình được biết thì đó là một bài thơ của nguyễn trãi viết tặng một cô bán chiếu. Ai biết bài thơ này nhớ báo gấp cho lovely nha
Cảm ơn mọi người nhiều
cho mình đa tạ trước


Để trả lời câu này thì trước hết chúng ta phải biết điều này : (xin bổ sung thêm bài post của  Minh Xuân)

Văn học Việt Nam là sự tích hợp từ hai dòng văn học truyền khẩu và văn học viết của những người dùng tiếng Việt. Trong suốt thời phong kiến, phần lớn các tác phẩm thành văn của văn học Việt Nam được viết bằng Chữ Hán do nhiều nguyên nhân: ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc, thiếu chữ viết bản địa, Chữ Nôm ra đời lại không được triều đình khuyến khích... Về sau, văn học Việt Nam được thống nhất viết bằng Chữ Quốc Ngữ.
Thơ thuộc văn học viết. Nền văn học viết bắt đầu từ đời nhà Lý.
Các tác phẩm trong "THIỀN UYỂN TẬP ANH " được xem những thành tựu ban đầu của văn học thời kỳ này và vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay.Tuy THIỀN UYỂN TẬP ANH  ra đời vào thời nhà Trần năm 1337 nhưng hầu hết các tác phẩm trong tuyển tập này đều được sáng tác vào thời nhà Lý.
Bài hát Việt nhân ca ra đời trên văn đàn Trung Hoa trong một bối cảnh hết sức đặc biệt. Thời Xuân Thu, Tử Tích (thế kỷ 6 trước Công nguyên) là vương tử nước Sở, em trai Sở Linh Vương, được phong chức lệnh quân vùng Ngạc Ấp nên được người dân gọi là Ngạc Quân Tử Tích.




Một ngày nọ, Ngạc Quân Tử Tích cùng đoàn tùy tùng đi du ngoạn Phán Hồ (nay là hồ Lượng Tử thuộc tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc) để thăm thú lãnh địa của mình. Vị vương gia đi trên một con thuyền lớn do một thiếu nữ Dương Việt (một nhóm trong Bách Việt) cầm chèo. Được diện kiến Ngạc Vương Tử Tích, cô thiếu nữ cảm thấy rất hãnh diện, vừa nhịp tay chèo vừa cất cao giọng hát trong cái lãng mạn của xuân cảnh hữu tình và âm thanh rộn ràng của tiếng trống:
Bài Việt nhân ca ghi bằng âm Việt cổ và chữ viết nước Sở cổ:








Dịch thơ (dựa theo lời dịch của tác giả Lâm Hà, dân tộc Đồng):

Hôm nay là ngày gì ấy nhỉ?
Thuyền xuân đón khách, khách là ai?
Thì ra thuyền khách là người vương tử!
Triệu kiến người trên chiếc thuyền xuân
Việt nữ tôi - lòng cảm tạ vô ngần
Hôm nay là ngày gì ấy nhỉ?
Vương tử cùng lướt sóng ngao du
Tâm can tôi nghe hớn hở vô cùng.
 

Ngạc Quân Tử Tích nghe giai điệu thánh thót rất hay nhưng không hiểu Việt ngữ nên yêu cầu người thông ngôn (cũng là người nước Việt) dịch cho nghe. Nghe xong, Ngạc Quân Tử Tích lấy làm thích thú, cho triệu kiến cô gái chèo thuyền. Gặp mặt cô gái, Tử Tích không chút do dự “xắn ống tay áo, ôm chầm lấy cô gái Việt”, còn “lấy một chiếc đai gấm quấn quanh eo cô gái” nhằm bày tỏ lòng biết ơn.
Ngạc Quân Tử Tích liền hạ lệnh cho tùy tùng ghi lại bài hát và lưu truyền trong dân gian. Bài Việt nhân ca ra đời từ đó. Cố sự này được Lưu Hướng (79-8 trước CN) ghi lại tỉ mỉ trong cuốn Thuyết Uyển (bài Việt nhân ca) vào thời Tây Hán. Người đời sau dịch lại bài hát này bằng tiếng Hán (có thêm bớt), song cốt cách, tình cảm và cái hồn của bài hát bản tiếng Hán đã vơi đi ít nhiều.
Việt nhân ca là một bài tình ca độc đáo của dân gian Dương Việt, đặc biệt là đối với người dân Bách Việt di chuyển bằng thuyền độc mộc khắp vùng phía nam Dương Tử đầy sông nước. Nó độc đáo vì chỉ là lời tâm sự của một cô gái Dương Việt tuổi xuân thì song lại chứa đựng nhiều đặc trưng văn hóa Bách Việt phương Nam: quen với sông nước và thạo chèo thuyền; thích lãng mạn, phóng khoáng nhưng cũng rất tinh tế; không ưa giáo điều hay các qui tắc phân biệt tầng lớp xã hội.
Cho đến hôm nay, nhiều dị bản của bài Việt nhân ca vẫn còn lưu truyền trong dân gian một số dân tộc Nam Trung Hoa như Choang, Đồng..., nơi dòng chảy của văn hóa Bách Việt cổ còn tồn tại và lưu truyền.

Còn đây là lời ca khúc Việt Nhân Ca :

Chiều hôm nay là chiều gì vậy!
Em chèo thuyền nhỏ bơi giữa dòng
Ngày hôm nay là ngày gì vậy!
Em được cùng thuyền với vương tử chàng!
Vương tử thích em chăng?
Em không nghĩ gì khác.
Em ngây ngô khờ dại
Chẳng ngờ lại gặp được chàng!
Trên núi có cây, trên cây có cành!
Mà lòng em mến chàng, chàng lại chẳng hay.

Còn được dịch sang tiếng Anh:

What blessed night is this?
Drifting down the river Qian
What auspicious day is this?
Dreaming beside my Prince
Too bashful to stare
A secret i cannot share
My heart fills with longing
To know you, dear Prince
Trees live on mountains and brances live on trees
My heart lives for your heart
But you do not see me
you do not see me

cuối cùng Leo xin mời nghe ca khúc Việt Nhân Ca :

[themNhac]http://www.fileden.com/files/2009/10/9/2596948/Viet-Nhan-Ca-Phuc-Thu.mp3[/themNhac]

Merry christmas and happy new year !

Leo. (tổng hợp các bài viết)
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0