Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Sử Trung Quốc

46 trả lời, 10.895 lượt xem — Trang 2 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-16 18:48:54ct.ly>
3. Cao trào cách mạng ( 1917 – 1927 )


Giai đoạn, trên là giai đoạn bình cũ rượu mới. Qua giai đoạn này họ phá luôn cái bình cũ, thay vào cái bình mới, và cuộc cách mạng văn hóa thực sự bắt đầu.
Trước hết phải kể vai trò của Đại Học Bắc Kinh ( cái lò của cách mạng văn hóa) mà người điều khiển là Thái Nguyên Bồi, được coi là cha của phong trào Văn Nghệ phục hưng Trung Hoa.
Thái sinh ở Giang Nam ( 1867 – 1940) nổi tiếng là thần đồng , đậu tiến sỉ, mới 25 tuổi đã được bổ vào viện Hàn Lâm, nghĩa là được Thanh đình trọng dụng lắm, nhưng khi sau cuộc Biến Pháp 100 ngày thất bại, ông xin từ chức, để làm cách mạng, gia nhập Đồng Minh Hội trước 1905, qua Đức học 4 năm về triết học, về làm bộ trưởng Giáo dục trong chính phủ Tôn Văn năm 1912; khi Viên Thế Khải lên làm Lâm thời Tổng Thống thay Tôn Văn, ông rất sáng suốt biết Viên sẽ phản cách mạng, nên từ chức ngay, không hợp tác với Viên , rồi lại qua Đức và Pháp học nữa. Ít năm sau, chính quyền Bắc Kinh bổ ông làm tỉnh trưởng Chiết Giang ( quê hương ông ) . Ông từ Pháp đánh điện về từ chối.
Nhưng năm 1916, khi được mời làm viện trưởng viện Đại Học Bắc Kinh thì ông nhận liền. Ngay từ năm 1912, ông đã hô hào phải tôn trọng tự do tư tưởng, vì “ Giáo Dục “ phải ở trên chính trị ….không bị chính trị kiểm soát “ . Ông đã đem tư tưởng Âu Châu về truyền bá ở Trung Hoa.
Trước hết ông nhận chức Viện Trưởng , đại học Bắc Kinh rất hủ lậu. Sinh viên hầu hết là con các quan lớn, coi đại học chỉ là một bàn đạp để tiến lên quan trường. Vô đại học rồi thì được gọi là “đại nhân “ liền, vì dù dốt nát , lười biếng thì cũng ra trường và làm quan. Tư cách bọn “đại nhân “đó rất kém, cho nên đại học bị dân chúng coi là “ sòng bạc “ “ổ điếm “ , chưa bao giờ giới quan liêu sa đọa như thời ấy.
Thái Nguyên Bồi trừ ngay cái tệ đó, tuyển chọn giáo sư theo tài năng , chẳng kể là theo xu hướng nào, cho sinh viên được tự do tư tưởng , không buộc phải theo một đường lốI nào. Đúng là tinh thần trong các đại học Âu Mỹ. Nhờ vậy mà sinh viên đạI học Bắc Kinh đóng được vai trò cách mạng, bãi khóa, phản đốI chính quyền về vụ chịu chấp nhận 21 khoản của Nhật ( Vận động Ngũ Tử - năm 1919)
Trong số giáo sư Thái Nguyên Bồi tuyển, có hai người:Trần Độc Tú và Hồ Thích khởi động phong trào cách mạng văn học. Trần Độc Tú ( 1879 – 1942) lớn tuổi hơn, có cổ học ( thi đậu cử nhân ?) rồi qua Pháp học 4 năm (1907 – 1910) về nước dự cuộc cách mạng tân HợI, chống Viên Thế Khải. Năm 1915 ông sáng lập tờ tân Thanh Niên, đả đảo Khổng học thủ cựu, hô nào thanh niên phảI có tinh thần độc lập, phản kháng, tiên thủ, khoa học …
Hồ Thích ( 1891 – 1962) sinh ở An Huy theo đạo Tin Lành , biết về cổ học, nhưng không thi cử, năm 1910 qua Mỹ học ở đạI học Colombia tớI 1917, rất phục triết gia John Dewey, thầy của ông.
Namm 1917, từ Mỹ, Hồ gửi về Trung Hoa bài Văn học cải lương xô nghị ( bàn về cải lương văn học) để đăng lên tờ Tân Thanh Niên của Trần Độc Tú. Bài đó làm chấn động văn dàn, không kém tiếng súng nổ ở Vũ Xưong ngày 10 – 10 – 1911. Trong bài đó ông chủ trương:
- Văn học phảI tùy thòi thay đổI
- - Văn bạch thoạI là văn chính tông của Trung Quốc và lợi khí của văn học tương lai.
Vậy là ông muốn bỏ cổ văn đã dùng trong mấy ngàn năm, lưu lại biết bao thơ văn bất hủ, mà dùng bạch thoại, tiếng nói hằng ngày của dân chúng, vì cổ văn phải họcmới hiểu được, còn bạch thoại , hễ đọc được thì ai cũng hiểu được, mà nếu không đọc được , người khác đọc lên, người dân nào nghe cũng hiểu được.
Cổ văn ở Trung Hoa thời đó so với bạch thoại cũng như tiếng La tinh ở Ý, tiếng cổ Hy Lạp ở Hy Lạp so với tiếng Ý, tiếng Hi Lạp ở thời chúng ta. Người Ý đã bỏ tiếng La Tinh, người Hy Lạp đã bỏ tiếng cổ của họ từ sáu, bảy thế kỷ trước, người Trung Hoa bây giờ vẫn chưa bỏ cổ văn. Không bỏ nó , không dùng bạch thoại thì không thể truyền bá kiến thức trong dân chúng mau được.
Sau đó ông viết hai bài nữa, chủ trương:
- Có điều gì đáng noí thì mới nói, đừng “ Vô bệnh thân ngâm “ ( Không đau mà rên ) nghĩa là văn thơ phải mạnh mẽ, đừng lãng mạn.
- Có điều gì thì nói điều ấy, muốn nói điều gì thì noí thẳng ra, tránh dùng điển , những tiếng sáo; cứ dùng những tiếng thông tục.
- Dùng lời của ta , đừng dùng lời của người, nghĩa là đừng dùng mô phỏng , nô lệ cổ nhân, người ở thời đại nào thì dùng tiếng của thời ấy.
Hồ Thích đề xướng. Trần Độc Tú hưởng ứng. Trong một bài nghị luận về văn học cách mạng, ông hô hào :
- Đả đảo lối văn điêu luyện, a dua của bọn quý tộc, kiến thiết lối văn bình dị, tả tình của quần chúng ;
- Đả đảo lối văn cổ điển, hủ bại, khoa trương ; kiến thiết lối văn tả chân, mới mẻ , thành thực.
- Đả đảo lối văn tối tăm, khó hiểu ; kiến thiết lối văn rõ ràng thông tục.
Nhiểu giáo sư ở trường đại học Bắc Kinh như tiền Huyền Đồng, Chu Thụ Nhân ( tức Lỗ Tấn ) …tán thành , phát biểu ý kiến trong tờ Tân Thanh Niên. Tờ này và trường đại học Bắc Kinh biến thành đại bản dinh của nhóm Hồ, Trần .
Dĩ nhiên, phe cổ học nhao nhao lên phản đối, mạt sát. Có người trách Thái Nguyên Bồi, bảo muốn theo chủ trương của Hồ, Trần thì cứ mời bọn phu xe , bọn bán tương ở Bắc kinh làm giáo sư đại học, cần gì phải giao con em cho Thái nữa. Thái đáp :
-« Bắc Kinh Đại Học không bỏ cố văn mà chuyên dạy bạch thoại ; vả lại bạch thoại cũng diễn được ý nghĩa sách cổ, mà những giáo sư đề xướng bạch thoại đâu có dùng ngôn ngữ của bọn kéo xe, bán tương. Còn về nhiệm vụ của ông làm viện trưởng thì ông phải theo thông lệ trên khắp thế giới là tôn trọng t ựdo tư tưởng, dù không đồng quan niệm với các giào sư, cũng phải để họ phát biểu ý kiến, nhất là hoạt động của họ ở ngoài phạm vi nhà trường, ông lại càng không có quyền can thiệp&gt;&gt;.
Tiếp đó xảy ra cuộc Ngũ Tứ vận động và chính cuộc biến động này đã làm cho phong trào dùng bạch thoại lên như diều. Bọn thanh niên thấy rằng muốn cải tạo quốc gia thì phải quét sạch những tư tưởng cổ hủ, muốn cảnh tỉnh đồng bào thì phải dùng bạch thoại, ngôn ngữ của đồng bào, do đó, cuộc vận động chính trị biến thành cuộc vận động văn hóa. Vô số tờ báo đề xướng tản văn hóa mọc lên ở khắp nơi, tờ nào cũng dùng bạch thoại dễ viết hơn văn ngôn ( tức cổ văn) mà bình dân hiểu được. Thành thử cuộc cách mạng chính trị mau bành trướng.
Chỉ trong ba năm ( 1919-1922) văn bạch thoại được toàn dân chấp nhận, ngay bộ Giáo Dục cũng cho dạy văn bạch thoại ở khắp nước từ 1920.
Thế là cuộc cách mạng Hồ, Trần hoàn toàn thành công. Bốn trăm triệu người khỏi phải học một từ ngữ mà được học một sinh ngữ, đỡ tốn biết bao công phu.
Từ 1921 đến 1925, có cả trăm hội văn học thành lập. Không khí thật tưng bừng. Đúng là một cuộc cách mạng. Ngọn cờ chuyển qua tay các nhà tân học ở Nhật, hoặc Âu, Mỹ về. Cái bình cũ ( văn ngôn) đã được thay bằng cái bình mới ( bạch thoại). Mà rượu cũng mới hơn, nồng hơn. Người ta cổ xúy một thứ văn học mới để truyền bá , thực hiện chủ trương dân chủ mới . Các văn nhân hăng hái áp dụng kỹ thuật phương Tây trong việc sáng tác và chỉ mới thành công về truyện ngắn. Họ mạt sát Khổng học, đả đảo đại gia đình, đề cao cá nhân, nhất là giải phóng phụ nữ, mạnh hơn các nhà văn nước ta từ 1925 đến 1938. Phụ nữ phải bỏ tục lệ bó chân đi, bỏ công việc bếp nước, may vá đi mà lo việc quốc gia, xã hội như đàn ông, nhất là phải đòi cho được quyền tự do kết hôn.
Nổi tiếng nhất, có một bút pháp sắc sảo, mạnh mẽ, cay độc nhất là Lỗ Tấn, sanh năm 1881 ở Chiết Giang, có thời gian qua Nhật học, tác giả những truyện Cuồng nhân nhật ký, Khổng Ất Ký, Chúc Phúc, AQ chính truyện …. Trong truyện cuối đã được dịch ra nhiều tiếng, ông châm biếm xã hội nông thôn Trung Hoa ở cuối đời Thanh và đầu thời cách mạng Tân Hợi.
Thứ rượu đó đã nồng lắm rồi, như khi sau đảng Cộng Sản Trung Hoa thành lập ở Thượng Hải ( 30-6- 1921), một số người cho nó còn là nhạt nhẻo, muốn thay luôn nó nữa. Trần Độc Tú là một trong số người thành lập đảng, có tư tưởng cấp tiến, chê Hồ Thích ôn hòa quá,( lúc này Hồ đã ở Mỹ về, làm giáo sư đại học Bắc Kinh), còn giữ tác phong tư bản, nên xa dần Hồ.
Kiện tướng trong nhóm là Quách Mạt Nhược, sinh năm 1892 ở Tứ Xuyên, trong một gia đình địa chủ lớn. Viết rất nhiều, rất mau về đủ loại, văn không chuốt bằng Lỗ Tấn, nhưng rất truyền cảm, hùng hồn, cuồng nhiệt. Ông lớn tiếng hô hào :
- &lt;&lt; Chúng tôi phản đối bọn quỷ tư bản ! Chúng tôi phản đối lối văn nô lệ. Vận động văn học của chúng tôi là phát biểu tinh thần của giai cấp vô sản, tức là nhân loại thuần túy&gt;&gt;.
Tư tưởng dó bắt nguồn ở Nga. Theo ông, lời phải bình dị, ai cũng hiểu được , lý luận phải đúng với biện chứng pháp, còn mục đích là lật đổ chế độ tư bản.
Vậy là về chính trị, vào khoảng 1927. Trung Quốc có hai đảng : Quốc dân và Cộng sản ( coi chương sau).
Thì về văn hóa cũng có hai phe : Hữu và tả.
Chỉ trong khoảng 15 năm ( từ 1912) họ đã tiến từ phong kiến lên dân chủ, rồi cộng sản.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-20 05:55:37ct.ly>
Chương II

Trung Hoa Dân Quốc


A - THỐNG NHẤT TRỞ LẠI ( 1926 - 1928 )

1- Tưởng Giới Thạch

Ông sinh năm 1887, ở Chiết Giang gần một cảng khá tấp nập, trong một gia đình tiểu tư sản như Tôn Văn, có sách nói là gốc trung nông, có tác giả Tsui Chi lại bảo là gốc trung thương. Thuyết sau có phần đúng hơn.
Ông mồ côi cha hồi 9 tuổi, được mẹ ( bán đồ thêu) tận tình chăm sóc, dạy học ông nữa, vì cụ biết chữ, trái hẳn với đa số phụ nữ Trung Hoa thời đó. Lớn lên , ông nhớ công của mẹ và rất có hiếu với mẹ.
Chín tuổi ông bắt đầu học tứ thư, ngũ kinh, mười tám tuổi lên Bắc Kinh học một trường võ bị kiểu mới do Viên Thế Khải thành lập, được thấy tham vọng của Viên và sự thối nát của triều đình Thanh.
Từ 1907 bđến 1910, ông qua Nhật học một trường lực quân. Khi cách mạnh Tân Hợi ( 1911) phát sinh, ông trở về nước, gia nhập đoàn quân cách mạng, hoạt động ở quê ông, thắng vài trận nhỏ ở gần Thượng Hải, sau thua quân của Viên Thế Khải.
Rồi không hiểu tại sao, ông bỏ nghề võ, giúp việc cho bọn đổi bạc ở Thượng Hải, giao thiệp với giới làm áp phe, mãi biện ( compradore), giới trung gian , học cách « vận dụng « đồng tiền, hối lộ ( R.Lévy Aspéets de la Chine III PUF 1962).
Vào khoảng 1920- 1921 Tôn Văn đã lập một chính phủ ở Quảng Châu rồi kêu ông tới , thấy vẻ mặt, cử chỉ và kiến thức của ông về võ bị, cho ông chỉ huy đoàn vệ binh, rồi làm thư ký riêng , có khi đại diện cho Tôn Văn trong vài cuộc lễ nữa. Mang ơn tri ngộ đó, Tưởng rất ngưỡng mộ Tôn, coi như thầy, như cha. Năm 1922, khi tướng Trần Quýnh Minh Minh phản Tôn, tấn công đốt nhà riêng của Tôn ở Quảng Châu, tính giết Tôn, thì nhờ đoàn vệ binh do Tưởng chỉ huy bảo vệ cho, Tôn btrốn thoát được qua Hưong Cảng rồi lên Thượng Hải. Chính ở đây Tôn tiếp xúc với Joffe do Nga Sô phái qua, như trên chúng ta đã biết.
Nga sẳn sàng giúp Tôn đào tào tướng tá, và Tôn khuyến khích Tường qua Nga học thêm về võ bị. Tưởng qua Nga năm 1928, học 6-7 tháng, về mở trướng võ bị Hoàng Phố. Mỗi khóa học từ 5 tớI 8 tháng. Đầu năm 1925, trường đã đào tạo được non 700 người, trong số đó có 7 người Triều Tiên, 3 người Việt. Họ giúp Tưởng chỉ huy một đạo quân, khoảng 40. 000 người.
Trái hẳn với Tôn, Tưởng rất ít khi ra khỏi nước , chỉ qua Nhật vài lần và qua Nga lần đó thôi.
Ông học ít, không phải là lý thuyết gia như Tôn, mà là một quân nhân, một chính trị gia có tài. Ông cương quyết, mưu mô định làm việc gì thì là cho kỳ được, không chịu thỏa hiệp , có uy, hình như có tài lôi cuốn quần chúng , nếu không vậy thì cũng có tài chỉ huy . Tôn Văn có lần nghe tin đồn bậy rằng Tưởng tử trận. Tôn than thở: “mất mười vạn quân, tôi cũng không tiếc bằng mất con người ấy”.
Ngay kẻ thù của Tưởng, một tướng Nhật, cũng khen : “ Tưởng GiớI Thạch hơn hai nhà độc tài châu Âu ( tức là Hitler và Mussolini) nhiều rất nhiều. Mặc dầu ông ấy chống lạI Nhật, muốn giảI thoát Mãn Châu; để ngăn cản sự bành trướng của Nhật, nhưng chúng ta không thể không nhận rằng ông ấy tài giỏI “.
Lời đó tuy khen mà cũng hàm ý chê Tưởng độc tài. Càng về sau, trong chiến tranh Trung, Nhật, khi chính phủ Quốc Dân dảng dời lên Trùng Khánh , chúng ta càng thấy Tưởng rất độc tài mà rất nóng tính và không chịu nghe lời ai, việc gì cũng quyết định lấy, mà nhiều khi kẻ dưới quyền biết là sai, cũng không dám can, vì ông tàn nhẫn, gần như hiếu sát nữa.
Một sử gia Pháp bảo thế kỷ XX là thời của chính sách độc tài, mặc dầu chế độ dân chủ được đề cao. Lénine, Staline, Hitler, Missolini, Franco , Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông…nếu kể thêm bọn quân nhân cầm quyền ở các nước kém phát triển tạI Á, Phi Nam Mỹ, thì không biết mấy chục ngườI nữa. Nhận xét của sử gia đó sâu sắc.

2- Tưởng làm Tổng tư lệnh đem quân Bắc phạt

Đầu năm 1926, thực hành di chúc của Tôn Văn, các đồng chí mở Quốc dân đại hội ở Quảng Châu, bầu 16 ủy viên, Uông Triệu Minh tức Uông Tính Vệ làm chũ tịch, Hồ Hán Dân làm bộ trưởng Ngoại Giao.
Đảng chia làm hai phe: phe hữu của Hồ Hán dân đông hơn, hợp tác với những ngườI theo cộng sản( số này rất ít, được Tôn Văn cho gia nhập Quốc dân Đảng vơí tư cách cá nhân), nhưng không ưa họ; phe tả của Uông Tính Vệ trái lạI có cảm tình vớI cộng sản. MớI đầu ngườI ta theo đường lối của Tôn Văn cho nên tuy trong đảng có hai khuynh hướng mà vẫn là đoàn kết.
Quốc dân chính phủ thành lập rồI, việc đầu tiên là thống nhất quân sự: bỏ tên “địa phương đi” mà gọi là “Quân Quốc dân cách mạng”
Ngay cuối năm 1925, hai đốc quân tỉnh Quảng Tây là Lý Tôn Nhân và Bạch Sùng Hi đã theo cách mạng. Họ có tài và đức, biết thương dân, cần kiệm, nên Quảng Tây là một trong mấy tỉnh nghèo nhất- Quế Lâm chỉ có toàn núi đá lởm chởm như vịnh Hạ Long trên cạn mà lại yên ổn nhất, không bị cướp phá, dân vui vẻ làm ăn, Bạch Sùng Hi cầm quân giỏi, Lý Tôn Nhân cai trị giỏi, rất được dân chúng kính mến (1) Họ đứng về phe cách mạng, làm cho uy thế phe này tăng lên; và đầu 1926, có thể nói rằng miền Nam Trung Hoa không còn nạn quân phiệt nữa.
Tháng 6 năm 1926. Tưởng Giới Thạch được ủy viên hội đề cử làm Tổng tư lệnh Quốc dân cách mạng quân. Tựu chức rồi, Tưởng liền ban lệnh động viên và từ Quảng Châu đem quân dẹp các quân phiệt miền Bắc, trong sử gọi là cuộc Bắc phạt.
Từ đây ngôi sao của Tưởng mỗi ngày mỗi rực rỡ, và lần đầu ông nắm được vận mạng Trung Hoa trên hai chục năm. Trong hai năm đầu ( 1926- 1928) ông vừa diệt quân phiệt ở Bắc, vừa triệt Cộng sản; từ năm 1928 đến 1936 ông vừa tiếp tục diệt Cộng sản vừa kiến thiết quốc gia. DướI đây tôi tách ba việc đó ra, diệt quân phiệt, triệt Cộng, kiến thiết và xét riêng từng việc một.

- Bắc phạt, thống nhất quốc gia
Công việc này dể dàng nhất. Tưởng tới đâu thắng đấy, có người ( Dubarbier) gọi là một cuộc “ dạo mát quân sự” ( Promenade militaire). Dễ dàng vì đạo quân của ông được huấn luyện theo Nga, có kỷ luật , có khí giới tốt của Nga giúp, mà các sĩ quan chỉ huy ở trường Hoàng Phố ra, hầu hết có nhiệt tâm, có khả năng , có tư cách, họ hứa với nông dân sẽ giảm thuế điền, số lúa góp cho chủ điền, có người còn hứa sẽ chia đất nữa. Tưởng ra lệnh cho quân đội : “Không được cướp bóc , ăn cắp, phải sống đạm bạc, phải trọng dân”. Mao Trạch Đông sau này cũng ban những lệnh như vậy. dân dã chịu bao nỗi khốn đốn với quân phiệt, vui vẻ ủng hộ Tưởng.
Cuộc Bắc phạt bắt đầu tháng 7 năm 1926. Chỉ trong vài tháng Tưởng chiếm được hai tỉnh Giang tây và Hà Nam; rồi ông đưa một đạo quân lên Hồ Bắc , tới Hán Khẩu, chiến đấu bốn ngày, bốn đêm với quân phiệt Ngô Bội Phu lúc đó làm chủ các tỉnh dọc bờ sông Dương Tử, Ngô đại bại. Thánh 4 năm 1927, quân cách mạng chiếm được hết các tỉnh quan trọng ở phía Nam sông Dương Tử.
Trong thời gian đó, hai phe Quốc dân đảng và Cộng sãn chia rẽ nhau. Việc này chúng ta sẽ xét về sau.
Tháng 10- 1926. Tưởng làm chủ Vũ Hán ( ba thị trấn giúp nhau, Hán Khẩu, Vũ Xương, Hán Dương) trung tâm kỹ nghệ lớn nhất của Trung Hoa, sau Thượng Hải.

. Ông tiếp tục tiến lên Thượng Hải , nơi có nhiều tô giới của ngoạ quốc, nhiều kỹ nghệ, nhiều ngân hàng và đại thương gia Trung Hoa, tháng 3 –1927, không phải phi quân vụ này rất quan trọng – ông vừa chiếm được Thượng Hải , vừa diệt hết Cộng sản ở đó, rồi chiếm luôn được Nam Kinh , theo ý nguyện của Tôn Văn lúc còn sống, vậy là Trung Hoa có hai kinh đô: Vũ Hán của Uông Tinh Vệ và Nam Kinh của Tưởng Giới Thạch. Chính phủ Vũ Hán bất bình muốn diệt mầm độc tài mới ló của Tưởng.
Nhưng rồi có sự lục đục chia rẽ trong chính phủ Vũ Hán vì cộng sản hoạt động mạnh quá, thợ thuyền đình công liên miên , có người ngờ Nga nhúng tay vào muốn lật Quốc Dân đảng , chính phủ phải tuyệt giao với Nga, bắt bớ nhiều người cộng sản. Để cho chính phủ dể hành động , Tưởng xin từ chức Tổng tư lệnh , tháng 8- 1927 qua Nhật, và một tháng sau một chính phủ quốc gia thống nhất thành lập ở Nam Kinh
Cuối năm đó, Tưởng trở về Thượng Hải, cướI Tống Mỹ Linh, em ruột bà Tống Khánh Linh ( quả phụ Tôn Văn ) . Ông đã có vợ, có con rồi ( một người con, Tưởng Kinh Quốc, sau này nốI nghiệp ông ở Đài Loan), hồI đó 40 tuổI mà Mỹ Linh mớI 25 tuổi. Bà vợ sau theo đạo Tin Lành, đã học tớI bậc đạI học ở Mỹ, sẽ giúp ông được nhiều trong sự hiểu biết và giao thiệp vớI Tây Phưong, nhất là vớI Mỹ.
Họ sống ở Thượng HảI và chính phủ Nam Kinh lạI phảI cớI Tưởng ra để hoàn tất việc Bắc phạt. Ông cầm quân trở lạI cùng vớI Phùng Ngọc Tường. Diêm Tích Sơn. Lý Tôn Nhân, chia đường tấn công . Đầu năm 1928, kể như bình định xong, chỉ trừ khu Bắc Kinh.
Bắc Kinh sở dĩ còn chống được , một phần là nhờ âm mưu của Nhật Bản, họ sợ thiệt hại cho quyền lợI của họ ở Sơn Đông và Mãn Châu. Đầu tháng 5- 1928 ba đạo quân của Quốc dân đảng tiến từ phía Nam và phía tây. Đồng thờI Nhật cho đổ bộ nhiều quân lính lên Thanh Đảo, theo đường xe lửa tiến sâu vào nộI địa. Quân Nhật và quân Trung Hoa đụng nhau. Quân Trung Hoa phảI lùi.Tiếp sau đó, Trương Tác lâm, quân phiệt Mãn Châu, giữ chặt Bắc Kinh để hy vọng thỏa hiệp vớI Quốc Dân đảng vẫn thân vớI Nhật, bỗng bỏ Nhật, kéo quân về Mãn Châu để Trương cho Tưởng vào Bắc Kinh. Khi chuyến xe lửa riêng của Trương vừa vượt biên giớI thì bị một quả mìn- của Nhật, chắc vậy- nổ tung, ông ta bỏ mạng. Con ông là Trương Học Lương , mặc dầu bị Nhật cảnh cáo nhiều lần, đã liên kết vớI chính phủ Nam Kinh. vậy là quân độI của Tưởng ung dung tiến vào Bắc Kinh , mà ở Mãn Châu , dướI quyền của Trương Học Lương, ngọn cờ thanh thiên bạch nhật của Quốc dân đảng bay phất phới. Trung Hoa được thống nhất một lần nữa. Ngày 9- 10- 1928 Tưởng được cử lên ghế Tổng Thống. Danh vọng của ông lên đến tột bực. Trên hoạn lộ ông tiến mau thật . Ông đổI tên Bắc Kinh ra Bắc Bình ( dẹp xong miền Bắc)




(1) Coi Nam du tạp ức của Hồ Thích
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-09-30 16:24:31ct.ly>
B- CHỐNG CỘNG ( 1926 – 1927 )


Giai đoạn đầu ( 1926- 1927) trục xuất Cộng ra khỏi Quốc dân đảng.

Những người theo Cộng sản khi xâm nhập được vào Quốc dân đảng rồi thì lôi kéo được mau những cán bộ hoạt động nhất của đảng và lần lần gây được ảnh hưởng lớn . Ho lại khéo vận động quần chúng nên thành thử mới đầu họ chỉ là một nhóm trí thức có lý tưởng, sau thành những cán bộ cách mạng thực sự, khai thác triệt để những cuộc vận động chống đế quốc và tư bản .
Cuộc vận động ngũ táp ( 30-5-1925) ở Bắc Kinh , Thượng Hải, rồI cuộc bải ngoại, ngày 23 tháng 6 cũng năm đó ở Quãng Châu, tạo điều kiện thuận lợi cho đảng Cộng Sản phát triển, năm 1921 chỉ có 12 ủy viên đạI diện cho 50 đảng viên, ba năm sau ( 1924) số đảng viên lên tớI 300 , ba năm sau nữa lên tới gần 58.000. Tư bản ngoại quốc đã thành thứ phân bón cho cây Cộng sản Trung Hoa mau lớn .
Phong trào nghiệp đoàn cũng tiến rất mau, nhờ sự tuyên truyền của mấy vạn thợ thuyền ở Pháp về khi chiến tranh chấm dứt: Năm 1922 có 230.000 thợ vô nghiệp đoàn, năm 1925 số đó đạt tới 570.000, và năm sau ( 1927 ) tăng vọt lên 3.000.000 ( dân số Trung Hoa thời đó vào khoảng 400 tới 500 triệu )
Ảnh hưởng của Đảng trong giới nông dân không đáng kể.
Đảng phát triển mau như vậy làm cho phe hữu của Quốc Dân đảng lo ngại, mới đầu là Hồ Hán Dân, sau tới Tưởng Giới Thạch. Nhưng cho tới đầu năm 1926 vẫn chưa có xích mích gì cả. Khi giữa Uông Tinh Vệ, chủ tịch chính phủ Quốc dân và Tưởng Giới Thạch , Tổng Tư Lệnh quân độI có sự tranh quyền vớI nhau thì nguy cơ tan rã xuất hiện. Tưởng đại khái như Tnăg Quốc Phiên, trọng cổ học, trọng truyền thống , lại thêm ông thuộc giới thương nhân, chúng ta nhớ có hồi ở Thượng Hải ông làm áp- phe, nên không ưa Cộng sản, nhất là sau ông cưới Tống Mỹ Linh mà gia đình thuộc đại tư bản Trung Hoa. Uông trái lại có óc mới hơn, nhưng không có đường lối rõ rệt, chỉ tham quyền hành , mà lại không có tài chính trị , đúng về phe thiên cộng , vì thấy cán bộ Cộng sản đắc lực, nhưng ông thiếu tài không điều kiển được họ mà bị họ gần như uy hiếp. Vậy sự xích mích giữa Tưởng và Uông thực sự là sự chia rẽ giữa Tưởng và Cộng Sản.
Khi Tưởng đạt được nhiều thắng lợi liên tiếp , chiếm được Nam Xương ( Giang tây) và Vũ Hán rồi, cuộc Bắc phạt, chắc chắn thành công thì hai phe Quốc, Cộng đều nghĩ tới việc diệt lẫn nhau để sau này , khi thống nhất xong sẽ làm chủ Trung Quốc.
Tháng 12-1926, chính phủ Quốc dân với viên cố vấn Nga Borodine, đời Quảng Châu lên Hán Khẩu. Phe tả hấp tấp quá, mới tới , đã để cho dân chúng chiếm các tô giới Anh, cho Cộng sản tổ chức các cuộc đình công, diệt địa chủ, làm mất lòng dân chúng ( Uông Tinh Vệ lúc đó ở Pháp), rồi lại muốn lột quyền Tổng Tư lệnh của Tưởng nữa. Họ đưa hai đảng viên Cộng sản lên làm bộ trưởng.
Tưởng phải ra tay liền. Đạo quân của ông đã tới gần sát Thượng HảI rồi mà đánh vội, chờ xem thái độ của giới đại tư bản Thượng Hải ra sao. Bọn này bàn tình với nhau :
-“ Nếu để quân của Tường vô thì chúng sẽ cướp bóc mà sẽ mất hết. Khéo thương thuyết, đút lót cho Tưởng , thì may ra còn cứu vãn được phần nào. Tưởng cần tiền để trả lương cho quân lính , vả lại ông là ngườI của giới tư bản Trung Hoa và ngoại quốc, nên cũng muốn chiếm Thượng Hải một cách êm thấm .”
Viên công sứ Pháp làm trung gian, đứng ra điều đình. Ông ta một mặt tiếp xúc với Tưởng, một mặt tiếp xúc vớI Tu Yuch Sheng (?) (1) một tướng cướp sống về nghề buôn lậu thuốc phiện, khí giới, ngoại tệ, nhà là một cái lô cốt ( blockhaus) và đi dâu thì dùng một chiếc xe thiết giáp. Hắn nuôi một bày đàn em , và được tự do qua lại các tô giới Pháp và quốc tế , nơi mà người Trung Hoa mang khí giớI không được vô. Được vậy thì hắn sẽ diệt hết những người Cộng sản ở Thượng Hải, diệt tại cơ quan, ở tổ hoặc ở nhà họ .
Như vậy là các công sứ ngoại quốc giúp Tưởng diệt được Cộng, ngược lại. Tưởng phải hứa tôn trọng các quyền lợi của họ.
Ngày 21- 3- 1927, cộng sản ở Thượng HảI ra lệnh tổng đình công, chiếm các sở cảnh sát và xưởng đóng tàu. Năm ngàn thợ mang khí giới đi biểu tình tuyên bố thành lập chính phủ “ công dân “ . Tưởng đã phát cho họ những lá cờ bằng lụa thêu mấy chữ :
- “ Cùng nhau chiến đấu “
Và Tưởng ung dung tiến vô Thượng hải , được cả thợ thuyền , lẫn các hà đại tư bản hoan hô .
Nhưng ba tuần sau , ngày 12 – 4 , hằng ngàn Cộng sản bị giết, những kẻ khác bị tra tấn tàn nhẫn tớI chết. Tất cả những kẻ tình nghi là Cộng sản hoặc có cảm tình với cộng, đều bị thủ tiêu cách này hay cách khác. Bấy giờ ngườI ta mới thấy thủ đoạn vô song của Tưởng, hơn hẳn Hitler và Mussolini . Không một quân phiệt nào ở phương Bắc dám nghĩ tớI một hành động như vậy trong khu vực của mình (2) .
Hai ngày sau 14-4 . Tưởng lập một chính phủ khác ở Nam Kinh mà ông mới chiềm được sau khi chiếm Thượng Hải. Vậy là có hai chính phủ chống nhau. Vũ Hán và Nam Kinh. Vũ Hán ra lệnh trục xuất Tưởng ra khỏi Đảng.
Uông Tinh Vệ lúc đó đã ở Pháp về . Chính phủ Vũ Hán càng lục đục và có mòi sắp tan rã . Cũng do lỗi của những người Cộng sản nữa. Họ khuấy động nông dân mà không kiểm soát nổi., để đến nỗi giai cấp tiểu tư sản hoảng sợ, và các tướng phe hữu của Quốc dân đảng ở Tràng Sa phải phản động lại. Trước tình trạng đó, Moscou do dự, không biết nên thụt lùi hay tiến tới một cách quyết liệt.
Tời mức đó, thì Uống Tinh Vệ và phe tả của Quốc dân đảng ngày 15- 7 phải ban lệnh trục xuất Cộng sản
Ngày 1-8 , hai tướng cộng sản ở Nam Xương nổi dậy chống chính phủ Vũ Hán cũng bị dẹp nữa.
Thế là trong cả hai chính phủ Vũ Hán ( tức chính phủ Hán Khẩu) của Uông và chính phủ Nam Kinh của Tưởng dều không còn Cộng sản , thế nào cũng tìm cách hợp làm một . Sau cùng Uông và Tưởng làm lành với nhau để diệt nốt bọn quân Phiệt và thống nhất quốc gia . Uông lánh mặt qua Pháp để Tưởng tổ chức lại chính quyền ( 17-12-1927) , rồi đem quân lên chiếm nốt miền Bắc , như chúng ta đã biết.
Tới đây chấm dứt giai đoạn đầu của Đảng cộng sản , giai đoạn hợp tác với Quốc dân đảng. Họ đã theo chủ nghĩa Marx chính thống tạo được một cơ sở vô sản, rồi để nó mất, vì họ hấp tấp quá, chưa có thực lực , đã coi thường Tưởng Giới Thạch , quá tin ở lực lượng thợ thuyền .


*******
(1) Vụ đó được André Malraux tả trong cuốn La condition humaine , không sách trung Hoa nào nhắc tới, mà sách Pháp tôi cũng chỉ thấy có Bianco và Lévy là kể lại rành rạt . Hồi Tưởng làm áp- phe ở Thượng Hải đã được biết Tu Yuch Sheng

(2) Xem chú thích trang trước
Đăng nhập để trả lời
0
- Giai đoạn nhì ( 1927 – 37) : tấn công Cộng .

Cộng thua .

Trong 10 năm từ khi trục xuất cộng sản ra khỏi chính quyền , đặt họ ra ngoài vòng pháp luật, cho tới khi Quốc và Cộng liên hiệp với nhau để lập mặt trận thống Nhất chống Nhật ( 1937) , Tưởng Giới Thạch vừa cải tổ chính phủ , kiến thiết quốc gia, đối phó với ngoại quốc, vừa tận lực tấn công Cộng, nhưng không diệt được họ, chỉ xua họ ra khỏi Hoa Trung, Hoa Nam , bắt họ phải lùi lên miền Tây Bắc. Vậy là mới thống nhất xong thì nội chiến đã phát nữa.
Cộng tuy biết sức yếu, nhưng mấy năm đầu vẫn nỗi dậy, và lần nào cũng bị thiệt hại.
Tháng 9 – 1927 , họ sách động nông dân nổi lên cướp lúa sau vụ gặt lúa mùa thu , không thành công . Vụ này đưọc nhà văn phe tả , Mao Thuẫn tả trong tiểu thuyết Thu thu.
Ba tháng sau, cộng sản bị thiệt hại rất nặng ở Quảng Châu, sau khi bị trục xuất ở Nam Kinh, các cố vấn Nga, rút xuống Quảng Châu, tháng 12 – 1927, ra lệnh cho Trương Đại Lôi , chủ tịch ủy ban cách mạng, xúi giục thợ thuyền nổi lên bạo động, giết các tài chủ để chiếm đoạt tài sản .
Họ chiếm được trại lính , công sở, nhưng nhân dân Quảng Châu đa số là thương nhân , không hưởng ứng , thợ thuyền không chịu tổng đình công. Quân Quốc gia do Trương Phát Khuê , Lý tế Thâm chỉ huy, dẹp tan phiếm loạn. Trong vụ đó có đến 4.000 đảng viên bị giết , trong số có hơn 100 cố vấn Nga và viên cầm đầu tướng quân sự Cộng sản là Kirischeff.
Năm 1930, Lý Lập Tam lên thay Trần Độc Tú đã bị cách chức chủ tịch đảng từ trước rồi vì có khuynh hướng thiên hữu. Ông ở Pháp về , theo chỉ thị của Phòng thông tin đệ tam quốc tế , nhân một vụ xung đột giữa Tưởng Giới Thạch và Phùng Ngọc Tường , chiếm vài thị trấn để lập lại cơ sở thợ thuyền của đảng . Mới đầu , ông ta chiếm được Trường Sa nhờ Bành Đức Hoài, nhưng sau thua , không dám tiến lên Hán Khẩu, bị Moscou khiển trách, kéo về Nga. Quốc dân đảng nắm chắc được các thị trấn, lùng bắt tất cả những kẻ thân cộng, cộng không làm gì đươọc.
Tóm lại trong mấy năm đâu, Cộng thất bại liên tiếp, đưòng lối thường thay đổi, giới lãnh đạo cũng vậy, các cố vấn Nga phải về nước, một số ít ở lại Giang Tây, để lập một chính quyền sô viết tại đó.
Tuy vậy sự hoạt động của Cộng sản cũng thu được vài kết quả ở Phúc Kiến , Giang Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc. HỌ lập được tại đó những đạo hồng quân có khí giới dầy đủ, được huấn luyện kỷ, nhờ một tướng rất tài về du kích tướng Chu Đức.


Cộng thay đổi đường lối

- Rút kinh nghiệm mấy năm đó, họ xét lại đường lối của họ, thấy giới vô sản ( thợ thuyền ) ở các thị trấn còn yếu quá, mà chính họ lại không hoạt động ở thị trấn được, phải cách biệt với vô sản , vậy đành phải chú trọng tới nông dân và họ nhớ lại lời Lénine nói năm 1919 với một số dảng viên cộng sản Á Châu:
- “ Các Đống chí phải áp dụng lý thuyết và thực hành mà đừng quên rằng nông dân là giai cấp quan trọng nhất trong quần chúng “.
Lénine đã sửa đổi lý thuyết của Marx để cho hợp với các nước Á châu chưa được kỹ nghệ hoá, còn ở trong giai đoạn nông nghiệp.
Từ dó đảng Cộng sản Trung Hoa mới nghĩ tới việc gây một cuộc vận động dân tộc, dân chủ, điền địa, như Tôn Văn đã chú trương, cuộc vận động đó gọi là Tân Dân Chủ.
Nông dân được bọn trí thức huấn luyện , khi bạo động thì có thể dùng những kẻ cướp gốc nông dân như các triều đại cũ , vì bọn đó gan dạ ( nhưng nếu làm phản thì phải thủ tiêu liền ) , không dùng phương tiện tổng đình công nữa , mà dùng du kích chiến , đưa vấn đề cải cách điền địa lên hàng đầu. Đó là những nét chính của cuộc cách mạng Trung Hoa. Vậy, họ trở lại đường lối bạo động của các cuộc khởi nghĩa thời phong kiến , chỉ khác người lãnh đạo là giới trí thức, bọn cướp chỉ là tay sai, không tấn công ồ ạt để chiếm đất, mà dùng du kích để tỉa lần, sau cùng diệt quân đội của chính quyền, thành công rồi thì thực hành việc chia đất, như hồi xưa, những địa chủ chẳng những mất đất mà còn bị trừng trị, điễm này khác Nga.
Tóm lại, cách mạng của Trung Hoa là cách mạng điền địa cho nông dân trước hết, và do nông dân làm dưới sự lãnh đạo của đảng, chứ không phải do lực lượng thợ thuyền để diệt bọn tư bản các xí nghiệp , các công ty thương mãi, vì Trung Hoa còn ở giai đoạn tiểu tư bản chưa có lực lượng thợ thuyền.
Điều đó, Mao Trạc Đông hiểu rõ và sớm hơn ai hết, nếu không phải là có sáng kiến đưa ra . Ông không phải là lý thuyết gia, chỉ có lương tri của một nông dân, và lương tri đã thắng giáo điều


Mao Trạch Đông

Mao sinh năm 1893 ở Hồ Nam, trong một gia đình nông dân, nhưng không phải là nông dân, mà thuộc giai cấp trí thức tiểu tư sản. Cha làm ruộng, mới đầu nghèo, sau giàu làm thêm nghề buôn bán nữa. Học ở trường ông đồ trong làng, được cha mẹ cưới vợ cho rất sớm. Ông to lớn, lực lưỡng, như nông dân, hiểu những vấn đề của nông dân.
Năm 1908 ông vô học một trường huyện, được nghe nói về phong trào Duy tân, năm 1911 được thấy nhà Thanh sụp đổ và nghe nói về Tôn Văn. Trong mấy năm sauông vô trường sư phạm Hồ Nam ở Tràng Sa ( 1912- 18) , sau đó lên Bắc Kinh, làm một thư ký tầm thường trong thư viện Quốc Gia ( 1918- 19) , đọc sách của Khang Hữu Vi, Lưong Khải Siêu, các bản dịch của Rousseau, Montesquieu, tìm hiểu tư tưởng của Tôn Văn, sau cùng là thuyết Mác – Xít. Các bạn ông hồi đó đều nhận rằng thể chất ông lực lưỡng mà tinh thần ông cũng rất mạnh.
Nam 1919, ông từ chối một cơ hội qua Pháp, trở về Hồ Nam dạy học bỏ vợ trước, cưới bà vợ sau (1) con thầy học của ông, bắt đầu viết báo dự vào các cuộc hoạt động văn hóa. . Bồng bột ái quốc, dự cuộc vận động Ngũ Tứ ( 4-5-1919)
Năm 1921, ông vô đảng Cộng Sản và bắt đầu làm Cách mạng từ 1925, trong khi các đồng chí hướng về thợ thuyền ở các thị trấn thì ông hướng về nông dân, tổ chức nhiều cuộc hội họp nông dân, do đó mà ông viết được một tập mỏng nhan đề là : “ Báo cáo cuộc điều tra về phong trào nông dân ờ Hồ Nam ”. Ngày nay có người cho rằng chủ nghĩa “ Mao ” ( Maoisme ) phát sinh từ đó.
Khi Cộng sản bị khai trừ , ông quay về với nông dân , tổ chức họ, dạy họ về chính trị, vô bị, ở những khu rừng núi gần ranh giới chung của các tỉnh Giang tây, Hồ Nam, Phúc Kiến, họ thành những chiến sĩ rất có tinh thần và kỷ luật.
Năm 1931, những khu đó tập hợp lại, thành lập Chính phủ Cộng hòa Sô Viết đầu tiên của Trung Hoa ở thụy Kim ( tỉng Giang Tây ) gồm Mao Trạch Đông làm chủ tịch, Chư Đức, Chu Ân Lai, Bành Đức Hoài ....
Chính phủ đó kiểm soát được nhiui tỉnh ở rung và Đông Nam Trung Hoa, dân số được khoảng 20 triệu ( có sách nói 90 triệu) quân số năm đầu đưọc khoảng 6 vạn, ba năm sau tăng lên 30 vạn.
Từ đó Trung Hoa lại có hai chính phủ: Quốc và Cộng, Mao thành đối thủ của Tưởng.


Tưởng tấn công Mao ở Giang tây

Cộng cản mặc dầu bị đàn áp, tấn công dữ mà vẫn phát triển mạnh khiến Tưởng phải tìm cách trị cho được.
Từ 1930 đến 1934 , ông tấn công tất cả 5 lần. Lần đầu vào cuối 1930 với 100.000 binh, thua lần thứ nhì vào đầu 1931 với 200.000 binh do Hà Ứng Khâm chỉ huy, cũng thua.
lần thứ ba, đích thân Tưởng Giới Thạch chỉ huy 300.000 quân từ tháng 7 đến tháng 9 cũng năm 1931, cũng không có kết quả gì cả.
Vì Nhật c xâm chiếm Mãn Châu và Thượng Hải ( coi ở sau) Tưởng tạm để yên Cộng sản, giữa năm 1932 mới tấn công trở lại thắng được vài trận nhỏ ở Hố Bắc, nhưng kế đó lại đại bại ở Giang tây.
Sau cùng , lần thứ năm tháng 10-1933, Tưởng dùng 1.000.000 quân và 200 phi cơ, thay đổi chiến lược . Không tấn công ồ ạt nữa , mà dùng 500.000 quân bao vây, quân Cộng ở trong rừng núi thiếu gạo, nhất là thiếu muối, phải lộ diện để phá vòng vây và lúc đó bị 500.000 quân nữa chặn đánh họ không còn dùng được chiến thuật du kích mà họ rất thạo nữa. Tưởng đã dùng ngoại giao, thu xếp với Nhật, được Nhật để yên nên có thể đdem nữa số quân lực Quốc Gia, nhất định diệt cộng cho được. Vòng vây lần lần thu hẹp lại , Cộng thấy nguy, bỏ căn cứ Giang tây mà tiến về phía Tây, để lên miền Tây Bắc Trung hoa.
Họ Bắt đầu cuộc Trường hành , cũng gọi là Trường chinh, vì vừa chạy vừa phải chiến đấu, vô tiền trong lịch sử Trung hoa, có lẽ cả trong lịch sử nhân loại nữa, làm cho Tây Phương phải thần phục.
Rốt cuộc , Tưởng vẫn không diệt được Cộng, chỉ xua họ ra khỏi Hoa Trung và Hoa Nam thôi.

1-) Bà này bị Quốc dân đảng giết
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-23 04:24:08ct.ly>
3. Cuộc Trường thành ( 10-1934 đến 10-1935 )


Cuộc này đã được một ký giả Mỹ, Edgar Suow, chép trong một cuốn rất linh động đó là cuốn Red star over China ( Sao đỏ trên đất Trung Hoa) . Không phải chỉ có một đạo quân, mà có tới 4 đạo quân tiến trước sau nhau từ bốn nơi ( coi bản đồ dưới đây ).
Riêng đạo quân của Mao ở phía Nam Giang tây phải vượt mấy lần trùng vi, chạy về phía Bắc Quý Châu ? ggạp đạo quân của họ Lung ? rồi định lên thẳng Tứ Xuyên, nhưng bị chận đánh , phải xuống Vân Nam , vượt sông Dương Tử rồi tiến lên phương Bắc , tháng 5 – 1935 , đánh một trận lớn để qua sông Đại Độ nước cuộn cuộn, rất nguy hiểm . Họ thoát được nhưng bị hại rất nhiều rồi theo ranh giới Tứ Xuyên và tây tạng, gặp đạo quân của Chang Kuo Tao ở Mu Kung ( ?)
Đầu năm 1935 , khi mới tới Thuận Nghĩa , Mao đã bị Chang Kuo Tao chỉ trích vì Mao muốn tiến lên Thiểm tây. Tháng 7 năm đó lại có một vụ chia rẽ nữa. Chang ở lại Tứ Xuyên , Mao tiếp tục tiến lên Thiểm Tây.
Cuối năm 1935 Mao tới Thiểm tây. vậy là đi mất một năm, vượt được 10.000 ( có sách nói 12.000) cây số , trong những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Họ gồm 100.000 ( có sách nói 130.000). Cả v chiến sĩ lẫn dân chúng , phải rải rác ra , cách nhau, để khỏi bị phi cơ Tưởng bắn, thả bom, thành thử cả đoàn dài tới 100 cây số. Họ chỉ có một số ngựa , một số xe bò để chở một chút lương thực , đạn dược , nhất là để chở những người bệnh và đàn bà có mang. Chính vợ Mao sanh một đứa con trai phải nhờ một gia đình ở dọc đường nuôi và cha con,; mẹ con suốt đời không được gặp nhau, không biết đứa bé ấy còn sống hay hết ( 1).
Họ bện cỏ làm dép, có khi phải đi chân không, qua đèo, qua suối. Qua hai con sông Dương Tử và Đại Độ, thác chảy rất mạnh, họ phải kết bè, và chết rất nhiều .
Ở Tứ Xuyên, họ bị bọn quân phiệt còn lại tấn công để cướp khí giới . Dọc đường gặp nhiều rợ bán khai ( như rợ Lolo) rất ghét người Trung hoa, họ phải vừa chống cự , vừa chạy. Không ngày nào không vgiao chiến đấu quyết liệt. Nhưng nhiều chỗ họ gặp được những nông dân chất phác, ghét chế độ quân phiệt , giúp đở họ, tặng lương thực, quần áo, và họ nghỉ lại tuyên truyền. Mao tự hào rằng qua 11 tỉnh, đạo quân của ông đã thuyết phục được 200 triệu người theo chủ trương của cách mạng.
Đàn bà trong đoàn tỏ ra can đảm lạ thường, giỏi chịu khổ hơn đàn ông. Vợ Chư Đức đeo súng mà còn cõng một thưong binh nữa. Vợ mao bị hai chục mảnh đạn, ngoài đứa sanh ở dọc đường, bà còn để lại hai đứa nhỏ nữa cho nông dân nuôi, để được rảnh mà chiến đấu. Khi đi, 100.000 người mà khi tới Thiểm tây , chỉ còn 20.000 ( có sách nói 7.000 – 8.000 ) người . Có một số đào ngũ, nhưng cũng có một số nông dân ở dọc đường gia nhập đoàn. Trước sau họ phải vượt 18 ngọn núi , mà 5 ngọn tuyết phủ quanh năm ( nhiều người chết rét) 24 con sông lớn, một cánh đồng có 10 ngày không gặp một bóng người , qua 11 tỉnh và chiếm 62 thị trấn.
Chính trong Trường hành đó mà tài năng của Lâm Bưu, Bành Đức Hoài .... được tôi luyện , và sau thành những nhà lãnh đạo của Đảng.
Thiểm Tây có một miền đất hoàng thổ, nhiều đồi núi. Bọn Mao đục mỗi gia đình một cái hang ở lưng núi để ở, họ trồng trọt để sống, tuyên truyền chủ nghĩa, dạy dân chính trị và binh bị. Diên An thành căn cứ mới của họ, tạm thời rất yên ổn để họ lấy lại sức, tổ chức lại đảng, tăng cường lực lượng , khuyếch trương ảnh hưởng .
Năm 1936, trong ngày lễ Quốc Khánh song thập ( 10-10) Tưởng Giới Thạch tuyên bố : “Cộng sản đối với ta không còn là một đe dạo nữa...Dẹp họ bằng võ khí tuy gay go đấy, nhưng phục hồi những miền đã thành ‘ hoang ’ còn cần nhiều can đảm kiên nhẩn hơn nữa” Ông ta lạc quan vì quá tự tín.



(1) Chương này và chương sau tôi không có tài liệu của Trung Hoa, nên không tìm được nhân danh và địa danh bằng chcữ Hán ( tức Hội Xương ) (?) tức Trương Quốc Đào



KIẾN THIẾT
C. THỰC THI DÂN QUYỀN

Ba giai đoạn

Khi Quốc dân đảng cầm quyền thì Trung Hoa như một căn nhà sụp đổ. Trong mười sáu năm nội chiến, chế độ Cộng Hòa chỉ có danh mà không có thực, trên 400 triệu dân sống trong cảnh hổn độn, loạn lạc , cướp bóc gần như vô chính phủ, vì quyền hành của chính phủ Băác Kinh không bằng quyền của một quân phiệt mạnh như Ngô Bội Phu, Đoàn Kỳ Thụy chẳng hạn . “Triều đình” Bắc Kinh đại khái cũng như triều đình nhà Chu gần cuối thời Chiến quốc.
Vậy phải xây dựng lại hết. Công việc nặng nhọc đó. Tưởng Giới Thạch và mấy người thân tín của ông phải đảm nhiệm theo đúng di huấn và di chúc của Tôn Văn, người cha của Cách mạng. Mấy hàng của bản di chúc đó được các cơ quan và các trường học trong toàn quốc long trọng đọc giờ đầu ngày thứ hai mỗi tuần.
Ở trên , chúng tôi đã giới thiệu chủ nghĩa tam dân, ngũ quyền và tam giai đoạn của Tôn. Ông có lương tri và óc thực tế, hiểu biết rằng dân tộc ông 95% không biết chữ, không hiểu gì về chính trị, nên không thể áp dụng ngay chế độ dân chủ, đại nghị của phương Tây được, nhất là nạn tham nhũng, hối lộ thành một bệnh kinh niên từ mấy ngàn năm rồi, nếu cho họ bầu cử ngay thì chỉ tạo cho họ một cuộc mua bán lá phiếu bỉ ổi trên toàn quốc và những kẻ nào gian manh nhất, giàu tiền nhất sẽ thắng cử để rồi bóc lột lại dân chúng một cách tàn nhẫn nhất .
Vậy phải tiến từ từ làm ba giai đoạn : Quân chính ( quân nhân cầm quyền, dẹp phiếm loạn). huấn chçính ( dạy cho dân những căn bản về chính trị, về bổn phận và quyền lợi công dân chuẩn bị hiến pháp....) Sau cùng là giai đoạn hiến chính thi hành hiến pháp ...
Tưởng giới Thạch cho rằng giai đoạn quân chính chấm dứt năm 1928, khi Trung Hoa đã được thống nhất , các quân phiệt lớn đã bị tiêu diệt, còn một số nho nhỏ và ở xa như miền Tứ Xuyên thì không đáng kể .
Giai đoạn thứ nhì,: huấn chính , kể tiếp liền, định trong 7 năm sẽ xong. Tới 1936, kể như đã chuẩn bị xong cả: có một bản hiến pháp lâm thời năm 1931. Năm 1936 bản đó đương sửa đổi sẵn sàng để thi hành , nhưng rồi biến cố dồn dập .( Trung Nhật chiến tranh Thế giới chiến ) phải hoãn lại tới năm 1948, mới bắt đầu thi hành thì Quốc dân đảng thua đảng Cộng sản, phải chạy qua Đài Loan . Rốt cuộc ở lục

địa , nó thành giấy lộn, cho nên chúng ta chỉ cần biết đại khái rằng nó phỏng theo hiến pháp của Mỹ: vị tổng thống cầm quyền sáu năm , hết nhiệm kỳ, có thể ứng cử và được bầu lại một nhiệm kỳ cuối cùng, cũng sáu năm nữa.
- Dân quyền
Trong “ tam dân “ , tôi để chính sách dân tộc lại sau, ở đây hãy xét dân quyền và dân sinh đã . Về dân quyền- tức về phương diện chính trị- tôi sẽ vắn tắt
Trong thời huấn chính . Quốc dân đảng nắm việc chỉ huy , nghĩa là Trung hoa theo chính sách đảng trị, cũng như Đức ,Nga Sô thời đó. Đảng với chính quyền liên hệ chặc chẽ với nhau; có thể nói chính quyền là của đảng nữa.
Tổ chức của Quốc dân đảng: đại hội của đại biểu toàn quốc là cơ quan tối cao, hai năm họp một lần , giữa các kỳ đại hội, quyền hành thuộc về Trung Ương chấp hành Ủy viên hội, bên cạnh có Giám sát Ủy viên hội.
Tổ chức của chính phủ : ở trung ương đặt một số ủy viên rồi cử lên một người làm chủ tịch với một số ủy viên làm thưòng vụ ủy viên, ở dưới đặt ra các bộ.
Có năm viên, tức ngũ quyền: viện Hành chánh, viện Lập pháp viện, viện Tư pháp, viện Khảo thí( coi các kỳ thi và việc tuyển các công chức), viện giám sát. Theo nguyên tắc , cả 5 viện đều độc lập , nhưng sự thực thì việc hành chánh gồm tới 12 bộ ( ngoại giao, tài chánh, kinh tế, giáo dục, tư pháp , giao thông, chiến tranh, hải quân ...) lấn cả bốn bộ kia.
Đó là ở trung ương , ở dịa phương, có tỉnh, huyện, thị xã, xã, . Huyện là đơn vị quan trọng nhất được gần như tự trị cũng như tỉnh
Một số thị xã quan trọng như Nam Kinh, Bắc kinh, Thiên Tân, Thượng Hải, Hán khẩu, trực thuộc trung ương chứ không thuộc tỉnh (1) ( Tổ chức của Việt Nam xã hội chủ nghĩa y hệt vậy, chắc là theo Trung Cộng, mà Trung Cộng đã dùng chính sách của Quốc dân đảng , nhưng đon vị huyện của ta nhỏ quá, chỉ bằng một xã của họ, mà đơn vị huyện của họ bằng một hai tỉnh của ta, một tỉnh của họ bằng một phần có khi cả 2-3 phần Bắc, Trung, Nam của ta) Vậy, về chính thể thì phải nhận rằng đối với Trung Hoa thời đó, rất tốt đẹp. Đó là trên lý thuyết . Cần phải xét thực hành nữa , xét người lãnh đạo nữa. Lý thuyết hay mà người lãnh đạo không chịu thi hành hoặc không đủ tư cách thì kết quả cũng hóa dở.


Người lãnh đạo

Chế độ thời huấn chính là chế độ đảng trị, nhưng sự thực là gia đình trị ( như nước ta dưới thời Ngô Đình Diệm)
Trong một hai năm đầu, Tưởng Giới Thạch còn dùng, khi thì Uông Ting Vệ, ( hồi chưa đại tấn công Cộng sản), khi thì Hồ Hán Dân. Về sau ông chỉ tin cậy mấy người rất thân của ông, : Trần Lạp Phu, Hà Ưng Khâm, Khổng Tưởng Hi, Tống Tứ Văn ...dĩ nhiên Tống Mỹ Linh, vợ ông nữa.
Chúng ta hãy xét ông trước . Tiểu sử của ông , chúng ta đã biết qua rồi. Trong số ba nhà cách mạng thời đó : Tôn văn, ông, Mao Trạc Đông thì ông có tướng tốt hơn cả, trán cao, mắt rất sáng, vẻ oai nghiêm, lạnh lùng, mà lại có nhiều nhân điện lôi cuốn quần chúng, đúng là một nhà lãnh đạo . Ông cương quyết kiên nhẫn làm việc gì thì làm cho tới nơi, rất tự tín, can đãm về tinh thần lẫn thể chất. Cho nên ta không thấy làm lạ rằng trong mười năm đầu cầm quyền, ông được toàn dân ngưỡng mộ, kính phục, coi ông là hiện thân của cách mạng của Trung Hoa nữa. Ông chống Nhật, ông tranh đấu vơói các cường quốc phương Tây để bênh vực quyền lợi dân tộc.
Ông theo một giáo phái KiTô mà cũng theo Khổng Giáo ( như NGô Đình Diệm) sống rất giản dị, khắc khổ nữa, tự chủ, không có ngoại tình, tự trọng và trọng chữ tín ( coi vụ Tây An ở sau) . Nhưng ông độc tài, nghiêm khắc quá, không cảm thấy nổi khổ của ngưuời khác, không thấy lầm lỗi của mình, quá tự cao, tự đại.
Ông ít khi tha thừ ai trừ một vài quân nhân, vì chính ông là quân nhân ; giữ được tình trong quân đội.
Tôn văn tin ở tài cầm quân của ông – mà cũng chỉ tin ở tài đó thôi – và ông đã có công thắng các quân phiệt, rồi sau lại đuổi quân cách mạng Mao Trạch Đông ra khỏi căn cứ Giang Tây, nhưng các nhà cầm quân Âu, Mỹ đều chê ông về chiến thuật rất tầm thường . Chỉ biết binh pháp cổ của Tôn Tử, hoặc của Napoléon thôi, Tệ nhất là Tưởng không lo đến sức khỏe , sự ăn uống, đến tinh thần quân đội, để cho bọn tướng, tá chỉ huy, ăn cắp, ăn hối lộ, ngược đãi lính tráng . Ông không biết rằng quân lính chết đói ( cuối chiến tranh với Nhật) mà ra lệnh cho lính trước khi ra trận phải rửa mặt.
Ông bướng bỉnh, chỉ cho mình là phải thôi, nên không ai dám góp ý kiến với ông hết.
Ông ghét Cộng sản nhất ( trái với Tôn Văn) năm 1941, Trong một diễn văn bảo : « Điều quan trọng nhất đối với tôi là chận Cộng Sản hơn là chận Nhật cho khỏi lan ra . Nhật chỉ là một vết thưong ngoài da. Cộng mới là vết thương ở tim.
Tuy nhờ tây phương ( Mỹ, Pháp) nhiều mà ông ghét họ, rất ghét văn minh của họ, chỉ đề cao đạo Khổng, đạo tam cương, ngũ thường ( coi mục Tân sinh hoạt ở sau) Ông thích đọc Luận ngữ, Kinh dịch , Mạnh tử, rồi tới Le Prince của Machiavel, Mein Kampf của Hitler.

Đoạn trên tôi đã tóm tắt những ý chính trong chương Chiang Kai – Shek ( 185- 198) của J.J Brieux ( Edition du Seul – 1950) cuối chương đó, Brieux viết :
- Năm 1945- Đồng minh thắng ( ....) Tưởng đã thắng Nhật , bãi bỏ các điều ước bất bình đẳng, Trung Hoa thành một cường quốc, Nam Kinh và thượng Hải cuồng nhiệt tiếp đón ông.
1948- ở Nam Kinh, Thượng Hải, Bắc Kinh, Quảng Châu, dân chúng biểu tình đòi hòa giải với Cộng, đuổi Mỹ đi, cả Tưởng nữa. Chỉ trong 3 năm , 470 triệu người thấy rằng Tưởng “ chỉ là một nhà độc tài , không phải là ngưòi bênh vực họ, không phải là người của họ, của dân chúng “.
Fairbank trong cuốn East- Asia – The modern transformation cũng bảo nhược điểm của Tưởng là không v biết tổ chức nông dân.
Tôi nghĩ: Đúng hơn là ông không quan tâm tới đời sống của nông dân chỉ cần sự ủng hộ của thị dân , của giới tư bản, trí thức, thương nhân thôi.
Có ba ngành quan trọng trong chính quyền cùa ông: Chính trị, Võ bị, Hành chánh . Ông đặt ba người tin cậy nhất của ông vào ba nghành đó: Trần Lạp Phu bộ trưởng Tổ chức Quốc dân đảng. Hà Ưng Khâm bộ trưởng Chiến tranh kiêm tham mưu trưởng. Khổng Tường Hi ( tức H.H Kung tên Mỹ) Viện phó viện Hành Chánh. Nhưng ông có tật một khi ra lệnh , ra chỉ thị rồi thì thôi, không kiểm soát xem có được thi hành hay không, cho nên có thể bảo rằng chính bộ ba đó thực sự cai trị Trung Hoa. Còn một nhân vật thứ tư nữa, vai trò kém quan trọng , vì nhiều khi bất đồng ý kiến với ông, bị ông gạt ra. Nhân vật đó là Tống Tử Văn ( quốc tịch Mỹ : T.V Soong ) , thủ tướng khiêm bộ trưởng Ngoại giao. Ông làm Tổng thống , Thống chế ( généralissime)
Trần Lạp Phu , người được Tưởng tin cậy nhất , là cháu Chan - Chi- Mein ( ?) bạn của Tưởng thời Tưởng sống cuộc đời bí mật từ 1912 đến 1923 ở Thượng Hải . Chi Mei là một nhà cách mạng , biết nhiều về các hội kín, chỉ cho Tưởng biết về những phương pháp hoạt động , bí mật, dọ thám, ám sát, về bọn buôn thuốc phiện lậu, cướp bóc, giết thuê. Những hiểu biết đó giúp Tưởng năm 1927 thuỉ tiêu nhóm Cộng sản ở Thượng hải.
Khi Chi Mein chết, giao phó cho Tưởng hai người cháu Trần Quốc Phu và Trần Lạp Phu và Tưởng coi họ như cháu của mình. Lạp Phu nhỏ hơn , rất thông minh, nét mặt thanh tú, có cả cựu học lẫn tân học, nhưng có óc thủ cựu. Rất liem khiết, có đức tin mãnh liệt , rằng muốn cứu Trung Quốc thì phải trở lại theo truyền thống . Cnũg như Tưởng , ông ta khinh người phương Tây chỉ giỏi về Kỹ thuật, còn về đạo đức thì dã man. Óc hẹp hòi, bài ngoại và chống Cộng triệt để. Ông là lý thuyết gia của Quốc Dân đàng. Lý thuyết của ông là đạo Khổng đổi mới một chút.

Ông, ngoài chức bộ trưởng Tổ chức Quốc dân đảng , còn làm trùm cơ quan mật vụ gồm 300.000 nhân viên, và đứng ngoài mà điều khiển cơ quan thông tin tuyên truyền. Ông lập đảng “ Sơ mi lam “ , dùng những thanh niên học hành nham nhở, cho vào cái đại học để dò xét bạn bè và giáo sư thiên cộng. Họ cũng như bọn sơ mi nêu của Hitler, sơ mi đen của Mussolini. Giáo sư nào mà trong giờ giảng , chỉ hơi chê đưòng lối của chính quyền là bị thủ tiêu. Chỉ dăm ba vụ thủ tiêu là họ hóa ra “ ngoan ngoãn “ hết. Vào khoảng gần cuối thế chiến , ông ta lập một bảng kê những đ-é tài cấm giáo sư, nhà văn, nhà báo đề cập tới : Cộng sản, lạm phát, tham nhũng, cảnh khổ của dân.
Nhân vật thứ nhì là Hà Ưng Khâm, quyền hành rất lớn, vì nắm hết quân đội, tính tình giống Tưởng Giới Thạch, vì cùng là quân nhân, nhưng khi Tưởng cần hy sinh một trong hai người: Hà và Trần, thì Hà bị Trần không, dân chúng sợ Trần nhất, còn đối với Hà thì thản nhiên hoặc khinh bỉ. Hà làm hại Trung Quốc, khiến quân đội suy nhược, tan rã, hoàn toàn bất lực. Không biết cầm quân, không biết tổ chức , không có thứ tự, phương pháp gì cả, cũng không biết chỉ huy nữa, chỉ lo làm giàu, hối lộ, lập giá biểu sẳn: muốn làm đại đội trưởng hoặc liên đội trưởng thì phải nộp y bao nhiêu đó. Người ta tranh nhau mua chức chỉ huy, vì chỉ trong ít tháng là huề vốn. Chỉ khổ cho dân lính: thiếu ăn, thiếu mặc, chết ở dọc đưòng, hoặc bị tử trận vì thiếu súng, thiếu đạn. Lại thêm y ghét cộng sản tới mức không chống Nhật mà chỉ lo diệt cộng.
Người Mỷ ghét y lắm, cuối cùng buộc Tưởng phải cách chức y di nếu không thì không viện trợ cho nữa, Tưởng phải cách chức bộ trưởng Chiê&n Tranh, nhưng vẫn giữ chức Tham Mưu trưởng của y, nghĩa là cũng vẫn như cũ.
Bọn sĩ quan cựu sinh viên trường Hoàng Phổ thâm oán y, mà không làm gì được cả.
Y có trung thành với Tưởng không? Điều đó còn ngờ. Trong vụ Tây An ( coi ở sau) . Tưởng bị bắt cóc, Hà dề nghị cho phi cơ lại dội om, san phẳng thành bình địa. Như vậy là y được dịp khóc rồi nối nghiệp chủ cũ.
Khổng Tường Hi tự xưng là cháu đời thứ 75 của Khổng Tử, vậy mà hời học ở Đại học Yale ( Mỹ) ông ta thích Mỹ lắm, đổi tên là H.H. Kung. Cha, chú làm chủ nhiều ngân hàng ở Sơn tây. Ông ta đại lý cho hãng dầu Standal Oil ở Trung Hoa. Cưới một cô em của Tống Khánh Linh ( họ Tống cũng làm chủ ngân hàng ) , thành em hay anh rể của bà Tưởng Giới Thạch, và cùng với Tống Tử Văn ( em vợ) là hai người giàu nhất Trung Quốc. Dân Trung Quốc gọi ông là ông “ thần tài họ Khổng “ . Hiền lành, thương người, làm việc rất siêng. Những người giúp việc cho ông, quý ông lắm . Nhưng dân chúng thì vừa ghét , vừa khinh bỉ vì tính nhu nhược mà tham những cái lợi nhỏ nhặt. Bà vợ làm áp phe, vơ vét không ai bằng, không bỏ lỡ một cơ hội nào cả, cô con gái cũng vậy mà lại khinh người.
Có lần ông ta bảo, xây cất những xưởng chế tạo khí giới, tốn tiền quá, để tiến đó chế tạo các máy cắt thuốc, vấn thuốc hút ... bán cho dân, có lợi hơn.
Hà Ứng Khâm làm cho quân đội sụp đổ, Khổng Tưởng Hi làm cho kinh tế sụp đổ, do ông ta mà lạm phát lên như diều, dân chúng điêu đứng. Có thể nói Khổng lót đường Cộng sản chiếm trọn Trung Quốc
Nhân vật thứ tư là Tống Tử Văn có tư cách, khí tiết, cùng với bà Tôn Văn và Tôn Khoa , con bà vợ trước của Tôn Văn, là ba người dám chống Tưởng. Ở Đại học Harvard ra, Tử Văn, là người hiếu kỷ thuật và tinh thần phương tây nhất. Âu hoá nhất. Rất thông minh, quyết định mau, có sức làm việc mạnh, có phương pháp, ghét tham nhũng, ông đúng là một chính trị gia thời đại mới.
Được hưởng gia tài cha, lúc nào không làm chính trị thì ông đầu cơ trên thị trường , có cổ phần lớn trong bảy ngân hàng, mười hai công ty thương mại, hai mươi hai xưởng lớn, một công ty hàng không ...tài sản của ông ta , kể sao hết được. Người Trung Hoa gọi ông là nhà tỷ phú.
- Tôn Khoa viện trưởng viện Hành chính, vì là con Tôn Văn nên dám thẳng thắn chỉ trích sự thối nát, độc tài của chế độ. Ông ta bảo : " Không có một người nào trong chính quyền , từ đại biếu tới công chức , mà được bàn, cả " – “Đặt ra luật pháp làm gì? Chính quyền bất tuân luật pháp trước nhất mà ! "
Tuy vậy, Tống Tử Văn và Tôn Khoa vẫn phục vụ Tưởng, khi Tưởng bay qua Đài Loan, Tống bay qua Mỹ sống đời tỷ phú. Chỉ có bà Tôn Văn là chống Tưởng để cố cứu sự nghiệp cách mạng của chồng. Khi mọi sự sụp đổ, bà ở lại lục địa.


( 1) Những thị xã như vậy ta gọi là thành phố )


( đã đem vào đính kèm )
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-25 15:22:12ct.ly>
D- LO CHO DÂN SINH


Mở mang các ngành

- Giao thông vận tải
Một nước rộng 14 triệu cây số vuông (Âu Châu không kể Nga chỉ rộng khoảng 10 triệu rưỡi cây số). đất đai thì rừng rú nhiều, đồng bằng rất ít ( coi bản đồ nông phẩm ), mà lại bỏ hoang nhiều vì loạn lạc, dân số khoảng 460 triệu, 95% chỉ sống nhờ nông nghiệp, một nước như vậy mà muốn kiến thiết thành một nước kỹ nghệ đuổi kịp phương Tây, đã khó khăn lắm rồi, huống hồ còn bị nhiều trở ngại nữa :
-Trong non một thế kỷ, từ 1840, bị bọn tư bản châu Âu xâu xé bóc lột về quan thuế, không thể dùng quan thuế mà bảo hộ hàng hóa của mình được, lại thêm nổi bao nhiêu chi tiêu trong nước phần lớn ( 85%) trông vào thuế quan, thuế muối, mất 2 thuế đó thì thiếu dùng, phải vay , vay thì nghèo thêm, mất thêm quí kim, tài nguyên.
- Bọn tư bản ngoại quốc nhiều vốn, nhiều máy móc, dùng nhân công rất rẻ của Trung Hoa , dễ dàng thắng trong việc cạnh tranh với công nghiệp, Trung Hoa mới chập chững.
- Thiếu tư bản vì bọn nhà giàu chỉ quen mua vàng để dành, mua đất hoặc cho vay không có tinh thần kinh doanh, thiếu kỹ thuật gia, thiếu cả thị trường , sản xuất được món gì thì chỉ bán loanh quanh trong miền, không thể chở đi xa được – phương tiện giao thông rất thô sơ – như vậy làm sao không bị công nghiệp ngoại quốc đè bẹp.
Có hiểu như vậy chúng ta mới thấu được nỗi khó khăn và sự gắng sức của nhà cầm quyền cùng dân chúng Trung Hoa .
Một bản báo cáo của ủy viên Hội Vạn Quốc ( không rõ năm nào) nhận rằng sự gắng sức của Quốc dân đảng thành công, ít nhất là Trung Hoa, đã có bộ mặt mới mẻ hơn, bắt đầu tiến vào thời công nghiệp.
Tiến nhất là về phương diện giao thông, chuyên chở. Điều đó rất hợp lý. Muốn phát triển kinh tế thì phải phát triển giao thông trước . Khai thác mỏ đồng , mỏ thiếc, để làm gì nếu không có đường bộ , đường sông, không có xe tàu, phải chở khoáng chất bằng sức ngựa hay sức người. Sản xuất lúa gạo nhiều để làm gì nếu không có phương tiện chở đi bán ở những nơi mất mùa, như các thời trước? Chúng ta nhớ Tô Đông Pha đời Tống tự lấy làm tủi rằng đọc cả ngàn bộ sách mà không tìm được một cách cứu dân khỏi chết đói, vì thời đó không có xe cam nhông, xe lửa, tàu thủy, phi cơ như ngày nay.
Năm 1898 Trung Quốc mới thực sự bắt đầu mở mang các đường xe lửa, đến năm 1923 , xây cất được 34 đường , đa số của các công ty ngoại quốc, cộng cả lại chưa được 10.000 cây số, tới năm 1937 được 15.000 cây số, nhưng 5.000 ở Mãn Châu, là công trình của Nhật khi họ làm chủ Mãn Châu. Các hãng Anh , Pháp, Đức, Mỹ đã cất được con đường Bắc Nam, từ biên giới Sibérie tới Đông Dương, một con đường liên tỉnh nữa là đường Chiết Giang, Giang Tây. Nhưng còn những miền mênh mông như Tứ Xuyên, Thiểm Tây, Cam Túc , Quí Châu vẫn chưa có đường xe lửa nối với bờ biển.
Quốc Dân đảng có công sửa sang các đường lộ lớn. Thời trước cũng đã có nhiều đường lộ rộng tới 25 thước, lát đá , nhưng hư hỏng hết rồi, xe hơi dùng không được. Tưởng Giới Thạch xây được 100.000 cây số đường lộ cho xe hơi chạy, nối các tỉnh với nhau.
Về hàng hành (đi trên sông , trên biển ) . Chính quyền không phải bỏ sức ra bao nhiêu. Trung Hoa có nhiều sông , rạch và một bờ biển dài 4.000 cây số, tiện nhất là sông Dương Tử và các chi nhánh, tất cả miền Hoa Trung nhờ nó mà tỉnh này, huyện này liên lạc với tỉnh kia, huyện kia rất dể dàng . Miền Nam có sông Tây Giang. Chỉ có miền Bắc là đường thủy thiếu thốn, bất tiện vì trên sông Hoàng Hà, ghe thuyền chỉ đi được một khúc ngắn thôi. Trái lại ở Mãn Châu, nhờ có nhiều sông lớn như Hắc Long Giang, Oussouri, Soungarie, ghe thuyền qua lại rất đông.
Dọc theo bờ biển , chỉ có những ghe lớn , không cạnh tranh nổi với các tàu của ngoại quốc.
Hàng không bắt đầu có từ 1921, mới đầu về quân sự, sau mới về dân sự, nối các thị trấn lớn Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Hán Khẩu, Trùng Khánh.
Bưu chính phát triển nhất, lợi cho chính phủ rất nhiều. Để đánh điện tín người ta dùng mật hiệu để thay 8.000 chữ thường dùng nhất. Gần đây đã có điện thoại nối tỉnh này với tỉnh khác.
- Canh nông
Về canh nông , công việc rất nhiều nhưng họ chỉ thực hiện được ít thôi, sửa lại chế độ thuế má, địa tô, cải thiện phương pháp canh tác, trồng bông, trà , dâu chế biến nông sản ...Họ đã lập 170 trại thí nghiệm từ trước thế chiến: hoặc chia trại ra làm nhiều phần bằng nhau cho mỗi nông đân làm riêng, hoặc không chia mà dể cày cấy chung. Nhưng chỉ là những trại nhỏ trong làng, mà người điều khiển không hăng hái, cơ hồ không có thiện chí nữa, nên sau bỏ.
Đời sống nông dân, không được cải thiện chút nào. Mỗi nông dân chỉ nuôi được hai người (ở Pháp là 5 người ) và mỗi người mỗi ngày chỉ được khoảng 2.200 calo thực phẩm (ở Pháp 3.500). Một phần nông sản như trà, bông, vải ...phải bán cho ngoại quốc với giá rẻ ( vì bị thị trường quốc tế định giá) để mua sản phẩm công nghiệp ngoại quốc với giá đắt , do đó nông dân thêm nghèo cực, bỏ làng ra thành thị mỗi ngày mỗi đông, tạo ra nhiều vấn đề: lao động , gia đình, xã hội , phụ nữ , chức nghiệp, luân lý, gia cư .....
Lỗi nặng nhất của Tưởng Giới Thạch là sau khi thống nhất, không nghĩ ngay đến vấn đề chia đất cho dân cày trong toàn quốc theo di chúc của Tôn Văn. Chính sách chia đất đó là truyền thống của dân tộc làm sao có thể quên được? Rõ ràng là ông không thực tâm lo cho dân mà chỉ muốn được lòng giới tư bản, đại điền chủ.
Mao Trạch Đông thi hành di chúc của Tôn Văn ngay từ khi còn trốn trong rừng ở Giang Tây, nhất là từ khi lên Diên An, nên rất được lòng nông dân.
Mãi đến sau thế chiến , từ 1946, thấy dân theo cộng nhiều, Tưởng mới chịu cải cách điền địa để ganh với Mao. Trong vài miền ở Tứ Xuyên, Hồ Nam, Cam Túc, Phúc Kiến, chính quyền mua hoặc tịch thu ruộng đất của bọn đại điền chủ, được độ 180.000 mẫu chia cho 8.700 gia đình, mỗi gia đình được 20 đến 30 mẫu ( mỗi mẫu là 750 thước vuông) . Có nơi chính quyền cho dân vay tiền để mua đất, có nơi cho dân vay tiền khẩn hoang. Sau cùng người ta giảm địa tô được 25% , nhưng đó chỉ là theo nguyên tắc thôi.
Những cải cách đó rất tiến bộ, tiếc rằng trễ quá, ít dân được hưỏng quá, và chỉ được vài năm thì chính phủ sụp đổ.
- Về kỹ nghệ: Tưởng cũng không theo chính sách của Tôn Văn: Quốc hữu hóa những kỹ nghệ quan trọng. Bao nhiêu kỹ nghệ lớn đều của người ngoại quốc hết. kỹ nghệ đóng tàu, hóa học, dầu lữa, dệt vải....Người Trung Hoa ít vốn, làm những kỹ nghệ nhỏ thôi.
Chỉ có miền Mãn Châu là kỹ nghệ phát đạt, nhưng dó là công trình của thực dân Nhật để lại ( coi ở sau). Năm 1945 Mãn Châu có nhiều đường xe lửa và đường lộ lớn bằng toàn cõi Trung Hoa , sản xuất được 1.500. 000 tấn thép, xe hơi, máy bay, chất hóa tiền chính quyền Quốc Dân đảng đầu tư vào toàn quốc cũng trong thời gian đó.
Trong 14 năm chiếm Mãn Châu, người Nhật đổ vào đó 2 tỷ đô la, nhiều hơn số tiền chính quyền Quốc Dân đảng đầu tư vào toàn quốc cũng trong thời gian đó.
Ngân hàng Trung Quốc thành lập từ 1913 . Quốc dân đảng lập thêm được ba bốn ngân hàng nữa, giao cho Tống Tử Văn, Khổng Tường Hi điều khiển. Mỗi ngân hàng đó phát hành giấy bạc riêng , tới năm 1935 chính phủ mới thu tất cả những giấy bạc đó về, đổi cho một thứ giấy bạc mới, duy nhất.
Nhưng, như mọi công việc khác, họ “ chỉ cải cách cái đầu thôi , quên cái mình” quên không lập những ngân hàng nông nghiệp để giúp dân cày, và nếu chỗ nào có thì những kẻ tai to mặt lớn ở địa phương nắm hết, rốt cuộc, dân nghèo chẳng được hưởng gì cả.
2- Kinh tế .
Đời sống nông dân không được cải thiện, mà ngân sách năm nào cũng thiếu hụt, chỉ bọn các ông lớn , bà lớn trong Quốc dân đảng là giàu ngang với bọn tỷ phú ở Mỹ. Nhờ họ một phần , mà một số thị trấn có vẻ mặt mới: Công sở dinh thự mọc lên khá nhiều, theo kiến trúc mới, không còn vẻ gì là Trung Hoa nữa.
Vì chính phủ thiếu tiền nên phải in thêm giấy bạc, gây nạn lạm phát kinh khủng.
Dưới dây là giá đồng Mỹ kim trên thị trường chính thức:
- 1936 ................ 3,36 viên ( tiền Trung Hoa)
- 1941 ................ 20
- Tháng 3- 1946 ............. 2.020
- 12 – 1946 ............ 5.846
- 11- 1947 .............. 125.000
- 2 - 1948 ................. 210.000
- 7- 1948 .................. 4 triệu
- 8 - 1948 ................. 12 triệu.
Ở Trùng Khánh, gần cuối thế chiến, có nơi thiếu giấy bạc, người ta bắt dân chúng dùng tiền bằng đất sét nung, chỉ trao đổi ít lần là gẫy nát .
Lại có hồi, không rõ vào năm nào ( 1948) giấy bạc in nhiều quá, mất giá tới nỗi, muốn mua một vé xe đò, phải xách cả một va li giấy bạc đi
Năm 1948, Tưởng Giới Thạch cương quyết diệt nạn lạm phát, thương thuyết với Mỹ , và hai nước ký với nhau một hiệp ước hợp tác kinh tế :
1 - Đồng Viên rút về, thay bằng đồng Kim Viên ( gold yuan) (1) ăn một phần tư đô la, phát hành hai tỉ đồng 40% được bảo đảm bằng 200 triệu đô la do Mỹ cho vay, còn 60% bằng vàng, bằng ngoại lệ (đô la Mỹ, đô la Hương Cảng) ...
2- Một đô la mỹ đổi 12 triệu đồng viên cũ, hơi cao hơn giá chợ đen một chút
3- Chính phủ hô hào dân chúng có vàng , ngoại lệ thì đem lại gởi ngân hàng.
4- Lương lậu và giá cả sẽ bị chặn đứng. Sẽ kiểm soát kinh tế nghiêm ngặt.
Dân chúng mừng rỡ , chen chúc nhau đem vàng , bạc , ngoại tệ lại ngân hàng đổi lấy tiền mới. Chỉ trong một tháng , 3 ngân hàng chính thu được 600 triệu lượng vàng, 16 triệu đô la Mỹ, 5 triệu đô la Hương Cảng. Chính phủ săn bắt gắt gao bọn đầu cơ, xử tội nặng nhiều kẻ. Nhưng đầu cơ là cách làm giàu mau nhất, chính các ông lớn bà lớn trong Quốc Dân đảng lại thích đầu cơ hơn ai hết, ai dám bắt họ ? – Nên chỉ được một hai tháng, đồng kim viên lại mất giá :
- Tháng chín 1948 1 đô la Mỹ ăn 4 kim viên
- 11 – 1948 ................. 10
- 12 – 1948 ................. 80
- Giêng 1949 .............. 320 kim viên
- 25 tháng hai 1949 ........ 2000
- 1 tháng ba 1949 ........... 3.100
Hết phương chữa chạy. Ít tháng sau Cộng Sản chiếm Bắc Bình và Nam Kinh ;
Tôi xin nhắc lại: Kinh tế suy sụp ghê gớm như vậy chỉ trừ Quốc dân đảng dời đô lên Trùng Khánh, khoảng 1930, cho tới năm 1939 chính phủ đó vẫn còn phong độ, cho nên Dubarbier trong La Chine moderne mới khen : từ 1928 đến 1937, chưa đầy 10 năm mà Trung Hoa đã tiến đều đều hoài, nhờ một chính quyền” sáng suốt và dám làm “ . Ý kiến của Guillermaz , Lévy, Brieux, Fairbanks trái hẳn, nhưng Dubarbier không phải hoàn toàn sai: Ông ta xét bề ngoài , còn mấy nhà kia xét bề trong , nhất là bề trong từ 1938 trở đi ( trong tiết sau: chiến trang Trung Nhật, chúng ta sẽ hiểu nguyên do tại đâu).
3- Văn hóa
- Tân sinh hoạt . Có thể vì thấy Cộng sản ở những miền họ kiểm soát, tạo cho dân chúng một nép sống mới, trọng lao động, sống tập
thể, học tập chính trị .... nên Tưởng Giới Thạch cùng Tống Mỹ Linh năm 1934 cũng phát động phong trào Tân sinh hoạt.
Từ cuối thế kỷ trước, đạo Khổng bị các nhà cách mạng mạt sát quá, Tưởng nay muốn phục hưng lại, lấy ngày sinh của Khổng Tử làm một ngày quốc lễ. Ông nhắc quốc dân rằng nền văn minh Trung Quốc có từ mấy ngàn năm trước chứ không phải mới có từ 1911, mà văn minh đó hợp với chủ nghĩa của Tôn Văn. Vậy thì phải tôn trọng nó .
Ông muốn rằng người dân phải có ý niệm về trật tự trong xã hội, về trách nhiệm của mình và về sự chính trực trong hành động . Ông đề cao bốn đức lễ, nghĩa, liêm, sỉ . Bất kỳ lúc nào , và làm việc gì cũng phải nhớ bốn điều đó, cấm hút thuốc phiện ,cấm cả hút thuốc lá nữa ( cảnh sát gặp ai hút thuốc ở ngoài đường thì bắt ngừng lại, liệng điếu thuốc đi, cấm khiêu vũ, đóng cửa hết các thanh lâu, cấm cờ bạc. Ăn mặc phải chỉnh tề, mà giản dị, sạch sẽ, cấm nhổ bậy, ăn uống phải thanh đạm và điều độ, cài khuy áo đàng hoàng ( nhưng dân không có áo để mặc) mà phải cần lao, tiết kiệm, nhất là trong các lễ tang, hôn , v....v ...Tóm lại là phải sống đời khắc khổ như ông.
Trong công sở thì phải làm việc lanh lẹ, có kỷ luật, cấm ăn hối lộ. Lối sống đó không có gì mới mẻ, đại khái đều theo những qui tắc của đạo Nho và đạo Mặc, chỉ vì đã lâu rất ít người theo, bây giờ ông bắt mọi người phải theo, nên bảo nó là mới.
Dubarbier khen lắm: “ Thành công hiển nhiên, không ai chối cải được , những người có tâm đều nhận rằng đã có cái hay thay đổi”. Hằng đoàn sinh viên trong các vụ hè đi về thôn quê tập cho dân sống đời sống mới.
Phải, thành công thật. Nhưng nhiều lắm chỉ được bốn năm, rồi ai cũng chán , quên hết . Hàn Tú Anh ( Han Suyin ) một nữ sĩ cha Trung Hoa mẹ Bỉ, hồi trẻ qua Bỉ học y khoa, năm 1938, vì yêu nước mà bỏ học, trở về nước để kháng Nhật, lấy một viên tá trong quân đội Tưởng, cùng với chồng theo chính phủ chạy lên Trùng Khánh, sống 7-8 năm, sau lại trở qua Anh, viết một bộ hồi ký gồm 4 cuốn mà cuốn III nhan đề là “ Một mùa hè vắng bóng chim” , trong đó bà chép những bê bối của Quốc Dân đảng, của hạng công chức cao cấp, quân nhân, và nhất là cảnh khổ của dân chúng. Cuốn đó chứa nhiều sử liệu rất quí, vì bà sống trong cảnh mà thẳng thắn không thiên vi. Đọc bà chúng ta mới biết chính gia đình những quan lớn Quốc Dân đẳng sống trái hẳn với nếp Tân Sinh hoạt. Chồng thì gian tham, càng làm lớn càng ăn cắp lớn, đánh đập tàn nhẫn kẻ dưới, đánh cả vợ nữa, vợ thì làm biếng, suốt ngày chỉ đánh mạt chược, mà bẩn thỉu, hôi hám, ăn cơm thì xương gà, vịt liệng ngay xuống sàn gạch, ngồi đâu thì khạc nhổ tứ tung. Về việc cấm hút thuốc phiện nữa mới khôi hài: chính đoàn “ sơ mi lam” của Tưởng có nhiệm vụ đi thu nhựa thẩu bắt dân quê miền Thành Đô ( Tứ Xuyên ) , nhổ lúa để trồng thẩu, bán cho Nhật, Nhật lại bán cho các nước Đông Á, kẻ nào không trồng thì bị đánh một thứ thuế, gọi là thuế “ làm biếng” !
Công Chức ít hút, vì sợ kẻ ghen ghét tố cáo với Trần Lạp Phu hay Tưởng Giới Thạch thì chết. Nhưng dân cu li không một người nào không nuốt sái, cứ khiêng đồ đi một khúc đường , hay khiêng kiệu leo ngọn đồi từ sông Dương Tử lên thị trấn Trùng Khánh gồm non 500 bực, là phải nghĩ để nuốt sái, không nuốt thì không đủ sức tiếp tục. Họ chỉ có xương với da, quần áo rách bươm, lòi thịt, lòi xương mà lúc nhúc những rận. Tôi đã nhờ cuốn đó mà hiểu được một phần lịch sử Trung Hoa hiện đại, tôi đã dịch ra non 400 trang, nhưng Bộ thông tin Sài Gòn không cho in ( 2).
Giáo dục.
Về giáo dục, chính phủ đầu tư kha khá, nhưng chú trọng nhiều hơn cả váo các trường đại học, trung học ở các thị trấn (để đào tạo một giới thượng lưu giúp đở, ủng hộ chính phủ), thêm một viện nghiên cứu. Academin Sinica ( Viện Trung Hoa) và một số thư viện, còn các trường tiểu học thì thiếu nhiều lắm, thành thử tỉ số người mù chữ không giảm bao nhiêu .
Trái lại , theo J J Brieux , cộng sản đã sớm giải quyết được nạn đó mà không tốn tiền, không cần lớp học, thầy học. Họ vẽ lên tường nhà ở thôn quê những hình lớn: mỗi hình là một con vật hay một đồ vật, bên cạnh viết chữ chỉ tên của nó. Ai đi ngang qua cũng trông thấy và ít lần thì nhớ mặt chữ. Cứ mỗi tuần ba bốn chữ, một năm được khoảng 200 chữ, năm năm thì được 1.000 chữ , tạm gọi được là không mù chữ nữa. Lối học đó sau bãi bỏ, có lẽ ít kết quả.
Trong khu vực quốc gia, người ta sang hơn, mời các giáo sư danh tiếng ở Mỹ qua, dạy cấp học bổng cho sinh viên đi du học ngoại quốc, mà đa số thích học văn chương, nghệ thuật, trong 10 năm , từ 1936 đến 1946, mặc dầu đương chiến tranh với Nhật, mà số đại học tăng từ 108 đến 140, số sinh viên từ 42.000 lên 80.000 , số trường Trung học từ 2.700 lên 3.750; học sinh từ 544.000 lên 1.160.000.
Sinh viên đại học , cả giáo sư đề bị bọn “ sơ mi lam” của Trần Lạp Phu dọ thám.
Để kết luận J J Brieux bảo nếu so sánh Trung Hoa năm 1927, khi chưa thống nhất với Trung Hoa, năm 1937, trong chiến tranh với Nhật thì phải nhận rằng Trung Hoa, đã tiến bộ. Từ 1937 đến 1944 Trung Hoa đã anh dũng chống Nhật, nhưng về chủ nghĩa dân sinh thì Quốc Dân đảng chưa thực hiện được bao nhiêu


Chú thích
1)- Dĩ nhiên Kim Viên không có nghĩa là đồng tiền bằng vàng mà chỉ là đồng tiền bảo đãm bằng vàng.
( 2) Năm 1990 NXB Hội Nhà văn xuất bản ( BT)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-28 18:13:31ct.ly>
Chương 2 (2)

Chí làm thỏa mãn được giới thiểu số, tức địa chủng quan lớn , quân nhân , thương nhân,

Đã Gõ xong chương này
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-28 18:12:45ct.ly>
E. BẢO VỆ DÂN TỘC

Xoá bỏ các điều ước bất bình đẳng.

Đã gõ xong
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-28 18:12:13ct.ly>
Chống xâm lăng - Nhật chiếm Mãn Châu


đã gõ xong chươngv này
Đăng nhập để trả lời
0
F - CHIẾN TRANH TRUNG – NHẬT

Giai đoạn I: Trung Hoa chiến đấu lẻ loi 1937- 1971 .
Hai năm đầu:
Nhật biết rằng dân tộc Trung Hoa đã đoàn kết sau vụ Tây An, vội vàng chuẩn bị để ra tay trước. Ngày 6-7- 1937, sau một vụ tập trận ở ngoại ô Bắc Kinh ( lúc này Nhật đã gần như làm chủ năm tỉnh tự trị ở Hoa Bắc do một thỏa hiệp với Hà Ứng Khâm, một tên lính Nhật đi chơi không về, Nhật đổ lỗi cho người Trung Hoa đã bắt cóc hắn. Mặc dầu vài giờ sau, tên đó trở về rồi, Nhật cũng làm rùm lên , đòi quân đội Trung Hoa phải rút khỏi vùng đó. Trung Hoa không chịu. Hôm sau quân đội Nhật tiến qua cay cầu bắc qua rạch Lư ( Lư cầu kiều- người Âu gọi là cầu Marco Polo) , nã súng, quân Trung Hoa bắn lại. Chiến tranh nổ. Chính quyền buộc tướng Song Tche – Yuan (?) phải rút về phía Nam; ông mới đầu do dự , sau vì muốn cho Bắc Kinh khõi bị tan tành vì bom đạn , nên trong đêm 29- 7 ông rút hết quân ra thế là Nhật chiếm được Bắc Kinh mà không mất một viên đạn, tự khoe rằng đã “ giữ cho cựu đô cực văn minh của Trung Hoa đó được nguyên vẹn” .....
Bắc Kinh là một yếu điểm quân sự, đầu mối của nhiều đường xe lửa từ đó đưa tới Sơn Tây, Hà Nam , Sơn Đông và Giang Tô. Nhật cho tiến quân ngay theo các đường xe lửa về Tây An, Hán Khẩu và Nam Kinh.
Họ tiến rất mau về phía Sơn Đông, Sơn Tây, Tuy Viễn nhờ vài Hán gian hợp tác với họ. Nhưng khi họ tới Thượng Hải, bỏ bom dữ dội, làm chết rất nhiều thường dân, thì họ gặp sự kháng cự mãnh liệt. Tưởng đưa các đoàn binh thiện chiến nhất vào đó, chặn quân Nhật được non ba tháng mặc dầu họ đóng hơn gấp bội, lại có nhiều phi cơ và chiến xa.
Sau đó Nhật chiếm Nam Kinh, cũng tàn sát dân chúng dã man vô cùng. Tưởng đã cho phá đê Hoàng Hà để chặn họ mà kỳ thực chỉ làm chết một triệu dân thôi. Từ Nam Kinh họ ngược dòng sông Dương Tử, uy hiếp dân Hán Khẩu, trong khi một đạo quân khác theo đường xe lửa để nhập với một đạo quân khác theo đường xe lửa để nhập với một đạo quân khác từ Bắc xuống. Họ bị chặn ở Đài Nhi Trang, thua một trận lớn, nhưng vì đông hơn , họ cũng làm cho quân Trung Hoa phải rút lui.
Như vậy là họ làm chủ hết miền ở phía Bắc sông Dương Tử. Hán Khẩu, trung tâm kỹ nghệ quan trọng nhất, chỉ còn trông cậy ở Quảng Châu về việc tiếp tế. Nhật mới đầu ngại chiếm Quảng Châu sẽ đụng chạm tới Anh, nhưng sau thấy ở châu Âu, Anh nhũn với Đức quá ( vụ Munich thũ tướng Chamberlain nhượng bộ Hitler tháng 9- 1938) , họ không lo nữa cứ đánh và Anh không có phản ứng gì cả.
Chiếm được Quảng Châu rồi ( nghĩa là chiếm được cả hai đầu con đường từ Bắc xuống Nam), mà con sông Dương Tử cũng bị Nhật kiểm soát, cho nên Hán Khẩu không được tiếp tế , không thể giữ được; Tưởng thay đổi chiến lược : “lấy không gian đổi thời gian” bỏ những nơi áp lực của Nhật mạnh, nới rộng trận địa vào hậu phương để kéo dài thời gian mà làm cho quân địch hao mòn.
Ông ra lệnh cho nhân dân rút ra khỏi các thành thị, để nhà trống vườn không mà lui vào đồng sâu rừng rậm. Ông từ Hán Khẩu bay lên Trùng Khánh , quân đội phải gỡ hết máy móc , phá hủy các cơ sở, nhà máy theo lên Trùng Khánh.
Vậy là phía Quốc , gồm từ hai triệu đến hai triệu rưỡi quân trong một năm chỉ ghi được hai trận anh dũng, Thượng Hải và Đài Nhi Trang, không chặn được quân Nhật, để họ chiếm hết miền phì nhiêu , giàu có nhất dọc theo bờ biển. Chính Tưởng cũng đả tiến đoán rằng sẽ thua đậm.
Về phía Cộng ở Diên An, đạo quân thứ VIII thành lập lại sau cuộc trường hành, chia ra làm nhiều nhóm nhỏ tuyên truyền trong dân chúng . Tổ chức những đội quân du kích như thời trước ở Giang tây, lan dần ra khắp các tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc, Ninh Hạ; còn ở Hoa Trung thì đạo quân thứ IV mới ( Tân đệ tứ) gom lại những nhóm Cộng sản cũ ở lại An Huy, không theo vô Diên An. Hai đạo quân đó dùng du kích chiến mà đánh phá ở phía sau quân Nhật. Họ can đảm, bền sức, lanh lợi, đạo quân thứ VIII chống giữ được Sơn tây và Tây An, che chở cho chính phủ Trùng Khánh ở mặt đó, lại đánh lên cả Mãn Châu, Mông Cổ nữa, đạo quân thứ VI hoặt động ở miền Hán Khẩu và thung lũng sông Dương Tử, quấy phá quân Nhật, không để cho chúng yên.
Chính người Nhật cũng phải nhận rằng sau 18 tháng tấn công, họ không làm chủ được trọn một miền nào cả. Hể họ chiếm được một khu nào thì du kích quân bao vây họ liền; Cách vài cây số hai bên các đường xe lửa là khu vực du kích rồi, cầu thường bị phá, xe lửa bị mìn, tóm lại y như nước ta khi Pháp mới tái chiếm trong những năm 1946- 1950.
Ngoài ra , còn phải kể một số tướng giỏi không chịu theo Tưởng lên Trùng Khánh, ở lại kháng Nhật ở Hoa Nam nữa.
Trong mấy năm từ 1938 tới 1946, Trung Hoa phải chiến đấu lẻ loi với Nhật, chỉ được Nga giúp thẳng cho Tưởng một số khí giới , một số Tưởng chia lại một phần cho Cộng.
Khi Nhật đã chiếm cả miền duyên hải rồi, biết rằng Trung Quốc mênh mông quá , không sao nuốt hết được, nên tỏ vẻ hòa giải , tuyên bố không có tham vọng đất đai, chỉ yêu cầu được tự do cư trú và buôn bán ở Trung Hoa, chính phủ Trung Hoa công nhận Mãn Châu quốc ....Trung Hoa không chịu.
Đồng thời Nhật tổ chức việc cai trị ở nơi họ chiếm được, và dùng Uông Tinh Vệ lập chính phủ bù nhìn ở Nam Kinh năm 1940(1). Uông tin như Tôn Văn rằng Trung Nhật mà thực tâm hợp tác với nhau thì ch ỉtrong một thế kỷ sẽ mạnh , đuổi hết người da trắng đi mà làm chủ cả Đông Á .

( 1) - Cuối năm 1938 Uông ở Trùng Khánh được Tưởng phái xuống Vân Nam, ở đó Uông dùng phi cơ trốn sang Hà Nội rồi 1940, bay lên Thượng Hải tiếp xúc với Nhật


Đăng nhập để trả lời
0
Lên Trùng Khánh

Trùng Khánh ở trên bờ sông Dương Tử , thuộc tỉnh Tứ Xuyên, một tỉnh giàu ở phía Tây, có cánh đồng Thành Đô rất phì nhiêu, nhờ những công trình thủy lợi từ thời Chiến Quốc; có mỏ than, sắt, đồng, muối
(cung cấp muối cho các tỉnh chung quanh) có nhiều công nghiệp , nổi tiếng nhất là nghề in từ đời Tống , nhờ nghề in thịnh vượng mà nhiều người có học, và thời trước đã có nhiều thi sĩ nổi danh như Đỗ Phủ, Tô Đông Pha.
Những năm 1938 Trùng Khánh là một thị trấn cổ, ở trên một ngọn đồi, thời đó chỉ có được ba bốn, chục chiếc xe hơi, vài nhà xây bằng đá, không có điện thoại. Khí hậu rất ẩm thấp, đêm lạnh quá mà ngày thì nóng quá. Chung quanh thị trấn cũng không thể cất các nhà máy lớn được vì thiếu đường giao thông , cũng thiếu thị trường nữa. Chỉ được hai cái lợi là lúa đũ nuôi dân , mà Nhật không thể dùng chiến xa tấn công được, chỉ thả bom tàn phá mỗi năm trong mấy tháng mùa Xuân và Hè thôi.
Từ khi thế chiến bùng nổ, Pháp, Anh thua Nhật chiếm Hương Cảng, Hải Nam, Đông Dương, rồi Thái Lan, Miến Điện, thì Trùng Khánh bị bao vây, cách biệt hẳn với thế giới, không nhận được xăng nhớt, khí giới của Anh, Mỹ nữa, vì con đường xe lửa Hải Phòng – Hà Nội- Côn Minh bị Nhật kiểm soát, rồi con đướng Miến Điện – Côn Minh cũng bị đóng.
Tưởng phải nuôi hai triệu quân mà chỉ trông vào thuế thân và hàng hóa sản xuất trong miền, thì làm sao đủ được. Viện trợ thì như trên đã nói, cho tới năm 1941, rất ít.
Hành chánh rất dở, không biết tổ chức, không biết kiểm soát, cũng không có kế hoạch nữa. Thực phẩm thiếu mà không biết làm thẻ hạn chế khẩu phần ( carte de rationement ), ngoài phần gạo, vợ các công chức trung cấp ( hạng tá trở xuống) phải sai người ở ra chợ tranh nhau mới mua được thịt cá....
Thiếu tiền chính phủ đặt ra cả trăm thứ thuế mới kỳ cục, thuế hội hè, thuế san bằng (?) thuế che chở khỏi lạnh (?) thuế số nhà, thuế cửa sổ, thuế về răng, về đầu (?), thuế hối lộ (?) ......, lại bắt dân trồng thẩu như trên đã nói để bán cho Nhật, và hể thiếu tiền là in thêm giấy bạc, lạm phát tới mức kinh khủng.
Kinh tế như vậy thì công chức tất phải tham nhũng, nạn hối lộ là nạn truyền thống của dân tộc Trung Hoa, thời này phát mạnh hơn hết thảy thời nào khác thành một quốc sách bắt dân gián tiếp trả tiền lương cho công chức. Mua quan bán chức, đĩ điếm, cờ bạc , cướp bóc .... xã hội cực kỳ sa đọa. Có kẻ kiêm bảy chức vụ lãnh bảy đầu tháng lương, lâu lâu mới tới nhiệm sở 1- 2 giờ.
Lạ lùng nhất là không có luật tổng động viên , hễ thiếu lính là người ta ra ngoài đường , vào thôn quê , gặp ai bắt nấy, lấy dây thừng hoặc dây chì cột lại thành một đoàn, đem về nhốt, có khi không cho ăn uống nữa, rồi chẳng học tập gì cả bị đưa ngay ra mặt trận. Người nào không muốn đi lính thì thuê tiền cho người khác đi thay; kẻ nào trốn thoát được thì thôi, chẳng tìm bắt lại; tìm làm chi cho mất công, lại ra đường phố mà bắt kẻ khác. Trung Quốc có tới non 500 triệu dân mà!
Trong số 2 triệu, 2 triệu rưỡi quân. Tưởng cũng có được một số quân giỏi do Đức huấn luyện sau khi Tưởng tuyệt giao với Nga, họ được trọng đãi, không thiếu ăn, thiếu mặc, tinh thần cao , như những đạo quân đã thắng Nhật ở Thượng hải và Đài Trang Nhi. Nhưng đại đa số là lính của bọn quân Phiệt sáp nhập vào quân chính phủ, không được luyện tập, chỉ tuân lệnh chủ tướng của mình thôi, mà bọn đốc quân này Tưởng không sao cách chức, rút quyền được. nếu chính phủ phát đủ lương cho quân của bọn đốc quân đó mà họ thể ăn cắp được bằng cách ghi tên các quân ma, thì họ còn tuân lệnh , và quân của họ còn chịu chiến đấu một chút, nếu không thì họ hoặc ăn cướp, hoặc giao thiệp ngầm với Nhật. Số quân ma sao mà nhiều thế! Đầu chiến tranh Trung Nhật, Tưởng có độ hai triệu rưỡi quân, năm nào cũng bắt thêm lính, tới cuối thế chiến tồng số quân cứ tăng đều đều như vậy thì phải lên tới mười một triệu , mà sự thực chỉ có ba triệu rưỡi. Số quân đào ngũ chết vì bệnh, nhiều quá. Người ta không thèm xóa sổ những quân chết, đào ngũ, hoặc đưa đi nơi khác. Có nơi đáng lẽ còn 300 quân thì sự thực chỉ còn 100. Tướng tá tha hồ làm giàu.
Có những đoàn quân qua phía Cộng, hoặc phía Uông Tinh Vệ theo Nhật. Họ đào ngũ từng đoàn , một sư đoàn lính gốc Tứ Xuyên , từ Bắc xuống Nam , khi vô Tứ Xuyên có 7000 người, khi rời Tứ Xuyên chỉ còn 3.000.
Là vì lính Quốc gia khổ quá, thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu y sĩ 10.000 quân mới có một y sĩ hoặc y tá) thiếu thuốc ( kí ninh thì các tướng tá đem bán chợ đen), thiếu điện thoại để liên lạc, thiếu xe vận tải , thiếu khí giới . Ở ngoài mặt trận họ phải bắt chuột , đào rể cây để ăn , gặp được một đống rác của Mỹ thì họ mừng quýnh. Người lính nào cũng bị bệnh này hay bệnh khác, sốt rét, kiết lị, lao, ghẻ lở ....
Còn sĩ quan của họ đi tham quan ngoại quốc thì kẻ nào cũng chở từng xe cam nhông xa xí phẩm về, giày dép, đồ lót mình, phấn, nước hoa, đĩa hát, máy hát, có kẻ đeo trong mình bốn chục chiếc đồng hồ!
Các sỉ quan ngoại quốc đều nhận rằng lính Trung Hoa can đảm, có sáng kiến, lanh lợi, hễ được đủ ăn, đủ mặc, đủ thuốc men, được đối đãi như con người chứ không phải con thú thì chiến đấu còn giỏi hơn lính Nhật. Chỉ bọn chỉ huy của họ là bê bối, vô nhân đạo, vô trách nhiệm, làm cho chính phủ Dân Quốc suy sụp .
Tưởng Giới Thạch biết hay không những bê bối đó? Nếu không biết được hết thì cũng biết được một phần. Vì những cố vấn Mỹ của ông như Stillwell đã có lần phàn nàn với ông, đòi ông đuổi bộ trưởng chiến tranh Hà Ứng Khâm đi. Nhưng biết mà không làm gì được cả. Kẻ có tội đều là nhóm thân tín của ông, đuổi hết thì làm việc với ai? Dùng ai để thay họ? Biết ai đáng tin mà dùng?
Cho nên từ khi lên Trùng Khánh , ông không ra khỏi dinh bằng đá và hầm bọc sắt của ông, cứ một mình trầm ngâm suy nghĩ ra hết chỉ thị này đến sắc lệnh khác, chẳng cần hỏi ý kiến ai, có khi sắc lệnh ban chiều trái ngược với sắc lệnh ban sáng.
Ông rất thích nghe đĩa “ Cầu nguyện Thánh mẫu ( Ave Maria) “, và ông viết được cuốn Destinées de la Chine ( Vận mạng của Trung Hoa). Tôi không thấy sách Trung Hoa nào nói về cuốn này cả, không biết tên Trung Hoa của nó.
Theo Brieux, Lévy thì trong cuốn đó ông đề cao nhiều đức của Khổng học: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, ( ngũ thường) đạo quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu ( ngũ luân) . Rồi ông đưa ra một kế hoạch kinh tế, không thiết thực chút nào cả. Ông bảo phải kỷ nghệ hóa Trung Quốc, phải xây dựng lại những gì . Bảy trang đặc những con số, đại khái như dưới đây:
Xây 140.000 cây số đường xe lửa, cứ 10 năm xây 20.000 cây số.
- 1 triệu cây số đường lộ
- 14 triệu tấn tàu thủy
- Tạo 40 triệu mã lực
- 9 triệu máy điện thoại
- 120.000 phi cơ
- 7.617.210 xe hơi “ tinh xác thế !)
Đào tạo 206.000 kỹ sư ( tại sao không phải là 200.000 hoặc 210.000?)
- 232.5000y sĩ ( tại sao lại lẻ như vậy?)
- 55.000 kỹ sư
.........
Ông còn đi vào chi tiết nữa, mỗi năm phải sản xuất bao nhiêu đậu xanh ( petit pois), bao nhiêu găm xe đạp (!) ....
Ông dẫn lời trong Kinh Lễ, trong Quản Tử, khen vua Vũ, nhà Hạ là kinh tế gia đầu tiên của nhân loại ... Ông bàn rộng ra cả về nhân chủng học, ngôn ngữ học, luật học ....
Ông cho in 200.000 bản (1) bắt tất cả các công chức , sĩ quan, giáo sư phải mua đọc rồi ghi lên nhận xét, ký tên trình lên ông, bắt tất cả các sinh viên phải học, đem ra thỏa luận - Cấm chỉ trích dĩ nhiên.
Giọng ông rất gay gắt khi mạt sát ngoại nhân Anh, Pháp, Mỹ đã làm cho Trung Quốc suy vi mà ông đương phải nhờ cậy họ. Các công chức cao cấp dọc xong, đâm hoảng, vội lén lút thu hồi các bản đã phát hành, nhưng còn đâu nữa!
Cuốn đó sau được in lại, sửa chữa rất nhiều, bày bán ở Mỹ, Phillipe Jaffe dịch ra tiếng Pháp ( Amiot- Dumont- Paris 1949) và phê bình. Lúc đó người Mỹ mới được đọc nó, hết cảm tình với Tưởng và bỏ rơi Tưởng khi Tưởng thua Mao, Tưởng phải bay qua Đài Loan.
Ông “đổi không gian lấy thời gian”. Không gian ông đã mất nhiều, mà thời gian ông cũng bỏ phí. Trong mấy năm đầu ở Trùng Khánh , ông không chuẩn bị được gì cả, quân đội của ông mất tinh thần , kỹ nghệ không thể phát triển được, mỗi ngày, mỗi nghèo. Ông hy vọng ở Anh, Mỹ, Pháp cứu ông để diệt Nhật, chứ tự ông thì không thể làm gì được.
Khi thế chiến nổ, ông đứng về phía Trục, Anh, Pháp bị Đức đánh tơi bời tự cứu không xong. Còn Mỹ thì không muốn tham chiến ở châu Âu, chỉ giúp Anh được ít tàu chiến , khí giới dưới hình thức là cho vay, cho mượn, đồng thời cũng bán cho Nhật dầu lửa , sắt, manganèse, bông mà chẳng giúp được gì cho Trung Hoa cả, vì Trung Hoa đã bị bao vây rồi. Rốt cuộc Tưởng chỉ nhận được ít tiếp tế của Nga theo đường Tân Cương, thế của ông mỗi ngày một yếu.

*(1) Có sách nói là hằng triệu bản, chắc là trong lần tái bản

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-30 18:46:54ct.ly>
Cộng sản ở Diên An

Trong khi đó, Cộng sản ở Diên An mỗi ngày mỗi mạnh. Sau khi thành lập mặt trận thống nhất Mao tự do hoạt động ở Tây Bắc, ảnh hưởng của ông bắt dầu lan ra. Tướng Lâm Bưu thắng Nhật một trận khá lớn, uy thế tăng lên dân chúng theo đông. Đảng viên được lệnh quân Nhật tới thì phải ở tại chỗ tổ chức bí mật, du kích, ám sát, phá đường, đánh cướp xe địch để lấy võ khí. Những khu đó thành khu giải phóng . Mới đầu là khu Sơn Tây, rồi lan ra thành khu Sơn Tây- Hà Bắc- Hà Nam. Họ chế tạo súng , lựu đạn, thuốc súng, súng liên thanh, máy thâu thanh..... trong những khu giải phóng, họ tổ chức bầu cử , khuyến khích phát triển kinh tế, mở các tiểu công nghệ . Năm 1939, họ có 500.000 quân chính qui và du kích. Dân quân đông hơn nhiều. Những công đó phần lớn của đệ bát lộ quân.
Ở miền An Huy tân đệ tứ lộ quân ( có sách gọi là đệ ngũ lộ quân) phát triển cũng rất mạnh gân như làm chủ cả miền hạ lưu Dương Tử. Khi họ mới thành lập trở lại, nông dân đem các khí giới cũ đã chôn giấu lại tặng. Họ tập hợp lại rất đông, chẳng bao lâu quân số từ 13.000 tăng lên 30.000 rồi 60.000. Trong tám tháng họ đánh trên 200 trận , thu được trên 1.500 súng trường, 32 súng liên thanh của Nhật.
Thấy họ phát triển mau quá, Tưởng lo ngại, coi họ mới đáng sợ hơn Nhật, tìm cách diệt. Và đầu tháng giêng 1941, xảy ra một vụ làm toàn dân Trung Hoa phẩn uất. Tưởng Giới Thạch ra lệnh cho họ bỏ khu vực họ đang hoạt động ở phía Nam sông Dương Tửmà vượt sông đó, lên phía Bắc tập hợp với đạo quân thứ VIII của Cộng). Họ không hiểu tại sao lại bỏ khu vực đó cho Nhật chiếm trở lại, nhưng họ cũng vẫn tuân lệnh. Cuối 1940 họ bắt đầu lui quân, đầu tháng giêng 1941, ở phía Nam chỉ còn 8.000 quân với những cán bộ trong bản dinh, ban chính trị, y tế ..... Khi họ mới lên đường , tới một khúc hẻm trong núi thì bị 80.000 quân ( của Tưởng) phục kích. Viên chỉ huy, Yeh Ting (?) bị bắt sống . Viên phó mất tích, 8000 người bị giết. Chính phủ Trùng Khánh làm thinh. Nhưng tờ báo Cộng sản ở đó (vì Mao đặt một phái bộ ở Trùng Khánh do Chu Ân Lai chỉ huy, Chu được thế giới nhận là một nhà ngoại giao giỏi, nhã nhặn, tươi cười, lễ độ, bình tỉnh mà thông minh) bất chấp cơ quan kiểm duyệt, cứ đăng đủ chi tiết. Viên chủ nhiệm tờ báo bị bắt. Chu Ân Lai nhận mọi việc do ông cả, ông chịu trách nhiệm. Tưởng không giám giam Chu sợ toàn dân Trung Hoa và cả thế giới nữa cho rằng ông không lo đánh Nhật mà chĩ lo diệt Cộng. Ông tuyên bố với thông tín viên ngoại quốc rằng đạo quân đó có ý làm phản,nên phải diệt.
Một thông tín viên ngoại quốc, Archibald Kerre bảo thẳng với một sĩ quan cấp tá của Tưởng “ Thật là một chuyện ghê gớm”.
Từ đó mặt trận thống nhất chỉ có danh mà không có thực. Cả hai bên đều giữ miếng, Tưởng không nghĩ tới chuyện kháng Nhật nữa, lại lo bao vây Cộng.

Giai đoạn sau, trong thế chiến 1941 – 1945.
“ Sáng ngày mùng 8 tháng 12- 1941, đường phố Trùng Khánh ồn ào náo nhiệt lên, có tiếng rao của trẻ bán báo: “ Số đặc biệt” . Thiên hạ đổ xô ra mua rồi tụ họp nhau bàn tán.
“ ...... Cả Hội đồng quân sự hoan hỉ, Tưởng Giới Thạch sung sướng tới nỗi hát một điệu tuồng cổ và cho chạy đĩa hát Ave Maria suốt ngày. Các công chức Quốc Dân đảng mặt mày tươi rói, chúc mừng nhau ríu rít. Họ cho đó là một thắng lợi lớn, họ chỉ mong có vậy thôi mong Mỹ đánh Nhật! A , bây giờ thì Mỹ và Nhật choảng nhau rồi! Trung Hoa lại sắp hóa ra quan trọng hơn nữa. Tiền bạc và khí giới Mỹ sắp tuôn vào, Mỹ sắp cho vay và cho mượn nửa tỉ chứ không phải là số tiền bần tiện như trước nữa”.
Han Suyin ( Hàn Tú Anh) – Tác giả cuốn Một mùa hè vắng bóng chim (1) – lúc đó ở Trùng Khánh , đã ghi lại nỗi vui mừng của chính quyền Quốc Gia như trên, sau khi hay tin phi cơ Nhật chỉ trong mấy giờ , sáng ngày 7 – 12- 41, tiêu diệt trọn hạm đội mạnh nhất của Mỹ ở Thái Bình Dương, đậu tại Trân Châu cảng( Pearl Harbour), quân đảo Hawai (2). Thế là Mỹ tuyên chiến với Nhật, Đức, Ý và từ nay Trung Hoa, Mỹ, Anh phải liên kết với nhau. Trung Hoa thua tức là Mỹ, Anh cũng thua. Trung Hoa cầm chân được 20.000 quân Nhật thì đỡ cho Mỹ, Anh 20.000 quân địch . Một phi trường Trung Hoa, một xưởng chế tạo khí giới của Trung Hoa vào tay quân Nhật... đều thiệt hại cho cả Mỹ và Anh.
Đầu năm 1942, Mỹ , Anh long trọng mời Trung Hoa vào phe Đống Minh, và xóa bỏ hết các điều ước bất bình đẳng từ trước để cảm ơn Trung Hoa. Bỗng nhiên Trung Hoa , thành một trong bốn đại cường quốc: Mỹ, Nga, Anh, Trung .... Vẻ vang cho Trung Hoa, nhất là cho Tưởng biết bao!
Nhật thắng rất mau. Từ 1927, họ đã có một kế hoạch làm chủ Đông Á, do nam tước Tanaka, bộ trưởng bộ chiến tranh trình lên Nhật hoàng. Họ đã thực hiện được một phần kế hoạch đó: chiếm Triều Tiên, Mãn Châu, lấn vào Hoa Bắc, làm chủ được miền bờ biển Hoa Trung và Hoa Nam.
Nay diệt được hạm đội Mỹ ở Pearl Harbour, họ chiếm Hương Cảng, Phi Luật Tân, Mã Lai, Bornéo, đánh chìm hai chiến hạm lớn của Anh( Repulse và Prince of Wales), đổ bộ lên Singapour ... Ở lục địa, họ làm chủ Đông Dương, Thái Lan, Miến Điện, tiến tới biên giới Ấn Độ. Chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại có một cuộc chiến thắng chớp nhoáng, rực rỡ như vậy. Cuộc chiến thắng của Đức ở Pháp năm 1940 không thấm vào đâu.
Nhưng Nhật không ngờ rằng càng chiếm được nhiều đất xa thì sức càng yếu đi, mà sức quật cường của Mỹ trong khi đó tiến rất nhanh. Lại thêm nỗi lại hậu phương tức Trung Hoa, Nhật chưa bình định được: Trung Hoa được Mỹ , Anh viện trợ rất nhiều, có tướng Mỹ Stillwell làm tư lệnh tối cao cho mặt trận Trung Hoa, phụ tá cho Tưởng Giới Thạch.
Thực ra, về phía Dân Quốc , Nhật không có gì phải lo cho lắm, Tưởng vẫn theo chủ trương kẻ thù số một là Cộng. Nhật chỉ là kẻ thù thứ nhì, đòi Mỹ, Anh viện trợ thật nhiều, nhưng để dành đó đánh Cộng, còn việc đánh Nhật thì lơ là, để cho Mỹ lo gần hết.
Năm 1942, Nhật kêu gọi Tưởng liên kết với mình diệt thực dân da trắng, lập khu vực Đại Đông Á. Uông Tinh Vệ ở Nam Kinh làm tay sai cho Nhật, dụ dỗ phe Tưởng và phe Tưởng cũng có một số người nghe vì thấy Mỹ, Anh thua Nhật liểng xiểng.
Năm 1943, Quốc Dân đảng dùng một thủ đoạn đại quỉ quyệt. Khi bị Nhật tấn công, nhiều đơn vị Quốc Dân đảng được phép đầu hàng Nhật. Rồi nhiều tướng tá đào ngũ, đem khí giới qua chính quyền bù nhìn của Uông Tinh Vệ. Như vậy đỡ phải nuôi các quân đó, mà gởi Uông - tức Nhật – nuôi dùm rồi sau này dùng họ để đánh Nhật. Nhật cũng có lợi- trước mắt : bớt được một số địch, thêm được một số quân trên mặt trận Trung Hoa, như vậy có thể rút bớt quân để đem chiếm đánh các nơi khác ở Đông Á.

Có khi Nhật dùng ngay những quân đầu hàng đó để đánh Cộng sản, Tưởng càng mừng nữa, Mỹ không thể trách vào đâu được.
Như vậy năm 1943, có tới 42 tướng , 70 sĩ quan cấp tá và 500.000 quân lính quốc gia đưa qua mặt trận Nhật, giảm chiến phí cho Tưởng được bộn. Thủ đoạn của Tưởng đó, Brieux và Han Suyin đều chép theo báo Cộng sản. Tôi không dám chắc là đúng hẳn, nhưng quả thực là quân của Tưởng qua Uông khá đông.
Cũng năm đó, Tưởng tính rút quân trên mặt trận chống Nhật , để tấn công đạo quân thứ VIII của Cộng sản, sau đó lại thôi, vì sợ dư luận quốc tế, mà cũng vì tướng của Tưởng sợ tài du kích của Cộng sản, không chịu đưa quân ra trận.
Các quân nhân Mỹ thấy chính sách của Tưởng như vậy, tinh thần của tướng Quốc gia như vậy, nên bất bình, tỏ vẻ khinh ra mặt. Người bị tướng Stillwell chê nhất là Tưởng Giới Thạch : “ Chính quyền Trung Hoa ở trong tay một người ngu dốt, độc đoán đoán , bướng bỉnh, chỉ dùng sự đàn áp và tư sủng mà đứng được ... Ông ta biết những sự gian lận , thối nát mà không có cách nào trừ được”.
Ở khu Cộng sản, tình hình trái hẳn. Những phi công Mỹ thả bom Nhật mà hạ xuống khu Cộng sản thì được tiếp đón niềm nở, săn sóc rồi đưa về khu Quốc dân, họ được thấy một đạo quân có kỷ luật , không cướp bóc của dân, tinh thần hy sinh rất cao, nên ngạc nhiên không hiểu sao chính quyền họ lại giúp Tưởng . Cộng sản tuyên truyền thật khéo léo.
Năm 1942, phó tổng thống Mỹ Hennry A. Wallace đi tham quan Trùng Khánh rồi Diên An. Khi trở về, phấn khởi lắm, vì ở Diên An , rõ ràng là người ta hăng hái kháng Nhật. Người ta không xin viện trợ máy bay, xe thiết giáp, súng đại bác mà chỉ xin plastic ( chất nổ) , súng trường , bazooka. Vừa chiến đấu, người ta vừa sản xuất, để tổ chức hành chánh.
Những nhận xét đó đúng, vì tôi thấy vài tác giả phương Tây cũng khen Cộng sản như vậy. Ở Diên An người ta có kỷ luật, có tinh thần hơn ở Trùng Khánh, không tham nhũng, và năm 1942, Mao chỉ dùng du kích chiến thì xin máy bay và xe thiết giáp để làm gì? Nhưng có lẽ đó chỉ là bề ngoài.
Theo tập nhật ký 1942 – 1945 của người Nga – Vladimirov, một phái viên liên lạc của Quốc tế Cộng sản bên cạnh ban chấp hành Trung Ương Cộng sản Trung Hoa ở Diên An ( bản dịch của Hà Nội) thì Mao cũng quá quắt lắm. Cộng sản Trung Hoa trước sau bao giờ cũng mong cho Nhật quấy phá Tưởng để Tưởng yếu đi. ( Coi vụ Mãn Châu) , năm 1937, do lòng dân mong mỏi mà Tưởng và Mao lập mặt trận thống nhất chống Nhật. nhưng chỉ hơn một năm sau, mặt trận đó hữu danh mà vô thực, cả hai bên đều giữ miếng nhau, lơ là việc đánh Nhật, bảo toàn lực lượng để sau sẽ diệt lần nhau, và năm 1939, họ đồng tình phá sự thống nhất. Từ đó Cộng cũng lo đánh Quốc hơn là đánh Nhật, cũng trồng và bán thuốc phiện cho Nhật. Đặng Bảo Sơn là vua thuốc phiện ở khu Cộng, Mao cũng ngầm ra lệnh cho tân tứ quân tiếp xúc với viên chỉ huy quân đội chiếm đóng Nhật .... Tóm lại, là cũng dùng tất cả những thủ đoạn của Tưởng. Có lẽ chỉ kín đáo hơn thôi, người Mỹ không biết được.
Năm 1944, Mỹ lấy lại được các đảo ở Thái Bình Dương, tính bao vây Nhật, Nhật vội vàng mở trước một ngã thoát, tấn công ồ ạt Trung Hoa, chiếm trọn Hà Nam, một tỉnh giàu nhất miền Bắc, rồi hai đạo quân cùng tiến theo xe lửa Quảng Châu- Hán Khẩu, một khởi hành từ Nam, một khởi hành từ Bắc, gặp nhau ở Trường sa, cắt Trung Hoa làm hai. Họ dẹp hết quân Trung Hoa trong khu vực từ đường sắt đó ra tới biển . Cuối năm đó, Mỹ mất hết căn cứ ở miền Đông Nam Trung Hoa
Ở Trùng Khánh là một cảnh hoảng loạn chưa từng thấy. Kẻ giàu có thì đem vàng mua vé máy bay để trốn. Trên các đường lại có hàng triệu người tản cư như năm 1937, chết đói, chết rét ....
Quân đội tan rã. Sĩ quan chỉ nghĩ tới lợi riêng, sát phạt nhau để chiếm một miền phì nhiêu, quân lính chỉ lo cướp bóc dân chúng.
Ở Diên An dân chúng rất bình tĩnh kháng Nhật, không suy sụp về kinh tế; nhờ quân , dân cùng chung sức nhau khai thác đất đai, mục súc. thấy vậy, Nhật cho phe Quốc không đáng lo chút nào cả, đem toàn lực lượng để dẹp Cộng , dùng cả hơi độc. Cả hai bên đều thiệt hại nặng ở Hà Bắc. Chiếm được khu nào, Nhật tàn phá mùa màng, khủng bố nhân dân, phá hết các đồ đạc, dụng cụ , đốt hết lúc thóc. Có những thị trấn trên 150.000 người bị san thành bình địa, như thị trấn Thường Đức ở Hồ Nam (3)
Cộng sản phản công, đem những lực lượng rất hùng hậu, hạ đồn Nhật, diệt Hán giang. Cả hai bên đều dùng chính sách khủng bố. Quân của Uông Tinh Vệ đào ngũ, qua phía Cộng. Lần lần, Cộng lấy lại được thế mạnh, cùng nỗi dậy, đánh du kích quân Nhật ở khắp nơi, lập được những khu giải phóng ở bờ biển để đội quân Đồng Minh đổ bộ lên.
Một tờ báo Nhật nhận định đúng tình hình đó, viết : « Kẻ thù chính của chúng ta là cộng sản. Họ biết gây ý thức quốc gia và quyết chiến với ta. Còn quân Trùng Khánh thì mất hết ý chí chiến đấu rồi ».
Nhưng qua năm 1945, áp lực của Mỹ càng ngày càng làm cho Nhật thêm khốn. Tháng 4, Mỹ đổ bộ lên Okinawa, tháng 6 chinh phục đảo đó. Tháng 7 giải phóng hoàn toàn Phi Luật Tân .
Quân Trung Hoa cả hai phe biết rằng chiến tranh sắp chấm dứt, phấn khởi lên, phản công, chiếm lại nhiều thị trấn, phi trường trong các tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam, Chiết Giang, thu lại nhiều đất đai ở Quảng Tây, Phúc Kiến, dồn quân Nhật qua Đông Dương và chiếm Móng Cáy.
Mỹ trút bom xuống các đô thị, trung tâm kỹ nghệ, hải cảng Nhật, khi Đức đầu hàng rồi. Mỹ càng lo giải quyết gấp với Nhật. Ngày 29- 7 chính phủ Nhật bác bỏ tối hậu thư của ba nuớc Mỹ, Anh, Trung Hoa. Tối hậu thư đó thảo ra sau cuộc hội nghị ở Postdam, chỉ cho Nhật lựa một trong hai điều : đầu hàng không điều kiện hoặc bị tiêu diệt.
Trong mấy tháng đó, Tưởng càng muốn lấy lòng Mỹ, tỏ ra tự do, dân chủ, thay đổi vài nhân viên trong chính quyền, dùng lại Tống Tử Văn mà người Mỹ tin cậy, cho làm chủ tịch viện Hành chánh tức như Thủ tướng . Giao bộ thông tin cho Vương Thế (4) một người liêm khiết được cảm tình của Mỹ và ra lệnh nới tay trong việc kiểm duyệt. Ông ta cho bầu lại Ủy Viên Hội đồng hành chánh và Ủy viên hội đồng giám sát.
Phe tả hy vọng được nhiều đại biểu trong chính quyền. Nhưng Tưởng lập sẵn một danh sách 480 ứng cử viên cho Quốc dân tự ý gạt bỏ 20 người ( 5) . Chỉ có 200 người chịu lối bỏ phiếu chỉ định đó. Tưởng lại còn ra lệnh mỗi cử tri phải ký tên lên lá phiếu của mình. Tới mức đó thì chỉ có vài người can đảm không bỏ phiếu, còn bao nhiêu tuân lệnh răm rắp. thế là đảng của Tưởng thắng, tay sai của Tưởng vẫn ngồi đầy trong các cơ quan từ quân đội tới đại học. Toàn quốc ghê tởm trò đó.
Rồi hai trái bom nguyên tử nổ ở Nhật, Nhật đầu hàng không điều kiện.


*(1) Hàn Tú Anh . Một mùa hè vắng bóng chim, Nguyễn Hiến Lê dịch - NXB Hội Nhà văn 1990
*(2) Theo J J Servan Shreiber trong cuốn Le Défi mondial Paris 1980. thì tổng thống Mỹ Roosevelt đã hy sinh hạm đội đó để nhử Nhật, Nhật diệt hạm đội đó thì dân chúng Mỹ mới phẩn uất , cho ông quyền được tham chiến bên cạnh Đồng Minh. Từ đầu thế chiến dân Mỹ vẫn chỉ muốn trung lập và ông đã hứa với dân sẽ trung lập để họ bầu ông trong nhiệm kỳ thứ ba, điều đó rất đặc biệt , chưa tổng Thống nào được vinh dự ấy
* (3) Tỉnh Hồ Nam này năm 1941 mất mùa rồi lại bị nạn châu chấu, dân đói quá phải ăn lá cây, một cân lá giá năm viên. Trên đường rải rác xương người, có tới ba triệu người chết đói.
* (4) Tôi không thấy chữ này trong Từ Hải và Từ Nguyên.
*(5) Cộng sản cũng dùng lối bỏ phiếu đó.
Đăng nhập để trả lời
0
G. LẠI NỘI CHIẾN - TƯỞNG THUA

Hai bên chạy đua nước rút.

Bổng nhiên, Tưởng được cái danh là thắng Nhật, cứu quốc. Sự thực ông chỉ đứng về phe thắng Nhật thôi, nhưng dân tộc Trung Hoa cũng đã phải hy sinh tới 3 triệu người.
Năm đó ông 58 tuổi ( 1887 – 1945) ngôi sao của ông lên đến cực điểm. Cả nước tưng bừng , mà các nhà cầm quyền Quốc và Cộng thì tíu tít. Tới lúc phải chạy nước rút để chiếm cho được thật nhiều đất
“ thử xem rồi đây thiên hạ về ai?”
Theo thỏa hiệp giữa các Đồng Minh ở Yalta thì Nga sẽ giải giới Nhật ở Mãn Châu, còn từ Vạn Lý Trường thành trở xuống. Trung Hoa sẽ giải giới. Tức thì Chu Đức ( tướng Cộng) ra lệnh cho quân đội chiếm tất cả những nơi có quân Nhật từ sông Dương Tử lên tới trường thành, rồi tiến lên Mãn Châu , Mông Cổ để hợp với quân Nga. Còn Tưởng thì ra lệnh cho đạo quân thứ VIII và thứ IV của Cộng không được dời chỗ, và ra lệnh cho Nhật chỉ được giao khí giới cho quân Quốc gia.
Tưởng lại đánh điện mời Mao đến Trùng Khánh thương thuyết. Mao đòi những thị trấn lớn nào có khá đông Cộng sản thì bên cạnh thị trưởng Quốc dân đảng thêm một phó thị trưởng Cộng sản . Tưởng không chịu, muốn Trung Quốc là một quốc gia thống nhất, các tỉnh trưởng phải tùy thuộc trung ương. Mao cũng không chịu, lấy lẽ rằng Trung Quốc có nhiều miền rất khác nhau, nên dùng chính thể liên bang , mỗi địa phương có quyền tự trị rộng rãi.
Sau cùng, những cuộc thương thuyết , Quốc đã chiếm được nhiều đất rồi, muốn giải quyết bằng vũ khí cho mau.
Trong mấy năm kháng Nhật ( 1938- 1945) lực lượng của Quốc suy đi mà của Cộng thì mạnh hơn. Khi Nhật đầu hàng , Cộng đã làm chủ gần hết Hoa Bắc, trừ những thị trấn lớn , nhiều miền ở Hoa Trung và một số điểm ở Hoa Nam; Năm 1935 họ chỉ có 30.000 quân thì bây giờ có 910.000 quân chánh qui với hai triệu dân quân. Khi nhờ sự đồng tình của Nga, họ chiếm được Mãn Châu thì toàn thể số dân họ chiếm được là 130 triệu . Đảng viên của họ lên tới 1.200.000. Sức mạnh của họ về quân số , ngang với Quốc. Võ khí còn kém nhưng họ có kinh nghiệm hơn, có tinh thần chiến đấu, được lòng dân hơn. Còn về phía Quốc thì được cái danh là một trong tứ hay ngũ cường, nhưng quân đội và công chức đã mất sự hăng hái buổi đầu, nhiều kẻ hóa tham nhũng, mà kinh tế suy đến cùng cực rồi. ( Coi nạn lạm phát nói ở trên).
Nhưng năm 1946, Tưởng được Mỹ giúp rất nhiều: đủ các thứ phi cơ phóng pháo lớn nhỏ, vận tải; hằng ngàn cam nhông, xe lửa, tàu chiến nữa ... để chở quân đội quốc gia lên phía Bắc mà giải giới Nhật cho mau trước khi Cộng tới.
Ở Hoa Trung, Cộng phải rút lên Mãn Châu, lên Tứ Xuyên. Họ cũng được Nga giúp đỡ nhưng ít, Nga không nhiều phương tiện như Mỹ , vả lại Nga muốn giữ lới hứa với Đồng minh Mỹ, Trung Hoa, không muốn ra mặt giúp Cộng. Có thể còn do lẽ Staline không ưa Mao, cho thứ Cộng sản của Mao chỉ là giả hiệu ( Communisme à la margarine : Margarine là chất béo ở trong dầu như dầu đậu phụng chẳng hạn, tạm thay bơ – “ beurre” - chất béo ở trong sửa bò), vì Mao không theo đúng thuyết của Marx, dùng thợ thuyền để làm cách mạng, mà dùng nông dân . Nông dân dù bần cố nông đi nữa thì cũng còn óc tư hữu không thực là cách mạng; lại thêm cách mạng của Mao có tính cách quốc gia – nationaliste - chỉ giải phóng quốc gia thôi, thiếu tinh thần quốc tế .
Nga chỉ giúp Mao được hai việc:
1- Tước khí giới của Nhật rồi giao cho Mao ( những thị trấn ở Mãn Châu thì giao lại cho Tưởng) còn các nhà máy , đường xe lửa thì Nga chở hết về nước để kiến thiết lại xử sở.
2- Phái Thống chế Timochenko qua dạy cho quân đội Cộng cách chiếm các thị trấn lớn, các đường xe lửa, làm cố vấn cho Cộng trong mặt trận ở Mãn Châu và ở Hoa Nam, phái Thống chế Joukov - người đã thắng Đức- qua huấn luyện du kích quân của Mao đánh những trận chinh chiến ( hai bên dàn quân thành mặt trận ). Tóm lại , Nga chỉ giúp về chiến thuật và võ khí giải giới của Nhật thôi.
Vì vậy năm 1946. Quốc tiến thì Cộng phải lùi, nhưng lùi theo đúng một chiến lược khôn khéo, để cho quân của Tưởng yên ổn chiếm các thị trấn mà không kháng cự gì cả. Những thị trấn đó lần lần thành gánh nặng trên lưng Tưởng.
Sức Quốc Dân đảng tiêu ma lần vì phải chiếm đóng các thị trấn giống các đồn lũy, tự nhốt mình trong đó, các tướng tá không chịu ra khỏi mấy bức thành, sợ giao chiến , sợ bị phục kích, chung quanh thị trấn, Cộng sản tự do tổ chức thôn dã, khẩn hoang, trồng trọt.
Trong năm rút lui theo chiến lược đó, Mao dụng tạm để cho Hồ Tôn Nam chiếm Diên An. Biết Hồ sắp tới. Mao rút hết khỏi Diên An, không để lại một chút gì. Hồ vô, thấy Diên An trống rổng, tuyên bố rằng đã chiến thắng lớn. Sau đó Cộng quân nhử Hồ đi một vòng lớn khắp Hoa Bắc. Hễ Hồ tới thì Lâm Bưu phải lui. Hồ quay về thì Lâm đánh. Khi Hồ mệt mỏi rồi, Hồng quân mới xung phong và giải quyết rất mau. Tháng 5- 1947, Lâm Bưu dùng 300.000 quân chính qui với cả triệu dân , quân tấn công quân của Tưởng , bao vây Thẩm Dương, Trường Xuân, Cát lâm, Quân Quốc Dân dảng chạy tán loạn, bỏ lại quân nhu, khí giới , xe cộ.
Từ đó Cộng càng mạnh lên, mà Quốc Dân đảng càng lụn bại. Qua tháng 9- 1948 thì giai đoạn cuối cùng bắt đầu.

- Mỹ muốn hòa giải hai phe
Nhưng chúng ta hãy ngưng một chút để xét thái độ của Mỹ trong thời này đã.
Trước khi chết , tổng thống Mỹ Roosevelt dặn phải rán hòa giải Quốc và Cộng cho kỳ được. Ông không ghét Trung Cộng, thấy họ chiến đấu vì tinh thần quốc gia và chỉ theo chính sách tân dân chủ mà ông cho là đúng. Truman lên thay ông, theo chủ trương của ông, phái tướng Marshall qua, thay sứ thần Hurley, mà hòa giải Quốc và Cộng. Mấy lần Marshall thuyết phục hai bên đình chiến để hòa đàm. Ông lại ép Tưởng Giới Thạch áp dụng hiến pháp đã thảo từ mười năm trước, nay sửa lại ít nhiều trọng những tự do dân chủ.
Tưởng phải theo, tuyên bố hết thời kỳ huấn chính rồi, cuối tháng 10 – 1947 sẽ bầu cử quốc hội. Từ 21 đến 24- 10, 250.000 triệu dân đi bầu 2. 971 đại biểu.
Người ta lập danh sách và thẻ cử tri đàng hoàng, nhưng tới ngày bầu cử thì có người không nhận được thẻ, có người được 3- 4 thẻ và dùng tất cả , không được bầu kín, mà cử tri phải ghi tên người mình muốn bầu trước mặt một ông kiểm soát viên Quốc dân đảng , 95% dân quê không biết chữ thì có người của Quốc Dân đảng cầm tay vẽ cái dấu thay tên ứng cử viên A, ví dụ dấu + dân O thay tên ứng cử viên B .... việc đếm phiếu làm kín, và hai tháng sau mới có kết quả: có 2.045 ghế thì ứng cử viên chính thức ( của chính phủ giới thiệu) được 1516 ghế, trong số đó Quốc Dân đảng được 1342 ghế, còn 93 ghế của Đảng dân chủ, 81 ghế của đảng tân Trung Hoa.
Đảng Cộng sản không dự.
Dĩ nhiên Tưởng được bầu làm Tổng Thống: 2430 phiếu, địch thủ của ông là Chu Chang ( ?) 269 phiếu. Lý Tôn Nhân làm phó Tổng thống . Thủ tướng là ông Văn Hạo.
Marshall thấy trò bịp bợm đó của Tưởng chán nản bảo:
- “ Không thể cải cách gì được với con người phản động ( néactionnaire) đó”. Chắc Tưởng cũng chê lại Marshall là ngây thơ.
Trước sau, Quốc và Cộng họp nhau hai ba lần để Marshall tìm cách hòa giải nhưng làm sao hòa giải được? Khi Tưởng mạnh thì Tưởng muốn nuốt Mao, mà khi Mao mạnh thì Mao cũng muốn diệt Tưởng . Lẽ tự nhiên như vậy.
- Bây giờ ta trở lại cuộc tranh hùng của Tưởng và Mao.
Từ tháng 9 – 1948, Cộng ồ ạt tấn công. Chỉ trong ba tháng, Lâm Bưu chiếm được trọn Mãn Châu, Thiên Tân, rồi Bắc Kinh bị hạ trong hai tuần. Hoa Bắc vào trong tay Cộng, toàn là do công của Lâm Bưu.
Ông Văn Hạo từ chức Thủ tướng. Tôn Khoa vốn có cảm tình ít nhiều với Cộng ( vì nhận rằng Mao theo đúng chủ nghĩa dân sinh của cha) được Tưởng cử lên thay Hạo, hy vọng thương thuyết được
với Cộng, nhưng Mao đưa ra 8 điều kiện gắt quá. Tưởng không sao chấp nhận được.
Chiếm trọn Hoa Bắc rồi, Cộng tiến xuống Hoa Nam, ngày 10 –1- 1949 Tưởng đem hết lực lượng ra đánh canh bạc cuối cùng, tức trận Hoài Hải ( Huai Hai) mà các nhà quân sự cho là một trong những trận lớn trong lịch sử hiện đại ( có thể ví với trận Waterloo của Napoléon) ở khoảng 150 cây số phía Tây Bắc Nam Kinh. Chính Tưởng lựa địa điểm đó mặc dầu các chiến thuật gia của ông cản ngăn, ông tung vào đó nửa triệu quân mà Trần Nghị và độc long tướng quân Lưu Bá Thừa chặt ra từng khúc, rồi bao vây. Một đạo quân của Tưởng tới cứu, với rất nhiều khí giới nặng, nhưng khi hay tin Tưởng tính thả bom tiêu diệt tất cả thì quân Quốc Dân đảng đầu hàng Cộng. Vậy là trong 4 tháng từ 9- 1948 tới 1- 1959, Quốc mất non một triệu quân . Trận Hoài Hải lịch sử đó, tôi không thấy một sử gia nào nói tới , trừ Bianco.
Ngày 21 –1 Tưởng rút lui khỏi chính quyền, giao việc nước cho Lý Tôn Nhân và Hà Ứng Khâm.
Sau đó Cộng vô Nam Kinh ( Tưởng đã dời kinh đô từ Trùng Khánh xuống đó mấy năm trước). Hán Khẩu , Thượng Hải, ngừng một chút để gom lực lượng rồi vượt sông Dương Tử. Chỉ trong hai ngày mà 300.000 người qua được con sông rộng 1.600 thước đó.
Từ đấy quân của Lâm Bưu tiến như vũ bảo, còn nhanh hơn quân Cộng sản Việt nam, đầu năm 1975 nữa. Có ngày vượt 45-50 cây số. Tràng sa đầu hàng ngày 4_8, Phúc Châu bị chiếm ngay 17-8, Quảng Châu ngày 15 – 10 . Rồi tới Trùng Khánh , Thành Đô , Côn Minh, Tàn quân của Tưởng chạy qua Đông Dương hoặc trốn ở Hải Nam (đảo này sau bị Mao chiếm).
Ngày 1-10- 49 Mao tuyên bố thành lập nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Mao làm chủ tịch. Ngày hôm sau 2-10 , Nga đoạn tuyệt với chính phủ Dân quốc, thừa nhận chính phủ Cộng Hoà nhân dân. Tiếp theo là các nước cộng sàn ở Đông Âu: Roumanie, Bulgarie, Hungarie.... Ngày 21 612, Mao qua Moscou ( lần đầu tiên ông ta ra khỏi nước) để chúc thọ thất tuần của Staline và ký một hiệp ước tương trợ 30 năm với Nga, Anh do dự ít lâu rồi cũng thừa nhận để bảo vệ quyền lợi ở Hương Cảng.
Sau khi từ chức Tổng Thống, Tưởng về thăm quê hương rồi lên thăm Trùng Khánh, sang Phi Luật Tân, Ấn Độ thăm thủ tướng hai nước đó, bà Tống Mỹ Linh cùng qua Mỹ xin giúp đỡ, nhưng không được một kết quả gì cả.

Mặt trận Trung Hoa – MIÊN ẤN
Trong thế chiến II


( HÌNH BẢN ĐỒ)


Cuối năm 1949, Tưởng bay qua Đài Loan , mang theo vàng trong kho và những bảo vật, mỹ nghệ ở Bắc Kinh. Quân đội còn được 2 –3 trăm ngàn người theo ông qua đó.
Năm 1938 ông ta khôn khéo lựa tỉnh Tứ Xuyên để trốn. Lần này ông cũng sáng suốt , lựa Đài Loan ở trong hệ thống chiến lược của Mỹ . Mỹ sẽ không bỏ nó, tức không bỏ ông.
Mới ba năm trước, ông ta được toàn dân hoan hô, ngưỡng mộ thì bây giờ bị 85% dân chúng ( theo Han Suyin) từ bỏ, oán ghét đến xương tủy. Mỹ đã bỏ vào Trung Hoa bao nhiêu tỉ đô la, còn bị ghét hơn nữa. Phong trào bải Mỹ phát sinh từ tháng giêng năm 1947 trong giới sinh viên. Nguyên nhân là “ tụi Mỹ đi tới đâu là mở ổ điếm tới đó. Họ là một đạo quân chiếm đóng, hành động như một đạo quân chiếm đóng ....Cái gì họ cũng có quá nhiều, họ bán số thừa thãi để lấy tiền .... Có một số đàn bà giao thiệp với họ để kiếm son bôi môi, hàng lụa, vớ nilông, thức ăn. Họ mua quịt, hành hạ kẻ nào họ không ưa. Thành phố nào cũng hóa ra thối tha. Mọi người đều ghét họ, cả những người rút rỉa tiền của họ .... Họ muốn làm gì thì làm, chửi người ta, đấm đá cu li, buộc cu li phải chạy đua như bầy thú vật “ Han Suyin trong Một mùa hè vắng bóng chim”
Chính quyền Mỹ không thấy rằng hễ viện lẽ giúp một chính quyền thối nát mà đưa quân vô nước đó thì chỉ làm cho chính quyền đó mau sụp đổ, vì như vậy là làm cho nỗi bất bình của dân chúng tăng lên, rồi đồng hóa Mỹ với chính quyền đó. Họ đã phải cay đắng thua ở Trung Hoa mà không rút ra được một bài học, lầm lẫn trở lại ở Việt Nam trong những năm 1965 – 1974. Cảnh han Suyin tả ở trên, tôi cứ ngỡ rằng đã đọc trên một tờ báo nào ở Sài Gòn mấy năm đầu 70 .
Học giả nào ở Tây Phương cũng nhận rằng Tưởng có nhiều đức, có tư cách.
Từ đời Tống hay trước nữa. Trung Hoa đã rất nghèo, mặc dù rất văn minh. Mỗi lần lụt lớn rồi hạn hán thì dân chết hàng ức hàng triệu người. Cảnh nông dân phải bán vợ đợ con , đã có vài ba đứa con rồi mà sinh thêm con gái thì nhận nước cho nó chết hoặc bỏ ở bờ sông, lề đường, những cảnh đó xảy ra rất thường.
Nạn đói kinh khủng nhất xảy ra ở miến Sơn Tây, Thiểm Tây năm 1978 - 1979: Có tới từ 9 đến 13 triệu người chết đói. Dân các miền khác đỡ hơn, nhưng dân bất kỳ miến nào cũng lo đói: Tới gần đây mà ở Phúc Kiến người ta còn chào nhau: “Ăn cơm chưa ?”
Năm 1406 đã có những sách kể trên 400 thức ăn thay lúa gạo , như món bánh tráng làm bằng cây bông vải, cây gai, có thứ miến ( bún Tàu) làm bằng bột đá nghiền thật nhỏ, trộn với đất sét, vỏ cây, rễ cây. Năm 1946, những sách đó đã được in lại , như vậy có nghĩa là tình trạng chưa được cải thiện gì nhiều.
Hễ đói quá thì không còn lễ nghĩa, nhân đạo gì cả.
Trong cuốn Origines de la révolution chinoise, Bianco chép lại vài truyện rất bi thảm. Trong một gia đình nọ ở ranh giới hai tỉnh Tứ Xuyên và Thiểm Tây, người cha chết, mà người mẹ cũng suy nhược lắm rồi. Các con bàn với mẹ, đừng chôn cha vội, có thể mẹ cũng không sống được tới mùa hè, trước khi thây của cha hôi thối ; như vậy sẽ chôn cả hai một lần, đỡ tốn kém. Mẹ bằng lòng, và các con đặt quan tài vô trong phòng lạnh nhất : phòng mẹ nằm ; rồi chất đá lên trên nấp quan tài để cho khỏi ăn xác.
Họ nghèo nên đành bỏ chữ hiếu, mà lo cho người sống trước đã.
Chuyện chó ăn xác người, cũng như chuyện khoét thịt trẻ con, cả người lớn, không còn làm cho ai nữa.
Truyện thứ nhì do các nhà truyền giáo Mỹ kể lại. Một thiếu niên nhà nghèo quá, cha mẹ bán cho một gia đình không con. Sáu năm sau gia đình này sanh được một đứa con trai, bèn đuổi đứa con nuôi đi. Nó lang thang đi xin ăn cả tháng trong miền , chỉ còn xương bọc da. Cũng chỉ vì nghèo quá mà không còn chút tình người.
Truyện thứ ba : Một nông dân mới bị bắt lính không biết kỷ luật nhà binh bị lính canh kêu lại, chỉ vì trả lời trể mà bị một viên đạn vào phổi.
Trung Hoa là xứ của đạo Khổng ; một đạo rất nhân ái, mà người ta tàn nhẫn như vậy, coi đời sống nông dân không bằng đời sống một con trâu, một con ngựa ....
Theo Han Suyin ( trong sách đã dẫn) (1) tuy theo Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh, có lần nông dân bị bắt làm xấu giữa mùa cấy hay mùa gặt, nên nổi loạn – 2.000 người bị giết. lần khác 6.000 nông dân bị bắt lính đưa lên Tây Bắc tới nơi thì chỉ còn có 700 sống sót.
Chúng ta đã biết năm 1938, Tưởng cho phá đê Hoàng Hà để chận quân Nhật. Nhật không bị chận , mà một triệu dân chết vì lụt.
Chính Han Suyin đêm tối đi đỡ đẻ cho vợ một phu xe. Họ ở trong một cái chòi cất trên lề đường. Sản phụ nằm trên một tấm ván kê lên mấy cục đá giữa một chỗ nhơ nhớp, hôi thối. Không có một ngọn đèn, đứa nhỏ sanh ra, không có một cái tả để quấn. Han Suyin phải cho họ một chiếc khăn bông để quấn nó.
Cũng theo Han Suyin , ở Tứ Xuyên cứ hai người thì có một người nghiện. Chưa bằng một lần bà đi qua ở miền Quí Châu : làng có vài ba trăm nóc nhà , nhà nào cũng tiều tụy sắp đổ nát, và người dân nào cũng nghiện, y như những bộ xương biết đi. Bà thương hại đồng bào của bà « sống như loài vật trên một non sông tuyệt đẹp ».
Lời đó khiên tôi nhớ lại cảm tưởng của tôi lần đầu tiên coi một tấm hình kéo ghe chụp vào khoảng sau 1940, in ở trang 384 cuốn East Aisa – The Modern trasformation ( 1965) . Hai chục người sắp làm hai hàng . Người nào tay phải cũng nắm kéo một sợi dây, vai trái quàng vào sợi dây để lôi. Họ cúi gập làm đôi, mặt gầm xuống, bàn tay trái chấm đất. Ở trên nhìn xuống chỉ thấy hai dẫy lưng trần, không nhận kỹ thì tưởng là lưng một bày cừu
Han Suyin còn kể nhiều cảnh thương tâm nữa, tôi không thể chép hết được.
Đời sống của họ nhục nhã, điêu đứng như vậy mà Tưởng Giới Thạch , không lo cải thiện cho họ thì họ ùn ùn theo Mao là phải. Tới khi chính quân đội của Tưởng thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu thuốc uống, cũng bỏ Tưởng nữa thì Tưởng sụp đổ tức thì. Đó mới là nguyên nhân chính, còn những nguyên nhân khác Tưởng vô tài, bất lực, tay sai của Tưởng tham nhũng ... chỉ là phụ .

*(1) Cuốn Un été sans oiseaux ( Mùa hè không bóng chim)


Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-12-08 17:30:53ct.ly>
Mục Lục I

4. Đời Chu (1122 – 255
Võ Vương 1122
Thành Vương 1115
Khang Vương 1078
Tuyên Vương (2) 827
...............
bỏ 22 đời đến
Noản vương 314 – 255
( Noản Vưong bị Tần bắt đưa qua Tần – Nhà Chu chấm dứt năm 255 )
5. Đời Nhà Tấn (3) 255- 207
Chiên Tương Vương chiếm Chu 256
Hiến Văn Chương ( 3 ngày thì chết ) 250
Trang Tương Vương 250
Thủy Hoàng Đế 246
Từ Anh 207
6. Nhà Hán – 208+ 220
Tiền hoặc Tây Hán
Cao đế ( Cao tổ ) tức Lưu Bang 206
Huệ đế 25
Lữ Hậu ( vợ Cao đế ) 187
Cảnh đế 156
Võ đế ( 4 ) 140
Chiêu đế 86
Tuyên đế 73
Nguyên đế 48
Thành đế 32
Ai đế - 6
Bình đế + 1
( Nhà Tần) Vương Mãng + 9
Hậu hoặc Đông Hán
Quang Võ đế 50
Minh đế 58
Chương đế 76
Hòa đế 89
Thương đế 106
An đế 107
Thuận đế 126
Xung đế 145
Chất đế 146
Hoàn đế 147
Linh đế 168
Thiếu đế 189
Hiến đế 189

7. Thời Tam Quốc - Nhà Ngụy 220 – 265
Nhà Thục Hán 221 – 264
Nhà Ngô 229 – 280

Tôi bỏ bớt chỉ kể vài tên :
Ngụy Vân đế 220
Ngụy Minh đế 227
Ngụy Phế đế 224
Hán Chiêu Liệt 221
Hán Hậu chủ 223
Ngô Đại đế 222
Ngô Phế đế 252

8. Nhà Tấn 265 – 420
Tây Tấn
Võ đế (3) 265
Huệ đế 290
Hoài đế 307
Mẫn đế 313
Đông Tấn
Nguyên đế 317
Minh đế 323
Thành đế 326
Khang đế 343
Mục đế 345
Ai đế 362
Phế đế 366
Giản Văn đế 371
Hiến Vũ đế 373
An đế 397
Cung đế 419

9. Nam Triều 420 – 589
Tống
Vũ đế 265
............................... bỏ bảy đời

Tề
Cao đế 479
Võ đế 482
............... bỏ 5 đời
Lương
Võ đế 502
Giản Văn đế 549

............................... bỏ 4 đời
Trần
Võ đế 557
Văn đế 560
..................... bỏ 3 đời

10. Bắc Triều 386 – 581
Bắc ngụy 386 – 533
Đông Ngụy 534 – 557
Tây Ngụy 556 – 581
Bắc Chu 556 – 581
Những triều này sử Trung Hoa không cho là chính thống nên không chép các đời vua

11.Tùy 589 – 618
Văn đế 589
Dạng đế 605
Cung đế 617

12. Đường 618 – 907
Cao Tổ 618
Thái Tôn 627
Cao Tôn 650
Trung Tôn 684
( bị Võ hậu phế)
Huyền Tôn 713
( Minh Hoàng )
Túc Tôn 756
Đại Tôn 763
Đức Tôn 780
Thuận Tôn 805
Hiếu Tôn 806
Duệ đế ( do Võ hậu lập) 684
Võ hậu xưng đế 684
chết ..................... 705
Trung Tôn ( phục vị) 705
Duệ Tôn 710
Mục Tôn 821
Kính Tôn 825
Văn Tôn 827
Tuyên Tôn 847
Ý Tôn 860
Hi Tôn 874
Chiêu Tôn 889
Chiêu Tuyên đế 904

13. Ngũ Đại 907 – 960
(Tôi bỏ các vua Liêu, gốc Kiết Đan )
Hậu Lương
Thái tổ 907
Mạt đế 913
Hậu Đường
Trang Tôn 923
Minh Tôn 926
Hậu Tấn
Cao tổ 936
Xuất đế 942
Hậu Hán
Ẩn đế 948
Hậu Chu 951
Mẫn đế 933
Thái tổ 951
Thế Tôn 954
Cung đế 959

14 - Tống 960 – 1279
( Tôi bỏ các vua Liêu và Kim)

Bắc Tống
Thái tổ 960
Thái Tôn 976
Chân Tôn 998
Nhân Tôn 1.063
Anh Tôn 1.063
Thần Tôn 1.067
Triết Tôn 1.086
Nam Tống
Cao Tôn 1.127
Hiếu Tôn 1.062
Quang Tôn 1.189
Ninh Tôn 1.194
Lý Tôn 1.224
Độ Tôn 1.265
Cung đế 1.275
Huy Tôn 1.100
Khâm Tôn 1.126

15 - Nguyên 1206 – 1279 ( Mông Cổ)
Thái tổ ( Jengis ) 1.206
Thái Tôn ( Ogodéi) 1.229
Định Tôn ....... Chết
Hoàng hậu lên 1.246
Hiến Tôn ( Mongka) 1.260
Thế Tôn ( Khoubilai) 1.260
Thành Tôn 1.294
Vũ Tôn 1.307
Nhân Tôn 1.311
Anh Tôn 1.320
Thái Định đế 1.323
Minh Tôn 1.329
Ninh Tôn 1.332
Thuận đế 1.333

16 - Đời Minh 1.368 – 1644
Thái tổ - Hồng Vũ (5) 1368
Huệ đế - Kiến Văn 1402
Nhân Tôn - Hồng Hi 1424
Tuyên Tôn – Tuyên Đức 1424
Anh Tôn – Chính Thống 1435
Cảnh Tôn - Cảnh Thái 1449
( Khi lên ngôi trở lại) -
Thiên Thuận 1457
Hiến Tôn – Thành Hóa 1465
Hiếu Tôn - Hoằng Trị 1487
Võ Tôn – ( Chính Đức ) 1505
Thế Tôn – Gia Tĩnh 1522
Mục Tôn – Long Khánh 1566
Thần Tôn - Vạn Lịch 1572
Quang Tôn – Thái Xương 1620
Hi Tôn – Thiên Khải 1620
Tư Tôn – Sùng Trinh 1627

17 . Đời Thanh 1583 – 1912 ( Mãn Châu )
Thái tổ 1583
Thái Tôn 1627
Thế Tổ - Thuận Trị 1644
Thánh Tổ - Khang Hi 1661
Thế Tôn – Ung Chính 1723
Cao Tôn- Càn Long 1736
Nhân Tôn – Gia Khánh 1796
Tuyên Tôn – Đao Quang 1821
Văn Tôn – Hàm Phong 1851
Mục Tôn - Đồng Trị 1862
Đức Tôn – Quang Tự 1875
Phổ Nghi – Tuyên Thống 1900
Từ Hi thái hậu cầm quyền suốt đời Quang Tự


Chú thích:
(1) Năm cuối của một ông vua thuộc trọn về ông đó, dù ông chết vào khoảng đầu năm. Năm sau mới thuộc về vua sau.
(2) 2) Từ đây mới thật có tín sử
(3) (3) Từ đây tôi chép đủ các đời vua của những triều đại quan trọng
(4) (4) Những tên Võ đế, Cảnh đế, Vạn đế .... đều là miếu hiệu , tên để thờ trong tôn miếu của mõi nhà. Hán Võ đế là ông vua đầu tiên dùng thêm niên hiệu ( nom de prériode) , như năm 140 dùng niên hiệu Kiến Nguyên, năm 134 dùng niên hiệu Nguyên quang ..... ông dùng tới 11 niên hiệu . Vua Cao Tôn đời Đường dùng tới 14 niên hiệu . Tôi bỏ hết các niên hiệu đó . Đời Minh và Thanh , mỗi vua chỉ dùng một niên hiệu, và các sử giça ưa dùng niên hiệu hơn miếu hiệu để gọi, nên từ đời Minh tôi mới chép thêm niên hiệu.
(5) Từ đây tôi chép cả niên hiệu
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-12-09 02:25:56ct.ly>
PHỤ LỤC II

SỰ VIỆC QUAN TRỌNG TỪ 1911 đến 1973

( Tôi tóm tắt tài liệu của Alain Peyrefitte trong Quand la Chine s’ éveillera ...tr 445 – 455 )

A. CỘNG HÒA TIỂU TƯ SẢN ( 1911 – 1927)
10. 10.1911 . Cách mạng Vũ Xương ( Hán Khẩu ) . Trong 50 ngày, cách mạng lan tới 14 trong số 18 tỉnh, tuyên bố không tùy thuộc Mãn Thanh nữa.
1.1.1912 Thành lập , Chính phủ cộng hòa ở Nam Kinh, Tôn Văn ở Mỹ về, được bầu làm Tổng Thống.
Dùng Tây lịch.
Thân Vương Cung, phụ chính đ(i thần, cầu cứu Viên Thế Khải, Viên đời được toàn quyền.
12.2.1912 Viên thuyết phục được : Phổ Nghi phải thoái vị. Viên nắm hết quyền.
15. 2. 1912 Tôn Văn nhường chức Tổng Thống cho Viên .
8.4.1923 Quốc Hội họp ở Bắc Kinh, phản đối Viên, bị Viên giải tán. Viên dẹp luôn Quốc Dân đảng. Tôn Văn lánh qua Nhật.
1914 Nhật tuyên chiến với Đức ( thế chiến I) , rồi chiếm Sơn Đông cùng các nhượng địa khác của Đức.
12.1. 1915 Nhật đưa 21 điều « yêu cầu « cho Bắc Kinh , muốn biến Trung Hoa thành một nước bảo hộ của Nhật. Viên điều đình không được, khắp nước nổi lên phong trào chống Nhật.
1915 – 23.3. 1916 Viên vận động để được bầu làm hoàng đế. Phe cộng hoà và các tướng nổi lên chống đối. Viên phải bỏ ý đó non 100 ngày sau, và chết tháng 6 – 1916.
1916 - Thời quân phiệt làm loạn bắt đầu. Ở Bắc , còn một chính phủ hữu danh vô thực tại Bắc Kinh. Ở Nam, Tôn Văn lập một chính phủ Cộng hòa tại Nam Kinh. Sự thực các đốc quân chia nhau mỗi người chiếm một nơi, làm chúa trong miền và đánh nhau lung tung.
1918 – 1919 Trung Hoa cho 175.000 thợ qua Pháp giúp đồng minh , và 400 sinh viên thợ, trong số đó có Chu Ân Lai và Chen Yi .
4.5. 1916 Ngũ tứ vận động
Phong trào vận động dân tộc đầu tiên do sinh viên Bắc Kinh phát động rồi lan khắp nước để phản đối hội nghị Versailles cho Nhật hưởng những quyền của Đức ở Sơn Đông.
Một số trí thức ghèt Tây Phương hướng về Nga Sô vì Nga Sô tuyên bố bỏ hết các quyền lợi thời Nga hoàng ở Trung Hoa ( nhưng không trả lại các đất Nga đã chiếm được thời trước ở Sibérie và ở các tỉnh bờ biển).
1921 Hội nghị Washington yêu cầu Nhật trả Sơn Đông cho Trung Hoa.
1.7.1921 Thành lập đảng Cộng sản Trung Hoa ở Thượng Hải gồm 12 người tới dự. Trần Độc Tú được bầu làm tổng thư ký , Mao Trạch Đông làm thư ký đảng ở Hồ Nam.
1921 – 1922 Thành lập những tổ Cộng sản Trung HGoa ở Pháp, Bỉ , Đức.
1923 – 1927 Mặt trận thống nhất đầu tiên Quốc Cộng ( do sự thoả hiệp giữa Tôn Văn và Joff) , đại diện cho Lénine . Cộng sản được nhận vào Quốc dân đảng,
1923 Mao được làm ủy viên trung ương của đảng , chủ tịch phòng( cũng gọi là bộ) tổ chức.
1924 Ngoại Mông tuyên bố thành lập Chính phủ Cộng Hoà Xô Viết.
30. 5. 1925 Ngũ táp vận động. Tẩy chay ngoại nhân, đình công .
Tôn Văn chết, Tưởng Giới Thạch cầm đầu Quốc dân đảng .
Mao vận động nông dân ở Hồ nam
1925 – 1926 Tưởng Giới Thạch và Cộng Sản chống đối nhau.

B. NỘI CHIẾN ĐẦU TIÊN ( 1927 – 1936)
1927 Mao trong bài điều tra về phong trào nông dân ở Hồ nam cho nông dân là lực lượng chính của cách mạng. Chủ trương đó bị ủy ban trung ương Đảng gạt bỏ. Mao mất chân trong phòng chính trị của Đảng.
Tháng 4, Tưởng Giới Thạch tấn công Cộng sản ở các thị trấn lớn nhất là Thượng Hải . Đảng mất đầu, lui vào bóng tối hoạt động.
1928 Tưởng Giới Thạch vô Bắc Kinh , dùng chế độ độc tài quân nhân . Mao Trạc Đông và Chu Đức trốn vào miền núi Hồ Nam và Giang Tây lập đạo hồng quân thứ nhất và một Xô Viết trong miền.
1929 Mao và Chu lập chính phủ Xô Viết ở Giang Tây. Anh trả vài nhượng địa cho Trung Hoa.
1930 Trung Hoa thừa nhận quyền của Pháp ở Đông Dương. Mao và Lý Lập Tam bất đồng ý kiến: Mao dùng nông dân, Lý dùng thợ thuyền làm chủ lực cách mạng ( Lý làm chủ tịch đảng).
Tưởng lại tấn công - Vợ Mao bị Tưởng giết.
Cộng lại thất bại ở vài thị trấn : Tràng sà , Vũ Hán, Nam Xương.
1931 Nhật chiếm Mãn Châu, lập Mãn Châu quốc.
Đại hộu thứ I của đảng Cộng sản hợp ở Thụy Kim, bầu Mao làm chủ tịch chính phủ đầu tiên Cộng Hoà Xô Viết (ở Giang Tây) – và Chu ĐỨc làm tổng tư lệnh Hồng Quân.
1933. Nhật chiếm một phần Hà Bắc ( tỉnh có kinh đô Bắc kinhà
Từ 10. 1934 đến 10. 1935
Hồng quân ở Giang Tây bị Tưởng bao vây; Mao và Chu Đức dẫn đầu Hồng Quân , làm cuộc trường hành tới Thiểm Tây dài 12.000 cây số, tới Thiểm Tây. Mất một năm.
1935 – 1936 Ba đạo quân khác cũng trường hành tới Thiểm Tây, hợp với quân của Mao – Chu.
12 – 1936 Thành lập một chính phủ kháng Nhật ở Diên An . Mao làm chủ tịch .

C. MẶT TRẬN THỐNG NHẤT

QUỐC - CỘNG ĐỂ KHÁNG NHẬT
12- 1936 Vụ Tây An - Tưởng bị bộ hạ là Trương Học Lương bắt cóc. Chu Ân Lai ở Diên An lại thuyết phục Tưởng cùng với Cộng lập mặt trận thống nhất kháng Nhật . Tưởng được thả
1937 Nhật chiếm Hoa Bắc và miền Thượng Hải.
1940. Tưởng và chính phủ Quốc dân đảng rút lên Trùng Khánh ( Tứ Xuyên )
1940 – 1941 Mặt trận thống nhất kháng Nhật tan rã.
1942. Một phong trào chỉnh phong trong đảng Cộng sản; phe thân Nga sô bị “ chỉnh”
1943. Lưu Khiết Kỳ nhận rằng Mao đã tạo một thứ “ Mác xít Trung Hoa” . Theo Chu Ân Lai đảnh có 800.000 đảng viên.
1945 . Hiệp ước thân thiện Nga - Tưởng Giới Thạch. Sau khi Nhật đầu hàng. Hồng quân chiếm Hoa Bắc và Mãn Châu trước các đạo quân của Tưởng, những đạo quân này được Mỹ giúp cho phương tiện di chuyển.

D. NỘI CHIẾN THỨ NHÌ ( 1947 – 1949)
Cộng sản tiếp tục tuyên truyền trong giới nông dân về tinh thần dân tộc, cải cách điền địa, Nga vẫn chính thức ủng hộ Tưởng Giới Thạch.
1948 Lâm Bưu diệt quân tộc, cải cách điền địa, Nga vẫn chính thức ủng hộ Tưởng Giới Thạch.
1 – 1949 Hồng quân vô Bắc Kinh.
1949 Quân đội của Tưởng thua, rút ra Đài Loan



Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-06-30 02:02:17ct.ly>
( Đây là chương IV , mà Cát Trắng đã nhận gõ, nhưng lâu quá nên CtLy phải gõ, để Thái Nhi có thể mang vào thư viện những trang tiếp nối )


********************



Chương IV


TAN RÃ LẦN NHÌ (906- 960) NGŨ ĐẠI VÀ THẬP QUỐC

1 Tổng Quan
Đường có nhiều điểm giống Hán: Đều có một cái đầu ( Tần, Tùy) và một cái đuôị Nam Bắc Triều và Ngũ Đại với Thập quốc); vua sáng nghiệp ( Lưu Bang, Lý Uyên) đều tầm thường; chỉ hùng cường, văn minh trong hai triều đại ( Hán: Võ đế, Quang Võ; Đường : Thái Tôn, Huyền Tôn); khi suy thì đều chia làm hai miền: Bắc bị Ngũ Hổ xâm chiếm, làm chủ một phần lớn; Nam do người Bắc trốn Hồ mà di cư xuống, tự chủ được vì Hò chưa đủ sức để chiếm trọn. Mà sở dĩ Hồ chiếm được gần hết miền Bắc là vì triều đình Hán và Đường đều nhờ cậy họ để dẹp loạn trong nước, tức dùng họ để giết người Hán.
Một dân tộc văn minh ở sát nhiều dân tộc chậm tiến , nghèo mà hiếu chiến thì thế nào cũng bị họ xâm lấn; Hán có lúc thắngmà cũng nhiều lúc thua, khi thua mà ở lại với kẻ thắng thì đồng hóa họ; nếu trốn họ mà dời xuống Nam thì lại mau khai hóa được miền Nam, đồng hóa thổ dân miền Nam. Rốt cuộc thắng hay thua thì đất đai cũng mở rộng thêm, dân số cũng tăng lên. Đó là điềm đạc biệt của lịch sử Đế Quốc Trung Hoa.
* * *
Thời tan rã ở cuối Hán là thời Nam Bắc triều. Bắc gồm gần hai chục nước, Nam chỉ có một nước mà gồm 5 triều đại ( như tôi đã nói: Tây Tấn thuộc về thời Tam Quốc, không nên kể là Nam Triều)
Thời tan rã ở cuối Đường, Trung Quốc cũng chia làm Nam Bắc, chỉ khác là Bắc gồm một nước và có năm triều đại nối tiếp nhau làm chủ; ngược lại với Nam Bắc triều cuối đời Hán.
Người Trung Quốc quen gọi thời tan rã từ 906 đến 960 là thời Ngũ Đại. Tên đó không đúng hẳn: chỉ đúng cho miền Bắc thôi ( cũng như tên Lục Triều chính ra là Ngũ Triều- ở sau đời Hán - chỉ đúng cho miền Nam thôi) Phải kể thêm 10 triều đại tức Thập quốc ở Nam nữa mới đúng hẳn. Cho nên tôi theo một số tác giả gọi thời đó là thời Ngũ Đại - Thập Quốc.
Sử Gia trung Hoa thời xưa cho Thập Quốc ở sau đời Đường không phải là chính thống, mà cho Ngũ triều ở Nam ở sau đời nhà Hán là chính thống. Cơ hồ như theo họ, không cần phải là một triều đại của người Hán thịnh vượng mới là chính thống. Hán hay Hồ, bình trị hay loạn lạc, cứ làm chủ được cả một miền - Bắc hay Nam - đều là chính thống cả.
*
* *
Dưới đây là bảng Năm triều đại ở Bắc và Mười nước ở Nam
1- Hậu Lương 907 - 923 Hán.
2- Hậu Đường 923 - 947 Sa Đà ( Cha t'a)
3- Hậu Tấn 936 - 947 Sa Đà
4- Hậu Hán 947 - 951 Sa Đà
5- Hậu Chu 951 - 960 Hán
Năm triều đại đó nối tiếp nhau làm chủ hết hoặc gần hết phương Bắc , nên được coi là chính thống, mặc dầu chỉ có hai triều đại là Hán, còn ba triều đại là ngoại nhân Sa Đà.
1- Ngô ở An Huy ngày nay - Hán
2- Tiền Thục ở Tứ Xuyên ngày nay - Hán
3 - Ngô Việt ở Chiết Giang ngày nay - Hán
4- Sở ở Hồ Nam ngày nay - Hán
5- Mân ở Phúc Kiến ngày nay - Hán
6- Nam Hán ở Quảng Đông ngày nay - Hán
7- Nam Bình ở Tứ Xuyên ngày nay - Hán
8- Hậu Thục ở Tứ Xuyên ngày nay - Hán
9 - Nam Đường ở Giang Tô ngày nay - Hán
10- Bắc Hán ở Sơn Tây ngày nay
( Riêng nước này ở phương Bắc, vua là giống Sa Đà)
( Nên so sánh bảng trên với bảng - Thời Nam Bắc Triều )

2- Ngũ Đại Ở Bắc.
Hậu Lương
Chu Toàn Trung giết Chiêu Tôn rồi chiếm ngôi nhà Đường, đổi quốc hiệu là Hậu Lương, đóng đô ở Khai Phong ngày nay. Ông ta gốc nông dân, trưóc theo Hoàng Sào, khi lên ngôi cũng muốn cải thiện đời sống của nông dân, giảm thuế, khuyết khích nông nghiệp, nhưng ở ngoài phải chống với Lý Khắc Dụng, một tướng Sa Đà, ở trong không được giới sĩ tộc ủng hộ, còn bọn tay chân của ông toàn là tướng cướp , tranh quyền với nhau, chỉ muốn vơ vét cho thật mau, nên tình hình rối loạn. Năm 912, chính một người con của ông giết ông để chiếm ngôi, từ đó bọn thủ hạ của ông chán nản, biết rằng triều Hậu Lương không tồn tại được lâu, kéo nhau qua phía Lý Khác Dụng và năm 923, nhà Hậu Lương bị Lý Tồn Húc, con Lý Khắc Dụng diệt, trước sau được hai đời vua, cộng là 17 năm.

Hậu Đường
Lý Tồn Húc , gốc Sa Đà, lên ngôi dời Đô về Lạc Dương, đổi quốc hiệu là Đường. Triều chính ở trong tay giới sĩ tộc Hán, vì người Sa Đà rất ít, không được 100.000, mà còn lạc hậu, không đáng kể về phương diện chính trị. Họ coi việc nước như việc nhà, muốn giao hết những chức vụ quan trọng cho bà con họ hàng, nhưng số này không đủ, đành phải giao cả những võ chức cho ngoại nhân, bất kỳ là giống người nào, còn những chức vụ hành chánh thì giao cho người Hán. Họ đặt ra đủ các thứ thuế, bóp nặn nông dân đến khánh kiệt mà vẫn không đủ nuôi lính
Hậu Đường truyền được bốn đời, mười ba năm, rồi bị Thạch Kính Đưòng diệt.

Hậu Tấn
Thạch Kính Đường cũng là giống Sa Đà, vốn là phò mã nhà Hậu Đường, làm trấn thủ Hà Đông, nhờ rợ Khiết Đan giúp sức mới lên ngôi được, vì vậy phải cắt cho Khiết Đan vài tỉnh ở phía Bắc.
Khiết Đan ( kitat) là một rợ ở Đông Bắc Trung Hoa, tổ tiên là rợ Tiên Ti, sau khi bị một rợ đánh thua, trốn lên ở đất Nhiệt Hà ngày nay, thân phục nhà Đường. Cuối đởi Đường, Khiết Đan mạnh lên, thôn tính các bộ lạc chung quanh, chiếm cả đất Nhiệt Hà và Đông Tam Tỉnh. Một thủ lãnh của họ có hùng lược, dùng người Hán để chỉnh đốn nội chính, dựng thành quách, lập chợ búa, khai khẩn đất đai. Thạch Kính Đường đời Ngũ Đại nhờ họ đem đại quân giúp để lật Hậu Đường, và để trả ơn, cắt đất Yên và Vân ( Hà Bắc, Sơn Tây) cho họ, họ thành một cường quốc ở cõi Bắc, đổi quốc hiệu là Liêu, thành mối lo cho nhà Tống sau này.
Thạch Kính Đường đổi quốc hiệu là Tấn, đất đai thu hẹp , số thuế thu được giảm đi, mà phải nộp cống cho khiết Đan, thờ Khiết Đan như cha, do đó phải tăng thuế, dùng chính sách bạo ngược đối với dân. Khiết Đan thấy vậy mưu tính c việc chiếm trọn miền Bắc. Giới quý tộc Sa Đà có một nhóm thấy nguy cơ, muốn tấn công Khiết Đan trước, triều đình do dự. trong khi đó, nhiều viên tướng ở miền Đông làm phản, qua phía Khiết Đan và chỉ trong hai năm ( 946 - 947) Khiết Đan chiếm được kinh đô và gần hết miền Bắc. Viên thủ lãnh Khiết Đan vô kinh đô, tự xưng là " Hoàng Đế Khiết Đan và Trung Hoa" ( Nhà hậu Tấn chấm dứt , sau hai đời vua , cộng 11 năm.)
Giới sĩ tộc Trung Hoa thản nhiên trước sự đổi ngôi đó, làm quan cho Sa Đà hay cho Khiết Đan thì cũng vậy, nhưng Sa Đà có một nhóm không chịu thần phục Khiết Đan, chống lại.

Tôn Giáo
Năm 842 Võ Tôn đã cấm một số chùa và một số tăng ni, năm 844 lại cấm nghiêm hơn, gắt gao nhất là năm 845, hạ lệnh trong hai kinh thành Tràng An và Lạc Dương mỗi nơi chỉ để lại 4 ngôi chùa và 301 vị tăng , ni ; các châu quận, mỗi nơi một ngôi chùa và từ 6 đến 20 tăng ni, ngoài ra hết thảy đều bị phá hủy, tăng ni đều phải hoàn tục. Kết quả có 44.600 ngôi chùa bị phá, tượng Phật bằng đồng bị nấu ra để đúc tiền; và có 260.500 tăng ni hoàn tục. Nhưng khi Võ Tôn băng, Tuyên Tôn kế vị, lại lập tức phục hưng Phật Giáo.

- Những tôn giáo mới truyền vào
Có lẽ đời Đường , khắp thế giới không có nước nào thâu nhập nhiều tôn giáo như Trung Hoa.
- Bái hỏa Giáo ( Mazadéisme) Cũng gọi là yêu Giáo, của Ba Tư, do Zoroastre sáng lập, truyền vào Trung Quốc từ thời Nam Bắc Triều. Đạo đó thờ lửa và mặt trời, cho sự quang minh là c biểu hiện của thiện, hắc ám là biểu hiện của ác.
- Ma Ni Giáo ( Manichéisme) Do Hỏa Giáo mà ra, theo Hồi Hột mà vào Trung Quốc thời Túc Tôn ( ma Ni là tên người sáng lập), truyền bá ở khoảng Tây Bắc.
- Cảnh Giáo là một biệt phái của Ki Tô giáo do Nestorius sáng lập ở Tiểu Á Tế Á, được vua Thái Tôn cho giảng đạo, lập giáo đường ở Tràng An
- Hồi Giáo do Mahomet sáng lập ở Á Rập, thờ Allah, vị thần duy nhất, vạn năng. Khác ba tôn giáo trên, Hồi Giáo truyền vào miền Nam ( Quảng Châu), Dương Châu....) trước hết.
Những tôn giáo mới truyền vào đó dều không thịnh

Văn Nghệ
Văn. Văn trào duy mỵ Trọng thể biền ngẫu, du dương, bóng bảy, sáo, phù bạc) đến Lục Triều là cực thịnh. Chính lúc nó cực thịnh đã có một số người vạch những sở đoản của nó như Tô Xước triều Ngụy; nhưng phải đợi tới đời thịnh Đường ( thế kỷ VIII) mới có một phong tào mạnh mẽ phản đối nó, phong trào phục cổ ( trở lại lối cổ) mà người mở màn là Trần Tử Ngang, người tiếp tục cổ xúy là Lý Bạch, Đỗ Phủ và gặt được kết quả là Hàn Dũ và Liễu Tôn Nguyên.
Phục cổ không phải là mô phỏng cổ nhân, phải có tinh thần sáng tác, không nô lệ một cây bút nào. Hàn Dũ bảo phải theo cái đạo ( phục vụ nhân sinh, trọng đạo đức, lễ, nghĩa) của cổ nhân, nhưng chỉ theo ý thôi mà không có lời, vì mỗi cổ nhân có một giọng , một lời riêng, không ai giống ai, thì tại sao ta phải theo lối cổ nhân này mà không theo cổ nhân khác. Ta phải có " lời " riêng của ta.
Nhờ chủ trương đó mà tản văn đời Đường có nhiều vẻ: bình dị, chân thành mà cảm động, tươi đẹp mà không ủy mị, hùng hồn mà trang nghiêm.
Nổi danh nhất về " cổ văn " - tức tản văn - trong hai đời Đường , Tống có tám nhà ( bát đại gia) mà Đường được hai nhà : Hàn Dũ và Liễu Tôn Nguyên.


Đã mang vào thư viện
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-06-30 02:01:37ct.ly>
Văn Nghệ

Văn. Văn trào duy mỵ Trọng thể biền ngẫu, du dương, bóng bảy, sáo, phù bạc) đến Lục Triều là cực thịnh. Chính lúc nó cực thịnh đã có một số người vạch những sở đoản của nó như Tô Xước triều Ngụy; nhưng phải đợi tới đời thịnh Đường ( thế kỷ VIII) mới có một phong tào mạnh mẽ phản đối nó, phong trào phục cổ ( trở lại lối cổ) mà người mở màn là Trần Tử Ngang, người tiếp tục cổ xúy là Lý Bạch, Đỗ Phủ và gặt được kết quả là Hàn Dũ và Liễu Tôn Nguyên.
Phục cổ không phải là mô phỏng cổ nhân, phải có tinh thần sáng tác, không nô lệ một cây bút nào. Hàn Dũ bảo phải theo cái đạo ( phục vụ nhân sinh, trọng đạo đức, lễ, nghĩa) của cổ nhân, nhưng chỉ theo ý thôi mà không có lời, vì mỗi cổ nhân có một giọng , một lời riêng, không ai giống ai, thì tại sao ta phải theo lối cổ nhân này mà không theo cổ nhân khác. Ta phải có " lời " riêng của ta.
Nhờ chủ trương đó mà tản văn đời Đường có nhiều vẻ: bình dị, chân thành mà cảm động, tươi đẹp mà không ủy mị, hùng hồn mà trang nghiêm.
Nổi danh nhất về " cổ văn " - tức tản văn - trong hai đời Đường , Tống có tám nhà ( bát đại gia) mà Đường được hai nhà : Hàn Dũ và Liễu Tôn Nguyên.


Hàn Dũ ( 769- 824) rất có nhiệt tâm cứu đời, rất khảng khái, một lần can vua Đức Tôn mà bị biếm, lần khác can vua Hiến Tôn về việc rước cốt Phật mà suýt bị giết vì ông dám bảo vua Lương Võ đế sùng Phật mà bị một bề tôi áp bức, phải chết đói, quốc gia tiêu vong, thành thử thờ Phật cầu phước mà lại gặp họa. Lời đó như một tiên tri: sau Hiến Tôn bị một tên hoạn quan giết. Giọng ông hùng tráng, linh hoạt, rõ ràng như bài " Luận về nhiệm vụ của chức gián nghị ", bài " Tiễn Mạnh Đông Dã " , thiết tha, cảm động như bài " Tế Mộ Điển Hoành " , " Tế Thập Nhị Lang "

- Liễu Tôn Nguyên ( 793-819) là bạn thân của Hàn Dũ mà tính tình , bút pháp khác Hàn, cũng có tư tưởng cải cách nhưng khoáng đạt hơn, khi biết không được vua nghe thì thôi, ngao du sơn thủy; văn không thống thiết như Hàn mà có giọng mỉa mai như bài " Lời i]người bắt rắn " hoặc phẩn y uất như " Bài tựa tám bài thơ Ngu Khê ". Bài "Cái gò nhỏ ở phía Tây đầm Cổ Mỡ " mở đầu cho thể văn du ký của Trung Hoa. Ông ảnh hưởng đến cổ văn đời nhà Tống hơn Hàn Dũ
Tất cả những bài của Hàn và Liễu dẫn trên đều co trong tập Cổ Văn Trung Quốc của tôi – Tao Đàn – 1966
Sử. Không bộ nào có giá trị. Miễn cưỡng ghi Sử Thông của Lưu Trí Cơ và Thông Điển của Đỗ Hựu
Tiểu Thuyết
Nhờ đọc kinh Phật trong đó chép đời nhiều vị Phật, nhiều truyện tưởng tượng, nên văn nhân Trung Quốc bắt chước lối viết truyện của Ấn .
Truyện đờI Đưòng được gom lại trong hai bộ Đường đại tùng thư và Thái bình quảng ký. Toàn là truyện ngắn thuộc loại hào hiệp, thần quái, diễm tình, hầu hết còn khô khan

Hậu Hán
Cầm đầu nhóm đó là một viên tướng Sa Đà, Lưu Trí Viễn. Lưu thấy Trung nguyên vô chủ, vào Đại Lương xưng đế , lấy quốc hiệu là Hâu Hán, đúng vào lúc Hoàng Đế Khiết Ban chết, con trai ông phải rút về phương Bắc vì ở triều đình có sự tranh chấp ngôi vua. Nhưng Lưu chỉ cầm quyền một năm rồi chết. Con trai ông nối ngôi, còn trẻ ; bọn sĩ tộc Trung Hoa nắm hết quyền hành ở triều đình. Chính sách của hậu Hán còn tàn bạo hơn Hậu tấn ; dân chúng trốn thuế, triều đình ban lệnh kẻ nào lén giữ một tấc da bò , không nộp hết cho triều đình thì bị xử tử.
Giới sĩ tộc Trung Hoa càng ngày càng mạnh, rốt cuộc một viên tướng Trung Hoa tên là Quách Uy, làm khu mật sứ, giết vua Hậu Hán. Nhà này gồm hai đời vua mà chỉ cầm quyền được có bốn năm.

Hậu Chu
Quách Uy lên ngôi, quốc hiệu là Chu. Vậy là liên tiếp trong ba triều đại , từ 923 đến 951, non 30 năm, dân tộc Trung Hoa miền Bắc chịu cái ách của rợ Sa Đà, nay mới cởi ra được. trong thời gian đó chiến tranh liên miên, mà Sa Đà lại không quan tâm tới việc nuôi dân, chỉ bốc lột bằng thuế khóa mỗi ngày một nặng, nền kinh tế suy sụp hoàn toàn, tới cái mức triều đình phải ( dùng thịt người làm lương thực cho quân lính ) ( theo Lữ Chấn Vũ , sách đã dẫn ). Cùng khổ quá , quân lính muốn phản loạn, qua phía địch thì triều đình lấy tiền trong kho để phát cho chúng mà giữ chúng lại. Nhiều lần như vậy ( theo Eberbard, sách đã dẫn).
Triều đình Hậu Chu gồm toàn giới sĩ tộc Trung Hoa ( số quý tộc Sa Đà ít quá, không đáng kể, vả lại đã Hán hoá gần hết rồi) sửa đổi chính sách để chấn hưng lại kinh tế. Một mặt mở rộng đất đai, một mặt qui định lại thuế khóa cho tương đối công bằng, bằng cách thủ tiêu đặc quyền miễn thuế, một mặt nữa (đời Thế Tông) (1) bắt đóng cửa trên ba vạn ngôi chùa, bắt tăng ni phải hoàn tục, lập số hộ khẩu, kiểm tra được trên 2 triệu 300 ngàn hộ phải đóng thuế ( khoảng 11 triệu rưỡi dân) lại bỏ lệ cấm dân trữ đồng, cho dân được phép làm muối, trừ bọn tham qua ô lại, nhưng chưa kịp thi hành thì nước Bắc Hán, một trong Thập quốc ( coi bảng 10 nước ở trước ) do Lưu Sùng, gốc Sa Đà ( em Lưu Trí Viễn đời Hậu Hán) lập lên ở Sơn Tây, nhờ Khiết Đan giúp sức, đem quân đánh Hậu Chu ; vua Hậu Chu sai một tiết độ sứ là Triệu Khuông Dẫn đi dẹp. Vua Hậu Chu chết, con mới bảy tuổi lên nối ngôi. Quân lính tôn Triệu Khuông Dẫn làm vua, rước ông trở về Đại Lương ép vua bảy tuổi nhường ngôi cho. Hậu Chu Chấm dứt, được ba đời, cộng 10 năm. Thời Ngũ Đại cũng chấm dứt với nhà hậu Chu.
Trong khoảng nửa thế kỷ đó, miền Bắc có một sự thay đổi khá quan trọng : phía Tây Bắc tức miền kinh đô Tràng An thời trước, di chiến tranh ở chung quanh mà bị tàn phá tới nỗi suốt một thế kỷ sau không dùng làm kinh đô được nữa, dân chúng đã di tản đi nơi khác gần hết. Dưới sự chiếm đóng của Khiết Đan, luồng kinh tế chuyển hướng về phía Bắc Kinh chứ không về lưu vực sông Hoàng Hà nữa, và Bắc Kinh sau thành kinh đô của Khiết đan

3. Thập Quốc ở Nam
Thực ra chỉ có 9 nước ở Nam thôi, đều thuộc về người Hán, còn mợt nước của người Sà Đà, thành lập sau cùng , ở Sơn Tây, miền Bắc như trên đã nói.
Chín nước kia cũng không phải thành lập cùng một lúc . Mới đầu chỉ có sáu hay bảy nước cùng ra đời trước sau nhau năm, mười năm : Ngô, Ngô Việt, Nam Hán, Tiền Thục, Sở, Mân, rồi sau vì nội loạn hai nước bị diệt như Mân, hoặc bị cướp ngôi như Ngô, và thay vào nhiều nước khác, do đó mà số nước tăng lên.
Nhưng nước đó không bị cái nạn chiến tranh như ở miền Bắc, mà được dân miền Bắc di cư xuống, nên phát triển khá mạnh về kinh tế.
Nước Ngô ở bở biển, có nguồn lợI về muối, thêm nguồn lợi về trà nữa.
Nước Ngô Việt ở Chiết Giang, sản vật còn phong phú hơn, nông nghiệp phát đạt nhờ công trình thủy lợi, thương mãi rất thịnh nhờ buôn bán với nước ngoài.
Nam Hán ( nguyên danh là Nam Hải) chiếm Lưỡng Quảng: Quảng Đông và Quảng Tây) đứng đầu về muối và ngoại thương.
Tiền Thục và Hậu Thục chiếm miền Tứ Xuyên, tuy bị ảnh hưởng của Chiến Tranh, nhưng có mỏ muối, ruộng lại phì nhiêu, nổi tiếng là “ kho của trờI “ ( thiên phủ )
Sở chiếm miền Hồ Nam, đất rộng dân thưa, trồng nhiều trà.
Nam Bình không có nguồn lợi gì cả, lại bị ảnh hưởng của chiến tranh, nhưng nằm trên trục giao thông thương nghiệp giữa Nam và Bắc, thu được thuế khá nhiều, mặc dầu phảI mỗI năm tiến cống cho triều đình phương Bắc. Nước đó nhỏ nhất, dân ít nhất.
Lịch sử chính trị của các nước đó không có gì đáng ghi.
Tóm lại đời Ngũ ĐạI Thập Quốc chỉ là màn chót kéo dài của họa phiên trấn đời Đường, có hại cho miền Bắc mà có lợi cho miền Nam; kinh tế phát triển, do đó sự quan trọng về chính trị cũng sẽ tăng lên trong đời Tống


(1) Đây là lần pháp nạn cuối cùng ( thứ tư)

Đã mang vào thư viện toàn chương IV
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»