Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Đánh máy truyện "Ván bài lật ngửa" - Nguyễn Trương Thiên Lý

265 trả lời, 43.937 lượt xem — Trang 7 / 9
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-14 18:30:55ct.ly>
PHẦN IX
CHƯƠNG XV

Thông cáo của Bộ Tổng tư lệnh quân đội chìm trong bao nhiêu thông cáo khác dù nó được cả Sài Gòn và đài Quân đội đọc ra rả suốt ngày: Quân đội sẽ nổ súng vào các đám biểu


Đã hoàn tất

Thân ái
📎 15
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-14 18:33:13ct.ly>
PHẦN IX
CHƯƠNG XVI


Sáng 13 tháng 9, Sài Gòn một lần nữa báo động mặc dù tin đảo chánh lan truyền trước đó trong các giới tại các điểm tụ họp, ngay quán cà phê.

Đã hoàn tất

Thân ái
📎 16
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
Các bạn phụ trách kiểm duyệt thân mến! Hải xin có đôi lời !
Một số phần truyện do Hải đánh, sau khi đưa lên diễn đàn Hải đọc lại và nhận thấy sai ko ít lỗi chính tả. Dù Hải cũng cố gắng cận thận, và có đọc lại trước khi gởi lên (thường là giải lao khi mõi tay) nhưng nhìn mãi màn hình hai mắt cũng lắm lúc bị hoa, nên vẫn còn sai sót. Mong các bạn thông cảm và chỉnh sửa, bổ sung lại giúp Hải. Về một số từ Hải không đọc được do bản sách quá cũ, cũng nhờ các bạn luôn về vấn đề đó.
Cảm ơn các bạn!
Chúc sức khỏe diễn đàn !
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
Nguyễn Đình thân mến,

Thế là cuối cùng mình cũng đã hoàn tất các chương 1-10, phần 9 của Ván bài lật ngửa rồi. Ôi, mình vui quá, nhẹ hết cả người. Mình gửi cho bạn file của mình nhé. Khi nào cần đánh máy, hãy nhắn cho mình.
[:)]
Bye.[sm=banana.gif]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-14 20:49:19ct.ly>
Chương 4
Tin tức từ ngày 17 đến ngày 22 tháng 11 năm 1963 (tin các báo và các hãng thông tấn)



Đã hoàn tất

Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-14 20:52:10ct.ly>
Chương 5
Sáng 30 tháng 11, một tuần lễ sau cái chết của Tổng thống Mỹ Kenedy và một tháng sau cái chết của Ngô Đình Diệm, Hội đồng nhân dân cách mạng họp phiên toàn thể. Lẽ ra

Đã hoàn tất

Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-14 20:54:08ct.ly>
Chương 6
Luân nhận quyết định của Bộ quốc phòng do tướng Trần Văn Đôn ký, giao cho anh nhiệm

Hoàn tất

Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-14 21:00:58ct.ly>
Chương 7
Thế là năm 1963 trôi qua. Nôel một ngày buồn, và tết dương lịch còn buồn hơn. Buổi tiếp


Hoàn tất

Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-14 21:01:30ct.ly>
Chương 8
Đêm 16 tháng chạp, năm Quý Mão, như mọi đêm trôi qua, còn nửa tháng nữa là tết, dân




Hoàn tất

Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-14 21:02:20ct.ly>
Chương 9
Đúng ra, trong vụ bắt giữ bất thần đêm ngày 29 rạng ngày 30 tháng 1 năm 1964 phải có đến năm tướng và một trung tá. Tướng thứ năm là Nguyễn Văn Vĩ và trung tá Trần Đình Lan.


Đã hoàn tất

Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-14 21:00:11ct.ly>
Chương 10
Sáng ngày 2 tháng 2, Nguyễn Khánh làm một cú “chiến tranh tâm lý” khá lả lướt; cùng


Hoàn tất

Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: CuLong767805

Nguyễn Đình thân mến,

Thế là cuối cùng mình cũng đã hoàn tất các chương 1-10, phần 9 của Ván bài lật ngửa rồi. Ôi, mình vui quá, nhẹ hết cả người. Mình gửi cho bạn file của mình nhé. Khi nào cần đánh máy, hãy nhắn cho mình.
[:)]
Bye.[sm=banana.gif]


Thay mặt Thái Nhi, Đình cám ơn Cửu Long nhiều nhé

Chúc Giáng sinh an lành và Năm mới vui vẻ!

À, tưởng CuLong.... không khoẻ, Đình điều... Ct.Ly đến tẩm quất, nhưng thấy Culong nhẹ cả người thì thôi vậy (jk).

Đăng nhập để trả lời
0
Ha ha ha. Công tử Ly mà nghe đựoc thì sẽ tẩm quất thôi, nhưng mà đối tượng bị... quất là Nguyễn Đình chứ chẳng phải Cửu Long đâu. Nguyễn Đình từ khỏe tẩm một trần thành.. hết khỏe luôn há há há há !
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-14 18:37:18ct.ly>
PHẦN IX
CHƯƠNG XVII


Luân nghe điện thoại của Dung: Anh rà đài Ban Mê Thuột, có việc đấy!


Đã hoàn tất

Thân ái
📎 17
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-14 18:39:22ct.ly>
PHẦN IX
CHƯƠNG XVIII


Trong lúc Nguyễn Khánh ở Ban Mê Thuột thì Sài Gòn lại lên cơn sốt, lần này mang tính


Đã hoàn tất

Thân ái
📎 18
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-14 19:47:16ct.ly>
PHẦN IX
CHƯƠNG XIX


Đại hội các sắc tộc Thượng khai mạc tại Pleiku:


Hoàn tất

Thân ái
📎 19
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-14 19:49:32ct.ly>
PHẦN IX
CHƯƠNG XX


Việc mà Nguyễn Thành Luân và Thùy Dung linh cảm sẽ đến đã đến. John Stepp và


Hoàn tất

Thân ái
📎 20
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-14 19:52:03ct.ly>
PHẦN IX
CHƯƠNG XXI (CHƯƠNG CUỐI)


Tết Nguyên Đán Ất Tỵ là một cái Tết không vui của mẹ con Thùy Dung. Nhà vắng vẻ, tuy


Đã hoàn tất

Thân ái
📎 21
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
Hải hoàn thành luôn phần cuối cùng của các chương Hải nhận!
Cần gì xin liên lạc thêm với Hải!

Chúc sức khỏe diễn đàn!
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
Thân gửi Thái Nhi,

dạo này mèo bận công việc quá nên sợ rằng không kịp đánh máy 4 chương đầu của phần 4 trước tết Bính Tuất được. Nếu như bạn nào có thời gian rảnh rỗi, xin làm ơn giúp type dùm để cả bộ truyện có thể ra mắt bạn đọc đúng như dự định. Xin lỗi ThaiNhi nhé [:(]
Tóc tiên kết búi bồng bồng.
Châm ngà chênh chếch sợi hồng vắt ngang .
Mây vờn gió lượn mênh mang
Vườn khuya lạnh lẽo chỉ còn trăng suông."
Đăng nhập để trả lời
0
Chào Meohoang

Cho Ctly thay mặt Thai Nhi , cảm ơn Meo Hoang đã góp sức với các hiệp sĩ để hoàn thành những truyện trong " cần đánh máy truyện cho thư quán "

Khi nào rãnh thì meohong phụ một tay với nhé

Chúc Meohong luôn vui, và vạn sự an lành

Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-17 09:53:12Mãi Yêu Hoài Nhé>
Trong phần 2 chương 21 của Ván Bài Lật Ngửa khi Scan các bạn đã sơ ý để thiếu mất 2 trang: 160 và 161.
Vậy, xin vui lòng scan bổ sung!

Sau đây là phần 3 chương 2

Nếu chẳng một phen sương thắm lạnh
Hoa mai sao dễ tỏa mùi hương
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-17 14:06:33Mãi Yêu Hoài Nhé>
PHẦN III
CHƯƠNG II


Viên bí thư cóm róm vào. Ông ta chờ đã trót mười lăm phút, không dám kinh động Tổng thống. Mãi khi Tổng thống lầm bầm, ông ta mới cúi rạp người, nâng chiếc cặp giấy, đặt thật nhẹ lên mặt bàn.

- Việc chi – Diệm hỏi.

- Trình cụ, báo cáo của Bộ ngoại giao.

Diệm mở cặp, khẽ liếc viên bí thư. Bên trong cặp một xấp giấy đánh máy, trên góc từ đầu ghi hàng chữ đỏ: “Kính trình cụ”. Diệm bỗng nhỏm lên lật tiếp các tờ còn lại, tìm tờ cuối.

- Răng mà như thế ni?

Ông đẩy cặp giấy về phía viên bí thư. Thường, chỉ khi quá vui hoặc quá bực Diệm mới nói giọng Quảng Bình pha Thưa Thiên.

Viên bí thư luống cuống. Ông ta chưa rõ Tổng thống nhận xét về cái gì. Luống cuống, râu mép ông ta động đậy như lính thủy ???? xêmapho.

Hai người bước vào phòng, nghiên mình chào Diệm.

- À! Chú Nhu, cháu Luân… Diệm hờ hững đáp lễ vừa châm một điếu thuốc.

Nhu nhìn Luân, cả hai ngồi xuống ghế đặt sát bàn làm việc của Tổng thống. Viên bí thư, ngỡ thoát nạn, chào vui vẻ:

- Thưa ông cố vấn… Chào thiếu ta!

Diệm dụi thuốc mà ông ta vừa rít hơi, sẵn giọng:

- Tôi bảo đến cả vạn lần: Bộ trưởng không có quyền phê chữ đỏ trên đầu các công văn trình cho tôi. Hiểu chưa! Thầy nói với ông Mẫu, là luật gia phải biết là cuối công văn trình cho tôi cần ghi câu gì chứ?

Diệm không có vẻ chỉ nói với viên bí thư. Trước mặt ông, còn có Nhu và Luân, và ông muốn dặn luôn cả hai người.

Viên bí thư không dám cười nữa. Ông ta “dạ” “dạ” liên hồi, dù rằng ông ta thật tình chưa hoàn toàn nắm được ý nghĩa câu sau của Tổng thống.

- Thầy coi đây!

Diệm lôi xấp công văn trở lại, lật tờ chót, mang chữ ký của Bộ trưởng Bộ ngoại giao Vũ Văn Mẫu.

- Nay kinh trình… Diệm trỏ vào hàng chữ nghi thức đó – Cụt như rứa! Trình lên Tổng thống mà chi gọn lỏn hàng tôm hàng cá rứa, coi sao được.

Viên bí thư vẫn ngơ ngác. Diệm nổi nóng, tất nhiên vô cớ mà nổi nóng thì khó giống như thật được. Điều đó chỉ Nhu và Luân thấy rõ, còn viên bí thư, ông ta toát mồ hôi.

- Trước kia, họ trình cho ông Bảo Đại, kết thúc các văn bản mần răng?

Viên bí thư vỡ lẽ, nói trong giọng khấp khởi:

- Trình cụ, cụ dạy chí phải! Kết thúc công văn phải ghi: “ Xin cụ nhận nơi đây tấm lòng tri ân cung kính và trung thành…”

Nhu nhìn Luân cười nhẹ - nụ cười đượm buồn.

- Thầy nói đúng có một phần – Diệm đã dịu giọng – Từ này, tôi cấm dùng tiếng “cụ” thay cho tiếng “Tổng thống”. Hiểu chưa?

- Dạ…

Diệm lật một trang trong xấp công văn, hỏi:

- Thằng ni ai bổ nhiệm mà sang Nhật buồn lậu? Tùy viên chi thứ lưu manh đó!

Viên bí thư lại luống cuống. Ông ta phải lấy khăn tay chậm mồ hôi trán.

- Tôi hỏi sao thầy không trả lời? Ai bổ nhiệm Nguyễn Hữu Thế… - Diệm dồn viên bí thư.

Nhu đủng đỉnh đứng lên, lại bà, lấp xấp công văn.

- Anh bổ nhiệm, chứ ai!

Diệm trợn mắt:

- Chú nói chi lạ rứa? Tôi?

Diệm gạt phăng chiếc gật tàn thuốc rơi xuống nền, vỡ tan. Gói Ruby Queen cũng rơi theo. Viên bí thư lăng xăng lượm các thứ.

Nhu vẫn điềm đạm trỏ vào một tờ giấy đính trong xấp công văn:

- Thì đây, anh xem!

Tờ giấy có hàng chữ bút chì đỏ của Diệm: Phê chuẩn việc bổ nhiệm này.

Điệm thừ mặt:

- Ai mà lường nổi…

Rồi, như để lấp liếm, Diệm hỏi viên bí thư:

- Hắn là con ai?

Viên bí thư hối hả:

- Trình Tổng thống, con của bác sĩ Nguyễn Hữu Thanh….

Diệm lại sừng sộ:

- Thầy vẫn chưa bỏ tật hồ đồ! Con của bà nào? Bác sĩ Thanh có tới ba, bốn vợ…

Viên bí thư đành gãi tai, lúng búng:

- Dạ…

- Thôi, thầy sang Bộ ngoại giao…

Viên bí thư mừng rỡ, xếp lai công văn.

- Khoan! – Diệm lại đổi ý. Thầy gọi cho tôi ông Bộ trưởng tài chính… Bảo ông ấy đến ngay, với tất cả các con của ông ấy.

Viên bí thư đến chỗ đặt điện thoại. Diệm hỏi Nhu:

- Chú với cháu Luân đi đâu về?

- Em với anh Luân đến Bộ thông tinh. Em muốn biết lệnh cấm ngoại kiều làm 11 nghề của ta ảnh hưởng tốt xấu ra sao…

- Thế à? Ra sao?

- Xôn xao dữ! Các bang Hoa kiều họp mấy hôm nay, họ cử một đoàn đại biểu do ông Trần Thanh cầm đầu xin yết kiến Tổng thống.

- Gây áp lực, hử?

- Chắc là có. Đại sứ Trung Hoa dân quốc cũng xin gặp ngoại trưởng Mẫu.

- Chú thay tôi mà tiếp Trần Thành. Nói cho họ hiểu: tôi cấm 11 nghề là nhân đạo, đáng lý tôi tịch thu tài sản củ họ. Dư luận trong nước thế nào?

- Dĩ nhiên, người ta hoang nghênh. Đã có hai chục nghìn người Việt xin phép hành nghề xuất nhập cảng, thay cho Denis Frères, Poiosard ef Veyret, Ismael… và bây giờ thay cho các công ty Hoa…

- Tốt quá!

- Em sẽ thưa với Tổng thống sau…

- Chú không tán thành?

- Nói phải dài. Ngày mai em xin phép làm việc… Anh cần nghỉ, tối nay chiêu đãi Quốc khánh. Chiều nay anh phát biểu với đài truyền hình Mỹ và thu thanh đài quốc gia… Xin nhắc anh: hôm nay, ngày ban bố hiến pháp.

- Được… Ý chú với cháu Luân thống nhất không?

Nhu tế nhị nhường lời cho Luân.

- Thưa Tổng thống,về căn bản, tôi đồng ý với anh cố vấn!

Viên bí thứ gọi điện xong, báo cáo:

- Trình Tổng thống, mười phút nữa, ông Bộ trưởng và các con tới. Ông ấy đang ngủ trưa.

- Ủa? Giờ này mà ngủ trưa sao? – Diệm trợn mắt.

- Sắp 12 giờ rồi thưa anh! – Nhu xem đồng hồ.

- Chà tôi không dè… Đợi cháu Lệ Thủy về ăn cơm luôn htể. À! Lịnh cho dân đốt pháo ba ngày, chú đã kiểm tra lại chưa?

Nhu gật đầu. Viên bí thư lùi ra cửa.

- Này! – Diệm gọi giật ông ta – Sao tên thầy lại là Vương Văn Mì? Sửa lại đi! Mì chẳng có nghĩa gì cả. Một nước văn hiến không nên có người mang tên cục mịch… hiểu chưa?

Viên bí thư dạ dạ.

- Mỹ được không? Vương Văn Mỹ! Đẹp quá!

Viên bí thư chấp tay:

- Xin tri ân Tổng thống!

Diệm chợt hỏi:

- Sao thầy để râu?

Viên bí thư chưa biết làm gì, Nhu gỡ rối cho ông ta:

- Anh ra đón ông Bộ trưởng.

Diệm ngã người lên ghế bảo:

- Tôi đã ký sắc lệnh đổi tên các tỉnh, các quận. Một nước văn hiến không thể có tên tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng, Thủ Dầu Một… Căn cứ vào Đại Nam Nhất Thống Chí mà sửa. Bến Tre là phủ Kiến Hòa. Mỹ Tho nguyên là trấn Định Tường… Blao nghe mọi rợ quá, tôi đổi là Bảo Lộc. Bù Đốp chẳng có nghĩa gì, nên kêu là Bố Đức, Tônglêcham nêu kêu là Tống Lê Chân…

Rồi Diệm chép miệng:

- Dân ta còn nặng thói nô lệ. Người Pháp đặt tên gì họ kêu tên ấy. Các chính phủ như ông Xuân, ông Hoạch, ông Tâm, chẳng có đầu óc quốc gia.

Trước thái độ kiêu hãnh của Diệm, Nhu đăm chiêu, Luân lặng lẽ ngồi nghe.

- Chú thấy thế nào? – Diệm hỏi Nhu, khó chịu.

- Em nghĩ nhưng việc anh nêu ra đều quan trọng. Song…

- Song – Diệm cướp lời Nhu – Chú cho rằng sự chống đối lệnh cấm nhảy đầm là quan trọng hơn, phải không?

Diệm ngồi ngay trở lại, giọng hậm hực:

- Một xã hội xa rời đạo đức cha ông thì còn gì là xã hội. Tôi xem ảnh một đoàn xiếc, con gái đàn bà gần như lõa thể. Ra chợ tôi thấy món lạ, hỏi thì mới biết đó là thứ ngừa thai. Bậy quá, ai cho nhập cảng thứ phản thiên nhiên đó? Sao cứ thổi phồng nhu cầu sinh lý? Chỉ có những kẻ mang hạ bộ trên đầu mới chống luật lệ của Chính phủ!

Nhu, mặt đau khổ, nói chậm rãi:

- Thưa anh, thưa Tổng thống… chúng ta thuộc về một gia đình mà số phận gắn lièn với vận mệnh quốc gia. Em thấy bất kỳ việc lớn hỏ, Tổng thống nên hết sức thận trọng.

- Chú chậm hiểu hơn bà Nhu! – Diệm kêu lên – Chú học rộng, thông minh, có tài, sao lại lờ mờ quá vậy? Gia đình là nền tảng của xã hội. Lý thuyết cần lao nhân vị của chú không dựa trên sự củng cố đạo đức gia đình thì mong gì thi thố được ngoài xã hội!

Nhu khẽ lắc đầu. Diệm ngó anh trừng trừng. Có vẻ Tổng thống sắp nổi cơn thịnh nộ.

Viên bí thư trở vào, và lần này ông ta cứu Nhu:

- Trình Tổng thống, ông Bộ trưởng tài chánh và bốn con đã tới…

- Vậy hử? Thầy lấy cái máy ảnh Polaroiid của Đông cung Thái tử Nhật biếu tôi…

Diệm chợt thấy Vương Văn Mì đã cạo bộ ria mép, hỏi:

- Ủa, sao thầy cạo râu?

Mì không trả lời, lầm lũi rời phòng.

- Chú với Luân ngồi chơi. Tôi gặp ông Bộ trưởng năm ba phút… Tra nay Luân ăn cơm với gia đình, nghe!

- Anh thấy ở anh Diệm có điều gì khác lạc không? – Nhu hỏi, Luân im lặng, ngó theo làn khói thuốc.

- Không chỉ một điều mà nhiều điều khác lạ - Nhu nói trầm ngâm – chẳng hạn vừa rồi, Tổng thống nghiêm cấm các Bộ trưởng trưởng châu phê trên công văn. Trước đây, Tổng thống nghiêm cấm các Bộ trưởng căm quốc kỳ trên xe, nghiêm cấm các quan chức đi lại có hộ tống, kể cả Tổng tham mưu trườgn. Tổng thống đòi cuối công văn phải ghi công thức tâng bốc người. Tôi còn biết, Tổng thống ra lệnh các báo đài đăng ảnh của Tổng thống, ảnh nào, mỗi ngày mấy ảnh, khôi phục “kim thánh” coi như là huân chương cao nhất của Việt Nam Cộng hòa. Chưa hết, Tổng thống quyết định sáng mồng một Tết, nội các phải đến dinh Độc Lập chúc mừng năm mới Tổng thống…

Nhu nói một thôi, càng nói càng nặng giọng.

- Tất cả những điều khác lạ đó chứng tỏ Tổng thống chú ý những cái vặt vãnh. Tổng thống dồn tâm trí đổi tỉnh lỵ Bến Tre ra Trúc Giang, đổi Vương Văn Mì ra Vương Văn Mỹ, bắt bẽ từng dấu chấm phẩy trong công văn… đồng thời lấy cá nhân mình làm trung tâm chân lý. Chỉ còn đổi dinh Độc Lập ra điện Thái Hòa, tôi không bào đệ mà hoàng đệ, lấy bài “Đăng đàn cung” làm quốc ca, cờ “Long Phụng” làm quốc kỳ là đủ! Ngay Tổng trưởng phải hạ xuống là Bộ trưởng, không phải vì sự chính xác của ngôn từ mà vì anh tôi muốn hạn chế chia sẻ chữ “Tổng” cho người khác! Khi đầy quyền uy, người ta thêm tính xấu, tình ghanh tị…

- Tôi e rằng anh quá bi quan! Luân nói giọng vui.

- Không! – Nhu phản ứng – Giữa Tổng thống và tôi có một khoảng cách về sự đánh giá tình hình. Tổng thống cho rằng chúng ta đã lên đến đỉnh của sự thành công, tôi cho rằng chúng ta đang bắt đầu leo núi. Còn biết bao việc cũ chưa xong, đã nảy ra biết bao nhiều việc mới phải đối phó… Tôi nhớ lời Trần Bình nói với Hán cao tổ: Bệ hạ có thể ngồi trên lưng ngựa mà cái trị thiên hạ…

Nhu ngó thằng Luân, giọng tha thiết:

- Tôi mong anh, được Tổng thống tinh cậy, đôi trường hợp, Tổng thống nghe anh hơn nghe tôi và thường lấy anh để soi rọi lại tôi, nên có lời khuyên Tổng thống… Anh thạo Lê-nin hơn tôi. Tôi chống Lê-nin về toàn bộ ý thức hệ của ông ấy, song tôi tán thành nhiều ý của Lê-nin, trong đó có ý rằng: Một khi người ta bắt bào chữa cho sai lầm thì đó là nguy cơ chính trị… Tổng thống đang bào chữa cho sai lầm!

Luân lựa lời nói với Nhu. Anh thừa hiểu, giọng Nhu tha thiết như mắt Nhu lại chứa chất hoài nghi – Anh che sai lầm của Tổng thống và giúp Tổng thống bào chữa sai lầm!

- Tôi sẽ làm hết sức mình… Có điều sự thể chưa đến nỗi như anh nghĩ, đó là theo ý riêng của tôi. Tổng thống thích quyết đoán – Không phải lúc nào cũng không cần thiết cả!

… Ngòai sân, Bộ trưởng tài chánh và bốn con nhỏ ngơ ngác. Diệm đứng trên tam cấp. Viên bí thư mang cho ông chiếc máy ảnh.

- Trình Tổng thống, đã chỉnh xong. Tổng thống bấm chỗ này…

Diệm nhận máy ảnh, tươi cười bảo:

- Đông cung Thái tử Nhật bản vừa tặng tôi chiếc máy ảnh loại mới, chụp lấy liền… Gọi ông và các cháu tới để tôi tặng một tấm. Ông với các cháu đứng gần nhau… Rứa… Tôi bấm đây… Chú ý!

Diệm bấm. Bấm xong, trao máy ảnh cho viên bí tưh, còn ông thì bước xuống thềm,vò đầu mấy đứa bé. Chúng sợ đến xanh mặt. Viên bí thư rút tấm ảnh, đưa lên anh sáng mặt trời, sau đó trình cho Diệm tấm ảnh màu đã chụp xông.

- Đẹp hỉ! – Diệm thỏa mãn - Chỉ có cái là chẳng ai cười cả!

- Thầy Mỹ! Diệm bảo – vào lấy bọc kẹo!

Diệm phân phát kẹo cho bốn đưa bé và tặng Bộ trưởng tài chánh tấm ảnh.

- Ông Bộ trưởng có thể về!

Bộ trưởng tài chánh nghiêng mình chào Diệm, bốn đứa bé khoanh tay lí nhí thưa. Tất cả lủi thủi ra xe.

Diệm trông theo:

- Ông Bộ trưởng khéo dạy con, hỉ!

Diệm ngồi vào ghế, châm thuốc.

- Chà! Nghe Tỉnh trưởng Quảng Nam phúc tình mà tội cho dân. Việt Cộng ngăn cản mà dân cứ ùa ra quận lỵ, tỉnh lỵ thỉnh ảnh của tôi. Lễ “thượng ảnh” thật long trọng, khắp thôn xã…

- Tối nay, sau chiêu đãi, anh định tiếp ai, ngoài ngoại giao đoàn? – Nhu như vô tình ngắt lời Diệm.

- Mời cho tôi đại biểu quốc hội, đại biểu các hiệp hội…

- Thưa anh, em muốn gặp một số trí thức, nhà báo…

Diệm xua tay:

- Thôi! Họ hay lý sự lắm. Lúc nào cũng dân chủ… Họ chẳng hiểu thế nào là dân chủ Đông phương. Ở nước ta, dân chủ tồn tại trong đời sống dân tọc cả ngàn năm rồi: trong nhà có cha anh, trong họ có tộc trưởng, trong hương thôn có chức việc. Tren cao nhất, cần một mình quân và một lương tể. Chính ông Ayub Khan bên Hồi, thư cho tôi nói rằng nước ông ấy đang học tập nước ta để xây dựng nền dân chủ đó!

Rồi Diệm cười hả hê:

- Chú rất giỏi. Gọi chú là bác học cũng không quá. Song, không phải hễ bác học là đã nghĩ chu đáo mọi thứ!

Diệm cười to, đỏ mặt. Nếu là Ngô Đình Lệ Thủy và Trần Lệ Xuân chưa về, không biết ông ta còn cười đến bao giờ.

***********************
????? Là những từ, chỗ mà người đánh máy vì bản scan quá nhòe không đọc được. Thường là trước, sau, hoặc ngay chỗ đặt dấu ? Xin nhờ người kiểm duyệt sửa lỗi chính tả bổ sung dùm. Xin cảm ơn !

Nếu chẳng một phen sương thắm lạnh
Hoa mai sao dễ tỏa mùi hương
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-18 08:26:30Mãi Yêu Hoài Nhé>
PHẦN III
CHƯƠNG III


Tin tức trên các báo hàng ngày:
Lựu đạn nổ tại rạp Nguyễn Văn Hảo giữa lúc đoàn Kim Thoa đang diễn vở “Lấp Sông Gianh” của Duy Lân. Nữ nghệ sĩ Tâm Ái chết. Duy Lân gãy một chân. Nhạc sẽ Tám Sự mù mắt. Nhiều người bị thương. Hung thủ mặc quần áo an ninh quân đội, bị cảnh sát hạ tại chỗ…
Phóng sự của báo buổi sáng:
Như bổn báo đưa tin, tôi hôm kia, một quả lựu đạn nổ trên sân khấu Nguyễn Văn Hảo. Phóng viên Văn Hồng người chứng kiến từ đầu đến cuối nội vụ, tường thuật như sau:
Sài Gòn… tháng 11 năm 1956. Mặt tiền rạp Nguyễn Văn Hảo rực rỡ trong ánh điện nhiều màu. Khán giả chen nhau mua vé. Gánh Kim Thoa khai trương với vở dã sử của soạn giả Duy Lân: Lấp Sông Gianh.
Chẳng rõ vì hiếu kỳ hay vì danh tiếng của Duy Lân và của cô đào trẻ đang lên Tâm ái, cùng toàn ban Kim Thoa với Tấm Vân, Minh Chí mà người xem đông đảo khác thường như vậy. Chưa đến giờ, không còn một ghế trống. Đặc biệt khá nhiều quân nhân hoặc ngồi các ghế “súp” hoặc đứng. Cốt truyện theo “Programe”: Thời chúa Nguyễn Phúc Chu, có một đôi trai gái yêu nhau và gia đinh đồng ý cho họ cưới. Song, cô Ngọc Lê (Tám Vân) lại ở bờ bắc con sông bị chúa Trịnh và chúa Nguyễn lấy làm con ranh giới chia hai đất nước. Thành Duy toan vượt sông đón người yêu thì bị quân chúa Trịnh bắt và đày lên mạn ngưocw. Ngọc Lê bởi nhan sắc kiều diễm, bịn sung vào cung chúa Nguyễn để đàn hát giúp vui cho Chúa. Thế tử Phúc Đông (Minh Chí) say Ngọc Lê tìm cách chiếm đoạt nhưng Ngọc Lê một lòng chung thủy với Thành Duy, lại nhờ bà đầu gánh che chở, nên giữ được tiết trinh. Một hôm, Chúa (Hoàng Giang) gọi gánh hát vào phủ. Ngọc Lê hát một bài dâng lên Chúa. Chúa khen và cho phép cô xin một điều bất cứ điều gì Chúa cũng se làm cô vừa lòng, Ngọc Lê xin được về bên bờ bắc để sum họp với chồng. Chúa nổi giận, ra lệnh cho cô phải chọn giữa việc vào nhà ngục với việc lấy Phúc Đông. Ngọc Lê chọn nhà ngục. Phúc Đông cảm phục Ngọc Lê, tìm cách cứu cô. Chẳng may, Chúa phát giác và Phúc Đông bị đày ra đồn Nhật Lệ. Thành Duy trốn thoát trại giam, trà trộn theo quân chúa Trịnh và đánh chúa Nguyễn, dùng lời hơn lẽ thiệt gợi lòng yêu đồng bào ruột thịt của bình sĩ và, tiếng sáo của anh làm xúc động cả binh lính bờ nam. Ngọc Lê, nhờ bà đầu gánh giúp, có mặt vào lúc đó. Lính và dân hai ờ, mặc kệ quan hăm dọa, khiêng đất lấp sông Gianh…
Tuồng diễn trót lọt từ đầu đến phút lấp sông Gianh. Khi các diễn viên bằng động tác tượng trưng ùa ra giữa sân khấu nhảy múa thì đèn vụt tắt và một quả lựu đạn nổ dữ dội… Tiếng rú thê thảm vang lên. Gần như đồng thời với tiếng lựu đạn, một tiếng súng ngắn nổ tiếp, một nạn nhân trúng đạn chết liền. Khi đèn sáng lại, người chết và người bị thương nằm đầy sân khấu. Cảnh sát rúc còi. Hình như trước đó đã xảy ra xô xát ở chỗ đặt cầu dao điện. Nội vụ đang trong vòng điều tra. Tổn thất cả gánh Kim Thoa rất nặng. Sau đây là danh sách người chết và bị thương… Có tin gì thêm, chúng tôi sẽ đăng số báo ngày mai.


Báo cáo của Nha cảnh sát Đô thành.
Top Secret(1) số 22/TS.
Sài Gòn, november (2)…
Kính gởi Nha tổng giám đốc cảnh sát Quốc gia.
Kính Thiếu tướng Nguyễn Ngọc lễ, Tổng Giám đốc.
Tiếp báo cáo số 19-TS chung quanh việc lựu đạn nổ ở rạp Nguyễn Văn Hảo, nay kết quả giám định và điều tra cho biết:
1) Một nhóm an ninh quân đội đã đánh trọng thương trung úy cảnh sát Lê Văn Minh, tòng sự tại Nha cảnh sát Đô thành – người do bà Hoàng Thị Thùy Dung, Bí thư của Thiếu tướng tổng giám đốc gọi đến giữ trật tự trong rạp – để cắt cầu dao điện. Cầu dao bị cắt 45 giây. Đó là lúc lựu đạn được ném lên sân khấu.
2) Hung thủ dùng lựu đạn O.F loại mới. Lựu đạn nổ vào 23 giờ 37 phút.
3) Vào 23 giờ 37 phút 2 giây, đèn chưa cháy lại, một kẻ lạ mặt dùng súng ngắn bắn chết một quân nhân. Kẻ lạ mặt lẫn lộn trong khán giả trốn thoát.
4) Theo một số người chứng kiến, kẻ lạ mặt dong dỏng cao, tuổi lối 25, mặc quần áo cảnh sát. Khám nghiệm tử thi quân nhân, biêt rằng kẻ lạ mặt dùng súng Wesson ngắn nòng. Điều đó xác minh thêm kẻ lạ mặt.
5) Người chết, trúng đạn ngay đầu, đạn xuyên óc. Tên là Vũ Đình Chu, Thiếu úy an ninh quân độ. Khám nghiệm xác nhận đây là hung thủ ném lựu đạn, trong túi Chu còn một quả O.F.
6) Công việc điều tra gặp một số khó khăn:
a) Thiếu tướng giám đốc Nha an ninh quân đội không tạo điều kiện dễ dàng cho thiểm nha hỏi những nhân viên an ninh quân đội cùng đi với Vũ Đình Chu và thiểm Nha tin rằng đồng bọn hành động có chỉ huy, theo một kế hoạch định trước.
b)Linh mục Hoàng Quỳnh trực tiếp gặp giám đốc nha cảnh sát đô thành sáng nay, buộc thiểm nha phải chấm dứt cuộc điều tra, tống giam trung úy Lê Văn Minh và giao nọp cho linh mục kẻ đã bắn Vũ Đình Chu.
7) Dư luận dân chúng rất bất lợi cho chính phủ, nhất là các báo tun tin trái ngược nhau. Báo Em của Nguyễn Tấn Sĩ (Dương Từ Giang) quả quyết “Bàn tay của bọn chia rẽ Bắc Nam nhúng vào máu nghệ sĩ”, Tiếng Chuông của Đinh Văn Khai và Sài Gòn Mới của bà Bút Trà thi nghi nghi hoặc hoặc: Tự do, Ngôn luận, Cách mạng, quốc gia… cáo buộc Cộng sản, mà lý lẽ hàm hồ, nên tác dụng ngược lại.
Xin kính trình Thiếu tướng để tường.

Trung tá Giam đốc

Luân, cùng Dung vào rạp trước giờ mở màn. Thạch và Lục tháo mồ hôi mới vẹt được đường cho họ. Khi tất cả ngồi vào chỗ - trên lầu, hàng ghế đầu – Dung dùng khăn tay quạt lấy quạt để, Luân mua cho cô chiếc quạt giấy và tiện thể mua luon mấy gói hạt dưa.
- Khủng khiếp! – Dung vừa quạt vừa cắn hạt dưa, giọng nũng nịu – Không có anh, đời nào em vào đây. Từ bé, lần đầu em xem cải lương. Em không thích. Gia ban Việt kịch Năm Châu diễn tiếp những vở như “Người mặt cháy” nóng mấy em cũng xem.
Luân thông cảm viớ Dung, Dung lớn lên trong một môi trường khác, chưa quen nghệ thuật dân gian. Một lần, anh rủ cô xem tuồng cổ, cô gắng gượng ngồi vì ngại Luân buồn – cô chẳng hiểu gì cả. Trái lại, xem kịch “Người mặt cháy” cô sôi nổi hẳn. Kịch gần gũi cô hnư, ngoài lý do cô đã đọc nguyên tác “Tính cách người nga” của A.Tolstoi mà Nguyễn Thành Châu Việt hóa thành kịch. Anh cũng đã đưa cô đi xem phim “Không một mái nhà” và “Lòng nhân đạo” – những bước chập chững của nền điện ảnh có xu hướng tiến bộ ở Sài Gòn. Tất nhiên, Dung thích.
Luân còn thông cảm với Dung bởi rạp hát cải lương quá ngột ngạt. Hơi nóng hừng hực – dù mùa này thời tiết khá dịu. Quang cảnh hổn tạp càng ngột ngạt hơn: trẻ con khóc, người lớn cãi vã tục tằn, nào khạc nhổ, nào rao hàng.
Dung đọc khe khẽ tờ chương trình cho Luân nghe. Anh đã biết sơ sơ nội dung vỡ tuồng và vì vậy mà anh rủ Dung đi xem.Gần đây, một sự thôi thúc vô hình khiến Luân luôn muốn chia sẻ niềm vui riêng với Dung. Từ từ nhưng vững chắc, Dung chiếm một chỗ trong tình cảm sâu kín của Luân, tuy chưa bao giờ hai người vượt quá làn ranh cho phép và riêng Luân, chưa bao giừo phát triển mối quan hệ xa hơn mối quan hệ cộng tác giữa hai người.
- Lính xem đông dữ! – Thạch nhận xét.
Từ trên lầu, Luân nhìn tòan rạp và anh thấy ngay cảnh tượng không bình thường: quân nhân chiếm một tỷ lẹ khá trọng khán giả. Một nhóm áp sát sân khấu, số còn lại ngồi rải rác trên ghế “súp” dài theo đường dẫn từ cửa ra vào sân khấu. Trên lầu, quanh Luân, không có một bóng quân nhân nào cả. Nội dung vở tuồng khó mà lôi cuốn những người lính, nhất là những người lính mặt mũi hung tợn, có vẻ sẵn sàng sung trận hơn là thưởng thức nghệ thuật.
“Thanh toán với nhau chăng?” Luân ngẫm nghĩ. Chuyện các sắc linh ẩu đả, đâm chém, thậm chí bắn lôn… xảy như cơm bửa. Dẫu sao, cũng cần đề phòng. Anh bảo Thạch xuống lầu quan sát.
Thạch trở lên thì màn đã mở. Thạch cho biết hầu hết quân nhân là an ninh quân đội, dân di cư. Một toán lảng vảng nơi đặt cầu dao điện.
- Hay là chúng định hành hung đoàn Kim Thoa. Tuồng Lấp sông Gianh mang ý nghĩa chống chia cách đất nước, tuy tố cáo chúa Trịnh và chúa Nguyên, song vẫn đập chúa Nguyễn mạnh hơn.
- Cô gọi điện cho nha cảnh sát đô thành yêu cầu phái cảnh sát đến giữ trật tự. Tôi ngại bọn an ninh quân đội gây rối. Luân bảo Dung.
Thạch đưa Dung xuống phòng chủ rạp, nhờ điện thoại. Sân khấu lắng đọng với tiếng hò cao vút của Ngọc lê.
- Xong rồi! – Dung trở lại bảo Luân.
Bây giờ, màn một đang hồi vui vẻ: Ngọc Lê và Thành Duy đang tỏ tình bên bờ sông.
- Nếu em là Ngọc Lê em sẽ bảo anh chàng Thành Duy: nên về học cách tỏ tình với phụ nữ. Chưa chi đã: Nàng đẹp tựa tranh Tố Nữ, suối tóc dài lay gợn trong mấy, mắt hồ thu vừa ngó đã say, màu da ngọc làu làu bông tuyết… - Dung cười nắc nẻ.
- Cô quên là câu chuyện cách chúng ta hai trăm năm!
- Anh nói sai rồi! Cách hai trăm năm mà dám khen: môi nàng tựa đóa hải đường vừa hé nụ… Hồi đó, nhận xét thế các cụ đét cho mà chết!
Tuy phê phán lời lẽ ba hoa của vở tuồng Dung lại vỗ tay hăng hái khi màn một kết thúc. Và, cô rưng rưng nước mắt với hàm hai, khi Thành Duy vượt sông bị bắt, bị đày. Không chỉ có Dung, mà Lục cũng khụt khịt mũi.
Thạch dẫn hai sẽ quan cảnh sát đến trước Dung.
- Thưa, tôi là Trung úy Lê Văn Minh, tòng sự ở nhà cảnh sát đô thành, được lệnh đến trình diện với bà!
Một trong hai người chập gót chân, báo cáo.
- Cùng đi với tôi có thiếu úy Lê Ngân và hai tiểu đội!
Dung vội vã chậm nước măt, chạm nhẹ tay Luân, cầu cứu. Luân ngồi yên. Không thể khác được, Dung phải đứng lên bắt tay hai sĩ quan. Trung úy Minh thẳng người, nhưng môi cố mím. Anh rất trẻ và chắc chắn đã kinh ngạc vì Dung còn trẻ hơn anh. Một cô gái đẹp, rụt rè, chưa lau sạch nước mắt thương cảm với số phận một cô gái khác trên sân khấu, lại là người đủ quyền lực gọi sĩ quan như anh đến nghe lệnh.
Dung phát bực. Luân không giúp cô. Dung đâu biết Luân đang sững sờ. Thiếu úy Lê Ngân chính là Quyến, trung đội trưởng truyền tin của tiểu đoàn 420, cùng với Sa được Luân chọn về thành giúp anh. Từ khi chia tay ở Phụng Hiệp, anh bặt tin Quyến. Ai dè Quyến lò mò vào nha cảnh sát! Mắt Quyến hấp háy!
“Nó không ngờ gặp mình” – Luân nghĩ.
Khán giả trên đầu ngó Dung. Cô càng quýnh.
- Cám ơn hâinh. Đây là anh Luân của tôi! Dung giới thiệu Luân. Nói xong, như trút gánh nặng, cô thở phào, ngồi xuống.
Luân đứng lên, bắt tay hai sĩ quan. Dĩ nhiên anh và Quyến bóp ngầm tay nhau đến mức xương tay muốn vỡ.
- Có triệu chứng an ninh quân đội gây rối trong buổi hát. Phiền trung úy và thiếu úy cho cảnh sát theo dõi, nhất là nơi đặt cầu dao điện và sân khấu…
Hai sĩ quan cảnh sát đi làm nhiệm vụ. Dung càu nhàu:
- Anh ác ghê! Không tiếp họ ngay lúc đầu. Em xấu hổ đến chín người.
- Họ đến trình diện với “bà” chớ có phải với “ông” đâu!
Luân đùa. Và anh vội né Dung đấm anh. Sau này, mỗi khi vui, Dung thường đấm anh.
Màn ba đang diễn. Dung quên viềc vừa rồi, nói khẽ:
- Cải lương hay, phải không anh? Em thích quá!

Kịch bản màn ba và màn năm vở Lấp sông Gianh:
Màn ba: Phủ chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn và vương phi vừa nhắm rượu vừa xem múa. Đoàn vũ nữ múa một điệu Chàm.
Chúa Nguyễn (khoát tay): Múa như vậy là đủ. Bây giờ ta muốn nghe hát. Trong bọn ngươi ai hát hay, ta trọng thưởng cho.
Bà đầu gánh quỳ xuống.
Bà đầu gánh: Nàng kia (trỏ Ngọc Lê) hát hay nhất…
Chúa Nguyễn (ngó Ngọc Lê:) Nàng hát đi… Nàng tên gì, quê quán ở đâu? Sao mặt mày buồn bã lắm vậy?
Ngọc Lê (quỳ): Dạ tiện nữ làm nghề dệt lụa bên bờ Nhật Lệ, tên Ngọc Lê, họ Trần…
Chúa Nguyễn: Tên và người cùng đẹp!Hát đi!
Vương Phi (ngó Ngọc Lê): Nàng là Trần Ngọc Lê?
Ngọc Lê: Thưa vâng!
Vương Phi (với chúa Nguyễn): Chúa công không biết nàng sao? (chúa Nguyễn lắc đầu). Vì nàng mà Thế tử Phúc Đông ốm o gầy mòn đó!
Chúa Nguyễn: Vậy sao?... Ta sẽ tác thành cho!
Ngọc Lê: Tiện nữ xin dâng chúa thượng cùng vương phi một bài hát. Nếu bài hát vừa lòng hai vị, xin hai vị cho tiện nữ một lời thỉnh cầu…
Vương Phi: Được! Vàng bạc, gấm vóc… (cười) và ngôi chánh thất của Thế tử.
Ngọc Lê: Tiện nữ sẽ trình bà thỉnh cầu sau. Bây giờ, tiệnnữ dâng hai vị bài hát (Ngọc Lê nắn phím đàn, mắt ngó mông lung): Chàng ở bờ bác sông Gianh, em ở bờ nam, nhớ nhau mà không sao gặp mặt, dù hai ta vẫn cùng mộng chung dòng nước…
(Vọng cổ câu 1)… in bóng hai đưa đôi bờ… Nước trong veo và nước chảy hững hờ. Ai chia cắt mối tình vốn trắng tinh như hồn ta con gái và như nụ hoa còn giấu mùi hương, nhìn màu xanh bên kia là gặp bóng người thương nghe sóng vỗ ngỡ lời than, nghe gió khuya như ai đó thì thầm. Đêm khẽ gọi: chàng ơi! Mà đáp lại chỉ lạnh lẽo vầng trăng chia Nam Bắc…
Hậu trường, Thành Duy đệm.
Hỡi em gái nhỏ bờ nam mỗi sáng không còn ra bờ sông ngồi giặc lụa, tận biên thùy gối kiếm, ta nghe em như tiếng nhạn sương sầu thảm, cành liễu ta vịn u buồn như hoàng hôn nhuộm xám…
(Vọng cổ, câu 2) Ta đếm bước đi và nghe cát sỏi cũng sụt sùi.
Ngọc Lê (ca nối): Anh ở đầu non, trăm nỗi ngầm ngùi. Em nhắt lá khóc tình duyên cuối bãi. Sỏi cát sụt sùi hay chính lòng ta…
Thành Duy (ca nố): Trách ai? Muốn hỏi trăng ngà.
Trăng im. Hỏi trúc. Là dà, trúc im!
Ngọc Lê (ca nối và dứt): Trời cao dẫu hỏi, trời cao nữa
Còn lại đôi bờ bọng xót xa…
(Hậu trường tấu nhạc, bài “Tình trong lá thiếp” của Phan Huỳnh Điểu). Sân khấu lắng một lúc.
Chúa Nguyễn: Hát hay mà buồn quá!
Vương Phi: Bây giờ, nàng hãy vào trong thay đổi xiêm y. Ta cho gọi thế tử nơi ??? Ái Tử…
Ngọc Lê: Không! Tiện nữ là gái có chồng… Xin vương thượng giữ lời hưa, tha cho tiện nữ về bờ bắc sông Gianh!
Vương Phai (sững sốt): Nhà ngươi nói chi?
Ngọc Lê: Tiện nữ muốn sum họp với chồng! Chồng tiện nữ ở bờ bắc…
Chúa Nguyễn (vỗ bàn): Cha chả, giỏi cho con tiện tì!
Vương Phi: Nàng điên loạn rồi sao chớ? Nàng không biết sông Gianh là quốc giới hay sao?... Nàng không biết là lệnh chúa cấm qua lại con sông đó, hay sao?
Chúa Nguyễn (cười gằn): Rồi nhà ngươi sẽ mãn nguyện. Nhà người vượt sông khi ta tuốt gươm và trở cờ bắc phạt… Ta phải diệt hết lũ vô đạo đang ngự trị bờ bắc. Thượng đế trao cho ta sứ mệnh đó…
Ngọc Lê: (đứng thẳng): Chúa công lầm rồi! Non nước này từ Lạng Sơn đến Cà Mau chung một nòi giống. Sông Gianh làm sao là biên giới được? Sự chia cắt bấy lâu đau lòng trăm họ, chúa công nỡ nào vấy máu đồng bào mình…
Vương Phi: Con nhỏ này lớn mật: Ta hỏi mi lần cưối: chọn lầu son gác tía cùng con ta hay chọn ngục đá gômg cùm?
Ngọc Lê: Tôi chọn một dải gian sơn tòan vẹn!
Chúa Nguyễn: Con tiện tì phải đền tội!
Ngọc Lê: Trăm họ sẽ hỏi tội chúa công. Một đầu rơi chớ vạn đầu tơi, chúng dân cũng nhất quyết đòi xóa lằn ranh sông Gianh vô lý!
Chúa Nguyễn: Võ đao quân! (Dạ)
(Tiếng Phúc Đông, hậu trường)
Xin vương phụ hay dằn cơn thịnh nộ, đừng làm cho họ Nguyễn nhà ta phạm tội ác giết một người con gái kiên trinh và bị lịch sử lên án đã vì lòng tham ích kỹ nỡ cắt đôi non nước chung máu thịt tự bao đời…


(Màn năm: Cảnh lấp sông Gianh)
(Hò lơ) Lấp sông này! Lấp sông này…
Lấp sông lấp cả những bầy sói lang!
Thanh bình ta đón nhau sang
Nghìn năm con cháu Hồng Bàng cầm tay!
(Ngọc Lê ngã đầu vào ngực Thành Duy. Nhạc đánh bài Cầu Hò Bên Bờ Hiền Lương của văn Cận).

Dung sụt sùi mãi.
- Chị Ngọc Lê chinh phục em! Em nhớ quê quá…
Luân suy tư về hiệu quả của nghệ thuật. Tuy vậy, vở tuồng lộ liễu, không thể diễn tiếp được. Duy Lân giở gắm nhưng chưa làm đủ liều lượng. Bộ Thông tin không phải là những thằng ngu…
Khi vỡ diễn đến đoạn cao trào thì chừng chục tên an ninh quân đội xông vào nơi đặt cầu dao điện. Trung úy Minh dang tay cản chúng.
- Các anh định làm gì?
- Chúng ông đánh bỏ mẹ mày! – Một tên không đeo cấp hiệu, mặt choắt, cằm phất phơ mấy sợi lông đen, thét to. Cả bọn túm lấy Minh, tước súng. Tên mặt choặt nện lên đầu Minh một thanh sắt, Minh ngã quỵ.
Quyến vẫn theo dõi đám an ninh quân đội áp sát sân khấu chớt thấy một trong số đó – một gã to béo – móc túi ra một vật tròn tròn.
Khán giả vỗ tay hoan hô. Đèn vụt tắt. Từ tay gã to béo, vật ấy bay lên sân khấu.
- Lựu đạn! – Quyến hô hoán. Anh nâng nòng khẩu Vesson. Ánh lửa lóe, kèm một tiếng nổ dữ dội. Quyến bóp cò, nhắm đúng gã to béo đang khom lưng tránh miểng lựu đạn, dưới anh mờ của lóe lửa.
Luân nhìn thấy tất cả. Anh rút sung, kéo Dung vào lòng, Thạch đâu lưng vào anh, còn Lục, tuy chậm chạp, song cũng án trước Dung.
- Chết tôi, trời ơi! – Tiếng của cô đào Tâm Ái, thủ vài Ngọc Lê.
- Nó đấy! – Mấy tên anh ninh quân đội lao vào Quyến. Một ghế đẩu, ném thật mạnh, trúng ngực anh.
- Bắn nó! – Quyến nghe tiếng cò súng khua. Nhịn đau, anh đạp tung cửa hỏng, thoát ra hẻm cạnh rạp, vừa chạy vừa thổi còi báo động.
Trung úy Minh tỉnh dậy. Anh cố sức đẩy một tên giữ chặt cầu dao. Cầu dao đóng lại.Đèn bật sáng.
Bọn an ninh quân đội tháo lui. Bấy giờ, coi cảnh sát đã rộ.
… Cảnh náo loạn kéo dài mười lăm phút. Sân khấu đẫm máu. Sau cùng Luân dìu Dung ra khỏi rạp. Anh đích thân chỉ huy cứu cấp nạn nhân của đoàn Kim Thoa và gọi riêng một xe Hồng thập tự chở Trung úy Minh và Quyến vào bệnh viện quân đội. Quyến bị chấn thương nơi ngực. Anh thều thào:
- Anh đừng lo…
Luân dặn thật khẽ.
- Vào nhà thương chú đề phòng tụi nó trả thù… Tôi sẽ nhờ quân cảnh coi chừng giúp.
Trên xe về nhà, Dung khóc thành tiếng:
- Tội nghiệp chị Ngọc Lê!

***********************
Chú giải:
(1)Tối mật
(2)Tháng mười một.
***********************
????? Là những từ, chỗ mà người đánh máy vì bản scan quá nhòe không đọc được. Thường là trước, sau, hoặc ngay chỗ đặt dấu ? Xin nhờ người kiểm duyệt sửa lỗi chính tả bổ sung dùm. Xin cảm ơn !

Nếu chẳng một phen sương thắm lạnh
Hoa mai sao dễ tỏa mùi hương
Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN III
CHƯƠNG V


Ly Kai đinh ninh là gã không thể nào lọt vào cuộc họp, mặc dù Suần Quài hứa chắc là gã sẽ được tiếp đón, thậm chí còn thân tình hơn số thương gia, nghiệp chủ người Hoa có m ặt hôm nay. Dương Tái hưng, quang Loẽng, bảo gã phải lân la với nhóm “Lâm Sử” nhờ nhóm đó bắc cầu mà phăng ra nhóm “Hoa Vận”, Giải Liên… Nói chung gã mù tịt những phe nhóm trong đám người Hoa này.
- Thây kệ, chúng nó nói chính trị, nó nói cái gì thì nị ừ cái nấy… Nhóm “Giải Liên” có thể dính đến thằng cha gì mà ông chủ biểu nị theo dõi đó! – Loẽng bảo.
Từ khi nhận được chỉ thị của Dương Tái Hưng, Ly Kai bám sát Luân. Cả khi Luân học trên Đà Lạt, Ly Kai cũng lên đó vài lần dò hỏi. Tuy nhiên, tài liệu về Luân chẳng được là bao. Ly Kai vấp một khó khăn: Ngô Đình Nhu và bác sĩ Tuyến lạnh nhạt dần với gã. Gã hiểu lờ mờ nguyên cớ: Họ không tin gã thoát chết nhờ phóng xuống nước. Có thể họ cho gã đầu hàng Lại Văn Sang, phun hết bao nhiêu điều cơ mặt. Có thể hhọ nghi gã dính líu vào cái chết của Tiểu Phụng. Và cũng có thể họ ghép gã trong danh sách điệp viên của CIA – lý do sau chót vững hơn hết, bởi họ chỉ giảm tin dùng gã chớ chưa đuổi gã hoặc làm một cái gì khác ghê rợn hơn.
Dương Tái Hưng không hài lòng nhiều về gã. Một trong yêu cầu mà Tái hưng chị là gã phải dụ cho được Thạch hoặc Lục hay tiếp cận với bác sĩ Soạn và vợ ông ta – người thân của Thùy Dung – gã không làm được. Khó lắm. Thằng Thạch láu lỉnh, không khéo nó biết gã dò la Luân, báo với Luân, Luân hỏi Nhu – tất nhiên Nhu không giao gãv iệc đó, họ sẽ trị gã. Thằng Lục lù đù, cạy răng không nói. Gia đình bác sĩ Soạn chẳng có quan hệ nào với Hoa kiều, làm sao xáp vô được? Trần Vĩnh Đắt làm việc vói Dung khi lão ta còn ở ngành công an, song lão “dê xồm” tán những thứ linh tinh về cô gái mà lão đam mê, ngoài ra chẳng cung cấp được một chút gì bổ ích. Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Lễ biết Dung trong công vụ - ông ta ngại, dòm ngõ việc riêng của cô sẽ phất ý Luân mà Luân thì đang được họ Ngô trọng dụng.
Bây giờ, Dương Tái Hưng lại chỉ thêm cách cho gã lần mối…
Pô Xường Thài do nghị định của chính phủ buộc mọi công dân phải lấy tên theo âm ngữ Việt Nam, nên đổi ra Bá Thượng Đài, ngụ trong một ngôi nhà hai tầng kiến trúc lối Pháp vào đầu thế kỷ khá đồ sộ, nằm giữa vòng rào sắt mà mỗi thanh giống như ngọn giáo chĩa lên trời, trên đường lớn Gaudot, vừa cải danh thành Khổng Tử.
Pô Thường Xài nổi tiếng là “vua sắt” – chuyên mua bán vật liệu xây dựng. Ông ta thuộc hạng ngươi Hoa điển hình ở Chợ Lớn: Từ Quảng Châu sang đây, khi vừa biết nói, tài sản của gia đinh ông – cha, mẹ và ông ta gọn lọn trong hai cần xé. Nghề đầu tiên của cha mẹ ông ta là mua ve chai đôi dép lốp xe mỏng dính bấu vào chân bằng một sợi thun phái sau giữ lấy gót và một sợi thun phía trước ghì ngón chân tro, đã lội khắp hang cùng nghõ hẻm thành phố, từ Bà Chiều đến Phú Lâm. Hai cần xé, vẫn là hai cần xé mây theo họ sang đây, nhứn nhẩy trên vai, dưới chiếc nón mây rộng vành và trong bộ quần áo xanh vá chằng vá chịt. Đó là hình ảnh mà Pô Xường Thài lưu giữ trong ký ức về cha mẹ mà cũng là về bản thân mình. Hồi lên bảy, Pô Thường Xài bắt đầu nối nghiệp cha mẹ, mặc dù nhà đã khấm khá – rời khoảng trống cạnh rạp Casino Chợ Lớn, mướn một căn phố lùi phía sau đường Thủy Binh.
Khi Pô Xường Thài lên mười lăm, bang Quảng Đông cho phép cha của ông ta hùn vốn mở một tiệm lạc son ngay dưới chân cầu Palikao. Năm lên hai mươi, gia đình ông tách riêng, làm chủ một tiệm bán sắt vụn trên đường La Ceinture, trước cổng đồn Cây Mai. Đó là năm chiến tranh thế giới lần t hứ nhất kết thúc. Pô Xường Thài đã khôn lớn, cha mẹ ông vẫn ngày ngày quảy cần xé len lỏi các xóm trong thành phố, giao cho ông mở mang cơ nghiệp theo lối khác. Mãi năm lên ba mươi, Pô Xường Thài mới cưói vợ, con một chủ hiệu lạc son ở cầu Ông Lãnh. Ông ta cưới vợ chưa bao lâu thì cha qua đời. Đám tang đơn giản. Rồi đến lượt mẹ ông. Khi những người thuộc thế hệ cũ khuất bóng, Pô Xường Thài một mặt xây cho họ mồ mả thật lộng lẫy để đền ơn, một mặt mua nhà đồ sộ ngay mặt tiền đại lộ.
Những tiệm lạc son nhỏ lần lượt về tay Pô. Sau cùng, chính cha vợ ông bán cơ ngơi ở cầu Ông Lãnh cho ông. Chiến tranh thế giới thứ hai mang tiền vào nhà ông như nước: sắt là của quý, mà ông có hằng kho đầy ắp, ngay Daiman Koosi cũng phải tìm đến ông để xưởng tàu vủa họ ở Chánh Hưng có thể hoạt động. Chiến tranh Việt Pháp tiếp tục hỗ trợ ông. Ngày nay, tuy còn danh nghĩa “vua sắt” ông thật sự đã là vua dệt, vua chất dẻo, và cũng có lẽ được gọi là vua ngân hàng: cổ phiếu của Pô – ông chưa bao giờ tiết lộ, song chẳng có gì là khó hiểu – khá cao trong Bank of China, Bank of Communication, và cả trong chi nhánh Hong Kong Exchange office(1). Dụ 53 của chính phủ Diệm, gây trở ngại cho Pô – trong 11 nghề ngoại kiều không được làm, có nghề sắt đồng – nhưng chỉ vài hôm, mọi sự đâu vào đấy: Pô Xường Thài lãnh thẻ căn cước với tên Bá Thượng Đài, dù cho mãi tới bây giờ, câu tiếng Việt mà Pô nói suôn sẻ nhất vẫn là câu: de chai pể, sắt pể pán hôn…
Ấy vậy mà Bá Thượng Đài lại dám mời Lâm Sử mở hội nghị tại nhà.
Vì sao đại thương gia Bá Thượng Đài quan hệ với Lâm Sử, ta sẽ tìm hiểu sau. Ta hãy làm quen với Lâm Sử.
Người Triều Châu, thầy giáo dạy học ở Bạc Liêu, Lâm Sử đi kháng chiến, cán bộ của Hoa kiều giải phóng liên hiệp hội gọi tắt Giải Liên, thành viên của mặt trận Việt Minh – và sau này, của Liên Việt. Lâm Sử được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1947, lần lượt công tác trong hội Giải Liên cấp quận, cấp tỉnh rồi lên tổng hội. Năm 1951 Lâm Sử trở thành một trong những cán bộ chủ chốt của ban Hoa vận xứ ủy, tổng biên tập báo Giải Liên. Năm đó, Lâm Sử đang học lớp chỉnh huấn thì vợ anh có thai – té sông chết đuối. Tin đến giữa lúc anh đang “ngồi thị phạm”(2). Anh, chỉ biến sắc một thoáng, tiếp túc hành thành bản tự kiểm điểm. Bấy giờ, anh được nhà trường nêu lên tấm gương kiên cường có một không hai.
Sau hiệp định Genève, Lâm Sử được phân công về hoạt động ở Sài Gòn. Anh lấy vợ kế. Do sự thỏa thuận giữa trung ương Đảng Lao Động Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, Lâm Sử - cùng một số cán bộ - tác khỏi Đảng Việt Nam, trực thuộc Bắc Kinh. Nhiệm vụ của ban cán sự này là chuyên trách với Hoa kiều tầng lớp trên, còn quần chúng lao động Hoa kiều thì do Đảng Việt Nam tổ chức và lãnh đạo, qua một số cán bộ vốn công tác chung với Lâm Sử trong tổng hội Giải Liên.
Tới đây, xuất hiện sự khác biệt có tính nguyên tắc trong phương châm vận động quần chúng, Hoa kiều giữa hai đảng. Trực tiếp nhận chỉ thị từ Bắc Kinh, nhóm Lâm Sử đưa ra khẩu hiệu “Trường kỳ mai phục, xúc tích lực lượng diện hương Tổ quốc”(3) trong nhóm Giải liên, theo quan điểm “Ở đâu có áp bức ở đó có đấu tranh” của đảng Việt Nam mở rộng phòng trào và gắn phong trào của lao động người Hoa với phòng trào lao động nói chung. Đảng Việt Nam xem những tư sản mại bản người Hoa câu kết với đế quốc ngụy quyền – kẻ áp bức bóc lột quần chúng Hoa Việt – là đối tượng đấu tranh, còn nhóm Lâm Sử xem bọn chúng như đồng minh, xuất phát từ huyết thống chứ không từ giai cấp.
Bá Thượng Đài chẳng biết ất giáp gì – ông ta thoạt đầu cũng ngán tiếp đón một “Trung cộng” như Lâm Sử, nhưng Suần Quài giải thích cho ông ta hiểu: Trung cộng hay Trung Hoa dân quốc chẳng qua là bề ngoài, tương lai sẽ chỉ là một nước Trung Hoa bá chủ; cái cần đối phó là bọn “Ố nàm chảy”(4) , nhất là bọn Cộng sản “Ố nàm” chúng nó vừa đánh bại Pháp, nếu chúng nó đánh bại Mỹ nữa, con đường thu hồi Đông Nam Á của Trung Quốc sẽ tắc nghẽn. “Không có hai mặt trời” Suần Quài lý luận như vậy. Bá Thượng Đài hỏi: Mà tại sao Trung cộng lại ủng hộ Việt cộng?
- Hà! – Suần Quài tỏ ý thương hại cho sự tối dạ của “vua sắt” – Giả tỷ như Mỹ thắng Việt Cộng, làm sao nước Tàu xuống phía Nam được? Con cò con ngao cắn nhau, nghư ông mới thủ lợi được chứ! Mỹ với Việt Cộng đánh nhau, đứa thắng đứa bại đều yếu xìu… Biết chưa?
Bá Thượng Đài phục lăn. Ông ta vững bụng hơn nữa vì biết rõ sự họp mặt sẽ có Tào Phu, thân cận với Lý Lương Thần – được hiểu ngầm là dính dáng chặt chẽ với đặc vụ Tưởng Giới Thạch.
Cuộc họp gồm tất cả sáu người: Lâm Sử, Suần Quài, Bá Thượng Đài, Tào Phu – Giám đốc Mekong Rice Export(5), Diệu Thọ, chủ nhà thuốc Vạn An Đường với hiệu cù là tự nhận “chánh gốc Miến Điện” – tóc đen nhánh dù tuổi đã hơn 70. Người thứ sau là Ly Kai – nguyên chủ chưa sòng bạc Đại Thế Giới, bây giờ vẫn tiếp tục nghề cũ, nhưng gom lại còn một món “đề 36 con” dành cho giới giàu có, mở lưu động. Khi thì Đại La Thiên, khi thì khách sạn Bồng Lai, khi thì nhà hàng Đồng Khánh.
Suần Quài – bao giờ cũng phì phó chiếc điếu cán dài, người xương xẩu – giới thiệu Lâm Sử khi sáu người ngồi chiếc bàn đặt ở gian phòng tĩnh mịch phía sau. Ông ta nói tiếng Bắc Kinh, chưa sõi lắm.
- Các vị đã biêt, ông Lâm Sử muốn làm quen với chúng ta. Tôi đã nhiều lần nói về ông với các vị…
Lâm Sử - trẻ nhất trong số có mặt – đi vòng, bắt tay từng ngươi. Anh ta nắm tay Ly Kai thật lâu:
- Hẩu! Tôi nghe danh tiếng xếnh xáng từ khi còn kháng chiến trong khu…
Suần Quài đã nói đúng: Ly Kai được đón tiếp đặc biệt thân tình – đến khi tan cuộc họp gã mới hiểu lý do.
- Tôi hân hạnh gặp các vị hôm nay – Lâm Sử nói, tiếng Bắc Kinh thật trôi chảy, văn hoa – Tôi thay mặt cho Tổ quốc chào các vị!
- Lại Tổ quốc! – Ly Kai nói thầm.
- Đối với chúng ta – Lâm Sử nói tiếp – những người tha phương cầu thực, tuy sống nghìn dặm xa nơi sinh trưởng, vẫn không bao giờ quên Tổ quốc vĩ đại của mình. Nhà thơ lơn Thôi Hiệu đời Đường, đã nói về quê hương:
Nhật mộ gia hương hà xứ nhị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu (6)
Chúng ta còn hơn Thôi Hiệu, bởi vì Thôi Hiệu đề thơ nơi Hoàng Hạc Lâu đất Giang Nam trên núi sông Hoa Hạ, chúng ta thì đang ngồi tận chót vót bán đảo Đông Dưongw.
Lâm Sử nói khá dài. Thỉnh thoảng, anh ta chen thơ, phú và kết thúc bằng hai câu cuối bài từ “Vinh Tuyết” của Mao Trạch Đông anh không ??? tên tác giả:
Số phong lưu nhân vật
Hoàn khán kim triều(7)
Cả Suần Quài, Bá Thượng Đài, Diệu Thọ đều dốt đặc văn chương – cuộc sống của họ chỉ lách cách của bài toán – nên há hốc mồm nghe Lâm Sử. Người học cao hơn hết trong bọn là Tào Phu – kiếng trắng, dáng vẻ trí tứhc – thạo văn học phương Tây hơn Trung Quốc. Ly Kai dĩ nhiên còn quá tệ: gã nói sành sỏi tiếng Pháp, tiếng Anh nhưng đọc không xuôi một trang sách chứ Tàu!
Mở đầu thì long trọng – đôi lúc, Bá Thượng Đài ngại bài nói hay ho của Lâm Sử nhằm vào tủ sắt của ông ta – mà công việc lại thật giản đơn. Có thể tóm tắt “lời kêu gọi của Tổ quốc” qua miệng của Lâm Sử như sau: Hãy làm giàu nữa, làm giàu gấp năm gấp mười như hiện nay, hãy mua nhiều cổ phần các hãng Hồng Kông, Nhật, Singapore, Nam Triều Tiên và… Đài Loan. Tất nhiên, trước hết hãy làm chủ những ngành kinh tế có thể làm chủ ở Việt Nam Cộng hòa, càng nhiều càng tốt. Hãy đổi quốc tích. Chẳng ăn nhằm gì những thứ lặt vặt ấy. Tên gì thì tên, miễn nuôi dòng máy Hoa Hạ sôi sục!
- Té ra Trung cộng không chống lại người giàu có.
- Té ra Trung cộng không thù địch Đài Bắc, mặc dù ngày nào họ cũng bắn đại bát vào Kim Môn, Mã Tổ, cảnh cáo Quốc quân đến lần thứ nghìn lẻ…
- Té ra “diện hướng Tổ quốc” không mấy gì làm khó.
Đại loại những người có mặt hiểu bài nói của Lâm Sử như vậy.
Và, bữa cơm của Bá Thượng Đài – nấu theo lối Nam Hải – dùng rượu Mao Đài chính gốc, hút thuốc Penda Thượng Hải…
Lâm Sử, lúc uống trà, thì thầm với Ly Kai.
- Ông vẫn còn làm việc với Ngô Đinh Nhu?
- Còn!
- Từ nay, ông cung cấp cho tôi những tin tức cần thiết, qua ông Suần Quài. Ông sẽ giúp ích cho Tổ quốc rất nhiều…
- Tổ quốc! Và, cũng Suần Quài! Ly Kai ngẫm nghĩ bởi chính Suần Quài móc nối gã với Dương Tái Hưng.
- Tôi muốn làm quen với nhóm “Giải Liên” – Ly Kai đề nghị.
- Chi vậy?
- Có việc…
- Khó! Họ không tiếp ông đâu. Có thể họ khử ông nữa! Họ thuộc Việt cộng lãnh đạo. Mà, việc gì?
- Tôi tìm hiểu một người…
- Ai?
- Nguyễn Thành Luân.
- À!
- Ông quên?
- Quen… Đúng hơn, vì cùng kháng chiến, biết ông ta. Tôi nghĩ là nhóm “Giải Liên’ không liên hệ gì với Luân. Luân đang làm việc cho Nhu, nghe đâu anh ta cắt mọi quen biết cũ. Nhóm “Giải Liên” chắc chắn sợ anh ta. Nhu nghi ngờ anh ta?
Ly Kai hơi lúng túng. Gã không dám nói đến Dương Tái Hưng – Suần Quài đã dặn gã đến chục lần: muốn còn thở thì quên hẳn Dương Tái Hưng khi đến đây.
- Nghi ngờ! – Ly Kai trả lời liền.
- Về mặt nào?
- Anh ta đi sâu vào gia đình Diệm để làm gì!
- Biết bấy nhiêu, rồi thôi?
- Sẽ liệu!
- Định khống chế anh ta?
Ly Kai do dự một lúc rồi gật đầu.
- Khống chế cho ai?
Câu hỏi ngược của Lâm Sử làm Ly Kai chới với. Gã cũng nói liều:
- Cho Nhu!
Lâm Sử nhẹ cười…Cái cười rất tươi song Ly Kai lấm tấm mồ hôi.
- Tôi sẽ giúp ông. Chưa nói được bằng cách nào và bao giờ, nhưng tôi hứa. Phần ông, ông nhớ cho tui tin về Nhu. Ông có biết một chỗ gọi là P.42 không?
Ly Kai biết lờ mờ về căn hầm giam người dưới lòng đất trong vườn bách thú, song gã lắc đầu, giả ngơ ngác:
- P.42? Tôi chưa nghe bao giờ…
- Thôi được, ông dò la chỗ đó giúp tôi.
Lâm Sử trao cho Ly Kai bao thuốc Cotab hút dỡ, bên trong thò ra mấy tờ đô la.
- Ông cất mà hút!
Lâm Sử chào mọi người, về trước. Anh ta từ chối xe riêng của Bá Thượng Đài, goi taxi.
Tào Phu cùng Ly Kai ra khỏi nhà cùng một lượt.
- Tôi đưa ông – Tào Phu mở cửa xe, mời Ly Kai. Ông ta tư ái.
- Ông muốn làm quen với Đại sứ Trung Hoa dân quốc không? Tào Phu hỏi – Tôi sẽ giúp ông! Tôi tin là đại tá tùy viên Tông Phương Truyền sẽ rất vui nếu không đến sứ quán…
- Tiểu na má! – Ly Kai rủa thầm – lại đặt vụ Đài Loan!
- Ông sẽ chẳng thiệt chút nào. Tôn đại tá biết người biết của lắm. Qua nhất định nặng hơn bao Cotab kia nhiều!
Vậy là nó thấy mình nhận tiền của Lâm Sử!
- Tôi không muốn là quên với sứ quán!
Ly Kai trả lời xong, gã và Tào Phu cùng cười hơn nữa, nháy mắt với nhau…

Báo cáo hàng ngày của Sở nghiên cứu chính trị.
Tin đáng chú ý:
1) Có dấu vết về kẻ giết trung úy Lê Văn Minh: hung thủ đi giày bata cỡ to (chân không to tương xứng với giày, như vết in trên bờ rào bệnh viện lúc chúng vượt rào tẩu thoát cho thấy), mang găng tay nên không để lại dấu tay. Tuy vậy, nhiều bằng chứng gián tiếp xác nhận an ninh quân đội gây ra vụ này.

2) Thiếu úy Lê Ngân, đội phó đội trinh sát an ninh thuộc nha cảnh sát đô thành đã bắn chết thiếu úy an ninh quân đội Vũ Đình Chu, theo nhiệm vụ của anh ta. Chính anh ta báo cáo với trung ta giám đốc nha.

3) Tin tái đắc cử Tổng thống Mỹ của ông Eisenhower khiến số trí thức “đối lập” thối chí. Phan Quang Đán nói tại một cuộc gặp gõ giới thầy thuốc mừng thạc sĩ Trần Vỹ được Bộ trưởng bộ y tế: “Ilufaudra encore quatre ans pour un changement”(8)

4) Nhân Chu Lai sang Hà Nội, Hoa kiều hoạt động mạnh ở Chợ Lớn. Theo nguồn tin chắc chắn, hôm kia, tại ngôi nhà số 3 đường Khổng Tử, có một cuộc họp gồm chủ nhà (Bá Thượng Đài, “vua sắt”), Tào Phu “vua lúa gạo”, Suần Quài, chủ nhà hàng Đại La Thiên, Diệu Thọ “vua thuốc bắc” với một người lạ tên là Lâm Sử thay mặt cho Trung cộng. Nội dung cuộc họp chưa thẩm tra. Chỉ biết là sau đó Tào Phu gặp riêng đại tá Tôn Phương Truyền, phụ trách đặc vụ sứ quán Đài Loan, có lẽ thông báo về cuộc họp đó.

5)Tình hình Hung Ga Lợi được khai thác tối đa tren báo chí, đài phát thanh của ta. Số tiền 2.450.000 đồng của Việt Nam đã chuyển tới hội Cứu trợ quốc tế. Bộ ngoại giao ta điện cho thủ tướng Hung Imre Nagy, song ông ta đã bị Janos Kadar lật đổ.

6) Giữa Việt tấn xã và báo Tự do đưa tin không ăn khớp về việc 19 người từ Nghệ an vượt tuyến Đà Nắng ngày 19-11 vừa rồi: Việt tấn xã nói họ là ngư dân bị bão, được chính quyền địa phương giúp đỡ v.v… còn báo Tự do thì đăng một bài phóng sự dài, kèm ảnh, nói họ là những người khởi nghĩa Quỳnh Lưu trốn thoát. Sở Công an Trun gbộ nghi một số trong họ là do Cộng sản cho trà trộn vào Nam.

7) Một điện đài bí mật vừa lên tiếng tại vùng rừng Bời Lời (Tây Ninh). Công suất máy cỡ 15w, chắc chắn là dùng pin, dây trời định hướng phía Nam, chưa rõ mỗi ngày, mỗi tuần phát bao nhiêu lượt, vào giờ thay đổi cố hay cố định. Lượt đầu tiên kéo dài 27 phút, bộ phận mã thám chưa đọc được bức điện, nhóm chữ số khác các điện ta chưa bắt được. Sẽ nhờ trung tâm tình báo Mỹ giải mã. Điều đáng chú ý là manip của đài này với đài phát hiện trước đây ở Blao giống nhau.

Bên lề báo cáo của Sở nghiên cứu chính trị, Ngô Đình Nhu ghi bút đỏ:
- Khoản 1 và 2: Chấm dứt điều tra.
- Khoản 3: Tin lếu láo! Sau này, nhớ cho tin có giá trị hơn.
- Khoản 4: Hỏi Ly Kai chi tiết. Nguồn tin chắc chắn có phải là Ly Kai không? Y dự họp hay nghe tin? Cần chú ý tin của Ly Kai - cung cấp tin cho ta hay phao tin? Đã bố trí theo dõi chặt y chưa? Vô lý: Trung cộng nào dám công khai vỗ ngực xưng tê, nhất là với Tào Phu, đặc vụ của Đài Loan? Thẩm tra bằng mọi cách, kể cả xác định Ly Kai, nếu tung tin thì để làm gì. Điều tra Ly Kai thật khéo (ba gạch đậm dưới chữ “thật khéo”).
-Khoản 5:Vô duyên! Báo cáo làm gì? Tin tức “đặc biệt” mà chỉ cóp nhặt trên báo!
- Khoản 6: Lưu ý Sở công an Trung bộ sớm kết luận về ý kiến của họ. Nghi? Bằng chứng? Mơ hồ quá!
- Khoản 7: Không được nhờ Mỹ déchiffrer(9) (gạch đậm). Cố mà tự lực. Cần máy móc gì không?
Tin tức báo chí ngày 11-12-1956
Trung tướng Lê Văn Tỵ được phong đại tướng. Đai tá Phạm Xuân Chiểu thay thiếu tướng Nguyễn Ngọc Lễ làm tổng giám đốc cảnh sát công an quốc gia. Các thiếu tướng Nguyễn Ngọc Lễ, Trần Văn Đôn, Trần Văn Minh, Thái Quang Hoàng được thăng trung tướng. Đại tá Lê Văn Kim thăng thiếu tướng.
Liên lạc của họ với A07 nối lại vài tuần nay. Các báo cáo do Dung mã và Luân chuyển qua một trạm lưu động nào đó mà Dung không được quyền biết, đến cả điện đài bây giờ đặt ở vùng rừng Tây Ninh. A07 thỉnh thoảng gởi cho họ một dòng động viên, còn ngoài ra các yêu cầu, hoặc xác minh, hoặc sưu tra tình hình, hoặc nhận định của Luân về những sự kiện quan trọng. Nói chung, A07 chỉ thị họ sử dụng điện đài thật thứ, không định kỳ, không theo quy luật. Có lần, Dung được một điện riêng: “CR hỏi thăm sức khỏe Mimosa tại ông cụ. Cẩn thận hơn, tuy ông cụ đối phó tốt”. CR tức là “Centre de Recherche”, ký hiệu chỉ trung tâm tình báo Sài Gòn. Như vậy chúng cho điệp viên ở Hà Nội điều tra về Dung qua bố của cô. Lý do có lẽ liên quan đến điện đài ở Blao. May mà nửa năm nay, điện đài ngưng hoạt động ở hướng đó.
Đọc điện, Dung nhớ nhà điếng người. Tội nghiệp, tuổi cha đã cao, có ai giúp đỡ không? Vì công tác của Dung, chú Thuận chắc ít đến – hoặc có đến cũng kín đáo. Dung mong tin tức của cha, gần đây, ông cụ nhắn tin trên đài, giọng còn rất khỏe. Ông cụ gởi cả bưu thiếp cho vợ chồng bác sĩ Sự - tất nhiên là gởi cho Dung. Dung bồi hồi đọc nét chữ của cha, dù sao, cũng đã yếu đi nhiều. Vợ bác sĩ Sự cũng gởi cho ông bưu thiếp, báo tin Dung. Ông cụ chắc đỡ lo.
Xe Dung nối dòng xe sáng sáng vẫn nghệt con đường môt chiều Nguyễn Trãi, trước khi giáp với đại lộ Cộng hòa. Ngang Lycéc Franco chinoise(10) Dung chợt thấy điều khác thường: mỗi ống cống xi măng xếp đứng của ngành giao thông đặt ven đường – mang một chữ viết bằng sơn xanh. Ghép các chữ ấy lại ra khẩu hiệu với hai dấu than cẩn thận: Đả đảo Ngô Đinh Diệm! Hồ Chí Minh muôn năm!
Một cơn lạnh chạy dài theo sống lưng Dung. Khẩu hiệu của anh em mình! Dòng xe như chậm lại, mọi người cố kéo dài thời gian qua ống cống. Khẩu hiệu nhất định viết đêm qua. Các đồng chí hẳn phải canh gác vất vả để viết được chừng ấy chữ - Dung nhẩm tính: 32 chữ và hai dấu than. Hai người viết nhanh mấy cũng phải mất 15 phút. Chữ to, bề cao đến 40 phân, bề ngang 20, nét khá sắc, chữ Đ mở đầu viết kiểu và toàn bộ chữ đầu các từ Hồ Chí Minh đều viết hoa. Công trình của dũng cảm và theo Dung, của nghệ thuật. Tuy chỉ 32 chữ nhưng là một thứ tuyên cáo về sức mạnh của phong trào cách mạng thành phố. Không có tổ chức vững vàng, quyết không thể làm nổi việc này – cách nha tổng giám đốc cảnh sát công an quốc gia không đến 50 mét.
Trong công vụ, Dung thường đọc báo cáo các nơi nói về “Việt cộng rải truyền đơn, lưu hành báo, dán khẩu hiểu”, phần lớn ở nông thôn. Còn đây là Sài Gòn.
Từ ngày 20 tháng 7. Dung cảm giác phong trào cách mạng chuểyn mình. Nha tồng giám đốc ngày một nhận được nhiều hơn các loại tài liệu của “Việt Công” – danh nghĩa chưa thống nhất, khi thì “Những người kháng chiến cũ”, khi thì “Ủy ban đấu tranh bảo vệ hiệp đình Genève”, khi thì “Lực lượng nhân dân miền Nam” in bằng giấy sáp. Dung biết, nha tổng giám đốc nhìn những tờ giấy thô sơ ấy với tất cả sự lo lắng, kinh hãi. Bởi đây không phải là các giáo phái, không phải chỉ lời nói suông. Chẳng có gì khó hiểu: những người kháng chiến cũ cảnh cáo sự phản bội của chính quyền Ngô Đình Diệm. Hai năm đã qua từ khi ký hiệp đình Genève, không có tổng tuyển cử, mà hiệp thương và quan hệ bình thường giữa hai miền cũng không có nốt. Vào đúng naỳg 20 tháng 7. Sài Gòn báo cáo cho Ngô Đình Diệm biết sự phản bội sẽ bị trừng phạt: trong vòng hai giờ, thành phố vắng tanh – bãi chợ, bãi công, bãi khóa và mọi người ở trong nhà. Hôm đó, Luân còn học ở Đà Lạt, Dung đành nâng ly nước cam chào mưng những công dân của thành phố, quả xứng đáng là thành đồng Tổ quốc.
Mấy chiếc xe Jeep màu ô liu, biển số “VN” đầy cảnh sát dã chiến, quần áo rằn ri, đổ lại. Chúng thổi còi inh ỏi, xua người đi đường tản khỏi khu vực đã bị phong tỏa bằng kẽm gai. Chẳng rõ chúng bôi xóa hay dời các ông cống. Cách nào thì cách, cả thành phố sẽ sôi nổi với tin này. Dung cười rạng rỡ, lai xe vào cổng nha… Chắn cổng nhấc lên, Dung vẫy tay chào viên sĩ quan trực…
***********************
Chú giải:

(1)Trung Quốc Ngân
hàng – Giao thông Ngân hàng – Ngân hàng hối đoái Hồng Kông.
(2)Người bị kiểm điểm ngồi nghe phê phán, chỉ được tiếp thu chứ không được thanh minh dù sự phê phán không đúng (kiểu chỉnh huấn của Trung Cộng).
(3)Mai phục lâu dài, xúc tích lực lượng, hướng về Tổ quốc.
(4)Thằng An Nam.
(5)Xuất khẩu lúa gạo Cửu Long.
(6)Quê hương khuất bóng hoàng hôn.
Trên sông khói cho buồn lòng ai
(Tản Đà dịch)
(7)Bao nhiêu nhân vât đó (tức Hạ Vũ, Lưu Bang, Lý Thế Dân). Hãy nhìn ngày hôm nay.
(8)Cần thêm bốn năm nữa cho một thay đổi.
(9)Giải mã.
(10)Trung học Pháp Hoa
***********************
????? Là những từ, chỗ mà người đánh máy vì bản scan quá nhòe không đọc được. Thường là trước, sau, hoặc ngay chỗ đặt dấu ? Xin nhờ người kiểm duyệt sửa lỗi chính tả bổ sung dùm. Xin cảm ơn !

Nếu chẳng một phen sương thắm lạnh
Hoa mai sao dễ tỏa mùi hương
Đăng nhập để trả lời
0
Còn 11 chương khuyết, bạn CuLong767805 đã nhận chương 1-4. Mình cũng nhận việc bổ sung 2 chương khuyết (chương 8 phần IV của bạn Linglang_hua và chương 2 phần VII của bạn SBC). Do tình hình bạn Bach_y bận, nên còn 5 chương của phần VIII sẽ bị khuyết (các chương 3, 5, 7, 8, 9). Đề nghị các cao thủ xúm vào giúp đỡ để bộ truyện này hoàn thành trước Tết. Chỉ còn vài ngày nữa thôi.
Đăng nhập để trả lời
0
Chào sư phụ

Ok, để CtLy xem chương nào thiếu, CtLy sẽ cố gắng bổ khuyết vào, Chí Hải đã có chuyện đang làm, nên khg biết có nhờ được khg??

CtLy lúc này cũng lo, gõ cho xong Tái Sanh Duyên, còn hơn 20 hồi nữa, tranh thủ cho xong, nhưng chắc mình muốn, không bằng Thái Nhi muốn quá.

Vậy đi nhé ; Nếu CtLy nhờ được ai thì khoẻ, nếu khg chắc phải nhờ bộ tay của CtLy thôi

Chúc sư phụ ăn Tết dzui dzẻ, một năm Bính Tuất, nhiều điều may mắn, hạnh phúc và phát tài, như ý .

Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-02-08 17:04:46ct.ly>
Sorry bà con trong VN thu quán. Mình đã hứa sẽ hoàn tất phần của mình trước tết nhưng do máy tính của mình bị virut nên mãi đến hôm nay mình mới type được tiếp. Mọi người bỏ qua nha.

GÓP SỨC VỚI RỪNG
Dương Tái Hưng dò từng câu trong bản dịch Anh văn xấp bài báo của tạp chí Bách Khoa. Các bài báo mang tên Nguyễn Thành Luân. Ngay trong số 1 của tạp chí, ra ngày 15 tháng giêng năm 1957, Luân viết bài báo đầu tiên và bài báo gần như đặt lại quan niệm quân đội. Trước Luân, trên báo chí Sài Gòn, chưa ai phân tích quân đội như vậy. Những chỉ huy tốt nghiệp trường võ bị Saint Cry chỉ có thể lặp lại điều mình học, điều mình rút kinh nghiệm qua kinh viện quân sự Âu Mỹ - cho một quân đội nhà nghề. Còn số tự xưng là tốt nghiệp trường Hoàng Phố thì kiến thức lỉnh kỉnh, pha tạp, giảng giải binh pháp Tôn Ngô vào thời đại nguyên tử mà vẫn mơ màng tiếng ngựa hí, gươm khua.
Luân viết: người lính có gan dạ mà không có súng thì không làm được gì, người lính có súng tốt nhưng không có gan dạ thì cũng không làm gì hơn. Dự trữ của quân đội là nhân dân. Quân đội không được lòng nhân dân là một quân đội có thể tạm thời mạnh trên một phương diện nào đó nhưng bản chất nó là yếu vì tương lai không có dự trữ, nó sẽ đến chỗ kiệt quệ và tiêu tan.
Các bài báo tiếp theo cũng mang nội dung mới – đánh giặc mà không giết người, trao đổi văn hoá trong quân đội... Tác giả lồng ý riêng vào các bài bình luận binh thư Tôn Tử, cũng nhắc nguyên tắc Tôn Tử nhưng thể hiện trên một bình diện mới. Giọng văn dễ hiểu, nhẹ nhàng, nửa thuộc loại nghiên cứu học thuật, nửa phổ cập và bút chiến song không dấu giếm ý định: muốn chiến thắng phải xây dựng lại quân đội. Quan niệm đó vừa bác bỏ nếp hằn trong cơ chế quân đội do Pháp để lại vừa cảnh cáo bộ tổng tham mưu đang hình thành. Các bài báo xuất hiện vào lúc tổng thống Ngô Đình Diệm giành trọn vẹn quyền điều khiển quân lực.
Dương Tái Hưng nhíu mày, ngả lưng trên ghế, đăm chiêu. Căn phòng cổ kính dường như lặng lẽ hơn để cho chủ của nó suy tư.
Các bài báo không hề có sơ hở dù nhỏ. Nguyễn Thành Luân đứng trên lập trường một người quốc gia kháng chiến phân tích và đưa ra các nhận định, chủ trương. Anh ta nhắc khá nhiều đến quân đội Việt Minh – hoàn toàn trân trọng. Những bài của Nguyễn Thành Luân khác hẳn bọn Hoàng Quế Ngô - kẻ phản bội đang muốn tâng công với họ Ngô và nước Mỹ. Cũng khác bài của Tam Ích - gượng gạo trong cách lí giải hiện tượng mình vốn tự xưng là một người Macxit bây giờ lại trở cờ. Cũng khác bài của Tân Đức trên báo Nhân Loại hay Khải Minh trên báo Tiếng Chuông.: rõ ràng Tân Đức và Khải Minh là những Việt Cộng lợi dụng báo chí hướng dẫn dư luận chống lại chế đội hiện thời ở miền Nam rất khéo léo, song không khó phát hiện.
Nguyễn Thành Luân trước sau không phủ nhận quá khứ của bản thân, không chống Cộng, không đề cao và không dùng thủ thuật để công kích Ngô Đình Diệm và Mỹ. Anh ta không theo phương châm đã được xứ uỷ Đảng cộng sản ở Nam Bộ chỉ đạo: tuyên truyền bí mật kết hợp với các hình thức hợp pháp và nửa hợp pháp. Anh ta viết với tâm huyết, có suy nghĩ và rất nghiêm chỉnh. Nghĩa là anh ta công khai nói điều anh ta ôm ấp.
Nhưng tại sao anh ta đi sâu vào quân đội? Loạt bài của anh ta chỉ với một chủ đề: quân đội.
Theo tin tức mà Dương Tái Hưng nắm được, tình hình ở Việt Nam cộng hoà bước vào năm 1958 này đầy rẫy những sự kiện thôi thúc một đột biến. Dĩ nhiên, cái đột biến chỉ có thể do từ phía Cộng sản - đối thủ sau cùng của Ngô Đình Diệm, suốt mấy năm liền đấu tranh chính trị, bây giờ hình như bắt tay vào lau chùi vũ khí, nếu không phải tất cả thì cũng từng bộ phận ở từng nơi. Danh nghĩa các nhóm vũ trang khá linh tinh: nào trung đoàn Nguyễn Trung Trực, nào tiểu đoàn Hoàng Hoa Thám, nào đại đội Phan Đình Phùng... hoặc của Bình Xuyên, hoặc của Hoà Hảo, hoặc của Cao Đài... Danh nghĩa gì thì danh nghĩa, không ai trong giới tình báo không nhất trí: thực chất là Việt Cộng. Phải chăng Nguyễn Thành Luân nhìn thấy nguy cờ từ một năm trước mà nêu quân đội thành chủ đề để đánh động dư luận?
Có tiếng gõ cửa nhẹ. Một cô gái lặng lẽ vào phòng, lặng lẽ leo lên đi văng sửa soạn mâm hút. Dương Tái Hưng rời ghế, ngả người xuống cạnh mâm, rít liền mấy điếu. Sau khi hớp ngụm trà đặc quánh, ông ta nằm lim dim. Cô gái khép cửa phòng, ra ngoài.
Nguyễn Thành Luân viết báo cho ai đọc? Mấy liều thuốc thơm lừng giúp Dương Tái Hưng một loé sáng. Không phải các bài báo của Nguyễn Thành Luân không có sơ hở. Có! Anh ta muốn người Mỹ hiểu quan điểm của anh ta. Anh ta cố tình làm như vậy. Chính con mụ Fanfani đã dịch các bài báo đó và đăng liên tục trên tờ Financial Affair. Xấp bài dịch mà Dương Tái Hưng có chính là sao lại trong Financial Affairs.
Cần phải trao đổi với William Porter mới được. Con nhỏ Fanfani nhẹ dạ, vô tình làm tên dẫn đường đưa Nguyễn Thành Luân vào chính giới Mỹ, nhất là con nhỏ có thiên hướng ủng hộ Kenedy, người chắc chắn sẽ ra ứng cử Tổng thống thay mặt đảng Dân chủ năm 1960.
Dương Tái Hưng nhỏm dậy. Ông ta nhấc điện thoại. Nhưng, cô gái hầu lại vào, lặng lẽ đặt lên bàn một phong bì. Ông ta xé phong bì. Thơ của Suần Quài vắn tắt giới thiệu một thư dài hơn, ký tên là đại diện của Trung ương Trung cộng, Lâm Sử.
Dương Tái Hưng mỉm cười. Điều mà ông ta ung dung chờ đợi đã tới. Và, đúng như ông ta dự đoán, Lâm Sử đề nghị được gặp ông ta. “... ngài phụng sự cho ai, không có gì quan trọng. Chúng tôi nghĩ rằng, ngài là người Hoa, đó mới thực sự là quan trọng. Và, càng quan trọng hơn, nếu ngài có mối quan hệ nào đó với chính phủ Mỹ. Tại sao chúng ta không thể cùng nhau hợp tác giữ miền đất còn lại của Việt Nam này mãi mãi như Nam Cao Ly? Chúng ta có thể nói chuyện trên một căn bản mới: sự kiện Triều Tiên sẽ không bao giờ trở lại nữa, nước Mỹ trừng phạt tướng Marc Anthur còn chúng tôi, chúng tôi trừng phạt Bành Đức Hoài - cả hai đều không hiểu cái sâu xa trong chính sách của những người lãnh đạo hai nước chúng ta. Không có gì cấp bách hơn việc ngăn chặn Việt Cộng ở miền nam Việt Nam. Nếu ngài thống nhất với tôi tư tưởng chiến lược đó, cuộc gặp gỡ sẽ vô cùng bổ ích...” Lâm Sử viết như vậy.
Dương Tái Hưng đọc xong thơ, thoải mái ngồi xuống, quay số điện thoại:
- Hello, William. Where have you been this time old chap?...
Báo cáo của F.Rheinardt (gửi Tổng thống Mỹ)
Tình hình nam Việt Nam xoay chuyển theo khả năng nào, một phần quan trọng, nếu không muốn nói là quan trọng quyết định, liên quan đến chính sách của Hoa Kỳ. Như tôi đã phân tích trong nhữn trang trước, chính sách nam Việt Nam của tổng thống không thể không đặt trong chính sách Việt Nam, nói chung, đúng hơn, chính sách đối với toàn bán đảo Đông Dương sau khi người Pháp thua trận. Trung Cộng giành quyền ở Hoa Lục, cuộc chiến tranh Triều Tiên buộc phải “hoà” và việc chống sùng bái cá nhân Staline của Kroutchev gây chia rẽ trong thế giới cộng sản: những đồng minh của Mỹ ở Tây Âu hồi phục và đang tìm lối đi, trong đó thái độ của Pháp ngày một phức tạp hơn đối với chúng ta, các nước theo con đường dân tộc xã hội chủ nghĩa xướng xuất cái gọi là thuyết trung lập. Thế lực tán thành chúng ta chưa thể làm chủ ở Lào và ở Campốt – nơi mà ảnh hưởng của Pháp chưa thể thực sự giảm sút bao nhiêu. Những phần tử cực hữu ở Vientine khiến ông hoàng ôn hoà Phouma muốn bắt tay em ông ta là ông hoàng Cộng sản Shouphanouvong, cũng như những dấu hiệu đảo chánh ở Campốt xô đẩy ông hoàng có tính khí bốc đồng Sihanouk rơi vào vòng tay Bắc Kinh.
Tổng thống cần chọn một trong ba khả năng sau đây:
1) Nam Việt Nam thành một thứ như Đài Loan, tồn tại song song với Bắc Việt Nam Cộng Sản. Muốn vậy phải tính đến một nhóm cầm quyền đủ sức dựng dậy hàng chục triệu người sẵn sàng chấp nhận vĩ tuyến 17 như ranh giới quốc gia và đi đến giải pháp “bốn nước Đông Dương”. 2) Nam Việt Nam sẽ thực hiện sứ mệnh thống nhất Việt Nam bằng vũ lực và như vậy, phải tính đến một nhóm cầm quyền năng động và, phải đẩy cả Phouma và Sihanouk càng xa càng tốt, không loại trừ phương pháp đảo chính. Trong trường hợp đó, Hoa Kỳ phải sẵn sàng ngăn cản một sự can thiệp của Trung Cộng với Nga Sô. Nói cho cùng, khả năng này chưa thể xảy ra vì trước mắt lực lượng chủ yếu là Nam Việt chưa đủ mạnh, nhưng nó đòi hỏi sự sửa soạn cấp bách bởi không loại trừ chính Cộng Sản phát động chiến tranh du kích ngay trong nhiệm kỳ của Tổng thống Esheinhower. 3) Nam Việt Nam và Bắc Việt Nam nhích lại gần nhau trong một liên bang mà mỗi miền giữ quyền tự trị rộng rãi. Thế hoãn xung này có thể là rất mong manh song là giải pháp ít tồi tệ nhất, trong khi chúng ta chờ đợi một sự chín mùi hơn ở nội tình Việt Nam và tình hình toàn khu vực. Dù chọn khả năng nào, tồn tại của nước Mỹ tại Đông Nam Á buộc tổng thống Mỹ phải tính đến những con người thể hiện được chính sách của Mỹ. Việt Nam là nơi mà đầu óc dân tộc chủ nghĩa cực đoan, hậu quả của hàng chục thế kỷ bị người Trung Hoa đô hộ và tự họ đã kết thúc những lần thống trị đó, không nhờ vả ai cả. Ông Ngô Đình Diệm dù sao cũng là người của giai đoạn, hoặc chúng ta phải chia tay với ông ta, hoặc ông ta phải chia tay với chúng ta, hoặc Việt Cộng loại ông ta, hoặc ông ta và Việt Cộng loại chúng ta, trước khi họ loại nhau. Thật bối rối cho nước Mỹ nếu cuối cùng rồi rơi vào tình thế khó xử như ở Phi Luật Tân. Cái chết vì “tai nạn máy bay” của tổng thống Marcsaysay được đón nhận ở các đồng minh chúng ta với bao nhiêu nghi kỵ, thậm chí cay đắng. Tương lai không hứa hẹn cho chúng ta ở Đại Hàn với Lý Thừa Văn, ở Thái Lan với Phibul Songgram - cả hai đều cứng đầu và đầy tham vọng.
Sau Ngô Đình Diệm, hoăc song song với Ngô Đình Diệm là ai?Sự chủ động bao giờ cũng chỉ có lợi. Tôi đã trao đổi với viên đại sứ Elbridge Durbrow. Tất nhiên tiếng nói có thẩm quyền nhất trong lĩnh vực này phải là người đứng đầu trong cơ quan tình báo Mỹ, ngày Allen Welsh Dulless khả kính…
Bài báo ngày 11-10-58 trên tờ Financial Affairss của Helen Fanfani.
Bằng lăng kính toàn cảnh và đứng từ thành phố Sài Gòn, người ta thấy điều gì trong một năm biến động ở Việt Nam, từ sau sự kiện ở Buôn Mê Thuột?Có thể chỉ là một tai nạn như bao tai nạn máy bay xảy ra ở đảo Cébu, cướp mất tổng thống Marcsaysay, người hùng của Phi Luật Tân. Nhưng dư luận tự hỏi: Cuộc đảo chính ở Thái Lan mà mục tiêu là hạ bệ một người hùng khác thủ tướng Phibul Songgram. Phải chăng cũng là ngẫu nhiên?
Đó là lý do mà tổng thống Ngô Đình Diệm, trong tháng năm, sang Hoa Kỳ. Ông Diệm muốn đích thân được nghe tổng thống Mỹ nói rằng phát súng trên vùng cao nguyên không có bất kỳ dính líu nào đến nhà cầm quyền Mỹ. Ông mãn nguyện, ít nhất cũng trên những tuyên bố chính thức. Chưa ai biết hai nguyên thủ quốc gia nói với nhau những gì. Tuy nhiên, nếu bài diễn văn ngắn chuẩn bị đọc tại sân bay khi ông Diệm đặt chân đến nước Mỹ lời lẽ khô khan, thì tại cuộc họp Quốc hội Mỹ, bài diễn văn của ông tràn ngập tính từ đẹp, nồng nhiệt. Bức ảnh chụp trên thềm Nhà Trắng sau buổi hội đàm thật ngụ ý: hai Tổng thống nắm tay nhau đưa cao - họ muốn phân bua với Chúa Trời và, riêng ông Diệm, ông cố nhón gót để không quá thấp bên cạnh tướng Esheinhower đồ sộ.
Ông Diệm lưu lại nước Mỹ hai tuần lễ, điều hơi khác thường với phép ngoại giao. Ông dự tất cả 42 lần tiếp xú, không kể hai lần với Tổng thống Mỹ, ba lần với phó Tổng thống Nixon cũng ba lần với ngoại trưởng Foster Dulles… Đấy là theo tin được công bố. Ông gặp chủ tịch Đảng Dân chủ và Thượng nghị sĩ Kenedy. Sự phòng xa vốn là bản tính của người Châu Á. Ông Diệm tính trước có thể ông sẽ cầm quyền dưới nhiệm kỳ của những người đang không cần tiết kiệm từ ngữ chỉ trích ông và cô em dâu ông.
Nhưng, ở Sài Gòn, các ông Phan Quang Đán, Nghiêm Xuân Thiện và Hoàng Cơ Thuỵ - một bác sỹ, một nhà báo và một luật sư – hình như thuộc ba khuynh hướng chính trị rất khác nhau bỗng cùng ra chung một tuyên bố thành lập “nhóm dân chủ”. Tất nhiên chẳng khó khăn gì mà không đoán ra “nhóm dân chủ” nội hoá này rao hàng với đảng dân chủ Mỹ.
Ông Diệm không chỉ đi Mỹ, ông dùng mười ngày để viếng thăm Úc, một nước kỹ nghệ lớn thuộc khối Anh, thăm Thái Lan, Nam Hàn, nhất là thăm Ấn Độ. Hội nghị kế hoạch Colombo họp tại Sài Gòn. Ngày quốc khánh Nam Việt Nam 26-10, có mặt thái tử Maroc, ông Maulay Abdallas Hassan. Dù sao ông Diệm vẫn muốn thực sự yên tâm. Những chuyến công du liên miên và những buổi tiếp xúc mở rộng đó được giới ngoại giao gọi là “những hoạt động mạo hiểm”.
Người ta hiểu rằng sự nghi kỵ chưa phải đã xoá sạch. Người Mỹ chắc chắn đã nhún vai trong việc sập cây cầu đi vào hội chợ Thị Nghè, coi như biểu tượng của sự thiếu vững chắc của chế độ ông Diệm. Chính phí Sài Gòn vẫn có thể tặc lưỡi - họ không quen nhún vai – khi vệ tinh Spoutnik của Nga, lần đầu tiên một sản phẩm của con người vượt khỏi khí quyển, phát tín hiệu quanh trái đất giữa lúc Mỹ chưa thể làm được cái gì tương tự ngay cả sau ngày Noel mong đợi.

* * *
Đại uý Tình không ngờ mình xui xẻo như vậy. Tết Nguyên đán Mậu Tuất vừa qua có mười ngày. Anh ta trở lại nhiệm sở sáng nay, hơi rượu và mùi đàn bà chưa kịp bay đi thì anh ta lâm nạn.
Được giao chức quận trưởng Dầu Tiếng khi các nhóm Cao Đài ly khai thực tế thu nhỏ còn một vài đại đội – “một chú lính tới chín chú quan” - thỉnh thoảng xuất đầu lộ diện ở miệt suối Ông Hùng. Tình chắc mẻm, anh ta tốn hai chục ngàn đồng lo lót trên tổng nha công vụ không phải là hớ. Chủ sở cao su nổi tiếng thuộc Tổng công ty Michelin theo cái đà xuống dốc của Pháp ở Việt Nam một mực xun xoe Tình – nay mời ăn, mai biếu rượu. Tình chưa cho đó là “tủ” của anh ta. “Tủ” là số phu không có thẻ kiểm tra ở trong các làng và tại thị trấn - mỗi người gửi đơn xin giấy chứng nhận đều kèm theo 500 đồng, coi như lệ. Mà hầu hết 10.000 phu đều không có thẻ kiểm tra. Gần đây, lệnh quân dịch của tổng thống khiến phong bì dày thêm: ít nhất cũng 2.000 đồng cho một người trốn quân dịch. Tuổi bắt lính từ 18 đến 35, tha hồ cho Tình bỏ túi. Chưa hết, từ Thanh An lên núi Cậu, Định Thành - những gia đình mang biển số C và D – “tình nghi Việt Cộng” và “có thân nhân theo Việt Cộng” tính không dưới 1.000. Những gia đình đó, từ trái cà, trái ớt đến con gà, con heo, đại uý quận trưởng muốn bẻ, muốn bắt lúc nào cũng được, hễ chường mặt, đại uý Tình thấy dễ thương thì khó thoát. Cũng chưa hết. Cả một cánh rừng già bát ngát, dân Sài Gòn lên khai thác gỗ, đều phải biết điều với quận trưởng. Những năm 1957, khi bà cố vấn cho nhà thầu xẻ các đường lô – kêu là “đường ủi Trần Lệ Xuân” – văn phòng quận trưởng càng tấp nập, đại uý Tình đôi lúc như chiêm bao: tiền bạc cớ sao ào ào vô tủ. Vợ đòi theo, Tình không chịu, cứ ở chợ Thủ, lo cất cái nhà, lo lập miếng vườn. Cứ vài tuần anh ta về giao tiền cho vợ. Có vợ bên cạnh làm sao tự tung tự tác với đàn bà được.
Mọi sự yên ổn. Ai dè đêm nay! Chính buổi chiều đại uý ký tên vào bản báo cáo gửi tỉnh trưởng nói suốt mấy ngày tết, tòan quận không có chuyện gì đáng tiếc.
Mười giờ đại uý thay quần áo. Một cô rước từ Chợ Lớn về nằm chờ trong phòng. Bỗng nhiên, một tiếng nổ dữ dội. Cổng ngoài dinh sụp đổ. Đại uý, quần đùi áo lót, lao thân hình ú nục tới địên thoại. Đạn tiểu liên, súng trường ghim veo véo ngay phòng khách. Tuy sảng sốt nhưng đại uý Tình vẫn nuôi hy vọng: mấy lão Cao Đài ly khai của Huỳnh Thanh Mừng bắn bậy để hâm nóng tinh thần tín đồ, nhắc khéo đứng Hộ Pháp còn đó đừng nghe lời Cao Hoài Sang mà mang tội phản đạo. Nhưng, các khẩu súng thi nhau xả vào dinh quận, có vẻ Việt Cộng thật tình. Bên ngoài trăng mười ba khá sáng, thấp thoáng nhiều bóng đen vụt qua lại cổng chính. Lính gác của dinh quận bắt đầu bắn lẹt đẹt. Một tên nhè nút ngay cửa dinh quận mà bắn. Đại uý Tình hoảng hồn:
- Thằng kia, đừng bắn!
Tên lính co giò dông ra phía sau. Đại uý Tình run rẩy cầm máy nói quay liên hồi. Anh ta gọi trung đoàn 7 của sư 5, đóng bên bến Củi…
- Allo, cho tôi nói chuyện với trung tá Phấn… Tôi là đại uý Tình, quận trưởng. Dạ, tôi đây trung tá. Dạ, tôi bị tấn công. Dạ, chắc “Vixi” . Dạ, mong trung tá cứu viện. Dạ,… Dạ…
Đại uý Tình chưa nói hết câu, đầu bên kia trung tá gác máy.
Súng tiếp nổ rộ. Đạn rơi trên mái ngói loảng xoảng. Đại uý Tình cúi rạp người, mồ hôi ướt sũng áo lót. Ả tình nhân chui tọt dưới gầm giường than trời trách đất, răng đánh bọ cạp:
- Chết! Chết! Dụ tôi lên đây để chết…
Đại uý Tình nghe tình nhân nhắc tới “chết”, tay chân run lập cập vặn mãi cái nút điều chỉnh máy bộ đàm mà không được. Vài ba tên lính rút vào văn phòng, dầu sao thì ở đây cũng có tường che đạn.
- Lấy bàn ghế, nệm gối tấn cửa! - đại uý Tình ra lệnh. Loay hoay mãi với cái nút máy bộ đàm rồi cũng có tiếng rè rè báo là anh ta đã vặn đúng.
- Hoả diệm sơn đây - đại uý Tình rống to - Hoả diệm sơn đây! Hải vương tinh đâu… Hải vương tinh…
Máy rè rè không có ai lên tiếng.
- Hải vương tinh… Mồ tổ thằng cha nào ở chỗ Hải vương tinh… - đại uý Tình chửi đổng. Nhưng anh ta sực nhớ đã không bấm sang phần nghe. Khi anh ta bấm đúng, nghe tiếng cự:
- Gì mà rối lên như vậy? Chửi hả? Tay tổ nào đó?
Mừng quýnh, đại uý Tình nói không kịp thở.
- Trung uý Vi à… Tôi, Tình đây… Tình Dầu Tiếng đây…
- À, chào đại uý! Bữa nay hết tết rồi sao trên đó còn đốt pháo dữ vậy, cả pháp tre nữa…
- Pháo gì! Vixi đó! Xin cứu viện gấp!
- Xin lỗi, đừng có giỡn cha nội!
- Trung uý báo giùm trung tá. Dầu Tiếng đang bị tấn công…
- Ê. Đại uý say rượu sao? Nói phải nhớ quy ước…
- Quy ước gì? Quên mẹ nó rồi! Vixi! Chiếm chi công an, phá khám, sắp tràn ngập dinh quận.
- Thật sao? Vixi đông không?
- Mấy ngàn! Nguy lắm!
- Được, tôi báo liền, chút nữa trả lời…
Đại uý Tình thấy nhẹ đôi phần. Súng thưa dần nhưng vẫn chưa dứt. Vừa rồi anh ta nói láo, anh ta đâu có biết tình hình chi công an, khám tù cũng như số lượng Việt Cộng…. Hề gì!
Năm phút sau, bộ đàm léo nhéo: Hoả diệm sơn đâu nghe Hải vương tinh… Tại sao không nhờ “con hổ” ở “Hoàng Hà” cứu viện?
- Trời đất, đại uý Tình than lớn. Tôi gọi “con hổ” không thèm trả lời… ông Phấn đó!
- Vậy hả? Được, sẽ có cứu viện..
- Ngay bây giờ nghe, trung uý!
- Ừ, có liền…
- Bằng trực thăng hả?
- Suỵt. Nói theo quy ước…
Súng chuyển hướng sang phía đại đội Bảo An. Chuông điện thoại reo:
- Tôi đây… - đại uý Tình trả lời - cứ yên trí cổ thủ, sẽ có tiếp viện liền…
Đại uý Tình đâu có biết ở bên kia máy bộ đàm sự thể khác hẳn.
Phòng quân sự của tỉnh Bình Dương đèn mờ mờ. Mọi người ra về từ chiều, chỉ còn mỗi trung uý Vi, đêm nay tới phiên trực. Trung uý Vi người mảnh dẻ, mũi dọc dừa, điểm bộ râu Clark Gable đang đặt một cô gái trên đùi, cả hai người ngồi lọt trong chiếc ghế bành, họ vừa hôn nhau vừa cười khúc khích. Áo ngoài cô gái rơi xuống. Giữa lúc đó máy bộ đàm lên tiếng khẩn cấp.
- Anh lại nghe đi! – cô gái bảo.
Trung uý Vi lắc đầu, mân mê bộ ngực cô gái… Máy bộ đàm càng réo. Trung uý Vi nhắm nghiền mắt… Cho tới khi nghe tiếng chửi thề.
- Thằng cha Tình nhậu say, phá tụi mình đó…
Trung uý Vi đặt cô gái xuống ghế, lại máy
Sau rốt, biết Dầu Tiếng bị tấn công thiệt. Vi quay điện thoại dù biết Dầu Tiếng cách nơi đây - thị xã Phú Cường – khá xa. Trung uý Vi quay đến mấy lần mới đúng máy của trung tá tỉnh trưởng. Cô gái khoác vội áo, đến nép sát vào anh, tựa như cô tránh đạn của Việt Cộng…
- Alô, tôi trung uý Vi, xin nói chuyện với trung tá tỉnh trưởng
Giọng phụ nữ ỏn ẻn trả lời anh.
- Vi đó hả? Trốn biệt đâu mấy bữa nay? báo hại người ta nhớ muốn chết!
Cô gái nghe rõ. Cô bĩu môi, toan bỏ đi.
Trung uý Vi vội kéo cô ta lại, che máy nói thì thào với cô.
- Con ngựa cái này… Em thương giùm anh. Bằng không anh ra Quảng Trị rồi!
- Chuyện gì mà kêu trung tá giờ này? Giả bộ kêu trung tá để nói chuyện với em hả? – tiếng người đàn bà càng ỏn ẻn…
- Dạ, xin bà trung tá báo giúp…
- Nè, đừng có nói cái giọng đó. Em đâu có thèm làm bà trung tá…
- Dạ… Dầu Tiếng, cấp báo Việt Cộng đang tấn công…
- Cái gì? Dầu Tiếng bị tấn công hả? Dầu Tiếng xa thấy mồ…
- Xin trung tá ra lệnh cứu viện!
- Chèn đất ơi, bộ anh muốn trọn quyền thay trung tá mà bảo trung tá cứu viện? Ai đánh chớ Vixi đánh thì một chục trung tá cũng không dám ló ra khỏi cái chợ Thủ này… Ông ngủ rồi… Nè… tới với em bây giờ được không…?
- Dạ, tôi đang trực… Dạ…
- Trả cái dạ cho anh đó. Thôi, mai tám giờ. Cũng chỗ mọi khi, nhớ nghe cưng! Em bắt đền anh…
Tiếng hôn đánh chụt trong máy, máy gác.
Trung uý Vi bật bộ đàm, nói chuyện với đại uý Tình.
Cô gái trách anh.
- Anh nói láo chi vậy
- Nếu không, va bỏ quận, “tuỳ nghi di tản” anh đi lao công chiến trường ngay lập tức. Va cầm cự, nếu rủi ro thì trung tá lãnh đủ, anh vô can…
Trung uý Vi cười khoái trá, nhấc bổng cô gái…
Thật sự, đại uý Tình không hề hấn. Quân tấn công không nhằm dinh quận, họ bắn để nghi binh. Đồn bảo an, nhà giam, chi công an và một số cơ sở trong quận lỵ bị hạ, nhiều tên đầu hàng đầu thú, lính kín, chỉ điểm bị bắt, kho bạc và kho thuốc tây trống rỗng. Quân tấn công dán thông báo khắp chợ, ký tên “Lực lượng vũ trang tự vệ Đông Nam Bộ” và “Hội những người kháng chiến cũ”.
📎 1|2
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-02-08 15:59:53ct.ly>
Ván bài lật ngửa, chương III phần IV

III
Luân được Nhu phái lên Dầu Tiếng. Với tư cách là người của tham mưu biệt bộ phủ Tổng thống, anh có nhiệm vụ quan sát khu vực vừa xảy ra trận đánh lớn nhất từ sau khi các giáo phái tan rã. Cái nghiêm trọng của sự việc không phải vì một trận đánh, dù cho chỉ là tấn công một tỉnh lị và cũng không dính dấp nhiều đến những con số lực lượng phiến loạn - Phủ Tổng thống nhận các báo cáo kê con số sai biệt hẳn: theo quận trưởng, đến 2.000, tỉnh trưởng hạ con số còn trên 1.000, tổng uỷ tình báo ước lượng 300. Chủ đồn điền Mecheline thay con số bằng một khái niệm hết sức dè dặt: nhiều toán vũ trang. Nghiêm trọng vì toán người nổ súng là Việt Cộng. Mở đầu giai đoạn mới rồi chăng? Đó là câu hỏi to tướng đặt ra với tổng thống Diệm.
Luân chưa nhận được chỉ thị của A07. Bản thân anh cũng không rõ trận tấn công nhằm yêu cầu gì. Trong cuộc họp gồm Tổng thống, cố vấn Nhu, đại tướng tổng tham mưu trưởng, tổng uỷ trưởng tình báo, thiếu tướng tổng giám đốc nha cảnh sát quốc gia. Luân được phép tham dự như một thư ký – anh chọn lời lẽ để giảm nhẹ tầm quan trọng của trận Dầu Tiếng. Đó cũng là cách mà anh vừa trao đổi với đại sứ Mỹ Durbrow – ông này tán thành. Đồng minh của Luân trong cuộc họp - một cuộc họp na ná hội nghị hội đồng an ninh quốc gia – là đại tá tổng uỷ trưởng tình báo. Ông ta có lý do riêng: nếu trận Dầu Tiếng nghiêm trọng như vậy thì người phải chịu trách nhiệm trước tiên là ông ta: không nắm đủ tin tức. Với 300 Việt Cộng, con mắt của ông ta có thể bỏ sót, và ai có thể không bỏ sót nhóm người cỡ đó giữa vùng rừng bát ngát?
Cơn nóng giận của Diệm dịu dần. Luân được phái lên Dầu Tiếng.
Anh mượn cớ cần nghiên cứu kỹ cả khu vực, trì hoãn ngày đi. Từ sáng tới tối, anh đọc báo cáo, gặp gỡ các sĩ quan tình báo, sĩ quan tham mưu. Mãi tới khi tờ Dân Đen đăng tin mừng sau đây: ” Chúng tôi được tin ngày chủ nhật 9 tháng 3 năm 1958, nhằm 20 tháng giêng âm lịch Mậu Tuất, ông bà Lê Văn Tư, nghiệp chủ tại Lấp Vò, gả thứ nữ Lê Thị Bình cho cậu Trần Viết Thoại, trưởng nam ông bà Trần Viết Liêm, nghiệp chủ tại Chợ Lớn…” Luân mới lên đường.
Luân có mặt ở Dầu Tiếng chiều ngày 8. Sáng nay, anh cùng trung tá tỉnh trưởng, đại uý quận trưởng, dẫn một đại đội bảo an đi thị sát làng 5 Dầu Tiếng nằm giáp ranh làng Thanh An, cửa ngõ dẫn vào chiến khu Long Nguyên nổi tiếng xưa kia. Cuộc thị sát bình thường song trung tá tỉnh trưởng lẫn đại uý quận trưởng đều rợn tóc gáy. Xe đổ xuống làng 5, hai người súng lục lăm lăm, bước dò từng bước trước khu nhà gạch của công nhân, chung quanh là lính tay tì trên cò súng, lom khom, dáo dác. Giờ này người lớn trong khu nhà đang đi lấy mủ ở các lô, còn toàn trẻ em, ông bà già. Họ đứng bên trong cửa, nhìn qua khe hở, theo dõi.
Luân vận quân phục, đeo hàm thiếu tá, đủng đỉnh theo sau, giống một người dạo xem phong cảnh. Thạch không đến nỗi mất tinh thần như các sĩ quan địa phương song tay luôn đặt lên báng khẩu súng ngắn bám sát Luân. Lính lục soát từng nhà. Chẳng mất nhiều thì giờ cho lắm, nhà trống trơn, ngay cả khạp gạo cũng lưng. Sau mỗi nhà chỉ có mấy luống rau. Còn lại là những hàng cao su thẳng tắp đứng đây trông thông thống tận đường 14.
Trước giờ hành quân, đại uý Tình khúm núm thư với Luân, là theo anh ta, Việt Cộng nhứt định tụ tập tại làng 5 trước khi tấn công.
- Đại uý lấy gì làm bằng chứng chính Việt Cộng đánh Dầu Tiếng? – Luân hỏi, mắt anh cười cười.
- Dạ, tụi nó dán thông báo… - đại uý Tình quả quyết
- Ký tên dưới các thông cáo đâu phải là bằng chứng… Ai chẳng làm được!
Trung tá tỉnh trưởng Vũ Thành Khuynh, người cao ráo, da ngâm, răng đen cạo chưa hết vết nhuộm cũ - lặng lẽ nghe. Theo ông, rất có thể là đám cướp. Ông chợt nhớ đến báo cáo kết luận của đại uý Tình: vùng Dầu Tiếng an toàn một trăm phần trăm. Và ông hối hận về con số 1.000 tên mà ông gán cho đám cướp.
-Nếu đại uý nói đúng thì Việt Cộng từ đâu tới? Trên trời đổ bộ xuống sao? Luân hỏi châm biếm
- Cả trung tá nữa, các ông không bình tĩnh. Tổng thống rất lạ khi đọc báo cáo của các ông. Cách nhau mấy ngày, Việt Cộng từ là cái bóng mờ vụn biến thành hàng ngàn con người đủ súng ống. Cơ quan tình báo cười các ông, tôi mắc cỡ lây…. Tại sao các ông không nghĩ đến đảng Rừng Xanh của Phạm Văn Bời?
Vũ Thành Khuynh buột miệng:
- Không phải đâu
Luân vẫn cười nhẹ hỏi:
- Thiếu tướng Mai Hữu Xuân đảm bảo với trung tá?
Vũ Thành Khuynh lúng túng. Đảng Rừng Xanh đã được tướng Xuân thu dụng hồi ông ta chỉ huy chiến dịch Trương Tấn Bửu, đang hoạt động theo lối Commandos cũ – bây giờ kêu là biệt kích. Đó là chuyện bí mật.
- Tôi… tôi – Vũ Thành Khuynh ấp úng mãi.
Đến làng 5, cảnh đìu hiu của ngôi làng gồm vài chục mái nhà lại ám ảnh Vũ Thành Khuynh. Biết đâu không phải là Việt Cộng?
Nhưng cuộc lùng sục đến trưa không mang lại tí kết quả nào. Phu đã lần lượt về, quần áo bê bết mủ cao su. Làm sao những người này là Việt Cộng cho được?
- Cạnh làng 3 là xóm gì? – Luân hỏi đại uý Tình
- Dạ, xóm Đất Ung, làng Thanh An
- Không thuộc sở Dầu Tiếng?
- Dạ, không.
- Đại uý đến đó chưa?
Đại uý đỏ mặt.
- Dạ, em mắc công chuyện… Vả lại, xóm Đất Ung có bốn nhà ở cách xa xa… Em cho lính ngày nào cũng đóng chốt ở đó.
- Tôi muốn đến xóm Đất Ung! Luân nói gãy gọn.
Mặt đại uý vụt xanh.
- Dạ…
- Đại uý cho một tiểu đội theo tôi… Tới đó mấy cây số?
- Dạ…
Một trung uý đỡ lời quận trưởng:
- Đâu có mấy cây số. Chừng bảy, tám trăm thước. Chó sủa ở đây nghe rõ…
- Anh biết xóm Đất Ung? – Luân hỏi.
- Dạ, ngày nào em cũng qua lại đó…
- Vậy anh đi với tôi. Đại uý ở đây với trung tá – Luân quay sang quận trưởng. Anh ta không giấu vẻ mừng.
Vũ Thành Khuynh hơi lưỡng lự:
- Hay tôi đi cùng với thiếu tá.
Luân đã thấy đại uý Tình thích nhẹ tay vào lưng tỉnh trưởng.
- Chắc không cần! Luân bảo – tôi ăn trưa ở đó.
- Em lo bữa ăn cho thiếu tá! – viên trung uý reo lên.
Tiểu đội rẽ vào đường xe bò. Luân vừa khuất, quận trưởng nói nhỏ với tỉnh trưởng.
- Chỗ đó ghê lắm! Mấy bà già ở đó dữ tợn, nghe nói họ mài dao bén lắm, hăm chém lính…
Một lều vải căng ngay giữa vườn cao su. Trung tá tỉnh trưởng và đại uý quận trưởng ngồi xếp bằng quanh mâm, hai con gà quay láng mỡ, chai Whysky óng ánh. Gió từ sông Sài Gòn lao xao thổi tới.
Đúng là xómg Đất Ung vỏn vẹn có bốn nhà, mỗi nhà cách nhau chừng vài trăm thước, tất cả nằm cập lộ xe bò. Từ làng 5 ra lộ 14, giữa một khu rừng chồi được đánh lõm từng gốc trồng đậu phộng. Nhà lợp tranh lụp xụp. Luân đến thẳng ngôi nhà cuối cùng. Cũng như những nhà khác, cổng ngôi nhà có hai tấm bảng, ghi hai khẩu hiệu: “Ngô tổng thống muôn năm” và “Tiêu diệt giặc cộng” - hẳn công dân vụ buộc chủ nhà phải mua. Trên cổng lủng lẳng một tấm thiếc vẽ cờ quốc gia bằng sơn. Và, cả bốn nhà đều mang ký hiệu C và D.
Luân vào cổng, đúng có bụi hướng dương to. Ngay cổng, mấy cây đào lộn hộn trĩu quả. Một con bò gầy nhom đang nhai rơm.
Ngôi nhà cất theo lối chữ “đinh”, xiêu về một phía, tựa lên mấy cây chống cong queo. Bước lên, thềm đất, Luân thấy liền ảnh Ngô Đình Diệm treo giữa nhà cùng vô số áp phích chống cộng treo trên vách.
Ngoài tiếng dao xắt chuối đều đều ở gian nhà ngang, tất cả đều im phăng phắc.
Luân xuống nhà ngang. Một bà, tuổi có lẽ trên sáu mươi, không nhìn khách lạ, miết con dao to bản lên thân cây chuối - đường dao ngọt xớt, từng khoanh chuối mỏng lật vào chiếc thúng đã bung vành. Cạnh bà, con heo nái nằm sâu dưới nền, thở nặng nề.
Vừa nhìn qua, Luân đã biết bà già thuộc hạng người nào. Trong kháng chiến, anh quen đến hàng trăm bà má như vậy - những sợi tóc trắng, những nếp năn, đôi mắt hiền từ. Anh thầm nghĩ, một má chiến sĩ.
- Thưa má – Luân đánh tiếng, tiểu đội đã toả quanh nhà.
Bà già không ừ hử. Viên trung uý sừng sộ:
- Ê, bà già!
Bà già ngó lên:
- Nè, thiếu tá hỏi bà, bà trả lời cho đoàng hoàng. Viên trung uý tiếp tục hầm hè.
- Đừng la lối! – Luân rầy viên trung uý - Để tôi hỏi má…
- Ai mà dám làm má mấy ông! – bà già phọt một miếng cổ trầu. liếc qua Luân và dừng lại viên trung uý – Ông kia, tiền con gà mái đẻ của tôi ông hứa trả mà sao mấy tháng không thấy…
Viên trung uý chết bộ, mặt anh đỏ lừ:
- Ối! Chuyện nhỏ nhặt… Anh ta nói liều.
- Sao kêu bằng nhỏ nhặt? Các ông có tiền, con voi cũng thành nhỏ, chớ tôi nghèo…
Rồi bà khoát tay đuổi một con gà giò:
- Hù, đi ra, đồ ôn hoàng dịch lệ.
- Bà đuổi tụi mình đó! - Thạch nói với viên trung uý.
- Má ơi tại sao nhà ta mang biển đen? – Luân hỏi từ tốn ngồi lên thành chiếc cối giã gạo.
- Ông là quan quyền, đừng kêu tui là má, mất thể diện lắm…
- Mất thể diện cho bà hay thiếu tá? – Viên trung uý gỡ gạc.
Bà già không trả lời, đưa con dao xắt chuối rào rạo.
- Con hỏi thiệt – Luân giằn xúc động – Mà nói cho con biết tại sao nhà ta bị biển đen?
- Nếu không biết thiệt, sao ông không hỏi ông quận? – Bà già liếc con dao lên cục đá đã khuyết một vòng cung nơi chính giữa, trả lời Luân. Có lẽ giọng thiết tha của Luân khiến bà già ít nhiều để ý anh.
- Còn vụ đánh Dầu Tiếng không có thằng nhỏ nhà tui dính vô đâu? Chừng nào ông nhà tui với tui phải lên ngủ trên nhà làng? Cho hay trước để tui gửi con gà, con heo… Cặp bò, ôn dịch bắt hết một con năm ngoái, con gà thì… - bà tìm viên trun uý, anh ta lủi ra ngoài từ hồi nãy… cái ông gì đó bắt trên ổ lúc nó đẻ… con chó cũng lãnh một phát mút…
Cánh tay bà già nổi gân cuồn cuộn. Luân biết, bà đang nghĩ tới làng lính – trong đó có anh – khi bà thoăn thoắt lia thân cây chuối từng nhát chắc nịch.
- Bộ anh hai ở nhà trước kia đi kháng chiến hả má? – Luân hỏi tiếp.
- Phải dè tình hình như vậy thì tui xúi nó đi kháng chiến cho rồi, tập kết cũng yên thân mà vô rừng cũng khoẻ! Bà già mím môi.
- Vậy anh hai không đi kháng chiến… Vậy sao người ta treo bảng đen ở nhà má?
- Ngộ hôn? Tôi biểu ông đi hỏi ông quận… Hoặc ra chợ Thanh An hỏi vợ bé của ổng. Bà vợ vựa củi chớ không phải bà vợ chủ tiệm vàng…
- Con hiểu rồi! Chắc bà vợ bé của ông quận muốn giật vuông rừng sau nhà do anh Hai khai phá. Luân gật gật đầu.
- Ông nói trúng đó, bà già cũng gật gật đầu – Nào phải riêng nhà tui, cả xóm Đất Ung, tụi tui là Cộng Sản thì quan quyền mới cất nhà phong tô được chớ! Mới vợ bảy, vợ mười được chớ!
- Xin lỗi má, má thứ mấy? Con muốn biết để xưng hô cho tiện. Con thứ bảy… Luân hỏi đột ngột.
- Tôi thứ hai, thứ của ổng. Còn bên tôi, tôi thứ chín…
Luân bước ra sân, không phải rồi. Nhưng cả xóm Đất Ung chỉ có nhà này trồng bụi hướng dương mà thôi.
Suy nghĩ một lúc, Luân gọi viên trung uý:
- Anh cầm ít tiền ra chợ Thanh An mua cái gì về ăn. Tôi cho phép anh em uống rượu. Anh hỏi anh em thích loại rượu nào, anh cứ mua. Nhớ mua, chớ đừng giật.
Nhận tiền của Luân – Luân đưa khá hào phóng – viên trung uý mừng rơn, ngoắc một thượng sĩ:
- Theo tao, bữa nay làm một trận cho đã!
Hai người chưa ra tới cổng thì gặp một chiếc xe đạp quẹo vào, xe dừng. Một ông già tóc bạc, dáng cao lớn, đèo sau một giỏ gùi * xuống xe:
- Chuyện gì vậy? Mấy ông?
Ông già sững sờ trước số lính lô nhố. Ông lột nón lá. Luân suýt reo to khi nhìn thấy một lọn tóc nhỏ của ông cài long nhiếm bự xộn. Cả bộ bà ba đen, áo nâu nữa.
- Chuyện gì, lát nữa sẽ biết. Còn bây giờ lão đưa chiếc xe và cái giỏ đây!
Viên trung úy giật xe, trút giỏ gùi. Anh ta và tay thượng sĩ mất hút.
- Xin lỗi bác… Anh em mượn xe lỗ mãng quá, nhưng cháu cam đoan xe không mất. Luân giúp ông già lượm gùi tung toé trên đất.
- Ông là quan ông để lính làm ngang như vậy, bảo dân tin vào chính nghĩa quốc gia sao được?
Ông già lầm bầm
- Cháu sẽ phạt họ… Tụi cháu đi tuần tra, ghé đụt nắng nhà này. Bác là chủ nhà, phải không?
Ông già không trả lời Luân, gọi vọng vào nhà:
- Bà ở đâu, không coi chừng coi đổi, mất con bò bây giờ!
- Tui ở đây chứ đâu… Mạng mình còn lo giữ không nổi, lo tới con bò! – Bà già đã xắt xong chuối, đang quét, trả lời.
- Xin bác cho phép tụi cháu đụt nắng… - Luân nhắc lại.
- Nhà tôi chật chội lắm… - ông già nhìn Luân - nếu ở thì một mình ông thôi…
- Dạ, cám ơn… Anh em ở ngoài rào, ăn uống xong thì đi….
Luân chưa vào nhà. Ông già đem gùi xuống nhà ngang, rồi quét bộ ván ở nhà trên.
- Ông quan ơi, ông vô nghỉ lưng một chút…
Luân ngồi lên ván… Nắng trưa hất nóng ngôi nhà.
Anh bảo Thạch xin phép chủ nhà bỏ tấm liếp xuống.
Lát sau viên trung uý về, mua cả giỏ bánh mỳ, thịt quay và đến ba chai rượu Quảng An Thành. Luân mời chủ nhà ăn bánh mì với anh. Bà già hứ anh, ông già cầm một khúc bánh mì vừa nhai vừa quan sát đám lính ngồi bẹp cạnh rào, quanh bữa ăn. Ông mang ra cho họ mượn chén, đũa…
Khi đám lính ngà ngà, hầu hết cởi áo, cười nói ầm ĩ, Luân hỏi ông già:
- Xin lỗi bác thứ mấy? Cháu thứ năm…
Ông già cười cười:
- Tôi thứ sáu! Đúng chưa?
Rồi ông hạ thấp giọng:
- Thấy chú tôi biết liền. Quan tư, quan năm quốc gia mà một dạ hai thưa, hiếm lắm! Mà, bà nhà tôi không rành vụ này, chú đừng nói gì hết…
- Thì giờ ít quá, cháu muốn gặp người quen…
- Ậy, đợi tụi nó ngủ đã… Một tay đi vô nhà kìa!
Ông già chỉ Thạch, mặt đỏ gay, đang lảo đảo bước
- Chú ra chơi với anh em rồi nghỉ một chút, tôi ở lại với bác đây được rồi! – Luân bảo Thạch.
- Gặp người quen xa không bác? – Luân nóng ruột, hỏi tiếp.
- Xa cũng xa mà gần cũng gần. Như vầy, chú vô buồng, ở đó kín đáo. Nhớ nói nhỏ nhỏ. Tôi coi chừng cho. Hễ nghe tôi tằng hắng, chú nhảy lẹ ra ngoài.
Ông đưa Luân vào buồng, gian buồng hẹp, tối bưng. Ông giẫm chân lên nền, ba tiếng liền đệm một ngắn đoạn.
- Thôi, chú làm việc. Nhớ nói nhỏ…
Ông quay lưng ra, Luân bỡ ngỡ. Làm việc với ai?
Liền lúc đó, Luân nghe động dưới gầm giường. Luân rạp người, cố nhướng mắt tìm kiếm. Mặt nền nhà bằng phẳng bỗng nhô lên một khối vuông nhỏ! A, hầm bí mật! Luân nghe nói đến hầm bí mật nhưng chưa thấy lần nào. Ai dè hầm bí mật ngay đây. Vậy thì người đến gặp anh đã nằm dưới hầm bí mật khá lâu.
Thư hẹn không nói anh sẽ gặp ai, chỉ ghi “người quen”. Từ vụ điện đài Núi Cậu bị đột kích, anh đứt liên lạc với lãnh đạo, tới nay, hơn một năm. Vừa rồi, Sa báo tin, sau đó nó trao cho anh thơ của anh Sáu Đăng – nó trao thư ngay trong phòng khám của bác sĩ Tạ Trung Quân. Thư đặt trong ống aspirine. Cái thằng giỏi thiệt, có vẻ đang học nha. Cả anh và nó muốn nói chuyện nhưng không dám. Sa trổ mã, đúng là một thanh niên! Bản tin mừng trên báo là mật hiệu cho biết mọi việc sẽ được tiến hành như đã hẹn, thời gian như trong bản tin, tức ngày 9 tháng 3.
Trong ánh sáng mờ mờ, Luân thấy hai cánh tay đưa khỏi miệng hầm. Kế tới cái đầu, người trong hầm đu lên nhưng vướng cái giường. Anh phải kéo giúp.
- Khoẻ không? – “người quen” siết tay anh.
Anh không thể tưởng tượng nổi, “người quen” chính là anh Sáu Đăng, phụ trách công tác tình báo chiến lược của Xứ uỷ.
Trong khoảnh khắc, Luân rơi nước mắt
- Các anh vất vả quá! – Luân nghẹn ngào. Một cái gì vừa kiêu hãnh vừa xót xa chợt đến trong anh. Đảng phái người có cương vị quan trọng, không nề hà nguy hiểm gặp anh. Phần anh, việc làm được chưa đâu ra đâu cả.
- Anh ở dưới hầm lâu chưa?
Anh Sáu Đăng kéo Luân ngồi lên giường:
- Từ sáng, xuống hầm mà chưa đậy nắp. Đến khi nghe các anh chộn rộn, mới đậy nắp…
- Các anh đằng mình khoẻ hết không anh?
- Có người khoẻ, có người hy sinh. Hy sinh khá nhiều. Thôi, bây giờ ta làm việc.
Luân ra ngoài quan sát, tốp lính ngủ lăn dưới gốc cây. Ông già ngồi chuốt nan bên thềm. Bà già bận bịu với nồi cám heo.
- Các anh khen anh. Tôi được uỷ nhiệm chuyển lời khen của xứ đến anh. Anh Sáu Đăng bắt đầu - Tất nhiên Xứ cũng phê bình anh đã sơ hở một số trường hợp không cần thiết. A07 nhận xét thống nhất với Xứ. Tôi sẽ nói rõ những trường hợp nào để anh rút kinh nghiệm. Còn việc chính hôm nay là tôi được chỉ thị phổ biến với anh chủ trương mới của Xứ. Tài liệu mà tôi sắp tóm tắt tên là “đường lối cách mạng miền Nam” do anh Hai viết.
- Anh Hai khoẻ không, anh? – Luân ngắt lời anh Sáu Đăng.
- Khoẻ, mà gian nan lắm… Anh ráng nhớ, cái gì cần trao đổi thì ta trao đổi luôn.
Anh Sáu Đăng thì thầm trót tiếng đồng hồ. Luân chăm chú nghe. Quan điểm mới của Đảng soi sáng anh thật nhiều. Đúng ra, Luân từng băn khoăn về con đường đấu tranh chính trị để hoà bình thống nhất nước nhà; anh ở trong ruột chế độ miền Nam nên biết là không bao giờ điều đó xảy ra. Thực tế, trận Dầu Tiếng báo hiệu đã đến lúc thay đổi phương thức hoạt động, Luân đặc biết thích thú với những phân tích của anh Hai về các khả năng khác nhau đưa đến hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ ở miền nam. Trong những khả năng đó, anh Hai nhắc đến cách mạng tháng Tám. Luân hiểu rằng lịch sử không tái hiện hoàn toàn: hồi 1945, chiến khu Việt Bắc nhỏ bé quá, còn bây giờ căn cứ là cả nửa nước giải phóng. Hơn nữa nhân dân miền nam đã kinh qua đấu tranh vũ trang chín năm. Anh Hai nhắc đến cách mạng tháng 8 như là một gợi ý, còn trình độ vận dụng thì nhất định cao hơn nhiều. Thế là yên tâm: có đấu tranh chính trị, có đấu tranh vũ trang. Hẳn cuộc đánh vào Dầu Tiếng là hồi âm của đường lối mới đó.
Càng nghe Luân càng phấn khởi. Dù cho lát nữa anh Sáu Đăng sẽ “cạo” anh một trận rát da anh vẫn vui. Bức ảnh bọn biệt kích dùng đầu lâu đồng chí bí thư xã Tân Hoà – Vinh Lộc làm quả bóng, các tin tức ở khu Hải Yến, khu trù mật Vị Thanh, cái chết của bạn thân của anh – anh Ngọc và cảnh ông giáo Đầy mà anh chứng kiến tận mắt…
- Trên cơ sở đường lối chung đó, anh suy tính phần việc của mình – anh Sáu Đăng phổ biến xong chủ trương nói thêm - phần việc của anh là một mặt trận như mặt trận đấu tranh chính trị và vũ trang – anh sẽ thừa hưởng khí thế của phong trào quần chúng đồng thời anh sẽ hỗ trợ cho phong trào quần chúng. Điều cần nhớ là Diệm sẽ không còn. Hắn ta sẽ bị khử như kiểu ở Ban Mê Thuột hay bị chủ Mỹ cho ra rìa. Cho nên anh sẵn sàng tư thế nhập thân vào các thế lực thân Mỹ khác. Anh chú ý tạo quan hệ tốt với Mỹ, kể cả CIA. Cô nhà báo Mỹ có thể giúp anh, với điều kiện anh cư xử sao cho phải chăng. Gì thì gì, cuộc đấu tranh của chúng ta nhất thiết phải lâu dài, gian khổ, phức tạp. Chưa ai biết trước nó sẽ qua giai đoạn nào. Song chắc chắn Mỹ không dễ dàng buông miền Nam chừng nào chúng chưa tuyệt vọng. Anh thừa biết, với một đế quốc hùng mạnh như Mỹ, muốn làm cho chúng tuyệt vọng nhân dân ta phải qua biết bao hy sinh. Hoàn cảnh quốc tế lại phức tạp. Tiện thể tôi báo với anh, Lâm Sử cầm đầu nhóm Giải Liên nay thuộc Bắc Kinh, hẳn là anh quen, không còn chung quan điểm với ta. Một gã người Hoa khác tên là Dương Tái Hưng theo dõi anh, muốn qua anh để biết chủ trương của Đảng ta và không loại trừ ý định khống chế anh. Hắn không thuộc Bắc Kinh, cũng không thuộc Đài Loan, một tình báo viên đẳng cấp cao có thể làm thuê cho CIA, có thể bản thân liên quan đến giới tài phiệt Mỹ, đặc biệt là giới sản xuất dụng cụ chiến tranh. Chúng tôi tạm thời mới biết hắn bấy nhiêu nên anh đề phòng. Có tin thêm về gã, sẽ cung cấp cho anh.
Anh Sáu Đăng chuyển sang phần nhận xét hoạt động của Luân. Thật ra anh Sáu cũng chỉ dặn dò Luân dè dặt hơn, nhớ vai trò chiến lược của mình.
- Sau vụ Buôn Mê Thuột, chúng tôi lo cho anh. May mà Phúc vững vàng. Giả tỷ Phúc chao đảo thì sao? Chúng tôi thông cảm với anh, song trong công tác của anh, không kềm chế đến mức lạnh lùng thì khó mà bảo toàn. Chẳng hạn nay mai tôi rơi vào tay chúng nó, chúng nó buộc anh phải bắn tôi. Anh từ chối được không?
Cách đặt vấn đề của anh Sáu Đăng khiến Luân rịn mồ hôi.
- Hình thức chiến đấu sắp tới rất nhiều vẻ - Anh Sáu Đăng không muốn nghe Luân biện luận nói tiếp. Mỹ đang cho thám báo ra miền Bắc bằng đường bộ, đường thuỷ và cả đường hàng không. A07 đồng ý đề nghị của anh về anh Lục. Lối đánh đó hiệu quả cao.
Sau này, một số đồng chí lãnh đạo của khu uỷ Sài Gòn khi cần, sẽ liên lạc với anh. Anh nhớ anh Kiệt chứ?
- Nhớ! Anh Kiệt có lúc làm bí thư Bạc Liêu… Chúng nó biết hiện nay anh Kiệt thay anh Trần Quốc Thảo, làm bí thư khu uỷ Sài Gòn – Gia Định.
- Đúng. Ngoài ra còn anh Mai Chí Thọ…
- Tôi cũng biết…
- Anh liên lạc với chúng tôi qua Sa. Còn chúng tôi liên lạc với anh bằng nhiều cách. Qua cô Dung, chẳng hạn. Anh thấy cần có người bảo vệ không? Tay bảo vệ của anh thế nào?
- Tạm thời, chưa cần… Còn tay bảo vệ của tôi tất nhiên là người của Nhu. Nếu được…
Luân đề nghị với anh Sáu Đăng tác động với gia đình của Thạch ở Chợ Gạo.
- Tôi hứa với anh. Song, chính anh tác động tới anh ta mới là chính… Anh có tin tức gì của anh Năm không?
- Qua đài phát thanh, biết anh đang làm đại sứ.
- Phải, anh khoẻ. .. Còn trung đoàn 510 hiện đang luyện quân ở Thanh Hoá. Anh Lưu Khánh trực tiếp làm trung đoàn trưởng. Anh Vũ Thượng chuyển sang làm tùy viên quân sự cho Bác Hồ!
- Sướng quá! – Luân buột miệng reo lên.
- Anh Vũ Thượng thèm được như anh… -Anh Sáu cười.
- Tôi muốn hỏi anh một chuyện: anh Lưu Khánh có một đứa con…
Anh Sáu Đăng ngắt lời Luân.
- Anh không cần biết. Chuyện sau chót, anh và cô Dung định như thế nào?
Luân im lặng
- Tổ chức không có ý kiến. Tất cả tuỳ anh và cô Dung…
- Nhưng, ý riêng của anh thế nào?
Anh Sáu Đăng trầm ngâm khá lâu. Thái độ đắn đo của cấp trên kéo dài. Với Luân, giống như thời gian của người ra toà chờ tuyên án.
- Anh cũng rõ, công việc của anh hiện nay khác mọi công việc mà anh từng đảm đương. Nó rất đặt biệt… Anh đã xem người dạy sư tử. Anh chẳng khác người dạy sư tử bao nhiêu. Càng gọn, càng dễ xoay sở. Tại sao không có tình huống kẻ thù dùng người này để uy hiếp người kia. Anh chịu đựng vụ anh Ngọc như thế nào, chúng tôi biết. Song phải nói là nếu tấm thảm kịch đó xảy ra với cô Dung, anh chịu đựng nổi không? Và ngược lại, cô Dung chịu đựng được nổi không? Tôi hoàn toàn tin ở các đồng chí, các anh lãnh đạo cũng vậy. Song làm sao anh hay cô Dung không cảm thấy sự thể sâu xa khi sự thể trở nên xấu? Đấy là tôi chưa nói hai người sẽ có con. Tất nhiên, tôi từng nghĩ đến mặt khác sẽ an toàn hơn khi anh và cô Dung thành vợ thành chồng. Ở đây có tình cảm và có lý trí. Ai đủ sức quyết định nếu không phải chính là người trong cuộc? Tôi nói với tư cách riêng. Dù vậy, anh có thể tin là khi nghe anh chị thành hôn, tôi là một trong những người vui nhất. Tóm lại, anh và cô Dung nên trao đổi, suy tính. Không lấy nhau là hy sinh, lấy nhau cũng là hy sinh…
Luân lắng nghe, thở dài. Anh cũng từng hiểu như vậy. Anh Sáu nắm chặt tay Luân:
- Anh và cô Dung đều là Đảng viên. Quyết định của hai người nhất định sáng suốt… À, còn Quyến, cố mà tạo cho cậu ta một chỗ đứng thật tốt, leo thật cao. Khéo léo vận động để cậu ta đi học ở Mỹ…
- Tôi linh cảm Nhu sắp giao cho tôi công việc bình định chiến khu D…
- Tốt! Nó không giao chính anh cũng nên xin. Rất cần. Vùng rừng Đông Nam Bộ sẽ là căn cứ lớn của ta, nhưng chưa có nhiều súng. Trận Dầu Tiếng góp nhóp gần như hết cả số súng cũ…
- Tôi sẽ cố gắng…
- Hết rồi. Tôi với anh không nên gặp nhau lâu
Anh Sáu Đăng và Luân ôm hôn nhau. Tới giờ phút này, hai người mới thả lỏng tình cảm. Mắt hai người ướt đẫm.
- Anh đừng trở lại đây nữa. Ông bà già sẽ đến nơi an toàn, cốt bảo vệ anh
Anh Sáu xuống hầm. Luân ra cửa.
Luân chào từ biệt ông bà già. Ông già nắm tay Luân, mắt hấp háy. Tốp lính của anh về làng 5 vào 3 giờ chiều. Đại uý quận trưởng và trung tá tỉnh trưởng chưa tỉnh rượu.
📎 III
Đăng nhập để trả lời
0
Ván bài lật ngửa chương IV, phần IV

Sự phản kháng bằng vũ trang của nhân dân trước khủng bố của Ngô Đình Diệm thật ra không phải mở đầu bằng trận đột kích quận lỵ Dầu Tiếng. Trước đó khá lâu, thị trấn Minh Thạnh - cạnh Dầu Tiếng bị tấn công. Ở Đồng Tháp Mười súng đã nổ lẻ tẻ. Miệt ở U Minh, tình hình căng thẳng không kém, một loạt đơn vị mang danh nghĩa giáo phái như tiểu đoàn Ngô Văn Sở, trung đoàn Quang Trung - thường đi lại các quận, trước kia là căn cứ kháng chiến. Đặc biệt trong rừng U Minh thượng và hạ, trong rừng đước Năm Căn, những người chống lại Ngô Đình Diệm - trực tiếp nhất là chống lại các cuộc hành quân trả thù, chống khu trù mật và chống tên Nguyễn Lạc Hóa – đã tụ tập thành làng, đông và đến hàng vạn dân, trang bị súng và dao, gậy, sống ngoài vòng kiểm soát của chính quyền Sài Gòn.
Trước mắt, mọi cái đang tượng hình. Và, ngay nội ô Sài Gòn, xu thế bạo lực mỗi lúc mỗi rõ nét. Thư của Harry Hartman, trung uý cố vấn luyện bộ binh, gửi mẹ ở bang Chio.
… Trông nét chữ của con, chắc mẹ lạ lùng. Nó ngoằn nghèo đến phát khiếp, phải không mẹ. Ấy là con còn có thể viết cho mẹ. Chiếc xe buýt chở bọn con - những thư trước con vẫn nhắc tụi bạn mà con tin là mẹ còn nhớ, thiếu uý Felding Senior, đại uý Bernetti – không còn hình thù chiếc xe, mà là đống sắt bẹp dí. Không một ai sống sót, trừ con. Mẹ hãy cảm ơn chúa. Tất nhiên, không phải tất cả đều chết ngay. Mười một đứa, trong đó có Felding, chết ngay. Tám đứa chết trên đường vào bệnh viện. Ba chết sau đó, có đại uý Bernetti. Mắt nó mở trừng trừng khi con nắm tay nó. Không rõ nó bực tức về cái chết đột ngột đến với nó hay nó khó hiểu sự ngoại lệ của con. Đường nào thì Bernetti cũng đã chết. Mẹ hãy đọc kinh cho lũ bạn xấu số của con.
Thông thường, chỉ khi nào xe buýt đến thì bọn con mới được ra khỏi nhà. Ngay cổng nhà, phái đoàn cố vấn Mỹ đã cẩn thận cảnh báo bọn con: Quân nhân Mỹ chỉ được đến chỗ này khi xe đỗ lại. Và chiếc xe Ford sơn màu xám, gắn máy điều hoà không khí cẩn thận hơn một mức: kẻ hàng sau và bên hông xe hàng chữ “đến gần xe hai mét rất nguy hiểm”. Ấy vậy mà, như con báo, trừ mỗi mình con, không ai thoát.
Hôm đó trời mưa. Có vẻ mưa trái mùa. Người Việt bảo đảm với con là đã hết mưa. Mưa không to song kéo dài. Câu chuyện trên xe lại quay về sự cẩn thận của phái đoàn cố vấn. Hầu hết bọn con cười các ông tướng: sợ chết thì đừng có vào quân đội… Con đến xứ này khi tiếng súng im. Nói chính xá, còn nổ, nhưng nổ đơn phương, quân đội của ông Diệm bắn vu vơ. Con chưa gặp một Việt Cộng có súng nào cả.
Xe bọn con dừng trước một ngã tư. Đèn đỏ. Trong bụi mưa, con trông thấy một chiếc xe môtô lạng cạnh bọn con.. Chắc là một người đàn ông trẻ tuổi lái. Ngồi sau, một cô gái – con quả quyết vì mái tóc xấp xoà. Cả hai choàng áo mưa, đội nón nhựa mềm. Thường khi con vẫn hay ngồi cạnh Bernetti. Hôm nay, con đứng ngay cửa xe để ngắm thành phố trong mưa.
Đèn xanh. Xe vượt qua ngã tư. Mô tô gần như sóng đôi với xe bọn con. Bỗng một người con gái dán một gói gì vào hông xe buýt. Một gói to hơn ổ bánh mì. Không phải một mà hai gói, dán cách khoảng. Lạy chúa, chính chúa đã cứu con. Con chợt nghĩ đến những quả mìn dính nam châm. Con đạp cửa, thét: “Mìn! Người tài xế hãm xe đột ngột, bọn bạn nhốn nháo. Cửa bung. Con nhảy vụt xuống đường, lăn mấy vòng cùng với ánh chớp và tiếng nổ kinh hoàng. Đấy… Mẹ hiểu vì sao nét chữ của con run rồi chứ?…”
Hạ sĩ Alain Feterson, trong đội hiến binh canh gác cư xá, đi lại trên cái sân quen thuộc, đằng sau tấm lưới mắt cáo vươn tận tầng ba che chở hết mặt tiền ngôi nhà, nguyên trước là khách sạn nay đổi thành nơi nghỉ ngơi của sĩ quan thuộc phái đoàn TRIM.
Alain chốc chốc xem đồng hồ tay. Còn 15 phút nữa anh hết phiên gác. Trời sáng rõ. Ngoài đường xe cộ nhộn nhịp: thật ra, nhộn nhịp từ 4 giờ sáng, khi Alain bị dựng dậy… Cư xá ngó chếch sang khu chợ, người bản xứ gọi là chợ An Đông – an toàn ở phương Đông. Alain và nhiều hiến binh tin sự may rủi do thượng đế sắp đặt, nên rất bằng lòng, trong nhiệm vụ ở vùng nhiệt đới xa xôi này, được sống cạnh cái tên hiền lành kia.
Trước cư xá, Alain và một thiếu uý đã để ra hàng mấy giờ, theo chỉ thị của cấp trên, kẻ những vạch sơn trắng trên mặt đường hắc ín, khoanh một ranh giới mà trong đó cấm tiệt mọi xe cộ dừng lại. Alain viết dòng chữ trên mặt đường, lời đã hách mà nét còn hách hơn: Chú ý! “Xe dừng lại trên phạm vi có dấu hiệu sơn trắng thì hiến binh Mỹ nổ súng ngay”. Alain viết chữ Anh, một lão Việt viết chữ địa phương. Chẳng xe nào dám dừng, thậm chí, dám chạy chậm trước cư xá. Alain thích thú bởi quyền lực của nước Mỹ vượt Đại dương tại đây, nơi mà Alain chỉ biết khi nhận quyết định chuyển khu vực hoạt động.
Alain lại coi đồng hồ. Còn 10 phút. Cái gì nào? Uống một cốc cà phê, chui vào chăn – cái điều hoà nhiệt độ tạo cho Alain cảm giác đang ở bang New Jersey của anh – và ngủ bù đủ ba giờ đi lại chùn chân và hút gần hết gói Camel… Cái gì nào? À, một xe du lịch sơn màu vàng – có vẻ là xe Ý. Đúng, chiếc Fiat. Xe du lịch đỗ ngoài vòng cấm, bên kia đường. Ái chà! Một cô gái Việt… Cô gái mặt jupe ngắn, áo pull đỏ, xách một chiếc ví. Chiếc ví hơi to đấy cô em. Cô em không bám sát thời trang rồi!
Cô gái băng qua đường. Vùng ngực cô nhún nhảy theo mỗi bước của cô. Ái chà! Cô gái có bộ ngực đáng tiền thật. Cô đến ngay cổng. Alain bây giờ mới nhận ra bó hoa tươi trên tay cô.
Cô gái gỡ đôi kính mát. Đẹp. Alain chăm chú thưởng thức mặt của cô gái… Cô gái chỉ khẽ gật đầu, ra vẻ bề trên rồi chìa cho Alain tấm danh thiết không phải danh thiếp của cô mà của trung tá Remy Hoersh. Ngày nào Alain cũng gặp trung tá. Con người to cao, nổi tiếng có nhiều đào. Té ra hôm nay trung tá nghỉ và hẹn. Alain đoán như vậy và xem danh thiếp. Mặt sau danh thiếp, trung tá viết bằng dòng mực xanh: cho cô gái cầm thiếp này vào Reception * và báo với tôi.
Alain mở cổng. Anh vẫn làm như vậy mỗi ngày, không riêng cho trung tá Hoersh. Chỉ có điều trung tá hẹn ban ngày… Và trong ví kia nhất định có chai rượu hảo hạng. Trung tá cần trợ lực mà! Thảo nào, chiếc ví to thế…
Cô gái nhoẻn cười, bắt tay Alain… Alain trông theo cô gái, trông theo cái mông và anh tưởng tượng nếu mình là trung tá Hoersh… Hết phiên gác, Alain gọi người thay anh.
Người thay Alain, vẫn là một hạ sĩ. Anh ta vươn vai, xốc lại áo, bật quẹt đốt thuốc… Mười lăm phút đi lại, viên hạ sĩ bắt đầu thấy thoải mái… Sau lưng anh ta, cô gái Việt từ trong nhà bước ra, áo pull đỏ. Hình như môi cô nhoè son còn tóc thì loã xoã. Cô gái dáng mệt mỏi. Thế đấy cô em! Người Hoa Kỳ chúng tôi vốn nổi tiếng là khoẻ cơ mà… Ông sĩ quan nào vớ được cô gái hấp dẫn thế. Cô gái ra hiệu cho anh mở cổng. Hẳn là cô ta vội về nhà - trống chồng một đêm là quá lắm… Mọi dự đoán của anh chàng hạ sĩ được củng cố: chiếc ví con trên tay cô gái chưa đóng kín, thò ra mấy tờ đô la xanh. Cô gái băng qua đường. Anh hạ sĩ bỗng tiếc: hồi nãy không nhìn kỹ cặp đùi cô gái.
Xe cô gái phóng qua cổng. Cô tự lái và không quên vẫy hạ sĩ.
Trong nhà, các sĩ quan lần lượt có mặt ở Reception. Tất nhiên, không ai thấy chiếc ví nằm dưới gầm bàn.
Điều chắc chắn là cô gái còn có thể nghe tiếng nổ rung chuyển vùng An Đông, sau đó…
Sáng nay, Nhu tiếp Luân. Vừa gặp Nhu, Luân đoán ngay là Nhu đã suy nghĩ một vấn đề gì đó chín muồi rồi, sẽ giao cho Luân thực hiện. Luân quen với lối làm việc có tính toán của Nhu và khi Nhu tự cho là hợp lý thì rất độc đoán.
Dù Luân từ lâu đã là người trong nhà nhưng, Nhu vẫn giữ khoảng cách trong công vụ, bao giờ Nhu cũng tỏ ra mình là người ra lệnh. Sự khác biệt trong cư xử với Luân so với bao nhiêu thuộc hạ khác là Nhu cho Luân quyền được nói ý kiến riêng, thậm chí bác bỏ chủ trương của Nhu. Những trường hợp như vậy, Nhu lặng lẽ nghe, đôi mắt sắc ngó Luân như đe doạ, còn môi thì tím hẳn. Tuổi tác của hai người – Nhu bảo là xấp xỉ - thực ra chênh nhau gần một con giáp. Khi Luân vào trường Đại học Hà Nội thì Nhu đã tốt nghiệp Ecole Nationale Des Chartes ở Pari, có mặt trong hàng ngũ trí thức của Việt Nam trước khi thế giới chiến tranh thứ hai chấm dứt, cùng với Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Mạnh Tường, Đặng Phúc Thông, Nguyễn Xiển… Luân biết rằng Nhu chỉ thiếu có mỗi cái vốn mà anh ta buộc phải mượn Luân: những năm kháng chiến. Đó không phải là danh nghĩa, một thứ “hàm”. Những năm kháng chiến cho Luân cách nhìn, cách đánh giá sự vật, trí thức về nhiều lĩnh vực, lối sống, lối giao thiệp. Lúc đầu, hẳn Nhu xem thường tư cách cá nhân của Luân: anh ta cho là Luân đóng kịch và sớm muộn gì cũng lộ ra con người thật. Nhưng đã gần bốn năm theo dõi. Nhu biết mình lầm. Và, trước Luân, người đóng kịch lại là Nhu.
- Tình hình như anh thấy tận mắt, xấu quá!
Nhu trao cho Luân bảng liệt kê các vụ nổ trong đô thành. Riêng cư xá An Đông, con số chết - tất cả là sĩ quan Mỹ từ đại uý trở lên đại tá – khá kinh khủng: 32.
- So với hội chợ Thị Nghè, các hoạt động khủng bố này tồi tệ hơn… Nhu thở dài.
Ngày Quốc khánh 26 tháng 10 năm ngoái, cầu nối liền sở thú với Thị Nghè sập, cả trăm người chết.
- Cả trăm người Việt chết anh ta cho là ít tồi tệ hơn mấy chục người Mỹ chết! – Luân nghĩ thầm.
- Bậy bạ nhất là các vụ nổ rộ lên đúng trước và ngay ngày khai mạc hội nghị kế hoạch Colombo. Chúng ta ra mắt thế giới thứ ba như vậy đó. Giọng Nhu rầu rĩ.
Nhu rút trong ảnh ra mấy tấm ảnh phóng đại đưa cho Luân:
- Anh xem! Nhà cháy…Cháy toàn khu định cư. Đây là hình chụp khu Gia Kiệm từ máy bay, thiệt hại 2.500 nhà. Một con số ghê gớm… Chưa hết.
Nhu đưa thêm một ảnh. Thềm nhà đô chính, một người ngồi trong ngọn lửa bùng cao. Không thể thấy rõ mặt người đó nhưng tác thì roi roi. Ảnh ghi được tấm băng vải căng gắn nơi tự thiêu: Di cư Hoàng Văn Đáp, phản đối cảnh sát vô cớ bắt và đánh đập vợ ngay ngày Tết…”
- Một vụ khiêu khích chính trị! – Nhu hằn học.
Luân ngắm nghía khá lâu tấm ảnh. Vụ Hoàng Văn Đáp cùng các sự việc dồn dập không phải giả tạo.
Nhu nói ra lời cái ý mà Luân hiểu ngầm:
- Cộng tất cả lại, từ bài báo của Nghiêm Xuân Thiện trên tờ Thời Luận, tuyên cáo thành lập đảng dân chủ của Phan Quang Đán đến dư luận về tôi và nhà tôi buôn lậu, bản đại hợp xướng đủ cung bậc!
- Theo anh, ai là nhạc trưởng?
- Anh thừa hiểu mà… gay go cho chúng ta là an ninh nội địa sa sút nghiêm trọng. Các ông Trần Vĩnh Đắt, Phạm Xuân Chiểu đều không có tài. Tổng thống vừa bổ nhiệm ông Nguyễn Văn Là, may ra cứu vãn được tình thế - Nhu rít thuốc liên hồi. Đại sứ Durbrow dùng kính lúp soi mói chúng ta. Hình như ông ta có gặp anh?
Nhu hỏi đột ngột nhưng Luân biết câu hỏi đã được đắn đo vài tháng nay, từ khi đại sứ Durbrow thình lình đến nhà Luân, nói là để đáp lễ lần Nhu và Luân tiếp ông sau buổi trình quốc thư. Đại sứ và Luân, lần đó, chỉ giới hạn trong phạm vi xã giao, hoặc nói thật chính xác, đại sứ Durbrow thăm dò – thăm dò các ngóc ngách của nội tình Việt Nam cộng hoà và thăm dò cá nhân Luân. Hai người nói chuyện chừng 20 phút. Durbrow nhắc đến Reihnardt và ông nối tiếp tình bạn đó. Luân cảm ơn ông. Anh tránh đi sâu vào các vấn đề mà Durbrow quan tâm nhưng vấn hé cho ông ta thấy anh không phải không có nhận xét riêng. Sau này, qua Fanfani, đại sứ mời Luân ăn tối. Ông ta hỏi thẳng Luân về khả năng điều khiển nhà nước của Diệm và Nhu đồng thời phàn nàn về Lệ Xuân, nhất là về vai trò ngày mỗi chi phối của mụ đối với chính sách của tổng thống. Luân trả lời rất khéo: sự ấu trĩ là dễ hiểu ở những người mới cầm quyền, không phải đánh giá họ qua một số năm mà phải qua hàng chục năm… Durbrow phản ứng: nước Mỹ bắt đầu mất kiên nhẫn.
Dẫu sao, việc đại sứ Hoa Kỳ đích thân đến nhà một thiếu tá Việt Nam và mời viên thiếu tá đó ăn tối cũng gây xôn xao trong giới thân cận Dinh Độc Lập.
- Có. Ông ta và tôi gặp nhau hai lần – Luân trả lời - một lần ông ta đến nhà tôi, một lần tôi đến nhà ông ta. Anh nhận xét không sai, ông Durbrow không cảm tình lắm với chúng ta, so với ông Collin và Reihnardt. Đặc biệt, ông ta không thích anh và chị. Tuy vậy, theo tôi, Durbrow chẳng qua chỉ là đại sứ lâm thời. Ở Mỹ, người ta đang nói đến Nolting, thậm chí, ứng cử viên tổng thống Cabot Lodget sẽ thay Durbrow.
- Tôi biết. Thư mới nhất của ông nhạc tôi cho hay tổng thống Mỹ sắp bổ đại sứ mới ở Việt Nam. Song, anh nên nhớ, sự bãi miễn Durbrow không hoàn toàn vì ông ta không làm tròn nhiệm vụ mà chủ yếu vì chúng ta. Người Mỹ nôn nóng. Họ đâu có biết những khó khăn của chúng ta. Ngay người Pháp, họ đang chơi xỏ chúng ta. Tôi nói các chủ đồn điền cao su: phần thuế họ nộp cho cộng sản chẳng kém phần họ nộp cho chính phủ.
Nhu cắn ngón tay cái, thở dài:
- Giữa lúc gian nan này, nhà tôi lại đổ dầu vào lửa!
Quốc hội hay chợ Cầu Ông Lãnh (bài báo của tờ Thời Luận).
Hôm qua, Quốc hội họp phiên toàn thể để bàn về luật gia đình, dân biểu Trần Lệ Xuân (tức Ngô Đình Nhu phu nhân, cũng tức Việt Nam cộng hoà đệ nhất phu nhân) là người đề xuất đạo luật đó, đã bảo vệ quan điểm của bà với thái độ… hàng tôm hàng cá.
Dư luận không nói ra nhưng mọi người đều biết hai điều khoản gây cấn nhất - điều khoản cấm đàn ông lấy vợ lẽ và điều khoản không cho phép đàn ông li dị vợ. Sự thật là vì bà Trần Thị Lệ Chi, vợ của luật sư Nguyễn Hữu Châu và là chị ruột của dân biểu Trần Lệ Xuân. Từ lâu, luật sư Nguyễn Hữu Châu có ý định li dị vợ bởi ông nghi vợ không chỉ một lần mà đều đều…! Đạo luật nếu được Quốc hội thông qua sẽ chặn đứng ông Nguyễn Hữu Châu. Bà dân biểu Trần Lệ Xuân nhân danh cho đạo lý và nhân dân cho chị ruột, quyết bắt các nghị phải gật đầu. Bà nói: Các ông thật hèn, tuỳ tiện bỏ vợ, tuỳ tiện lấy vợ bé. Quốc hội tuyên chiến với các ông. Rồi bất thình lình, bà quay sang chủ tịch Quốc hội Trần Văn Lắm: Dược sĩ chủ tịch, mong ông nêu gương trước.
Nền nhà Quốc hội quá cứng nên ông chủ tịch không độn thổ nổi. Mặt đỏ rần, ông Lắm vuốt mãi cái đầu trải láng mướt. Chắc ông “tiến thoái lưỡng nan: đưa tay tán thành dự luật thì cái ghế chủ tịch ẳt sụm liền… May quá, dân biểu Nguyễn Minh Chương, từ hàng ghế chót, đứng lên bô bô, giải nguy cho chủ tịch.
- Hoặc Quốc hội thông qua luật “một vợ một chồng” hoặc để cho nó phù hợp với đạo lý “ông ăn chả, bà ăn nem” thì thông qua luật bình đẳng: đàn ông được ngủ với nhiều đàn bà và đàn bà cũng được ngủ với nhiều đàn ông! Bà dân biểu Trần Lệ Xuân nhất định hoan nghênh cái luật sau…
Một trận bão cười thiếu điều vỡ tung nhà hát lớn.
Dân biểu Trần Lệ Xuân thẹn quá, nhào qua ghế chủ tịch, cướp cái chuông rung liên hồi kỳ trận.
Dược sĩ chủ tịch mừng húm, tuyên bố Quốc hội “Chợ cầu Ông Lãnh” tạm nghỉ… chửi lộn. Bà dân biểu Trần Lệ Xuân hầm hầm bước ra xe, hai cận vệ lưng nách kèm sát bà, chiếc áo phất lòi “con chó lửa” đen sì… Dân biểu Nguyễn Minh Chương hoảng hồn trốn đâu mất tiệt.
Để coi Quốc hội sẽ trở lại vụ này như thế nào, tiếp tục hàng tôm hàng cá cầu Ông Lãnh hay nâng lên mức anh chị bự Cầu Muối?
Nhu đứng trước tấm bản đồ phía Bắc Sài Gòn với nhiều chấm đen.
- Anh xem đây – Nhu dùng gậy chỉ bản đồ - Chỗ giáp giới Campot, chạy từ Lò Gò đến Kà Tum do C60 phụ trách, người cầm đầu tên Năm Beo. Từ sông Tha La đến sông Sài Gòn do C70, chỉ huy tên Tự Nguyện. Từ bờ Đông Sài Gòn đến Định Thành thuộc C80, chỉ huy tên Tám Bằng Lăng. Vùng Dầu Tiếng Long Nguyên, Bến Sác, Bời Lời thuộc C90, người chỉ huy là Sáu Ốm. Vùng Bùng Binh đến An Nhơn Tây nơi thành uỷ Việt Cộng đóng, bí thư thành uỷ tên là Chín Dũng, tức Kiệt. Phía Tân Uyên có C100, C200 do Tám Dên Dên và Ba Thu chỉ huy. Tình báo cho biết Tám Dên Dên là tướng Nguyễn Hữu Xuyên, chắc anh quen.
Luân khoanh tay, lắng nghe. Tấm bản đồ lỗ chỗ như người lên đậu mùa. Thông tin của Nhu có thể chính xác về một số mặt, tỷ như tên người. Luân quen một vài người trong đó, mà cũng có thể Luân quen hầu hết nếu biết tên thật. Thế là tốt lắm. Nếu đúng Tám Dên Dên là Nguyễn Hữu Xuyến thì ý định của Xứ uỷ đã rõ. Con người từng chỉ huy những trận lớn như Cổ Cò, La Bang, một cán bộ quân sự cấp sư đoàn có tài.
Luân lắng nghe và Nhu hiểu thái độ của Luân như chia sẻ nỗi bận tâm với anh.
- Con số 5 tiểu đoàn của tổng nha cảnh sát gắn cho Việt Cộng quá cao – Nhu nói tiếp – Nhưng chắc chắn không dưới vài nghìn quân, chỉ tính từ phía Bắc Sài Gòn. Còn Đồng Tháp Mười, còng rừng U Minh…
Nhu chợt thấy Luân cười mỉm:
- Thế nào?
- Tôi nghĩ không giống anh. Tôi là người trong cuộc khi tập kết. Lấy đâu ra số quân Cộng sản đông như vậy?
- Một phần do số nằm vùng, một phần là tàn quân giáo phái nhập vào, một phần tuyển mộ trong những người bất mãn chính phủ - Nhu nói rành rọt.
Luân lắc đầu
- Tổng nha công an muốn giải thích một cách đơn giản hơn hết về tình hình an ninh hiện nay. Đại sứ quán Mỹ và CIA không tin tin tức của ta nhưng họ vẫn dùng con số đó để gây sức ép với ta.
Nhu rời bản đồ, ngồi vào ghế.
- Theo anh, chưa có gì phải báo động?
- Tôi không nói tuyệt đối như vậy. Những cuộc đánh bom ở Sài Gòn thật ra tạo tác động tâm lý nhiều hơn. Còn các trận tấn công như Dầu Tiếng, tôi nghĩ mãi: có đúng là Việt Cộng không?
Nhu chồm người tới, thoảng thốt:
- Anh suy luận hay có bằng chứng?
- Đường Bến Cát – Chơn Thành, Bến Cát - Dầu Tiếng, Dầu Tiếng – Minh Thạnh, Suối Đá – Kà Tum, Tây Ninh – Sa Mát, Trảng Bàng - Sốc Lào không thể đi lại ban đêm, mà ban ngày đi lại cũng nguy hiểm. Trong khi đó, đồn bảo an và căn cứ quân sự đóng dày đặc – Luân không trả lời thẳng câu hỏi của Nhu – Theo lệnh anh, tôi kiểm tra vùng quanh Dầu Tiếng. Một xóm nhỏ tên là Đất Ung, cách làng 5 chỉ 800 thước và gồm bao nhiêu nhà anh biết không, gồm bốn cái. Nhưng tỉnh trưởng, quận trưởng đều sợ… Sợ ai? Sợ mấy bà già. Tại sao? Lính bắt gà, bắt heo, bò của mấy nhà đó, dân hăm he lính tới thì chém…Tỉnh, quận liền dán ngay cửa nhà họ bảng đen. Đẩy họ theo Việt Cộng, giáo phái. Chưa phải có bấy nhiêu. Chính quyền dung túng cho mấy nhóm cướp - kiểu Nguyễn Lạc Hoá ở Bình Hưng. Cho nên, tôi chưa kết luận vụ Dầu Tiếng là do Việt Cộng.
Nhu bóp trán một chập.
- Thế này, anh Luân nhé. Tôi đề nghị anh chịu cực một lúc. Anh nhận nhiệm vụ Tư lệnh hành quân vùng Bắc Sài Gòn kiêm chỉ huy trưởng tỉnh đoàn bảo an Bình Dương, được không?
- Lại mở chiến dịch Trương Tấn Bửu sao? – Luân hóm hỉnh.
- Lần này tôi muốn anh thực hiện phương pháp nào mà anh cho là hiệu quả. Trước nay, hễ kết thúc một chiến dịch đồng nghĩa với sửa soạn ngay một chiến dịch mới, cái sau phức tạp hơn cái trước, giống như câu tục ngữ Tây phương: Deshabiller Saint Pierre pour habiller saint paul* cái vòng luẩn quẩn không lối ra.
Giọng Nhu đặc biệt thân ái
- Mình muốn chiến dịch do ông phụ trách thuộc loại khác hẳn. Khác từ tên gọi. Tỷ dụ. “Cơn hồng thuỷ” được không? Ông định chừng mấy tháng? Chừng mười tháng đủ không?
- Tôi chưa nói tôi nhận công việc anh giao – Luân cười cười.
Nhu cười phá.
- Nếu tôi nghĩ là ông từ chối thì chẳng bao giờ tôi nêu với ông… Sao? Tám hay mười tháng? Ta phải phục tùng mệnh lệnh thời gian: Năm bầu cử tổng thống Mỹ.
- Có lẽ ta nên đặt mục tiêu chạy đua từ những yêu cầu chính trị, xã hội nước ta. Dẫu Kenedy thắng, chính sách Đông Dương của Mỹ sẽ chẳng thay đổi. Anh đã đọc bài của Henrry Kissinger trên Foreingh Affairs * * đó là quan điểm chung không lệ thuộc vào nhãn hiệu Cộng hoà dân chủ.
- Tất nhiên, tất nhiên… - Nhu đưa tay ngăn Luân – Song, chính sách chung của Mỹ không thay đổi lại không có nghĩa là chính sách đối với tổng thống nước ta vẫn y như cũ. Phải cải thiện cho được một vùng mà tình hình dễ khuấy động thủ đô… Anh làm nổi?
- Tôi sẽ cố gắng!
Nhu hớn hở.
- Tôi biết anh không từ chối. Làm sao từ chối một công việc hấp dẫn như vậy. Tôi giúp anh. Như thế này…
Nhu trở lại bản đồ.
- Tôi cho công binh ủi một con lộ từ Lộc Ninh sang tận đầu nguồn sông Vàm Cỏ, song song với đường biên giới Việt – Campot, người ta gọi là đường biên giới không minh định. Người Pháp không minh định, ta minh định vậy. Tôi cho ủi thêm nhiều con lộ nhánh nữa, từ Minh Thạnh qua Cần Đăng, từ KaTum đi Suối Vàng, chưa kể các con lộ kiểm lâm. Tóm lại, tôi cho xẻ dọc xẻ ngang thành bàn cờ khu rừng Bình Dương, Bình Long, Tây Ninh. Riêng vùng anh phụ trách hàng quân, sẽ có một hệ thống cứ điểm mạnh: Tống Lê Chân, sóc Con Trăn, Bổ Túc, Kà Tum, Sa Mát, Lò Gò, Thiện Ngôn, Cần Đăng, Trại Bí, Bầu Cỏ, Định Thành… Tổng uỷ Dinh Điền sẽ chốt dân di cư theo các con lộ đó. Trong tương lai, tôi có trồng vài vạn mẫu cao su.
- Một ý đồ vĩ đại! – Luân khen
- Đúng! Và anh là người đặt viên đá đầu tiên. Để anh dễ dàng hoạt động, ngoài lực lượng bảo an Bình Dương trực thuộc, anh có toàn quyền với bảo an Tây Ninh và Bảo Long, thêm một số đơn vị thuộc chủ lực đóng ba tỉnh đó. Nếu anh muốn, tôi cho phối thuộc anh một số đơn vị pháo binh, thiết kỵ.
Nhu gọi người hầu mang bia
- Tôi không ngại thiếu lực lượng. Trái lại, như anh quyết định, lực lượng có phần thừa. Chiến dịch, một cách nói theo thói quen, ta tạm dùng, nhưng tôi không nghĩ rằng ta có thể thành công bằng cách chỉ tung quân, nổ súng. Chẳng lẽ chúng ta giam chân ở vùng này? Còn trung phần, cao nguyên: trung nam phần, tây nam phần, mỗi nơi đòi con số quân rất cao. Tôi nhận công việc với điều kiện: chính tôi chịu trách nhiệm điều khiển kế hoạch. Tôi muốn thực hiện một trắc nghiệm: xây dựng lực lượng dân phòng.
- Tôi từng nghĩ tới điều anh nói. Tại sao tôi không ủng hộ anh.
- An ninh xấu do đối phương gây ra cũng có mà do ta tự gây ra cũng có. Anh có cho tôi jeu vert * trong chiến dịch không?
- Anh còn hỏi làm gì? – Nhu quả quyết – Anh được toàn quyền hành động.
- Sẽ đụng chạm đó! Tôi cần nói trước.
- Anh lôi cổ mấy thằng làm bậy ra bắn, chớ gì? Anh không bắn tôi cũng bắn.
- Đó chỉ mới một phần. Tôi sẽ thay cả hệ thống cán bộ chính trị quân sự trong vùng, tất nhiên, qua sự xét duyệt của anh. Tôi ngại có người lên khóc lóc với tổng thống, với anh với chị, các ngài mủi lòng, can thiệp tới lui, khó cho tôi.
- Anh yên tâm! Tôi thề không nói một lời ngược ý anh suốt thời gian chiến dịch. Tổng thống cũng sẽ không gây bất kỳ một trở ngại nào cho anh. Quyết định bổ nhiệm anh do tổng thống ký và sẽ ghi rõ quyền hạn của anh.
- Cảm ơn anh! – Luân nâng li bia Đan Mạch ướp lạnh sủi bọt.
- Như vậy “cơn hồng thuỷ” mà anh đặt cho chiến dịch có vẻ hợp lý – Luân nói thêm – tôi nghĩ là phải mười tháng.
- Coi như chúng ta thoả thuận với nhau các điểm căn bản. Rồi, Nhu cười thoải mái - chỉ mong sau mười tháng anh đừng nói: Après moi le Délughe **
Luân cười to.
- Tôi thì sợ cái khác, sợ anh phê công việc của tôi bằng câu Horace: descile in piscem ***
- Với anh đầu voi thì đuôi phải là khủng long!… Thế bao giờ bắt tay? Thủ tục chỉ cần vài giờ thôi…
- Cho tôi hai tuần lễ.
- Ồ, lâu quá…
- Không lâu. Tôi phải nắm tình hình ở bộ tổng tham mưu, bàn bạc với nha công vụ, tổng nha cảnh sát. Tôi vạch kế hoạch rồi thưa với anh. Tôi muốn tổng thống chuẩn y kế hoạch của tôi… Vả lại, anh nhớ, tôi còn cho “bản tango thứ ba” cất tiếng!
- À, đúng.. Sao “bản tango” trôi chảy chứ?
- Có hy vọng. Tôi và thiếu tá James Casey xem xét nhiều khía cạnh kỹ thuật. Sự thất bại của các “bản” đều có thể có một loạt nguyên nhân, nhưng chúng tôi tạm rút ra kết luận quan trọng nhất là cách chọn người. Việc phức tạp như nhảy dù xuống Bắc Việt mà chỉ tuyển trong bọn ham tiền, bọn lưu manh chuyên nghiệp, bọn thừa hung ác nhưng thiếu thông minh dù ta ném trăm đứa cũng không có lấy một tia sáng.
- Được, tôi đồng ý hai tuần lễ - Nhu đứng lên.
Luân bắt tay Nhu.
- Tôi còn trao đổi với anh vài việc gấp. Chiều nay, ta ăn cơm. Anh suy nghĩ trước về chuyến đi Nam Vang gặp Shihanuk của tôi. Tuy tháng tám tôi mới đi song cần sửa soạn kỹ.
Khi tiễn Luân ra cửa, Nhu lại bắt tay anh lần nữa, nháy mắt.
- Có tin mừng chưa?
Luân cười rất tươi:
- Vội gì! Dung chưa thích có con…
Trên xe, Luân nhớ tới câu của Nhu, khẽ thở dài.
Thạch kín đáo liếc nhìn anh. Có thể cậu ta ngờ rằng giữa Luân và Nhu vừa có điều gì không bằng lòng nhau.
Đám cưới Luân – Dung tổ chức trước tết. Không khác được, đám cưới khá linh đình tại nhà hàng Đồng Khánh. Giám mục, vợ chồng Nhu có mặt. Sau đó, hai người vào Dinh Độc Lập chào tổng thống và được tổng thống tặng quà cưới. Bữa thết của tổng thống không kém gì bữa lễ chính. Hai người bay ra Huế. Cũng mất cả tuần. Rồi, đi hưởng tuần trăng mật ở Đà Lạt non tháng. Đó là thời gian Dung ôn tập để thi lấy chứng chỉ cử nhân luật, Luân tranh thủ đọc sách. Đêm họ ngủ chung phòng song nằm thu lu một góc trên sàn, họ phải đề phòng Thạch biết họ cưới giả.
Sau khi gặp anh Sáu Đăng, Luân báo lại với Dung ý định của thủ trưởng. Dung im lặng, rõ ràng anh Sáu nói có lý.
- Cố gắng vậy! – Luân tự nhủ thầm, tuy mỗi ngày mỗi cảm thấy mình đuối trong cuộc thử thách quá sức chịu đựng này.
📎 IV
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 5 6 7 8 9 » »»