Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Ba người bạn- ERICH MARIA REMARQUE

24 trả lời, 12.257 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-25 09:04:18gianghan>
 
 Ba người bạn
 
Thể loại: Tiểu thuyết
Tác giả: ERICH MARIA REMARQUE
Dịch giả: Vũ Hương Giang
Nguồn: Nhà xuất bản Văn học -2001
Đánh máy: Gianghan


Mục lục: Gồm XXVIII chương




Lời giới thiệu


ERICH MARIA REMARQUE – NGƯỜI ĐI QUA CHIẾN TRANH


Erich Paul Remarque sinh ngày 22-6-1898 trong một gia đình theo dòng Công giáo La Mã tại Onasbruck, một thành phố thuộc tỉnh Westphalia nằm ở miền Tây nước Đức. Ngay từ nhỏ, Erich đã luôn luôn ngưỡng mộ người mẹ – bà Anna Maria, trong khi luôn tỏ ra xa lánh người cha – ông Peter. Ông Peter Remaque vốn xuất thân trong một gia đình phiêu bạt đến Đức sau Cách mạng Pháp, chỉ là một người thợ đóng sách nghèo. Sự vất vả, thiếu thốn của gia đình đã khiến Remaque phải tự kiếm tiền từ khi mới mười mấy tuổi bằng việc dạy kèm piano. Cậu bé luôn làm việc hết sức vất vả để bù vào chỗ những kỳ lương mà cậu luôn luôn xin ứng trước. Cậu bé say mê piano và nhiều thứ khác trên đời, ví dụ như sưu tập những cánh bướm hoặc lần mò khám phá những dòng suối và cánh rừng – tất cả những gì sau này sẽ lần lượt hiện ra trong những cuốn tiểu thuyết vĩ đại. Thú viết lách của cậu bé đã khiến cho cậu được biệt danh: Kẻ-bôi-bẩn.
Vì thường xuyên phải di chuyển nên Remaque học một lúc hai trường cấp hai và sau đó là trường dự bị Công giáo Catholic Praparande. Cậu say sưa những diễn biến đầy kịch tính của các lễ nghi Công giáo, sau mê vẻ đẹp của những ngôi nhà thờ, của thảm hoa trong vườn tu viện và của lao động nghệ thuật. Sau này, những gì Remaque viết ra đều có chút hơi hướng của một nhà hát, đường nét của giáo đường và bảo tàng, còn hoa và cây cối là biểu tượng của sự bình an vĩnh cửu. Những ngày học ở trường, cậu bé Erich luôn gặp rất hiều chuyện khổ sở vì các giáo viên nhưng rồi sau đó, thế nào các giáo viên cũng sẽ bị “nhồi” vào trong tiểu thuyết của Remaque. Tại trườn dự bị, Erich cãi nhau suốt ngày với một giáo viên tên là Konschorek. Sau này Konschorek đã hóa thành một gã giáo viên tại nơi huấn luyện tân binh với đầy đủ thói xấu của nguyên mẫu và chỉ khác mỗi cái tên: Kantorek (Phía Tây không có gì lạ).
Tháng 11 năm 1916, chàng Erich 18 tuổi, sinh viên năm thứ ba của trường sư phạm Onasbruck's Lehresminar bị gọi quân dịch để tham gia vào Đại chiến Thế giới lần thứ nhất. Sau khóa huấn luyện tân binh tại Westerberg (chính là trại Klosterberg trong Phía Tây không có gì lạ), Erich được phân vào một sư đoàn dự bị, tuy nhiên cậu rất hay được về thăm nom bà mẹ đang ốm nặng. Tháng 6 năm 1917, Erich bị chuyển đến một đơn vị công binh ở mặt trận phía Tây. Anh luôn tỏ ra rất điềm tĩnh, ngay cả khi người đồng đội Troske bị thương vì dính mảnh lựu đạn, Erich vẫn đưa được Troske về phía sau an toàn. Nhưng cái chết của Troske- không phải vì vết thương mà do không được nhìn ngó đến đã khiến cho Erich bị đổ vỡ hoàn toàn. Anh vẫn tiếp tục cứu các đồng đội cho tới khi cũng bị thương vì mảnh đạn. Suốt hai năm 1917- 1918, Erich nằm tại bệnh viện St-Vincenz ở Duisburg để chữa vết thương. Trong khi đó, mẹ anh qua đời tháng 9 - 1917. Sau này, khi chiến tranh kết thúc, lòng thương nhớ mẹ đã khiến Erich quyết định đổi tên kép Erich-Paul thành Erich-Maria. Rời bệnh viện, Erich trở về Onasbruck để dự khóa huấn luyện nâng cao trong nỗi đau buồn sau cái tang lớn. Chiến tranh đã chấm dứt trước khi anh trở lại mặt trận và mặc dù chưa hề trải qua sự đối đầu tại chiến tuyến nhưng chiến tranh đã làm thay đổi suy nghĩ và thái độ của Erich mãi mãi. Anh đã học một bài học cay đắng về giá trị mong manh thực sự của đời sống cá nhân sau khi đã hoàn toàn đổ vỡ khi nhận ra “chủ nghĩa yêu nước” của cái xã hội Đức đó có thể sẵn sàng bỏ qua bất cứ một cá nhân nào. Với anh và nhiều người bạn của anh, “trách nhiệm công dân Đức” chẳng còn một ý nghĩa gì nữa.
Những năm tiếp theo, nước Đức lâm vào tình trạng thiếu thốn, lạm phát, thất nghiệp đầy rẫy bọn đầu cơ trục lợi cùng bọn cực đoan chính trị. Remaque cùng vài người bạn quay trở về và nhận thấy những giáo viên cũ bây giờ chỉ là những kẻ nực cười. Remaque thường lôi mình vào rắc rối theo kiểu tự chụp một bức ảnh ông mặc đồ sỹ quan có chữ thập ngoặc và một mớ huân chương cùng con chó cưng trong một cách bố trí đầy mâu thuẫn...
Sau khi tốt nghiệp, Remaque được giới thiệu vào dạy thay cho một giáo viên trong vòng hai năm. Môi trường giáo dục không dính dáng đến chính trị và Remaque chuyển sự say mê sang các môn thể thao, nhất là đua ô tô. Hình ảnh về Remaque lúc bấy giờ là chàng thanh niên có mái tóc vàng, rất điển trai, ăn mặc trang nhã và những cơ bắp cuồn cuộn nổi. Tóm lại đó là hình ảnh về một con người hào hoa bất chấp thu nhập! Sau một thời gian, Remaque chán nản bỏ đi làm đủ thứ việc: chơi organ ở nhà thương điên, nhân viên một công ty sản xuất bia mộ, làm nhà phê bình sân khấu ở một thành phố nhỏ, viết quảng cáo cho một công ty ô tô. Ông lấy một nữ diễn viên tên là Zutta Ilse Zambona năm 1925, một thời gian ngắn sau khi được nhận vào làm biên tập ở tạp chí Sport im Bild ở Berlin.
Đầu năm 1920, với cái tên Erich Remark, ông xuất bản một cuốn tiểu thuyết và nó bị thiên hạ lạnh nhạt đến nỗi ông phải bỏ cả bút danh- vốn là tên của cụ nội. Lối viết báo của ông quá cứng, thậm chí tầm thương và đầy cảm tính. Chính vì thế, sự thành công của Phía Tây không có gì lạ xuất bản năm 1929 làm cho ông và bất cứ một người nào cũng phải ngạc nhiên. “Bóng ma của chiến tranh luôn ám ảnh chúng tôi- ông nói- nhất là khi chúng tôi cố gắng không nghĩ đến nó nữa”. Và kết quả là Phía Tây không có gì lạ đã làm cho tất cả những người ở hai bên bờ Thái Bình Dương xúc động sâu sắc trong khi trước đây, họ ra sức tìm kiếm ý nghĩa của chiến tranh.
Trong năm đầu tiên, riêng độc giả Đức đã mua tới hơn một triệu bản cuốn tiểu thuyết Phía tây không có gì lạ và người Anh, Pháp, Mỹ thậm chí còn mua nhiều hơn. Cuốn tiểu thuyết còn thành công hơn nữa nhờ bộ phim do người Mỹ dựng với Lew Ayres và Lewis Wolheim đóng vai chính. Đó là một trong những bộ phim nói đầu tiên và hiện nay vẫn là một phim kinh điển của thế giới. Năm 1932, Phía Tây không có gì lạ được dịch ra 29 thứ tiếng. Từ một anh nhà báo quèn hoàn toàn vô danh, Erich Maria Remaque đã trở thành nhà văn nổi tiếng trên khắp thế giới. Dù vậy, cuốn sách đã gây ra cuộc tranh luận ngay trong lòng nước Đức. Một số người cho rằng tác giả chỉ bịa tạc để gây sốc và kiếm tiền. Bọn Quốc xã đã phao đủ thứ tin đồn để phá hoại sự nổi tiếng của Remaque. Nào là ông là một tên Pháp- Do Thái, hoặc là ông là một thằng già không biết gì về chiến trận... Remaque không bình luận gì, sau đó ông trả lời trong một cuộc phỏng vấn: “Tôi chỉ bị hiểu lầm khi người ta cố tình hiểu lầm”.
Remaque ly dị vào đầu những năm 30 khi chính quyền Quốc xã bắt đầu đầy ải ông, nhưng rồi họ tái hôn ngay sau đó. Thế rồi hai vợ chồng lại sống ly thân và ly dị chính thức vào năm 1951.
Cuốn sách tiếp theo dựa trên câu chuyện mà Remaque và những người bạn trải qua sau khi từ mặt trận trở về được mang tên Đường về. Khi đó thật ra Remaque vẫn chưa hề là người chống Quốc xã nhưng Đường về đã khiến cho chính quyền Quốc xã nổi giận.
Goebbels, kẻ đã gây dựng nên chương trình “săn-phù- thủy” đã có những phản ứng đầu tiên khi bộ phim Mỹ Phía Tây không có gì lạ được chiếu ở Berlin. Đội quân của hắn với cái tên Thanh niên Hitler đã xông thẳng vào rạp để ném những bình hơi thối cùng những con chuột bạch và hét lên: “Nước Đức hãy thức tỉnh”. Bộ phim bị cấm năm 1931 và Remaque bị buộc phải rời nước Đức trong khi sách của ông bị thiêu rụi trong cuộc đốt sách đáng hổ thẹn năm 1933.
Năm 1962, Remaque đã nói: “Tôi bắt buộc phải rời nước Đức vì tính mạng bị đe dọa. Tôi chẳng phải là Do Thái và cũng chẳng ủng hộ gì cánh hữu. Tôi vẫn là tôi như bây giờ: một người theo chủ nghĩa hòa bình và luôn sẵn sàng chiến đấu”. Sau đó có người kể rằng Goebbels đã mời Remaque quay lại nhưng ông đã trả lời: “Có 65 triệu người đang muốn ra đi mà tôi lại tự nguyện quay về ư?”.
Năm 1932, chính quyền Quốc xã tịch thu tài khoản của ông ở Berlin – chúng nói rằng để bù vào tiền thuế. Tuy nhiên trước đó Remaque đã chuyển hầu hết tiền và số tranh theo trườn phái Ấn tượng sang Thụy Sỹ. Tại đây, ông mua một ngôi biệt thự ở Porto Ronco cạnh bờ hồ Magiore và dần dần mua về nhiều thứ đồ cổ quý giá.
Trong thời gian Remaque bị tước quyền công dân Đức, 3 cuốn sách của ông lần lượt được dựng phim ở Mỹ và đôi lúc người ta gọi ông là Vua của Hollywood. Bạn bè của ông rất nhiều: Marlene Dietrich, Greta Garbo, Charles Chaplin, F.Scot Fritzgerald và Ernest Hemingway.
Sau cùng, mệt mỏi vì những phù hoa giả tạo của Hollywood, ông chuyển sang đi về sống ở New York và Porto Ronco. Năm 1957, ông càng nổi tiếng vì vai diễn trong bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết của ông: Thời gian để sống và thời gian để chết. Năm 1958, Remaque cưới nữ diễn viên Mỹ Paulette Goddard sau 18 năm quen biết.
Lần đầu tiên đến Mỹ, Remaque không gặp một khó khăn gì về thủ tục nhưng ông hết sức bực bội và thông cảm với những bất công mà bạn bè ông phải chịu đựng trong cảnh tha hương. Mặ dù đã xin nhập quốc tịch Mỹ năm 1941 nhưng Remaque luôn phẫn hận vì mất quyền công dân Đức. Năm 1943, một nỗi đau lớn đến với Remaque: em gái ông Elfried Scholz bị chính quyền Quốc xã xử trảm vì “tuyên truyền lật đổ”. Sau này, ông thật sự cảm động khi Onasbruck đã lấy tên cô gái đặt cho một con đường năm 1968. năm 1971, chính quyền Onasbruck cũng đã đặt tên một con đường chạy quanh thành phố là Erich Maria Remaque.
Bóng tối thiên đường là tiểu thuyết cuối cùng của ông. Trong tác phẩm đó, người ta tìm gặp lại bóng dáng của rất nhiều nhân vật trong các tiểu thuyết trước đây và nhân vật chính đã quyết định trở về lại nước Đức bất chấp cuộc sống và tình yêu ở Mỹ ngay sau khi chiến tranh kết thúc. Nỗi hoài nhớ quê hương còn thể hiện trong khoảng những năm 1950 khi Remaque về Đức tìm tài liệu cho những tiểu thuyết mới: ông không bao giờ trở về thành phố quê hương vì cảm thấy thành phố mới xây lại này không còn là những gì thân quen mà ông đã mô tả trong Phía Tây không có gì lạ, Đường về Bia mộ đen nữa cả.
Remaque qua đời sau một loạt cơn đau tim tại một bệnh viện ở Locarno vào ngày 25-9-1970. báo chí mê mải đi tìm các chi tiết về cuộc đời ông mà quên cả một điều: Remaque là tác giả của Cuốn tiểu thuyết hay nhất về Chiến tranh thế giới thứ nhất. Nhưng dù sao chăng nữa, các độc giả đã không hề quên. Chỉ riêng ở Châu Âu, người ta đã mua đến 13 triệu bản những cuốn sách của ông. Trong đó Phía Tây không có gì lạ bán được 8 triệu cuốn vẫn mãi là một trong những cuốn sách bán chạy nhất châu Âu của thế kỷ 20.


- LƯU SƠN MINH -
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0
 
I




Bầu trời vàng như đồng thau, vẫn chưa bị vẩn đục bởi khói nhà máy, hừng sáng phía sau dãy mái ngói xí nghiệp. Hẳn mặt trời sắp nhô lên đến nơi. Tôi nhìn đồnghồ. Vẫn chưa đến giờ. Sớm mười lăm phút.
Tôi mở cổng chuẩn bị sẵn sàng máy bơm xăng. Vào giờ này thường có một số xe muốn ăn xăng chạy qua đây. Bỗng tôi nghe sau lưng mình tiếng gì khàn khàn, khe khẽ, tuồng như một chiếc đinh ốc gỉ đang xoáy trồi lên khỏi mặt đất. Tôi dừng chân nghe ngóng, đoạn đi qua sân trở lại xưởng và thận trọng mở cửa. Trong căn phòng tranh tối tranh sáng đang lắc lư dạo vòng một con ma. Con ma chít chiếc khăn đội đầu màu trắng bẩn thỉu, choàng tạp dề xanh, nó nặng chín chục ký và là mụ lao công Mathindo Stox.
Tôi đứng yên một lát nhìn mụ. Mụ có cái vẻ yêu kiều của một con hà mã khi mụ chuệch choạng đi đi lại lại giữa những bộ tản nhiệt xe hơi và cất giọng trầm trầm hát bài ca về anh lính khinh kị trung thành. Trên mặt bàn kê cạnh cửa sổ có hai chai cô nhắc. Một chai gần như đã cạn. Tối qua cái chai còn đầy nguyên. Tôi đã quên không cất nó vào tủ khóa lại. “Kìa bà Stox!” tôi lên tiếng.
Lời ca ngừng bặt. Cái chổi rơi xuống đất. Nụ cười ngà say tắt lịm. Bây giờ tôi mới là con ma. “Giesuma, lạy Chúa tôi”, Mathindo ấp úng và giương cặp mắt đỏ ngầu ngó tôi trân trân. “Tôi đâu ngờ cậu đến sớm thế...”.
- Biết rồi. Rượu ngon chứ?
- Đã hẳn... nhưng nhục cho tôi quá.”- Mụ quệt miệng. “Tôi rõ tồi tệ...”
- Chà, bà cứ phóng đại thế. Bà chỉ say thôi. Say khướt như một gã nghiện.
Mụ cố gắng đứng thẳng người. Ria mép động đậy và mi mắt mụ chớp chớp như mắt một con cú già. Nhưng dần dần mụ cũng tỉnh táo hơn. Mụ quả quyết tiến lên một bước.
- Cậu Lokhamp... người ta ai cũng là người thôi... đầu tiên tôi chỉ ngửi... và rồi làm một ngụm... vì rằng tiếng thế chứ dạ dày tôi bao giờ cũng yếu... vâng, thế rồi, thế rồi hẳn quỷ Sa tăng đã ám tôi. Các cậu cũng không nên thử thách một người đàn bà tội nghiệp, không nên để mặc cái chai đấy.
Đây chẳng phải lần đầu tiên tôi bắt gặp mụ như thế. Sáng nào mụ cũng đến dọn dẹp trong xưởng độ hai tiếng; cứ việc quăng tiền vương vãi đâu tùy thích, mụ không tơ hào đến... thế nhưng rượu đặt trước mắt mụ thì chẳng khác gì mỡ để miệng mèo.
Tôi giơ cái chai lên. “Đương nhiên rồi, bà không động đến rượu cô nhắc dành cho khách hàng... Thế nhưng rượu ngon của ông Koester thì bà nốc sạch.”
Một thoáng cười đắc ý lướt qua nét mặt già nua của Mathindo. “Tất tật những gì ngon lành... tôi là kẻ sành sỏi mà lại. Nhưng cậu sẽ không tố giác tôi chứ, cậu Lokhamp? Tố giác một mụ góa yếu đuối bất lực như tôi?”.
Tôi lắc đầu. “Hôm nay thì không đâu”.
Mụ buông những nếp váy xuống. “Thế thì tôi chuồn đây. Cậu Koester mà đến bây giờ thì... trời đất quỷ thần ơi!”.
Tôi lại bên tủ và mở ra. “Bà Mathindo...”.
Mụ vội vã lạch bạch chạy đến. Tôi giơ cao một cái chai nâu hình vuông.
Mụ hươ tay chối. “Không phải tôi! Thề danh dự đấy! Tôi không hề động tới nó!”.
- Tôi biết .- Tôi nói và rót đầy một ly. “Bà biết loại rượu này chứ?”
- Sao không! -Mụ liếm môi. - Rum! Rượu rum Giamaica lâu đời!
- Khá. Vậy xin bà hãy cạn một ly!
- Tôi ấy?- Mụ nhảy lùi lại. - Như thế thì nhiều quá cậu Lokhamp! Đầu tôi đang nóng phừng phừng như than hồng đây này! Mụ Stox già nua đã ngầm nốc sạch rượu cô nhắc của cậu, thế mà cậu còn thết mụ một ly rum để thưởng công nữa. Cậu là một bậc thánh, chính thế! Thà chết còn hơn chấp nhận một chuyện như vậy.
- Thế hở?.-- Tôi nói và làm ra vẻ chực thu ly rượu về.
- Nào thì uống!- Mụ vội vã nắm lấy cái ly. - Đành phải tiếp nhận những điều tốt đẹp như nó đã đến thôi. Cho dù không hiểu nó. Chúc sức khỏe cậu! Dễ thường hôm nay là sinh nhật cậu.
- Đúng vậy, bà Mathindo. Bà đoán giỏi đấy.
- Sao, thật thế ư?- Mụ chộp lấy bàn tay tôi lắc lấy lắc để. - Rất chi thành thật chúc cậu hạnh phúc! Dồi dào tiền của! Cậu Lokhamp này,- mụ quệt miệng, - tôi cảm động quá thể... nhất định tôi phải làm một ly nữa mừng cậu. Là vì chẳng gì tôi cũng quý cậu như con.
- Tốt thôi.
Tôi rót thêm cho mụ ly nữa. Mụ dốc cạn một hơi, rồi rời xưởng, mồm xuýt xoa khen ngợi.


Tôi dọn cái chai đi, ngồi vào bàn. Mặt trời nhợt nhạt xuyên qua cửa sổ chiếu xuống đôi tay tôi. Cảm giác lạ kỳ trong một ngày sinh nhật như thế này, dẫu rằng ta chẳng xem nó ra gì. Ba mươi tuổi... đã từng có thời tôi ngỡ đâu không bao giờ mình có thể lên đến tuổi hai mươi, tôi cảm thấy cái ngày ấy sao mà xa vời. Và rồi...
Tôi mở ngăn kéo lấy một tờ giấy viết thư và bắt đầu tính. Thời thơ ấu, trường học... đó là một tổng thể xa xôi, ở đâu đó, không còn thật nữa. Mãi năm 1916 cuộc đời thật sự mới bắt đầu. Khi ấy tôi vừa trở thành chú lính mới, gầy, cao ngổng, mười tám tuổi, tập nằm xuống đứng lên trên những thửa ruộng mới cày phía sau doanh trại theo lệnh của một tay hạ sĩ quan ria mép rậm rì. Vào một trong những tối đầu tiên, mẹ tôi đến doanh trại thăm tôi, nhưng bà phải đợi tôi mất hơn một giờ đồng hồ. Tôi đã đóng ba lô của mình không đúng quy cách và phải chịu một hình phạt quét dọn nhà vệ sinh vào giờ nghỉ. Mẹ tôi muốn giúp tôi, nhưng bà không được phép. Bà khóc, còn tôi thì mệt tới mức ngủ thiếp đi khi mẹ hãy còn ngồi bên.
1917. Flandern *(Miền đất thuộc Bỉ, trong Chiến tranh thế giới I là vùng có chiến sự đặc biệt). Mitdendorf và tôi mua ở căng tin một chai vang đỏ. Chúng tôi đã định uống một chầu. Thế nhưng cả bộ tôi đã không thực hiện được. Sáng tinh mơ, quân Anh bắt đầu một trận pháo kích lớn. Koester bị thương lúc giữa trưa, Mayer và Detes ngã xuống buổi chiều. Và tối đến, khi cả bọn đã tưởng được bình yên và mở chai rượu ra, thì hơi độc tràn vào, ùa xuống các công sự. Tuy rằng cả bọn kịp thời đeo mặt nạ nhưng mặt nạ của Mitdendorf lại hỏng. Khi cậu ấy phát hiện ra thì đã muộn. Cho đến lúc chiếc mặt nạ này bị giật đi và tìm thấy một chiếc mới thay vào thì Mitdendorf đã hít phải quá nhiều hơi độc và nôn ra máu. Cậu ấy chết vào sáng hôm sau, trên mặt có nhiều vết bầm tím. Cổ Mitdendofr rách bươm... cậu ấy đã cố dùng móng tay hòng phanh nó ra để hớp lấy không khí.
1918. nằm quân y viện. Mấy hôm trước. Một đợt thương binh mới được trở đến. Bông băng bằng giấy bản. Những ca bị thương nặng. Suốt ngày, những chiếc xe phẳng lỳ của phòng mổ cứ chạy ra chạy vào. Thỉnh thoảng có những chiếc ra không. Giogiep Ston nằm cạnh mình. Anh đã mất cả hai đùi, nhưng còn chưa biết điều đó. Không thể nhìn thấy được vì người ta chụp lên phần dưới anh một cái lồng bằng dây thép phủ chăn. Mà giá có thấy anh cũng chẳng tin nào, vì anh vẫn cảm thấy đau đớn dưới hai bàn chân. Đêm, có hai người chết trong buồng bọn mình. Một người chết rất ngắc ngoải và đau đớn.
1919. lại ở nhà. Cách mạng *(chỉ cuộc cách mạng dân chủ tư sản bắt đầu nổ ra ở Đức vào tháng Mười một 1918). Đói. Bên ngoài vẫn tiếp tục nghe tiếng súng máy. Lính đnáh nhau với lính. Đồng đội gây lộn với đồng đội.
1920. Đảo chính. Karl, Broeger bị bắn chết. Koerter và Lenz bị bắt. Mẹ tôi nằm nhà thương. Bệnh ung thư của bà vào giai đoạn cuối.
1921...
Tôi ngẫm nghĩ. Tôi chẳng còn nhớ nữa rồi. Đơn giản là thiếu mất năm đó. 1922, tôi làm công nhân đường sắt ở Thuyringor, 1923 lãnh đạo việc quảng cáo cho một xí nghiệp cao su. Đang thời kỳ lạm phát. Lương tháng cảu tôi là hai trăm tỉ mác. Mỗi ngày hai lần lĩnh tiền và mỗi lần lĩnh tiền lại được nghỉ nửa giờ để đáo nhanh qua các cửa hiệu mua sắm chút ít trước khi hối đoái đô la mới lại được công bố... đồng tiền lại mất giá một nửa.
Còn sau đó? Những năm tiếp theo? Tôi đặt bút chì xuống. Nhẩm lại tất cả những cái ấy mà làm gì. Vả lại tôi cũng chẳng còn nhớ chính xác. Tôi đã quá lẫn lộn quá lắm. Năm ngoái tôi uống mừng sinh nhật của mình tại tiệm cà phê Quốc Tế, nơi tôi đánh dương cầm thuê được một năm. Thế rồi tôi gặp lại Koester và Lenz. Còn lúc này tôi đang ngồi trong xưởng sửa chữa ô tô Koester và Co... Co, đây tức là Lenz và tôi, nhưng thực sự thì xưởng này chỉ thuộc về mỗi mình Koester. Trước kia Koester là bạn học, rồi chỉ huy đại đội của chúng tôi, sau đó làm phi công, có thời gian dài là sinh viên, rồi lái xe đua... cuối cùng cậu ta tậu được cái văn phòng khổ này. Đến làm với Koester trước tiên là Lenz, kẻ từng lang bạt vài năm bên Nam Mỹ,... rồi thêm tôi.
Tôi rút từ túi áo một điếu thuốc lá. Thật ra tôi có thể hoàn toàn hài lòng. Hoàn cảnh của tôi chẳng đến nỗi nào, tôi lại có việc làm, lại cường tráng, tôi không dễ gì trở nên mệt mỏi, tôi lành lặn – như người ta thường nói... nhưng dẫu sao đừng nghĩ ngợi thái quá về điều đó vẫn hơn. Đặc biệt đừng nghĩ ngợi vào lúc chỉ có một mình. Và buổi tối cũng dừng. Một cái gì đó của quá khứ đôi khi lại hiện lên và nhìn ta trân trối bằng cặp mắt của người chết. Nhưng ta đã có rượu mạnh.
Ngoài kia có tiếng kẹt cổng. Tôi xé tờ giấy có ghi những năm tháng đời mình ném vào sọt giấy lộn. Cánh cửa bật mở, Gotfrit Lenz đứng trong khung cửa, cao, gầy, với cái bờm tóc màu vàng rơm và một cái mũi lẽ ra thích hợp với một người đàn ông hoàn toàn khác. “Robby”, cậu ta gầm lên, “quân săn mồi già đời, đứng dậy và hãy lên gân lên cốt đi! Cấp trên của cậu muốn nói chuyện với cậu!”
- Chúa ơi!- Tôi đứng dậy. - Mình đã hy vọng rằng các cậu không nhớ tới kia đấy. Hãy nương nhẹ thôi các chú bé!
- Điều đó xem ra hợp ý cậu! Gotfrit đặt lên bàn một cái gói, từ đó tiếng lanh canh phát ra rõ mồn một. Koester bước vào sau Lenz. Lenz đứng chắn trước mặt tôi. “Robby, sáng nay cậu gặp cái gì trước tiên?”
Tôi ngẫm nghĩ. - Một mụ già nghiêng ngả.
- Đấng Moses thiêng liêng! Một điềm gở! Nhưng lại đúng với lá số tử vi của cậu. Mình vừa lập nó hôm qua. Cậu là đứa trẻ cần được che trở, không vững vàng, dao động, một ngọn lau trước gió, với chòm thổ tinh đáng ngờ và một mộc tinh thương tật trong năm nay. Vì Otto và mình thay mặt cho cha mẹ cậu, vật đầu tiên mình trao cậu là một thứ để phòng thân. Hãy nhận lấy tấm bùa hộ mệnh này. Một kẻ hậu sinh của những người Inka đã để lại nó cho mình *(Những thành viên của một bộ tộc Peru cổ). Mụ ta có dòng máu quý tộc, đôi bàn chân phẳng, chấy rận và biệt tài nhìn vào tương lai. “Hỡi người lạ da trắng”, mụ ta bảo mình, “các đức vua đã đeo nó, nó chứa sức mạnh của vầng dương, mặt trăng và trái đất, hoàn toàn chưa nói đến các hành tinh nhỏ hơn... hãy đưa ta một đồng đô la bạc để ta mua rượu mạnh, và anh sẽ được nó.” Để sợi dây chuyền hạnh phúc này tiếp tục luân chuyển, mình sẽ trao nó cho cậu. Nó sẽ bảo vệ cậu, sẽ xua đuổi lão mộc tinh lạnh lùng của cậu.
Cậu ta đeo vào cổ tôi một bức tượng nhỏ xíu màu đen treo trên sợi dây chuyền mỏng mảnh.
- Thế! Để chống lại điều rủi giáng xuống từ trên trời.. còn chống lại những bất hạnh hàng ngày thì đây: sáu chai rượu rum của Otto! Lâu năm gấp đôi số tuổi cậu!
Lenz mở gói và đặt từng chai một dưới ánh mặt trời buổi sớm. Chúng lóng lánh như hổ phách. Trông tuyệt đẹp,- tôi nói, - cậu moi ở đâu ra thế Otto?”
Koester cười. - Một câu chuyện rắc rối. Kể ra thì dài dòng lắm. Nhưng hãy nói thử cậu cảm thấy trong người ra sao? Như một kẻ tam tuần?
Tôi phẩy tay. - Như mười sáu và đồng thời như ngũ tuần. Chẳng có gì đặc biệt cả.
- Cậu bảo chẳng có gì đặc biệt sao?- Lenz đáp lại. - Tuổi tác không phải là thứ cao nhất có trên đời hay sao? Cậu đã chiến thắng thời gian một cách tự chủ và sẽ sống gấp đôi.
Koester nhìn tôi, đoạn bảo: Thôi mặc cậu ấy, Gotfrit, những ngày sinh nhật thường đè nặng lên lòng tự tôn. Đặc biệt vào lúc sáng sớm. Cậu ấy sẽ tĩnh tâm lại ngay ấy mà.
Lenz nheo mắt lại. “Lòng tự tôn của một con người càng ít bao nhiêu, giá trị của anh ta càng nhiều lên bấy nhiêu, Robby ạ. Điều đó ít nhiều an ủi cậu chăng?”
- Không,- tôi đáp - không một mảy may. Khi con người trở nên có giá trị một chút, anh ta chỉ còn là tượng đài của riêng anh ta mà thôi. Đối với mình, như thế thật mệt mỏi và buồn tẻ.
- Cậu ấy triết lý, Otto ơi,- Lenz reo. - Cậu ấy đã thoát nạn. Cậu ấy đã vượt qua khoảng khắc im lặng! Cái khoảnh khắc im lặng trong ngày sinh nhật, khi con người ta tự soi vào đồng tử của con ngươi mình và phát hiện ra mình chỉ là một chú gà nhép nghèo hèn biết mấy. Bây giờ tụi mình có thể thanh thản bắt tay vào công việc hàng ngày và tra dầu cho động cơ chiếc Cadilac cổ được rồi đấy...
Cả bọn chúng tôi làm việc cho tới lúc chạng vạng tối, rồi rửa ráy và thay quần áo. Lenz thèm thuồng liếc nhìn dãy chai. “Ta bẻ cổ một chai chứ?”
- Cái đó phải do Robby quyết định.- Koster nói. - Đi gạ gẫm kẻ được tặng quà một cách vụng về đến thế thật không đẹp chút nào, Gotfrit ạ.
- Nhưng để những kẻ tặng quà chết khát còn không đẹp hơn nữa kia.- Lenz đáp và mở một chai.
Mùi thơm lập tức lan khắp xưởng.
- Đấng Moses thiêng liêng.- Gotfrit xuýt xoa.
Cả ba thằng hít lấy hít để. Tuyệt vời Otto ạ. Cần phải vươn tới nền thi ca cao siêu mới hòng tìm được những so sánh xứng đáng.
- Quá uổng nếu cậu đem uống trong căn xép tối tăm này! - Lenz quyết định.- Các cậu biết không, tụi mình sẽ ra khỏi đây, sẽ ăn tối ở đâu đó và cắp chai rượu theo. Phải nốc cạn nó giữa thiên nhiên tự do của Chúa - “Hết tầm!”
Ba thằng đẩy chiếc Cadilac vừa sửa sang ban chiều sang một bên. Phía sau nó là một vật kỳ dị đặt trên bốn bánh. Đó là chiếc xe đua của Otto Koester, niềm tự hào của xưởng.
Koester đã đổi chiếc xe, một cái thùng cũ cao thành, trong một cuộc bán đấu giá bằng một chiếc bánh mì bơ. Thời đó nhìn chiếc xe, các chuyên gia đều không chút do dự mệnh danh cho nó là một hiện vật thú vị cho viện bảo tàng giao thông. Nhà thời trang Bonvis, chủ một hãng may măng tôi phụ nữ và là kẻ ham thích đua xe, đã khuyên Otto biến nó thành một chiếc mawys khâu. Nhưng Koester chwangr bận tâm đến điều đó. Cậu ta tháo rời chiếc xe như tháo một chiếc đồng hồ bỏ túi và hỳ hục thâu đêm với nó hàng tháng trời. Một tối nọ, cậu ta xuất hiện cùng với chiếc xe trước tiệm rượu mà chúng tôi thường đến uống. Khi lại nhìn thấy chiếc xe, Bonvis suýt ngã lăn ra vì cười, nom nó vẫn tức cười như cũ. Để gây chuyện khôi hài, gã mời Otto một cuộc thách đấu. Gã muốn đưa ra hai trăm mác cược lấy hai mươi thôi, nếu Koester nhận đua với chiếc xe thể thao mới của gã... chặng đường dài mười kilomet, chấp xe của Otto một kilomet. Koester nhận lời thách đấu. Ai nấy đều cười và trông đợi một điều thú vị khổng lồ. Nhưng Otto còn làm tợn hơn nữa: cậu ta khước từ sự ưu tiên, và với nét mặt bình thản, nâng giá đánh cược lên một ngàn mác chọi một ngàn mác. Bonvis luống cuống hỏi Koester liệu gã có cần phải đưa cậu ta tới trại điên hay không. Koester chỉ trả lời bằng cách cho xe mình khởi động. Ca hai lập tức phóng đi thực hiện cuộc đấu. Sau nửa giờ, Bonvis trở lại với vẻ mặt hoảng loạn như thể vừa trông thấy rắn biển. Gã lặng lẽ viết một tấm séc và thêm một tấm séc nữa. Giờ đây gã muốn mua tại chỗ chiếc xe. Nhưng Koester đã cười nhạo gã. Cậu ta sẽ không bao giờ đổi chiếc xe lấy đồng tiền trần gian nữa. Dẫu cỗ máy bên trong của chiếc xe không chê vào đâu được... bề ngoài của nó vẫn xấu xí. Để sử dụng hàng ngày, chúng tôi thay cho nó một chiếc vỏ đặc biệt lỗi thời, vừa khớp, với lớp sơn đã khá xỉn, chắn bùn có những chỗ rách, và cái mui đã dùng đến cả chục năm. Lẽ ra chúng tôi có thể mông má tất cả xuya hơn... Nhưng chúng tôi có một lý do để không làm.
Chiếc xe tên là Karl. Karl, bóng ma trên đường nhựa.
Karl thở phì phò dọc theo đường nhựa.
Otto, tôi nói – một nạn nhân đang dẫn xác đến kìa.
Sau lưng chúng tôi, một chiếc Buich nặng nề nôn nóng bóp còi. Nó đang nhanh chóng đuổi kịp. Những bộ tản nhiệt sắp sửa xích lại gần nhau. Gã đàn ông bên tay lái hững hờ trông sang. Ánh mắt gã lướt từ trên xuống chiếc Karl thô thiển. Rồi gã quay mặt đi và quên phắt chúng tôi.
Vài giây sau, hẳn gã xác định là Karl vẫn ở cùng một tốc độ với gã. Gã chỉnh lại tư thế một chút ít cho thoải mái, nhìn chúng tôi một cách khoái trá và tăng ga. Nhưng Karl không nao núng. Như một con chó terie bên cạnh một con chó đô, nó vẫn tiếp tục chạy, nhỏ bé, linh lợi kèm sát cái đầu máy mạ kền và sơn sáng loáng. Gã đàn ông nắm chắc tay lái hơn. Gã hoàn toàn chẳng nghi ngờ gì và bĩu môi khinh bỉ. Có thể đoán giờ đây gã định bụng cho chúng tôi thấy hiệu suất cỗ xe trượt cảu gã. Gã nhấn chân ga mạnh tới mức ống xả ríu rít lên như một cánh đồng đầy chim sơn ca trong mùa hạ. Thế nhưng chẳng ích gì; gã không vượt lên nổi. Như có phép phù thủy, Karl cứ dính chặt lấy gã, xấu xí và khiêm tốn. Gã đàn ông ngạc nhiên nhìn chòng chọc xuống chúng tôi. Gã không hiểu nổi làm sao với tốc độ trên trăm cây số giờ mà cái hòm cổ lỗ bên cạnh gã đây lại không long hết ra. Gã kinh ngạc nhìn vào đồng hồ tốc độ xe gã, làm như nó có thể chỉ sai. Rồi gã thả xe chạy hết tốc lực.
Giờ đây hai chiếc xe sánh vai nhau lao trên con đường nhựa thẳng, dài hun hút. Được vài trăm mét xuất hiện một chiếc xe tải đi ngược chiều. Chiếc Buick đành lùi lại sau chúng tôi để tránh. Nó chưa kịp lên ngang với Karl thì một chiếc xe tang lướt đến với những tua kết vòng hoa bay bay, chiếc Buick buộc lòng lùi lại lần nữa. Sau đó là khoảng trống trước mặt.
Tới lúc này, gã đàn ông bên tay lái đã mất hết vẻ ngạo nghễ; tức giận, môi mím chặt, gã khom mình về phía trước... máu đua xe đã bốc lên trong gã, và đột nhiên danh dự đời gã buộc gã bằng bất cứ giá nào không được phép tỏ ra hèn kém trước con chó hay sủa nhặng đang kè kè bên gã đây.
Ngược lại, chúng tôi tỏ vẻ dửng dưng ngồi yên chỗ của mình. Đối với chúng tôi, chiếc Buick như không hề tồn tại, Koester bình thản nhìn con đường, tôi uể oải dõi mắt vào không trung; còn Lenz, mặc dù hết sức căng thẳng, lôi một tờ báo ra và làm ra vẻ như đối với cậu ta ngay lúc này không có gì quan trọng hơn là đọc báo.
Ít phút sau Koester nháy mắt cho chúng tôi. Karl ngầm giảm tốc độ, và chiếc Buick từ từ vượt lên. Những chiếc chắn bùn rộng, bóng nhoáng của nó sạt qua xe chúng tôi. Ống xả ầm ầm nhả khói xanh vào mặt chúng tôi. Dần dần nó đã bỏ xa chúng tôi quãng hai chục mét... và ở cửa sổ xe đã ló ra bộ mặt của kẻ sở hữu, gã nhe răng cười đắc thắng. Gã chắc mẩm đã được cuộc.
Nhưng gã còn có một hành vi nữa. Gã không thể nén một sự trả thù. Gã vẫy tay ra hiệu cho chúng tôi cứ việc đuổi theo. Thậm chí gã vẫy tay một cách đặc biệt hờ hững, nắm chắc phần thắng. - Kìa Otto, Lenz nói giọng nhắc nhở.
Nhưng cậu ta chẳng cần phải nhắc. Trong cùng khoảnh khắc, Karl đã vọt lên. Chiếc máy nén khí huýt như tiếng sáo. Và đột nhiên cánh tay vẫy vẫy thò ở cửa xe biến mất... Bởi vì Karl đã hưởng ứng sự mời mọc. Nó tới, thậm chí không gì kìm hãm nổi, lấy lại mọi khoảng cách... và bây giờ, lần đầu tiên chúng tôi để tâm đến chiếc xe lạ. Chúng tôi ngước nhìn gã đàn ông bên tay lái với vẻ dò hỏi trong trắng, như thể chúng tôi rất muốn biết vì cớ gì gã lại vẫy chúng tôi. Thế nhưng gã một mực ngoảnh mặt đi. Bấy giờ Karl mới thả hết tốc lực vọt lên, một kẻ lôi thôi lếch thếch thắng trận với toàn thân lấm lem và những chiếc chắn bùn bay rập rờn.
Cừ đấy, Otto. Lenz bảo Koester. Tối nay thằng cha sẽ ăn mất ngon.
Những cuộc săn đuổi như thế chính là lý do chúng tôi không thay đổi vỏ ngoài của Karl. Chỉ cần Karl xuất hiện trên đường phố, lập tức có kẻ tìm cách bỏ xa nó. Đối với những chiếc xe khác, nó như một con chim gáy rã cánh trước một lũ mèo đói. Nó cám dỗ những cỗ xe hiền hòa nhất muốn vượt và ngay cả những kẻ rậm râu béo bệu nhất cũng không sao tránh khỏi bốc máu đua xe, một khi thấy cái gầm xe kêu rầm rầm của nó cứ nhảy loi choi trước mặt. Có ai ngờ nổi bên trong cái hình thù nực cười đó đang đập trái tim vĩ đại của một động cơ xe đua!
Lenz khẳng định rằng Karl có tác dụng giáo dục. Nó dạy thiên hạ biết kính trọng sự sáng tạo luôn ẩn mình trong một cái vỏ khiêm nhường. Đó là lời của Lenz, kẻ đã vỗ ngực khẳng định mình là con người lãng mạn cuối cùng.


Chúng tôi dừng bánh trước một quán ăn nhỏ và xuống xe. Chiều đẹp, yên tĩnh. Những luống cày trên các cánh đồng mới xới ánh lên màu tim tím. Còn những bờ ruộng phát sáng ánh sắc nâu và óng vàng. Những đám mây tựa đan cò lửa khổng lồ sải cánh trên bầu trời xanh màu trái táo, lấp ló sau chúng là lưỡi liềm mỏng manh của vầng trăng đang dần đầy. Một bụi hồ đào dại ôm hoàng hôn và nỗi ngờ vực trong những cánh tay của mình, trơ trụi một cách cảm động, nhưng đã ngập tràn hi vọng chồi non. Từ quán ăn nhỏ bay ra mùi gan rán thơm phức. Cả mùi hành phi nữa. Chúng tôi hít căng lồng ngực.
Mùi thơm kéo Lenz đâm bổ vào quán. Cậu ta quay ra, nét mặt rạng rỡ. - Các cậu phải tận mắt nhìn những lát khoai tây rán nhé! Nhanh lên, không họ nốc sạch món ngon nhất bây giờ!
Đúng lúc đó có tiếng một chiếc xe nữa rì rì tiến lại. Cả bọn đứng như trời trồng. Đó là chiếc Buick. Nó đỗ xịch ngay cạnh Karl. - Ái chà! - Lenz nói. Chúng tôi luôn ẩu đả vì những vụ tương tự.
Gã đàn ông xuống xe. Gã cao lớn, nặng nề, khoác một chiếc áo Raglan rộng bằng lông lạc đà nâu. Gã bực tức liếc nhìn Karl, tháo đôi găng tay to sụ màu vàng ra, và bước lại gần.
Cũng là một mẫu xe hả? Xe của anh ấy? Gã hỏi Koester lúc ấy đứng gần gã nhất, mặt nhăn nhó chẳng khác gì dưa chuột ngâm dấm.
Cả ba thằng lặng lẽ nhìn gã một lúc. Chắc gã cho chúng tôi là bọn thợ máy diện bộ cánh chủ nhật đi chơi lậu một chuyến.
Ngài vừa nói gì đó phải không ạ? Cuối cùng Koester ngờ vực hỏi, cốt dạy cho gã biết lẽ ra có thể lịch sự hơn.
Gã đàn ông đỏ mặt.- tôi hỏi về chiếc xe này.- gã không đổi giọng, càu nhàu giải thích.
Lenz ưỡn thẳng người. Cái mũi to bự của cậu ta rung rung. Cậu ta hết sức đòi hỏi những người khác phải giữ phép lịch sự. Nhưng Lenz chưa kịp mở miệng thì bỗng nhiên, như bởi một bàn tay ma quỷ, cánh cửa thứ hai của chiếc Buick bật mở... một bàn chân nhỏ nhắn thò ra, tiếp theo là cái đầu gối xinh xinh... rồi một cô gái bước xuống, từ tốn đi về phía chúng tôi.
Ba thằng kinh ngạc nhìn nhau. Trước đấy chúng tôi không nhận thấy trong xe còn có người nữa. Lenz thay đổi ngay thái độ. Cả gương mặt đầy tàn nhang của cậu ta mỉm cười. Chúng tôi cùng nhất loạt mỉm cười, có trời biết tại sao.
Gã béo sửng sốt nhìn chúng tôi. Gã trở nên hoài nghi và hình như không còn biết nên làm gì trong tình huống này.
Bindinh, cuối cùng gã nói, khẽ nghiêng mình, tuồng như gã có thể tin tưởng vào cái tên của gã.
Lúc này cô thiếu nữ đã đến sát chúng tôi. Chúng tôi hòa nhã hơn nữa. - Hãy giới thiệu về chiếc xe đi, Otto.- Lenz nói, mắt đưa nhanh sang Koester.
Sao lại không nhỉ. Otto trả lời và đáp lại bằng cái nhìn láu lỉnh.
Thực tình tôi rất muốn xem qua chiếc xe.- Bindinh nói, giọng đã ôn hòa hơn.- Hẳn nó chạy nhanh ghê gớm. Nó đã làm tôi hết cả hơi.
Hai người đi sang bãi đỗ xe, và Koester nhấc nắp xe lên.
Thiếu nữ không đi cùng. Thanh mảnh và lặng lẽ, nàng đứng bên Lenz và tôi, trong cảnh hoàng hôn. Tôi chắc mẩm Gotfrit sẽ tận dụng cơ hội, sẽ bung ra như một trái bom. Cậu ta vốn thích hợp với những tình huống như thế này. Ấy vậy mà tuồng như cậu ta đã quên mất tiếng nói. Thông thường cậu ta có thể gọi mái như một chú gà lôi... thế mà giờ đây cứ đứng đực ra đó chẳng khác nào một vị linh mục thuộc giáo phái Karmen *(Giáo phái hình thành giữa thế kỷ XII trên núi Karmen thuộc Palestin với luật lệ hết sức khắc nghiệt, có thời kỳ không được phép nói) vào giữa kỳ về thăm nhà.
Mong cô thứ lỗi cho.- Cuối cùng tôi lên tiếng- Chúng tôi không thấy cô ngồi trong xe. Nếu thấy chắc chắn chúng tôi chẳng làm bậy như vừa rồi.
Thiếu nữ nhìn tôi.- Nhưng sao lại không nhỉ?- Nàng bình thản đáp, giọng trầm một cách đáng ngạc nhiên- Điều đó đâu đến nỗi tồi tệ gì.
Không tồi tệ, nhưng không hoàn toàn đứng đắn. Xe của chúng tôi chạy quãng hai trăm kilomet một giờ.
Nàng hơi khom mình về phía trước, tay thọc túi áo măng tô.
Hai trăm kilomet kia à?
Chính xác là 189,2 kilomet, số ghi chính thức đấy.- Lenz kiêu hãnh giảng giải ngay tức khắc, chẳng khác gì súng liên thanh.
Nàng cười.- Thế mà chúng tôi tưởng chỉ khoảng sáu bảy chục.
Cô thấy đấy...- tôi nói - dẫu sao cô cũng không thể biết được.
Vâng - nàng đáp - quả thật chúng tôi không thể biết. Chúng tôi ngỡ chiếc Buick phải chạy nhanh gấp đôi xe của các anh.
Vâng... - tôi lấy mũi chân đá một cành cây vân sam gẫy sang bên – nhưng chúng tôi có một lợi thế quá lớn. Và ông Bindinh bên đấy hẳn cũng khá tức giận về chúng tôi.
Nàng cười.- Chắc thế, trong một khoảnh khắc nào đó. Nhưng con người cũng phải biết thua; nếu không làm sao sống nổi.
Hẳn rồi...
Một quãng ngừng. Tôi đưa mắt cho Lenz. Nhưng con người lãng mạn cuối cùng ấy chỉ nhếch miệng cười, phập phồng cánh mũi và bỏ mặc tôi. Những cây bạch dương xào xạc. Một con gà mái quang quác sau nhà.
Thời tiết kỳ diệu.- Cuối cùng tôi nói nhằm phá vỡ sự im lặng.
Vâng, đẹp tuyệt! - Thiếu nữ đáp.
Và đến là ôn hòa,- Lenz thêm.
Thậm chí ôn hòa khác thường, - Tôi bổ sung.
Lại một quãng ngừng mới. Cô thiếu nữ hẳn xem chúng tôi là những cái đầu cừu khá ngu ngốc, nhưng mặc dù muốn lắm, tôi cũng không moi nổi một ý nào nữa. Lenz hểnh mũi hít quanh. - Táo hầm,- cậu ta nói đầy cảm xúc – hình như người ta cho cả táo hầm vào món gan. Một món ăn ngon lành.
Đương nhiên rồi, tôi hưởng ứng và nguyền rủa hai thằng bạn tôi.
Koester và Bindinh quay trở lại. Sau có ít phút mà Bindinh đã trở thành một người khác hẳn. Ông ta có cái vẻ hoàn toàn mãn nguyện của những kẻ say mê ô tô khi vớ được ở đâu đó một tay sành sỏi để có thể cùng trò chuyện.
Chúng ta cùng ăn với nhau chứ?- Ông ta mời.
Lẽ dĩ nhiên. - Lenz đáp.
Chúng tôi bước vào quán. Bước qua cửa, Gotfrit nháy mắt với tôi và
hất hàm về phía cô gái.- Này cậu, cô nàng mười lần ăn đứt mụ già nghiêng ngả ban sáng...
Tôi nhún vai.- Có thể, nhưng tại sao cậu lại bỏ mặc mình ấp a ấp úng như vậy?
Cậu ta cười.- cũng phải học cái ấy lấy một lần, bé yêu ơi.
Nhưng mình chẳng còn hứng học hiếc gì sốt. Tôi nói.
Chúng tôi theo chân những người kia. Họ đã ngồi vào bàn. Bà chủ quán vừa vặn bưng ra món gan và khoai tây rán. Bà ta còn đưa ra một chai lớn rượu mạnh cất từ lúa mì để khai vị.
Bindinh tỏ ra là một nhà diễn thuyết, lời lẽ tuôn ra như thác nước. Kiến thức của ông ta về động cơ ô tô phong phú tới mức đáng kinh ngạc. Khi nghe Otto đã từng lái cả xe đua nữa thì mối thiện cảm của ông ta đối với Otto hầu như không còn biết giới hạn.
Tôi ngắm ông ta kỹ hơn. Đó là một người đàn ông cao lớn, nặng nề với cặp lông mày rậm trên một gương mặt đỏ đắn, ít nhiều khoe khoang, ít nhiều ồn ào, và hình như tốt bụng, giống như hết thảy những ai thành đạt trong cuộc sống. Tôi có thể hình dung tối tối trước khi đi ngủ ông ta vẫn tự ngắm mình trong gương một cách nghiêm nghị, đầy phẩm giá và trịnh trọng.
Thiếu nữ ngồi giữa tôi và Lenz. Nàng đã cởi bỏ áo măng tô, bên trong là một bộ trang phục Anh màu xám. Cổ nàng thắt một chiếc khăn trắng trông như cà vạt của kỵ sĩ. Tóc nàng màu nâu, óng như tơ, lấp lánh màu hổ phách dưới ánh đèn. Vai nàng rất phẳng, nhưng hơi nhô ra phía trước, đôi bàn tay nhỏ nhắn, ngón quá dài, và có vẻ hơi xương xương hơn là mềm mại. Gương mặt nàng nhỏ, xanh xao, nhưng cặp mắt to đã cho nó một sức mạnh gần như là nồng nhiệt. Theo tôi thì nàng rất xinh... nhưng ngoài điều đó ra tôi không nghĩ gì hơn.
Ngược lại giờ đây Lenz hết sức hứng khởi. Cậu ta đã biến đổi hoàn toàn so với khi nãy. Chỏm tóc vàng của cậu ta sáng lóe như mào một con chim đầu rìu. Trong đầu cậu ta những ý nghĩ thay nhau nảy ra như pháo hoa và cậu ta cùng với Bindinh chế ngự cả bàn. Tôi lép vế ngồi đấy và chỉ có thể gây được rất ít sự chú ý, nhiều lắm là một lần đưa liễn xúp hay mời thuốc lá. Và chạm cốc với Bindinh nữa. Chạm cốc khá thường xuyên.
Bỗng nhiên Lenz vỗ tay lên trán: “Chai rum! Robby, ra lấy cái chai rum sinh nhật của chúng ta vào đây!”
Sinh nhật à? Một người nào trong các anh có sinh nhật chăng? - cô gái hỏi.
Tôi. - Tôi nói- Vì nó tôi đã bị đeo đẳng suốt ngày hôm nay.
Đeo đẳng ư? Vậy có nghĩa anh không muốn người ta chúc mừng anh chứ gì?
Có chứ. - Tôi nói- Chúc mừng lại là một chuyện khác.
Vậy xin chúc anh mọi điều tốt đẹp!
Trong một khoảnh khắc tôi nắm lấy tay nàng trong bàn tay tôi và cảm thấy cái xiết tay khô ấm của nàng. Đoạn tôi đi ra ngoài lấy chai rum.
Đêm mênh mông và câm lặng trùm lên căn nhà nhỏ. Những chiếc ghế da trong xe chúng tôi ẩm sương. Tôi đứng lại, nhìn về chân trời, nơi ánh sáng đỏ của thành phố hắt lên. Lẽ ra tôi còn muốn nấn ná ở ngoài này thêm nữa, nhưng đã nghe tiếng Lenz gọi.
Bindinh không chịu được rum. Chỉ sau cốc thứ hai là thấy ngay. Ông ta lảo đảo bước ra vườn. Tôi đứng dậy, cùng Lenz lại bên quầy rượu. Cậu ta gọi một chai gin. - Một cô gái tuyệt vời, hả?- Cậu ta nói.
Mình không biết Gotfrit ạ. - Tôi đáp – Mình chẳng chú ý đến điều đó lắm.
Lenz ngắm nhìn tôi một lát với cặp mắt xanh lấp lánh án cầu vồng của cậu ta, đoạn lắc lắc cái đầu vàng rực.
Nói xem, bé yêu, thật ra cậu sống để làm gì hở?
Mình cũng đã tự hỏi từ lâu.
Cậu ta cười. - Khôn thế! Nhưng không phải với ai cũng dễ dàng vậy đâu. Còn bây giờ trước hết mình phải moi thử xem cô gái có quan hệ thế nào với cái cuốn kataloge ô tô dày cộp ngoài kia.
Cậu ta theo Bindinh ra vườn. Sau ít phút, hai người cùng trở lại quầy rượu. Tin tức hẳn phải tốt đẹp, bởi Gotfrit, người giờ đây hình như biết mình không bị ngáng đường, đang sôi nổi bám riết lấy Bindinh trong niềm hân hoan rạng rỡ. Hai người lấy chai gin và một giờ sau đã cậu cậu tớ tớ với nhau. Khi vui vẻ, Lenz luôn có một cái gì đó lôi cuốn khiến người khác khó lòng cưỡng lại. Bản thân cậu ta cũng không cưỡng nổi mình. Giờ đây, cậu ta đang nhận chìm Bindinh trong rượu và liền đó cả hai đã cùng nghêu ngao những bài hát lính tráng ở ngoài vườn. Con người lãng mạn cuối cùng đã quên phắt cô gái.
Còn lại ba chúng tôi trong quán ăn. Không khí đột nhiên hết sức yên ắng. Chiếc đòng hồ bằng gỗ mun kêu tích tắc. Bà chủ quán thu dọn bát đĩa và nhìn xuống chúng tôi với ánh mắt của người mẹ. Một con chó săn màu nâu nằm duỗi người bên lò sưởi. Thỉnh thoảng nó lại sủa trong giấc ngủ, khe khẽ, ăng ẳng và rền rĩ. Bên ngoài gió lướt qua cửa sổ. Tiếng gió bị át bởi cái thứ bài hát lính giẻ rách, và tôi có cảm giác căn buồng nhỏ tự nâng bổng lên, cùng với chúng tôi bay lững lờ xuyên màn đêm, xuyên năm tháng, lướt qua bao kỷ niệm.
Một trạng thái kỳ lạ. Thời gian như đã mất hiệu lực... nó không còn là một dòng sông băt nguồn từ tăm tối và tìm về tăm tối... nó là một cái hồ trong đó cuộc sống lặng lẽ soi bóng. Tôi nắm trong tay ly rượu của mình. Rượu rum sáng lấp lánh. Tôi nghĩ đến mảnh giấy mình viết ban sáng ở xưởng. Tôi đã buồn ít nhiều. Giờ đây tôi không còn buồn nữa. Tất cả thế nào cũng được miễn là người ta còn sống. Tôi nhìn Koester. Tôi nghe cậu ta trò chuyện với cô gái nhưng tôi không để ý họ nói gì. Tôi cảm thấy vẻ rực rỡ êm dịu của tình trạng chớm say, nó sưởi ấm dòng máu, và tôi yêu nó bởi thông qua sự mơ mơ màng màng nó cho ta sắc thái phiêu lưu. Ngoài kia Lenz và Bindinh đang gòa bào ca về rừng Argonner. Còn bên cạnh tôi, cô gái không quen biết đang nói, nàng nói khẽ và từ tốn, với cái giọng trầm đục, gợi cảm và hơi khàn khàn ấy. Tôi uống cạn cốc rượu của mình.
Hai người kia lại quay vào. Không khí trong lành đã khiến họ tỉnh táo hơn. Chúng tôi đứng dậy. Tôi giúp cô gái mặc áo măng tô. Nàng đứng sát trước tôi, đầu hơi ngả về phía sau, miệng hé mở, nhìn trần nhà nở một nụ cười bâng quơ. Tôi buông thõng chiếc măng tô trong một khoảnh khắc. Mắt tôi để đâu suốt thời gian vừa rồi? Tôi đã ngủ chăng? Tôi bỗng hiểu nỗi phấn khích của Lenz.
Nàng quay người vẻ dò hỏi. Tôi giương vội chiếc măng tô lên và ngó sang Bindinh. Mặt đỏ như trái anh đào, vẫn ít nhiều đờ đẫn, ông ta đứng cạnh bàn.
Cô cho rằng ông ta lái xe được chăng?- Tôi hỏi.
Tôi tin thế...
Tôi vẫn không thôi nhìn nàng.- Nếu ông ta không đủ tỉnh táo, một trong những người chúng tôi có thể đi cùng xe cô.
Nàng lôi hộp phấn của mình ra và mở nắp.- Sẽ đâu vào đấy cả thôi, - nàng nói- khi say, ông ấy lái tốt hơn nhiều.
Tốt hơn và có lẽ cũng ẩu hơn. Tôi đáp.
Nàng nhìn tôi qua chiếc gương nhỏ của nàng.
Hy vọng rằng sẽ ổn.- Tôi nói, có hơi cường điệu một chút vì Bindinh đứng khá vững trên đôi chân của mình. Nhưng tôi muốn làm một cái gì đó, cốt sao nàng đừng bỏ đi.
Cô cho phép tôi sáng mai gọi điện tới nhà cô hỏi thăm chuyến đi ra sao chứ?- Tôi nói.
Nàng không trả lời ngay. Với trò nhậu nhẹt của mình, dẫu sao chúng tôi cũng có trách nhiệm phần nào.- tôi tiếp- Nhất là tôi, với chai rum sinh nhật của mình.
Nàng cười. - Vâng, được ạ, nếu anh muốn. Phía Tây 2796.
Ra khỏi quán tôi ghi lại ngay số điện. Chúng tôi nhìn xe Bindinh lăn bánh, rồi cạn thêm ly cuối cùng. Sau đó chúng tôi cho Karl rú máy. Nó lướt qua đám sương mù tháng ba mỏng manh, chúng tôi thở gấp, thành phố nhích lại gần trước mắt chúng tôi, đỏ rực và đung đưa trong sương mù; và từ làn hơi nước, tiệm rượu của Fretdi như một con tàu sặc sỡ được chiếu sáng nhô lên. Chúng tôi cùng Karl đến trước mỏ neo. Rượu cô nhắc rót ra vàng óng, rượu gin lóng lánh như ngọc xanh màu nước biển và rượu rum chính là cuộc đời. Chúng tôi ngồi lì lợm trên những chiếc ghế kê trong tiệm, âm nhạc ướt át, sự tồn tại thật sáng sủa và mạnh mẽ; rượu chảy ào ào qua lồng ngực chúng tôi, chúng tôi quên đi nỗi phiền muộn trong những gian buồng cho thuê trống trải, quên đi nỗi tuyệt vọng của sự hiện tồn, quầy rượu trong tiệm là buồng chỉ huy con tàu, và chúng tôi ồn ào lướt sóng vào tương lai.


(Còn tiếp)
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0
 
II




Hôm sau là chủ nhật. Tôi đánh một giấc dài và chỉ thức giấc khi ánh mặt trời rọi vào giường tôi. Tôi nhảy vội mở tung cửa sổ. Bên ngoài, không khí tươi mát và trong trẻo. Tôi đặt chiếc bếp cồn lên bậu cửa sổ rồi tìm hộp đựng cà phê. Chủ nhà tôi, bà Zalepski đã cho phép tôi tự đun cà phê của mình trong phòng. Cà phê của bà loãng quá, đặc biệt loãng đối với những kẻ tối hôm trước vừa nốc rượu.
Tôi sống ở nhà trọ của Zalepski đã hai năm nay. Tôi thích khu vực này. Nơi đây luôn luôn diễn ra một cái gì đó, vì nhà công nhân, tiệm cà phê Quốc Tế và trụ sở hội họp của Đội quân cứu tế nằm sát bên nhau *(Salvanion Army: Tổ chức từ thiện có tính chất tôn giáo trong quân đội, ở Anh và Mỹ). Ngoài ra phía trước nhà trọ còn có một nghĩa trang cổ đã ngừng hoạt động từ lâu. Cây cối mọc trong đó chẳng khác gì trong công viên, và khi đêm về yên tĩnh, ta có thể ngỡ như mình đang sống ở thôn quê. Nhưng phải khá khuya mới có được sự yên tĩnh ấy, bởi bên cạnh nghĩa trang là một quảng trường Chợ với nào là đu quay, đu thuyền.
Với bà Zalepski thì nghĩa trang này là một nguồn lợi chắc chắn. Bà dẫn ra không khí trong lành và tầm nhìn thoáng đạt để đòi những giá thuê nhà cao hơn. Câu nói cửa miệng của bà trong những lần quảng cáo là: “Nhưng thưa các quý vị, quý vị thử nghẫm mà xem... địa thế mới tuyệt chứ!”.
Tôi hết sức thong thả mặc quần áo để tạo cho mình cảm giác đang là ngày chủ nhật. Tôi rửa mặt mũi, tôi dạo quanh trong phòng, tôi đọc báo, tôi quấy tách cà phê, tôi đứng bên cửa sổ nhìn xem đường phố trở nên náo nhiệt ra sao, tôi nghe những chú chim hót trên những tán cây cao trong nghĩa trang,... chúng hót như những ống sáo nhỏ bằng bạc của Chúa lòng lành hòa với tiếng làu nhàu ngọt ngào, khe khẽ phát ra từ những chiếc đàn quay tay ở quảng trường Chợ... tôi lựa chọn giữa một vài chiếc sơ mi và những đôi bít tất của mình, tuồng như tôi giàu quần áo hơn thế gấp hai chục lần, và vừa huýt sáo tôi vừa dốc túi của mình ra: vài đồng tiền lẻ, một con dao, chìa khóa, mấy điếu thuốc lá... và đây, mảnh giấy ngày hôm qua có ghi số điện thoại của nàng. Patosris Honman. Một cái tên kỳ quặc... Patosrit. Tôi đặt mảnh giấy lên mặt bàn. Có thật mới chỉ hôm qua thôi không? Nó đã lùi xa biết mấy...gần như đã bị quên đi trong đám hơi men màu xám ngọc của rượu... Thật tuyệt diệu là khi rượu chè.. nó khiến ta mau chóng sụp đổ... nhưng từ đêm tới sáng, nó cũng lại tạo ra những khoảng trống, dường như đã trôi qua có đến hàng năm.
Tôi nhét mảnh giấy dưới một chồng sách. Gọi điện chăng? Có lẽ nên... cũng có lẽ không nên. Ban ngày ta nhìn những sự việc đại loại luôn khác với buổi tối. Thật ra tôi hoàn toàn hài lòng vì có được sự yên tĩnh của mình. Những năm vừa qua ầm ĩ như thế là đủ. Có điều chớ để một chút gì đến với ta, Koester nói. Cái gì ta đã để đến với ta rồi, ta cứ muốn giữ lấy. Mà giữ thì ta lại không thể...
Đúng lúc này bắt đầu nổ ra trận cãi vã sáng chủ nhật thường kỳ ở buồng bên cạnh. Tôi tìm chiếc mũ mà hẳn tôi đã bỏ lại đâu đó tối hôm qua, và lắng tai nghe một lát. Đó là cặp vợ chồng Hasso đang nổi khùng lên với nhau. Cả hai sống ở đây đã năm năm, trong một căn buồng nhỏ. Họ không phải những người xấu. Giá như họ có được một căn hộ ba buồng, với một gian bếp cho người vợ, và ngoài ra thêm một mụn con nữa, thì cuộc hôn nhân của họ có lẽ vẫn giữ được êm ấm. Thế nhưng một căn hộ đòi hỏi nhiều tiền, va ai là kẻ dám sinh con vào thời buổi bấp bênh này! Thế là họ cứ đành sống chật chội, bà vợ sinh thói khỏe cáu gắt, còn ông chồng ngay ngáy lo mất cái cương vị nhỏ nhoi của mình. Khi ấy, ông sẽ đi đứt. Ông đã bốn mươi lăm tuổi. Sẽ không ai thèm nhận ông vào làm nữa bởi vì ông đã một lần mất việc. Đó là nỗi cay cực.. trước kia người ta suy sụp từ từ, và bao giờ cũng vẫn còn cơ hội để ngoi lên... nhưng ngày nay, liền sau mỗi sự thải hồi là cái vực thẳm thất nghiệp vĩnh viễn.
Tôi toan lẳng lặng bỏ ra ngoài thì nghe tiếng gõ cửa, và Hasso thất thểu bước vào. Ông ngồi phịch xuống một chiếc ghế: “Tôi không chịu nổi nữa...”
Thật ra ông là một người đàn ông nhỏ nhẹ với đôi vai trễ và chút ria mép. Một viên chức khiêm tốn, tận tụy. Nhưng giờ đây chính những người như thế lại khốn đốn nhất. Mà có lẽ vào thời nào họ cũng là những kẻ lận đận nhất. Đức khiêm tốn và tận tụy chỉ được trả ơn trong tiểu thuyết mà thôi. Trong cuộc sống, chúng bị lợi dụng để rồi sau đó bị gạt sang bên. Hasso giơ tay lên trời: “Anh thử nghĩ xem lại có thêm hai người nữa bị thải hồi ở công sở. Người tiếp theo là tôi, anh chú ý cho, là tôi!”. Ông sống trong nỗi sợ hãi kể từ khi kẻ đầu tiên bị thải hồi. Tôi rót cho ông ly rượu mạnh. Ông run rẩy tờn thân. Có thể thấy rõ một ngày kia ông sẽ hoàn toàn suy sụp. Ông không còn mấy chút sức lực để mà chống chọi. - “Đã thế, bao giờ cũng phải nghe những lời chì chiết ấy”, - ông thì thầm.
Hình như bà vợ kết tội ông về hiện trạng của bà. Bà bốn mươi hai tuổi, đã hơi sồ sề và tàn tạ, nhưng cố nhiên không đến nỗi kiệt quệ như ông chồng. Bà đang ở giai đoạn hồi xuân.
Can thiệp vào chuyện của họ chẳng ích lợi gì. - Thế này nhé, bác Hasso. - Tôi nói - bác cứ việc ngồi đây bao lâu tùy thích. Tôi có việc phải đi. Rượu cô nhắc ở trong tủ áo ấy, nếu bác thích uống thứ ấy hơn. Còn đây là rượu rum. Có cả báo đấy. Đến chiều bác hãy thử rủ bác gái ra khỏi nhà lấy một lần xem sao. Đến rạp chiếu phim chẳng hạn. Tốn kém cũng ngang như ngồi hai giờ trong tiệm cà phê, mà lại bổ ích hơn hẳn. Khẩu lệnh hôm nay là: “Quên đi, chớ có suy nghĩ!”. Tôi vỗ vai ông với ít nhiều áy náy trong lương tâm. Dẫu rằng rạp chiếu phim bao giờ cũng tốt. Ở đó ai cũng có thể mơ mộng chút đỉnh.
Cửa phòng bên mở toang. Bà vợ khóc nức nở khiến ai ở ngoài cũng nghe rõ. Tôi đi dọc hành lang. Có ai nép mình phía sau cánh cửa buồng tiếp theo. Người đó đang nghe ngóng. Mùi nước hoa thoang thoảng bay ra. Đó là buồng của Erna Boenich, nữ thư ký tư. Quá ăn diện so với đồng lương của cô ta. Nhưng mỗi tuần sếp của cô ta lại một lần bắt cô ta ghi chép thâu đêm suốt sáng. Và thế là ngày hôm sau cô ta hết sức cau có. Để bù lại, tối nào cô cũng đi nhảy. Erna tuyên bố lúc cô ta không còn nhảy được nữa cũng sẽ là lúc cô ta hết thiết sống. Cô ta có hai nhân tình. Anh này yêu và tặng hoa cô ta. Chàng kia được cô ta yêu và cho tiền.
Bên cạnh cô ta: đội trưởng đội kỵ mã, bá tước Orlop, người Nga lưu vong, vũ công, bồi bàn, đĩ đực với hai bên tóc mai đã ngả hoa râm, một tay chơi ghi ta tuyệt vời, tối tối cầu xin Đức mẹ Kadan ban cho chân điều hành tiếp tân trong một khách sạn cỡ vừa. Hễ sau rượu là mau nước mắt. Phòng bên cạnh: bà Bende, hộ lý trong một cư xá dành cho trẻ sơ sinh. Bà đã năm mươi tuổi. Chồng năm lại trong chiến tranh. Hai con chết năm 1918 vì suy dinh dưỡng. Bà có một con mèo tam thể. Nó là tài sản duy nhất của bà.
Bên cạnh nữa... lão Muynler, cố vấn kế toán đã nghỉ hưu, theo dõi sổ sách cho một hội chơi tem. Một bộ sưu tập tem sống, ngoài ra chẳng là gì cả. Con người sung sướng.
Tôi gõ cánh cửa tiếp theo. - Thế nào George, - tôi nói - vẫn chưa có tin gì sao?
George Block lắc đầu. Chú là sinh viên năm thứ ba. Để theo học được ba năm đó, chú đã phải làm việc hai năm ở mỏ. Giờ đây số tiền dành dụm ấy đã sắp cạn, chỉ đủ nuôi chú thêm hai tháng. Chú chẳng thể quay lại mỏ... Ở đó lúc này thiếu gì thợ không việc làm. Chú xoay xở mọi cách kiếm kế sinh nhai. Chú chạy chân phát quảng cáo cho một hãng sản xuất bơ thảo mộc vừa được một tuần thì hãng này bị vỡ nợ. Sau đó ít lâu, xin được việc đi giao báo, chú đã thở phào. Ba ngày sau, lúc tờ mờ sáng, chú đã bị hai tên đội mũ kết chặn đường, giật xấp báo của chú, xé tan và cảnh cáo đừng để chúng trông thấy chú lần thứ hai trong cái nghề không mảy may liên quan gì tới chú này. Bản thân bọn chúng cũng khối thằng mất việc rồi. Tuy nhiên sáng hôm sau chú vẫn đi, dẫu đã phải đền số tiền số báo bị xé. Một tên nào đó tông xe đạp hất chú té nhào. Xấp báo bay xuống bùn. Chú lại phải đền thêm hai mác nữa. Chú đi lần thứ ba và trở về với quần áo rách bươm, mặt mũi bầm dập. Chú đành bỏ việc. Giờ đây, ngày nào chú cũng ngồi lì trong phòng, tuyệt vọng, và chúi đầu học như điên, tuồng như việc học hành còn giúp ích gì cho chú. Mỗi ngày chú chỉ ăn một bữa. Trong khi chú có theo học hay không theo học các năm sau cũng thế cả thôi... Ngay giả thử chú có cầm bằng trong tay, thì sớm nhất cũng phải chục năm sau chú mới hòng kiếm nổi một chỗ làm. Tôi đẩy bao thuốc về phía chú: “Thây kệ việc học hành đấy, George. Tôi đây cũng đã từng học. Sau này lúc nào chú bắt đầu lại chẳng được”.
Chú lắc đầu. - Trước kia, hồi ở mỏ về, tôi đã thấm thía rồi. Chỉ cần buông sách vở một ngày là sẽ quên hết, và tôi không đủ sức làm lại lần thứ hai đâu.
Gương mặt xanh xao với đôi tai vểnh và cặp mắt cận thị, thân hình gầy đét với bộ ngực lép kẹp... Khốn nạn thân chú !- Vậy hãy gắng lên, George.- Chú cũng chẳng còn đâu cha mẹ.
Nhà bếp. Một cái đầu lợn lòi nhồi. Vật tưởng niệm ông Zalepski quá cố. Chiếc máy điện thoại. Cảnh tranh tối tranh sáng. Nồng nặc mùi hơi ga và mỡ hôi. Cánh cửa hành lang với nhiều danh thiếp dán bên cạnh nút chuông. Trong đó có cả danh thiếp của tôi.- Robert Lokhamp, sinh viên triết, hai hồi chuông dài.- Nó đã vàng ố. Sinh viên triết. Không nghi ngờ gì nữa! Qua từ lâu rồi. Tôi theo cầu thang xuống nhà, đến tiệm cà phê Quốc Tế.


***
Tiệm Quốc Tế là một cái ống lớn, tối tăm, mù mịt khõi với nhiều phòng hậu. Phía trong, cạnh quầy là chiếc đàn dương cầm. Nó đã lạc điệu, vài dây bị đứt, và dãy phím bằng ngà voi cũng long mất một số; nhưng tôi yêu con ngựa bạch can đảm dai sức ấy. Nó đã cùng tôi chia sẻ năm tháng cuộc đời tôi hồi tôi được nhận vào chơi dương cầm trong tiệm.
Những tay lái gia súc tụ tập với nhau trong những phòng hậu của tiệm cà phê, đôi khi cả những anh hàng chợ nữa. Các ả gái điếm ngồi ở phòng ngoài.
Tiệm vắng tanh. Chỉ có anh bồi chân bẹt Alois đứng sau quầy rượu. - Như mọi lần? - Gã hỏi.
Tôi gật đầu. Gã mang lại cho tôi một ly vang pha rum. Tôi ngồi xuống bàn, thẫn thờ nhìn phía trước. Một tia mặt trời xám lạnh chiếu chếch qua cửa sổ, dừng lại trên những chai rượu mạnh xếp trên giá. Chai rượu anh đào đỏ rực như một viên hồng ngọc.
Alois súc sạch các ly. Con mèo của chủ tiệm nằm gừ gừ trên nắp dương cầm. Tôi thong thả rít thuốc lá. Không khí khiến tôi buồn ngủ. Cô gái hôm qua có giọng nói đến lạ. Trầm, hơi đục, gần như khàn khàn, nhưng vẫn êm ái.- Cho mượn vài tờ tạp chí đây, Alois, - tôi nói.
Có tiếng kẹt cửa. Roda bước vào. Roda, ả điếm nghĩa trang, được mệnh danh là “con ngựa sắt”. Ả mang cái tên đó bởi ả rất dai sức. Ả định uống một tách socola. Sáng chủ nhật nào ả cũng tự đãi mình một tách tại đây để rồi còn đi Burgdorf thăm con ả.
- Chào anh Robert.
- Chào cô, Roda. Con nhóc nhà cô sao rồi?
- Em đi thăm cháu bây giờ đây. Nhìn này... em mang theo cho nó đấy.
Ả lôi trong hộp ra một con búp bê hai má đỏ chót và ghì nó vào bụng. - Mẹ...mẹ,- con búp bê kêu. Mắt Roda sáng rõ lên.
- Tuyệt vời!- Tôi nói.
- Chú ý nhé! Ả ngả con búp bê vè phía sau. Nó đóng sập hàng mi lại.
- Hết tầm đấy, cô Roda!
Ả lấy làm thỏa mãn và cất con búp bê đi.
- Anh biết thông cảm phần nào với những chuyện như thế này, Robert ạ. Anh sẽ là một người chồng tốt.
- Chà chà. Tôi ngờ vực nói.
Roda rất quyến luyến con ả. Ba tháng trở về trước khi con bé chưa biết đi, ả giữ nó bên mình, trong phòng ả. Vẫn ổn, mặc dù cái nghề của ả, bởi cạnh đó có một gian xép nhỏ.
Tối tối dẫn khách chơi về, ả thường viện một cái cớ gì đó buộc khách chờ một lát ở ngoài rồi hối hả vào nhà, đẩy chiếc xe nôi sang căn phòng xép, khóa cửa thông giữa hai phòng, rồi mới mời khách vào. Nhưng tiết tháng chạp mà con bé phải rời căn phòng ấm sang gian xép giá lạnh quá thường xuyên, thành thử nó bị cảm lạnh và hay gào toáng lên ngay giữa lúc ả đang hành nghề. Roda buộc lòng sống xa con gái, dù rất đau lòng. Ả gửi con vào một trại trẻ đắt tiền. Tại đó ả được xem như một quả phụ đoan chính. Nếu không thế chắc gì người ta đã nhận con ả.
Roda đứng dậy.- Thứ sáu anh đến chứ?
Tôi gật đầu.
Ả nhìn tôi.- Anh hẳn biết có chuyện gì?
- Tất nhiên.
Tôi hoàn toàn chẳng biết có chuyện gì, nhưng tôi cũng chẳng thiết hoir thử. Tôi đã quen nết như vậy trong cái năm chơi dương cầm ở tiệm này. Cứ thế hóa ra lại thoải mái nhất. Cũng như tôi anh anh em em với tất cả các ả điếm, không thể khác được.
- Tạm biệt, anh Robert.
- Tạm biệt, Roda.
Tôi còn nán lại ngồi thêm lát nữa. Nhưng tôi không có được sự thư thái mơ màng đích thực như trong những ngày tôi coi tiệm Quốc Tế là một dạng tổ ấm chủ nhật của mình. Tôi uống thêm một ly rum, vuốt ve con mèo rồi bỏ đi.
Suốt ngày tôi lang thang đây đó. Tôi không biết mình nên làm gì và cũng chẳng dừng ở bất cứ đâu được lâu. Xế chiều, tôi về xưởng. Tôi gặp Koester: cậu ta đang sửa chiếc Cadilac. Trước đây ít lâu, chúng tôi đã mua chiếc xe cũ kỹ ấy với giá rẻ mạt. Giờ đây chúng tôi vừa tân trang lại nó một cách kỹ lưỡng, và Koester đang tô điểm hoàn chỉnh nó. Đây là một món hời. Chúng tôi hy vọng sẽ trúng to. Tôi ngại rằng khó lòng bán nổi chiếc xe. Vào thời buổi khó khăn này ai ai cũng muốn tậu những chiếc xe nhỏ, chứ đâu ham một chiếc xe buýt kềnh càng như nó. - Bọn mình kẹt rồi, Otto ạ,- tôi nói.
Thế nhưng Koester vẫn tin tưởng. - Người ta chỉ kẹt với những chiếc xe giá phải chăng thôi, Robby ơi, - cậu ta giải thích.- Những chiếc xe rẻ hoặc cực đắt lại bán rất chạy, thời nào cũng vẫn có những kẻ sẵn tiền, hoặc làm ra vẻ ta đây sẵn tiền.
- Gotfrit đâu nhỉ? Tôi hỏi.
- Chắc lại hội họp chính trị gì đấy.
- Điên rồ! Cậu ta muốn gì ở đó?
Koester cười.- bản thân cậu ta cũng không biết. Hình như mùa xuân khiến cậu ta ngứa ngáy tay chân. Lúc nào cậu ta chẳng kiếm một cái gì đó mới mẻ.
- Có thể.- tôi nói. Nào, mình giúp cậu một tay. Hai đứa chúng tôi hì hục đến xẩm tối.- Nghỉ thôi! - Koester bảo. Chúng tôi rửa ráy. Cậu biết mình có gì trong này không? Cậu ta hỏi, tay vỗ ví.
- Gì thế?
- Vé xem đấu bốc tối nay. Một đôi. Cậu sẽ cùng đi hả? Tôi do dự. Cậu ta ngạc nhiên nhìn tôi. Stinlinh chọi với Vankher nhé - cậu ta nói- Một trận đấu hay phải biết.
- Rủ Gotfrit ấy, tôi đề nghị và cảm thấy mình lố bịch vì đã không nhận lời. Nhưng tôi không có cảm hứng đi cho lắm, chẳng hiểu vì sao.
- Cậu có dự định gì rồi chăng? Cậu ta hỏi.
- Không.
Cậu ta nhìn tôi.
- Mình cần về nhà- tôi nói – Viết thư và những việc đại loại. Cũng phải có lần...
- Cậu ốm hay sao? Cậu ta lo lắng hỏi.
- Ồ không, không một mảy may. Có lẽ mùa xuân cũng khiến mình cảm thấy ngứa ngáy.
- Thôi được, tùy cậu.
Tôi tha thẩn đi về nhà. Nhưng khi ngồi trong buồng mình rồi, tôi lại chửng biết nên bắt đầu làm gì. Tôi do dự dạo quanh trong buồng. Giờ đây tôi không còn hiểu thật ra tôi muốn về vì lẽ gì. Cuối cùng tôi đi qua hành lang lại thăm George. Tôi va phải bà Zalepski. - Úi chà- bà sửng sốt nói – cũng ở nhà cơ đấy?
- Khó lòng chối cãi. Tôi hơi bực bội đáp.
Bà lúc lắc mái đầu với những búp tóc hoa râm.- Không đi chơi đâu sao? Kỳ lạ gớm.
Tôi không ngồi lại lâu với George. Sau mười lăm phút tôi trở lại buồng mình. Tôi ngẫm nghĩ xem mình có thèm nhấp chút gì không. Nhưng tôi không thấy thèm. Tôi ngồi xuống cạnh cửa sổ, nhín xuống đường phố. Hoàng hôn lướt trên nền nghĩa trang với những cặp cánh của lời dơi. Nền trời phía sau nhà công đoàn xanh như một trái táo non. Bên ngoài, đèn đường đã bậ; nhưng chưa đủ tối nên ánh sáng của chúng như run rẩy. Tôi lần tìm dưới chồng sách mảnh giấy có ghi số điện thoại. Rốt cuộc thì... tôi có thể gọi thử một lần chứ sao. Thậm chí tôi đã gần như hứa hẹn sẽ gọi điện cho nàng kia mà. Đã chắc gì nàng có mặt ở nhà đấy.
Tôi đi ra tiền sảnh, nơi đặt máy điện thoại, nhấc ống nghe lên và xin số. Trong khi đợi trả lời, tôi cảm giác như từ ống loa đen thoát ra một làn sóng êm ái, một niềm hy vọng sẽ sáng. Cô gái có nhà. Khi cái giọng trầm hơi đục của nàng đột nhiên cất lên một cách phi thường trong gian phòng chờ của bà Zalepski, - giữa những cái đầu lợn lòi, hơi mỡ và xoong nồi xủng xoảng, - khe khẽ và hơi chậm rãi như thể nàng cân nhắc từng chữ, thì nỗi bực bội của tôi bỗng chốc tan biến. Tôi móc lại ống nghe sau khi, thay vì chỉ hỏi cho biết tin , đã hẹn được với nàng một cuộc gặp gỡ vào ngày kia. Bỗng chốc mọi thứ đối với tôi không còn u ám như trước nữa. Rõ nhiên, tôi nghĩ và lắc đầu. Rồi tôi lại nhấc ống nghe, gọi cho Koester.
- Cậu vẫn còn giữ vé đấy chứ, Otto?
- Còn.
- Hay lắm. Mình sẽ đi xem đấu bốc với cậu.


***


Sau đó chúng tôi còn la cà khá lâu trong thành phố về đêm. Đường phố sáng sủa và vắng tanh. Những tấm biển quảng cáo nhấp nháy. Trong các ô trưng bày hàng, đèn cháy sáng rực một cách vô ích. Trong một gian kính thấy sừng sững các hình nộm trần nhồng nhộng với những mái đầu tô vẽ lòe loẹt. Trông ma quái và thác loạn. Bên cạnh, lấp lánh đồ nữ trang. Rồi đến một cửa hàng lớn tắm mình trong ánh sáng trắng chẳng khác gì một thánh đường. Các ô kính ngồn ngộn hàng tơ lụa sặc sỡ, bóng bảy. Trước rạp chiếu phim chồm hổm những hình hài nhợt nhạt, đói ăn. Bên cạnh họ, choáng lộn một chi điếm của một của hàng thực phẩm. Đồ hộp xếp chồng lên nhau như những ngọn tháp bằng thiếc, những trái táo mềm quý hiếm nằm trên nệm bông, một dãy ngỗng béo treo lủng lẳng như quần áo trên dây phơi, những ổ bánh mỳ nâu tròn xen giữa những chiếc xúc xích hun khói chắc nịch, chùm dăm bông và pate cắt khoanh lấp lánh sắc hồng và vàng dịu.
Chúng tôi ngồi xuống một chiếc ghế băng đặt cạnh cửa hàng. Trời mát lạnh. Mặt trăng như một ngọn đèn hồ quang lơ lửng trên các mái nhà. Quá nửa đêm đã lâu. Gần đó trên đường cái, những người thợ dựng một mái lều. Họ sửa chữa đường xe điện. Những chiếc máy quạt gió kêu phè phè, và những chùm tia lửa bắn tung tóe bên trên những dáng người tối sẫm, khom mình nghiêm trang. Cạnh họ, những chảo nhựa đường bốc khói nghi ngút như những thùng thịt kho. Chúng tôi theo đuổi những ý nghĩ của mình.
- Nực cười là một chủ nhật như thế này, phải không Otto?
Koester gật đầu.
- Thật ra mình hoàn toàn vui mừng khi nó qua đi. Koester nhún vai. Có lẽ mình đã quen với lối sống nhàm chán, tới một chút tự do cũng đủ khiến mình khó chịu.
Tôi dựng cổ áo lên. Có cái gì phản bác lại cuộc sống của bọn mình chăng, Otto?
Cậu ta nhìn tôi và mỉm cười. Một cái gì hoàn toàn khác đã phản bác lại nó rồi còn đâu, Robby.
- Đúng vậy. Tôi thừa nhận.- Dẫu sao...
Ánh sáng gắt của chiếc máy khoan dùng khí nén khiến mặt đường nhựa xanh ngắt lên.
Căn lều tỏa sáng từ bên trong của những người thợ trông như một quê hương nhỏ ấm áp.
- Cậu bảo thứ ba tới chiếc Cadilac đã xong chưa? Tôi hỏi.
- Có thể- Koester đáp – Sao kia?
- Ồ, hỏi vậy thôi...
Chúng tôi đứng lên đi về nhà. Hôm nay mình hơi điên điên sao ấy, Otto ạ. Tôi nói.
- Ai cũng có lúc vậy cả. Ngủ ngon nhé, Robby.
- Cả cậu nữa, Otto!
Tôi thức ngồi trong phòng mình lát nữa. Gian buồng nhỏ bỗng chốc không còn vừa mắt tôi chút nào. Chùm đèn quái dị, ánh sáng quá chói, những chiếc ghế bành tơi tả, lớp vải sơn trên trần tầm thường đến thảm hại, bồn rửa mặt, cái giường bên trên treo bức tranh vẽ trận Oateclo... Quả thật không thể dẫn về đây một con người đứng đắn, tôi nghĩ. Một phụ nữ càng không thể. May lắm là một ả điếm từ tiệm Quốc Tế.
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0
 
III


Sáng thứ ba, chúng tôi ngồi trong sân trước xưởng ăn điểm tâm. Chiếc Cadilac đã sửa xong. Lenz cầm trong tay một tờ giấy và nhìn chúng tôi vẻ hí hửng. Là trùm quảng cáo của chúng tôi, Lenz vừa đọc cho Koester và tôi nghe một lời rao hàng mà cậu ta mới thảo ra để bán chiếc xe. Lời rao mở đầu bằng câu: “Kỳ nghỉ bên bờ biển phương Nam trong một chiếc xe lộng lẫy”. Một thứ hổ lốn nửa thi ca nửa tụng ca.
Koester và tôi lặng im một lát. Chúng tôi còn phải tĩnh trí lại sau cái cơn lũ tưởng tượng đầy hoa mỹ ấy. Lenz ngỡ đâu chúng tôi đã bị chinh phục. - Đầy thi hứng hả? - Cậu ta hãnh diện hỏi - Vào thời đại thực dụng phải biết tỏ ra lãng mạn, đó là mánh khóe. Những sự trái ngược thu hút nhau mà lại.
- Nhưng không phải vào lúc làm tiền. Tôi đáp.
- Không ai mua xe hơi để đầu tư, chú em hiểu chưa?- Gotfrit lên lớp vẻ bài bác- Người ta mua chúng để mà tiêu tiền; và chính đây là điểm khởi đầu của chủ nghĩa lãng mạn, chí ít thì cũng dưới con mắt một nhà kinh doanh. Còn đối với phần lớn thiên hạ, thì đó thậm chí là điểm kết thúc của họ. Cậu nghĩ sao, Otto?
- Cậu biết không...- Koester thận trọng mở đầu.
- Dài lời mà làm gì - Tôi ngắt lời Otto - Đó là bài quảng cáo cho một khu nghỉ hoặc một loại kem trang điểm, nhưng không phải cho xe hơi.
Lenz chực mở miệng.
- Thong thả đã nào - Tôi tiếp – Hẳn cậu phải cho rằng tụi mình là định kiến, Gotfrit ạ. Vì thế mình đề nghị cậu: chúng ta hãy hỏi thử Jupp. Đó là tiếng nói của nhân dân.
Jupp là người làm công độc nhất của chúng tôi, một thiếu niên mười lăm tuổi, vừa giúp việc vừa học nghề ở xưởng. Chú đảm nhiệm máy bơm xăng, sửa soạn bữa điểm tâm và dọn dẹp buổi chiều. Chú có vóc người nhỏ nhắn, gương mặt đầy tàn nhang, và đôi tai vểnh nhất mà tôi từng biết. Koester nói rằng ngộ Jupp có rơi khỏi máy bay thì cũng chẳng việc gì. Với đôi tai ấy chú sẽ hạ xuống đất êm ru.
Chúng tôi gọi chú lại gần, Lenz đọc chú nghe bài quảng cáo - Mày sẽ quan tâm đến một chiếc xe như vậy chứ, Jupp? - Koester hỏi.
- Một chiếc xe ư? Jupp hỏi lại.
Tôi cười. - Tất nhiên là một chiếc xe - Gotfrit càu nhàu - Dễ mày tưởng một con cào cào chắc?
- Nó có trục cam điều khiển từ trên, và phanh thủy lực không đã? Jupp vẫn thản nhiên hỏi.
- Ngu như bò, nó chính là chiếc Cadilac của bọn tao. Lenz gầm lên.
- Vô lý.- Jupp cười, miệng ngoác đến tận mang tai.
- Thấy chưa, Gotfrit! Koester nói – Chủ nghĩa lãng mạn thời nay là thế đấy.
- Xéo về cái máy bơm của mày đi, Jupp, thứ con đẻ chết tiệt của thế kỷ hai mươi.
Lenz bất mãn biến vào cái văn phòng khổ để thêm vào bài quảng cáo chút nội dung kỹ thuật mà vẫn giữ được nguyên vẹn thi tứ của nó.


***


Vài phút sau, chánh thanh tra Bardich đột ngột xuất hiện ở cổng sân. Chúng tôi tiếp đón ông đặc biệt trân trọng. Ông là kỹ sư và giám định viên của công ty bảo hiểm xe hơi “Phượng Hoàng”, một nhân vật quan trọng có thể đưa lại cho chúng tôi nhiều mối sửa xe. Chúng tôi hết sức ăn ý với ông. Là kỹ sư, ông sắc sảo như quỷ Sa tăng, không để lọt một chút gì thật đấy, nhưng là chuyên gia sưu tầm bươm bướm thì ông lại mềm như bún. Ông có một bộ sưu tập lớn, và lần nọ chúng tôi đem tặng ông một con bướm to bự lạc vào xưởng chúng tôi hồi đêm. Bardich tái mặt đi và trịnh trọng hẳn lên khi chúng tôi trao con bướm cho ông. Đó là con bướm Đầu Lâu, một loài cực hiếm mà bộ sưu tập của ông còn thiếu. Ông không bao giờ quên ơn chúng tôi, và kể từ đấy, hễ ở đâu có xe hỏng ông lại mách chúng tôi. Để bù lại, gặp con bướm nào chúng tôi cũng bắt đem nộp ông.
- Làm một ly vermut nhé, ông Bardich? Lenz mời, đã tươi tỉnh trở lại.
- Không uống rượu chừng nào chưa tối. Bardich đáp. Đó là nguyên tắc triệt để của tôi.
- Cũng phải phá vỡ những nguyên tắc, nếu không chúng ta đâu đưa lại niềm vui. Gotfrit miệng nói tay rót rượu ra ly. Chúc cho tương lai của loài bướm đêm xám đỏ, loài bướm ngày óng ánh xà cừ và loài bướm sắc đuôi công!
Bardich do dự giây lát - Anh đã có lòng với tôi như vậy, tôi đâu thể từ chối - Ông nói và cầm ly rượu - Nhưng rồi ta sẽ cụng ly mừng những con bướm nhỏ xinh nữa. Ông mỉm cười ngượng nghịu tuồng như ông hé ra ít nhiều ngụ ý về một người đàn bà, cốt để mua vui. - Tôi vừa phát hiện được một loài bướm mới. Với những chiếc vòi lông.
- Trời đất! Lenz thốt lên. Hết lòng bái phục ông. Vậy ra ông là một nhà tiên phong, và tên tuổi của ông sẽ đi vào lịch sử tự nhiên!
Cả bọn cạn một ly nữa, mừng những chiếc vòi lông. Bardich quệt ria mép.- Tôi mang tin mừng lại cho các anh. Các anh có thể lấy chiếc xe Pho về. Ban giám đốc đã chấp thuận để các anh sửa.
- Tuyệt - Koester nói. - Nó sẽ có ích cho chúng tôi. Còn phần dự trù mà chúng tôi đã nêu thì sao?
- Cũng chấp thuận.
- Không bớt?
Bardich nháy mắt. Thoạt đầu mấy ông còn chưa chịu. Nhưng rốt cuộc...
- Một ly đầy mừng công ty bảo hiểm “Phượng Hoàng”! Lenz nói và lại rót rượu.
Bardich đứng lên cáo từ.- Các anh hình dung được không – ông nói khi đã cất bước, - cái bà ngồi trong chiếc Pho thế mà đã chết cách đây mấy ngày. Bà ta chỉ bị cứa rách da thịt. Hình như đã mất quá nhiều máu.
- Bà ta bao nhiêu tuổi? Koester hỏi.
- Ba mươi tư. - Bardich đáp - Có mang bốn tháng. Bảo hiểm hai vạn mác.


***


Chúng tôi lập tức phóng đi lấy chiếc xe về. Chủ nhân là một chủ hiệu bánh. Đêm nọ, ngà ngà say, lão đã lái xe đâm sầm vào một bức tường. Chị vợ lão bị trọng thương, còn bản thân lão bị xây xước qua gọi là.
Trong lúc móc chiếc xe để kéo đi, chúng tôi gặp lão trong ga ra. Lão lặng lẽ quan sát chúng tôi hồi lâu, co ro với tấm lưng mập ú và cái cổ ngắn, đầu hơi chúi về phía trước. Với sắc mặt bẹnh tật, mai mái như tất thảy các thợ làm bánh, trong bóng tối mờ mờ trông lão chẳng khác gì một con sâu bột kếch xù, ủ ê. Lão chậm chạp tiến lại gần chúng tôi.
- Bao giờ thì xe sửa xong? Lão hỏi.
- Quãng ba tuần. Koester đáp.
- Lão trỏ vào mui xe - Kể cả cái này phải không?
- Sao kia?- Koester hỏi – Nó vẫn còn nguyên vẹn mà.
Lão chủ hiệu bánh phác một cử chỉ nóng nảy. - Tất nhiên rồi. Nhưng tiện thể thêm một cái mui mới vẫn hơn chứ. Đây quả là một món khá bở cho các anh mà. Chúng mình thông cảm lẫn nhau, hả?
- Không được. Koester đáp.
Cậu ta biết tỏng bụng dạ lão già. Lão muốn ăn không một cái mui xe mới mà lẽ ra hãng bảo hiểm không phải chịu bằng cách nhập nhằng vào khoản sửa xe. Hai bên cãi vã một hồi. Lão già dọa hủy bỏ hợp đồng, dọa nhờ một xưởng xe biết điều hơn tính lại giá thành. Rốt cuộc, Koester đành nhượng bộ. Giá như chúng tôi không cần việc làm thì đời nào cậu ta chịu.
- Thấy chưa, sao không bằng lòng ngay cho rồi. - Lão chủ hiệu bánh nói với nụ cười nhếch mép. Mấy ngày tới tôi sẽ đến để lựa chọn chất liệu. Mầu be, tôi nghĩ vậy. Những màu dịu ấy.
Chúng tôi kéo chiếc xe đi. Ra ngoài rồi, Lenz chỉ vào nệm chiếc xe Pho. Trên đó loang lổ những vêt đen lớn - Máu của bà vợ vừa chết của lão. Lại còn nì nèo cho được một cái mui mới. Mầu be. Những màu dịu. Phục thật. Mình tin rằng lão dám vòi số tiền bảo hiểm cho cả hai mạng người lắm. Vợ lão đang có mang mà lại.
Koester nhún vai. Có lẽ lão tự nhủ hai chuyện đó chẳng liên quan gì tới nhau.
- Dám lắm - Lenz nói – Thì cũng có những kẻ xem luôn đó là cái may trong cái rủi của họ. Còn bọn mình thì vì thế thiệt béng năm chục mác tiền lời.


***
Buổi chiều, tôi viện cớ có việc phải về nhà. Tôi hẹn gặp Patosris Honman vào lúc năm giờ, nhưng không hé chút gì ở xưởng. Không phải vì tôi muốn giấu giếm; nhưng tôi bỗng cảm thấy khó lòng tin nổi chuyện ấy. Nàng hẹn gặp tôi tại một tiệm cà phê. Tôi chưa hề đến tiệm này; chỉ biết đó là một tiệm nhỏ và lịch sự. Hoàn toàn mù mịt, tôi tới nơi hẹn. Nhưng vừa bước chân vào, tôi đã hoảng hốt giật lùi. Căn phòng rặt bọn đàn bà mồm mép liến thoắng. Tôi đã sa vào một tiệm bánh ngọt điển hình dành cho các bà.
Phải gắng lắm tôi mới chộp nổi một bàn vừa được bỏ trống. Tôi khó chịu nhìn quanh. Ngoài tôi ra, trong tiệm chỉ có hai người đàn ông, cả hai trông đều dễ ghét.
- Cà phê, trà hay socola? - Gã bồi vừa hỏi vừa dùng khăn phủi vô số vụn bánh trên mặt bàn vào quần áo tôi.
- Cho một ly cô nhắc lớn. Tôi đáp.
Gã ta mang ly rượu lại. Nhưng đồng thời gã kéo theo một nhóm khách quen đang tìm chỗ, cầm đầu là một bà hộ pháp đã đứng tuổi đội mũ lông đà điểu.
- Bốn chỗ, xin mời! - Gã nói, tay chỉ vào bàn tôi ngồi.
- Khoan - Tôi đáp – Bàn này không trống. Tôi chờ một người mà.
- Không được đâu, thưa ông. - Gã bồi nói – Vào giờ này không có chỗ nào được dành trước cả.
Tôi nhìn gã. Đoạn tôi nhìn cái bà hộ pháp lúc này đã đứng sát bàn, tay nắm chặt thành ghế. Tôi ngó mặt bà và từ bỏ mọi ý định chống cự. Có dùng đến cả đại bác cũng không hòng lay chuyển quyết tâm của con người này, ấy là chiếm cho được bàn của tôi.
- Ít nhất anh cũng có thể đem thêm cho tôi một ly cô nhắc chứ? Tôi gắt lão bồi.
- Được ạ, thưa ông. Lại một ly lớn ạ?
- Phải.
- Xin có ngay! - Gã cúi mình.- Đây là bàn dành cho những sáu người cơ đấy, thưa ông. Gã nói vẻ xin lỗi.
Cái bà hộ pháp hình như cũng tham gia vào hội bài rượu. Bà ta nhìn chằm chằm vào ly rượu mạnh của tôi cứ như nó là một con cá ươn không bằng. Để chọc tức bà ta, tôi gọi thêm một ly nữa và giương mắt ngó trả. Bỗng tô cảm thấy toàn bộ những việc mình sắp làm thật nực cười. Tôi muốn gì ở đây? Và tôi muốn gì ở cô gái? Thậm chí tôi không hề biết liệu mình có nhận nổi mặt nàng giữa đám người hỗn độn và ồn ào này không. Tôi bực mình uống ực một hơi hết ly cô nhắc.
- Xin chào! Có ai nói sau lưng tôi.
Tôi đứng phắt dậy. Nàng đứng đó, và cười. - Anh bắt đầu kịp thời đấy nhỉ! - Tôi đặt chiếc ly mà tôi vẫn cầm trên tay xuống mặt bàn và bỗng nhiên luống cuống. Trông cô gái hoàn toàn khác với hình ảnh tôi lưu giữ trong trí nhớ. Giữa cái đám đàn bà phốp pháp đang nhồm nhoàm bánh ngọt kia, nàng như một nữ kỵ sĩ trẻ trung thanh mảnh, điềm tĩnh, tự tin đến rạng rỡ và xa vời. “Giữa nàng và ta không bao giờ nên chuyện gì được.”- Tôi tự nhủ và hỏi nàng:
- Cô vào lối nào mà như ma hiện vậy? Nãy giờ tôi không rời mắt khỏi cửa mà.
Nàng chỉ tay sang phải - Ở đằng kia có một lối vào. Nhưng tôi đến muộn, anh có chờ lâu không?
- Lâu gì đâu. Hai ba phút là cùng. Tôi cũng vừa đến tức thì.
Đám các bà ngồi cùng bàn lặng hẳn đi. Tôi cảm thấy sau gáy ánh mắt khinh thị của bốn bà mẹ khôn ngoan.
- Chúng ta định ngồi lại đây chăng? Tôi hỏi.
Cô gái lướt mắt nhìn quanh chiếc bàn. Nàng khẽ nhếch miệng, nàng tinh nghịch nhìn tôi. - Tôi e rằng ở tiệm cà phê nào cũng thế cả thôi.
Tôi lắc đầu. - Miễn vắng hơn. Tiệm này là cái tổ quỷ, ngồi đây đâm mặc cảm đầy người. Tốt nhất là chúng ta hãy tới một quán rượu.
- Quán rượu ấy à? Có những quán rượu mở cửa giữa ban ngày, ban mặt sao?
- Tôi biết có một quán - Tôi nói – Tất nhiên ở đấy rất yên tĩnh. Nếu như cô muốn...
- Ừ thì, cũng có lúc...
Tôi ngước nhìn. Trong khoảnh khắc tôi không hiểu nổi ý nàng. Tôi chẳng hề phản đối sự mai mỉa, với điều kiện nó không chĩa vào tôi; nhưng lương tâm tôi áy náy.
- Nào ta đi. Nàng nói.
Tôi vẫy gã bồi - Ba ly lớn cô nhắc – Gã trai bất hạnh gầm gừ với cái giọng như thể gã muốn thanh toán một khách hàng ở dưới mồ - Ba mác ba mươi xu.
Cô gái quay lại - Ba ly cô nhắc trong ba phút sao? Một tốc độ mới tuyệt chứ!
- Trong đó có hai ly từ hôm qua kia.
- Rõ đồ dối trá. Bà người hộ pháp ngồi bên bàn rít lên sau lưng tôi. Bà nín lặng như thế là quá lắm rồi.
Tôi quay lại, cúi mình - Chúc một lễ giáng sinh vui vẻ, thưa các quý bà! - Rồi nhanh chóng bỏ đi.
- Anh vừa cãi nhau với họ đấy à? Cô gái hỏi khi chúng tôi ra đến ngoài đường.
- Chẳng có gì đặc biệt. Tôi chỉ không được lòng các bà nội trợ trong các gia đình nề nếp.
- Tôi cũng vậy. Nàng đáp.
Tôi nhìn nàng. Với tôi, nàng như xuất hiện từ một thế giới khác. Tôi tuyệt đối không hình dung nổi nàng là ai và sống ra sao.
Quán rượu là mảnh đất vững chắc của tôi. Fret, gã bồi rượu đứng sau quầy và đang lau chùi những chiếc ly lớn dành cho cô nhắc khi chúng tôi bước vào. Gã chào tôi như thể trông thấy tôi lần này là lần đầu. Như thể trước đây mới hai hôm chẳng phải chính gã đã dìu tôi về nhà. Gã từng trải nhiều, rất lịch lãm và đầy kinh nghiệm.
Quán rượu gần như trống trơn trừ một bàn. Hầu như bao giờ cũng vậy, Valentin Hauder ngồi đó. Tôi biết anh từ thời chiến tranh; chúng tôi ở cùng đại đội. Một lần, anh đã băng qua hàng rào trọng pháo mang lên tuyến trước cho tôi một phong thư mà anh tưởng của mẹ tôi gửi. Anh biết tôi mong tin mẹ và bà vừa mổ xong. Nhưng anh đã lầm... đó chỉ là tờ quảng cáo mũ bảo vệ bằng vải gai. Trên đường trở lại, anh bị một viên đạn găm vào đùi.
Sau chiến tranh ít lâu, Valentin được thừa hưởng một gia tài. Kể từ đó anh dốc nó vào rượu. Anh khẳng định phải uống mừng vì đã may mắn sống sót. Dẫu đã bao năm trôi qua cũng thế thôi. Anh lý giải rằng con người ta uống không biết thế nào là đủ để mừng cho đáng cái vận may ấy. Anh là một trong những người đeo đẳng một ký ức ghê sợ về chiến tranh. Chúng tôi, những kẻ khác, đã quên nhiều điều, nhưng anh thì anh nhớ như in từng ngày từng giờ.
Tôi thấy anh đã nốc khá nhiều rượu. Anh ngồi rũ gục và đờ đẫn trong cái xó của anh. Tôi giơ tay lên - Chào cậu, Valentin!
Anh ngước nhìn và gật dầu. Chào cậu, Robby!
Chúng tôi ngồi vào một góc. Gã bồi rượu đến bên. - Cô muốn dùng gì?- tôi hỏi cô gái.
- Có lẽ một ly Martini - Nàng đáp – Một ly Martini chua.
- Về khoản này thì Fret rất nghệ.
Fret cho phép mình mỉm một nụ cười - Cho tôi như thường lệ - Tôi nói.
Trong tiệm mát mẻ, mờ mờ tối. Nồng nặc mùi rượu gin và cô nhắc bị tràn ra. Hương thơm thoang thoảng như hương đỗ tùng và bánh mì. Trên trần treo lủng lẳng một chiếc tàu buồm nhỏ bằng gỗ. Phần tường phía sau quầy ốp đồng. Ánh sãng dịu của một ngọn đèn hắt ra những tia sáng đỏ, như thể đang phản chiếu một ngọn lửa ngầm dưới lòng đất. Trong số trụ đèn nhỏ rèn bằng sắt gắn trên tường chỉ cháy sáng có hai... một chỗ Valentin ngồi, một chỗ chúng tôi. Những cái chụp đèn được làm bằng giấy da thuộc vàng khè cắt ra từ một tấm bản đồ cũ kỹ trông chẳng khác gì những mảnh địa cầu nhỏ xíu tỏa sáng.
Tôi hơi bối rối, không biết nên bắt chuyện cách nào. Có thể nói tôi hầu như không quen biết cô gái, và càng nhìn nàng lâu bao nhiêu, tôi càng cảm giác nàng xa lạ với mình bấy nhiêu. Đã lâu lắm rồi tôi không ngồi với ai như thế này; tôi đã mất thói quen ấy. Tôi thạo chuyện trò với cánh đàn ông hơn. Ban nãy ở tiệm cà phê tôi thấy quá ồn ào. Còn lúc này, với tôi thốt nhiên lại quá im ắng. Im ắng tới mức mỗi lời đều hóa ra quan trọng, khiến khó mà nói năng được tự nhiên. Tôi hầu như ao ước được trở lại tiệm cà phê.
Fret mang rượu ra. Chúng tôi uống. Rượu rum mạnh và thơm mát, mang hương vị mặt trời. Đây là thứ có thể uống không sợ say. Tôi uống cạn và trao ngay chiếc ly cho Fret.
- Cô thích quán này chứ? Tôi hỏi.
- Cô gái gật đầu.
- Thích hơn tiệm bánh ngọt đằng kia chứ?
- Tôi căm ghét các tiệm bánh ngọt. Nàng đáp.
- Thế tại sao cô lại chọn chính nơi đó làm chỗ hẹn? Tôi sửng sốt hỏi.
- Tôi chẳng biết nữa – Nàng bỏ mũ xuống. - Chỉ bởi đầu óc tôi không nảy ra được địa điểm nào khác.
- Như vậy việc cô thích nơi đây lại càng hay. Chúng tôi thường lui tới quán này. Tối tối chúng tôi xem đây gần như là nhà mình.
Nàng cười - Điều đó không thực sự đáng buồn sao?
- Không – Tôi nói – Nó thích hợp với thời buổi này.
Fret mang cho tôi ly thứ hai. Gã đặt thêm một chai Havana màu xanh lá cây lên bàn. - Của ông Hauder gửi anh.
Từ cái xó của anh, Valentin vẫy sang và nâng ly. 31 tháng bảy năm 17, Robby! - Anh gọi, giọng nặng nề.
Tôi gật đầu với anh và cũng nâng ly.
Lúc nào anh cũng phải uống vì cái gì mới xong; tôi từng bắt gặp anh tối tối uống trong một quán dân quê khi mừng vầng trăng, lúc lại mừng một bụi tử đinh hương. Rồi anh nhớ tới cái ngày anh chui ra khỏi hầm trú ẩn, nơi trận chiến diễn ra đặc biệt khố liệt, và lại tạ ơn số phận đã cho mình sống sót và còn được ngồi đây.
- Bạn tôi đấy – Tôi bảo cô gái – Một đồng đội thời chiến tranh. Anh ta là người duy nhất tôi biết đã lẩy ra từ một tai họa khổng lồ chút may mắn cỏn con. Anh ta không còn biết bắt đầu ra sao với cuộc đời mình... bởi vậy, anh ta sung sướng chỉ vì mình còn sống.
Nàng trầm ngâm nhìn tôi. Một tia sáng rọi chếnh xuống trán và miệng nàng - Tôi có thể hiểu được lắm.
Tôi ngước nhìn - Nhưng xin cô chớ hiểu làm gì. Cô còn quá trẻ để hiểu diều đó.
Nàng mỉm cười. Một nụ cười nhẹ thoảng qua, chỉ hiện trên khóe mắt. Gương mặt nàng hầu như không thay đổi, nó chỉ sáng lên, sáng từ bên trong. - Quá trẻ ư? - Nàng nói – Đó chỉ là một từ ngữ vậy thôi. Theo tôi con người ta không bao giờ quá trẻ cả. Chỉ luôn luôn quá già.
Tôi im lặng một khoảnh khắc – Để bác lại điều cô nói, có thể viện ra vô số lý lẽ. - sau đó tôi đáp lại và ra hiệu Fret mang thêm chút gì cho tôi. Cô gái mới tự tin và thoải mái làm sao; còn tôi trái lại, cảm thấy mình cứng vụng như thanh gỗ. Tôi những muốn đưa đẩy một cuộc chuyện trò nhẹ nhàng vui nhộn, một cuộc chuyện trò thực sự, để sau đó, như thông thường, khi còn lại một mình, người ta còn nhớ đến nó. Lenz có cái tài đó, nhưng với tôi thì câu chuyện bao giờ cũng xoay ra vụng về, nặng nề. Lenz không phải không có lý khi khẳng định rằng về tài nói chuyện, tôi chỉ đáng đánh đổ đồng với ột thằng thư ký bưu điện.
May mà Fret biết điều. Thay vì mang cho tôi cái ly bé xíu như cái đê khâu, gã bưng ngay đến một cốc vang rõ lịch sự, đầy phè. Như vậy gã đỡ mất công chạy đi chạy lại, mà người ta không thể biết tôi nốc bao nhiêu. Tôi phải uống; tôi chẳng còn cách nào khác khả dĩ thoát khỏi tình trạng nặng nề trì đọng này.
- Cô dùng thêm một ly Martini nữa nhé? Tôi hỏi cô gái.
- Anh đang uống gì vậy?
- Rum đấy.
Nàng ngắm ly rượu của tôi. Anh vừa mới uống thứ đó xong kia mà!
- Phải – Tôi đáp – Tôi nghiện thứ này nhất.
Nàng lắc đầu - Tôi không hình dung nổi là nó lại ngon.
- Tôi không hoàn toàn biết nó có ngon hay không nữa.
Nàng nhìn tôi - Thế tại sao anh lại uống?
- Rum ấy à? - Tôi nói, phấn khởi vì đã vớ được một đề tài khả dĩ tán được ít nhiều. - Rum không liên quan gì lắm đến sự ngon miệng. Nó không đơn giản là một thứ đồ uống... mà đúng hơn là một người bạn. Một người bạn làm vợi đi mọi điều. Thay đổi cả thế gian. Và vì thế mà người ta uống... - Tôi đẩy chiếc ly sang bên.
- Nhưng để tôi gọi thêm cho cô một ly Martini nữa nhé?
- Một ly rum thì hơn. Tôi cũng muốn nếm thử xem sao.
- Hay lắm – Tôi đáp – nhưng đừng uống loại này. Nó quá nặng với những ai mới thử lần đầu. Cho một chai cocktay Barcardi đây. - Tôi gọi với sang Fret.
Fret mang ly lại. Gã còn bưng ra thêm một bát hạnh nhân muối và bạt cà phê rang. Để luôn cả đấy cho tôi - Tôi bảo gã.


***


Dần dà, câu chuyện trở nên trôi chảy và khéo léo. Nỗi hoài nghi biến mất, những lời lẽ tự tìm đến, và tôi cũng chẳng còn chú ý mình nói gì. Tôi tiếp tục uống, cảm thấy những làn sóng lớn êm ái xô tới trùm lên người, cảm thấy cái giờ khắc trống rỗng của hoàng hôn đang tự lấp đầy bằng những hình ảnh, và các giấc mơ lặng lẽ nối đuôi nhau tái hiện một cách phi thường trên những vùng u ám và hờ hững của sự sống. Những bức tường quán vươn dài ra, và nơi đây bỗng nhiên không còn là quán rượu nữa... mà là một xó xỉnh của thế giới, một góc nương thân, một gian hầm trú ẩn tối mờ bị vây giữa chiến trận hỗn mang muôn đời khốc liệt, trong đó chúng tôi ngồi náu mình và được xô đẩy đến gần nhau một cách khó hiểu xuyên qua bóng tối nhờ nhờ của thời gian. Cô gái thu mình trên ghế, xa lạ và bí ẩn, cứ như từ bờ bên kia của cuộc sống trôi dạt lại. Tôi nghe mình nói, nhưng tuồng như không phải tôi mà là một kẻ khác đang nói, có lẽ tôi đã từng mong ước được như gã. Những lời lẽ không còn đúng nữa, chúng biến đổi, xô đẩy nhau vào những lĩnh vực khác hơn nhiều màu sắc hơn là bản thân chúng khi phản ánh lại những biến cố nhỏ nhặt của đời tôi.... tôi biết chúng không còn trung thành với sự thật, rằng chúng trở nên khoác lác và dối trá, nhưng thây kệ... sự thật bi đát và nhạt nhẽo, chỉ tình cảm và ánh phản chiếu những ước mơ mới là cuộc sống.
Ánh đèn lấp lánh trong bồn rửa bằng đồng của quán rượu. Thỉnh thoảng Valentin lại nâng ly và lầm bầm một ngày tháng nào đó. Ngoài kia, dòng người và xe cộ cuồn cuộn xuôi ngược trong tiếng còi xe hơi ầm ĩ, tựa tiếng kêu của loài ác điểu. Hễ có ai mở cửa tiệm, phố xá lại chõ vào chỗ chúng tôi mà rít róng. Rít róng như một mụ già độc mồm độc miệng khỏe đố kỵ.
Khi tôi tiễn Patoris Honman về nhà, trời đã tối. Chậm rãi, tôi quay trở lại. Chợt tôi có cảm giác cô đơn và trống rỗng. Mưa lâm thâm. Tôi dừng chân trước một ô kính nhà hàng. Lúc này tôi nhận ra mình đã uống quá nhiều. Không, tôi không lảo đảo... nhưng dẫu sao tôi vẫn nhận rõ là mình đã trót quá chén.
Đột nhiên tôi nóng ran cả người. Tôi cởi cúc áo măng tô, hất mũ ra sau. Mẹ kiếp, một lần nữa tôi lại bị bắt quả tang! Vừa rồi tôi đã lảm nhảm những gì vậy? Tôi không dám ngẫm lại cho chính xác. Mà tôi cũng chẳng còn nhớ tí gì, đó là điều tệ nhất. Một mình nơi đây, trên đường phố lạnh lẽo rầm rầm tiếng xe bus, dưới con mắt tôi, mọi sự hoàn toàn khác trong cảnh mờ tối nơi tiệm rượu. Tôi thầm rủa mình. Cô gái hẳn có một ấn tượng rõ đẹp về tôi! Chắc chắn nàng đã để ý. Bản thân nàng hầu như có uống gì đâu. Khi chia tay, nàng chẳng nhìn tôi một cách lạ lùng là gì.
Chúa ơi! Tôi quay lại, và đụng ngay phải một lão thấp béo. - Rõ thật – Tôi giận dữ nói.
- Mở to mắt ra mà nhìn, đồ chổi cùn! Lão béo sủa.
Tôi nhìn lão trân trân.
- Không mấy khi được thấy người hay sao, hả? Lão tiếp tục sủa nhặng lên.
Lão nói trúng ý tôi - Người thì có – tôi nói – nhưng thùng bia đi tản bộ thì chưa.
Lão béo không cần suy nghĩ lấy một giây. Lão dừng ngay lại, phồng mang trợn mắt – Anh biết tôi khuyên anh gì không? - Lão rít lên – Đi mà vào sở thú! Những con chuột túi mơ mộng không có gì để tìm kiếm trên đường phố cả.
Tôi hiểu mình đụng phải một tay chửi bới có hạng. Dù chán ngán đến đâu cũng phải bảo tồn danh dự thôi.
- Xéo đường nào thì xéo, cái ngữ đẻ non thần kinh chập! Tôi nói và giơ cao bàn tay như để ban phước.
Lão chẳng thèm đếm xỉa đến lời tôi đe. - Về xịt bê tông vào sọ mày ấy, đồ óc chó khô! - Lão chửi.
Tôi chửi giả, gọi lão là quân chân bẹt đồi trụy, lão rủa tôi là đồ vẹt Kakadu đang kỳ thay lông; tôi rủa lão quân rửa xác chết thất nghiệp. Đáp lại, trong lòng đã hơi kính nể, lão mệnh danh tôi là đồ đầu bò ung thư. Để kết thúc, tôi tặng lão cái tên nghĩa trang bít tết di động. Gương mặt lão đột nhiên rạng rỡ – Nghĩa trang bít tết, hay! - Lão nói – Đây chưa biết từ này. Sẽ được ghi vào cẩm nang! Hẹn gặp lại... - lão huơ huơ chiếc mũ và chúng tôi chia tay nhau, người nọ phục người kia sát đất.
Cuộc đọ tài đã giải nhiệt cho tôi. Nhưng nỗi tức giận vẫn còn. Thậm chí nó càng tăng lên khi tôi tỉnh táo hơn. Tôi cảm giác mình như chiếc khăn tay sũng nước bị vắt kiệt. Nhưng dần dà, tôi không chỉ còn tức giận mình, tôi tức giận với hết thảy, kể cả cô gái. Cô ta chính là nguyên cớ khiến tôi say. Tôi dựng cổ áo lên. Thôi thây kệ, cô ta muốn nghĩ sao thì nghĩ... chí ít cô ta cũng được biết ngay từ đầu là cô ta đánh bạn với hạng người nào. Cầu cho quỷ tha ma bắt cả câu chuyện vừa rồi đi... cái gì đã xảy ra là đã xảy ra, không hòng cứu vãn được. Có lẽ như thế mà lại hay cơ đấy...
Tôi trở lại quán rượu và bây giờ mới thật sự nốc đến say bí tỉ.
 
(Còn tiếp)
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0
 
IV


Tiết trời trở nên ấm và ẩm ướt, mưa tầm tã mấy ngày ròng. Rồi trời quang mây tạnh, bắt đầu hửng nắng. Sáng thứ sáu, bước chân đến xưởng tôi thấy Mathindo Stox đang đứng ngoài sân, chổi cắp dưới nách, bộ mặt hải mã của mụ ra chiều xúc động.
- Cậu xem kìa, cậu Lokham, đẹp quá thể! Lần nào cũng cứ như có phép tiên ấy thôi.
Tôi đứng sững, bàng hoàng. Cây mận già bên máy bơm xăng qua một đêm đã rộ hoa.
Suốt mùa đông, nó đứng đó cong queo và trơ trụi, chúng tôi đã ngoắc lên nó các lốp xe cũ, treo bi đông đựng dầu lên cánh cho ráo, nó không được xem là gì khác ngoài một giá treo tiện lợi cho tất tật mọi thứ: từ chiếc giẻ lau cho tới vỏ động cơ... mới trước đây ít ngày, trên cây còn phấp phới đám quần áo vải gai tím than vừa giặt của cả bọn, hôm qua đây thôi còn chưa ai thèm để mắt đến nó... thế mà bây giờ đây, bỗng chốc qua một đêm, nó đã biến đổi như có phép màu, hóa thân thành một đám mây sắc trắng xen hồng, một đám mây hoa bừng sáng, tuồng như một đàn bướm vừa lạc vào cái sân bẩn thỉu của chúng tôi.
- Mà ôi chao là thơm - mụ Mathindo say sưa nói, mắt đảo lia lịa - thơm tuyệt... đúng như mùi rum của cậu...
- Tôi chẳng ngửi thấy gì cả.- Nhưng tôi lập tức hiểu ra. - Thơm mùi cô nhắc dành thết khách hàng thì đúng hơn – Tôi quả quyết.
Mụ kịch liệt phản đối – Cậu Lokham, cậu cảm lạnh mất rồi. Chưa chừng cậu cũng bị mọc u thịt trong mũi. Thời nay không mấy ai là không có u cả. Không, mụ Stox già lão này thính như chó săn ấy chứ, cậu cứ tin đi, đúng mùi rum mà... rum lâu năm...
- Được rồi, Mathindo...
Tôi rót cho mụ ly rượu rum rồi lại bên máy bơm xăng. Jupp ngồi đó. Chú đã có trước mặt một lô nhành hoa mới cắt cắm trong hộp sắt gỉ. - Thế này là nghĩa làm sao? - Tôi ngạc nhiên hỏi.
- Dành cho các bà khách – Jupp giải thích – Bà nào đến đổ xăng tôi đều biếu không một cành. Nhờ thế tôi đã bán được nhiều hơn mọi ngày chín chục lít. Cây này đáng giá ngàn vàng đó cậu Lokham ạ. Giả thử không có nó, khéo xưởng ta đến phải tự tạo ra một cây khác in hệt nó mất thôi.
- Mày là một thằng choai giỏi buôn bán đấy!
Chú cười ngoác miệng. Ánh nắng xuyên qua, khiến hai tai vểnh của chú trông như những ô cửa sổ nhà thờ màu hồng ngọc. - Tôi từng được chụp ảnh tận hai lần – chú phô – Đứng trước cái cây nhá!
- Nghe đây, mày sẽ còn trở thành ngôi sao màn bạc cơ đấy. Tôi nói, rồi đi sang chỗ cái hố, nơi Lenz vừa chui khỏi gầm chiếc Pho.
- Robby này – cậu ta nói – mình vừa sực nhớ ra. Tụi mình phải để tâm đến con bé của thằng cha Bindinh mới được.
Tôi đăm đăm nhìn cậu ta. - Cậu muốn nói gì kia?
- Thì đúng như mình nói đấy. Nhưng cậu nhìn cái gì mà cứ chòng chọc thế?
- Mình không nhìn chòng chọc...
- Thậm chí mắt còn ngây dại ra. Cô gái tên là gì ấy nhỉ? Pat, nhưng còn họ?
- Mình không biết. Tôi đáp.
Cậu ta đứng lên. - Cậu mà không biết? Cậu đã ghi địa chỉ của cô ta kia mà. Chính mình trông thấy hẳn hoi.
- Mình đánh mất mảnh giấy rồi.
- Đánh mất! Cậu ta đưa cả hai tay lên vò mớ tóc rậm vàng rơm. - Mình đã nhọc công với thằng cha Bindinh cả tiếng đồng hồ ở ngoài trời để như thế này đấy hẳn! Đánh mất! Xem nào, không chừng Otto lại có nó ấy chứ.
- Otto cũng không biết đâu.
Lenz nhìn tôi. - Đồ tài tử vứt đi! Còn tồi tệ hơn thế nữa! Cậu không biết rằng đó là cô gái tuyệt vời hay sao? Lạy Chúa! - Cậu ta ngước mắt trông trời – Rốt cuộc bọn mình đã gặp được của báu nhường ấy, thế mà cái đồ bù loong rầu rĩ này lại đánh mất địa chỉ!
- Mình hoàn toàn chẳng thấy cô ta có cái gì ghê gớm đến thế.
- Vì cậu là một con lừa – Lenz đáp – một thằng mặt nạc không biết chút gì vượt quá trình độ của lũ điếm ở tiệm Quốc Tế. Chính cậu ấy, ông nhạc công dương cầm ạ! Mình nhắc lần nữa cho mà biết: đó là một dịp may, dịp may hiếm có, cái cô thiếu nữ đó! Dĩ nhiên cậu thì biết cái cóc khô gì về chuyện này! Cậu có ngắm kỹ cặp mắt của nàng không nào? Dĩ nhiên không! Cậu chỉ chiêm ngưỡng độc ly rượu của cậu mà thôi.
- Câm mõm đi! - Tôi ngắt lời Lenz, khi nhắc tơí ly rượu, cậu ta đã vô tình khơi sâu vết thương còn há miệng.
- Và đôi tay nàng – cậu ta tiếp tục, chẳng thèm đếm xỉa đến tôi – đôi tay thon dài như của một cô em lai da màu, cái này thì Gotfrit khá sành, cậu có thể tin được. Đấng Moses thiêng liêng! Rốt cuộc cậu gặp được một cô gái đáng giá: xinh đẹp, tự nhiên, và đây mới là điểm quan trọng bậc nhất, nàng gây được bầu không khí... - cậu ta ngừng lời... - Cậu có hiểu thế nào là bầu không khí không đã?
- Là hơi vẫn bơm vào lốp xe. Tôi gắt gỏng.
- Biết ngay mà. - Cậu ta đai giọng vẻ thương hại và đầy khinh bỉ – hơi, sao không biết! Không khí, hào quang, sự tỏa sáng, ấm áp và bí ẩn... đó là thứ khiến sắc đẹp trở nên có hồn và sống động.. nhưng nói mà làm gì... bầu không khí của cậu là hơi rum cơ...
- Có câm đi không, tao lại đập vào sọ bây giờ. Tôi gầm gừ.
Nhưng Gotfrit vẫn tiếp tục lải nhải và tôi chẳng làm gì cậu ta cả. Cậu ta hoàn toàn không biết những gì đã diễn ra, cũng chẳng ngờ mỗi lời mình nói đều như xát muối vào ruột tôi. Nhất là những lời đả động đến rượu. Tôi đã đào sâu chôn chặt, đã hoàn toàn khuây khỏa; thế mà giờ đây cậu ta lại khơi lên hết. Cậu ta tán tụng cô gái không tiếc lời, và tôi cũng gần như tin mình đã thật sự buột khỏi , tay một cái gì đó hết sức đặc biệt, không còn mong thấy lại.


***


Sáu giờ chiều, tôi đến tiệm cà phê Quốc Tế trong tâm trạng bực bội. Đây là chốn nương thân của tôi; Lenz cũng thừa nhận với tôi như vậy. Khi bước chân vào, tôi ngạc nhiên thấy tiệm có vẻ rộn rã tợn. Trên quầy bày bánh ngọt và những chiếc ga tô to bự, anh chàng Alois chân bẹt đang chạy vào phòng trong với một khay đầy bộ uống cà phê kêu lanh canh. Tôi đứng sững. Cà phê đựng trong bình ư? Hẳn là ở đây phải có một lũ người say bét nhè đang nằm la liệt dưới gầm bàn.
Nhưng ông chủ quán giải thích cho tôi. Hôm nay người ta liên hoan chia tay với Lilly, cô bạn gái của Roda ở phòng trong. Tôi vỗ trán. Ừ nhỉ, tôi chả được mời đến dự là gì! Thậm chí tôi còn là người đàn ông độc nhất, như Roda đã nói đầy ngụ ý... vì kể làm gì cái thằng Kiki đồng tính cũng sẽ có mặt. Tôi vội vã quay ra, đi mua một bó hoa, một trái dứa, một cái mõ đồ chơi trẻ con và một thanh sô cô la.
Roda chào đón tôi với nụ cười của một mệnh phụ. Ả diện áo dài đen khoét rộng cổ và ngự ở đầu bàn. Những chiếc răng vàng của ả lóe sáng. Tôi hỏi thăm con nhóc của ả, gửi ả cầm về cho con bé chiếc mõ bằng nhựa và thanh sô cô la. Mặt ả sáng rỡ lên.
- Anh bao giờ cũng là một con người hào hoa, phong nhã! - Roda nói – Giờ thì lại đây, anh Robby, ngồi giữa hai chúng em đây này.
Lilly là bạn thân nhất của Roda. Ả đã qua một thời oanh liệt. Ả từng là nỗi thèm khát không bao giờ đạt được của mỗi ả điếm hạng xoàng: một gái chơi nơi khách sạn. Một gái chơi nơi khách sạn không khi nào đứng đường..., ả ở trong khách sạn và tiếp khách cũng tại đó. Hầu hết các ả điếm không làm được như thế... họ không có đủ váy áo và cũng chẳng đủ tiền để có thể chờ đợi lâu lâu mới có khách chơi. Tuy chỉ hành nghề trong những khách sạn tỉnh lẻ, nhưng suốt từng ấy năm, Lilly đã dành dụm ngót nghét bốn ngàn mác. Bây giờ ả muốn lấy chồng. Gã chồng tương lai của ả là một chủ hiệu nhỏ chuyên nhận bắc các loại ống dẫn. Biết tỏng quá khứ của ả, nhưng gã mặc kệ. Trong tương lai gã có thể yên tâm được; điếm mà lấy chồng lại đáng tin cậy. Các ả nếm đủ mùi đời rồi và đã chán ngấy. Các ả sẽ thủy chung.
Lilly sẽ cưới vào ngày thứ hai tới. Hôm nay Roda đãi một tiệc cà phê chia tay cô bạn thân. Các ả sẽ đến đông đủ để ngồi với Lilly lần chót. Sau lễ cưới, ả chẳng thể đặt chân đến chốn này.
Roda rót cho tôi một tách cà phê. Alois nhón chân đi vào với một chiếc bánh ga tô bự có rắc nho khô, hạnh nhân và vỏ chanh xanh tẩm đường. Roda xắt vào đĩa cho tôi một miếng rõ to. Tôi hiểu mình phải làm gì. Vẻ sành sỏi, tôi nếm một miếng và làm bộ mặt sửng sốt cực độ. - Cha mẹ ơi, thứ này chắc chắn không thể mua được ở tiệm...
- Bánh em tự làm đấy – Roda sung sướng khoe. Ả là một tay nấu nướng cừ khôi và rất thích được khen. Đặc biệt món thịt kho và bánh ga tô ả làm thì đố ai bì kịp. Con gái Bohem có khác.
Tôi đưa mắt nhìn quanh. Họ ngồi đó vây quanh bàn, những cô thợ trong vườn nho của Chúa, những kẻ sành người đời nhưng không biết dối lừa, những người lính của tình yêu... Oally, Người Đẹp, mới đây vừa bị đánh cắp mất con chó trắng trên một chuyến xe đêm;... Lina, bất chấp cái chân gỗ vẫn tìm được người tình; - Fritsi, ả điếm si mê chàng Alois chân bẹt, dẫu rằng nếu muốn, ả đã có thể sở hữu một căn hộ riêng lẫn tay nhân tình vẫn bao ả; … Margot với đôi má đỏ hây hây bao giờ cũng lượn lờ trong bộ cánh nàng hầu, nhờ đó chuyên vớ được khách sộp;... Marion, cô em trẻ nhất, rạng rỡ và vô tư lự;... Kiki, kẻ không được coi là đàn ông, bởi hắn mặc váy đàn bà và tô son điểm phấn;... Mimi, con vật tội nghiệp, đi đứng lúc nào cũng khó khăn do cái tuổi bốn mươi lăm và chứng giãn tĩnh mạch;... vài cô nàng bán bar và hầu bàn mà tôi không quen;.... cuối cùng là Mutsen, khách mời danh dự thứ hai, nhỏ thó, xám xịt, và nhăn nheo như một trái táo héo mùa đông, ai cũng tin cậy mụ, mụ là niềm an ủi, là chỗ dựa của những cô gái ăn sương, Mutsen với cái nồi xúc xích đến từ góc phố Nicolai là quán điểm tâm biết bay, là công sở lưu động về đêm, ngoài những chiếc xúc xích Frangfuot con con, mụ còn bán vụng thuốc lá, kẹo cao su và có thể còn bố thí.
Tôi biết cần xử sự ra sao. Không một lời đả động tới chuyện làm ăn, không một ám chỉ khiếm nhã vào tối nay...quên đi thành tích tuyệt vời của Roda đã khoác cho ả cái biệt danh “con ngựa sắt”, quên đi những dan díu tình ái của Fritsi với lão buôn gia súc Stefan Grigolait;... quên đi những điệu nhảy uốn éo của Kiki xung quanh giỏ bánh muối vào lúc tảng sáng. Cuộc trò chuyện này chỉ có thể làm danh giá cho các bà các cô.
- Cô chuẩn bị xong cả rồi chứ, Lilly? Tôi hỏi.
Ả gật đầu. - Em đã có sẵn của hồi môn từ lâu rồi.
- Món hồi môn tuyệt vời – Roda nói – Không thiếu từ cái khăn đăng ten trở đi.
- Người ta cần khăn đăng ten để làm gì? Tôi hỏi.
- Kìa anh Robby! - Roda nhìn tôi trách móc khiến tôi vội vã nói rằng nhớ rồi. Những cái khăn đăng ten... rồi chiếc thuyền buồm nhỏ bằng gỗ, dĩ nhiên rồi, chúng là biểu tượng thiêng liêng của hôn nhân, của thiên đường đã mất. Phải, tất cả bọn họ đâu có bản tính đĩ điếm, họ là những kẻ thất cơ lỡ vận do cuộc sống tư sản đưa lại. Mơ ước thầm kín của họ là chiếc giường cưới; chứ đâu phải lối sống trác táng. Nhưng họ không đời nào để lộ ra.
Tôi ngồi vào đàn dương cầm. Roda chỉ mong có thế. Cũng như tất thảy các cô gái này,ả yêu âm nhạc.
Để chia tay, tôi chơi lại một lần nữa tất cả các bài mà Lilly và các bạn của cô ưa thích. Mở đầu là bài Lời cầu nguyện của nàng trinh nữ. Tuy cái nhan đề không hoàn toàn thích hợp với bối cảnh nhưng đây cũng chỉ là một khúc hát đòi hỏi có kỹ thuật cao, nhiều luyến láy. Tiếp đến Dạ khúc của bầy chim nhỏ, Ráng hồng trên đỉnh Anpo, Khi tình yêu chết, Bạc triệu của chú hề, và cuối cùng: Tôi muốn trở lại quê hương, bài ca mà Roda đặc biệt yêu thích. Gái điếm là những kẻ chai sạn nhất, đồng thời cũng đa cảm nhất. Tất thảy các ả đều hát theo. Anh chàng Kiki đồng cô một mình một giọng.
Lilly ra về. Ả phải đi đón vị hôn phu của ả. Roda nồng nhiệt ôm hôn bạn. - Tốt đẹp cả nhé, Lilly! Đừng để bị bắt nạt nhé!
Lilly đi khỏi với hai tay ôm đầy quà tặng. Có quỷ thần chứng giám, gương mặt ả hoàn toàn đổi khác so với trước đây. Những nét trơ trẽn vốn hằn trên tất thảy những kẻ nào dính dáng đến thói đê tiện của con người giờ đã bị xóa sạch, gương mặt trở nên mềm dịu hơn và thật sự phảng phất một chút gì đó của nàng trinh nữ mới lớn.
Chúng tôi ra trước cửa vẫy theo Lilly. Đột nhiên Mimi òa khóc. Chính ả cũng từng có chồng. Trong chiến tranh, chồng ả chết vì lao phổi. Giá như anh tử trận thì ả đã được lĩnh một món tiền tuất nho nhỏ và không phải ra đứng đường. Roda vỗ về lưng ả. - Thôi nào, Mimi, đừng sướt mướt thế nữa! Vào đây, bọn ta làm thêm một ngụm cà phê nữa!
Cả đám kéo nhau trở vào cái tiệm Quốc Tế tối tăm chẳng khác gì một bầy gà lên chuồng. Thế nhưng không khí không được như trước nữa. - Để kết thúc, hãy chơi thêm một bài nữa đi, anh Robby! - Roda nói – cho chúng em tươi tỉnh lên tí!
- Được – Tôi đáp – Chúng ta hát bài Hành khúc anh em chiến hữu cũ nhé.
Sau đó tôi cũng cáo biệt. Roda còn giúi cho tôi một gói bánh ngọt nữa. Tôi tặng gói bánh cho thằng con của Mutsen lúc ấy vừa bắc xong chảo xúc xích buổi tối ở ngoài phố.
Tôi ngầm nghĩ xem nên làm gì bây giờ. Đến quán rượu thì tôi không muốn một chút nào, cũng chẳng thiết vào rạp chiếu phim; hay về xưởng vậy? Tôi phân vân ngó đồng hồ. Tám giờ tối. Lúc này Koester hẳn đã quay về. Có mặt cậu ta Lenz sẽ không thể lải nhải hàng giờ về cô gái nữa. Tôi bèn về xưởng.
Trong phòng sáng đèn. Không riêng trong phòng mà khắp sân đều sáng choang. Có một mình Koester ở đấy. - Làm trò gì đấy, Otto? - Tôi hỏi – Hay cậu bán được chiếc Cadilac rồi?
Koester cười. - Đâu có, Gotfrit nó chỉ rọi đèn một chút cho vui.
Cả hai chiếc đèn pha của chiếc Cadilac sáng rực. Chiếc xe được đẩy vào vị trí sao cho luồng đèn xuyên qua cửa sổ chiếu ra sân, xói vào giữa cây mận nở đầy hoa trắng như phấn, trông thật đẹp. Bóng tối ở hai bên trông chẳng khác gì biển đen rì rầm sóng vỗ.
- Tuyệt vời – tôi nói – Thế cậu ấy đi đâu rồi?
- Đi kiếm chút gì về ăn.
- Một ý kiến xuất chúng đấy. Mình cảm thấy người hơi lung liêng. Nhưng có thể chỉ vì đói.
Koester gật đầu. - Ăn bao giờ cũng tốt. Đó là nguyên tắc cơ bản của tất thảy các cựu chiến binh. Chiều nay mình cũng làm một việc có chiều lung liêng. Mình đã đăng ký cho chiếc Karl đua đấy.
- Thật sao? Tôi hỏi – Đua lần thứ sáu? Cậu ta gật đầu.
- Nhưng mẹ kiếp, Otto, toàn những chiếc cự phách cả.
Cậu ta lại gật. Braumuynler trong chiếc xe thể thao thượng hạng.
Tôi xắn tay áo lên. - Thế thì bắt tay vào việc thôi, Otto, ta sẽ lau dầu kỹ lưỡng cho cái xe thân yêu nhất của cả bọn.
- Hẵng khoan! - Con người lãng mạn cuối cùng vừa về đến nơi bèn kêu lên – Ních no cái bụng đã! Cậu ta giở đồ ăn tối ra... phomat, bánh mì, xúc xích hun khói rắn như đá, và cá trích. Vừa ăn chúng tôi vừa uống bia ướp lạnh. Ba thằng ăn lấy ăn để như cánh thợ đập lúa đói rã vẫn ăn. Rồi cả bọn đến bên chiếc Karl. Hai giờ liền chúng tôi loay hoay với nó, kiểm tra, bôi dầu từng bộ phận một. Sau đó Lenz và tôi lại chén thêm lần nữa. Bây giờ Lenz bật luôn cả đèn chiếc xe Pho. Ngẫu nhiên mà một đèn pha của nó vẫn lành lặn sau cú đâm đêm nào. Từ cái khung xe quằn vênh, cái đèn trân trân ngó xéo lên trời. Lenz hài lòng quay người lại. - Thế đấy, Robby, giờ hãy lôi lũ chai ra đây. Bọn ta sẽ uống mừng hội cây trổ hoa.
Tôi đặt lên bàn chai cô nhắc, chai gin và hai cái ly.
- Thế ly của cậu đâu? Gotfrit hỏi.
- Mình không uống.
- Cái gì? Tại sao không?
- Vì mình đã chán ngấy cái trò nhậu nhẹt khốn kiếp này.
Lenz quan sát tôi một lát. Đoạn cậu ta bảo Koester:
- Thằng bé của bọn mình quá chén mất rồi, Otto ơi.
- Cậu ta không muốn uống thì mặc cậu ta.
Lenz rót cho mình một ly đầy. - Ít bữa nay chú chàng có hơi điên điên.
- Điên điên thôi đã may. Tôi đáp.
Phía sau mái nhà của xí nghiệp đối diên nhô lên vầng trăng to và đỏ ối. Chúng tôi ngồi im hồi lâu. - Nói thử xem. Gotfrit – tôi mở đầu – cậu là một chuyên gia trong tình yêu, đúng chứ?
- Chuyên gia thôi ư? Mình là bậc thầy già đời trong tình yêu. Lenz khiêm tốn đáp.
- Hay lắm. Cụ thể mình muốn biết có thật khi yêu con người ta bao giờ cũng xử sự ngớ ngẩn không.
- Sao lại ngớ ngẩn?
- Ả như thể bị say ấy. Lảm nhảm, tán nhăng tán cuội và bịp bợm.
Lenz phá lên cười. - Nhưng bé yêu ơi! Toàn bộ trò yêu đương chẳng qua cũng chỉ là trò bịp bợm. Thói bịp bợm do Bà Mẹ Thiên Nhiên sinh ra. Hãy nhìn cái cây mận kia xem! Nó cũng đang bịp bợm đấy. Nó tự tô điểm đẹp hơn bản thân nó. Thật là quái dị nếu tình yêu lại dính dáng đến sự thật. Ơn Chúa, những nhà luân lý chết tiệt dẫu sao cũng chưa trấn áp được hết thảy.
Tôi nhỏm dậy. - cậu cho rằng không thể có tình yêu mà không có chút bịp bợm sao?
- Hầu như không bé ạ.
- Nhưng dẫu sao một con người vẫn có thể tự biến mình thành lố bịch một cách đáng nguyền rủa.
Lenz cười nhăn nhở.- Hãy nhớ lấy một điều, chú em: không, không và không bao giờ ta có thể biến bản thân ta thành lố bịch trước người đàn bà, một khi ta làm chút gì đó vì nàng. Ngay cả trong những vai kịch đóng tồi nhất. Xin cứ làm những gì cậu muốn... trồng cây chuối, ba hoa những điều thậm chí ngu ngốc, phô trương như một con công hoặc nghêu ngao hát trước cửa sổ nhà nàng, chỉ có một điều xin chớ: ấy là chớ thực tế! Chớ nghiêm chỉnh!
Tôi trở nên hoạt bát. - Ý kiến cậu thế nào, Otto?
Koester cười. - Chắc cũng thế thôi.
Cậu ta đứng dậy và mở máy chiếc Karl. Tôi đi lấy chai rum và một cái ly đặt lên bàn. Otto cho xe khởi động. Tiếng máy nổ rất trầm và ấm. Lenz gác cả hai chân lên bậu cửa sổ, mắt trân trân nhìn ra ngoài. Tôi ngồi xuống bên cậu ta. - Đã bao giờ cậu say rượu khi ngồi cùng với một phụ nữ chưa?
- Thường xuyên – cậu ta đáp, không hề nhúc nhích.
- Rồi sao?
Cậu ta hiếng mắt nhìn tôi. - Ý cậu muốn hỏi là sau khi mình lỡ thất thố ấy à? Không nhiều lời. Hãy gửi hoa. Không thư từ gì sốt. Chỉ có hoa mà thôi. Hoa sẽ phủ kín tất tật. Thậm chí cả những nấm mồ.
Tôi nhìn Lenz. Cậu ta không động đậy. Cặp mắt cậu ta lóng lánh phản chiếu ánh sáng trắng bên ngoài. Động cơ ô tô vẫn nổ, khẽ rù rì, tuồng như mặt đất đang rung rung dưới chân chúng tôi.
- Giờ đây mình có thể thực sự bình tâm uống tí chút – Tôi nói và mở chai rượu.
Koester tắt máy, đoạn quay sang Lenz. - Bây giờ trăng đủ sáng để có thể nhìn thấy ly rượu rồi đấy, Gotfrit. Tắt đèn xe đi. Đặc biệt là chiếc Pho. Với cái đèn pha hắt ngược, của nợ ấy khiến mình liên tưởng tới chiến tranh. Hay ho gì đâu khi đêm đêm đèn cứ rọi lên trời rình máy bay.
Lenz gật đầu. Nó nhắc mình nhớ tới... chà, thôi mặc! - Cậu ta đứng lên và tắt các ngọn đèn pha.
Trăng đã lên lơ lửng khỏi mái xí nghiệp. Mỗi lúc một tỏ. Và lúc này lơ lửng như một chiếc đèn lồng vàng treo trên cành mận. Những cành lá khẽ đung đưa trong gió thoảng. - Quái lạ thật – Lenz nói sau một lát im lặng – cớ sao thiên hạ dựng tượng đài cho đủ mọi loại người... mà không một lần tạc một vầng trăng hay một cái cây đang đâm hoa?


***


Tôi về nhà sớm. Khi mở cửa hành lang, tôi nghe có tiếng nhạc. Lại chiếc máy đĩa quay của cái cô thư ký Erna Boenich. Một giọng nữ trong trẻo và khẽ khàng. Rồi dồn dập tiếng vĩ cầm trầm đục, tiếng búng banggio. Và giọng hát lại cất lên, thiết tha êm ái, như ngập tràn hạnh phúc. Tôi lắng tai nghe cho rõ lời. Cái giọng nữ hát lên khe khẽ trong khoang hành lang tối tăm này, giữa chiếc máy khâu của bà Bende và hòm xiểng của gia đình Hasso, nghe sao xúc động lạ lùng. Tôi nhìn chiếc đầu lợn lòi nhồi treo trên cửa bếp. Tôi nghe ả người ở xủng xoảng với đống bát đĩa. - Làm sao em có thể sống thiếu anh... – tiếng hát vẳng lại từ sau cánh cửa cách tôi vài bước chân.
Tôi nhún vai, bỏ vào buồng mình.
Ở phòng bên có tiếng cãi vã giận dữ. Vài phút sau có người gõ cửa, Hasso bước vào.
- Tôi có làm phiền anh không? Ông hỏi, vẻ mệt mỏi.
- Không phiền gì đâu ạ – Tôi nói – Bác uống chút gì nhé?
- Tốt hơn là đừng. Tôi ngồi nhờ một lát thôi.
Ông đờ đẫn nhìn ra trước mặt – Anh thế mà sướng – ông nói – anh độc thân.
- Ồ, chuyện vớ vẩn – tôi đáp – Lúc nào cũng ngồi thu lu một mình thế này cũng chẳng ra sao... Bác cứ tin tôi đi...
Ông ngồi ủ rũ trong chiếc ghế bành. Mắt ông đục lờ trong ánh sáng mờ ảo mà những ngọn đèn ngoài đường kia hắt vào. Đôi vai trễ, gầy guộc... - Tôi đã hình dung cuộc đời hoàn toàn khác – Ông nói, sau một lát im lặng.
- Chúng ta ai cũng thế cả. Tôi nói.
Nửa giờ sau ông lại về phòng bên để giải hòa với vợ. Tôi đưa ông một vài tờ báo và nửa chai Curasao sót lại không biết từ đời thuở nào trên nóc tủ – một thứ rượu ngọt, vị khó chịu, nhưng lại rất tốt cho ông. Thì ông có hiểu quái gì về rượu đâu.
Nhẹ nhàng, gần như không tiếng động, ông đi ra, một cái bóng chìm trong bóng tối, tuồng như ông đã tắt ngấm. Tôi đóng cửa lại sau lưng ông. Từ hành lang lại bay vào cái thứ âm nhạc giẻ rách tựa một chiếc khăn lụa màu – tiếng vĩ cầm, tiếng banggio trầm đục – Làm sao em có thể sống thiếu anh...
Tôi ra ngồi bên cửa sổ. Ngoài kia, nghĩa trang đắm mình trong ánh trăng lơ. Những khối vuông sặc sỡ của các đèn quảng cáo nhảy nhót trên những ngọn cây, và những tấm bia đá sáng lấp lánh. Chúng câm lặng, không chút sợ hãi. Xe hơi lao vèo vèo sát chúng, ánh đèn pha quét loang loáng trên những dòng chữ nhòa nhạt bởi phong sương.
Tôi ngồi như thế khá lâu, nghĩ tới đủ thứ chuyện. Nhớ cả ngày nào chúng tôi từ mặt trận trở về, trẻ trung, mất lòng tin, như những người thợ mỏ được lôi lên khỏi một đường hầm bị sập. Chúng tôi muốn tuần hành chống lại thói dối trá, thói vị kỷ, lòng tham và sự nhẫn tâm, những thứ đã gây nên cái thảm họa mà chúng tôi đã phải trải qua... chúng tôi đã từng tàn ác, từng không có sự tin cậy nào khác ngoài sự tin cậy thằng bạn kề bên mình, và một niềm tin nữa chưa hề biết phản bội: đó là tin vào bầu trời, thuốc lá, cây cỏ, bánh mì và mặt đất..., nhưng chúng tôi đã đạt được gì chứ? Tất cả đều bị sụp đổ, bị ngụy tạo, bị quên lãng. Và kẻ nào không quên nổi, kẻ đó chỉ còn sống trong bất lực, tuyệt vọng, lãnh đạm và rượu mạnh. Cáo chung rồi cái thời đại của những ước mơ trượng phu vĩ đại. Những kẻ siêng năng hể hả. Tham những. Lầm than.


***
Anh thế mà lại sướng, anh độc thân. - Hasso đã nói như vậy. Kể cũng hay thật... kẻ nào độc thân, kẻ đó không sợ bị bỏ rơi. Nhưng thỉnh thoảng tối đến, tòa nhà giả tạo sụp đổ, cuộc sống biến thành một giai điệu nức nở, dai dẳng, một cơn lốc của khát vọng điên cuồng, của thèm muốn, của sầu muộn, và niềm hy vọng được thoát khỏi trạng thái tê liệt vô nghĩa này, thoát khỏi cái điệp khúc vô nghĩa của chiếc đàn ooc quay muôn thuở này, rồi muốn đến đâu thì đến. Chao, cái nhu cầu ít ỏi được một chút tình người – nó không thể là hai bàn tay và một gương mặt cúi xuống với ta sao? Hay nó cũng chỉ là lừa gạt, từ bỏ và trốn tránh? Còn cái gì khác hơn là sự cô đơn?
Tôi đóng cửa sổ lại. Không, không còn gì khác cả. Mảnh đất dưới chân ta đây hẹp quá, không đủ chỗ cho những thứ khác.
Nhưng sáng hôm sau tôi ra khỏi nhà từ rất sớm, tôi gõ cửa một hiệu hoa nhỏ trước khi đến xưởng. Tôi chọn một bó hoa hồng và nhờ chủ hiệu gửi đi tức khắc. Tôi có cảm giác kỳ lạ khi thong thả ghi lên tấm thiếp cái địa chỉ: Patoris Honman.
 
(Còn tiếp)
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0
 
V


Koester đã đánh bộ comple tàng của mình đến sở tài chính, cậu ta tính chuyện xin giảm thuế cho chúng tôi. Trong xưởng còn mỗi Lenz và tôi.
- Bắt đầu thôi, Gotfrit – Tôi nói – Ta sửa sang cho anh chàng Cadilac kềnh càng này đi.
Chiều qua bài quảng cáo của chúng tôi đã được rao đăng. Như vậy hôm nay chúng tôi có thể lường đến chuyện tiếp khách hàng... nếu như có ai đó tìm đến. Có nghĩa là phải chuẩn bị cho chiếc xe.
Trước tiên chúng tôi láng một lượt nước bóng ra ngoài lớp sơn xe. Chiếc xe bóng lộn lên, trông phải đáng giá trên trăm mác nữa. Rồi chúng tôi tra vào động cơ xe thứ dầu quánh nhất mà mình có. Pittong không còn hoàn hảo nên đã hơi kêu. Nhờ dầu đặc, nhược điểm đó đã được khắc phục, máy nổ êm tuyệt. Chúng tôi cũng phết dầu đặc vào hộp số và bánh visai, sao cho chúng chạy êm ru.
Rồi chúng tôi cho xe chạy thử. Gần đấy có một quãng đường cực xấu. Chúng tôi vượt nó với tốc độ mười kilomet giờ. Giàn đồng lách cách. Chúng tôi xì bớt một phần tư hơi ra khỏi các lốp xe, rồi thử lại lần nữa. Đã khá hơn. Chúng tôi lại xì bớt hơi. Bây giờ không còn xóc chút nào.
Chúng tôi quay về xưởng, phết mỡ vào chiếc mui xe cọt kẹt, lót thêm vào giũa các khe một ít cao su, đổ nước nóng vào bộ tản nhiệt để máy nổ dễ dàng, và một lần nữa dùng máy thổi bụi xịt dưới gầm xe cho gầm xe cũng sáng bóng lên. Xong xuôi, Gotfrit Lenz giơ hai tay lên trời. - Giờ hãy đến đây, hỡi vị khách hàng được chúc phúc! Hãy đến đây, hỡi chủ nhân ông đáng yêu của những chiếc ví dày cộm! Chúng tôi mong mỏi ngài như chú rể ngóng đợi cô dâu!


***


Cô dâu vẫn chưa chịu đến. Thấy vậy, chúng tôi đẩy cái đầu máy kếch xù của lão chủ hiệu bánh lên mặt hố và bắt đầu tháo trục trước. Chúng tôi lặng lẽ làm việc mấy giờ liền, chẳng nói chẳng rằng. Bỗng từ cây xăng vẳng vào tiếng Jupp huýt sáo bài Nghe kìa, có gì đi vào... Tôi nhảy lên khỏi miệng hố, nhìn ra cửa sổ. Một lão thấp béo lượn lờ quanh chiếc Cadilac. Dáng vẻ tư sản, khôn ngoan. - Nhìn xem, Gotfrit – Tôi thì thào – cô dâu đó chăng?
- Chính cựa – Mới thoáng nhìn, Lenz đã tuyên bố – Trông cái mặt lão kìa! Chưa gặp ai mà lão đã thủ thế rồi. Nhanh chạy ra tiếp lão đi! Mình ở lại đây làm lính dự bị. Mình sẽ ra ứng cứu nếu cậu không đương đầu nổi với lão. Nhớ các mánh khóe mình đã bầy cho đấy!
- Được rồi. Tôi đi ra.
Lão đàn ông nhìn tôi với cặp mắt đen thông minh. Tôi tự giới thiệu – Tôi là Lokhamp.
- Tôi là Blumenthan.
Tự giới thiệu là mánh khóe thứ nhất của Lenz. Cậu ta quả quyết rằng sau đó không khí sẽ lập tức trở nên thân mật hơn. Mánh khóe thứ hai là phải mở đầu hết sức dè dặt và thăm dò khách hàng để có thể bập vào những điểm lợi hại.
- Ngài tới để xem chiếc Cadilac phải không ạ, thưa ngài Blumenthan? - Tôi hỏi, Blumenthan gật đầu.
- Nó đấy – tôi chỉ chiếc xe.
- Tôi thấy rồi. Blumenthan đáp.
Tôi liếc nhanh lão ta. Hãy dè chừng! Tôi nghĩ, một tay quỷ quyệt đây.
Chúng tôi đi qua sân. Tôi mở cửa xe và cho máy chạy, rồi im lặng để Blumenthan có thời gian xem xét chiếc xe. Thế nào lão chẳng bới ra điểm gì đó để chê bai, khi ấy tôi sẽ lựa lời đối đáp.
Nhưng Blumenthan không xem. Lão cũng chẳng chê bai. Lão nín thinh như tôi, và đứng đó ngay đơ tựa như trời trồng. Tôi không còn cách nài khác là phó mặc cho may rủi.
Từ tốn, tôi bắt đầu mô tả trình tự chiếc Cadilac, chẳng khác gì bà mẹ phô đứa con của mình, vừa nói tôi vừa thăm dò xem lão có hiểu tì gì về xe cộ không. Nếu lão là tay sành xe hơi, tôi phải kể tỉ mỉ về động cơ va khung xe,... còn nếu lão mù tịt, tôi sẽ huyên thuyên về đủ thứ tiện nghi, phụ tùng.
Nhưng đến lúc này lão vẫn kín bưng. Lão mặc cho tôi nói kỳ tới khi tôi cảm giác mình chơi vơi như trái bóng bay thì thôi.
- Ngài định dùng chiếc xe vào việc gì ạ? Để đi lại trong thành phố hay đi du lịch? - cuối cùng tôi hỏi, xem may ra tìm được một điểm mà vin vào chăng.
- Mọi việc. Blumenthan đáp.
- Thế ạ! Ngài định lái lấy hay dùng tài xế?
- Còn tùy.
Còn tùy. Lão ném ra những câu trả lời như một con vẹt. Hình như lão là hội viên “Hội những người anh em câm lặng”.
Để khiến lão hoạt bát lên, tôi gắng tìm bất kỳ một thứ gì cho lão thử. Thông thường nhờ vậy, các khách hàng sẽ trở nên cởi mở hơn. Chứ cú đà này, tôi e lão ngủ gật mất.
- Chiếc xe đồ sộ thế, nhưng mui lại đóng mở rất dễ dàng – Tôi nói – Ngài thử đóng mà xem. Chỉ cần dùng một tay.
Nhưng Blumenthan cho rằng không cần thiết. Lão nhìn cũng đủ. Tôi đóng sập các cánh cửa, và lay lay những chiếc tay cầm.
- Không lỏng lẻo chút nào. Chắc như bánh lái! Ngài lắc thử xem.
Blumenthan chẳng buồn thử. Lão coi đó là lẽ đương nhiên. Thằng cha đúng là quả hạt dẻ chết tiệt khó nhá.
Tôi giới thiệu với lão tấm kính xe – Quay lên quay xuống dễ như bỡn. Để cỡ nào, giữ nguyên cỡ đó.
Lão vẫn không nhúc nhích.
- Mà lại toàn kính không vỡ cơ đấy ạ. - Tôi tiếp, lòng đã hơi hoang mang – Lợi vô kể! Ở đằng kia, trong xưởng có chiếc xe Pho... - tôi thuật lại câu chuyện thương tâm xảy ra với vợ lão chủ hiệu bánh, có thêm mắm thêm muối chút đỉnh, bằng cách làm cho một đứa trẻ nữa cùng lâm nạn.
Nhưng Blumenthan có cuộc sống nội tâm khép kín như một két bạc.
- Xe nào chẳng có kính không vỡ. - Lão ngắt lời tôi – Có gì đặc biệt đâu.
- Không loại xe nào được lắp toàn kính không vỡ cả – Tôi đáp, gay gắt nhưng vẫn cố mềm mỏng – Giỏi lắm chỉ tấm kính trước, mà ở đôi loại thôi. Chứ cửa sổ to bên cạnh mà được lắp kính không vỡ thì đào đâu ra.
Tôi bóp còi kêu bim bim rồi xoay sang mô tả những tiện nghi bên trong... thùng, đệm ngồi, các túi, bảng đồng hồ điện – Tôi liệt kê tỉ mỉ không thiếu thứ gì, thậm chí còn bật lửa cho Blumenthan châm thuốc và thừa dịp đưa thuốc lá ra mời để lấy lòng lão, nhưng lão từ chối.
- Cảm ơn, tôi không hút. - Lão nói và nhìn tôi vẻ chán chường đến nỗi tôi đột nhiên sa vào một mối ngờ vực khủng khiếp: có lẽ lão không hề định tìm đến chúng tôi, có lẽ lão chỉ lạc nẻo tới đây chứ lão chủ tâm mua một cái gì hoàn toàn khác kia: một chiếc máy thùa khuyết hoặc một chiếc radio, và lão chỉ hơi tần ngần dừng bước ở đây trước khi tiếp tục đường lão.
- Ta đi thử một vòng chứ, thưa ngài Blumenthan? - Cuối cùng, đã rất thối chí, tôi đề nghị.
- Đi thử à? - Lão hỏi lại, cứ như thể lão vừa nghe tôi rủ ra ga làm một chuyến chu du bằng tàu hỏa không bằng.
- Phải, đi thử. Ngài cần thấy tận mắt chiếc xe chạy ra sao chứ. Nó như tấm ván đặt trên mặt đường ray vậy. Và máy cứ thế lôi nó lướt đi, cỗ xe nặng nề thế mà chỉ như một chiếc lông tơ lao vun vút...
- Dào ôi, thử thiếc gì... - Lão phẩy tay ra ý khước từ – Những chuyến đi thử có ăn nhằm gì đâu. Bao giờ cũng vậy. Dùng xe ít bữa mới thấy khuyết tật của nó.
Cố nhiên rồi, đồ quỷ già rắn hơn gang, tôi giận dữ rủa thầm, dễ thường lão tưởng ta đây sẽ tông tốc khai ra với lão chiếc xe trục trặc chỗ nào chắc?
- Được, thì thôi vậy – Tôi nói, vứt bỏ mọi hy vọng. Rõ ràng là lão chẳng muốn gì cả.
Nhưng lão đột nhiên xoay người lại, nhìn chăm chăm vào mắt tôi và hỏi khẽ, rất nhanh, giọng cương quyết:
- Chiếc xe giá bao nhiêu?
- Bảy ngàn mác – Tôi bật nhanh như tên bắn, mặt tỉnh khô không động đậy một sợi lông mi. tôi biết không được để lão già này nhận thấy mình suy nghĩ, dù chỉ trong nháy mắt. Mỗi giây do dự sẽ đi đứt cả ngàn mác, cái ngàn mác mà lão sẽ cò kè đòi bớt giá. - Đúng bảy ngàn – Tôi khẳng định lại, bụng nghĩ: cư xùy ra đây năm ngàn, chiếc xe là của lão. Nhưng Blumenthan chẳng xùy đồng nào. Lão chỉ phì một hơi ngắn:
- Đắt quá!
- Tất nhiên! Tôi nói, thầm tính chuyện cho đi cái vụ mời chào này.
- Tất nhiên nghĩa là thế nào? - Blumenthan hỏi, giọng bỗng khá hiền hậu.
- Ngài Blumenthan – Tôi cắt nghĩa – Ở cái thời buổi này, ngài đã thấy kẻ nào trả lời khác ngài khi nghe nêu lên một cái giá hay chưa?
Lão chăm chú nhìn tôi. Có chút gì như ánh cười lướt qua gương mặt lão. - Đúng vậy. Nhưng chiếc xe quả khí đắt.
Tôi không dám tin vào tai mình. Rốt cuộc thì nó đây rồi, cái giọng thân mật của lão. Giọng của một kẻ rõ ràng quan tâm đến mặt hàng! Hay đây lại là trò tinh quái khốn kiếp mới của lão?
Đúng lúc đó, một công tử bột hào hoa phong nhã đi vào sân. Chàng ta rút trong túi ra một tờ báo, xem lại số nhà một lần nữa, rồi mới tiến lại gần tôi – Ở đây có bán chiếc xe Cadilac phải không?
Tôi gật đầu, há hốc mồm nhìn chiếc can sậy vàng óng và đôi găng tay bằng da thú của anh chàng.
- Tôi có thể xem qua được chứ?- Chàng công tử bột hỏi tiếp, mặt tỉnh khô.
- Chiếc xe đây này – tôi nói – nhưng có lẽ ngài vui lòng chờ cho một lát, tôi đang dở chút việc. Ngài ngồi tạm trong kia được chứ ạ?
Chàng công tử bột lắng nghe tiếng động cơ rù rì, nét mặt thoạt đầu cau lại vẻ săm soi, sau giãn ra tán thưởng, đoạn theo tôi đi vào xưởng.
- Đồ ngốc – Tôi gầm gừ với hắn rồi tất tưởi quay lại chỗ Blumenthan.
- Nếu ngài dùng chiếc xe một lần rồi, ngài sẽ suy xét đúng nó đắt hay rẻ. - Tôi nói – Ngài cứ việc thử nó bao lâu tùy thích. Hay tôi tới nhà đón ngài chạy thử xe vào buổi tối cũng được, nếu như thế tiện cho ngài hơn.
Nhưng sự rung động thoảng qua đã bay biến. Blumenthan lại đứng đó như một nhạc trưởng tạc từ đá granit. - Thôi khỏi cần – lão nói – Giờ tôi phải đi. Trường hợp tôi có ý định thử xe, tôi còn có thể gọi điện cho anh mà.
Tôi hiểu tạm thời không thể làm gì hơn. Lão là loại người không thuyết phục nổi.
- Tốt thôi – tôi nói – Nhưng ngài không muốn cho tôi số điện thoại của ngài sao, để tôi có thể báo tin cho ngài trường hợp có một ai khác quan tâm đến chiếc xe?
Blumenthan nhìn tôi một cách kỳ quái.- Người quan tâm chưa hẳn là người mua.
Lão móc túi ra một hộp xì gà mời tôi. Đột nhiên lão còn hút thuốc nữa chứ. Thậm chí loại Coronas hẳn hoi... hẳn lão có hàng núi tiền. Nhưng tôi đâu thèm bận tâm tới điều đó nữa. Tôi rút một điếu.
- Thế nào? - Chàng công tử bột Gotfrit Lenz chào đón tôi.
- Mình đóng trò được đấy chứ hả? Thấy cậu ngắc mãi mới được một câu mình muốn thử cứu cậu. May mà Otto đã thay bộ đồ ở đây để đến sở Tài chính. Thấy bộ đồ bảnh của cậu ta treo đó...mình bèn phi nước đại vào, đóng bộ rồi nhảy qua cửa sổ và lại hiện diện ở đây trong vai một quý khách đứng đắn! Bợm đấy chứ hả?
- Ngu ngốc thì có- tôi đáp – Lão cáo hơn cả hai thằng mình gộp ại! Mở mắt ra mà nhìn điếu xì gà đây này. Một mác rưỡi một điếu chứ đùa đâu. Cậu đã đuổi mất của mình một tay tỷ phú.
Gotfrit giật điếu thuốc từ tay tôi, đưa lên mũi hít hít và châm lửa hút. - Mình đã đuổi hộ cậu một thằng cha lừa đảo. Tỷ phú đâu có hút loại xì gà này. Lũ ấy chỉ dám dùng loại đáng giá mỗi điếu một xu.
- Dớ dẩn, tôi đáp – những kẻ lừa đảo không tự xưng là Blumenthan hoặc đại loại thế.
- Lão sẽ trở lại – Lenz nói, tràn trề hy vọng như mọi khi, và phun khói thuốc xì gà của tôi vào mặt tôi.
- Lão ấy thì đừng mong – tôi quả quyết – Nhưng cậu lấy đâu ra cây san sậy và đôi găng thế?
- Mượn. Ở đằng kia, trong cửa hiệu của Benn và Co. mình quen một cô em bán hàng ở đó. Có lẽ mình còn mua đứt chiếc can ấy chứ, mình thích nó. - cậu ta mãn nguyện múa cái que bự ấy trong không khí.
- Gotfrit này – tôi nói – cậu ru rú ở đây thật uổng. Cậu biết mình khuyên cậu gì không? Hãy tìm đến gánh hát tạp kỹ. Đó mới là sở trường của cậu.


***


- Ban nãy có người gọi điện cho ông – Frida, ả hầu mắt lác của bà Zalepski nới với tôi lúc trưa khi tôi nhảy về đến nhà.
Tôi quay phắt lại – Lúc nào?
- Trước đây nửa giờ. Một bà.
- Bà ta nói gì?
- Bà ta định gọi lại vào buổi tối. Nhưng tôi đã bảo ngay rằng vô ích thôi. Ông có bao giờ ở nhà buổi tối đâu.
Tôi trợn mắt nhìn ả – Cái gì? Cô đã nói thế hả? Trời đất, phải có kẻ dạy cô cách nói chuyện điện thoại mới xong.
- Tôi biết nói chuyện điện thoại. - Frida tỉnh rụi đáp – Còn tối tối ông hầu như có bao giờ chịu ở nhà.
- Cái đó không quan hệ gì đến cô – tôi rủa – lần sau dễ thường cô còn thóc mách xem bít tất tôi thủng lỗ nào không đấy.
- Chứ sao – Frida đáp và ranh mãnh nhìn tôi với cặp mắt toét ba vành sơn son. Chúng là kẻ thù cố hữu của nhau.
Tôi những muốn dúi ả vào nồi súp của ả, nhưng cố kiềm chế, thọc tay vào túi và tìm đồng một mác ấn vào tay ả, đoạn hỏi vẻ dàn hòa. - Thiếu phụ không xưng danh sao?
- Không. Frida nói.
- Giọng cô ta thế nào? Hơi trầm đục và dường như khàn một chút có phải không?
- Không biết. - Frida lạnh lùng đáp, cứ như tôi chẳng hề ấn vào tay ả đồng một mác.
- Cái nhẫn cô đeo ở tay kia xinh quá, quả là mê hồn – tôi nói – còn bây giờ cô thử nghĩ kỹ hộ xem nào, chẳng lẽ cô không nhớ nổi sao?
- Không – Frida đáp, môt niềm vui hiểm độc ánh lên trên gương mặt ả.
- Thế thì treo cổ cô lên, đồ chổi cùn của quỷ. Tôi thét và bỏ mặc ả đứng đó.

***


Đúng sáu giờ tối tôi đã có mặt ở nhà. Vừa mở cửa, tôi thấy một cảnh tượng khác thường. Bà Bende, nữ hộ lý chăm sóc trẻ bé, đứng trong hành lang, vây quanh bà là toàn thể các bà các cô sống trong nhà trọ – Anh lại đây – Bà Zalepski gọi.
Nguyên nhân của cuộc tụ tập là một đứa bé quãng sáu tháng, được quấn nơ đủ màu. Bà Bende đưa nó từ nhà trẻ của mình về trong một chiếc xe nôi. Đó là một đứa bé hoàn toàn bình thường; thế mà các bà cúi xuống nõ với một vẻ mặt vui sướng đến điên cuồng, làm như nó là đứa trẻ đầu tiên trên thế giới sản sinh ra. Họ lại còn ríu rít trầm trồ, múa các ngón tay trước mặt cái sinh vật bé bỏng ấy và chúm môi dẩu mỏ với nó. Ngay đến Erna Boenich, mình khoác kimono thêu rồng, cũng tham dự vào cuộc truy hoan của tình mẫu tử thuần khiết, lý tưởng này.
- Nó chẳng phải là một hình hài tuyệt đẹp sao? - Bã Zalepski hỏi với cái nhìn đắm đuối.
- Phải đợi hai, ba chục năm nữa mới đánh giá đúng được – Tôi đáp, mắt liếc sang máy điện thoại. Mong sao chuông điện thoại không réo lên vào giữa lúc ai nấy đang tụ tập ở đây.
- Anh thử ngắm nó kỹ hơn xem nào! - Bà Hasso ra lệnh. Tôi nhìn. Một đứa bé như mọi đứa trẻ khác. Tôi chẳng khám phá nổi một điểm gì khác thường ở nó. Họa chăng là hai bàn tay bé tí tẹo, và thật kỳ lạ khi nghĩ bản thân mình cũng đã từng nhỏ xíu như thế – Con sâu nhỏ tội nghiệp – tôi nói – nó vẫn chưa hề biết cái gì đang chờ đợi nó. Tôi muốn xem xem nó ra đời để tham dự cuộc chiến nào đây.
- Anh Robin – bà Zalepski nói – anh không có chút tình cảm nào sao?
- Quá nhiều đằng khác – tôi đáp – nếu không tôi đã chẳng nghĩ như vậy. Đoạn tôi rút về phòng.
Mười phút sau chuông điện thoại réo. Nghe gọi tên mình, tôi chạy ra. Thì đã hẳn, cả đám các bà vẫn còn đó! Họ cũng chẳng buồn giải tán khi tôi áp ống nghe vào tai và nghe tiếng Patoris Honman cám ơn tôi đã gửi hoa. Trái lại, thằng bé, kẻ có vẻ biết điều nhất đám và đã hán ngấy cái trò khỉ, bỗng khóc ré lên.
- Xin lỗi cô – tôi tuyệt vọng nói vào ống máy – tôi không thể nghe rõ lời cô, ở đây có một em bé đang gào; nhưng không phải con tôi đâu.
Các bà thi nhau suỵt suỵt như một ổ trăn khổng lồ để dỗ nín thằng cu đang oa oa đó. Các bà đã nhanh chóng thành công, ông lỏi càng gào khỏe hơn. Đến lúc này tôi mới nhận thấy nó quả là một đứa bé phi thường; có lẽ hai lá phổi của nó phải lấn dài xuống tận hai chân, nếu không làm sao lý giải nổi cái tiếng hét váng óc ấy. Tôi ở vào một tình huống khó xử; trong khi phóng tia mắt giận dữ vào đám đàn bà phô diễn tình mẫu tử, miệng tôi lại phải lựa những lời khả ái để nói vào ống máy – tôi là bão bùng giông tố từ đỉnh đầu xuống mũi, và là trời xuân ngập nắng từ mũi xuống cằm – tôi cũng không hiểu được tôi đã làm cách nào mà vẫn hẹn gặp được với nàng vào chiều mai.
- Bà nên xây lấy một phòng điện thoại cách âm. Tôi nói với bà Zalepski.
Nhưng bà đâu chịu thua – Để làm gì? - Bà hỏi, mắt lóe sáng – Anh có nhiều chuyện cần giấu giếm thế kia à?
Tôi nín lặng, cố dằn lòng. Chớ nên sinh sự với những tình mẹ đang phẫn nộ. Họ có cái luân lý của toàn thế giới.
Mấy thằng tôi hẹn gặp nhau buổi tối ở nhà Gotfrit. Tôi ăn ở một quán nhỏ, rồi đi đến đấy. Dọc đường tôi ghé vào cửa hàng thời trang nam giới lịch sự nhất mua cho mình một chiếc cà vạt mới rõ bảnh gọi là để mừng cho ngày hôm nay. Tôi vẫn ngạc nhiên vì mọi sự trôi chảy quá và tự thề rằng ngày mai tôi sẽ nghiêm nghị như ông tổng giám đốc của một nhà thầu lễ tang.
Phòng của Gotfrit là cả một thắng cảnh. Trong đó treo đầy các kỷ vật mà cậu ta tha về từ Nam Mỹ. Những tấm thảm dừa sặc sỡ trên tường, vài chiếc mặt nạ, một cái đầu lâu khô cong, những cái nồi đất sét kỳ dị, lao phóng, và vật trưng bày chính yếu là bộ sưu tập lớn những tấm ảnh phủ kín cả một bức tường – những cô nàng thổ dân, gái lai đen, những sinh vật xinh đẹp, nâu óng, uyển chuyển, hờ hững và duyên dáng đến kỳ lạ.
Ngoài Lenz và Koester còn có cả Braumuynler và Grau. Mặt rám nắng, tóc đỏ như đồng. Theo Braumuyler ngả người trên đi văng ngắm say sưa bộ sưu tập ảnh của Lenz. Anh ta lái xe đua cho một hãng xe hơi và lâu nay kết thân với Koester. Mồng sáu tới anh ta cũng tham dự vào cuộc đua mà Otto đã đăng ký để tham dự với chiếc Karl.
Kềnh càng, béo phị, Ferdinan Grau đã khá say ngồi bên bàn. Thấy tôi, anh đưa bàn tay to bè ra kéo tôi lại gần: - Robby,- anh cất giọng lè nhè – cậu đến làm gì với cái bọn hư hỏng này? Cậu chẳng tìm thấy gì ở đây đâu. Đi đi. Hãy cứu lấy cậu. Với cậu hyax còn kịp!
Tôi đưa mắt sang Lenz. Cậu ta nháy mắt với tôi. - Ferdinan đang rủng rỉnh. Đã hai ngày nay cậu ta nốc rượu khóc người tình đã chết. Chả là vừa bán được bức chân dung lấy tiền ngay!
Ferdinan là họa sĩ. Nhưng anh đã chết đói từ lâu nếu như không có một cách kiếm ăn riêng. Anh truyền thần ảnh những người quá cố thành những bức chân dung sống động tuyệt vời cho đám thân nhân thương tiếc khôn nguôi của họ. Nhưng thế mà anh sống … thậm chí sống rất phong lưu. Chẳng ma nào mua những bức tranh phong cảnh của anh. Vì thế trong lúc chuyện trò, bao giờ anh cũng đượm vẻ bi quan.
Khách hàng lần này là một lão chủ quán, Robby ạ – Anh nói – một lão chủ quán đã làm nộm bà dì có gia tài trong dầu và dấm - anh lắc đầu – Ghê tởm!
- Nghe này, Ferdinan – Lenz khuyên – cậu chẳng nên dùng những lời lẽ gay gắtội đến thế. Cậu đã sống nhờ vào một trong những đức tính cao đẹp nhất của con người, dó là lòng hiếu thảo.
- Láo toét – Ferdinan nói – mình sống nhờ vào lương tâm tội lỗi mới đúng. Lòng hiếu thảo chẳng khác gì ngoài lương tâm tội lỗi. Chẳng qua là người đời muốn tự bào chữa về tất cả những điều xấu xa họ đã gây nên và đã cầu nguyện cho kẻ quá cố quý hóa lúc sinh thời – Anh đưa tay thong thả vuốt mái tóc đỏ rực của mình. - cậu thử nghĩ, không biết bao nhiêu lần lão chủ quán đã cầu cho thần chết tóm lấy cổ bà dì lão... để bù lại, giờ đây lão cho truyền thần bà cụ bằng những màu sắc thanh nhã nhất và treo bức chân dung ngay phía trên divang. Lão ưa bà già sống trong tranh hơn. Hiếu thảo! Bao giờ con người cũng chỉ sực nhớ đến những đức tính tốt đẹp hiếm hoi của mình khi đã muộn. Thế rồi hắn xúc động vì lẽ đáng ra hắn đã có thể xử sự hào hiệp biết bao và hắn tự cho mình là có phẩm hạnh. Phẩm hạnh, nhân từ, độ lượng...! - Anh phẩy bàn tay to bè mập ú của mình – người ta chỉ mong tìm thấy các đức tính ấy ở những kẻ khác, để có cơ chôn chúng cùng họ cả thể.
Lenz cười ngoạc miệng – Cậu đang lay các cột trụ của xã hội loài người đấy, Ferdinan!
- Những cột trụ của xã hội loài người là tham lam, sợ sệt và sa đọa – Ferdinan đáp – Con người ác độc nhưng lại ưa điều thiện.. nếu như kẻ khác mang lại điều thiện – Anh chìa ly của mình cho Lenz – thế, giờ hãy rót rượu cho mình đi và đừng có huyên thuyên suốt tối... cho người khác còn nói chứ.
Tôi bước qua divang sang chỗ Koester ngồi. Tôi bỗng nảy ra một ý – Otto, giúp mình một việc được không? Chiều mai mình cần chiếc cadilac.
Đang mê mải ngắm nghía ảnh một vũ nữ lai da đen ăn mặc hở hang. Theo Braumuyler ngoảnh sang hỏi – cậu đã biết cua đường rồi sao? Cho tới nay mình tưởng cậu chỉ biết thẳng tiến nếu có ai đó cầm lái hộ cậu thôi cơ đấy.
- Theo ơi, cứ yên trí – tôi đáp – đến cuộc đua mồng sáu tới bọn này sẽ băm nhừ cậu ra.
Braumuyler cười sằng sặc.
- Thế nào, Otto? - Tôi hồi hộp hỏi.
- Chiếc xe không được bảo hiểm đâu, Robby. Koester nói.
- Mình sẽ bò như sên và bóp còi inh ỏi như xe khách ấy. Chạy dăm cây số trong thành phố thôi mà.
Otto lim dim cặp mắt chỉ còn bằng hai khe hở nhỏ và mỉm cười.
- Được thôi, Robby, mình sẵn lòng.
- Dễ thường cậu cần chiếc xe cho đồng bộ với chiếc cà vạt mới của cậu?
Lenz đã sấn tới gần, hỏi.
- Câm mõm lại – tôi nói và đẩy cậu ta sang bên.
Nhưng cậu ta không hề suy chuyển – Xem cái nào, bé yêu! - Cậu ta sờ cái cà vạt lụa – Tuyệt! Thằng bé của tụi ta đóng vai đĩ đực. Dễ thường toan đi kiếm vợ.
- Đồ hát rong, hôm nay thì đừng hòng chọc tức được thằng này. Tôi nói.
- Kiếm vợ à? - Ferdinan ngẩng đầu lên – Mà tội gì cậu ta không đi kiếm vợ chứ? - anh quay sang tôi, tươi tỉnh hẳn lên – Xin cứ việc, Robby ơi! Cậu có thớ để làm chuyện đó. Thơ ngây rất cần cho tình yêu, mà cậu thì có nó. Hãy giữ gìn lấy sự thơ ngây. Đó là món quà Chúa ban. Đã đánh mất rồi thì chẳng bao giờ lấy lại được nữa.
- Đừng thèm để tâm đến lời hắn – Lenz cười khẩy – Sinh ra ngu không nhục. Chết ngu mới là nhục.
- Câm đi, Gotfrit! - Loáng cái, bàn tay hộ pháp của Ferdinan đã xua bắn Lenz ra.
Việc gì đến cậu, đồ lãng mạn rởm. Cậu thì chẳng được điểm gì cho bõ tiếc.
- Cứ tuôn ra cho hả, Ferdinan ạ – Lenz nói – Phun ra bằng hết bao giờ cũng nhẹ người đi đấy.
- Cậu là một thằng lỉnh việc – Ferdinan nói – một thằng lỉnh việc bắng nhắng.
- Bọn tao thế cả – Lenz cười nhếch mép – Bọn ta chỉ còn sống nhờ vào ảo vọng, sống vay.
- Chính thế – Ferdinan nói, mắt lần lượt nhìn chúng tôi dưới cặp lông mày chổi xể- Ảo vọng quá khứ và vay mượn tương lai. Đoạn anh quay sang tôi – Robby, mình vừa nói đến ngây thơ. Chỉ những kẻ hay ghen ghét mới gọi ngây thơ là sự ngu ngốc. Cậu chớ vì thế mà tự ái. Đó đâu phải nhược điểm, đó là cái khiếu trời cho.
Lenz toan bác lại, nhưng Ferdinan nói tiếp – Cậu hiểu ý mình đấy. Mình muốn nói đến tấm lòng chất phác, chưa bị sự hoài nghi và siêu trí tuệ ngấu nghiến. Parxivan ngu ngốc. Ông ta mà khôn ngoan, ông ta đã không đời nào chiếm được viên đá thần thiêng liêng. Chỉ kẻ nào ngu mới chiến thắng trong cuộc đời; những kẻ khác thấy quá nhiều trở ngại và chưa khởi sự đã ngã lòng. Vào thời buổi khốn khó, thơ ngây là tài sản quý giá nhất – một tấm áo khoác thần diệu che lấp mọi nguy hiểm mà kẻ cực khôn ngoan cứ đâm đầu vào như bị thôi miên.
Anh tợp một hụm rượu và nhìn tôi với cặp mắt xanh to tướng như một mảnh trời trên gương mặt nứt nẻ của anh – Đừng bao giờ ham biết quá nhiều, Robby ạ. Càng biết ít, càng dễ sống. Biết nhiều thì tự do đấy... nhưng lại bất hạnh. Nào hãy cùng mình nâng cốc vì sự ngây thơ, sự ngu ngốc và những gì liên quan đến nó..., vì tình yêu, niềm tin vào tương lai, những giấc mơ về hạnh phúc..., vì sự ngu ngốc tuyệt diệu, cái thiên đường đã mất.
Anh ngồi đó, kềnh càng, nặng nề, thốt nhiên chìm đắm vào suy tư và men say, như một mỏm gò đơn côi của nỗi sầu muộn không sao chạm tới được. Đời anh thế là hỏng, và anh biết vô phương làm lại. Anh ở trong xưởng họa lớn của mình và dan díu với mụ quản gia. Một mụ đàn bà cứng rắn, cục cằn. Ngược lại, tuy tạng người to béo, hộ pháp, Grau lại nhạy cảm và dễ xiêu lòng. Anh không sao bỏ được mụ ta và có lẽ anh cũng bất cần. Anh bốn mươi hai tuổi.
Biết rằng anh say, nhưng nhìn anh như thế tôi vẫn cảm thấy hơi rùng mình khác lạ. Anh ít khi đến bù khú với cả bọn mà hầu như thường xuyên uống một mình trong xưởng họa của mình.
Một nụ cười thoáng lướt trên khuôn mặt anh. Anh ấn ly rượu vào tay tôi – Uống đi, Robby. Hãy cứu lấy cậu. Nhớ lấy những điều mình đã khuyên cậu.
- Được rồi, Ferdinan!
Lenz lên dây cót chiếc máy hát. Cậu ta có cả đống đĩa mọi và cho chạy vài đĩa..., những khúc hát về dòng Mississipi, về những luống bông và về những đêm hè oi ả bên các dòng sông xanh miền nhiệt đới.
 
(Còn tiếp)
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-08-15 05:08:37gianghan>
CHƯƠNG  VI

Patoris Honman sống trong một tòa nhà tầng đồ sộ quét vôi vàng, cách phố một vạt cỏ hẹp. Trước lối vào là một ngọn đèn đường. Tôi đậu chiếc Cadilac ngay ở đó. Dưới ánh sáng lung linh, trông chiếc xe chẳng khác gì một chú voi đen lực lưỡng bóng nhấy.
Tôi đã tiếp tục hoàn thiện bộ cánh của mình. Ngoài chiếc cà vạt, tôi sắm thêm một cái mũ mới và đôi găng tay... lại còn diện nhờ áo khoác của Lenz, một chiếc măng tô màu xám tuyệt đẹp may bằng thứ len Scotlen mịn nhất. Đóng bộ như vậy, tôi muốn xua đi cái ấn tượng nát rượu mà tôi đã gây ra cho nàng.
Tôi bấm còi xe. Lập tức đèn cầu thang  ở cả năm tầng bừng sáng như pháo bông. Cầu thang máy bắt đầu kêu rù rù. Tôi nhìn nó tụt xuống như một chiếc gàu xúc sáng trưng thòng từ trời xuống. Patoris Honman mở cửa và nhanh nhẹn chạy xuống mấy bậc thang. Nàng mặc một chiếc áo khoác ngắn lông nâu và một chiếc váy chẽn cũng màu nâu.
- Xin chào! Nàng chìa tay cho tôi – Được ra ngoài trời thế này tôi rất thích. Tôi đã ru rú suốt ngày trong nhà rồi.
Tôi rất ưa cái cách bắt tay của nàng – một cái xiết mạnh mẽ hơn người ta tưởng. Tôi ghét cay ghét đắng những kẻ cứ chìa bàn tay mềm nhũn như cá ươn ra cho người khác bắt.
- Sao cô không nói sớm với tôi? -Tôi đáp – Nếu biết, có phải tôi đã tới đón cô từ trưa rồi không?
-  Nhàn rỗi đến thế kia à?
- Không hẳn. Nhưng tôi có thể nghỉ việc.
Nàng hít một hơi thật sâu. - Không khí tuyệt diệu. Có hương vị mùa xuân.
-Nếu cô thích, chúng ta có thể đi vòng vo ngoài trời bao lâu cũng được – tôi nói – ra ngoại ô, đi xuyên rừng... Tôi có đưa theo một chiếc xe hơi – Nói rồi tôi chỉ chiếc Cadilac, thản nhiên như đang chỉ một chiếc Pho cà khổ.
- Cadilac cơ à? - Nàng ngạc nhiên nhìn tôi – Của anh sao?
- Vâng. Nhưng chỉ tối nay thôi, còn thì nó thuộc về xưởng chúng tôi. Chúng tôi đã tân trang cho nó và quyết tâm làm ăn cú quyết định trong đời với nó đấy. Tôi mở cửa xe – Trước hết ta đến tiệm Chùm nho và ăn chút gì đã nhé? Ý cô thế nào?
- Đồng ý là sẽ ăn, nhưng sao cứ phải ở tiệm Chùm nho mới được nhỉ?
Tôi chưng hửng nhìn nàng. Chùm nho là tiệm ăn lịch sự duy nhất mà tôi biết.
Thú thật tôi không biết tiệm nào khác – tôi nói – Vả lại tôi nghĩ đã đi Cadilac thì phải tìm cái tiệm nào cho xứng.
Nàng cười: - trong tiệm Chùm nho thiên hạ hẳn phải khách khí và buồn tẻ lắm. Ta đi tìm chỗ nào khác đi.
Tôi đứng đực ra. Những giấc mơ trọng đại của tôi tan thành mây khói – Thế cô nêu một chỗ nào vậy. Các quán khác mà tôi hay lui tới có phần lỗ mãng. Tôi e không hợp với cô.
-Sao anh lại nghĩ vậy?
-Ấy là tôi cảm tưởng...
Nàng thoáng nhìn tôi. - Ta thử tới đó xem sao.
- Được – Tôi dứt khoát đảo lộn chương trình của mình – Tôi biết một chỗ, nếu cô không thấy khiếp. Chúng ta lại quán bác Anfons.
- Anfons, nghe được đấy – nàng đáp – và tối hôm nay tôi cũng chẳng biết khiếp là gì.
--Anfons là chủ quán bia – tôi nói – bạn thân của Lenz.
Nàng cười: - Hẳn đâu đâu Lenz cũng có bạn.
Tôi gật – Cậu ta dễ dàng kiếm bạn lắm. Thì cô đã chứng kiến tình thâm giao của cậu ta với ông Binding rồi đấy thôi.
-Phải, có Chúa chứng giám – nàng đáp – Bắt thân nhanh như chớp.
Chúng tôi khởi hành.

***
Anfons là một người đàn ông nặng nề, ít nói. Gò má nhô cao. Mắt nhỏ. Tay áo xắn ngược. Hai cánh tay như khỉ đột. Kẻ nào vào quán mà xử sự chướng tai gai mắt bác, đều bị bác đích thân quăng ra ngoài. Kể cả các chàng hội viên hội thể thao Trung thành với Tổ quốc. Đối với những tên khách bất trị, bác thủ sẵn dưới quầy một cái búa. Quán của bác nằm ở vị trí thuận lợi, ngay sát nhà thương. Thế là Anfons tiết kiệm được khoản tiền chuyên trở nạn nhân.
Bác đưa hai bàn tay lông lá ra chùi cái mặt bàn sáng màu đồng bằng gỗ thông – Bia chứ – bác hỏi.
-Cho rượu mạnh và chút gì ăn đi. Tôi nói.
-Còn quý cô đây? - Anfons hỏi.
-Quý cô cũng muốn dùng một ly rượu mạnh. Patoris Honman đáp.
-Cứng cựa thật, cứng cựa thật – Anfons nói – Có món sườn lợn với bắp cải muối đấy.
- nhà tự mổ chứ? Tôi hỏi.
-Dĩ nhiên!
-Nhưng quý cô đây hẳn muốn dùng món gì nhẹ hơn cơ!
-Cô không đùa đấy chứ – Anfons đáp – Mời cô xem thử món sườn cái đã.
Bác gọi gã hầu bàn bưng ra một suất – Lợn sữa tuyệt vời nhé – bác nói – Món này đã từng đoạt giải. Hai giải nhất.
-Tất nhiên rồi, ai mà khước từ cho nổi – Patoris Honman đáp với vẻ tự tin khiến tôi sửng  sốt, tưởng như nàng đã lui tới quán này hằng năm nay.
Anfons nháy mắt. Vậy thì hai suất nhé!
Nàng gật.
-Hay lắm! Tôi sẽ đích thân đi lấy.
Đoạn bác lui vào bếp.
-Tôi đã hết e ngại quán này – tôi nói – Cô chiếm được cảm tình của bác Anfons nhanh như cơn lốc. Đích thân đi lấy!... Thường thì bác ta chỉ làm thế với khách quen thôi.
Anfons trở lại – Tôi làm thêm cho mỗi người một xúc xích  mới làm.
-Sáng kiến hay đấy. Tôi nhận xét.
Anfons nhìn chúng tôi đầy thiện cảm. Rượu mạnh được bưng ra. Ba ly. Một dành cho Anfons – Nào, xin chúc mừng – bác nói – Chúc cho con cái chúng ta có được cha mẹ giàu.
Chúng tôi dốc tuột ly rượu vào mồm. Cô gái không chỉ nhấp môi, nàng cũng cạn luôn một hơi.
-Cứng cựa thật, cứng cựa thật – Anfons nói và kéo giày lệt sệt về quầy.
-Cô thấy rượu mạnh như thế nào? Tôi hỏi.
Nàng rùng mình – Hơi nặng. Nhưng tôi không thể để mất thể diện trước  bác Anfons.
Món sườn lợn quả ngon tuyệt. Tôi làm luôn hai suất đầy, và nàng ngồi trong quán mới tự nhiên, thoải mái làm sao. Không chút kiểu cách, nàng cạn thêm ly rượu mạnh nữa với Anfons.
Bác ngầm nháy mắt với tôi ra ý tán thưởng. Mà Anfons là kẻ sành đời. Bác chẳng hẳn sành về sắc đẹp và văn hóa... nhưng chắc chắn bác rất hiểu những gì thuộc về bản chất và giá trị nội dung.
-Nếu cô gặp may, cô sẽ còn được biết  nhiều điểm mềm yếu trong con người Anfons. Tôi nói.
-Tôi rất muốn xem thử – nàng đáp – Trông bác ta chẳng có vẻ gì mềm yếu cả.
-Thế mà có đấy! - Tôi chỉ vào chiếc bàn đặt cạnh quầy – Kia kìa!
-Cái gì? Chiếc máy quay đĩa ấy à?
-Không phải chiếc máy quay đĩa. Các bái hát đồng ca cơ. Anfons ưa thích hát đồng ca lắm. Không nhạc nhảy, nhạc cổ điển cũng không... chỉ đồng ca thôi: đồng ca nam, đồng ca nữ.... trên đĩa hát của bác ta chỉ rặt đồng ca là đồng ca. Kìa bác ta lại đấy.
-Ngon chứ? Anfon hỏi.
-Ngon sánh ngang các cụ bà nhà ta vẫn nấu. Tôi đáp.
-Thế còn quý cô?
-Đời tôi chưa bao giờ được nếm món sườn tuyệt đến thế. Quý cô đáp chững chạc.
Anfons thỏa mãn gật đầu. - Giờ tôi cho hai người nghe thử những đĩa chiếc đĩa mới  của tôi. Các người cứ gọi là sửng sốt nhá.
Bác đi lại chiếc máy quay đĩa. Kim chạy sào sạo và một dàn đồng ca nam giọng vang như sấm hùng hồn cất tiếng hát bài Tĩnh mịch trong rừng thẳm. Rõ là một sự tĩnh mịch đinh tai nhức óc chết tiệt.
Vừa nghe nhịp đầu, cả quán đã im phắc. Anfons trở nên đáng gờm cho kẻ nào không chịu tỏ ra ta đây cũng thưởng thức. Bác đứng bên quầy, hai cánh tay lông lá tì lên mặt kính. Nét mặt bác thay đổi dưới sức mạnh của âm nhạc. Bác đâm ra mơ mộng... mơ mộng như một con khỉ đột có thể thả hồn chơi vơi. Các bài đồng ca có một mãnh lực phi thường đối với bác. Chúng biến bác hiền như con nai con. Ngay giữa cuộc ẩu đả... hễ dàn đồng ca man cất tiếng hát là bác buông ngay địch thủ, như thể có chiếc đũa thần đụng phải, lắng tai nghe và sẵn sàng dàn hòa. Trước kia, thời bác hay nổi cơn thịnh nộ hơn, bác gái luôn đặt sẵn trên máy những đĩa hát bác đặc biệt yêu thích. Hễ thấy tình thế trở nên nguy hiểm và thấy bác lăm lăm tay búa hùng hổ tứ sau quầy nhào ra, bác gái vội đặt kim lên đĩa... Thế là Anfons buông búa, lắng tai nghe rồi dịu luôn. Thời gian trôi, và bây giờ điều đó chẳng còn cần thiết nữa... Bác gái đã mất, chân dung bà – quà tặng của Ferdinan Grau, bù vào đó họa sĩ cứ việc đến quán ăn khỏi phải trả tiền – treo phía trên quầy... ngay Anfons cũng đã già đi, lạnh lùng hơn. Hết đĩa, Anfons lại gần.
-Tuyệt vời – tôi nói.
-Nhất là giọng teno đầu – Patoris Honman đế thêm.
-Chính thế! - Anfons nói, lần đầu tiên trở nên sôi nổi – Cô sành lắm! Giọng teno đầu thuộc loại cừ khôi.
Chúng tôi cáo biệt bác – Chào Gotfrit hộ tôi nhé – bác nói – Bảo cậu ấy sao lâu nay không thấy thò mặt đến đây.
Chúng tôi đứng trên hè phố. Ánh sáng đèn đường trước nhà nhảy nhót trên tán cây cổ thụ. Các cành khô đã nhú trồi xanh, và nhờ những tia sáng mờ, lung linh hắt từ dưới lên, cái cây trông như to hơn, cao hơn, tưởng chừng ngọn của nó mất hút trong bóng hoàng hôn... nó giống một bàn tay khổng lồ xòa rộng vươn lên bầu trời trong nỗi khát khao khôn cùng.
Patoris Honman khẽ rùng mình.
-Cô lạnh à – Tôi hỏi.
Nàng so vai và luồn hai bàn tay vào ống tay áo khoác lông của nàng.
-Một nhoáng thôi. Ở trong kia ấm quá mà.
-Cô ăn mặc hơi phong phanh – tôi nói – Tối còn lạnh nữa!
Nàng lắc đầu – Tôi không thích mặc những đồ dày. Và tôi mong sao trời ấm trở lại. Tôi ghét lạnh. Nhất là cái lạnh ở trong thành phố.
-Trong chiếc Cadilac ấm đấy – tôi nói – Tôi còn mang theo một cái chăn.
Tôi đỡ nàng lên xe và lấy chăn phủ lên đầu gối nàng. Nàng trùm cao thêm chút nữa – Tuyệt vời! Thế này dễ chịu lắm. Lạnh phát buồn cả người.
-Đâu chỉ lạnh mà thôi – Tôi ngồi vào tay lái – Chúng ta đi dạo một lát nhé?
Nàng gật đầu – Rất vui lòng.
-Đi đâu bây giờ?
-Cứ thong thả xuyên qua các phố. Muốn đến đâu thì đến.
-Được.
Tôi nổ máy, chúng tôi cho xe chạy chầm chậm, không mục đích xuyên qua thành phố. Đây là giờ xe cộ đông nhất vào buổi chiều tối. Chúng tôi len lỏi hầu như không tiếng động, xe chạy êm thế đấy. Nó tựa như một con tàu lặng lẽ trôi trên những dòng kênh muôn sắc của cuộc đời. Đường phố cuồn cuộn chảy, những vòm cổng sáng rực, ánh điện nhấp nháy, những dãy đèn đường, cái náo động êm ái, ngọt ngào của cuộc sống lúc hoàng hôn, cơn sốt êm dịu của đêm thắp sáng, và bên trên tất cả, giữa các đường viền mái nhà, bầu trời mênh mông màu xám bạc với ánh sáng hăt lên từ đường phố.
Cô gái ngồi lặng lẽ bên cạnh tôi; qua cửa kính xe, ánh sáng và bóng tối luân chuyển trên gương mặt nàng. Chốc chốc tôi lại nhìn sang nàng, giờ đây nàng gợi cho tôi  nhớ đến buổi tối đầu tiên tôi gặp nàng. Gương mặt nàng nghiêm trang hơn, có vẻ gì đó xa lạ hơn trước, nhưng tuyệt đẹp... Đó chính là gương mặt đã khiến tôi xao xuyến và không sao quên nổi. Tôi cảm tưởng như nó chứa đựng chút bí ẩn của sự tĩnh lặng, cái bí ẩn mầ chỉ có những vật gần gũi thiên nhiên mới có – cây cỏ, mây trời, muông thú... và đôi khi một người đàn bà.

***
Chúng tôi đi ra những đường phố yên tĩnh vùng ngoại ô. Gió mạnh lên. Dường như gió đang thổi đêm đến. Tôi dừng xe bên một khoảng trống rộng, xung quanh, trong những mảnh vườn nhỏ, những căn nhà xinh đnag say ngủ.
Patoris Honman cựa mình như vừa tỉnh dậy.
-Tuyệt thật! - lát sau nàng nói – Tôi mà có xe thì tối nào tôi cúng thong thả đi rong thế này. Có một chút gì huyền ảo khi được lặng lẽ lướt qua mọi nơi như thế. Ta tỉnh và mơ cùng một lúc. Tôi có thể tưởng như người ta không cần có những người khác nữa, khi tối đến...
Tôi móc túi lấy một bao thuốc lá – Tối đến, người ta cần có ai đó phải không?
Nàng gật – Vâng, tối đến. Khi trời tối dần kỳ lạ lắm!
Tôi bóc bao thuốc – Thuốc lá Mỹ đây. Cô ưa loại náy chứ?
-Vâng. Thậm chí ưa hơn cả.
Tôi châm lửa cho nàng. Ngọn lửa gần và ấm áp nơi đầu que diêm rọi sáng gương mặt nàng, đôi bàn tay tôi trong khoảnh khắc, và thốt nhiên tôi có những ý nghĩ điên rồ, tưởng như chúng tôi đã thuộc về nhau từ lâu lắm.
Tôi hạ kính cửa xe xuống để khỏi thuốc thoát ra ngoài.
-Bây giờ cô muốn lái một chút chăng?- Tôi hỏi – Chắc chắn sẽ thấy thú vị đấy.
Nàng quay sang tôi – Tôi muốn lắm; nhưng  tôi không biết lái.
-Không biết thật à?
-Thật. Tôi chưa học bao giờ.
Tôi vớ được dịp – Lẽ ra ông Bindinh phải dậy cho cô từ lâu lắm mới phải – tôi nói.
Nàng cười – Bindinh quá say mê xe của mình. Ông ta chẳng cho ai mó vào nó cả.
-Rõ ngớ ngẩn – tôi khoái chí vì có cơ hội chơi lão béo một vố – Tôi để cô lái thoải mái. Cô ngồi vào đây.
Cho bay mọi lời căn dặn của Koester, tôi xuống xe để cô gái ngồi vào tay lái. Nàng trở nên lo lắng.
-Nhưng tôi không lái được thật mà.
-Được chứ – tôi nói – cô lái thừa sức. Có điều cô chưa biết đó thôi – Tôi bày cho nàng cách rồ máy, cài số.
-Thế – tôi nói – và bây giờ ta đi nào.
-Khoan đã! - Nàng chỉ một chiếc xe bus đang lầm lũi trườn dọc phố – ta không chờ nó chạy qua cái sao?
-Không đời nào! Tôi nhanh nhẹn rồ máy và cài số.
Nàng nắm cứng lấy tay lái, mắt căng thẳng nhìn con đường trước mặt – Lạy Chúa, chúng ta phóng nhanh quá!
Tôi nhìn đồng hồ đo tốc độ – Cô đang cho xe chạy đúng hai mươi lăm cây số giờ. Trong thực tế là hai mươi cây. Tốc độ thích hợp cho một chiếc xe chạy đường trường.
-Thế mà tôi cứ ngỡ những tám mươi cây số cơ đấy.
Sau ít phút, nàng đã chế ngự được nỗi sợ ban đầu. Chúng tôi chạy xuôi một con đường rộng, thẳng tắp. Chiếc Cadilac hơi lạng sang hai bên, tuồng như trong thùng xăng của nó không chứa xăng mà đầy ắp rượu cô nhắc, thỉnh thoảng nó lại suýt quẹt vào lề đường một cách đáng ngại... nhưng dần dần chú chàng chạy đã chững chạc lắm, và sự thể xoay chiều đúng như tôi dự đoán: tôi giành được lợi thế bởi chúng tôi bỗng trở nên thầy trò, và tôi tận dụng triệt để cơ hội ấy.
-Coi chừng – tôi nói – phía trước có cảnh sát.
-Ta dừng xe chăng?
-Quá muộn mất rồi.
-Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ông ta chặn hỏi tôi? Tôi không có bằng lái.
-Thì cả hai ta sẽ vào tù.
-Vì Chúa! - Nàng hốt hoảng quờ chân tìm cần phanh.
-Nhấn ga! - tôi kêu – Nhấn ga! Dận mạnh vào. Ta phải phóng vèo qua thật hiên ngang. Xấc xược là biện pháp hữu hiệu nhất đối chọi với pháp luật.
Viên cảnh sát chẳng buồn để ý đến chúng tôi. Cô gái thở phào – Tôi chưa hề nghĩ đám cảnh sát giao thông diện mạo lại đáng gờm như bầy rồng phun lửa! - Nàng nói khi chúng tôi đã vượt qua đó hàng trăm thước.
-Họ chỉ phun lửa khi ta tông vào họ – Tôi từ từ kéo cần phanh – Thế, đây là con đường phụ vắng vẻ tuyệt đẹp. Ta sẽ tập cho ra tập. Trước hết hãy tập cho xe lăn bánh, dừng bánh.
Patoris Honman lằm tắt máy mấy lần. Nàng cởi khuy áo khoác lông của mình ra – Nó làm tôi phát bức! Nhưng tôi sẽ tập cho bằng được.
Hăng hái, tập trung, nàng ngồi bên tay lái chăm chú xem tôi làm mẫu. Rồi nàng tập quành, miệng thốt lên những câu xúc động rời rạc, nàng sợ chết khiếp khi phải đương đầu với những luồng đèn pha đi ngược chiều, tựa như chúng là lũ quỷ, và nàng rất mực kiêu hãnh khi xe vượt qua êm đẹp. Chẳng mấy chốc, tỏng cái không gian bé nhỏ lờ mờ ánh đèn dài và đồng hồ xe, đã nảy nở một tình cảm bạn bè như nó vẫn thường nhanh chóng hình thành trong những công việc mang tính chất kỹ thuật và thực hành... Nửa giờ sau, khi chúng tôi đổi chỗ để tôi lái về, chúng tôi đã trở nên thân thiết với nhau hơn là giả sử hai đứa vừa cùng tâm sự về toàn bộ đời mình.

***
Đến phố Nicolai tôi dừng xe. Chúng tôi đỗ ngay dưới một tấm biển quảng cáo phim đỏ rực. Lớp nhựa đường ánh lên lờ mờ như một thứ phẩm nhuộm đỏ sẫm đã phai màu. Bên vệ đường lấp lánh một vũng dầu lớn đen nhãy.
-Nào – tôi nói – bây giờ ta xứng đáng được công khai hưởng một ly rượu. Ta đi đâu uống nhỉ?
Patoris Honman suy nghĩ một thoáng – Hay đến cái quán xinh xắn đáng yêu có những chiếc thuyền buồm nhỏ ấy được không? - nàng đề nghị.
Trong tích tắc tôi cảnh giác cao độ. Giờ này, trăm phần chắc cả trăm, thế nào anh chàng lãng mạn cuối cùng cũng ngồi lù lù ở đó. Tôi đã hình dung ra vẻ mặt cậu ta... - Ôi dào! - Tôi nói nhanh – Quán ấy thì có gì đặc biệt nhỉ. Có nhiều tiệm còn hay ho hơn nhiều...
-Tôi không biết... hôm vừa rồi tôi thấy quán ấy xinh xắn đáng yêu lắm!
-Thật không? - tôi sửng sốt hỏi – Hôm rồi cô thấy thích nó à?
-Vâng – nàng cười đáp – rất thích là đằng khác.
Té ra vậy! - Tôi tự nhủ, thế mà tôi cứ tự sỉ vả mình mãi – Nhưng tôi tin giờ ở đó đang chật ních người – tôi thử bàn lùi thêm lần nữa.
-Thì ta cứ đên đó thử xem.
-Ừ thì đến – tôi suy tính xem nên xoay cách nào đây.
Vừa đến nơi tôi đã nhanh nhẹn xuống xe – Tôi ngó qua một loáng thôi, sẽ quay lại ngay.
Ngoài Valentin, không thấy ai quen trong tiệm – Này cậu – tôi hỏi – Gotfrit đã đến đây chưa?
Valentin gật đầu – Rồi, đi cùng với Otto. Họ đã bỏ đi cách đây nửa giò.
-Tiếc quá – tôi thở phào – mình rất muốn gặp họ.
Tôi trở ra xe – ta có thể liều một phen – tôi nói – Ngẫu nhiên mà hôm nay trong quán chẳng đông mấy – Dẫu sao để đề phòng tôi vẫn đậu chiếc Cadilac ở góc phố tiếp đó, khuất trong chỗ tối nhất.
Nhưng chúng tôi ngồi chưa ấm chỗ đã thấy mớ tóc vàng rơm của Lenz xuất hiện bên quầy rượu. Mẹ kiếp, tôi nghĩ, giờ lộ chuyện rồi đây. Tôi những muốn thư thư vài tuần nữa.
Có vẻ như Gotfrit chỉ ghé qua chực đi ngay. Tôi vừa khấp khởi tưởng thoát nợ thì thấy Valentin nhắc cậu ta tôi ngồi đằng kia. Đáng đời cái tội nói dối ban nãy. Vẻ mặt Gotfrit khi cậu ta thấy hai đứa chúng tôi xứng là một trang khảo cứu xuất sắc cho một diễn viên điện ảnh ham học hỏi. Mắt cậu ta trồi ra như hai hòn bi ve, và tôi e rằng hàm dưới của cậu ta sẽ long ra mất. Đáng tiếc đúng giây phút này không một nhà đạo diễn nào có mặt trong quán; nếu có tôi đoán chắc ông ta đã giúp Lenz ngoi lên trong giới điện ảnh. Chẳng hạn để thủ những vai như một thủy thủ đắm tàu bỗng thấy hiện trước mắt mình một con rắn biển đang phun phì phì.
Gotfrit nhanh chóng trấn tĩnh lại. Tôi ném cho cậu ta một cái nhìn van vỉ, xin cậu ta biến đi cho. Nhưng cậu ta đáp lại bằng một nụ cười nhếch mép đểu giả, vuốt chiếc áo vét trên mình cho thẳng nếp, và bước lại gần.
Tôi biết điều gì đang đe dọa mình nên tấn công ngay – Cậu đã đưa cô Bomblat về nhà rồi à? - Tôi hỏi để trung lập hóa cậu ta.
-Ừ! cậu ta trả lời, không một sợi mi mắt nào động đậy khả dĩ tiết lộ rằng một giây trước đố cậu ta còn không biết có một cô nàng Bomblat tồn tại trên đời.
Cô ta gửi lời chào cậu, nói sáng mai cậu gọi điện cho cô ta sớm.
Trả miếng búa bổ đấy. Tôi bèn gật đầu – Mình sẽ gọi. Mình vẫn hy vọng cô ta sẽ mua chiếc xe.
Lenz lại mở miệng. Tôi đá vào ống chân cậu ta và lừ mắt cảnh cáo khiến cậu ta mỉm cười không nói nữa.
Chúng tôi cạn vài  ly rượu. Tôi chỉ uống loại Sidecais vắt nhiều chanh. Tôi không muốn tự mình lại bắt quả tang mình say.
Gotfrit đang cực kỳ phởn chí – Mình vừa lại đằng nhà cậu – cậu ta nói – mình định rủ cậu ra quảng trường Chợ. Ở đấy có một chiếc đu quay mới rất chúa sừng. Ta đi chơi tí không? - Cậu ta nhìn Patoris Honman.
-Đi ngay! - nàng đáp – Tôi yêu đu quay hơn hết thẩy mọi thứ!
-Vậy ta nhổ rễ luôn thôi – tôi nói. Tôi phấn khởi vì được thoát ra ngoài. Ngoài trời mọi sự sẽ đơn giản hơn.

***
Đám đàn ông quay đàn – những trạm gác phòng ngoài cùng quảng trường Chợ. Tiếng nhạc rền rĩ ngọt ngào, buồn bã. Trên những tấm nhung nhàu nhĩ phủ đàn đôi khi có một con vẹt hoặc một chú khỉ nhỏ rảy trong chiếc áo khoác đỏ bằng vải thô. Rồi những tiếng rao hàng lảnh lói của đám người bán nhựa maclit gắn đồ sứ, dao cắt kính, mật ong Thổ Nhĩ Kỳ, bóng bay và vải may comple. Ánh sáng xanh lạnh lẽo, mùi những ngọn đèn đốt bằng khí cácbua. Những thầy đoán số, những nhà chiêm tinh, những căn lều bán bánh quê, những chiếc du thuyền, những gian hnàg với các trò giải trí và cuối cùng, ầm ĩ tiếng nhạc, sặc sỡ, lộng lẫy và rực sáng như những tòa lâu đài: những ngọn tháp xoay tròn của chiếc đu quay.
-Nhanh nào các bạn! – Lenz xông vào. Con đường xuyên núi non, thung lũng với cái đầu bù xù. Đây là nơi dàn nhạc lớn nhất chợ chơi. Cứ mỗi vòng quay lại có sáu anh chàng thổi kèn trompet bước ra akhỏi sáu cái bục sơn son thếp vàng, họ quay người về mọi phía, vẫy vẫy, múa may những chiếc kèn, rồi lại lùi về. thực là huy hoàng.
Chúng tôi ngồi vào một con thiên nga lớn và cứ thế xoay vù vù khi lên khi xuống. thế giới lộng lẫy lướt qua, chao đảo rồi trở lại một đường hầm tối đen, chúng tôi xuyên qua đường hầm ấy trong tiếng trống khua loạn xạ để rồi liền đó lại được chào đón trong ánh sáng rực rỡ và tiếng kèn trompet.
-Tiếp tục! – Gotfrit kéo chúng tôi tới một chiếc đu quay với những khinh khí cầu và phi cơ. Chúng tôi trèo lên một chiếc khinh khí cầu và chao lượn ba vòng liền.
Khi xuống tới đất, chúng tôi hụt hơi. – Bây giờ đến chỗ bánh xe quỷ! – Lenz tuyên bố.
Bánh xe quỷ là một mặt tròn phẳng khổng lồ, ở giữa hơi lồi, luôn quay nhanh dần, và ta phải chống chọi để không bị nó hất xuống. Gotfrit trèo lên với chừng hai chục người nữa. cậu ta nhảy loi choi như một thằng cha lên cơn khùng và được hoan hô nhiệt liệt. Rốt cuộc còn lại mỗi mình cậu ta và một chị bếp có cặp mông đồ sộ như mông  ngựa cày. Khi cuộc chơi trở nên khó nhá, chị chàng khôn lỏi ngồi phệt ngay xuống chính giữa  mặt tròn, và Gotfrit loi choi lượn vòng sát chị ta. Những kẻ khác đã bị lẳng ráo xuống đất. rốt cuộc, số phận cũng túm gáy con người lãng mạn cuối cùng, anh chàng chếnh choáng nhào vào lòng chị bếp, rồi, vẫn trong vòng tay ôm của chị, lăn lông lốc sang một bên. Khi trở xuống chỗ chúng tôi, Lenz đã khoác tay chị bếp và thân mật gọi chị là Lina. Lina mỉm cười ngượng nghịu. lenz hỏi chị muốn dùng gì để cậu ta đãi. Lina bèn nói uống bia , chắc là đã khát. Cả hai biến vào một rạp vũ dân gian vùng Bayen Thượng *(Trong điệu vũ, diễn viên vừa nhảy vừa đập tay vào đùi, đầu gối và bàn chân mình).
-Còn chúng mình? Chúng mình đi đâu bây giờ?
Patoris Honman hỏi, hai mắt long lanh.
-Vào mê cung ma quỷ - tôi nói – tay chỉ một căn lều lớn.
Mê cung là một con đường đầy rẫy sự kinh ngạc. đi được vài bước, đất chòng chành dưới chân, những bàn tay quờ quạng trong bóng tối, từ các góc ló ra những bộ mặt quỷ sứ, lũ ma hú hét… Chúng tôi chỉ cười, nhưng một lần cô gái giật mình lùi lại trước một cái đầu lâu sáng xanh lè. Trong khoảnh khắc, nàng ngả người trong cánh tay tôi, hơi thở của nàng phớt trên mặt tôi, và tôi cảm thấy tóc nàng khẽ vương vào môi mình… ngay sau đó nàng lại cười, tôi buông nàng ra.
Tôi buông nàng, nhưng một cái gì trong tôi không buông nàng. Chúng tôi đi ra ngoài đã lâu mà tôi vẫn cảm thấy đôi vai nàng trên cánh tay tôi, cảm thấy làn tóc mềm mại và hương đào thoang thoảng của da thịt nàng. Tôi tránh khôngnnhìn nàng. Thốt nhiên, nàng đã trở nên khác hẳn đối với tôi.
Lenz đã chờ tôi. Cậu ta đứng một mình. – Lina đâu rồi? – tôi hỏi.
-Đang nốc rượu – cậu ta đáp, đầu hất về phía căn lều nông dân – với một tay phó rèn.
-Xin có lời chia buồn. Tôi nói.
-Nhảm nhí – Gotfrit nói – bây giờ ta chuyển sang những trò đàn ông nghiêm túc thôi.
Chúng tôi vào một căn lều, nơi người ta thi thố tài ném những cái vòng cao su cứng sao cho chúng ngoắc vào những cái móc, ném trúng thì được thu về đủ mọi thứ linh tinh.
-Nào – Lenz nói với Patoris Honman và hất mũ ra sau gáy – bây giờ chúng tôi sẽ thu lượm cho cô một đống hồi môn.
Cậu ta ném trước tiên và được một chiếc đồng hồ báo thức. đến lượt tôi đoạt một con gấu nhung. Chủ lều vừa trao giải cho chúng tôi vừa luôn miệng mời chào để lôi kéo các khách hàng khác. – Xem còn mời chào được mấy nả - Gotffrit mỉm cười và chiếm luôn  một cái chảo rán. Tôi làm thêm chú gấu thứ hai. – Chà, may khiếp – chủ lều nói khi trao đồ cho bọn tôi.
Lão có ngờ đâu cái gì đang đợi lão, Lenz từng là tay ném lựu đạn cừ khôi búa bổ nhất đại đội, và mùa đông đến, hễ rỗi việc là hàng tháng ròng, chúng tôi tập ném mũ lên mọi loại móc có trước mắt chúng tôi. So ra thì những chiếc vòng này chỉ là trò trẻ con. Gotfrit nhẹ nhàng giành một lọ hoa phalê. Tôi lượm có đến nửa tá đĩa hát. Lão chủ lều lầm lì đẩy các thứ cho chúng tôi, đoạn kiểm tra các móc của lão. Lenz nhằm, ném và chiếm luôn giải nhì, một bộ đồ uống cà phê. Giờ đây, chúng tôi có cả đám khán giả vây xung quanh. Tôi ném một lèo luôn ba vòng vào móc. Kết quả: Bức Thánh giá Mardelena sám hối đóng trong khung thếp vàng.
Lão chủ lều nhăn nhó như thể đang ngồi trên ghế nhổ răng, lão từ chối không cho chúng tôi tiếp tục với trò ném vòng. Chúng tôi định thôi, nhưng đám khán giả làm ầm lên. Họ đòi lão để chúng tôi chơi tiếp. họ muốn nhìn thấy lão sập tiệm. lina to mồm nhất, chị ta đã cùng bác phó rẻn trở lại đây từ bao giờ. – Thiên hạ chỉ được quyền ném trượt thôi hả? – chị ta la to – còn ném trúng thì không được quyền, đúng chứ? – Bác phó rèn gầm lên hưởng ứng.
Tốt lắm – Lenz nói – mỗi thằng một cú nữa đi.
Tôi ném trước, đoạt một cái chậu với một chiếc bình và hộp đựng xà phòng. Rồi đến lượt Lenz. Cậu ta cầm năm vòng, loáng cái đã ném bốn chiếc vào  một móc. Trước khi ném nốt chiếc thứ năm, cậu ta cố tình nghỉ một lát để tăng hiệu quả cuộc trình diễn và hút thuốc. ba người đàn ông vội chìa lửa cho Lenz. Bác phó rèn vỗ vai cậu ta. Lina cắn khăn múi xoa vì quá hồi hộp. sau đó, Lenz nhằm, và rất nhẹ nhàng để chiếc vòng khỏi bật ra, cậu ta ném chiếc thứ năm chồng lên bốn chiếc kia. Vòng móc lại trên móc. Tiếng reo hò vang rền. lenz đoạt giải độc đắc – một chiếc xe nôi trong có chăn hồng và gối đăng ten.
Lão chủ lều vừa đẩy chiếc xe ra vừa chửi thề. Chúng tôi chất tất cả lên xe, kéo nhau sang lều bên. Lina đẩy xe. Bác phó rèn thấy vậy bèn buông những lời bông đùa cợt nhả khiến tôi chỉ muốn cùng Patoris Honman lùi sau họ một quãng. ở lều tiếp theo người ta chơi trò ném vòng lọt qua những chai rượu vang. Ném lọt chai nào, được chai ấy. chúng tôi quơ cả sáu chai liền. Lenz xem nhãn rượu, rồi biếu cả cho bác thợ rèn.
Còn một lều nữa có trò chơi tương tự, nhưng ông chủ đã đánh hơi được nguy hiểm, nên khi chúng tôi đến, ông tuyên bố đóng cửa. bác phó rèn toan gây gổ, bác đã nhìn thấy những chai bia có thể đoạt được. nhưng chúng tôi ngăn bác. Ông chủ lều chỉ còn có một cánh tay.
Chúng tôi về chiếc Cadilac với một đám lẵng nhẵng theo sau. – Làm thế nào  bây giờ? – Lenz vừa hỏi vừa gãi đầu – Tốt hơn hết ta buộc chiếc xe nôi vào sau xe mà kéo.
-Tất nhiên – tôi nói – nhưng cậu phải ngồi vào xe nôi mà điều khiển để nó khỏi tùng bê.
Patoris Honman phản đối. nàng sợ nhỡ Lenz làm thật.
-Được – Gotfrit nói – vậy chúng ta hãy phân loại – Hai con gáu nhung này cô nhất định phải cầm. cả những chiếc đĩa hát nữa. thế còn cái chảo?
Cô gái lắc đầu – Nó sẽ trở thành tài sản của xưởng vậy – Gotfrit tuyên bố - Hãy nhận nó về, bậc thầy tráng trứng lão thành Robby ơi. Còn bộ đồ uống cà phê?
Cô gái hất đầu về phía Lina. Chị bếp đỏ mặt, Gotfrit trao đồ cho chị ta trịnh trọng như trao giải thưởng. đoạn cậu ta lôi ra cái chậu men. – Thế cái chậu rửa này? Xin biếu ông bạn láng giềng đây, phải không? Có ích cho nghề của bác. Cả chiếc đồng hồ báo thức nữa. cánh thợ rèn có tật ngủ say như chết.
Tôi đưa Gotfrit cái lọ hoa. Cậu ta trao nó cho Lina. Chị ta ấp úng chực từ chối. mắt chị ta dán chặt vào Thánh Mardelena sám hối. chị ta sợ nhỡ nhận lọ hoa này rồi thì bức tranh sẽ về tay bác thợ rèn. – Tôi ham mê nghệ thuật – chị ta thốt lên. Chị ta đứng đó thèm thuồng đến tội nghiệp, miệng cắn cắn những ngón tay đỏ lựng để kìm bớt xúc động.
-Thưa quý tiểu thư – Lenz quay lại Patoris Honman hỏi với vẻ mặt trịnh trọng – Tiểu thư nghĩ sao ạ?
Patoris Honman cầm bức tranh, đưa nó cho chị bếp - Bức tranh đẹp lắm, chị Lina ạ - nàng nói.
-Hãy treo nó trên đầu giường chị và hãy yêu quý nó – Lenz tiếp lời. lina vồ lấy bức tranh. Mắt chị ta đẫm lệ. chị ta nức to lên một tiếng vì biết ơn.
-Còn mày nữa – Lenz nói với chiếc xe nôi, vẻ trầm tư. Mặc dù còn hạnh phúc tràn trề vì bức tranh Mardelena, mắt Lina đã lại sáng lên thèm thuồng. Bác phó rèn tán rằng người ta chẳng thể nào biết được bao giờ người ta sẽ cần đến cái của ấy và phá lên cười thích thú, buông rơi cả một chai vang. Nhưng Lenz không thuận – Khoan, ban nãy tôi vừa trông thấy….- cậu ta nói rồi biến mất. Vài phút sau cậu ta về đẩy chiếc xe đi. – Xong rồi – cậu ta bảo khi trở lại. Chúng tôi lên chiếc Cadilac – Hệt như lễ Chúa giáng sinh ấy! – Lina hoan hỷ giữa đống chiến lợi phẩm của mình, đoạn chị ta chìa bàn tay to bè, đỏ lựng ra bắt tay tạm biệt chúng tôi.
Bác phó rèn còn ghé đầu vào giây lát nói riêng với chúng tôi – Nghe này – bác dặn – phòng có lúc các cậu cần cho thằng nào nếm đòn… tôi ở phố Laibnis, nhà số 16, qua sân sau, lên tầng hai rẽ trái. Rủi chúng đông, tôi kéo cả phường hội của tôi.
-Nhất trí – chúng tôi đáp và phóng xe đi. Khi chúng tôi quành xe ở góc quảng trường Chợ, Gotfrit chỉ ra cửa xe. Kìa, chiếc xe nôi của chúng tôi với một đứa bé bằng xương bằng thịt, bên cạnh, một người đàn bà xanh xao đang ngắm nghía chiếc xe, vẻ mặt vẫn chưa hết bối rối.
-Được đấy chứ hả? gotfirit hỏi.
-Anh hãy cho nốt chị ta những con gấu này đi! – Patoris Honman kêu lên.
-Có lẽ cho một con thôi – Lenz nói – Cô phải giữ một con chứ.
-Không, cho cả hai đi.
-Được – Lenz nhảy khỏi xe, ném vào lòng người đàn bà hai thứ đồ chơi bằng nhung nọ, rồi ba chân bốn cẳng chạy biến như đang bị truy đuổi, không để cho bà ta kịp mở miệng nữa. – Dào – cậu ta thở phào – giờ thì mình mệt lử vì cái thói hào hiệp của mình. Cho mình xuống Quốc Tế nhé. Phải làm một ly cô nhắc mới xong.
Cậu ta xuống xe, tôi đưa cô gái về nhà. Lần này khác với lần trước. nàng đứng trong khung cửa, ánh đèn đường lung linh trên gương mặt nàng. Nàng xinh đẹp quá. Giá như tôi được theo nàng.
-Xin chào – tôi nói – cô ngủ ngon nhé!
-Chúc anh ngủ ngon!
Tôi nhìn theo nàng cho đến kghi đèn trong nhà tắt. đoạn, tôi lãi chiếc Cadilac về. một cảm giác kỳ lạ đến trong tôi. Nó không giống với cảm giác ta thường có những tối nào, khi ta si mê một cô gái. Lần này đượm tình âu yếm hơn. Tình âu yếm và niềm khát vọng được buông thả lòng mình trọn vẹn. buông mình phiêu diêu đến đâu thì đến.

***
Tôi lại tìm Lenz ở tiệm Quốc Tế. tiệm hầu như vắng teo. Fritsi ngồi trong góc tiệm với anh bồi Alois người tình của ả. Anh chị chàng đang cãi nhau. Gotfrit ngồi cùng với Mimi và Oally trên chiếc đi văng cạnh quầy rượu. cậu ta tỏ ra khả ái với cả hai, với cả Mimi, ả gái xề tội nghiệp.
Các ả sửa soạn đi. Họ phải hành nghề; lúc này là thời điểm chính. Mimi rên rỉ và than thở vì chứng giãn tĩnh mạch của ả. Tôi ngồi xuống bên Gotfrit.
-Cứ việc nổ với mình đi. Tôi nói.
-Để làm gì bé yêu – cậu ta đáp khiến tôi ngạc nhiên – cậu xử sự hoàn toàn đúng.
Tôi nhẹ cả người khi thấy Lenz nhìn nhận sự việc đơn giản thế - Lẽ ra mình nên kể sơ sơ từ trước.
Cậu ta phẩy tay. Vớ vẩn!
Tôi gọi một ly rum – cậu hiểu không – tôi nói – mình chẳng biết tí gì về nàng. Cũng không rõ nàng quan hệ thế nào với Bindinh. Có thật hôm đó hắn đã kể ít nhiều với cậu?
Cậu ta nhìn tôi – Cậu đâm lo vì lẽ đó sao?
-Không.
-Mình cũng muốn tin như vậy. à mà chiếc áo khoác hợp với cậu lắm.
Tôi đỏ mặt.
-Việc gì mà đỏ mặt. cậu rất phải. mình những mong được như cậu.
Tôi nín lặng một lát – Vì sao, Gotfrit? – cuối cùng tôi hỏi.
Cậu ta lại nhìn tôi – vì tất thảy những thứ khác đều là rác rưởi, Robby ạ. Vì thời nay không còn gì đáng sống cả. hãy nghĩ đến những điều Ferdinan đã nói với cậu hôm qua. Cái thằng phết màu xác chết béo bệu, già đời ấy không phải là không có lý. Nào, giờ thì lại đây, ngồi vào đàn và chơi vài bài hát cũ của lính xem nào.
Tôi chơi bài Ba bông huệ và Rừng Agonner. Trong tiệm vắng tanh, tiếng đàn vang lên có vẻ ma quái, nếu nhớ lại cái thời chúng tôi thường xuyên hát những giai điệu ấy.

(Còn tiếp)
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG VII
 
Hai ngày sau, Koester nhào ra từ cái văn phòng khổ của chúng tôi. – Robby, lão Blumenthan của cậu vừa gọi điện. Lão yêu cầu cậu mười một giờ lái chiếc Cadilac đến chỗ lão. Lão muốn chạy thử.
Tôi quẳng cả mỏ lết lẫn cờ lê.
Mẹ kiếp, Otto… phen này khéo trúng quả!
-Mình đã bảo các cậu thế nào rồi, từ cái hố dưới gầm chiếc Four, Lenz kêu lên – Lão sẽ trở lại, mình đã nói mà, phải luôn luôn tin lời Gotffrit!
-Câm mõm đi, đang chuyện nghiêm chỉnh – tôi hét lên – Này, Otto, mình có thể bớt giá nhiều nhất là bao nhiêu?
-Nhiều nhất là hai ngàn. Quá lắm thì hai ngàn hai. Trường hợp cùng đường, đành hai ngàn rưởi. nếu cậu thấy cậu đang ngã giá với một thằng điên thì hai ngàn sáu vậy. Nhưng nhớ đảm bảo cho hắn biết là bọn tao sẽ nguyền rủa hắn đời đời.
-Được.
Chúng tôi chùi cho chiếc xe bóng lộn lên. Tôi ngồi vào xe. Koester đặt tay lên vai tôi – Robby, nên nhớ: thời là lính cậu đã nhiều phen sát cánh với bọn mình. Hãy bảo vệ danh dự của xưởng chúng ta đến giọt máu cuối cùng. Có chết thì đứng mà chết, tay đặt lên vị trí lão Blumenthan.
-Nhất trí – tôi cười khì.
Lenz móc trong túi ra một chiếc mề đay và giơ nó lên trước mặt tôi – Sờ vào tấm bùa của mình đi, Robby!
-Thì sờ - Tôi nói, tay chạm vào tấm bùa.
-Úm ba la, cầu xin thần vĩ đại Siva – Gotfrit niệm thần chú – xin thần ban cho kẻ nhát gan này lòng can đảm và sức mạnh! Gượm đã, đây, cậu cứ cầm theo vẫn hơn. Thế, bây giờ hãy nhổ nước bọt ba lần nữa đi.
-Xong ngay – tôi nói và nhổ ba lần xuống đất, ngay trước chân Lenz, rồi phóng xe đi, khi qua chỗ Jupp, chú cao hứng vẫy chào tôi bằng cái vòi xăng.
***
Dọc đường, tôi mua vài bông cẩm chướng và cắm chúng rất nghệ thuật vào những bình pha lê gắn trong xe. Tôi tính dùng chúng lấy lòng bà Blumenthan.
Tiếc rằng Blumenthan tiếp tôi tại văn phòng chứ không phải ở nhà lão. Tôi phải chờ mười lăm phút. Cưng ơi, tôi nghĩ, đây biết tỏng mánh khóe của cưng rồi, cách đó cũng đừng hòng khiến đây mềm lòng. Trong phòng đợi, tôi hỏi dò một cô nàng đánh máy mà tôi mua chuộc được bằng bông cẩm chướng cài trên khuyết áo của mình về chuyện làm ăn của Blumenthan. Lão thầu đồ dệt kim, khối lượng hằng hóa lớn, có chín nhân viên trong văn phòng, là một thành viên trầm tính của công ty, kẻ cạnh tranh đáng gờm nhất của hãng Mayer và con trai, chàng Mayer còn sở hữu một chiếc Essex màu đỏ hai chỗ ngồi… thu lượm được chừng ấy tin thì Blumenthan cho gọi tôi.
Lão lập tức khai hỏa – Anh bạn trẻ - lão nói – tôi không có nhiều thời giờ. Cái giá vừa rồi là mộng ước của anh. Vậy nói thật đi, chiếc xe giá bao nhiêu?
-Bảy ngàn mác – tôi đáp.
Lão quay phắt đi. Thế thì chịu.
-Ngài Blumenthan – tôi nói – ngài hãy xem chiếc xe lần nữa…
-Không cần thiết – lão ngắt lời tôi – vừa rồi tôi đã nhìn kỹ…
-Nhìn và xem là hai việc khác nhau – tôi giải thích – Ngài cần xem xét các chi tiết xe. Lớp sơn hảo hạng, của hãng Phon và Ruabec riêng nó đã đáng giá hai trăm rưởi mac, vị chi là tám trăm rưởi. rồi đệm xe, bọc loại nhung mịn nhất…
-Lão phẩy tay. Tôi bắt đầu lại từ đầu. Tôi mời lão chiêm ngưỡng chiếc xe lộng lẫy, tấm mui da tuyệt đẹp, bộ tản nhiệt mạ kền, cặp ba đờ sốc tối tân giá sáu chục mac… tôi ngoái nhìn chiếc xe như đứa trẻ ngóng về mẹ và tìm cách thuyết phục Blumenthan quá bộ xuống xem. Cũng như Anteus, tôi biết rằng mặt đất sẽ truyền thêm sức mạnh cho tôi. Vả lại nếu mặt hàng được chỉ ra tường tận thì nỗi sợ hãi trừu tượng do giá cả gây nên sẽ giảm hẳn.
Nhưng Blumenthan cũng biết sức mạnh của lão nằm phía sau bàn giấy. lão bỏ kính xuống và mãi lúc này mới thật sự tấn công tôi. Chúng tôi quần nhau như hổ với trăn. Blumenthan chính là con trăn. Tôi chưa kịp đảo mắt ra xung quanh đã bị lão bớt nghéo ngàn rưởi mác.
Tôi đâm hoảng, bèn thọc tay vào túi, nắm chặt chiếc bùa của Gotfrit – Ngài Blumenthan – tôi cất giọng khá mệt mỏi – bây giờ là một giờ, hẳn ngài phải đi dùng cơm! – Tôi muốn bằng bất kỳ giá nào thoát khỏi căn phòng này, nơi giá cả cứ tan ra như tuyết.
-Hai giờ tôi mới ăn – Blumenthan lạnh lùng đáp – nhưng anh biết tôi đề nghị gì không? Ta có thể chạy thử xe bây giờ.
Tôi thở phào.
-Sau đó chúng ta sẽ nói chuyện tiếp – lão thêm. Tôi lại cảm thấy nghẹn thở.
Chúng tôi đánh xe về nhà lão. Tôi ngạc nhiên thấy kể từ lúc ngồi vào xe lão thay đổi hẳn, tuồng như được thay thế bởi một người khác. Hiền hậu, lão kể cho tôi nghe câu chuyện tiếu lâm về hoàng đế Franz Giodep mà tôi đã biết từ lâu. Để đáp lại, tôi hiến lão câu chuyện vui về tay soát vé tàu điện; lão lại xổ một tràng về anh nhà quê lạc đường vùng Sacsen, và lập tức được tôi hưởng ứng bằng một thiên diễm tình Scotlen… Về đến trước cổng nhà lão, chúng tôi mới trở lại nghiêm trang. Lão bảo tôi đợi một lát, lão vào đón vợ lão ra.
Cadilac béo yêu quý của ta – tôi nựng chiếc xe, tay vỗ về bộ tản nhiệt – phía sau những câu chuyện tiếu lâm hẳn ẩn náu một trò ma quỷ mới đây. Nhưng cứ yên trí, bọn ta sẽ kiếm được cho chú mày một mái nhà yên ấm. lão mua chú mày đấy… một khi tên Do Thái đã trở lại, hắn sẽ mua. Còn nếu một tín đồ Thiên chúa giáo trở lại, cứ là còn xơi nhé. Hắn sẽ đòi chạy thử cả chục chuyến để đỡ tiền tắc xi, và rồi hắn chợt nhớ ra là thay vì chiếc xe, hắn cần một thiết bị nhà bếp kia. Không, không, người Do Thái chơi được, họ biết họ muốn gì. Nhưng ta thề với chú mày, bạn béo tốt bụng của ta ạ: ta mà còn nhượng bộ kẻ hậu duệ chính tông của lão Giuda Makkabeus hiếu chiến một trăm đồng mac nữa thôi, thì suốt đời ta, ta sẽ không nhấp một giọt rượu nào nữa.
Bà Blumenthan xuất hiện. tôi nhớ lại mọi lời khuyên của Lenz, và từ tay lính chiến, tôi hóa thân thành một anh chàng hào hoa phong nhã. Thấy thế, Blumenthan chỉ nhếch một nụ cười khả ố. Lão quả là lòng lim dạ sắt. Lẽ ra lão nên thầu đầu máy xe lửa chứ không phải hàng dệt kim. Tôi thu xếp để lão ngồi vào ghế sau, còn vợ lão ngồi bên tôi.
-Tôi được phép đưa bà đi đâu đây, thưa quý bà? Tôi hỏi, giọng ngọt như mía lùi.
-Tùy anh- bà đáp, miệng mỉm một nụ cười mẫu tử.
Tôi bắt đầu gợi chuyện. thật dễ chịu khi được ở bên một con người vô hại. tôi nói năng nhỏ nhẹ tới mức Blumenthan chỉ nghe câu được câu chăng. Như vậy tự do thoải mái hơn. Nguyên việc có lão ngồi ám đằng sau đã đủ khó chịu lắm rồi.
Chúng tôi dừng xe. Tôi bước xuống, mắt nhìn chằm chằm địch thủ - dẫu sao ngài cũng phải thừa nhận rằng chiếc xe chạy êm như ru, thưa ngài Blumenthan.
-Êm như ru thì đã đáng gì, hở anh bạn trẻ - lão đáp với vẻ niềm nở kỳ lạ - một khi thuế má nuốt chửng con người ta. Thuế chiếc xe này nặng hết sức. nói để anh biết.
-Ngài Blumenthan – tôi nói, gắng giữ giọng đừng run – ngài là một thương gia, tôi có thể nói chuyện đứng đắn với ngài. Đó không phải là thuế, mà là một khoản chi. Ngài thử nghĩ, thời buổi này công việc kinh doanh đòi hỏi cái gì nào. Ngài cũng biết… không phải vốn như trước đây… cái đó cần tín dụng! và làm cách nào để nhận được tín dụng chứ? Bao giờ cũng vẫn nhờ vào vẻ ngoài của ta. Một chiếc Cadilac vừa vững chãi, vừa thanh lịch… đường bệ nhưng không lỗi thời… một quảng cáo sống cho việc kinh doanh.
Blumenthan vui vẻ quay sang vợ. –Anh ta có cái đầu Do Thái đấy chứ? Này, anh bạn trẻ - lão nói, vẫn với giọng thân mật – thời buổi này, cách quảng cáo hữu hiệu nhất cho tình đoàn kết là đánh bộ quần áo tồi tàn và đi xe buýt. Giá như hai ta có trong tay số tiền chưa trả cho xố xe hơi lịch sự đang lượn quanh đây, thì ta có thể ngồi rung đùi được. Tôi lấy tình thân mà nói cho anh biết.
Tôi nhìn lão ngờ vực. Lão mưu tính chuyện gì dưới cái vỏ ân cần này? Hay là sự có mặt của bà vợ đã làm giảm tinh thần chiến đấu của lão? Tôi quyết định nổ súng – Một chiếc Cadilac thế này không thể đem so sánh với một chiếc Essex, có phải thế không ạ, thưa quý bà? Cậu chủ trẻ của hãng Mayer và con trai sử dụng cái của ấy đấy, thứ mà tôi đây giá có được biếu cũng chẳng buồn nhận, một cỗ xe trượt đỏ chóe, trông mà ngứa con mắt…
Nghe tiếng Blumenthan thở phì phì, tôi vội vã tiếp: Vả lại màu sắc chiếc xe đây lại hết sức phù hợp với bà, thưa quý bà… xanh cô ban dịu đi với màu vàng óng của mái tóc…
Bỗng Blumenthan cười  khầng khậc như cả một cánh rừng đầy khỉ rộ lên. -Mayer và con trai… khá lắm, khá lắm…- lão nấc lên. -Và bây giờ lại còn tán nhăng tán cuội… tán nhăng tán cuội!
Tôi nhìn lão. Tôi không tin vào mắt mình nữa; lão không đóng kịch! Tôi lập tức đưa tiếp nhát cưa đang dở. – Ngài Blumenthan, ngài cho phép tôi sửa lời ngài chút ít. Đối với một người phụ nữ không bao giờ có chuyện tán nhăng tán cuội cả. đó là những lời tán dương mà khốn nỗi càng ngày càng hiếm đi trong cái thời đại thảm hại của chúng ta. Phụ nữ không phải là cái két bạc, mà là một bông hoa… họ không đòi hỏi sự khách quan mà khao khát vầng thái dương tươi sáng biết mơn trớn. mỗi ngày, hãy nói với họ đôi lời êm đẹp thì hơn là suốt đời nai lưng làm việc vì họ. xin nói để ngài biết,  âu cũng do chỗ thân tình. Và tôi đâu có tán nhăng tán cuội… tôi chỉ đơn giản dẫn ra một nguyên tắc vật lý: màu xanh coban đi đôi với màu vàng óng.
-Gầm khá đấy chú sư tử non – Blumenthan rạng rỡ nói – Hãy nghe đây, anh Lokhamp! Tôi biết tôi còn có thể bớt của anh thêm trọn ngàn mác nữa…
Tôi lùi lại một bước. Quân Satang hiểm độc, tôi nghĩ, cú đòn ta hằng lo ngại đây. Tôi đã mường tượng thấy mình không một giọt rượu kéo lê đến mãn kiếp, và tôi hướng sang bà Blumenthan cặp mắt nai con thống thiết.
-Kìa, bố nó… bà nói.
-Mặc kệ tôi, mẹ nó – lão đáp – Thế đấy, lẽ ra tôi có thể… nhưng tôi không bớt. Là thương gia, tôi thấy khoái cung cách  làm ăn của anh. Còn hơi giàu trí tưởng tượng, nhưng dẫu sao… anh đã khéo nhắc đến Mayer và con trai đấy. Bà cụ thân sinh ra anh là người Do Thái?
-Không.
-Vậy anh đã từng ở trong xưởng may quần áo chăng?
-Phải.
-Ấy đấy, từ đó mà anh có cái phong cách này. Nghề gì?
-Tâm hồn – tôi đáp – Tôi đã từng mơ ước trở thành giáo viên.
-Anh Lokhamp – Blumenthan nói – Phục anh! Nếu khi nào anh không có một chỗ làm, hãy gọi điện cho tôi.
Lão viết một tấm sec trao cho tôi. Tôi không còn tin ở mắt mình. Trả trước! một chuyện lạ! – Ngài Blumenthan – tôi nói, lòng đã bị chinh phục – Xin ngài cho phép tôi được trao luôn cùng chiếc xe hai gạt tàn pha lê và một tấm thảm cao su thượng hạng không lấy tiền.
-Hay lắm – lão nói – lão già Blumenthan thế là cũng có lúc được biếu xén chút đỉnh. Đoạn lão mời tôi hôm sau lại dùng bữa cơm chiều. Bà Blumenthan mỉm cười với tôi, âu yếm như một người mẹ.
-Sẽ có cá măng nhồi – Bà dịu dàng nói.
-Một món ăn ngon tuyệt – tôi đáp – Vậy tôi xin đưa xe đến cho ông bà luôn thể. Sáng sớm mai chúng tôi sẽ cho sang tên ngay.
****
Tôi bay như chim én về xưởng. Nhưng Lenz và Koester đã đi ăn. Tôi còn phải dằn sự đắc thắng của mình lại. Chỉ có Jupp ở đây. – Bán rồi à? – chú hỏi.
-Mày muốn biết lắm đấy, đồ vô tích sự,- tôi nói – Đây cho mày một đồng tiền. Đi mà lắp lấy một chiếc phi cơ.
-Nghĩa là đã bán – Jupp cười ngoác miệng.
-Giờ tao đi kiếm cái gì ăn đây – tôi nói – nhưng liệu hồn nếu mày hé lộ với họ trước khi tao trở lại.
-Cậu Lokhamp – chú nói giọng thề thốt, tung tung đồng tiền trong không khí – tôi câm lặng như một nấm mồ mà.
-Trông mày có vẻ thế thật – tôi nói và nhấn ga.
Khi tôi quay về đến sân, Jupp ra hiệu cho tôi – Có chuyện gì? – tôi hỏi – Lại không giữ được mồm phải không?
-Kìa cậu Lokhamp! Tôi câm như thóc ấy chứ! – chú toét miệng cười – Có điều, lão xe Pho đang ở trong ấy.
Tôi đỗ chiếc Cadilac ngoài sân, bước vào xưởng. lão chủ hiệu bánh có đó, đang cúi xuống một cuốn sách mẫu màu. Lão vận một chiếc áo khoác kẻ ca rô ngắn đến thắt lưng, đính cái băng tang rộng bản. đứng bên lão là một cô nàng kháu khỉnh với cặp mắt đen linh lợi, chiếc áo khoác viền lông thỏ xinh xinh phanh cúc và đôi giầy da sơn bé tí xíu. Cô nàng mắt đen thích màu sơn chói nhưng lão thợ bánh ngại màu đỏ, vì lão đang để tang vợ. lão đề nghị màu nâu vàng.
-Ôi dào – cô nàng mắt đen hờn dỗi – xe Pho thì phải sơn sao cho thật nổi, nếu không trông chẳng ra quái gì.
Cô ả ngầm ném cho chúng tôi những cái nhìn đồng lõa và nhún vai, khi lão thợ bánh cúi xuống, ả nhếch miệng, nháy mắt với chúng tôi. Một con bé nhí nhảnh! Cuối cùng hai người đồng tình chọn màu xám lục. cô ả muốn đặt tấm mui màu sáng. Nhưng lão thợ bánh nhất quyết phản đối : phải có cái gì chứng tỏ lão đang để tang vợ chứ. Và lão yêu cầu một tấm mui da đen. Cả ở đây nữa lão lại tranh thủ kiếm chác, vì đằng nào lão cũng nhận tấm mui mà không mất tiền, mà da thì đắt hơn vải đứt đuôi.
Hai người đi ra. Nhưng sau đó còn dừng lại trên sân một hồi. Mới thoáng thấy chiếc Cadilac, ả mắt đen đã lao bổ đến nó – Xem này, anh yêu, xe thế mới là xe chứ! Tuyệt! em thích lắm!
Loáng cái, ả đã mở cửa chui tọt vào xe, mắt lác xệch vì hân hoan quá đỗi – Đệm ra đệm! Phi thường! Cứ như ghế bành trong câu lạc bộ! Khác xa chiếc Pho!
-Thôi nào, ta đi – anh yêu cau có.
Lenz huých tay tôi… ý bảo tôi cần phải vào trận, tìm cách tròng chiếc xe vào cổ lão thợ bánh. Tôi nhìn Gotfrit từ đầu xuống chân, chẳng nói chẳng rằng. Cậu ta huých tôi cái nữa mạnh hơn. Tôi huých trả và xoay lưng lại cậu ta.
Vất vả lắm lão thợ bánh mới lôi được viên ngọc đen của lão ra khỏi chiếc xe, lão bỏ đi, lưng hơi khòm xuống, bụng rất bực tức.
Chúng tôi nhìn theo cặp già trẻ - Một thằng cha có những quyết định chóng vánh! – tôi bình phẩm – Sửa xe… vợ mới… phục thật!
-Thế đấy – Koester nói – lão còn được cô ả hành cho bằng sướng!
Hai người chưa khuất sau góc phố, Gotfirt đã nhảy lên đùng đùng – Ma quỷ hút hết hồn cậu rồi hay sao, hở Robby? Để lỡ một dịp như thế! Đến đứa trẻ con cũng biết phải xáp vô ra sao!
-Hạ sĩ Lenz – tôi đáp – yêu cầu anh đứng nghiêm nói chuyện với cấp trên! Anh tưởng tôi đây khích lệ chế độ song hôn, nỡ đem gả chiếc xe hai lần hay sao?
Được nhìn Lenz lúc này thật đã đời! hai mắt cu cậu tròn xoe như hai hòn bi.
-Chớ đem chuyện thiêng liêng ra mà đùa cợt – cậu ta ấp úng.
Bỏ mặc cậu ta, tôi quay sang Koester – Otto, hãy giã từ đứa con Cadilac của bọn ta! Nó không còn thuộc về bọn ta nữa rồi! Từ nay nó sẽ cho ngành thầu đồ lót vay mượn vẻ hào nhoáng của mình! Cứ hy vọng rằng nó sẽ có một cuộc sống đẹp đẽ. Kém phần hào hùng như khi sống với bọn ta… nhưng bù vào đó, lại ổn định hơn.
Tôi chìa tấm sec ra. Lenz chút nữa thì té xỉu.
-Lẽ nào… hả? không lẽ… trả tiền rồi?- cậu ta hỏi lào thào, giọng khản đặc.
-Vậy anh tưởng thế nào, hở quân mới tập tọng vào nghề - tôi vừa hỏi vừa phe phẩy tấm sec – Đoán xem!
-Bốn! Lenz kêu, mắt nhắm nghiền.
-Bốn rưỡi! Koester nói.
-Năm! Jupp từ cây xăng gào với sang.
-Năm ngàn rưởi! tôi thét to.
Lenz giật tấm sec từ tay tôi – Vô lý! Hẳn đây là tấm sec của một tài khoản rỗng.
-Hạ sĩ Lenz – tôi trịnh trọng nói – anh ngờ vực chừng nào tấm sec này đáng tin chừng ấy. Ông bạn Blumenthan của tôi còn tốt gấp hai chục lần thế. Bạn tôi, anh hiểu không, người bạn đã mời tôi chiều mai lại nhà dùng món cá măng nhồi. Anh hay học lấy! Kết thân, nhận tiền trả trước, được mời dùng cơm chiều: bán hàng là thế đấy! Thôi, giờ cho phép anh tư thế nghỉ!
Gotfirt gắng trấn tĩnh. Cậu ta cố đấm ăn xôi – Nhưng còn lời rao của mình, bùa phép của mình!
Tôi quăng trả cậu ta tấm mề đay – Đây, trả cậu cái xích cổ chó! Mình đã quên bẵng nó.
-Cậu bán không thể chê vào đâu được, Robby ạ - Koester nói – Ơn Chúa, thế là tụi mình thoát được cái của nợ ấy.
-Số tiền này tha hồ xài mệt nghỉ.
-Cậu ứng trước cho mình năm chục mac chứ? Tôi hỏi.
-Một trăm. Cậu xứng đáng được ngần ấy.
-Cậu không muốn nhận những chiếc măng tô xám của mình cả thể sao? Gotfirt nheo mắt hỏi.
-Muốn đi nhà thương hả, cái đồ con hoang ủ dột, khỏe xọc mũi vào việc của người khác! – tôi vặc lại.
-Các chú, hôm nay ta dừng ở đây thôi! – Koester đề nghị.
-Hôm nay kiếm chác thế đủ rồi. cũng không nên trêu tức Chúa. Chúng ta sẽ lôi chiếc Karl đi chơi, luyện cu cậu cho cuộc đua sắp tới.
Jupp đã bỏ cây xăng từ lâu. Chú hồi hộp chùi hai bàn tay.
-Cậu Koester, vậy là tôi phải đảm nhận trông coi xưởng chứ ạ?
-Không đâu, Jupp – Otto cười – mày cũng cùng đi.
Trước tiên chúng tôi đến nhà băng giải quyết tấm sec. Lenz chỉ yên dạ khi biết tấm sec hợp lệ. Rồi chúng tôi phóng xe đi, nhanh tới mức ống xả phụt ra cả tia lửa.
(còn tiếp)
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0
Chương VIII
 
Tôi đến trước mặt bà chủ nhà của tôi. – Cháy ở đâu à? – bà Zalepxki hỏi.
-Chẳng cháy ở đâu cả - tôi đáp – tôi chỉ muốn trả tiền nhà thôi. Trả trước thời hạn những ba ngày! Bà Zalepxki suýt té xỉu vì kinh ngạc – Có điều gì khuất tất đây – bà ngờ vực nói.
-Không hề - tôi đáp – Tối nay bà cho tôi mượn cả hai chiếc ghế bành bọc gấm trong phòng khách của bà được không?
Bà liền chống hai tay lên cặp hông mập ú, sẵn sàng nghênh chiến – Ra thế! Anh không ưng căn buồng của anh nữa sao hả?
-Sao lại không. Nhưng tôi còn ưng những chiếc ghế bành bọc gấm của bà nữa kia.
Tôi giải thích cho bà rằng có thể một cô em họ sẽ tới thăm tôi, và vì vậy tôi muốn căn buồng của mình khang trang lên ít nhiều. Bà cười, rung rinh bộ ngực đồ sộ - Em họ, bà khinh bỉ đai lại – Thế bao giờ cô em họ ấy đến?
-Đã chắc chắn gì đâu – tôi nói – Nhưng nếu đến, dĩ nhiên cô ấy sẽ đến sớm, để dùng bữa chiều. Sao người ta lại không thể có các cô emm họ chứ, thưa bà Zalepxki?
-Đã đành là có – bà đáp – nhưng không ai đi mượn ghế bành vì một cô em họ cả.
-Thế mà tôi mượn đấy – tôi quả quyết – tôi nặng tình cảm gia đình lắm.
-Trông cái mặt anh thì biết! các người rặt những quân lang bạt kỳ hồ với nhau cả. Anh có thể lấy về buồng hai chiếc ghế bành bọc gấm. Hãy đặt vào phòng khách những chiếc ghế nhung đỏ chừng nào anh còn dùng những chiếc kia.
-Rất cám ơn bà. Sáng mai tôi sẽ đem trả tất tật. Cả tấm thảm nữa.
-Thảm nào? – bà quay phắt lại hỏi – Có ai động một chữ đến thảm thiếc gì đâu?
-Tôi. Cả bà nữa, vừa tức thì đây thôi.
Bà nhìn tôi giận dữ - Đồng bộ mà lại – tôi nói – những chiếc ghế bành không đặt trên thảm là gì đấy!
-Này anh Lokhamp – bà Zalepski trịnh trọng đe dọa – anh chớ làm quá! Cái gì cũng nên có mức độ, đó là lời của ông Zalepski đã quá cố. Nó cũng có thể giúp ích cho anh đấy.
Tôi biết rằng bất chấp lời cách ngôn chọn lọc trên, ông Zalepski quá cố rõ ràng đã chết chìm trong rượu. Chính bà chứ không phải ai khác đã kể với tôi điều đó đến phát nhàm trong những dịp khác. Nhưng bà không bận tâm chút nào. Bà sử dụng ông chồng như thiên hạ sử dụng Kinh thánh để trích dẫn. và ông mất càng lâu ngày, bà càng đổ cho ông lắm lời cách ngôn hơn. Giờ đây bà có thể trích dẫn ông trong mọi hoàn cảnh … như Kinh thánh vậy.
Tôi trang hoàng căn buồng của mình. Tôi vừa gọi điện cho Patoris Honman hồi chiều. Nàng mới ốm dậy, đã gần một tuần nay tôi không gặp nàng. Giờ đây chúng tôi hẹn gặp nhau lúc tám giờ, tôi mời nàng lại nhà tôi ăn tối, sau đó chúng tôi cùng đi xem phim.
Những chiếc ghế bành bọc gấm và tấm thảm trông thật lộng lẫy; nhưng đèn đóm trong buồng tôi trông thảm hại quá. Vì vậy tôi gõ cửa gia đình Hasso bên cạnh để mượn họ chiếc đèn bàn. Bà Hasso mệt mỏi ngồi bên cửa sổ. Chồng bà không có nhà. Ngày nào ông cũng tình nguyện làm thêm vài giờ, chỉ cốt để không bị sa thải. Người đàn bà nom ủ rũ như con gà rù. Trên những đường nét mềm nhẽo, héo hắt dần của bà vẫn có thể nhận ra gương mặt thon nhỏ của một đứa trẻ… một đứa trẻ vỡ mộng, rầu rĩ.
Tôi hỏi mượn chiếc đèn. Bà sốt sắng đi lấy nó cho tôi - Ồ vâng – bà thở dài – hễ tôi nhớ lại trước kia…
Tôi biết bà sẽ nói gì. Bà sẽ nói về những viễn cảnh mà lẽ ra bà đã có, giá như bà không lấy Hasso. Tôi cũng từng nghe chính câu chuyện này từ mồm Hasso. Những viễn cảnh mà lẽ ra ông đã có, giá như ông cứ ở vậy suốt đời. hình như đây là câu chuyện hay gặp nhất trên thế gian. Cũng là câu chuyện vô vọng nhất.
Tôi lơ đãng nghe, góp mấy lời chung chung, rồi sang buồng Erna Boenich mượn chiếc máy quay đĩa.
Bà Hasso gọi Erna là cái con người ở phòng bên. Bà  khinh rẻ cô gái vì ghen ghét. Tôi lại rất mến cô gái. Cô ta không hề tự lừa phỉnh mình về cuộc sống, mà hiểu rằng cần phải bám vào nó để chộp lấy một chút thứ mà người đời gọi là hạnh phúc. Cô ta cũng biết phải trả giá gấp hai, ba lần như thế. Hạnh phúc là vật thiêng liêng nhất trên thế gian đồng thời đắt giá nhất.
Erna quỳ xuống trước vali của cô ta, lục tìm cho tôi một lô đĩa hát – Anh muốn mượn Foxtrotts không? – cô ta hỏi.
-Không – tôi đáp – tôi không biết nhảy.
Cô ta ngạc nhiên ngước nhìn – Anh không biết nhảy sao? Ồ, thế anh làm gì những lúc anh đi chơi?
-Tôi nhảy với cái cuống họng của mình. Như thế cũng thích chán.
Cô ta lắc đầu – Đàn ông mà không biết nhảy thì tôi cứ gạt phăng.
-Nguyên tắc gớm nhỉ - tôi đáp – Nhưng cũng còn những đĩa khác nữa mà. Mới đây tôi thấy cô nghe một đĩa rất hay… một giọng nữ với giai điệu Haoai…
-Ồ, đĩa ấy tuyệt diệu … làm sao anh có thể sống thiếu em… chứ gì?
-Chính nó! Các thi sĩ sáng tác lời hát nghĩ ra đủ mọi ý hay ho! Tôi nghĩ rằng họ là những con người lãng mạn duy nhất còn lại.
Cô ta cười – Chứ sao nữa? Một chiếc máy quay đĩa thế này cũng là một dạng sổ tay lưu niệm đấy nhé. Xưa kia người ta ghi vào album những vần thơ.. còn bây giờ người ta tặng nhau những đĩa hát. Hễ muốn hồi tưởng lại cái gì, tôi chỉ cần đặt vào máy chiếc đĩa hát thuở nào, và mọi cái lập tức hiển hiện trước mắt.
Tôi nhìn xuống những chồng đĩa nằm dưới đất – Cứ xét trên số đĩa thì cô  phải có hàng đống kỷ niệm, cô Erna nhỉ?
Cô ta đứng lên, vuốt mái tóc đỏ rực ra phía sau – Vâng – cô ta nói, chân gạt một chồng đĩa sang bên cạnh – nhưng giá được một kỷ niệm duy nhất ra hồn vẫn hơn…
Tôi giở những món đồ tôi đã mua về cho bữa ăn tối và gắng bày biện tươm tất theo khả năng của mình. Tôi chẳng mong gì được giúp đỡ trong việc bếp núc, quan hệ của tôi với ả Frida quá xấu. Bét ra ả cũng quăng đổ của tôi cái gì đó. Nhưng rồi cũng ổn và tôi suýt không còn nhận ra căn buồng của mình trong vẻ lộng lẫy mới mẻ của nó. Những chiếc ghế bành, chiếc đèn, mặt trải khăn… tôi cảm thấy trong người đang dần hình thành một nỗi chờ mong thắc thỏm.
Tôi đi tới chỗ hẹn, mặc dù còn hơn một giờ nữa. bên ngoài gió cuốn từng luồng dài quanh góc những tòa nhà, đèn đường đã bật. chiều buông xanh ngắt như biển giữa các tòa nhà. Tiệm Quốc Tế bơi trong đó như một chiếc tàu dã chiến đã bị dỡ bỏ hết trang bị. Tôi nhảy một bước vào tiệm.
-Xin chào, Robert – Roda nói.
-Cô làm gì ở đây vậy? – tôi hỏi – Không định dạo phố đón khách hay sao?
-Hẵng còn hơi sớm.
Alois rón rén lại gần – Một ly – gã hỏi.
-Ba – tôi đáp.
-Anh uống hơi quá độ đấy – Roda nhắc.
-Tôi cần thêm dũng khí – tôi nói và nốc cạn ly rum.
-Anh chơi bài gì nhé? Roda hỏi.
Tôi lắc đầu – Hôm nay không có hứng. quá đãng trí, Roda ạ. Con bé thế nào?
-Ả cười, phô đủ những chiếc răng vàng. – Tốt cả, không có gì đáng phàn nàn. Mai em lại đi thăm cháu. Tuần này em kiếm khá tiền, mùa xuân chưa làm gì đã làm rực ruột đám dê già. Em mang cho con bé một chiếc áo khoác mới xinh xinh. Bằng dạ đỏ.
-Dạ đỏ là mốt thời thượng nhất hiện nay.
-Anh là một con người hào hoa, Robby ạ.
-Nếu như cô không nhầm. nào, uống với tôi một ly. Rượu anit nhé?
Ả gật. chúng tôi cụng ly – Nói thử xem, Roda, thật ra cô nghĩ thế nào về tình yêu? – tôi hỏi – Cô hiểu nó chút ít mà.
Ả phá lên một chuỗi cười chói tai – Thôi đừng nói nữa – sau đó ả nói – Tình yêu à! Ồ Artur của em… hễ nghĩ đến thằng đểu ấy em vẫn cứ bủn rủn chân tay. Em muốn nói với anh điều này, anh Robby, nói nghiêm chỉnh: đối với tình yêu, đời người quá dài. Đơn giản là quá dài. Artur của em đã vạch cho em thấy điều ấy khi hắn ta quất ngựa truy phong. Và quả đúng như vậy. Tình yêu sao mà tuyệt vời. nhưng bao giờ nó cũng quá dài với một người. Còn người kia, người kia ngồi lại, mắt nhìn trống rỗng. trống rỗng như một kẻ điên.
-Đã hẳn – tôi nói – Nhưng không có tình yêu thì con người ta thật sự chỉ là cái xác vất vưởng trên đời.
-Cứ làm như em đây này, Roda đáp – Hãy sinh lấy một đứa con. Thế là anh có cái để yêu thương và được yên thân.
-Dạy khôn gớm – tôi nói – Tôi chỉ còn thiếu nước ấy nữa thôi.
Roda đung đưa mái đầu, vẻ mơ màng – Artur của em đã đánh đập em tàn nhẫn biết bao.. dẫu vậy, giá lúc này hắn bước vào đây với chiếc mũ ống hất ra sau gáy… trời, anh bạn trẻ, nghĩ tới đó chưa gì em đã run rẩy toàn thân.
-Chúng ta hãy cạn một ly chúc mừng sức khỏe Artur.
Roda cười – Thằng sở khanh muôn năm! Chúc sức khỏe anh!
Chúng tôi cạn ly – Tạm biệt Roda. Tối nay đắt khách nhé!
-Cám ơn. Tạm biệt anh Robby.
***
Cửa nhà đóng cái sập – Chào anh – Patoris Honman nói – anh có vẻ suy tư quá nhỉ?
-Không, suy tư gì đâu! Sức khỏe cô ra sao rồi? Cô đã bình phục hẳn chưa? Bệnh gì vậy?
-Ồ, chẳng có gì đặc biệt. Cảm lạnh và hơi gây gây sốt.
Trông nàng chẳng có vẻ gì đau ốm, mệt mỏi cả. Trái lại… chưa bao giờ tôi thấy cặp mắt nàng to và rạng rỡ đến thế, gương  mặt nàng hơi ửng hồng, nàng cử động mềm mại và uyển chuyển như một con thú thon thả, xinh đẹp.
-Trông cô khá lắm – tôi nói – Hoàn toàn khỏe mạnh! Chúng ta có thể dạo chơi thoải mái.
-Được thế thì hay biết mấy – nàng đáp – Nhưng hôm nay không được, hôm nay tôi không thể đi.
Tôi tròn mắt nhìn nàng không hiểu – Cô không thể đi sao? – nàng lắc đầu – đáng tiếc là không.
Tôi vẫn chưa hiểu ra. Tôi tưởng đâu là nàng đã nghĩ lại việc nàng nhận lời tới thăm tôi, và nàng chỉ không muốn dùng bữa tại buồng tôi nữa.
-Tôi có gọi điện đến nhà anh để khỏi làm anh mất công đến đây. Nhưng anh đi mất rồi.
Rốt cuộc giờ đây tôi đã hiểu – Cô thật sự không thể đi cùng tôi sao? Suốt cả buổi tối? – tôi hỏi.
-Hôm nay thì không. Tôi có việc phải đi. Đáng tiếc tôi cũng chỉ được biết trước đây nửa giờ.
-Cô không thể hoãn lại được sao?
-Không, không được đâu – Nàng mỉm cười – Đây gần như một công chuyện làm ăn.
Tôi như bị giáng một cú trúng đầu. Tôi đã lường trước tất cả, trừ điều này. Tôi không tin nàng dù chỉ một lời. Công chuyện làm ăn… nàng chẳng có vẻ gì là dân làm ăn cả. Có lẽ đây chỉ là một cách nói. Thậm chí chắc chắn thế. Ai lại đi bàn chuyện làm ăn vào buổi tối cơ chứ? Việc đó người ta làm vào buổi sáng! Và người ta cũng không chỉ được báo trước có nửa giờ. Cô ta không muốn, có thế thôi.
Tôi thất vọng chẳng khác gì một đứa trẻ. Giờ đây tôi mới thấy là mình đã khấp khởi đợi chờ cuộc gặp tối nay biết bao. Tôi bực mình vì đã thất vọng đến thế và không muốn nàng nhận ra điều đó – Được thôi – tôi nói – biết làm sao. Tạm biệt cô.
Nàng nhìn tôi dò hỏi – Chẳng vội đến thế đâu. Chín giờ tôi mới có hẹn. chúng ta có thể đi dạo một lát. Suốt tuần tôi không đi ra ngoài trời.
-Thì đi – tôi miễn cưỡng nói. Tôi bỗng cảm thấy mệt mỏi và trống rỗng.
Chúng tôi đi dọc phố. Buổi tối trở nên trong trẻo, những ngôi sao xuất hiện giữa các mái nhà. Chúng tôi đi qua một bãi cỏ có những bụi cây náu mình trong bóng tối. Patoris Honman đứng lại – Tử đinh hương – nàng nói- có mùi hoa tử đinh hương! Nhưng sao vô lý thế nhỉ, đã đến mùa đâu.
-Tôi chẳng ngửi thấy gì cả. tôi nói.
-Có đấy! Nàng cúi mình trên khu vườn.
-Đó là cây hoa thụy hương, thưa quý cô – một giọng khàn khàn từ bóng tối vọng ra.
Một người thợ làm vườn thành phố đầu đội mũ lưỡi trai bằng đồng đang đứng tựa vào một thân cây. Bac ta hơi lảo đảo tiến lại gần chúng tôi. Túi áo bác ta thò ra một cái chai cổ lấp lánh – Chúng tôi vừa trồng nó hôm nay – bác vừa nói vừa nấc to. Nó kia kìa!
-Cám ơn bác – Patoris Honamn nói, đoạn quay đầu sang tôi – Anh vẫn chưa ngửi thấy gì sao?
-Có chứ, giờ thì tôi đã ngửi thấy gì rồi – tôi miễn cưỡng nói – Mùi rượu nếp ngon trữ lâu ngày.
-Đoán thần tình đấy! Người đàn ông trong bóng tối ợ một cái rõ to.
Tôi nhận thấy rất rõ mùi hương ngọt ngào lan tỏa trong bóng tối êm dịu; nhưng bằng mọi giá tôi quyết không thừa nhận điều đó. Cô gái cười, vươn vai. – Thật tuyệt biết bao, nhất là sau khi phải ở lỳ trong buồng quá lâu! Đáng tiếc quá tôi lại phải đi! Cái ông Bindinh ấy… lúc nào cũng vội vội vàng vàng và cứ đến sát giờ mới báo… quả thực đáng lý ra ông ta có thể lui việc này đến ngày mai.
-Bindinh à? Tôi hỏi- cô có hẹn với Bindinh?
Nàng gật – Với Bindinh và một người nữa. vấn đề là ở người kia. Công chuyện nghiêm túc. Anh tưởng tượng được chứ?
-Không – tôi đáp – tôi không sao hình dung nổi.
Nàng cười và tiếp tục nói. Nhưng tôi không nghe nàng nữa. Bindinh… dường như một tia chớp đánh nhoằng vào xương tủy tôi. Tôi không nghĩ đến chuyện nàng đã quen biết hắn ta trước tôi nhiều, chỉ thấy hiện lên trước mắt chiếc Buick, bộ comple đắt tiền và chiếc ví của hắn ta choáng lộn và xa hoa hơn hẳn thực tế. Ôi, căn buồng nghèo nàn, thanh bạch, được tô điểm của tôi! Tôi đã tưởng tượng hão cái gì vậy! Đèn bàn của nhà Hasso, ghế bành nhà Zalepski! Cô gái đâu cân xứng với tôi! Tôi là cái thưa gì? Một kẻ bộ hành từng đi mượn một chiếc Cadilac, một con sâu rượu vụng về, ngoài ra không là gì nữa! Loại ấy thì góc phố nào chẳng thấy. Tôi đã mường tượng ra cảnh người gác quán Chùm nho cúi mình chào Bindinh, tôi nhìn thấy những căn phòng sáng sủa, đẹp đẽ, ấm áp, khang trang, thấy đám khói thuốc lá và những con người lịch sự, tôi nghe tiếng nhạc và tiếng cười, cười nhạo tôi. Quay lại, tôi nghĩ, quay lại ngay! Một linh cảm, một niềm hy vọng… như thế đã quá đủ! Dính líu vào đó thật vô nghĩa. Chỉ còn một cách là thoái lui!
-Nếu anh muốn, tối mai chúng ta có thể gặp lại nhau – Patoris Honman nói.
-Tối mai tôi không có thì giờ. Tôi đáp.
-Hoặc ngày kia, hay bất cứ ngày nào trong tuần. Mấy hôm tới tôi không vướng bận gì cả.
-Khó đấy – tôi nói – Hôm nay chúng tôi vừa nhận được đơn đặt hàng gấp, có lẽ suốt tuần chúng tôi sẽ phải làm việc khuya.
Nói khoác, nhưng tôi không thể làm khác. Trong tôi bỗng chất chứa bao tức giận, tủi hổ.
Chúng tôi tạt ngang qua quảng trường, đi dọc theo con đường chạy bên nghĩa trang. Tôi trông thấy Roda đi lại từ phía tiệm Quốc Tế. Đôi ủng cao cổ của ả bóng láng. Lẽ ra  tôi có thể rẽ, giá bình thường tôi đã lảng… nhưng lúc này tôi cứ thẳng tiến, giàn mặt với ả. Roda nhìn lướt qua tôi, làm như tôi lạ hoắc trong mắt ả. Đương nhiên rồi: không một ả điếm nào tỏ ra quen biết một người ngoài phố nếu anh ta không đi một mình. – Chào Roda – tôi nói.
Ả gật đầu bối rối nhìn tôi, rồi Patoris Honman, đoạn hấp tấp gật đầu và luống cuống bước tiếp. Sau ả vài bước là Fristi, vung vẩy chiếc xắc tay, môi tô đỏ chót, hông đung đưa. Ả dửng dưng nhìn xuyên qua tôi như nhìn xuyên qua một ô cửa kính. – Chào em, Fritsi! – tôi nói.
Ả khẽ nghiêng đầu như một bà hoàng, không để lộ một chút ngạc nhiên; nhưng tôi nghe bước chân ả gấp gáp hơn lúc ả đi ngang… ả muốn cùng Roda bàn tán về sự lạ vừa xảy ra. Tôi vẫn còn có thể rẽ sang một phố phụ, tôi biết sẽ còn gặp các ả khác… lúc này đúng thời điểm cho cuộc đi dạo kiếm khách rầm rộ đầu tiên trong ngày của các ả. Nhưng tôi vẫn bướng bỉnh thẳng tiến… việc gì tôi phải tránh mặt họ; tôi quen biết họ còn bằng mấy quen biết cái cô gái đang đi bên cạnh tôi đây với cái gã Bindinh của cô ta cùng chiếc Buick của hắn. Cô ta cứ việc chứng kiến… thậm chí thỏa thích.
Tôi gặp tất cả bọn họ đi dọc dãy đèn đường dài… Oally – Người đẹp, trắng xanh, thon mảnh, ăn mặc lịch sự, Lina với cái chân gỗ, Erna vạm vỡ, Mario – con gái còn non nớt, Margot với cặp má đỏ hây hây, anh chàng đồng tính luyến ái Kiki trong chiếc áo choàng lông, và sau rốt là Mimi, ả điếm già với chứng giãn tĩnh mạch, trông chẳng khác gì con cú vọ xác xơ. Tôi chào không chừa một ai, và khi đi ngang qua Mutsen với chiếc chảo xúc xích tôi chân thành bắt tay mụ.
-Ở đây anh quen biết nhiều ghê – Patoris Honman nói sau một hồi im lặng.
-Chỉ loại người ấy – tôi ương ngạnh đáp.
Tôi cảm thấy nàng đang nhìn tôi – Tôi nghĩ ta phải quay về thôi.
-Phải – tôi đáp – tôi cũng nghĩ vậy.
Chúng tôi đứng trước cửa nhà nàng – Tạm biệt cô – tôi nói – Chúc cô vui vẻ.
Nàng không đáp. Phải cố gắng lắm tôi mới rời khỏi cái nút chuông trên cửa và nhìn nàng. Và thật vậy … tôi không tin vào mắt mình nữa… nàng đứng đó, thay vì giận tím mặt, khóe miệng nàng run run, mắt nàng long lanh, đoạn nàng bật cười, tiếng cười chân thành, vô tư lự, giản dị là nàng đang cười chế tôi – Trẻ con – nàng nói – Lạy Chúa, anh vẫn còn trẻ con quá đi mất!
Tôi giương mắt nhìn nàng - Ờ, ờ… - tôi ấp úng – dẫu sao – và tôi đột nhiên hiểu ra cảnh ngộ của mình- Hẳn là cô cho tôi là hơi ấm đầu hả?
Nàng cười. Tôi bước nhanh lên một bước và ghì chặt lấy nàng, mặc nàng muốn nghĩ sao thì nghĩ. Tóc nàng mơn man trên má tôi, mặt nàng kề sát mặt tôi, tôi cảm thấy hương đào thoang thoảng của làn da nàng, rồi cặp mắt nàng nhích lại gần, và thốt nhiên tôi cảm thấy môi nàng gắn lên miệng tôi…
Nàng thoắt biến trước khi tôi nhận thức được điều gì vừa xảy ra.
Tôi trở lại, đi ngang chảo xúc xích của Mutsen.
-Cho tôi một xúc xích thật to đi – tôi hớn hở nói.
-Với mù tạc chứ? – Mutsen hỏi, mình khoác áo tạp dề trắng sạch tinh.
-Thật nhiều mù tạc vào, u ạ.
Tôi cứ đứng như thế ngốn sạch chiếc xúc xích và gọi Alois đem từ tiệm Quốc Tế ra một vại bia.
-Con người là một sinh vật lạ lùng, phải không u? tôi hỏi.
-Cậu có thể tin chắc như vậy – mụ hăng hái hưởng ứng – Hôm qua có một ông tới, gọi hai xúc xích nhỏ kèm mù tạc, sau đó không có tiền trả. Thế đấy, đêm hôm khuya khoắt, chẳng có ma nào ngoài tôi với hắn, tôi biết làm gì được, thôi đành để hắn đi. Cậu có tin được không, hôm nay gã đàn ông trở lại trả tiền xúc xích hôm qua, đã thế còn cho tôi một món tiền puốc boa nữa.
-Một phẩm chất thời tiền chiến đấy, Mutsen ạ. Hàng họ của u thế nào?
-Ế ẩm! Hôm qua chỉ bán được bẩy cặp xúc xích nhỏ và chín xúc xích lớn. cậu biết không, không có đám các cô thì tôi đã đi đời từ lâu.
Đám các cô đây là các ả điếm, thường trợ giúp Mutsen trong khả năng của họ. hễ mồi chài được một khách chơi, và vì lẽ nào đó thuận tiện, họ lại dẫn khách đi ngang chảo xúc xích của Mutsen để nhấm nháp một chiếc xúc xích trước khi hành sự giúp bà già kiếm thêm chút đỉnh.
-Bây giờ trời sắp ấm lên rồi- Mutsen tiếp tục kể lể, nhưng tiết mùa đông, vừa ướt át vừa lạnh khiếp… chất lên người hàng đống quần áo vẫn bị cảm lạnh.
-Cho tôi một xúc xích lớn nữa đi – tôi nói- sao tôi thấy ham cuộc sống thế. Chuyện nhà cửa của u sao rồi?
Mụ nhìn tôi với cặp mắt trong veo – Vẫn cứ thế. Ông ấy lại vừa bán mất chiếc giường.
Mutsen có chồng. Trước đây mười năm, chồng mụ nhảy lên một tàu điện ngầm đang chạy, không may bị ngã, đưa chân vào gầm tàu. Người ta phải cưa bỏ hai chân lão. Tai họa này tác động kỳ quặc đến tính tình lão.
Quá xấu hổ vì mình tàn tật, lão thôi không đi lại với vợ nữa. Vả lại, trong thời gian nằm nhà thương lão đâm nghiện mocphin. Thói xấu này nhanh chóng tha hóa lão, lão giao du với các nhóm đồng tính luyến ái và chẳng mấy chốc, người đàn ông bình thường trong suốt năm mươi năm, bỗng chỉ dan díu với lũ con trai lại cái. Lão không ngượng trước đám ấy vì họ là đàn ông. Gần đàn bà, lão cho mình là kẻ tàn tật, chỉ gợi lên sự kinh tởm và lòng thương hại… lão không chịu đựng nổi điều đó. Gần đàn ông, lão chỉ là một con người xấu số. Để có tiền bao lũ con trai và chích mocphin, lão rình lấy của Mutsen mọi thứ, hễ bán được là bán liền. Nhưng Mutsen vẫn gắn bó với lão, cho dù mụ thường xuyên bị lão nện nhừ tử. Đêm nào mụ cũng cùng thằng con đứng đến bốn giờ sáng bên chảo xúc xích. Suốt ngày, mụ đầu tắt mặt tối, hết giặt giũ lại lau chùi cầu thang. Mụ luôn đau bụng dưới và cân nặng có chín chục pun *(một pun bằng 500g), ấy thế mà bao giờ cũng hồ hởi, vui vẻ. Mụ cho đời mụ tuy thế vẫn còn tươm chán. Thẳng hoặc, khi cảm thấy quá khốn khổ, chồng mụ lại tìm về với mụ để khóc lóc. Đó là những giờ phút sung sướng nhất của Mutsen.
-Cậu vẫn còn  cái chỗ làm béo bở ấy chứ? Mụ hỏi tôi.
-Tôi gật – Vẫn còn, u ạ. Giờ tôi kiếm được khá tiền.
-Liệu mà giữ gìn cho lâu dài.
-Tôi sẽ chú ý, Mutsen.
Tôi đi về nhà. Như được Chúa sắp đặt, tôi chạm trán ngay ả hầu gái Frida ở tiền sảnh – Cô là đứa trẻ dễ thương ra trò – tôi nói vì tôi muốn làm một điều gì đó tốt đẹp
Ả nhăn mặt như vừa uống phải dấm.
-Nói nghiêm chỉnh đấy! – tôi tiếp – Cãi vã liên miên mà làm gì! Cuộc đời ngắn ngủi lắm, Frida ạ, lại đầy rẫy bất ngờ và nguy hiểm. Thời buổi này phải biết nương tựa vào nhau. Ta làm lành nhé!
Không thèm nhìn bàn tay tôi chìa ra, miệng lầm bầm chửi rủa quân nát rượu chết tử chết tiệt, ả đóng sầm cửa biến mất.
Tôi gõ cửa buồng George Block. Dưới cửa có một kẽ sáng. Chú đang nghiền sách vở - Sang tôi chén đi, George? – Tôi rủ.
Chú ngước lên nhìn. Gương mặt tái xanh ửng đỏ - Tôi không đói – CHú nghĩ tôi thương hại chú, vì thế chú không muốn.
-Thì cứ sang ngó thử cái đã – tôi nói – Không ăn ngay thì sẽ hỏng mất. sang đi cho tôi vui lòng.
Khi chúng tôi đi ngang qua hành lang, tôi thấy buồng Erna Boenich hé mở. có tiếng thở nhẹ sau cánh cửa. Ái chà, tôi nghĩ, đồng thời nghe ổ khóa nhà Hasso xoay hết sức thận trọng, và cánh cửa cũng hé ra đúng một xentimet. Có vẻ như cả khu nhà trọ đang rình cô em họ của tôi.
Dưới ánh sáng gắt của ngọn đèn trần trong căn buồng là hai chiếc ghế bành bọc gấm của bà Zalepski. Ngọn đèn mượn nhà Hasso tỏa sáng, những trái dứa óng ánh, xúc xích gan hảo hạng, giăm bông hun khói, chai rượu anh đào…
Giữa lúc tôi và chú chàng câm lặng George ăn uống ngon lành thì có tiếng gõ cửa. tôi biết sẽ diễn ra trò gì – Để ý nhé, George – tôi thầm thì, rồi gọi to – Mời vào!
Cửa mở, và bà Zalepski, mắt lóe sáng vì tò mò, bước vào. Lần đầu tiên trong đời tôi được bà trao thư tận tay, một tờ in quảng cáo kêu gọi chỉ nên ăn rau quả tươi. Bà trang phục, tô điểm lộng lẫy, một mệnh phụ hết sức quyền quý từ thời xa xưa với chiếc váy dài đăng ten vầ khăn choàng tua rua, cổ gài trâm có gắn hình ông Zalepski quá cố. Một nụ cười ngọt như đường bất ngờ đọng lại trên gương mặt bà; bà tưng hửng dán mắt vào chú chàng Goerge đang bối rối. Tôi phá lên một chuỗi cười nhẫn tâm. Bà nhanh chóng trấn tĩnh.
-Aha, bị đá – bà độc địa nói.
-Đúng thế - tôi thừa nhận, vẫn còn mê mải ngắm nghía cách trang phục của bà. Thật may phúc là cuộc hẹn hôm nay không thành.
Bà bô Zalepski nhìn tôi trách móc – Vậy mà anh còn cười được? Tôi đã chẳng luôn nói là gì: nơi những người khác có một con tim thì trong ngực anh chỉ  thấy hũ rượu.
-Một lời tốt đẹp – tôi đáp – Bà không muốn ban cho chúng tôi chút vinh dự sao, thưa quý bà?
Bà do dự. nhưng rồi thói tò mò đã thắng, biết đâu bà chẳng nghe ngóng thêm được chuyện gì đó. Tôi mở chai rượu anh đào.
****     
Về khuya, khi tất cả đã trở nên im ắng, tôi vơ áo khoác và một cái chăn rón rén đi qua hành lang ra chỗ đặt máy điện thoại. Tôi quỳ xuống trước cái bàn điện thoại, trùm áo và chăn lên đầu, tay phải nhấc ống nghe lên, tay trái khép vạt áo choàng ở phía dưới lại. Như vậy tôi yên tâm không bị ai nghe lỏm. Nhà trọ Zalepski không thiếu những cái tai tò mò dài ngoẵng. Tôi gặp may, Patoris Honman có nhà – Sau cuộc bàn bạc đầy bí ẩn, cô về lâu chưa? – tôi hỏi.
-Gần một tiếng rồi.
-Tiếc quá. Giá như tôi biết được.
Nàng cười - Ồ, anh có biết cũng chẳng ích gì. Tôi đã vào giường và lại hơi gây gấy sốt rồi. tôi trở về nhà sớm như thế này là rất tốt.
-Cô sốt? nhưng sốt vì bệnh gì vậy?
-Ồ, có gì trầm trọng đâu. Tối nay anh còn làm gì nữa đấy?
-Tôi đã đàm đạo với bà chủ nhà của tôi về tình hình thế giới. Còn cô? Công việc của cô ổn chứ?
-Tôi hy vọng là sẽ ổn.
Ở trong đám chăn áo bùng nhùng trở nên nóng bức. Vì vậy mỗi khi cô gái nói tôi lại hất chúng lên để thông khí, hít vội không khí mắt lạnh bên ngoài, rồi lại ập xuống khi đến lượt tôi áp sát vào ống máy để nói.
-Trong đám người quen của cô không có kẻ nào tên là Robert sao? Tôi hỏi.
-Nàng cười- Tôi cho là không…
-Đáng tiếc. tôi tha thiết được nghe cô gọi lên cái tên ấy. Cô không muốn dẫu sao cũng thử nhắc nó ư?
Nàng lại cười.
-Đùa chơi thôi mà – tôi nói – Thí dụ, hãy nói: Robert là một con lừa.
-Robert là đồ trẻ con…
-Cô phát âm hay tuyệt – tôi nói – Còn bây giờ ta hãy thử với cái tên Robby xem. Nào, Robby là…
-Robby là tên nát rượu … - cái giọng thoảng đến từ xa cất lên chậm rãi – Bây giờ tôi phải đi ngủ đây … tôi vừa uống một viên thuốc ngủ nên đã thấy ong ong trong đầu rồi.
-Được… tạm biệt… chúc cô ngon giấc.
Tôi đặt ống nói xuống và hất bỏ cả áo khoác lẫn chăn. Đoạn tôi đứng thẳng dậy và sững người. Ngay sau tôi một bước, lù lù như một bóng ma, lão cố vẫn kiểm kê hồi hưu sống ở gian phòng sát bếp. Tôi giận dữ chửi thề - Suỵt! – Lão ra hiệu và cười ngoạc miệng.
-Suỵt! Tôi đáp lại và cầu cho lão xuống địa ngục.
Lão giơ một ngón tay lên – Tôi không tiết lộ tí gì đâu… chính trị hả?
Lão nháy mắt – Đừng lo! Chính tôi đây cũng cực hữu. chuyện chính trị kín, hả?
Tôi vỡ lẽ - Chính trị đại sự! – tôi nói, lúc này cũng toét miệng cười.
Lão gật đầu, thì thầm – Hoàng đế vạn tuế!
-Ba lần vạn tuế! – tôi đáp – Nhưng giờ nói sang chuyện khác: ông có biết ai là người phát minh ra điện thoại không?
Lão ngạc nhiên lắc lắc cái sọ nhẵn thín.
-Tôi cũng chẳng biết – tôi nói – nhưng đó hẳn phải là một gã trai cừ…
 
(Còn tiếp)
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0

CHƯƠNG IX
 
Chủ nhật.  Ngày đua xe. Suốt tuần vừa rồi, ngày nào Koester cũng luyện tập. Tối tối, chúng tôi lại chỉnh chiếc Karl, kiểm tra và bôi dầu mỡ chu đáo, không bỏ sót lấy một chiếc ốc nhỏ. Lúc này cả bọn đang ngồi trong kho phụ tùng chờ Koester từ bãi xuất phát về. Chúng tôi đủ mặt: Grau, Valentine, Lenz, Patoris Honman, nhất là Jupp. Chú chàng mặc bộ quần áo liền quần, trang bị kính đua, mũ đua. Chú được phụ xe cho Koester vì nhẹ nhất. Tất nhiên Lenz có ý lo ngại. Cậu ta quả quyết rằng cặp tai voi của Jupp sẽ cản gió ghê gớm, nếu chiếc xe không vì thế mà giảm tốc độ đi hai mươi kilomet giờ, thì cũng biến thành tàu lượn sớm.
Sao cô lại mang cái tên Anh thế? Gotfrit hỏi Patoris Honman lúc bấy giờ đang ngồi cạnh cậu ta.
Mẹ tôi là người Anh, bà cũng tên như vậy, Pat.
Ồ, Pat à, thế thì lại khác. Dễ gọi hơn nhiều – Cậu ta lôi cái ly và chai rượu – Nào, chúc mừng tình bạn tốt đẹp giữa chúng ta. Pat! Tôi là Gotfrit.
Tôi nhìn cậu ta chòng chọc. Trong khi tôi còn đang phân vân không biết nên chuyển cách xưng hô với nàng sao đây thì cậu ta đã trơ tráo nói toẹt ra! Thế mà nàng lại cười hưởng ứng, và quả nhiên cũng thân mật gọi cậu ta là Gotfrit.
Nhưng như thế cũng chưa thầm vào đâu so với Ferdinan Grau. Anh chàng đã trở nên hoàn toàn mất trí, mắt không rời Patoris Honman. Anh ngâm những vần thơ thánh thót và tuyên bố thế nào cũng phải vẽ nàng. Quả nhiên anh ngồi lên một chiếc hòm và bắt đầu vẽ.
Nghe đây, Ferdinan, đồ chim lợn già khú kia – tôi vừa nói vừa giật khỏi tay anh tập giấy vẽ - đừng có động vào những con người đang sống. Đi mà để mắt tới đống xác chết của anh. Và hãy nói những chuyện chung chung thì hơn. Chớ bàn về cô gái nữa mà đây điên tiết lên đấy.
Thế sau này các cậu sẽ cùng mình nhậu nốt cái xác bà dì lão khách hàng của mình chứ?
Nốt cả cái xác hay không chưa biết. nhưng chắc chắn hết một chân.
Được, nếu thế thì mình sẽ nương nhẹ cậu, chú bé ạ.
***
Tiếng động cơ xe nổ giòn như tiếng súng máy râm ran quanh đường đua. Mùi dầu, xăng và thầu dầu khét lẹt. Cái mùi tuyệt diệu, kích động cũng như tiếng nổ giòn giã tuyệt diệu đầy kích động của các động cơ xe đua.
Bên cạnh, đám thợ máy đang làm nhộn nhạo trên những khoảnh đất riêng chất không thiếu thứ gì của họ. Bản thân chúng tôi được trang bị hết sức nghèo nàn. Một ít dụng cụ, mấy chiếc bugi, vài bánh xe với săm lốp dự trữ mà một nhà máy cho chúng tôi, dăm thứ phụ tùng lặt vặt… tất cả chỉ có thế. Koester đâu có chạy đua cho một hãng xe nào. Chúng tôi phải tự chi phí lấy hết. Nên chỉ sơ sài vậy thôi.
Otto đến. Sau lưng cậu ta là Braumuynler đã mặc sẵn đồ đua.
Này, Ottto – Braumuynler nói – hôm nay bugi của mình mà đừng giở quẻ thì toi đời cậu! Nhưng chúng sẽ giở quẻ mất!
Để rồi xem! Otto đáp.
Braumuynler quay sang đe chiếc Karl – Giờ hồn trước cỗ máy nghiền của tao!
Cỗ máy nghiền là một chiếc xe đời mới hết sức đồ sộ mà Braumuynler lái. Nó được xem như kẻ sẽ đoạt giải đầu trong cuộc đua.
Karl sẽ dồn cho cậu tóe phở đấy, Theo! - Lenz gọi chõ sang.
Braumuynler toan giở giọng lính tráng bốp chát thuở trước ra, nhưng vội kìm lại khi nhìn thấy Patoris Honman trong đám chúng tôi, anh ta trừng mắt, cười khẩy vào khoảng trống trước mặt rồi phóng đi.
Thắng tuyệt đối. lenz hể hả nói.
Tiếng những chiếc xe máy sủa nhặng trên đường đua. Koester phải mặc quần áo đua, Karl được đăng ký vào nhòm xe thể thao.
Bọn mình không thể giúp cậu được nhiều, Otto ạ. Tôi nói, mắt nhìn đống dụng cụ.
Cậu ta phẩy tay – Cũng chẳng cần thiết, Karl mà đã sụm thì đến cả một xưởng sửa chữa cũng không cứu vãn nổi.
Bọn mình có cần giơ biển ra để cậu biết chừng không?
Koester lắc đầu. bãi xuất phát đông nghịt người. Mình nhìn được. Thêm nữa Jupp sẽ chú ý.
Jupp hăng hái gật đầu. Chú run người vì hồi hộp, miệng không ngừng nhá socola. Nhưng chỉ lúc này thôi. Tiếng súng xuất phát vừa nổ, chú lập tức bình tĩnh như rùa – Nào đi… đi cho may mắn! – chúng tôi đẩy Karl lên phía trước – Chớ có chựng lại khi xuất phát đấy nhé, cái xác thú yêu dấu của bọn ta – Lenz nói, tay vuốt ve bộ tản nhiệt. Đừng bắt cha già của  mày vỡ mộng, nghe Karl.
Karl rồ đi. Chúng tôi nhìn theo – Xem kìa, cái đồ đồng nát gfi kỳ cục thế kia – một kẻ nào đó bỗng lên tiếng bên cạnh chúng tôi – Bố khỉ, đuôi thì vểnh ngược lên như đít đà điểu!
Lenz ưỡn thẳng người – Anh nó chiếc xe trắng phải không? – Cậu ta hỏi, mặt đỏ gay, nhưng vẫn giữ được bình tĩnh.
Chính thế! - Thằng cha thợ máy hộ pháp ở phần đất bên cạnh ngoảnh đầu đáp qua vai một cách khinh bỉ, tay trao cho thằng bạn đứng bên một chai bia. Lenz bắt đầu líu lưỡi vì quá tức giận, toan leo qua bức tường rào thấp ngăn giữa hai bên. Ơn Chúa, cậu ta chưa kịp tuôn ra những lời thóa mạ. tôi ngăn cậu ta lại – Thôi ngay cái trò ngu ngốc này đi – tôi rủa – bọn mình cần cậu ở đây. Cớ gì mà lại cứ muốn bị cáng sớm vào nhà thương cơ chứ!
Ương bướng như lừa, cậu ta giằng ra bằng được. Cậu ta không thể chịu nổi khi thấy Karl bị xúc phạm.
Cô nhìn thử - tôi nói với Patoris Honman – cái thằng dê đực điên khùng này mà lại dám vỗ ngực ta đây là con người lãng mạn cuối cùng cơ đấy! cô có thể tin nổi cu cậu đã từng sáng tác cả thơ nữa không?
Hiệu nghiệm tức thì. Tôi đã nhằm đúng vào điểm yếu cảu Gotfrit – Lâu rồi, trước chiến tranh nhiều – cậu ta nói vẻ biết lỗi. Vả lại, chú bé ạ, hóa rồ trong một cuộc đua có gì là nhục. Phải thế không, Pat?
Nói chung điên rồ không phải là một điều ô nhục.
Gotfrit nghiêng mình – Một lời cực hay.
Tiếng động cơ như sấm rền át mọi âm thanh khác. Không khí rung bần bật. Đất chuyển trời rung. Cả đám xe vụt qua đi.
Gần bét tĩ! – Lenz gầm gừ - Cái con vật gớm ghiếc ấy lại ríu cẳng lúc khởi hành rồi.
Không sao – tôi nói – khởi hành vốn là nhược điểm của Karl. Bao giờ nó cũng xuất phát từ từ, nhưng rồi sẽ không biết ngừng là gì nữa.
Tiếng loa vang lên trong tiếng gầm gào lắng dần. chúng tôi ngỡ như nghe nhầm: Burger, một đối thủ đáng gờm, lại ì ra tại điểm xuất phát.
Đám xe rù rù tiến lại. tít đằng xa, nom chúng rung bần bật như những con cào cào trên đường đua, rồi chúng hiện ra to dần và vèo qua trước mặt chúng tôi, lướt qua các khán đài, ngoặt vào cua đường rộng. Còn sáu chiếc, Koester vẫn áp chót. Chúng tôi tư thế sẵn sàng. Kể từ khúc ngoặt, tiếng rền vang dội lại khi to khi nhỏ. Rồi cả đoàn xe vọt đến. chiếc đầu… bám sát sau nó là chiếc thứ hai, thứ ba, rồi đến Koester. Vượt lên ở khúc ngoặt, giờ đây anh ở vị trí thứ tư.
Mặt trời nhô ra khỏi những đám mây. Những vệt rộng màu trắng và xám tràn ngang con đường đua giờ đây đột nhiên vằn vện như da cọp bởi ánh sáng và bóng râm. Bóng mây lướt trên những đám đông trên các khán đài. Tiếng gầm rú của động cơ xe dội thẳng vào mạch máu của hết thảy chúng tôi như một thứ âm nhạc phi thường. Lenz nhấp nha nhấp nhổm, tôi nhai nát một điếu thuốc lá, còn Patoris Honamn thì cứ nghếch mũi lên trời chẳng khác gì một chú ngựa con chào đón bình minh. Chỉ có Valentin và Grau là ngồi bình thản tận hưởng ánh nắng mặt trời.
Tiếng đập vang rền của con tim vĩ đại của đoàn xe lại dội vào Koester. Cậu ta lắc đầu; cậu ta không muốn thay lốp. Khi trở lại, cậu ta đã nhoai lên được một chút, bám sát bánh sau chiếc thứ ba. Cả hai vụt vào con đường thẳng tắp dài hun hút.
Mẹ kiếp! - Lenz dốc chai tu ực một ngụm.
Cậu ta đã luyện tập như vậy – tôi bảo Patoris Honman – Vượt lên trong lúc quành là biệt tài của Koester.
Cũng làm một ngụm từ cái hũ này chứ, Pat? Lenz hỏi.
Tôi giận dữ nhìn Lenz. Cậu ta thản nhiên chịu đựng cái nhìn của tôi.
Giá có một cái ly thì hơn – nàng nói – tôi chưa học cách tu chai.
Biết ngay mà! Lenz  với tay nhón cái ly – Đó là những sai lầm của nền giáo dục tiên tiến.
Trong những vòng sau, các tay đua tiếp tục bỏ xa nhau. Braumuynler dẫn đầu. dần dần, bốn chiếc tiên phong bỏ xa những chiếc còn lại tới ba trăm mét. Koester và chiếc thứ ba sóng đôi biến sau khán đài. Đoàn xe lại rầm rầm kéo đến. chúng tôi nhảy dựng lên. Chiếc xe thứ ba đâu rồi? Chỉ còn mỗi Otto bám theo hai chiếc kia. Kìa… rốt cuộc chiếc thứ ba cũng rù rì tiến lại với hai lốp sau tơi tả. Lenz ngoác miệng cười khoái trá, chiếc xe dừng lại trước khoảng đất bên cạnh. Tay thợ máy hộ pháp chửi thề. Một phút sau nó lại lao vun vút trên bộ lốp mới.
Thứ hạng vẫn giứ nguyên trong máy vòng tiếp theo. Lenz đặt chiếc đồng hồ bấm giây xuống bên cạnh và tính toán. – Karl còn dư sức để tăng tốc nữa – cậu ta tuyên bố.
Mình e rằng tụi kia cũng thế - tôi nói.
Đồ thối chí! Cậu ta ném cho tôi một cái nhìn đầy khinh bỉ và phẫn nộ.
Đến vòng áp chót rồi mà Koester vẫn lắc đầu. cậu ta muốn thử liều thay lốp xem sao. Cũng chưa nóng tới mức chúng không chịu đựng nổi.
Sự căng thẳng quá như một con vật trong vắt nằm phục trên quảng trường rộng và các khán đài, khi giờ đây những chiếc xe lao vào phân tranh thắng bại. – cả bọn hãy nắm lấy gỗ - tôi nói, tay cầm chặt một cán búa. Lenzx túm lấy đầu tôi. Tôi xô cậu ta ra. Cậu ta cười khì, đặt tay lên chiếc gióng gỗ.
Tiếng rền phình thành tiếng rú, tiếng rú thành tiếng rống, tiếng rống thành tiếng gầm, tiếng hú huýt chói tai của những chiếc xe chạy hết tốc lực. Braumuynler bay lên trên cua đường, bám sát theo là chiếc thứ hai với hai bánh sau xoáy tít, tung bụi mù mịt, nó lạng sâu vào giữa, hình như toan thử từ đó vọt lên. – Hỏng! lenz gào.
Koester vừa vặn nhào đến, chiếc xe vù vù leo lên tận rìa vòng đua, chúng tôi đứng chết trân trong tích tắc, nhìn Karl mà tưởng chừng nó sẽ văng ra ngoài, đoạn động cơ rú lên và chiếc xe vọt về phái trước.
Cậu ta nhấn hết ga! Tôi kêu.
Lenz gật – Điên rồ!
Chúng tôi nhoài người qua gióng chắn, phát sốt vì hồi hộp, thành công hay không đây. Tôi nhắc Patoris Honman đứng lên thùng dụng cụ.
Để cô nhìn rõ hơn! Vịn vào vai tôi đây! Chú ý, cậu ta sẽ chộp hắn ở khúc ngoặt này.
Đuổi kịp rồi! – nàng reo – Anh ấy đã vượt qua!
Cậu ta đang rượt theo Braumuyenler! Trời đất ơi! Lạy đấng Moses thiêng liêng! – Lenz gào lên – đúng là cậu ta đã vượt qua và đang rượt theo Braumuynler!
Từ trong đám mây bụi bão tố, ba chiếc xe vọt ra lao về phía chúng tôi, chúng tôi la hét như điên dại, giờ đây thì Valentin và cái giọng ồm ồm kỳ lạ của grau cũng cùng hòa theo… Sự điên rồ đã mang lại thành công cho Koester, từ trên rìa cao của cua đường nhào xuống, cậu ta đã vượt chiếc thứ hai vì anh cu này không lượng đúng sức mình, để mất đà trong vòng cua quá hẹp. Giờ đây như một con chim kền kền, Koester lao vào Braumuynler lúc này bỗng nhiên chỉ còn chạy trước cậu ta hai mươi mét và hình như đang bị trục trặc về điện.
Chộp lấy, Otto! Chộp lấy nó! Nhai sống cái máy nghiền đi! – chúng tôi gầm, tay vung tít.
Hai chiếc xe biến vào một khúc ngoặt cuối cùng. Lenz lên tiếng cầu xin tất cả các thận linh ở châu Á và Nam Mỹ phù hộ độ trì cho chúng tôi, tay cậu ta vung vẩy tấm bùa. Tôi cũng moi tấm bùa của mình ra. Patoris Honman tựa vào vai tôi, mặt vươn hẳn lên phía trước để quan sát, trông chẳng khác gì gương mặt một pho tượng gắn ở mũi tàu.
Họ đây rồi. động cơ xe của Braumuynler vẫn không thôi khục khặc, khục khặc liên tục. tôi nhắm mắt lạ; Lenz quay đi, lưng xây lại đường đua… chúng tôi muốn hối lộ định mệnh. Một tiếng thét giật chúng tôi choàng dậy. chúng tôi còn kịp trông thấy Koster lướt qua đích, về trước Brumuynler hai mét.
Lenz điên lên vì sung sướng. quăng đồ nghề xuống đất, cậu ta trồng cây chuối trên những chiếc lốp.
Ban nãy anh nói gì hả? – vừa đứng thẳng người dậy, cậu ta hét chõ sang chỗ tay thợ máy khổng lồ - đồ đồng nát à?
Thôi đi, đồ nỡm, đừng có lảm nhảm rách việc – Tay thợ máy đáp, bực bõ.
Và lần đầu tiên kể từ khi tôi biết cậu ta, con người lãng mạn cuối cùng không đùng đùng nổi giận vì bị xúc phạm mà lại phá lên cười sằng sặc, người co giật như mắc chứng dộng kinh.
****
Chúng tôi chờ Otto. Cậu ta còn mắc bận với ban tổ chức cuộc đua.
Gotfrit – bỗng một giọng khê nồng gọi sau lưng chúng tôi. Một núi thịt đứng lù lù, bó cứng trong chiếc quần sọc quá chật, chiếc áo khoác xám chấm trắng quá chật, trên chụp chiếc mũ ống màu đen.
Bác Anfons! Patoris Honman reo.
Chính hắn – bác ta xác nhận.
Chúng tôi thắng rồi, bác Anfons ơi! Nàng kêu lên.
Cứng cựa thật, cwangs cựa thật. có lẽ tôi đến khí muộn, hả?
Bác bao giờ cũng đến đúng lúc, Anfons ạ - Lenz nói.
Kỳ thực cốt mang chút gì cho các cậu chén chơi. Thịt lợn rán để nguội và sườn muối đã chặt miếng.
Đưa đây và ngồi xuống đi, ông bạn vàng ngọc ơi – Gotfirt reo lên – chúng mình chén thôi.
Cậu ta giở cái gói ra – Lạy chúa – Patoris Honman nói – đủ cho cả một trung đoàn.
Cứ ăn xong đi đã rồi hẵng nói – Anfons bảo – Ngoài ra… còn có chút rượu mùi ướp đá đây.
Bác rút ra hai chai.- đã mở nút sẵn.
Cứng cựa thật, cứng cựa thật – Patoris Honman nói. Anfons thận thiện nháy mắt với nàng.
Karl rù rù đến, Koester và Jupp nhảy khỏi xe. Trông Jupp như Napoleon thời trẻ. Cặp tai voi của chú hừng sáng như kính màu của cửa sổ nhà thờ. Chú ôm trong tay một chiếc cúp bạc to tướng, xấu ghê hồn – Chiếc thứ sáu – Koester cười nói – Họ không bao giờ nghĩ ra được thứ gì khác.
Chie được độc cá bình sữa ấy thôi à? – Anfons hỏi, lúc nào cũng thực tế - không có tiền mặt sao?
Có chứ, Otto làm bác ta yên lòng –  cả tiền mặt nữa.
Thế thì cánh ta gần như ngụp lặn trong tiền – Grau nói.
Có vẻ như sắp được một tối xôm ra trò.
Đằng tôi chứ? Anfons hỏi.
Rất vinh hạnh – Lenz đáp.
Súp đậu với thịt dọi, móng giờ và tai lợn – Anfons nói, ngay cả với Patoris Honman cũng giữ vẻ mặt hết sức kính cẩn – Tôi khao, dĩ nhiên!- bác ta nói thêm.
Braumuynler lại gần, miệng rủa cái vận rủi của mình, tay đầy những chiếc bugi nhoen dầu mỡ.
Yên tâm đi, Theo ơi – Lenz réo – Lần đua xe con nít sắp tới, cậu đoạt giải nhất là cái chắc.
Các cậu cho mình cơ hội rửa thù bằng thi nốc cô nhắc chứ? Braumuynler  hỏi.
Thậm chí uống bằng cốc vại hẳn hoi – Grau đáp.
Vận may không đến với ông đâu, ông Braumuynler – Anfons tuyên bố vẻ sành sỏi – Tôi chưa thấy Koester say bao giờ.
Tôi cũng chưa thấy Karl vượt trước xe tôi bao giờ - Braumuynler đáp – Ngoại trừ hôm nay.
Hãy chịu đựng cho có phẩm giá – Grau nói – Ly của cậu ta đây. Ta uống mừng sự suy đồi của nền văn hóa thông qua máy móc.
Khi ra về, chúng tôi toan mang theo số thức ăn thừa. hẳn còn đủ cho vài miệng ăn. Nhưng chỉ thấy còn trơ tờ giấy gói – Quái quỷ… - Lenz lầm bầm – A ha! – cậu ta trỏ vào chú chàng Jupp đang toét miệng cười ngượng ngịu với hai bàn tay nắm đầy đồ ăn, bụng căng tròn như cái trống – Âu cũng là một kỷ lục!
Tôi có cảm tưởng sau bữa ăn khao ở tiệm của Anfons, Patoris Honman được hâm mộ tợn. Tôi bắt gặp Grau lại xin vẽ chân dung nàng. Nàng cười, nói rằng ngồi mẫu lâu lắm, chụp ảnh tiện lợi hơn.
Xem ra như thế lại hợp sở trường của anh ta hơn đấy – tôi châm chọc – Có lẽ anh ta sẽ truyền thần cô từ một tấm ảnh.
Im nào, Robby – Ferdinan thản nhiên đáp và ngắm nhìn Pat với cặp mắt xanh to thơ ngây. – Rượu vào, cậu đâm ra độc ác… còn mình thành nhân hậu. Đó là sự khác biệt giữa hai thế hệ chúng mình.
Anh ta hơn tôi chừng mười tuổi chứ mấy – tôi nhận xét.
Ngày nay, mười năm đã là cả một sự khác biệt về thế hệ - Ferdinan tiếp – Khác biệt một đời. khác biệt ngàn năm. Bọn trai trẻ các cậu thì biết gì về đời chứ! Các cậu sợ hãi trước những tình cảm của chính mình. Các cậu không viết thư bao giờ… chỉ biết có điện thoại; các cậu không còn mơ mộng gì… chỉ khỏe rủ nhau đi du hí cuối tuần; các cậu giàu lý trí trong tình ái, nhưng lại không chút lý trí trong chuyện chính trị… một thế hệ đáng thương xót!
Tôi chỉ để một tai vào đó, tai kia còn mải hóng sang Braumuynler. Anh ta đang ngập ngừng nói với Patoris Honman rằng nàng nhất thiết phải học lái xe với anh ta. Anh ta sẽ truyền cho nàng đủ mọi ngón.
Khi có dịp, tôi bảo riêng anh ta – Theo này, con nhà thể thao mà quá để tâm đến phụ nữ rất bất lợi cho sức khỏe.
Với mình thì không – Braumuynler nói – mình có một thể chất tuyệt vời.
Được lắm. Thế thì đây báo cho mà biết cái điều chắc hẳn cũng có lợi cho sức khỏe của cậu: giờ hồn có lúc được ăn cái chai này vào đầu.
Anh ta cười khì – Tra gươm vào vỏ đi chú em. Chú em có biết người ta nhận ra con người hào hoa phong nhã ở điểm nào không? Đó là cư xử đúng đắn lịch thiệp ngay cả khi đã say. Và chú em c ó biết anh đây là gì không?
Một thằng huênh hoang!
Tôi không sợ một trong hai thằng bạn thật sự toan tán tỉnh Pat; chuyện đó không thể có giữa chúng tôi. Nhưng tôi không biết đích xác cô gái nghĩ gì… dễ lắm, chưa chừng một thằng lại lọt mắt xanh của nàng. Chúng tôi biết nhau quá ít để tôi có thể tin tưởng. mà nói chung có bao giờ người ta dám tin?
Chúng ta  lẳng lặng chuồn nhé – tôi rủ nàng.
Nàng gật.
Chúng tôi lang thang qua các lối phố. Trời trở nên ẩm ướt. Sương mù từ từ buông trên thành phố, thứ sương mù xanh, anh ánh bạc. Tôi càm bàn tay Pat, ủ vào túi áo măng tô của tôi. Chúng tôi đi như thế khá lâu.
Mệt chưa? Tôi hỏi.
Nàng lắc đầu mỉm cười.
Tôi chỉ các tiệm cà phê mà chúng tôi đi ngang qua.
Ta vào đâu đó tí chăng?
Thôi, khoan đã.
Chúng tôi đi tiếp, rồi đến bên nghĩa trang. Nghĩa trang tựa một hòn đảo chơi vơi giữa làn sóng nhà bằng đá. Cây cối rì rào. Không còn nhìn thấy ngọn. Chúng tôi tìm một chiếc ghế băng trống và ngồi xuống.
Những ngọn đèn đường bên rìa phố trước mặt tỏa những quầng sáng run rẩy màu da cam. Trong lớp sương mù mỗi lúc một dày đặc, ánh sáng trở nên huyền ảo như một chuyện thần tiên. Từ những tán cây bồ đề, lũ bọ da say sưa chuếnh choáng bay ra, chúng lượn quanh những ngọn đèn và va mạnh vào các tấm kính ẩm sương. Sương mù biến đổi hết thảy, nâng mọi vật lên và hòa tan chúng, tòa khách sạn đối diện như một con tàu vượt đại dương với những buồng tàu thắp sáng bơi trên  mặt gương đen nhoáng của đường nhựa, cái bóng xám xỉn của ngôi nhà thờ sau nó biến thành chiếc thuyền buồm ma quái với những cái cột buồm cao vống mất hút trong ánh sáng xám đỏ, và giờ đây những dãy nhà như những con phà cũng bắt đầu trôi, dập dềnh cuốn đi…
Chúng tôi ngồi bên nhau câm lặng. sương mù biến mọi vật thành hư ảo… kể cả chúng tôi. Tôi nhìn cô gái… ánh sáng đèn đường lóng lánh trong cặp mắt mở to của nàng. – Nhích lại gần đây – tôi nói – nép sát vào anh kẻo sương mù cuốn em đi mất…
Nàng quay mặt về phía tôi. Nàng mỉm cười, miệng hé mở, hàm răng trắng nuột, cặp mắt mở to  hướng vào tôi.. nhưng tôi cảm giác như chúng chẳng hề nhìn tôi… tưởng chừng lướt qua tôi, nàng gửi nụ cười vào cái dòng chảy màu xám anh ánh bạc, tưởng chừng ngọn gió trên các ngọn cây và những dòng nước ẩm ướt ri rỉ dọc các gốc cây đang thì thầm với nàng một cách ma quái, tưởng chừng nàng đang lắng tai nghe tiếng gọi trầm đục, không thể nghe thấy, vẳng từ sau các thân cây, từ sau thế giới, tưởng chừng nàng phải lập tức đứng dậy và ra đi, xuyên qua sương mù, tin tưởng, không mục đích, đi theo tiếng gọi trầm đục, đầy bí ẩn của trái đất và cuộc sống.
Sẽ chẳng bao giờ tôi quên nổi gương mặt ấy… chẳng bao giờ tôi quên gương mặt ngả về phía tôi, nét biểu lộ của nó, vẻ âu yếm dịu dàng lặng lẽ tràn ngập với một sự yên tĩnh tỏa ngời, tựa hồ như gương mặt ấy bừng nở… sẽ chẳng bao giờ tôi quên đôi môi nàng đưa lại gần tôi, cặp mắt nàng nhích sát mắt tôi, mở to, lóng lánh… rồi từ từ khép lại, như thể hàng phục…
Sương mù vẫn giăng đều. những cây thập tự trên bia mộ bợt bạt nhô khỏi đám hơi mờ. tôi lấy áo khoác của mình  trùm cho cả hai đứa. Thành phố chìm nghỉm. thời gian đã chết.
Chúng tôi ngồi thật lâu như thế. Giớ bắt đầu dần dần thổi mạnh lên, những bóng người chao đảo xuyên qua khoảng không xám nhờ trước mặt chúng tôi. Tôi nghe những bước chân lạo xạo xen tiếng lầm rầm khe khẽ. Rồi tiếng ghi ta thoảng rung. Tôi ngẩng lên. Những cái bóng tiến lại gần, hiện ra những dáng người tối thẫm, dồn lại thành một đám. Im lặng. và đột nhiên vang lên lời hát: “Giê su, Giê su tìm cả ngươi…”
Tôi giật mình nhổm phắt dậy nghe ngóng. Cái gì vậy? chúng tôi đang ở trên cung trăng chăng? Một bài hợp xướng đích thực… hợp xướng hai bè nữ…
“Kẻ tội lỗi, kẻ tội lỗi đứng lên mau…” tiếng hát vang trên nghĩa trang trong nhịp quân hành…
Tôi đăm đăm ngó Pat. – Không tài nào hiểu nổi – tôi nói.
“Hãy sám hối đến quỳ rửa tội…” bài ca tiếp tục, lúc này đã nhanh hơn.
Tôi bỗng hiểu ra – Trời đất! té ra đội quân Cứu rỗi!
“Chớ tiếp tục con đường lầm lỗi…” những cái bóng lại nhắc nhở trong giai điệu du dương mỗi lúc một bổng lên.
Trong đôi mắt nâu của Pat lấp lánh những tia sáng. Môi nàng khẽ giật giật, vai rung rung.
Giờ đây tiếng hát tiếp tục vang lên mãnh liệt không gì cản nổi:
“Lửa địa ngục và đọa đày.
Cái giá đáng sợ cho tội lỗi.
Giesu vời trước ngươi: Tới đây!
Đứa con lầm lạc, mau sám hối!”
Im đi đồ quỷ tha ma bắt! – Bỗng một giọng giận dữ gầm lên đâu đó trong sương mù.
Một phút yên lặng ngỡ ngàng. Nhưng Đội quân Cứu rỗi đã quen với sự phiền muộn. ban hợp xướng tiếp tục gào to hơn nữa.
“Ngươi muốn gì trên cõi đời đơn độc…”
Muốn hôn hít, mẹ kiếp! – Cái giọng giận dữ gầm lên - ở đây cũng không được yên tai hay sao?
“Nơi ngươi bị quỷ Satang phỉnh phờ cám dỗ…” tiếng hát cao vống lên hùng hồn đáp lại.
Ngữ nạ dòng lập dị già khú các người từ lâu đã không hòng cám dỗ nổi ta! – câu trả lời vọt nhanh từ trong sương mù.
Tôi phá lên cười sằng sặc. pat cũng không nhịn nổi nữa. chúng tôi cười rung cả người trước cuộc đấu khẩu trên nghĩa trang. Đội quân Cứu rỗi biết rằng những chiếc ghế dài ở đây là nơi nương náu của các cặp tình nhân chẳng còn biết tìm đâu ra giữa cái thành phố náo nhiệt này một chốn yên tĩnh để ngồi riêng với nhau. Vì vậy, nó đã quyết định vung một  chưởng mạnh. Nó tổ chức cuộc bố ráp ngày chủ nhật để cứu vớt những linh hồn Ngoan đạo, sùng tín, những giọng hát không được rèn giũa rống to lời ca của mình. Các cây đàn ghi ta phừng phừng họa theo.
Nghĩa trang trở nên nhộn nhạo. từ trong sương mù vọng ra tiếng cười khúc khích, tiếng gọi nhau. Hình như mọi chiếc ghế dài đều có người ngồi. kẻ phiến loạn đơn độc của tình yêu nhận được sự ủng hộ vô hình mạnh mẽ từ những kẻ cùng tâm trạng. Một dàn hợp xướng chống đối được hình thành. Hẳn trong đó có các chàng cựu chiến binh bị thứ nhạc hành khúc làm cho hăng máu… vì chỉ loáng sau đã gầm vang bài ca muôn thuở:
“Em đã đi Hambuoc.
 Thấy cuộc đời nở hoa…”
Ồ chớ ngoan cố hơn nữa! - dàn hợp xướng của những kẻ khổ hạnh the thé gào thêm lần chót, vì đội quân Cứu rỗi với những chiếc mũ đàn bà cong vành gật gù kia đang hoảng loạn cực độ.
Nhưng chiến thắng vẫn về tay cánh nhà binh quái ác – “Tên em em chẳng dám xưng ” – tiếng hát ồ lên mạnh mẽ từ những cuống họng khàn đặc – “vì em là gái lấm lưng kiếm tiền”.
Ta đi là vừa – tôi bảo Pat – Anh biết bài này. Có nhiều đoạn, càng về sau càng ghê. Rời khỏi đây thôi!
Thành phố lại hiện ra với tiếng còi xe ầm ĩ và tiếng bánh xe lăn. Nhưng nó vẫn bị biến dạng bởi phép màu. Qua làn sương mù, những chiêc xe bus trông tựa như những con thú hoang đường khổng lồ, đoàn xe hơi tựa một lũ mèo sáng rực trườn đi, còn các ô kính trưng bày hàng chẳng khác nào các hang động kỳ ảo muôn màu sắc.
Chúng tôi đi dọc con đường bên nghĩa trang, rồi tạt ngang Quảng trường Chợ. Những chiếc đu quay nhô lên không trung mù mịt như những ngọn tháp âm nhạc lộng lẫy đang quay vù vù, bánh xe quỷ chói lọi trong sắc đỏ thẫm, ánh vàng và tiếng cười, còn mê cung thì lập lòe những ngọn lửa xanh.
Mê cung được chúc phúc! Tôi nói.
Vì sao? Pat hỏi.
Chùng mình từng cùng vào đó mà.
Nàng gật.
Em có cảm giác chuyện đó diễn ra từ đời thuở nào rồi.
Chúng mình lại vào đó nhé? Nàng hỏi.
Không – tôi  nói – Giờ thì thôi. Em muốn uống chút gì chăng?
Nàng lắc đầu. trông nàng xinh đẹp tuyệt vời. sương mù như một làn hương mỏng khiến nàng càng rạng rỡ hơn.
Em cũng không mệt chứ? Tôi hỏi.
Không, chưa mệt.
Chúng tôi đến bên những ngôi lều có những chiếc vòng treo trên móc. Trước lều lủng lẳng những chiếc đèn với ngọn lửa trắng cháy phùn phụt bằng khí cacbua. Pat nhìn tôi – Không – tôi nói – hôm nay anh không ném đâu. Một vòng duy nhất cũng không. Dù có được cả hầm rượu của Alecxan Đại đế - chúng tôi bước tiếp, băng qua quảng trường, xuyên qua những vườn cây thành phố.
Hẳn cây hoa thụy hương phải quanh đâu đây – Pat nói.
Ừ, nghe hương của nó từ xa đưa lại, bay qua thảm có. Hương thơm lắm, phải không?
Nàng nhìn tôi – có thế thật – nàng nói.
Hẳn nó đã nở rộ. Giờ thì hẳn cả thành phố ngửi thấy. tôi thận trọng đưa mắt tìm xem hai bên còn có ở đâu một ghế băng trống. Nhưng chắc do cây hoa thụy hương, do ngày chủ nhật, hoặc do chính chúng tôi, mà tôi chẳng kiếm được chiếc ghế thừa nào. Mọi ghế đều có người ngồi. tôi nhìn đồng hồ. đã quá nửa đêm – Đi em – tôi nó – lại đằng anh… chúng mình sẽ được ngồi riêng với nhau.
Nàng không đáp, nhưng chúng tôi quay trở lại. khi đi ngang qua nghĩa trang, chúng tôi bắt gặp một chuyện không ngờ. Đội quân Cứu rỗi đã kéo viện binh đến. dàn hợp xướng giờ đây phình ra những bốn hàng. Không chỉ có các bà xơ mà giờ đây thêm hai hàng nam mặc đồng phục. bài ca không chỉ  cất lên the thé với hai bè nữ mà tận bốn bè, vang như một cây đàn ooc. Tiếng hát oang oang trên những tấm bia mộ trong nhịp van: “Giesudalem thánh địa…”
Không còn nghe phe đối lập lên tiếng. Các ông tướng đã bị quét bay khỏi đó.
Kiên nhẫn – ngài Hinleman, hiệu trưởng trường đại học của tôi trước kia vẫn luôn nói – Kiên nhẫn và siêng năng còn hơn là thiên tài mà buông thả…
****
Tôi mở cửa, do dự giây lát. Rồi tôi bật đèn. Hành lang như một đường ống há hoác ra, vàng vọt và ghê tởm. – Nhắm mắt lại em – tôi khẽ bảo Pat – cảnh tượng này chỉ thích hợp với những hệ thần kinh chai cứng.
Bế bổng nàng lên, tôi thong thả bước những bước bình thường, như thể không hề có nàng trên tay, qua đóng hòm xiểng và bếp cồn, đến tận buồng mình.
Kinh quá phải không? – tôi ngượng ngùng nói, mắt dán vào bộ ghế nhung chềnh ềnh trước mắt chúng tôi. Phải, giờ đây tôi thiếu đứt đôi ghế bành bọc gấm của bà Zalepski.. tấm thảm, chiếc đèn bàn của Hasso… - Chẳng có gì kinh cả - Pat nói.
Có đấy, có đấy – tôi đáp và lại bên cửa sổ - May mà còn cảnh đẹp bên ngoài. Có lẽ ta kéo ghế ra đây chăng.
Pat đi đi lại lại trong buồng – chẳng đến nỗi nào, nhất là lại ấm tuyệt.
Em lạnh à?
Em ưa trời ấm – nàng nói, hơi so vai lên – Em không thích lạnh và mưa. Em không chịu nổi chúng.
Trời … vậy mà chúng mình ngồi phơi sương suốt buổi.
Như thế lúc này ngồi đây càng dễ chịu hơn.
Nàng vươn vai, dạo bước trong phòng với dáng đi tuyệt đẹp của nàng. Hết sức ruth rè, tôi đưa mắt ngó quanh. Ơn Chúa, không đến nỗi bừa bãi lắm. tôi xoay bàn chân gạt đôi giày vải rách vào gầm giường.
Pat đứng trước tủ quần áo, ngước mắt lên nhìn. Trên nóc tủ là chiếc vali cũ Lenz cho tôi, dán chi chít những nhãn màu ghi dấu những chặng đường phiêu lưu của cậu ta.
Rio de Gianeiro… - nàng đọc – Manoas … Santiago… Bueno Aires… La Palmas…
Nàng đẩy chiếc va li về chỗ cũ, bước lại gần tôi – Vậy ra anh đã chu du khắp nẻo.
Tôi lẩm bẩm câu gì đó. Nàng nắm lấy cánh tay tôi. Nào anh, kể cho em đi, kể em nghe về tất cả những thành phố đó, đi xa như thế hẳn thú vị tuyệt vời…
Còn tôi thì sao? Tôi thấy nàng trước tôi, ximh đẹp, tươi trẻ, đầy mong đợi, một cánh bướm mà sự tình cờ may mắn đã xua lạc vào căn buồng cũ nát, sát bên tôi mà lại chẳng gần tôi… chỉ một hơi thở, nó có thể vỗ cánh bay lên và lại mất hút… xin cứ quở trách tôi, nguyền rủa tôi, tôi không thể, không thể bảo rằng không, không thể nói tôi chưa hề đặt chân đến những chốn ấy, bây giờ thì không thể.
Chúng tôi đứng bên cửa sổ, sương mù tụ lại, chảy trên những ô kính.. và tôi cảm thấy: phía sau sương mù lại rình rập cái điều giấu giếm và che đậy, dĩ vãng, những ngày ghê rợn ướt át, sự buồn tẻ, sự bẩn thỉu, những mảnh đời thối rữa, sự bất lực, sức người lầm lạc của một cuộc đời vèo trôi vô mục đích… nhưng ở đây, trong bóng tối trước tôi, làm cho tôi gần như bối rối, là cái hơi thở nhè nhẹ, thực tại khó hiểu, sự ấm áp, cuộc đời tỏng sáng… tôi phải giữ nó cho bằng được, chiếm đoạt bằng được. – Rio .. – tôi nói – Rio de ranneiro… một bến cảng thần tiên. Biển vỗ sóng bảy lớp xung quanh vịnh, trê đó nhô lên thành phố trắng toát, nhấp nháy… tôi bắt đầu kể về những thành phố oi bức, những đồng bằng trải tít tắp chân trời, những con sóng triều dâng vàng khè chở nặng phù sa, những hòn đảo óng ánh với lũ cá sấu, những khu rừng nuốt chửng các con đường, và tiếng gầm về đêm của bầy báo đốm châu Mỹ, khi con tàu đường sông chạy bằng hơi nước xuyên qua làn không khí ngột ngạt, đượm mùi hương hoa phong lan, sặc mùi mục rữa và thơm mùi vani, xuyên qua bóng tối; Lenz đã kể tôi nghe về tất cả những cái đó, nhưng giờ đây tôi tưởng như chính  mình đã trải qua chúng…, sự hồi tưởng và những khao khát chúng hòa lẫn một cách kỳ lạ với ý muốn thêm thắt tô điểm cho mớ bòng bong tăm tối, tồi tệ của đời tôi, cốt sao không để buột mất cái gương mặt xinh đẹp lạ lùng kia, niềm hy vọng đột ngột kia, sự bừng nở đem lại hạnh phúc kia, mà đứng trước nó riêng tôi sao thật nhỏ nhoi. Sau này có thể sẽ có lúc tôi phân trần mọi lẽ, sau này, khi tôi đã khá hơn, khi mọi sự đã bớt mong manh, nhưng bây giờ tôi không thể… - Manaos – tôi nói – Buenos Aires – và mỗi lời nói là một lời cầu khẩn, một sự van xin.
***
Đêm. Ngoài trời bắt đầu mưa. Những giọt mưa rơi dịu dàng, êm ái. Chúng không còn lộp độp như một tháng trở về trước, khi chúng chỉ gặp rặt những cành bồ đề… giờ đây mưa rơi nhè nhẹ trên những chiếc lá non mềm mại, tụ lại rồi chảy xuống, một ngày hội huyền diệu, một dòng chảy bí ẩn về gốc rễ, để rồi từ đó lại dâng lên, nhú những chồi non chờ đón mưa rơi, trong các đêm xuân.
Không gian trở nên im ắng. tiếng ồn ào ngoài phố đã tắt lặng… một ngọn đèn đường trơ trọi đung đưa trên vỉa hè. Những chiếc lá non mỏng mảnh được rọi sáng từ dưới nom trắng ngà, gần như trong suốt, và những ngọn cây là những cánh buồm sáng, lấp lánh.
Nghe tiếng mưa kìa, Pat..
Vâng…
Nàng nằm bên tôi. Mái tóc xõa đen trên gối trắng. bóng tối của mái tóc khiến gương mặt có vẻ trắng bệch. Một bên vai nàng nhô cao, ánh lên như đồng mờ dưới thứ ánh sáng nào đó, và một vệt ánh sáng mảnh mai đậu trên cánh tay nàng. – Anh nhìn này – nàng nói – đưa hai bàn tay ra hứng lấy tia sáng.
Chắc ngọn đèn đường ngoài kia hắt  vào. Tôi bảo.
Nàng nhỏm dậy. giờ đây cả gương mặt nàng cũng được rọi sáng, vệt sáng chạy từ vai  xuống ngực nàng, vàng như ánh nến, nó thay đổi, hòa làm một, chuyển sang màu da cam, rồi những vòng sáng màu xanh lung linh lướt qua và đột nhiên xuất hiện phía sau nàng một quầng sáng đỏ rực như hào quang, lên cao dần, đoạn thong thả di động trên trần nhà.
Đó là bảng điện quảng cáo thuốc lá bên kia đường.
Anh thấy chưa, buồng của anh đẹp đấy chứ          .
Nó đẹp vì có em. Từ bây giờ căn buồng cũng sẽ chẳng còn là nó trước kia… vì em đã đến đây.
Nàng quỳ trên giường, tắm mình trong ánh sáng xanh lơ – Nhưng – nàng nói – em sẽ còn đến đây thường xuyên mà… thường xuyên.
Tôi lặng lẽ ngắm nàng. Tôi nhìn tất cả như qua một giấc ngủ êm ái sáng sủa; sảng khoái nhẹ nhõm thư thái và vô cùng hạnh phúc – EM đẹp lắm Pat ạ! Đẹp hơn là khi em mặc bất kể loại váy áo nào.
Nàng mỉm cười, cúi xuống tôi – Anh phải yêu em hết lòng, anh Robby. Em không biết thiếu tình yêu em sẽ ra sao!\
Mắt nàng nhìn tôi đăm đắm. gương mặt nàng ghé sát mặt tôi, xúc động, hoàn toàn cởi mở, nồng nàn. – Anh phải giữ chặt lấy em – Nàng thì thầm – Em cần ai đó giữ chặt lấy mình. Không thì em gục mất. em sợ.
Trông em chẳng có vẻ gì là đang sợ sệt cả. tôi đáp.
Có đấy. em chỉ làm ra vẻ thế thôi. Em thường xuyên sợ hãi.
Anh sẽ giữ em thật chặt – tôi nói mắt vẫn hìm đắm trong trạng thái tỉnh mà mơ hư ảo ấy, trong giấc ngủ mơ màng trong sáng ấy – Anh sẽ giữ em rõ chặt, Pat ạ. Em sẽ ngạc nhiên cho mà xem – nàng đưa tay ôm lấy gương mặt tôi – Thật không anh?
Tôi gật. bờ vai nàng ánh lên biêng biếc như từ dưới nước sâu. Tôi nắm tay nàng, kéo nàng xuống với tôi… một làn sóng, con sóng cồn sáng ngời, hổn hển, mềm mại dâng lên, xóa tan hết thảy.
***
Nàng ngủ trong cánh tay tôi. Chốc chốc tôi lại thức giấc ngắm nàng. Tôi ngỡ như đêm nay dài vô tận. Chúng tôi đang ở đâu đó bên ngoài thời gian. Tất cả diễn ra quá nhanh chóng, tôi vẫn chưa hiểu nổi. Tôi chưa hiểu một người nào đó có thể yêu tôi. Tôi rất biết, đối với một người đàn ông, tôi có thể là một người bạn rất tốt; nhưng tôi không sao hình dung được vì lẽ gì một phụ nữ lại yêu tôi. Tôi nghĩ điều đó chỉ tồn tại trong đêm nay, và tin rằng nó sẽ tan biến khi sáng ra thức dậy.
Bóng đêm trở nên xám nhờ. Tôi nằm thật im. Cánh tay tôi đặt dưới đầu Pat đã tê dại, không còn cảm giác được nữa. Nhưng tôi không động cựa. mãi tới lúc nàng trở mình trong giấc ngủ và vùi đầu vào chiếc gối, tôi mới rụt tay lại được. tôi ra khỏi giường hết sức nhẹ nhàng, không gây một tiếng động nhỏ trong lúc đánh răng, rồi cạo râu. Tôi còn lấy chút nước hoa xoa lên tóc và sau gáy. Một cảm giác là lạ khi ta lặng lẽ ở trong căn buồng mờ tối với ý nghĩ và những bóng cây đen sẫm ngoài kia. Khi quay người lại, tôi thấy Pat đã mở mắt và đang quan sát tôi. Tôi nín thở - Lại đây anh – nàng nói.
Tôi đến bên nàng, ngồi xuống giường – mọi sự vẫn là thật chứ em? Tôi hỏi.
Sao anh hỏi thế?
Anh không biết. Có lẽ vì trời sáng rồi chăng?
Trời rạng hơn – Giờ hãy cho em xin quần áo của em – nàng nói. Tôi nhặt chiếc áo lót lụa mỏng nằm trên sàn nhà. Nó nhẹ bỗng và có chút xíu. Tôi giữ chiếc áo trong tay. Riêng cái này đã hoàn toàn khác, tôi nghĩ. Người nào mặc nó, lại càng khác lạ với mình quá. Sẽ không bao giờ mình hiểu nổi.
Tôi đưa quần áo cho  nàng. Nàng quàng tay lên gáy tôi và hôn tôi.
Rồi tôi đưa nàng về nhà. Chúng tôi chỉ trao đổi đôi ba câu. Chúng tôi sóng vai đi trong bình minh anh ánh bạc. những chiếc xe chở sữa chạy rầm rầm trên con đường lát đá, những tờ báo được đem đi phân phát. Một ông lão ngồi ngủ trước ngôi nhà, cằm lão run rẩy như sắp long ra. Những chiếc xe đạp thồ bánh mì con lướt qua. Mùi bánh mì nóng mới ra lò thơm nức phố. Cao tít trên đầu chúng tôi một chiếc máy bay vụt ngang nền trời xanh.
Hôm nay sao? – tôi hỏi Pat khi về tới trước cửa nhà nàng.
Nàng mỉm cười – Bảy giờ nhé? Tôi hỏi.
Trông nàng không chút mệt mỏi. nàng tươi tỉnh như thể vừa được ngủ đẫy giấc. nàng hôn tạm biệt tôi. Tôi nán lại trước tòa nhà cho tới lúc thấy đèn phòng nàng bật sáng.
Đoạn tôi quay gót. Trên đường về, đầu óc tôi nảy ra bao điều mà lẽ ra tôi có thể nói cùng nàng, bao lời đẹp đẽ. Tôi lang thang qua các phố và nghĩ đến điều lẽ ra tôi đã nói và đã làm, giá như tôi chẳng phải là tôi bây giờ. Rồi tôi đi đến các gian hàng chợ. Những chiếc xe chở rau, thịt và hoa đã có đó. Tôi biết hoa ở đây rẻ gấp ba lần so với trong cửa hàng. Có bao nhiêu tiền trong người, tôi dốc sạch ra mua hoa tulip. Những bông hoa rực rỡ tươi nguyên với những giọt nước đọng lại nơi nhụy. Tôi nhận được cả một ôm đầy. Cô hàng hoa hứa sẽ gửi hoa đến Pat lúc mười một giờ. Cô ta cười với tôi khi hứa như vậy, đoạn gài thêm một túm dày hoa violet.
Chúng sẽ làm vui lòng quý cô ít nhất là mười lăm hôm – cô ta nói – Chỉ cần thỉnh thoảng bỏ vào nước cắm một viên piramidong.
Tôi gật đầu, trao tiền cho cô ta. Đoạn tôi thong thả đi về nhà.
 (Còn tiếp)
 
 
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0

CHƯƠNG X
 
Chiếc Pho đứng trong xưởng, đã được sửa chữa xong xuôi. Công việc mới không tự đến. Chúng tôi đã phải xoay xở cách nào đó. Koester  và tôi tìm đến một cuộc bán đấu giá. Chúng tôi muốn mua một chiếc tắc xi đang được rao bán tại đó. Bán lại tắc xi bao giờ cũng khá được giá.
Địa điểm bán đấu giá là một ngôi nhà khuất nẻo ở khu bắc thành phố. Ngoài chiếc tắc xi còn cả đống đồ khác được đem đấu giá. Một số bày ngay ngoài sân. Những chiếc giường, những cái bàn ọp ẹp, một chiếc lồng mạ vàng với những chú vẹt luôn miệng kêu – “Chào người thương”, một chiếc đồng hồ đứng, sách, tủ, một chiếc áo đuôi tôm đã cũ. Những chiếc ghế ăn, bát đĩa… toàn bộ nỗi nghèo khổ của cuộc đời suy tàn, sụp đổ.
Chúng tôi đến quá sớm, viên phát mại chưa có mặt.
Tôi sục sạo giữa đống đồ đạc bày ngổn ngang, xem vài cuốn sách trong đám sách… những cuốn sách rẻ tiền đã được đọc tới nhừ nát của các nhà cổ điển Hy Lạp và La Tinh với những ghi chú viết tay bên lề. Trên những trang sách phai mực, long lả tả, chẳng còn đâu thấy những vần thơ của Horace, những bài ca của Anacreon… chỉ còn thấy tiếng thét gào từ sự khốn quẫn và bất lực của một cuộc đời bỏ đi. Người nào sở hữu những cuốn sách này, người đó đã coi chúng là nơi ẩn náu cuối cùng của mình, và anh ta đã gắng giữ chúng đến cùng, một khi anh ta đã phải rời chúng, đưa chúng tới đây, có nghĩa là anh ta đã tới ngày tận.
Koester ngoái lại nhìn tôi – Đáng buồn, phải không? – Tôi gật, chỉ vào những đồ vật khác – Cả đây nữa, Otto ạ. Những chiếc ghế ăn và tủ quần áo được đưa tới đây không phải để đùa.
Chúng tôi đến bên chiếc xe đỗ ở góc sân. Lớp sơn đã mòn, cũ xỉn nhưng sạch sẽ, ngay phía dưới chắn bùn cũng sạch. Một người đàn ông thấp béo đứng cạnh xe, hai bàn tay to bè buông thõng, ngờ nghệch nhìn chúng tôi.
Cậu xem kỹ máy rồi chứ? Tôi hỏi Koester.
Xem hôm qua – cậu ta nói – Khá mòn , nhưng được bảo dưỡng không chê vào đâu được.
Tôi gật – Nhìn cũng biết. sáng nay chiếc xe còn được lau rửa. hẳn không phải do tay lũ bán đấu giá làm.
Koester lắc đầu, đưa mắt sang người đàn ông thấp béo – Chắc bác chủ xe. Hôm qua bác ta cũng đứng đấy và lau chùi chiếc xe.
Mẹ kiếp – tôi nói – trông bác ta thiểu não quá, chẳng khác gì con chó bị chẹt.
Một gã trai trẻ băng qua sân lại chiếc  xe. Gã mặc một chiếc măng tô có đai đen, vẻ dạn dĩ đến khóa chịu.
Thì ra cái xe này đây – gã nói, nửa với chúng tôi, nửa với người đàn ông, tay gõ can lên mũi xe. Tôi thấy mi mắt người đàn ông giật giật. – Không sao, không sao – gã thắt đai công kích một cách hào hiệp – gì thì gì, nước sơn chẳng còn đáng năm xu bọ. Một thứ đồng nát đáng kính. Lẽ ra nên tống vào viện bảo tàng mới phải, hả? – Gã hô hố cười trước câu nói bông lơn của mình và đưa mắt tìm sự tán thưởng ở chúng tôi. Chúng tôi không cười hùa với gã. Gã bèn quay sang người chủ xe.
Ông định bán cụ cố này lấy bao nhiêu?
Người đàn ông nuốt nước bọt, nín thinh.
Giá sắt vụn hả? thằng choai choai phớn phở kêu be be, rồi lại quay sang chúng tôi – Các ông đây cũng để mắt đến nó sao? – đoạn hạ giọng – Ta sẽ ăn cánh với nhau, được chứ? Mua chiếc xe với giá rẻ mạt, lời lãi ăn chia. Tội quái gì không dưng quăng tiền cho cái lũ ở đây nó đớp! Xin nói thêm: tôi, Guido This, hãng Augeka.
Gã quay tít cây can bằng trúc và thân mật nháy mắt với chúng tôi, vẻ kẻ cả. Cần gì phải úp mở với cái đồ sâu bọ hai lăm tuổi ranh này, tôi cáu tiết tự nhủ, bởi tôi thấy thương người đàn ông câm lặng kia, tôi bảo gã – Thiết tưởng anh phải mang danh gì khác xứng hơn cái tên This.
Ây đấy – gã hí hửng nói. Có vẻ như gã quen nghe thiên hạ khen ngợi tài xoay xở của mình.
Chí phải  - tôi tiếp – phải gọi anh là Mũi Thò Lò, Guido Mũi Thò Lò!
Gã giật nảy mình – Đành thôi! – cuối cùng gã nói – hai chọi một mà lại…
Đã vậy chỉ mình tôi thách đấu với anh – tôi nói – đi đâu tùy anh chọn.
Cám ơn – Guido lạnh lùng đáp – cám ơn lắm lắm! rồi rút lui.
Với vẻ mặt luống cuống, người đàn ông thấp béo đứng đó như thể mọi chuyện chẳng liên quan gì đến bác, mắt bác không rời chiếc xe.
Bọn ta chẳng nên mua chiếc xe, Otto ạ - tôi nói.
Thế thì cái thằng khỉ thắt đai của cậu sẽ chộp liền - Koester đáp – Chúng mình chẳng giúp được gì bác ta.
Cậu nói phải- tôi nói – Nhưng dẫu sao… mình vẫn cảm thấy hơi áy náy.
Thời buổi này làm cái gì mà không khỏi áy náy hở Robby? Hãy tin mình; việc tụi mình có mặt ở đây thậm chí lại có lợi hơn cho bác đứng kia cơ đấy. Có thể nhờ bác ta bán chiếc xe được giá hơn một chút. Nhưng mình hứa với cậu: nếu thằng khỉ thắt đai ấy không trả thì mình cũng không trả.
Viên phát mại đến. Trông lão tất bật, hình như lão bận lắm. Ngày nào cũng có hàng tá món hàng đấu giá. Tay hươ tròn, lão bắt đầu cuộc đấu giá những thứ đồ lặt vặt thảm hại. Lão có chất hài hước rắn như gang và tính thiết thực của một người đàn ông suốt ngày tiếp xúc với nỗi khốn khó mà bản thân vẫn không bị nó chạm đến.
Đống đồ được bán đi với giá vài chục xu. Phần lớn do một số dân buôn mua. Khi viên phát mại ném cái nhìn về phía họ, họ chỉ uể oải giơ một ngón tay lên, hoặc lắc đầu. Nhưng thỉnh thoảng còn có một cặp mắt khác dõi theo ánh mắt của lão – cặp mắt trên một gương mặt đàn bà đầy lo âu, cặp mắt ngước trông những ngón tay của đám dân buôn như đang lĩnh hội lời răn của Chúa… đầy hy vọng và sợ hãi. Có ba người – kẻ đầu tiên là Guido – đưa ra cái giá ba trăm mác trả chiếc tắc xi. Một cái giá rẻ mạt. người đàn ông thấp béo lại gần. Bác mấp máy đôi môi không thốt ra tiếng. trông bác như  cũng muốn được cùng đấu giá. Nhưng bàn tay bác lặng lẽ buông thõng. Bác lùi lại.
Người tiếp theo trả bốn trăm mác. Guido nâng lên bốn trăm rưởi. Một lát im lặng.Viên phát mại mời mọc xung quanh …- Không còn ai nữa à… lần thứ nhất… lần thứ hai…
Người đàn ông bên chiếc tắc xi đứng đó với cặp mắt mở to, đầu cúi gằm, tựa như bác đang chờ một cái tát vào mặt.
Một ngàn – Koester nói. Tôi nhìn cậu ta – Đáng giá ba ngàn – cậu ta lẩm bẩm – Mình không chịu được cảnh bác ta bị làm thịt.
Guido phác cho chúng tôi những dấu hiệu tuyệt vọng. khi lao vào chuyện làm ăn, gã đã quên phéng cái Mũi Thò Lò. – Ngàn mốt – gã chu lên, nháy mắt với chúng tôi bằng cả hai mắt. Giả thử gã có một con mắt nữa sau mông thì gã cũng nháy.
Ngàn rưởi – Koester nói.
Viên phát mại bắt đầu khoa chân múa tay. Lão nhảy nhót, tay hươ chiếc dùi như một nhạc trưởng. Đây là những con số khác hẳn hai mác và hai mác rưỡi ban nãy.
Một ngàn năm trăm mười – Guido toát mồ hôi tuyên bố.
Ngàn tám – Koester lên tiếng.
Guido trỏ tay vào trán mình và bỏ cuộc. Viên phát mại nhảy chồm lên. Thốt nhiên tôi nghĩ đến Pat – Ngàn tám năm chục – tôi nói, mặc dù không hẳn muốn thế.
Koester ngạc nhiên ngoái đầu lại – Mình sẽ bỏ ra năm chục ấy – tôi nói nhanh – Gọi là có chút… để đề phòng.
Cậu ta gật.
Viên phát mại gõ hiệu để xe cho chúng tôi, Koester trả tiền tắp lự.
Lại còn thế nữa! Guido nói, không sao dừng được, gã xán lại gần, cứ như chẳng có chuyện gì xảy ra – Lẽ ra bọn ta đã có thể mua chiếc xe với giá một ngàn. Thế cũng đủ loại thẳng cánh tên thứ ba rồi.
Chào người thương – một giọng chói tai gào lên sau lưng gã. Đó là chú vẹt vừa được đưa ra trong chiếc lồng vàng của chú.
Mũi Thò Lò – tôi bổ xung.
Guido nhún vai ,ủi mất.
Tôi đến bên người đàn ông vốn là chủ chiếc xe. Giờ đây đứng cạnh bác ta còn có một người đàn bà xanh xao – Thế này bác ạ - tôi nói.
Tôi biết rồi … - bác đáp.
Thực ra chúng tôi đâu muốn làm thế - tôi nói – nhưng nếu không, bác chỉ được số tiền ít hơn.
Bác gật đầu, bối rối vặn vẹo ahi bàn tay – Chiếc xe tốt đấy – bác đột nhiên nói nhanh, lộn xộn – chiếc xe tốt đấy, đáng giá từng đấy tiền, chắc chắn thế, các anh không mua đắt đâu, không phải vì chuyện chiếc xe, hoàn toàn không phải, mà vì… mà vì…
Tôi biết – tôi nói.
Chúng tôi nào được xơ múi gì ở số tiền này – người đàn bà than – LẠi như gió vào nhà trống thôi. – Rồi sẽ ổn, mẹ nó ạ - người đàn ông nói – Sẽ ổn mà.
Người đàn bà chẳng ừ hữ - Khi nổ máy, chuyển từ số một lên số hai hơi rè – người đàn ông nói- nhưng không phải vì hỏng hóc gì đâu. Dạo mới nó đã thế. Bác kể về chiếc xe như kể về một đứa con. Chúng tôi đã có nó ba năm nay, và chưa hề gặp chuyện gì rắc rối với nó. Chỉ vì thoạt đầu tôi lâm bệnh, rồi có một kẻ đã hại tôi… một thằng bạn…
Một tên vô lại – bà vợ nói, nét mặt hằn học.
Thôi nào, mẹ nó – người chồng nói và nhìn vợ - tôi sẽ lại khấm khá lên, phải không mẹ nó?
Người vợ không đáp. Người chồng túa đẫm mồ hôi.
Bác cho chúng tôi xin địa chỉ của bác – Koester nói – có thể sẽ có lúc chúng tôi cần một người lái xe.
Người đàn ông hăm hở viết, đôi bàn tay nặng nề, chất phác. Tôi nhìn Koester, cả hai chúng tôi đều hiểu rằng họa là có phép lạ mới hòng biến điều hứa hẹn trên thành sự thật. Mà phép lạ thì không còn nữa. Có chăng chỉ tổ sa sút thêm thôi.
Người đàn ông nói liên hồi như trong cơn sốt. Cuộc bán đấu giá kết thúc. Trên sân còn trơ lại chúng tôi. Bác bày cho chúng tôi nên nổ máy như thế nào vào mùa đông. Bác ve vuốt mãi chiếc xe, tuồng không muốn rời. rồi đứng lặng – Ta về thôi chứ ông Anbot – bà vợ nói.
Chúng tôi chìa tay cho bác. Hai người đi. Chúng tôi chờ cho tới khi họ khuất dạng. Rồi chúng tôi cho xe nổ máy.
Khi đi ngang, chúng tôi trông thấy một bà lão nhỏ bé. Bà cụ ôm trong tay chiếc lồng vẹt và đang xua mấy đứa trẻ xúm vào xem. Koester dừng xe – Cụ định về đâu đấy? cậu ta hỏi.
Trời đất, lão làm gì có tiền mà đi xe hơi – bà lão đáp.
Cụ cũng chẳng cần có tiền – Otto nói – Hôm nay là ngày sinh nhật tôi và tôi trở khách không công.
Bà lão ngờ vực ôm chặt chiếc lồng – Rồi lát nữa thế nào anh chẳng đòi tiền xe.
Chúng tôi nói để bà yên lòng, và bà lên xe.
U mua con vẹt này về làm gì vậy? Tôi hỏi lúc bà lão xuống xe.
Cho những buổi tối – bà lão nói – Anh bảo giá hạt kê có đắt không?
Không đâu – tôi đáp – nhưng sao lại cho các buổi tối?
Chả là nó biết nói – Bà lão đáp và nhìn tôi với cặp mắt già nua, sáng rỡ - Nên lão cũng có kẻ trò chuyện bên tai.
Ra thế… tôi nói.
***
Buổi chiều, lão chủ hiệu bánh đến lấy chiếc xe Pho của lão. Vẻ mặt lão u ám, cau có. Chỉ mình tôi đứng trên sân – Ông thích màu sơn chứ? – tôi hỏi.
Vâng, thích – lão nói, mắt lưỡng lự nhìn chiếc xe.
Mui xe được tân trang tuyệt đẹp.
Đã hẳn…
Lão đứng ỳ ra đấy và hình như không quyết định lái xe về nổi. Tôi chắc mẩm thế nào gã cũng lại thử tìm cách moi thêm chút gì mà  không phải trả tiền., một cái kích xe, một chiếc gạt tàn hoặc một thứ gì tương tự.
Nhưng sự việc lại khác hẳn. lão thở phì phò một lúc, đoạn nhìn tôi với cặp mắt vằn tia đỏ - Tôi cứ hình dung trước đây vài tuần, bà ấy vẫn ngồi trong xe, còn khỏe mạnh vui tươi.
Tôi hơi ngạc nhiên thấy lão bất chợt ủy mị như vậy, đoán chừng cái cô ả tóc đen linh lợi lầm trước lão kè kè mang theo đã khiến lão bực mình. Chả là, hơn hẳn tình yêu, nỗi tức giận dễ khiến cho con người ta đa cảm.
Một người vợ tốt biết bao – lão tiếp – một tâm hồn phụ nữ chính cống. bà ấy không bao giờ đòi hỏi chút gì. Suốt mười năm vẫn đánh độc một chiếc áo măng tô. Sơ mi và những đồ mặc  nhà khác, bà ấy cắt may lấy tất. Một tay thu vén việc nhà… không cần người ở. Ái chà, xem ra ả bồ mới lại chẳng có được các nét ấy. Lão thợ bánh bắt đầu dốc bầu tâm sự. Lão kể lể về cái đức tằn tiện của bà vợ lão. Thật kỳ quặc là việc hồi tưởng đến món tiền tiết kiệm lại khiến lão hội viên hội chơi ky nghiện rượu này xúc động đến thế. Vợ lão chưa bao giờ chịu để người ta chụp hình cho mình cho đường hoàng, vì cho rằng quá tốn kém. Thế nên lão chỉ còn giữ được bức ảnh cưới và vài tấm ảnh nhỏ chụp chớp nhoáng bà vợ của mình.
Tôi bèn nảy ra một ý – Ông nên cho truyền thần ảnh bà nhà thành một bức chân dung tuyệt đẹp – tôi nói – Như vậy ông sẽ mãi mãi lưu giữ được hình ảnh bà nhà. Chứ những bức ảnh sớm muộn gì rồi cũng sẽ phai màu. Ở đây có một nghệ sĩ chuyên làm việc ấy đấy.
Tôi kể cho lão nghe về công việc của Ferdinan Grau. Lão lập tức tỏ ý ngờ vực, kêu rằng hẳn phải đắt lắm. Tôi bảo lão cứ yên tâm… có tôi đi cùng, thế nào Ferdinan cũng lấy rẻ cho lão. Lão tìm cách lảng. nhưng tôi không buông tha lão, cố giảng giải với lão rằng với một người thương nhớ vợ như lão thì không có cái giá nào là quá đắt cả. Rốt cuộc gã ưng thuận. Tôi gọi điện báo cho Ferdinan biết. Đoạn tôi cùng lão thợ bánh phóng xe về nhà lão lấy những bức ảnh.
Từ trong cửa hiệu, cô nàng tóc đen chạy bổ ra đón chúng tôi. Ả nhảy nhót xung quanh chiếc xe Pho – Giá màu đỏ có phải đẹp hơn không, anh yêu! Nhưng dĩ nhiên anh đã khăng khăng làm theo ý mình.
Thôi đi nào – anh yêu nói, giọng bất bình.
Chúng tôi đi lên buồng trên. Cô nàng tóc đen theo sau. Cặp mắt linh lợi của ả đảo khắp mọi chỗ. Lão thợ bánh đâm cáu. Lão không muốn tìm những tấm ảnh cũ trước mặt ả - Mặc cho bọn tôi nói chuyện riêng với nhau – cuối cùng lão thô bạo nói.
Cặp vú rung rinh khiêu khích dưới lần áo len chui bó sát người, cô nàng quay ra. Lão thợ bánh lôi từ một cuốn anbum bọc nhung xanh vài tấm ảnh đưa tôi xem. Bà vợ trong trang phục cô dâu, lão đứng cạnh với bộ ria vểnh ngược, khi ấy bà còn cười, rồi một tấm khác chụp bà ngồi trên mép ghế, gầy gò, phờ phạc vì làm việc vất vả, ánh mắt sợ sệt. Chỉ hai tấm ảnh nhỏ đó thôi… nhưng là cả một đời người.
Được đấy – tôi nói – Dựa vào đây anh ta có thể làm được tất cả.
Ferdinan Grau diện một chiếc áo vét đen để tiếp chúng tôi. Trông anh đáng kính và tranh nghiêm. Công việc làm ăn của anh đòi hỏi như vậy. Anh biết rằng  đối với nhiều người đang có tang, thái độ tôn trọng trước nỗi đau của họ còn quan trọng hơn bản thân nỗi đau.
Trên tường xưởng vẽ treo một số bức chân dung tao nhã lồng trong khung thếp vàng; bên dưới là những tấm ảnh nguyên bản nhỏ xíu. Khách hàng nào thoạt nhìn cũng có thể thấy ngay từ một tấm ảnh chụp vội đã phai màu, nghệ sĩ phải kỳ công đến đâu.
Ferdinan dẫn lão thợ bánh đến xem quanh phòng tranh và muốn biết lão ưng ý bức nào nhất. Lão thợ bánh hỏi lại xem liệu giá cả có phụ thuộc độ lớn của bức tranh hay không. Ferdinan đáp rằng vấn đề không phải ở kích thước tranh mà ở cách biểu hiện nó. Lão thợ bánh bèn tuyên bố lão thích bức lớn nhất hơn cả.
Ông thật có óc thẩm mỹ - Ferdinan khen – đấy là chân dung công chúa Borghese. Giá tám trăm mác. Kể cả khung.
Lão thợ bánh  rúm người lại – Thế nếu không kể khung?
Bảy trăm hai.
Lão trả bốn trăm.
Ferdinan lúc lắc cái đầu sư tử của anh – Với bốn trăm mác giỏi lắm ông chỉ nhận được bức tranh vẽ độc khuôn mặt trông nghiêng thôi. Chứ làm gì được bức toàn thân en face. *(Tiếng Pháp, nghĩa là trực diện).Phải bỏ công gấp hai lần cơ đấy.
Lão thợ bánh nói lão vừa lòng với một bức vẽ mặt trông nghiêng. Ferdinan lưu ý lão rằng cả hai tấm ảnh đều chụp thẳng mặt cả. Ngay đến danh họa Tizian cũng không thể dựa vào đó mà chiều theo ý lão được. Lão thợ bánh đổ mồ hôi hột; có thể thấy lão đang tuyệt vọng vì nỗi trước kia mình đã không thận trọng đúng mức khi cho chụp ảnh. Lão thừa nhận rằng Ferdinan có lý – vẽ en face thì anh sẽ phải vẽ hơn mặt trông nghiêng những nửa khuôn mặt. Nên lão chịu nhận một cái giá cao hơn. Lão dao động dữ tợn. Cho đến lúc ấy Ferdinan vẫn khá kín tiếng; giờ đây anh bắt đầu thuyết phục lão khách. Cái giọng trầm trầm ồm ồm của anh lan khắp xưởng vẽ. Là kẻ sành sỏi trong mục này, tôi phải thừa nhận là anh đã tán lão khéo không chê vào đâu được. Lão thợ bánh cũng sắp đổ đến nơi… đặc biệt là khi Ferdinan gợi cho lão thấy cảnh tượng những kẻ hàng xóm xấu bụng lồng lên ghen tức như thế nào trước một bức chân dung lộng lẫy nhường ấy.
Được – lão nói – nhưng phải giảm mười phần trăm vì trả tiền mặt.
Đồng ý- Ferdinan đáp, giảm mười phần trăm, và 300 mác ứng trước để tôi chi các khoản màu vẽ, phông tranh.
Hai người còn trao đổi một thôi một hồi nữa trước khi đi đến thỏa thuận, đoạn bàn xem nên thể hiện bức chân dung thế nào. Lão thợ bánh muốn thêm vào bức tranh chuỗi ngọc trai và món nữ trang gài áo bằng vàng có chạm những hạt kim cương, những thứ không thấy có trong ảnh.
Dĩ nhiên rồi – Ferdinan nói – tôi sẽ vẽ món trang sức của bà nhà nữa. Tốt nhất là lúc nào đó ông hãy mang lại cho tôi xem chừng một giờ, để tôi vẽ cho giống.
Lão thợ bánh đỏ mặt – Nhưng tôi không còn giữ nó nữa. Nó… tôi đã để ở chỗ họ hàng mất rồi.
Ra thế. Thôi cũng chẳng sao. Trông nó có giống cái trâm cái áo trên bức tranh kia không?
Lão thợ bánh gật đầu – không hoàn toàn to như thế.
Được, vậy ta sẽ vẽ nó giống như thế. Còn chuỗi hạt thì không cần. Vì ngọc nào chả như ngọc nào.
Lão thợ bánh thở phào – Bao giờ tranh vẽ xong?
Sáu tuần nữa.
Tốt.
Lão cáo từ.
Ferdinan và tôi còn ngồi với nhau một lát trong xưởng vẽ.
Anh cần những sáu tuần để vẽ bức chân dung kia à? Tôi hỏi.
Làm gì đến. Bốn năm… ngày là cùng, nhưng mình không thể để cho lão biết điều đó, nếu không lão sẽ tính ra mỗi giờ mình kiếm được bao nhiêu và cảm thấy bị lừa. Nhưng con số sáu tuần làm lão yên lòng. Cả với bức công chúa Borghese cũng vậy. Bản chất con người ta là thế, Robby thân mến ạ. Giả sử mình  bảo lão thật ra đấy là chân dung của một cô thợ may, thì trước mắt lão bức chân dung kia sẽ kém giá trị hẳn. Thêm nữa đây là lần thứ sáu người ta nói với mình rằng người đàn bà quá cố cũng có món trang sức hệt như bức tranh ấy. Một sự ngẫu nhiên trùng hợp đến thế. Bức chân dung cô Luido Vonpho tốt bụng quả là một món quảng cáo ăn khách lạ thường.
Tôi ngó quanh. Từ bốn bức tường, những cặp mắt trên những gương mặt bất động, thối rữa từ lâu dưới mồ, chăm chăm nhìn xuống. Những bức chân dung không được thân nhân tới rước về, hoặc trả tiền. Tất thảy bọn họ đều đã từng hít thở khí trời – Những thứ này không dần dà biến anh thành sầu não sao, Ferdinan?
Không. Nhiều lắm chỉ đâm trơ trẽn. Con người ta trở nên sầu não khi ngẫm nghĩ về cuộc đời… và hóa trơ trẽn khi tận mắt chứng kiến phần đông giống người xoay xở ra sao với đời.
Có những kẻ còn khốn khổ hơn.
Đã hẳn. nhưng loại người ấy không thuê họa chân dung.
Anh đứng lên – Âu ũng là điều tốt, Robby ạ, vì họ vẫn còn có cái thứ vó vẩn mà họ xem trọng ấy níu giữ và bảo vệ họ. Cô đơn… cô đơn thực sự, không chút ảo tưởng… đó mới là trạng thái mấp mé với điên loạn và tự sát.
Căn buồng lớn trống trải trôi bồng bềnh trong ánh chiều chạng vạng. Bên cạnh có tiếng chân rón rén đi lại. Đó là mụ quản gia. Mụ không bao giờ ló mặt nếu một thằng trong số bọn tôi lại chơi. Mụ thù ghét bọn tôi vì cho rằng bọn tôi xúi bẩy Grau chống mụ.
Tôi ra về. Xuống tới đường, dòng người và tiếng ồn ã của phố phường ập vào tôi như một làn sóng ấm.
 
(Còn tiếp)
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0

CHƯƠNG XI
Tôi đang trên đường đến nhà Pat. Đây là lần đầu tiên tôi lại thăm nàng. Cho tới nay chỉ có nàng tới nhà tôi, hoặc tôi đón nàng trước cửa nhà nàng, rồi chúng tôi đi đâu đó. Nhưng lúc nào cũng như nàng là người lại thăm. Tôi muốn biết nhiều hơn về nàng. Tôi muốn biết nàng sống ra sao.
Tôi nảy ra ý nghĩ có thể đem hoa tặng nàng. Dễ thôi, vườn hoa thành phố mé sau quảng trường Chợ đang rộ hoa. Tôi nhảy qua bờ rào và bắt đầu ngắt một bó tử đinh hương trắng.
Anh kia làm gì thế hả? – Một giọng nói rắn rỏi đột nhiên vang lên. Tôi ngẩng nhìn. Một người đàn ông có khuôn mặt dân miền núi và bộ ria mép trắng vểnh ngược giận dữ ngó tôi trừng trừng. Không phải cảnh sát, cũng chẳng phải người canh giữ vườn hoa. Sĩ quan cao cấp hưu trí, thoạt nhìn biết ngay.
Có gì khó xác định chuyện ấy – tôi nhã nhặn đáp – Tôi đang bẻ những cành tử đinh hương chứ còn làm gì nữa!
Một khoảnh khắc, lão già uất nghẹn lời – Anh không biết đây là vườn hoa thành phố hay sao, hả? – lão phẫn nộ gầm lên. Tôi cười – Tất nhiên là tôi có biết! hay ông tưởng tôi ngỡ đây là những hòn đảo của loài chim bạch yến.
Lão giận tím người. Tôi e lão bị đánh trúng tim đen – Cút ngay khỏi đây đồ nhãi nhép! – lão hét bằng cái giọng tốt thượng hạng quen chỉ huy trên sân trại lính – Anh xâm phạm tài sản của thành phố! Tôi lệnh bắt giải anh đi bây giờ!
Tôi đã lượm đủ hoa tử đinh hương – Thì thử túm lấy tôi xem, bố già! – tôi mời mọc lão, đoạn nhảy phắt qua rào sang mé đường bên kia, lủi mất.
 
***
Đến trước cửa nhà Pat, tôi ngắm nghía lại bộ cánh của mình một lần nữa. đoạn tôi lên cầu thang, quan sát xung quanh. Tòa nhà được xây dựng mới mẻ, theo lối tân thời – khác xa cái quán trọ diêm dúa cũ kỹ của tôi. Các bậc thnag được trải thảm đỏ; ở chỗ chúng tôi làm gì có thảm. đấy là hoàn toàn chưa nói đến thang máy.
Pat sống ở tầng hai. Trên cửa treo một tấm biển đồng đầy tự tin. Erbot phon Haco, trung tá. Tôi chăm chăm nhìn tấm biển hồi lâu, đoạn vô tình đưa tay lên sửa sang lại chiếc cà vạt trước khi bấm chuông.
Một cô hầu gái đội mũ vải trắng, đeo tạp dề trắng tinh ra mở cửa – thật không thể đánh đổ đồng với ả Frida phục phịch mắt lác ở nhà chúng tôi. Đột nhiên, tôi cảm thấy khó chịu.
Ông Lokham phải không ạ? Cô ta hỏi.
Tôi gật đầu.
Cô ta dẫn tôi đi qua một tiền sảnh nhỏ, đoạn mở một cánh cửa. Có lẽ tôi sẽ chẳng ngạc nhiên lắm nếu thoạt tiên chạm trán với ngài trung tá Erbot phon Haco tề chỉnh trong bộ quân phục và bị ngài căn vặn này nọ… thật là trang trọng là dãy chân dung một lô các vị tướng, huân chương đầy ngực, từ trên các bức tường tiền sảnh giận dữ nhìn theo tôi – cái thằng dân sự. nhưng Pat đã ra đón tôi kia với những bước đi dài, kiều diễm của nàng, và căn phòng bỗng không là cái gì khác ngoài một hòn đảo ấm áp tươi vui. Tôi khép cửa lại, động tác đầu tiên là thận trọng ôm nàng vào lòng, rồi tôi mới trao cho nàng những bông tử đinh hương vừa hái trộm – Của em – tôi nói – có kèm lời chào của tòa thị chính.
Nàng cắm những bông hoa vào một chiếc bình gốm lớn tươi màu đặt trên sàn trước cửa sổ. Trong lúc đó, tôi đưa mắt nhìn khắp phòng nàng. Những màu sắc êm dịu, vài thứ đồ gỗ đẹp đã cổ, một tấm thảm lam dịu, các bức rèm màu phấn màu, những chiếc ghế bành nhỏ êm ái bọc nhung phai… - Lạy Chúa, làm cách nào mà em tìm được một căn phòng như thế này vậy Pat? – tôi hỏi – Thiên hạ thường chỉ khỏe bày những thứ đồ sứt mẻ bỏ đi cộng các món quà sinh nhật vô dụng của họ vào những căn phòng hco thuê thôi mà.
Nàng thận trọng dịch bình hoa vào sát tường.
Tôi nhìn cái gáy thon mảnh, lượn cong của nàng, đôi vai thẳng và hai cánh tay hơi gầy. Khi nàng quỳ như thế trông nàng chẳng khác gì một đứa trẻ, đứa trẻ mà người ta phải nâng niu che chở. Nhưng nàng lại cử động như một con thú mềm mại, và khi nàng đứng lên tựa vào tôi, nàng đâu còn là một đứa trẻ nữa, nơi mắt và miệng nàng lại ánh lên chút gì đó đợi chờ e ấp và bí ẩn khiến tôi bối rối, Vậy mà tôi từng ngỡ rằng chẳng còn đâu điều bí ẩn ấy trên cái thế gian nhơ nhớp này.
Tôi đặt tay lên bờ vai nàng. Được cảm nhận nàng cách ấy thật sung sướng.
Mọi đồ đạc đều là của em cả, anh Robby ạ. Trước kia mẹ em sở hữu căn hộ này. Khi mẹ em mất, em đã nhượng lại chỉ giữ cho mình hai phòng.
Vậy nhà này là nhà của em sao? – tôi nhẹ người, hỏi – Và ngài trung tá Erbot  phon Haco chẳng qua chỉ là người thuê nhà của em chứ gì?
Nàng lắc đầu – Bây giờ thì không. Em chẳng thể giữ nổi nhà của em. Em đã bán dần giường tủ và nhượng đứt căn hộ. Giờ em là người trọ thuê ở đây. Nhưng anh có chuyện gì với ông già Erbot vậy?
Chuyện gì đâu. Có điều anh cứ sờ sợ đám cảnh sát và sĩ quan tham mưu. Cũng tại đi lính mà ra cả.
Nàng cười – Bố em từng làm thiếu tá đấy.
Thiếu tá thì hết chỗ nói – tôi đáp.
Anh biết ông già Haco chứ?
Một linh cảm chẳng lành xâm chiếm lòng tôi – Có phải cái ông già thấp bé, tráng kiện, mặt đỏ gay, ria bạc, giọng nói sang sảng không? Ông ta hay đi dạo dọc các vườn hoa thành phố chứ gì?
Ra thế! – Nàng nhìn những bông tử đinh hương đoạn quay sang tôi cười.
Không, đó là một ông già cao lớn, xanh xao, đeo kính gọng sừng!
Thế thì anh không biết ông ta.
Anh muốn làm quen với ông cụ không? Ông cụ rất niềm nở.
Xin nhường cho Chúa! Hiện thời anh thuộc về cánh những người thợ máy và bà Zalepski nhiều hơn.
Có tiếng gõ cửa. Cô hầu gái ban nãy đẩy vào một chiếc bàn thấp có bánh xe. Bộ đồ sứ trắng muốt, mỏng mảnh, một chiếc đĩa bạc đựng bánh ngọt, chiếc khác xếp đầy bánh mì con bé tí xíu có kẹp dăm bông, khăn ăn, thuốc lá, và nhiều thứ khác nữa… tôi trố mắt nhìn xuống mặt bàn, như bị lóa mắt – Hãy rủ lòng thương, Pat! – đoạn tôi nói – Cú như trong phim vậy! Vừa đặt chân lên cầu thang anh đã nhận thấy hai chúng mình thuộc hai tầng lớp xã hội khác nhau. Nghĩ mà xem, anh vốn quen ăn từ những tờ giấy bọc nhẫy mỡ đặt trên bậu cửa sổ nhà Zalepski, kè kè bên cạnh là chiếc bếp cồn trung kiên. Hãy rủ lòng thương cái kẻ đang trú thân trong các nhà trọ chẳng chút ân cần này, nếu chẳng may vì luống cuống mà hắn quăng vỡ một cái chén!
Nàng cười – Anh không được phép thế. Danh dự người thợ máy cự phách không cho phép anh. Anh phải khéo léo mới được – Nàng cầm lấy quai bình – Anh dùng trà hay cà phê?
Trà hay cà phê? Em có cả hai thứ sao?
Vâng, anh nhìn đây này!
Tuyệt! như trong các tiệm sang trọng nhất! bây giờ chỉ còn thiếu mỗi âm nhạc nữa thôi.
Nàng nghiêng mình sang bên, bật một chiếc radio xách tay nhỏ mà tôi không hề để ý thấy – thế , giờ anh muốn gì nào, trà hay cà phê đây?
Cà phê , cà phê thôi, Pat ạ. Anh xuất thân từ làng quê mà. Còn em?
Em cùng uống cà phê với anh.
Nhưng bình thường em dùng trà chứ gì?
Vâng.
Vậy ta dùng trà.
Em đã bắt đầu quen uống cà phê. Anh ăn bánh ngọt nhé? Hay bánh mì con?
Cả hai thứ, Pat ạ. Càn phải tận dụng những dịp như thế này. Sau đây anh sẽ còn nhấp cả trà nữa. phải nếm đủ các món mà em có mới được.
Nàng cười, sẻ cho tôi một đĩa bánh đầy hụ. Tôi ngăn nàng – Đủ rồi, đủ rồi em! Nên nhớ rằng chúng mình đang ở trong tầm tay một ngài trung tá Quân đội ưa sự điều độ của cấp dưới.
Điều độ khi rượu chè thôi, anh Robby ạ. Bản thân ông già Erbot mê ăn bánh ngọt phủ kem phải biết.
Điều độ trong sự sung túc nữa – tôi đáp – Họ đã làm bọn anh mất hẳn thói quen nhàn hạ, no đủ. – Tôi đun đẩy chiếc bàn trên các bánh xe cao su. Cứ nhìn nó lại ngứa tay muốn đẩy. Nó lăn êm ru trên thảm. Tôi ngó quanh, mọi vật đều cân xứng, hài hòa – Phải, Pat ạ - tôi nói – cha ông chúng ta từng sống thế này đây!
Nàng cười – Anh bịa chuyện gì vậy?
Không phải chuyện bịa. những sự kiện có tính thời đại đấy.
Chẳng qua vì ngẫu nhiên mà em có dăm ba thứ đồ này, anh Robby ạ.
Tôi alwcs đầu – Không phải ngẫu nhiên. Cũng không đơn thuàn chuyện có đồ đạc. cái đáng kể là thứ ẩn sau chúng. Sự đảm bảo. Em đâu hiểu được điều đó. Chỉ kẻ nào bị tách khỏi chúng mới hiểu nổi.
Nàng nhìn tôi cười – Anh có thể sống như vậy, nếu như anh thật tình mong muốn.
Tôi cầm tay nàng – Nhưng anh không muốn, Pat ạ, vấn đề là thế. Sống như vậy anh sẽ có cảm giác mình là một kẻ gian hùng. Loại người như bọn anh tốt nhất cứ luôn sống trên sự phá phách. Bọn anh quen thói đi rồi. Lỗi ở thời đại.
Thế cũng dễ chịu ra phết.
Tôi cười – Có lẽ. Giờ hãy rót cho anh chút trà nào, anh muốn nếm thử.
Không – nàng nói – ta cứ dùng cà phê thôi. Nhưng ăn thêm chút gì đi anh. Cũng là để phá phách.
Một ý hay đấy. Nhưng liệu ông già mê bánh ngọt Erbot có hy vọng ta để lại cho cụ chút gì không?
Có thể. Nhưng ông cụ cũng phải tính đến sự trả thù của cấp dưới nữa chứ! Lỗi âu cũng của thời đại cả. Cứ chén sạch đi anh, khỏi cần phần cụ.
Mắt nàng tỏa sáng, trông nàng tuyệt đẹp.
Này em – tôi nói – em có biết sự phá phách sẽ dừng lại ở đâu không?
Nàng không đáp; nhưng nàng nhìn tôi - Ở nhà em! – tôi nói – và giờ đây anh sẽ không nể gì mà không cầm vũ khí chống lại Erbot!
Hồi trưa tôi chỉ làm một tách súp thịt tại quán dành cho tài xế. Vì vậy chén sạch các món ở đây đâu có khó khăn gì. Được Pat khích lệ, tôi còn nốc sạch cả bình cà phê.
Chúng tôi ngồi bên cửa sổ hút thuốc. Ráng chiều đỏ rực trên các mái nhà - Ở nhà em thích thật, Pat ạ - tôi nói – Thế anh mới hiểu người ta suốt tuần chẳng buồn thò chân ra ngoài, … cho tới khi quên hết sự đời.
Nàng mỉm cười – Có một dạo em không mong nổi ra khỏi nơi đây.
Hồi nào vậy?
Dạo em bị ốm.
Đó lại là chuyện khác. Em bệnh gì?
Không đến nỗi nặng lắm. em chỉ phải nằm. Có lẽ vì em lớn quá mau mà lại thiếu ăn. Trong và sau chiến tranh thiếu thốn đủ đường.
Tôi gật đầu – Em phải nằm bao lâu?
Nàng do dự một lát – Quãng một năm.
Như thế chả quá lâu sao – Tôi chăm chú nhìn nàng.
Chuyện quá lâu rồi. Nhung hồi đó em có cảm tưởng như quãng thời gian ấy dài bằng cả đời người. Một lần, ngồi trong tiệm rượu, anh có kể cho em nghe về anh bạn Valentine của anh. Rằng sau chiến tranh anh ta không bao giờ quên nổi cảm giác hạnh phúc được sống sót. Rằng ngoài điều đó ra, với anh ta chẳng có gì đáng kể.
Em nhớ giỏi lắm – tôi nói.
Vì em rất thông cảm với anh ta. Kể từ dạo đó. Em cũng rất dễ vui sướng. em nghĩ mình hẳn phải nông cạn lắm.
Chỉ những kẻ cho rằng mình không nông cạn mới là lũ người nông cạn.
Nhưng chắc chắn là em thế đấy. Em không hiểu gì lắm những việc đại sự ở đời. Chỉ rung động trước những cái đẹp. Bông tử đinh hương đây đủ khiến em sung sướng.
Đó đâu phải sự nông cạn… mà là triết học tối hậu.
Với em thì không. Em nông cạn và nhẹ dạ.
Anh cũng thế.
Nhưng không như em. Anh vừa nói đến sự gian manh gì đó. Em là một kẻ gian manh chính cống.
Anh đã nghĩ như vậy mà.
Đúng. Lẽ ra từ lâu em đã phải kiếm một chỗ ở khác và một việc làm, đã phải kiếm tiền. Nhưng em cứ lần lữa mãi. Em dự định cứ sống như vậy một thời gian dài theo ý mình. Chẳng cần biết như vậy có đúng đắn không. Và em đã làm thế.
Tôi cười – Tại sao em lại ra mặt bướng bỉnh như vậy?
Vì ai cũng bảo em sử sự như em là quá nông nổi… Lẽ ra em nên biết dè sẻn số tiền nhỏ mọn của em và tìm cho mình một việc làm, một chỗ đứng. Nhưng em lại muốn được thảnh thơi, hớn hở, vô tư lự, muốn làm cái gì em thích. Ý muốn đó nảy sinh sau khi mẹ em mất và sau khi em nằm liệt giường một thời gian dài.
Em có anh chị em gì không?
Nàng lắc đầu.
Anh cũng không hình dung được là em có anh chị em – tôi nói.
Và anh cũng cho rằng em đã nông nổi chứ gì?
Không, can đảm thì có.
Ồ, can đảm gì… em chẳng can đảm lắm đâu. Thỉnh thoảng em từng sợ hãi ra trò đấy. Giống như một kẻ biết mình  ngồi sai số ghế trong nhà hát, nhưng vẫn chẳng buồn nhúc nhích  khỏi chỗ.
Thế là can đảm chứ sao – tôi nói – Con người ta chỉ can đảm một khi cũng biết sợ. Thêm nữa, em xử sự như vậy là đúng đắn. Nếu không đằng nào em chẳng tiêu phéng số tiền của em. Làm thế chí ít em còn được một chút gì đó ở đấy. Em đã làm gì vậy?
Thật sự chẳng làm gì cả. Sống cho mình, thế thôi.
Phục em! Đó là điều tao nhã nhất trần đời.
Nàng mỉm cười – Điều đó chẳng còn kéo dài mấy đỗi. sắp tới em sẽ bắt đầu làm việc.
Việc gì thế? Có phải vì nó mà có bữa bàn công chuyện làm ăn hôm nọ giữa em với Bindinh không?
Nàng gật – Với Bindinh và ông tiến sĩ Max Matusait, giám đốc các của hàng đồ điện và máy quay đĩa. Chân bán hàng có kiến thức âm nhạc.
Vậy đấy – tôi nói – tay Bindinh không nghĩ ra được cái gì khác hay sao?
Có chứ - nàng đáp – nhưng em lại không muốn.
Anh cũng không định khuyên ông ta điều ấy. Bao giờ thì em bắt đầu?
Ngày mồng một tháng tám.
Nào, đến đó vẫn còn khối thời gian. Biết đâu chúng mình lại chẳng tìm được một việc gì khác nữa. Dù thế nào, bọn anh sẽ là khách hàng trung thành của em.
Anh có một máy quay đĩa sao?
Không, nhưng tất nhiên anh sẽ lập tức sắm một chiếc. Tạm thời đương nhiên anh chưa thấy khoái chuyện này.
Em thì em thích rồi – nàng nói – Em thật sự chẳng biết thế nào là phải. Và đối với em, mọi sự trở nên giản dị hơn nhiều kể từ khi có anh. Nhưng lẽ ra em chẳng nên kể với anh làm gì.
Sao lại không. Em phải luôn kể anh nghe tất cả.
Nàng nhìn tôi giây lát – Được thôi anh Robby – nàng nói. Đoạn nàng đứng lên, bước lại gần một cái tủ nhỏ - Anh có biết em có gì ở đây không? Rượu rum dành cho anh. Rum ngon, em chắc thế!
Nàng đặt một chiếc ly lên bàn và nhìn tôi đầy chờ đợi.
Rum ngon đấy, ngửi từ xa đã biết – tôi nói – Nhưng thực ra, Pat ạ… có lẽ lúc này em nên tằn tiện tí chút thì hơn chăng? Để có thể trì hoãn cái lũ máy quay đĩa thêm ít nữa?
Không – nàng đáp.
Cũng đúng – tôi nói.
Chỉ nhìn màu rượu tôi đã biết là rum rởm. chắc chắn tay bán hàng đã lừa Pat. Tôi cạn ly – Thượng hạng – tôi nói, cho anh ly nữa. Em mua ở đâu vậy?
Ở cửa hiệu góc phố.
Aha, tôi nghĩ, dĩ nhiên rồi, một cửa hiệu thực phẩm hảo hạng khốn nạn đến thế thì thôi. Tôi định bụng có dịp sẽ vào đó ngó thử và độp thẳng vào mặt thằng cha chủ hiệu.
Giờ có lẽ anh phải về, phải không Pat? Tôi hỏi.
Nàng nhìn tôi – chưa đâu anh…
Chúng tôi đứng bên cửa sổ. dưới kia, đèn đường bật sáng – Hãy chỉ anh xem phòng ngủ của em – tôi bảo nàng.
Nàng mở cửa phòng và bật đèn. Tôi đứng lại trên  ngưỡng cửa nhìn vào. Bao nhiêu ý nghĩ thoáng qua trong đầu tôi.
Ra đấy là giường của em, Pat…. – cuối cùng tôi nói.
Nàng mỉm cười – Còn của ai nữa kia chứ, anh Robby?
Quả vậy! – tôi nhìn lên – Và cả máy điện thoại đây nữa. giờ anh biết thêm điều đó. Thôi anh về nhé. Chào em, Pat. – Nàng áp hai bàn tay vào hai bên thái dương tôi. Sẽ rất tuyệt nếu giờ đây ta được nán lại, trong màn đêm dần buông sát bên nhau, dưới lần chăn mềm mại máu xanh da trời kia trong phòng ngủ… nhưng ở đây có cái gì đó ngăn cản tôi. Không phải do e ngại, cũng không phải vì sợ hay thận trọng… mà đơn giản vì một thứ tình cảm rất đỗi âu yếm, một tình yêu trào dâng khỏa lấp dục vọng.
Tạm biệt nhé, pat – tôi nói – Anh rất sung sướng vì đã đến đây. Sung sướng hơn là em tưởng nhiều… Lại còn rum nữa chứ… không ngờ em chu đáo đến thế…
Đơn giản lắm mà anh…
Nhưng không đơn giản với anh. Anh vốn không quen được chiều chuộng ân cần như vậy.
 
***
Căn buồng trọ nhà bà Zalepski. Tôi ngồi không một lát. Việc Pat phải chịu ơn Bindinh khiến tôi bứt rứt khó chịu. Cuối cùng tôi đi ngang qua hành lang lại phòng Erna Boenich.
Tôi đến có việc quan trọng! – tôi nói – Này Erna dạo này chuyện kiếm công việc của phụ nữ thế nào?
Ái chà – cô ta đáp – Một câu hỏi đến là lạnh lẽo trước một trái tim trống trải! Nói để anh biết: gay lắm.
Không có cách nào cả ư? Tôi hỏi.
Việc gì mới được chứ?
Thư ký, phụ tá.
Cô ta phẩy tay – Hàng trăm ngàn người không có việc làm kia kìa. Cô ta có khả năng gì đặc biệt không?
Nàng rất đẹp – tôi nói.
Bao nhiêu từ? erna hỏi.
Cái gì?
Cô ta viết được bao nhiêu từ trong một phút? Và bằng mấy thứ tiếng?
Chịu, tôi không biết – tôi nói – nhưng cô hiểu cho, tôi chỉ đại diện hỏi giùm…
Anh bạn trẻ thân mến của tôi ơi – Erna đáp – tôi hiểu rồi… tiểu thư con nhà, trước kia từng ăn trắng mặc trơn, giờ buộc lòng phải kiếm kế sinh nhai và vân vân. Không nước non gì đâu, nói để anh biết. Trừ phi có lão nào đặc biệt lưu tâm đến và bởi thế cố ấn cô ấy vào chỗ nào đó. Anh cũng biết vì sao đấy. nhưng anh đâu muốn vậy, phải không?
Hỏi gì mà lạ -t ôi nói – Không đến nỗi lạ như anh tưởng đâu – Erna đáp đượm vẻ chua chát. Tôi biết nhiều trường hợp khác. Tôi chợt nhớ ra câu chuyện dan díu giữa Erna với sếp của cô ta – Nhưng tôi muốn khuyên anh một điều – cô ta tiếp – Hãy lo sao kiếm đủ tiền nuôi cả hai miệng ăn. Đó là giải pháp đơn giản nhất. lấy nhau.
Nghe được đấy – tôi nói và cười – Tôi cũng muốn có bấy nhiêu lòng tin ở mình.
Erna nhìn tôi vẻ kỳ lạ. Đang rất linh hoạt, nom cô ta thốt nhiên già hẳn đi, gần như có phần úa tàn – Tôi muốn thổ lộ với anh điều này – cô ta nói – Tôi sống dư dật, có đầy những thứ mà tôi chẳng hề cần tới. Nhưng xin anh hãy tin tôi… nếu có một người đàn ông đến và đề nghị tôi sống chung với anh ta, chung sống thực sự chân thành, tôi sẽ vứt bỏ hết thảy những thứ lỉnh kỉnh nơi đây để theo anh ta, dù phải chui vào một căn xép áp mái. Gương mặt cô ta lấy lại vẻ thường lệ. – Chà, thôi, cho qua chuyện ấy… mỗi người đều có nỗi niềm riêng của mình. – Cô ta nháy mắt cười với tôi qua làn khói thuốc lá. – Thậm chí hình như cả anh cũng vậy?
Đâu có… - tôi nói.
Thôi nào, thôi nào…- Erna bảo – Điều đó dễ xảy ra nhất với kẻ nào không mảy may ngờ tới…
Với tôi thì không – tôi đáp.
Tôi còn ngồi lại trong buồng  mình đến tám giờ… ngồi thui thủi rỗi rãi mãi cũng chán, tôi mò đến quán rượu xem may ra vớ được thằng bạn nào ở đó.
Valentin đây rồi – Ngồi xuống cậu – anh ta nói – Cậu dùng gì đây?
Rum- tôi đáp – Kể từ hôm nay mình có một quan hệ đặc biệt với rượu rum.
Rum là sữa của lính kia mà – Valentin nói – Thêm nữa hôm nay trông cậu đến là bảnh trai, Robby ạ.
Thế à?
Ừ, trẻ hẳn ra.
Còn thế nữa – tôi nói – Chúc sức khỏe cậu, Valentin.
Chúc sức khỏe Robby.
Chúng tôi đặt ly xuống mặt bàn, nhìn nhau. Đoạn phá lên cười – Đồ cụ non – Valentin nói.
Đồ trẻ ranh già khú chết tiệt – tôi đáp – Ta uống gì bây giờ nào?
Lại rum đi.
Hay lắm.
Fret rót đầy các ly – Nào, chúc sức khỏe cậu, Valentin,
Chúc sức khỏe, Robby.
Một câu nói tuyệt vời! chúc sức khỏe ấy mà, hả?
Chúc tể của mọi câu nói.
Chúng tôi lặp lại nó vài lần nữa, rồi Valentin ra về.
 
***
Tôi ngồi lại. ngoài Fret trong quán chẳng còn ai khác. Tôi ngắm những chụp đnè cũ kỹ tỏa sáng làm bằng giấy in bản đồ, ngắm những chiếc tàu với những cánh buồm đã ố vàng và nghĩ tới Pat. Tôi tha thiết muốn gọi điện cho nàng, nhưng tự ghìm mình không làm điều đó. Tôi cũng chẳng muốn nghĩ nhiều tới nàng là gì. Tôi muốn đón nhận nàng như dốn nhận một món quà tặng bất ngờ, đầy may mắn đã đến với mình và sẽ lại ra đi… không hơn. Không bao giờ tôi nuôi trong đầu mình ý nghĩ: giữa nàng và tôi có thể là một cái gì hơn thế. Tôi biết lắm, rằng hết thảy các mối tình đều khao khát tồn tại mãi mãi, và nỗi đau muôn thuở của chúng chin hs là ở chỗ ấy. không có cái gì trường tồn cả. làm gì có – Cho tôi ly nữa đây – tôi gọi.
Một cặp nam nữ bước vào. Họ uống một ly Cobber bên quầy rượu. Người đàn bà vẻ mỏi mệt, người đàn ông vẻ thèm thuồng. Họ lại đi ngay.
Tôi uống cạn ly rượu. hồi chiều giá tôi đừng lại thăm Pat thì hơn. Tôi không tài nào rứt bỏ nổi hình ảnh ấy… căn phognf chìm dần vào trong ánh hoàng hôn, bóng chiều tím biếc êm ả, và cô thiếu nữ xinh đẹp ngồi thu mình, bằng cái giọng khàn trầm đục nói về cuộc sống của mình. Mẹ kiếp, tôi đam ra đa cảm mất rồi! Nhưng phải chăng, cái mà từ trước tới nay vốn là cuộc phiêu lưu không ngừng, đầy kỳ thú, giờ đã tan biến vào trong sương mù của tình âu yếm, phải chăng nó đã thấm sâu vaò tôi hơn là tôi mong muốn và ý thức được, phải chăng hôm nay tôi mới cảm giác thấy, đúng vào hôm nay, rằng con người tôi đã thay đổi biết bao? Cớ sao tôi lại bỏ ra về, cớ sao tôi không ở lại bên nàng như thực ra tôi đã mong muốn? Chao, khỉ nợ, tôi không thiết nghĩ gì nữa hết, thây kệ sự đời, muốn ra sao thì ra, cho dù tôi sẽ phải phát điên lên trước nỗi bất hạnh một khi tôi mất nàng, nàng có đấy, nàng đang có đấy, tất thảy những cái khác đều chẳng là cái cóc khô gì, quỷ tha ma bắt chúng đi cho rảnh! Gìn giữ một chút cuộc sống mà làm gì! Sẽ đến một ngày trận đại hồng thủy ập tới, cuốn troii tất tật.
Ta sẽ cùng cạn một ly chứ, Fret? – tôi mời.
Sẵn lòng – gã nói.
Chúng tôi nốc hai ly vermut cực mạnh. Rồi chúng tôi oẳn tù tì xem ai được uống tiếp. Tôi thắng.Tôi đâu thích thắng. Vì vậy hai thằng chơi tiếp. Nhưng mãi tới lần thứ năm tôi mới thua cho. Lần này đương nhiên thua liền ba keo – Tôi sau hay trời nổi sấm thế - tôi hỏi.
Fret lắng tai – Sấm thật. Cơn giông đầu tiên trong năm nay đây.
Chúng tôi ra đướng dưới vòm cửa, ngước nhìn trời. Chẳng thấy quái gì. Chỉ thấy oi bức, chốc chốc lại nổi sấm.
Ta làm thêm một ly mừng dịp này chăng? Tôi đề nghị. Fret nhất trí.
Một thứ nước cam thảo chết tiệt – tôi nói khi đặt trả cái ly không lên quầy. Fret cũng cho rằng có lẽ chúng tôi nên dùng thử thứ gì nồng hơn chăng. Cứ y như ý gã thì hay nhất là rượu anh đào… tôi đòi rum. Để khỏi phải cãi vã lôi thôi, chúng tôi lần lượt uống cả hai thứ. Chúng tôi lấy ra hai cái ly khá bự nhằm tránh cho Fret cái khoản rót luôn tay. Giờ đây hai thằng rõ phấn chấn. chốc chốc lại ngó ra xem có chớp chủng gì không. Chúng tôi chỉ ước gì được thấy chớp nhưng chẳng gặp may. Chớp cứ nhè đúng lúc chúng tôi ngồi trong tiệm mà lóe. Fret kể rằng gã có một vị hôn thê, con gái một chủ tiệm ăn tự phục vụ. Nhưng gã còn lần lữa chưa cưới, chờ lão bố chết đi đã, để biết chắc chắn cô con có được cả cái tiệm làm của hồi môn hay không. Tôi cho rằng gã hơi quá thận trọng, nhưng gã chứng minh  để tôi thấy rằng lão già là một cái xác thú không biết đâu mà lường, mà vào giây phút cuối cùng, lão dám đi tặng cả tiệm ăn cho Giáo hội Giám lý lắm. Tôi đành rút lui ý kiến. Vả lại Fret khá lạc quan. Lão già phải cảm, và theo Fret biết đâu lão chẳng đang mắc dịch cúm, mà cúm thì nguy hiểm phải biết. Tôi lấy làm tiếc bảo gã rằng đối với những tay nghiện rượu, bệnh cúm chẳng mùi mẽ gì, ngược lại kia, đôi khi chính nhờ mắc bệnh cúm mà những con sâu rượu ốm o lại hóa hồng hào béo tốt ra hơn cơ đấy. Fret bèn tuyên bố thế nào cũng chẳng sao, rồi lão già sẽ chui đầu vào gầm một chiếc ô tô nào đấy chưa chừng. Tôi công nhận khả năng đó đặc biệt dễ xảy ra trên mặt đường nhựa loáng nước. Fret lập tức đứng dậy ngó xem đã mưa chưa. Nhưng trời vẫn khô ráo. Chỉ có sấm rền hơn. Tôi đưa gã uống một ly nước chanh ép và đi lại máy điện thoại. Phút cuối cùng tôi mới nhớ rằng mình đã không chủ tâm gọi điện thoại. tôi vẫy chào chiếc máy và toan ngả mũ trước nó. Nhưng rồi tôi nhận thấy mình không hề đội mũ.
Khi tôi trở lại, Koester và Lenz đã ngồi đó – phà hơi đây ngửi thử nào – Gotfrit nói.
Tôi phà – Rượu rum và anh đào và rượu apxin – cậu ta tuyên bố - Apxin hẳn hoi kia à, đồ lợn!
Nếu cậu cho rằng mình say thì cậu nhầm to – tôi nói – các cậu ở đâu về vậy?
Hội họp chính trị. Nhưng Otto chẳng hiểu quái gì cả. Thằng Fret nốc cái gì vậy?
Nước chanh ép.
Cậu cũng làm một ly đi.
Để mai – tôi đáp – Giờ mình  phải kiếm cái gì chén đã – Từ nãy đến giờ Koester cứ nhìn tôi vẻ lo lắng – Đừng nhìn mình như thế đi, Otto – tôi nói – Chỉ vì quá yêu đời mà mình say sưa chút đỉnh. Đâu phải vì sầu muộn.
Vậy thì được – cậu ta đáp – Dẫu sao hãy đi với tụi mình, đi chén.
 
***
Đến mười một giờ tôi lại tỉnh như sao, Koester đề nghị ngó qua xem Fret xem sao. Chúng tôi đánh xe về tiệm, thấy gã rũ gục như chết rồi sau quầy rượu.
Khuân hắn sang bên kia – Lenz nói – mình sẽ đảm đương việc phục dịch cho tới khi hắn tỉnh hẳn.
Koester  và tôi lo làm cho Fret dã rượu. Chúng tôi đổ sữa nóng cho hắn uống. Hiệu quả tức thì. Đoạn chúng tôi đặt gã ngồi lên một chiếc ghế và dặn gã cứ việc nghỉ ngơi nửa giờ nữa. Quầy rượu đã có Lenz lo.
Mà Lenz làm thật. Cậu ta thạo giá cả và các công thức pha chế cocktai thông thường. Cậu ta lắc cái bình trộn rượu như thể suốt đời cậu ta chỉ làm có mỗi động tác ấy.
Một giờ sau Fret lại lăng xăng bên quầy. Gã có cái dạ dày thép và mau chóng hồi  phục – Mình lấy làm tiếc, Fret ạ - tôi nói – đáng ra hai ta phải lót dạ chút gì rồi hẵng uống.
Tôi khỏe rồi mà – gã đáp – Kể có lần thế cũng hay.
Dĩ nhiên rồi.
Tôi quay số điện thoại gọi Pat. Tôi hoàn toàn chẳng đếm xỉa gì đến những gì trước đó mình đã cân nhắc. Pat lên tiếng.
Mười lăm phút nữa anh sẽ có mặt trước cửa nhà em – tôi nói và treo vội ống nghe. Tôi sợ nhỡ nàng mệt và không buồn nghe tôi. Tôi muốn được nhìn thấy nàng.
Nàng ra. Trong khi mở khóa cửa, tôi hôn vào ô kính, nơi hiện ra mái đầu nàng. Nàng định nói gì đó nhưng tôi không để nàng thốt một lời. tôi hôn nàng, rồi hai đứa cùng sánh vai đi xuôi xuống phố cho tới khi tìm được một chiếc tắc xi. Trời nổi sấm chớp – Nhanh lên kẻo mưa! – tôi giục.
Chúng tôi lên xe, những giọt mưa đầu tiên rơi lộp độp trên nóc xe. Chiếc xe lắc lư trên con đường xấu. Mọi cái thật tuyệt diệu, bởi mỗi bận lắc lư là một lần tôi cảm giác được nàng. Mọi cái thật tuyệt diệu: cơn mưa, thành phố, chầu rượu… tất thảy sao mà mênh mông, huy hoàng. Tôi đang ở trong tình trạng tỉnh táo, sảng khoái của một người đã quá chén nhưng lại đã qua được cơn say. Mọi nỗi bứt rứt khó chịu đều tan biến, đêm ngập tràn sức mạnh vô biên, ngập tràn hào quang, không gì còn có thể xảy ra; không gì lầm  lạc nữa.
Khi chúng tôi xuống xe, mưa bắt đầu nặng hạt. Lúc tôi trả tiền, mặt đường còn lốm đốm những chấm nước như da báo… nhưng chúng tôi chưa kịp về đến cửa thì mặt đường đã đen thẫm loang loáng ướt, mưa xối xả như trút. Tôi không bật đèn. Đã có chớp rọi sáng căn buồng. cơn giông đang trên đầu thành phố. Sấm thi nhau rền tưởng chừng không dứt.
Giờ thì ít nhất ta có thể mặc sức gào to một lần mà chẳng sợ ai nghe thấy – tôi kêu lên với Pat.
Cửa sổ sáng rực. Trong một giây bóng đen của cây cối nghĩa địa hằn lên trên nền trời xanh bợt để rồi lập tức bị màn đêm nhận chìm dưới tiếng sấm rền… trong một giây, thấp thoáng giữa bóng tôi và bóng tối, là thân hình mềm mại của Pat, sáng chập chờn trước những ô kính… tôi đặt tay lên vai nàng, nàng nép mình vào tôi, tôi cảm thấy làn môi nàng, hơi thở của nàng, tôi không nghĩ gì nữa…
 
(Còn tiếp)
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0

Chào Gianghan

Thấy cuốn này dài đến 28 chương

Gianghan có cần giúp đánh máy dùm không????

Cần thì nhớ gủi địa chỉ email để thanéh viên liên lạc với Gianghan cho dễ nhé

Cảm ơn sự kiên  nhẫn và cố gắng của Gianghan để thư viện chuẩn bị có thêm một quyển sách hay nhé

Chúc vui
Đăng nhập để trả lời
0
Hi! Đợt rồi tớ hơi bị bận bịu quá. Gõ mãi chưa xong một chương, vào thư quán thì cũng chẳng mò đến bài mình Post nên không biết lời nhắn của Hiệp Sĩ Hào Hoa. Cảm ơn bạn đã đề nghị.
Vậy gia đình mình có bạn nào muốn chung tay giúp sức cùng với mình để hoàn thành cuốn sách này thì liên lạc với mình nhé! :)
email của mình:
[email=Pthanhtam25@gmail.com]Pthanhtam25@gmail.com[/email]
 
 
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0

Chương XII
 
Xưởng của chúng tôi vẫn cứ trống trải như vựa thóc trước vụ mùa. Vì vậy cả bọn quyết định chưa bán chiếc tắc xi mua ở cửa hàng đấu giá vội, mà hãy tạm thời dùng nó đi chở thuê cái đã. Lenz và tôi sẽ thay nhau lái tắc xi. Với sự giúp đỡ của Jupp, Koester có thể một mình đảm đương chu tất công việc ở xưởng cho đến khi lại có việc.
Lenz và tôi đổ xúc xắc xem ai chạy tắc xi đầu tiên. Tôi được cuộc, thủ vào túi một ví đầy tiền lẻ, cầm theo đầy đủ giấy tờ tùy thân, rồi thong thả lái chiếc tắc xi xuyên qua các phố, để trước hết tìm lấy một chỗ đỗ thuận lợi. Lần đầu tiên chạy tắc xi kể cũng hơi kỳ kỳ. Bất cứ một thằng ngốc nào cũng có thể chặn mình lại, ra lệnh  cho mình. Một cảm giác không lấy gì làm hãnh diện.
Tôi chọn một bãi đỗ, nơi chỉ có năm chiếc xe đậu, đối diện với khách sạn “Vandecke Holp” lọt giưa khu buôn bán. Điều đó cho phép tôi hy vọng nhanh chóng kiếm được khách. Tôi tắt máy ra khỏi xe. Từ một trong những chiếc xe đỗ đằng trước xuất hiện một gã đàn ông cao lớn mặc áo choàng da tiến lại phía tôi. – Cút ngay ra khỏi đây – gã gầm lên.
Tôi bình tĩnh nhìn gã, thầm tính có lẽ tốt nhất nên hạ gã bằng một cú Uppercut             *(đấm móc)vào phần dưới, nếu tình thế buộc phải như vậy. Với chiếc áo choàng kia, hắn sẽ không kịp trở tay.
Không hiểu hả? – gã áo choàng da hạch và nhổ toẹt mẩu thuốc lá xuống trước chân tôi – Xéo ngay! Đây đủ người rồi! Đếch cần đứa mẹ nào nữa!
Gã điên tiết vì có thêm kẻ cạnh tranh, rõ rồi; nhưng đỗ ở đâu là quyền của tôi – Tôi sẽ khao dăm chầu rượu – tôi nói.
Tôi những tưởng chuyện thế là êm. Thường kẻ nào mới nhập hội cũng phải khao cả. Một tay lái trẻ lại gần.
Thôi được rồi, ông bạn đồng nghiệp. Mặc hắn, Gustap ạ…
Nhưng Gustap không ưa một điểm gì đó ở tôi. Tôi biết là điểm gì. Gã nhận thấy tôi là kẻ mới tập tọng vào nghề. – ta đếm đến ba… - gã tuyên bố. Gã cao hơn tôi một cái đầu, vì thế mà gã tự tin.
Tôi hiểu rằng dùng lời lẽ chẳng ăn thua gfi ở đây.
Tôi phải đánh xe đi hoặc ẩu đả. Cái đó rõ quá.
Một…, Gustap đếm, tay mở khuy áo choàng.
Đừng làm chuyện điên rồ - tôi nói, cố thử lấy lòng gã – ta đi nhấp chút rượu cho ấm cuống họng là hơn.
Hai…, Gustap gầm gừ…
Tôi nhận thấy gã định quại tôi bằng một cú đấm chính quy – Và nên nhớ… - gã đẩy chiếc mũ ra sau gáy.
Câm mõm, đồ ngu!- tôi đột ngột hét lớn. Gustap kinh ngạc há hốc mồm, tiến lên một bước, đứng đúng vào chỗ tôi nhắm trước. Tôi phang luôn. Một cú đánh như quại búa, với sức bật toàn thân, Koester đã truyền cho tôi miếng ấy. Tôi đâu có thạo đấm đá; tôi cho rằng không cần thiết… tất cả tùy thuộc chủ yếu vào cú đánh đầu tiên. Miếng này chơi được. Gustap đổ phịch xuống – Đáng đời hắn – tay tài xế trẻ nói – Đồ bợm già – Chúng tôi khuân gã đặt vào ghế chiếc xe – Hắn sẽ tự tỉnh lại.
Tôi hơi lo lắng. Vì vội, tôi để sai tư thế nắm đấm khi giở miếng và bị sái tay. Nếu Gustap hồi lại, gã muốn hành tôi thế nào chả được. Tôi nói điều đó với tay tài xế trẻ, hỏi anh ta có lẽ tôi nên chuồn là hơn chăng. – Vớ vẩn, - anh ta nói – chuyện thế là xong. Giờ hãy đến quán rượu và khao chầu của cậu đi. Cậu không phải là tài xế nhà nghề hả?
Không…
Mình cũng vậy. Mình là diễn viên.
Thế sao?
Cân phải sống … - anh ta cười đáp – Nhà hát cũng đủ chỗ rồi! – Tụi tôi có năm người, hai trung niên, ba thanh niên. Lát sau Gustap cũng lù lù dẫn xác vào quán. Gã giương mắt đờ đẫn nhìn vào bàn tụi tôi và tiến lại gần. Tay trái nắm chặt chùm chìa khóa trong túi áo, tôi định bụng sẽ chống trọi đến cùng trong mọi trường hợp, kỳ tới khi không nhúch nhích nổi nữa thì thôi.
Nhưng rồi điều đó đã không xảy ra. Gustap quơ chân đẩy tới một cái ghế, đoạn buông người phịch xuống, vẻ bất mãn. Chủ quán đưa ra một cái ly nữa. rượu đến, Gustap uongs ực một hơi. Chầu thứ hai, Gustap liếc nhìn tôi, gã nâng ly.
Chúc sức khỏe – gã nói với tôi, nhưng nét mặt vẫn tối sầm.
Chúc sức khỏe – tôi đáp và cạn ly.
Gustap móc ra một bao thuốc lá. Gã chìa mời tôi, nhưng mắt nhìn đi nơi khác. Tôi rút một điếu, bù vào đó, tôi bật lửa cho gã. Rồi tôi gọi một chầu đúp rượu hồi. Chúng tôi uống, Gustap lại liếc xéo tôi – Đồ thộn – gã nói, nhưng giọng đã ôn hòa.
Ngu như bò – tôi đáp lại, giọng hệt thế.
Gã quay hẳn sang tôi – Cú đánh khá lắm …
Ngẫu nhiên thôi … - tôi chìa gã xem ngón tay cái của mình.
Rủi mà – gã toét miệng cười đáp – Mình tên là Gustap.
Còn mình, Robert.
Hay lắm. tốt đẹp cả hả, Robert? Mình cứ ngỡ cậu chỉ là đứa trẻ vửa rời váy mẹ cơ chứ.
Tốt đẹp cả, Gustap ạ.
Kể từ phút đó, chúng tôi là bạn của nhau.
***
Những chiếc xe chậm chạp lăn bánh lên phía trước. Anh chàng diễn viên, tên gọi Tomy, được một chuyến ra ga khá trúng. Gustap phải chở khách đến tiệm ăn gần nhất với giá ba chục xu. Cậu ta tức nổ ruột bởi lẽ chỉ lời được cú chục xu mà phải xếp lại vào cuối hàng. Tôi vớ được dịp may hiếm có… một bà già người Anh muốn tham quan thành phố. Tôi dong xe đưa bà ta đi đây đó đến cả tiếng đồng hồ. Trên đường quay về, tôi còn đánh mấy quả nho nhỏ nữa. Đến trưa, khi cả bọn ngồi trong quán rượu nhá bánh mỳ bơ, tôi đã có cảm tưởng mình là tài xế nhà nghề. Một tình cảm gì đó như tình huynh đệ giữa những người lính cũ. Hội tụ về đây là anh em thuộc đủ ngành nghề, nhiều lắm chỉ phân nửa bọn họ xưa nay vốn chạy tắc xi, số còn lại do số phận run rủi sao đó mà chui vào cái nghiệp này.
Chiều, khá là hớn hở, tôi phóng xe vào sân xưởng chúng tôi.
Sao, những người anh em, làm ăn thế nào rồi?
Bán được bảy chục lít xăng – Jupp nói.
Thế thôi à?
Lenz ngửa mặt gầm ghè nhìn trời – Mưa đi thôi chứ! Cầu cho một cuộc đụng xe nhè nhẹ trên đường nhựa trơn ngay trước ngõ! Không ai bị thương! Chỉ một cú sửa xe tròn trịa, ngon ăn!
Nhìn đây! Tôi xòe ra ba mươi lăm mác.
Cực kỳ! – Koester nói – Thế là lời được hai chục mác. Hôm nay ta sẽ vung tay quá trán. Phải uống mừng chuyến tắc xi đầu tiên chứ!
Tụi mình định làm một chầu vang xa diệp thảo – Lenz giải thích.
Một chầu ấy cơ à – tôi hỏi – vì lẽ gì?
Vì Pat sẽ cùng đi.
Pat ư?
Đừng có há hoác mõm ra thế đi – anh chàng lãng  mạn cuối cùng nói – tụi này thỏa thuận mọi chuyện từ  lâu. Đúng bảy giờ tụi này sẽ đi đón cô ấy. Cô ấy đã biết. Tự cậu không nghĩ ra được, thì tụi này đành liệu lấy vậy. Suy cho cùng cũng nhờ tụi này mà cậu quen được với cô ấy.
Này , Otto – tôi nói – cậu đã bao giờ thấy kẻ nào lại trơ tráo hơn cái thằng lính mới tò te này chưa?
Koester cười – tay cậu làm sao vậy, Robby? Trông vẹo vọ làm sao ấy.
Mình cho là nó bị sái – tôi thuật lại cuộc xô xát với Gustap.
Lenz xem xét bàn tay tôi – Dĩ nhiên thôi! Nhân danh chúa Giesu và bậc sinh viên y khoa đang ẩn dật, mình sẽ xoa bóp cho cậu, bất chấp cái thói thô lỗ của cậu. Đi nào, đồ võ sĩ hạng bét.
Chúng tôi vào xưởng. Gottfrit xoa một chút dầu lên tay tôi – Cậu đã bảo Pat rằng tụi mình sẽ uống mừng kỷ niệm tròn ngày mình trở thành lái xe tắc xi đấy à? – tôi hỏi Lenz.
Cậu ta huýt giớ qua kẽ răng – vì thế mà cậu bối rối chăng, anh bạn trẻ?
Câm mõm! Tôi đáp, đặc biệt vì thấy cậu ta có lý – Cậu đã bảo nàng thế chứ gì?
Tình yêu – Gottfrit tỉnh rụi bình phẩm –  là một cái gì đó tuyệt vời, nhưng nó hủy hoại nhân cách.
Còn cô đơn lắm đâm thiếu tế nhị, đồ trơ thân cụ ủ dột ạ.
Tế nhị chẳng qua là sự thỏa thuận ngấm ngầm, phớt lờ những lầm lỗi chung, khi đáng lẽ phải gọi to chúng lên. Tóm lại, một hành động thỏa hiệp đáng thương. Người cựu chiến binh Đức đâu chịu như vậy, bé yêu!
Giả sử ở vào địa vị mình, cậu sẽ làm gì – tôi hỏi – Nếu có người vẫy tắc xi của cậu, và rồi cậu nhận ra đó là Pat?
Lenz tủm tỉm cười – Trong bất kỳ trường hợp nào ta cũng sẽ không đòi hỏi nàng trả tiền xe, con trai của ta ạ.
Tôi dúi một cái khiến cậu ta lộn nhào khỏi chiếc ghế gỗ ba chân.
Đồ phá đám! Cậu biết mình sẽ làm gì không? Tối nay mình sẽ đón nàng bằng chiếc tắc xi.
Chí phải! – Gotfrit giơ tay  như để chúc phúc – Có điều chớ để mất tự do! Tự do quý giá hơn cả tình yêu. Nhưng con người bao giờ cũng nhận ra điều đó khi đã quá muộn. Dẫu sao chiếc tắc xi cũng không đến lượt cậu. Tụi mình cần nó để đón Ferdinan Grau và Valentin. Ta sẽ có một tối trang nghiêm, nhưng vui hết tầm.
***
Chúng tôi ngồi trong vườn một quán ăn nhỏ trước thành phố. Vầng trăng ẩm ướt lửng lơ trên những cánh rừng như một ngọn đuốc đỏ. Những chùm hoa nhạt màu lóng lánh trên những cây dẻ, tử đinh hương thơm ngọt ngào, và trên bàn, trước mặt chúng tôi, trong ánh sáng mờ ảo của chiều tà, chiếc bình thủy tinh lớn đựng thứ rượu vang thơm mùi xa diệp thảo trông tựa một khối opan rực rỡ trong đó tụ lại ánh chiều cuối cùng biêng biếc tím óng ánh như xà cừ. Chúng tôi đã cho tiếp rượu đầy bình đến lần thứ tư. Ferdinan Grau làm chủ tọa. Pat ngồi cạnh anh. Nàng cài một bông lan phơn phớt hồng mà anh đã đem theo tặng nàng.
Ferdinan vớt từ ly vang của anh một con muỗi, thận trọng quệt nó lên mặt bàn – Nhìn xem này – anh nói – Chà, đôi cánh mới tuyệt chứ. So với nó thì gấm vóc gì cũng chỉ là đồ giẻ lau mà thôi! Một con vật như thế mà sống có một ngày, và thế là hết – Anh lần lượt nhìn từng người trong chúng tôi – Các cậu có biết cái đáng sợ nhất trên thế gian này là cái gì không, hỡi nhứng người anh em?
Một ly rượu rỗng – Lenz đáp.
Ferdinan phác một cử chỉ như phủi Lenz đi – Đối với một trang nam nhi, Gotfrit ạ, thì trên thế gian này điều làm tổn hại thanh danh nhất là đóng vai kẻ hay pha trò – Đoạn anh quay sang chúng tôi – Cái đáng sợ nhất, anh em ạ, là thời gian. Thời gian. Cái khoảnh khắc chúng ta đang trải qua và cái khoảnh khắc mà chúng ta sẽ chẳng bao giờ chiếm đoạt được.
Anh móc túi ra chiếc đồng hồ của mình, chìa nó trước mặt Lenz – Cái này đây, hỡi đồ lãng mạn rởm! Cái máy địa ngục kêu tích ta tích tắc hoài trước hư không này đây! Cậu có thể chặn bão tuyết, ngăn núi lở, .. nhưng đâu kìm nổi thứ này.
Mà mình cũng chẳng muốn – Lenz nói – Mình chỉ muốn được yên ổn đến già. Ngoài ra mình yêu sự thay đổi.
Con người không chịu đựng nổi thời gian – Grau tiếp, chẳng buồn để ý đến Lenz – Con người không sao kham nổi nó. Vì vậy con người tự vẽ lên cho mình một giấc m ơ. Giấc mơ vô vọng, cảm động, muôn thuở của loài người: sự vĩnh cửu.
Gotfrit phì cười – Căn bệnh hiểm nghèo nhất của cõi trần, Ferdinan ạ, là suy tư! Vô phương cứu chữa.
Nếu đó là căn bệnh duy nhất thì cậu sẽ là kẻ bất tử, Grau độp lại – Ngữ cậu chỉ là một mớ hổ lốn thán khí, vôi, photpho, và một tí ti sắt, tồn tại ngắn ngủi trên đời với cái tên là Gotfrit Lenz.
Gotfrit cười khoái chí. Ferdinan lúc lắc cái đầu sư tử của anh – Anh em ạ, cuộc sống là căn bệnh, và cái chết bắt đầu ngay trong sự sinh nở. mỗi hơi thở, mỗi nhịp đập của trái tim đều là chết đi một chút… một sự xê dịch nhỏ xích dần đến cõi tận.
Một ngụm rượu nữa chứ - Lenz đế - Chúc sức khỏe cậu, Ferdinan! Đôi khi  cái chết lại nhẹ nhàng đáo để.
Grau nâng ly. Một nụ cười như cơn giông thầm lặng lướt trên gương mặt to bè của anh – Chúc cậu, Gotfrit, con bọ chét vui tươi trên dòng sỏi trôi tuồn tuột của thời gian. Không hiểu cái quyền lực thần bí chi phối chúng ta đã nghĩ gì khi tạo ra cậu thế?
Đó là việc riêng của nó. Vả lại chính cậu là kẻ không nên nói về những chuyện đó một cách khinh thị như vậy, Ferdinan ạ. Nếu con người là vĩnh cửu thì cậu sẽ thất nghiệp mất, hỡi đồ ký sinh trùng phúc hậu, già nua của tử thần kia!
Vai Grau bắt đầu ring rung. Anh cười, đoạn anh quay sang Pat. – Cô nói gì với lũ nhăng cuội chúng tôi, hỡi bông hoa nhỏ xinh trên làn nước rập rờn?
Rồi tôi và Pat đi dạo xuyên qua vườn riêng với nhau. Trăng đã lên cao hơn, những thảm cỏ đắm mình trong ánh trăng màu xám bạc, trên đó, những bóng cây đen đổ dài như những mũi tên thẫm màu chỉ đường vào cõi vô định. Hai đứa xuôi đến ven hồ, rồi lộn trở lại. Trên đường về, chúng tôi gặp Gotfrit Lenz, anh chàng cắp theo một cái ghế nhỏ, dúi vào một bụi tử đinh hương. Giờ cậu ta ngồi trong đó, chỉ thấy ló sáng đốm  lửa thuốc lá và chỏm tóc  hoe vàng. Dưới đất, ngay cạnh cậu ta, là một cái ly rỗng và chỗ rượu vang còn lại.
Chỗ thế mới là chỗ chứ! – Pat reo lên – Ngập trong tử đinh hương.
Có thể ngồi mãi được đấy – Gotfrit đứng lên – Cô thử mà xem! Pat ngồi vào ghế. Gương mặt nàng óng ánh giữa những bông hoa – Tôi mê tử đinh hương điên lên được – anh chàng lãng mạn cuối cùng nói – Với tôi, nhớ nhà có nghĩa là  nhớ tử đinh hương. Mùa xuân năm 1942 tôi đã vội vvax rời Rio de Ranneiro về quê hương chỉ vì sực  nhớ ra rằng nơi đây hẳn tử đinh hương đang nở rộ. khi tôi về tới nơi, thì dĩ nhiên đã muộn rồi – Cậu ta cười – Bao giờ chả vậy – Rio de Ranneiro? – Pat vít một cành hoa xuống – Các anh cùng ở đó à?
Lenz ngơ ngác. Tôi thốt nhiên lạn buốt sống lưng – Nhìn trăng kìa! – tôi vội nói đồng thời ngầm đá chân Lenz.
Dưới ánh sáng lập lòe đầu điếu thuốc Lenz hút, tôi nhận thấy một thoáng cười và cái nháy mắt. Thoát nạn rồi – Không , hai đứa tôi không cùng ở đó – Gotfrit nói – dạo ấy tôi chỉ có một mình. Nhưng có lẽ ta nên làm thêm ngụm vang cuối cùng chứ nhỉ?
Tôi xin thôi – Pat lắc đầu – tôi không uống được nhiều vang thế đâu.
Chúng tôi nghe tiếng Ferdinan gọi, bèn trở lại quán.
Anh đứng lừng lững nơi ngưỡng cửa – vào đây, các cô các chú – anh nói – Ban đêm, những người như tụi ta chẳng có gì để tìm kiếm ngoài thiên nhiên cả. Ban đêm, thiên nhiên muốn được ở một mình. Một bác nông dân hay một anh dân chài, đó lại là chuyện khác; nhưng chúng ta thì không, chúng ta, lũ người thành thị với những bản năng đã bị chém lìa – Anh đặt tay lên vai Gotfrit – Đêm là sự phản kháng của tự nhiên chống lại căn bệnh hủi của sự văn minh, Gotfrit ạ! Một người đứng đắn không chịu được lâu điều ấy. anh ta nhận thấy mình bị đẩy ra khỏi cái vòng khuyên câm lặng của cỏ cây, muông thú, trăng sao và sự sống vô thức. Đến đây anh mỉm một nụ cười lạ lùng mà người ta không bao giờ biết được nó buồn hay vui – Vào đi, các cô chú! Chúng ta sẽ sưởi ấm đôi tay bằng những kỷ niệm. Ôi, cái thời huy hoàng, khi chúng ta còn là một loài mộc tặc, sa giông, trước đây chừng năm sáu chục triệu năm; lạy Chúa, từ bấy tới nay chúng ta đã sa đọa biết chừng nào..!
Anh cầm bàn tay Pat. – Nếu chúng ta không còn một chút ý thức về sắc đẹp… thì tất cả thế là hết – Bằng một cử chỉ dịu dàng, bàn tay chuối mắn của anh cầm bàn tay Pat đặt lên cánh tay mình – Hỡi ngôi sao bạc trên vực thẳm ầm ĩ… cô sẵn lòng cạn ly cùng gã đàn ông cổ đại như tôi chăng?
Pat gật – Thưa có – nàng nói – Tôi sẵn lòng chiều ý ông.
Hai người bước vào quán. Nhìn họ sóng đôi mà ngỡ như Pat là con gái của Ferdinan. Nàng con gái mảnh dẻ, can đảm , trẻ trung của một gã khổng lồ mệt mỏi còn  sót lại từ thời tiền sử.
Mười một giờ, chúng tôi ra về. Valentin và Ferdinan đi chiếc tắc xi do Valentin lái. Còn lại bọn tôi lên chiếc Karl. Đêm ấm áp, Koester còn cho xe chạy vòng vèo qua những làng mạc đã thiếp ngủ ven đường với vài ngọn đèn thấp thoáng đây đó và tiếng chó sủa thưa thớt.
Ngồi ghế trước, cạnh Otto, Lenz cất tiếng hát. Pat và tôi ngồi sau. Koester lái giỏi tuyệt. cậu ta cua vòng như chim liệng. Tay lái cậu ta vững tới mức tài hoa. Koester không chạy gấu như một số đông các tay đua. Xe cậu ta lăn êm tới mức tưởng chừng ta có thể ngủ yên trên những khúc đường lượn. không bao giờ ta nhận biết xe đang chạy ở tốc độ nào.
Chúng tôi cảm giác từng đoạn đường thay đổi nhờ vào tiếng bánh xe rít trên đường nhựa, ầm ĩ trên đường lát đá. Những ngọn đèn pha tựa như những con chó săn nhạt màu vọt lên trước chúng tôi là lôi ra khỏi bóng đêm con đường bạch dương cành lá rung rinh, hàng thùy dương những cột điện lướt qua vèo vèo, dãy nhà lụp xụp và cuộc diễu binh thầm lặng của những bìa rừng. Dòng ngân hà, như một làn hơi sáng, nhấp nháy bởi muôn ngàn tinh tú, mênh mông trải dài trên đầu chúng tôi.
Xe chạy nhanh hơn. Tôi choàng cho Pat áo khoác của cả hai đứa. Nàng mỉm cười với tôi – Em yêu anh thật chứ? – tôi hỏi.
Nàng lắc đầu – Còn anh, yêu em không?
Không. May quá, hả?
Cực may.
Nếu vậy, chẳng có gì có thể xảy đến với chúng mình, phải không em?
Chẳng có gì hết… nàng đáp và quờ tìm bàn tay tôi dưới những chiếc măng tô.
Con đường cua một vòng xuống cạnh đường xe lửa. đường ray lấp lánh. Xa xa, trước chúng tôi, đung đưa một ánh sáng đỏ. Karl rú lên, lao vụt về phía trước. đó là một đoàn tàu tốc hành với những toa nằm và một toa ăn đèn đóm sáng trưng. Chúng tôi dấn lên, đã gần sóng đôi với nó. Từ các bậu cửa sổ tàu, hành khách vẫy chào chúng tôi. Chúng tôi không vẫy lại. chúng tôi đã vượt lên. Tôi ngoái nhìn. Đầu tàu phì khói và những tia lửa. nó găm lại, đen thẫm trên màn đêm biếc xanh. Chúng tôi vượt nó… nhưng  chúng tôi đang lao vào thành phố , về với những chiếc tắc xi, những xưởng  sửa chữa ô tô và những căn buồng trọ. Còn con tàu, nó ở lại bên triền những cánh rừng, những đồng ruộng, sông ngòi, hút mãi về miền xa, vào cuộc phiêu lưu dài rộng.
Phố xá, nhà cửa lắc lư xáp dần lại. Karl chạy êm hơn, nhưng lũ ống xả vẫn gầm gào chảng khác gì thú dữ.
Koester dừng xe ở khu vực gần nghĩa trang. Cậu ta không lái về nhà Pat, cũng chẳng về khu trọ của tôi mà dừng lại ở gần đâu đó, có lẽ cậu ta nghĩ chúng tôi muốn được đi riêng với nhau. Chúng tôi xuống xe. Hai cậu rồ máy đi liền, chẳng hề ngoái lại. Tôi nhìn theo họ. Trong khoảnh khắc, tôi có cảm giác thật lạ lùng. Họ bỏ đi, những người bạn của tôi bỏ đi, còn tôi ở lại. Tôi ở lại.
Tôi rũ bỏ ý nghĩ đó – Đi em – tôi bảo Pat khi ấy đang nhìn tôi như đã cảm thấy điều gì.
Anh hãy đi với họ - nàng nói.
Không – tôi đáp.
Anh muốn đi với họ mà…
Đâu có … - tôi nói, bụng nghĩ quả thế thật – Đi em…
Chúng tôi đi men theo nghĩa địa, người vẫn hơi lảo đảo vì gió và chuyến xe – Anh Robby – Pat nói – em muốn về nhà hơn.
Sao vậy em?
Em không muốn vì em mà anh bỏ rơi bất kỳ cái gì.
Em nghĩ gì lạ vậy – tôi hỏi – anh bỏ rơi cái gì?
Những người bạn của anh…
Anh chẳng hề bỏ rơi họ… chỉ sớm mai thôi anh đã gặp lại họ rồi.
Anh hiểu ý em rồi đấy – nàng nói – Trước đây anh gắn bó với họ thường xuyên hơn.
Vì chưa có em chứ sao – tôi đáp, mở khóa cửa. nàng lắc đầu.
Đó là chuyện hoàn toàn khác.
Dĩ nhiên là khác rồi, Ơn Chúa!
Tôi nâng bổng nàng lên, bế nàng dọc theo hành lang về buồng tôi.
Anh cần những người bạn – nàng nói kề ngay bên mặt tôi.
Em, anh cũng cần – tôi đáp.
Nhưng không cần đến thế…
Cái đó còn để xem…
Tôi đẩy toang cửa và buông nàng xuống. Nàng ghì chặt lấy tôi – Em chỉ là một người bạn chẳng ra gì, anh Robby ạ.
Anh cũng hy vọng thế - tôi nói- Anh không ưa một người đàn bà làm bạn. Anh ưa một người yêu.
Em cũng không là thế nốt – nàng lẩm bẩm.
Vậy em là cái gì?
Chẳng là cái gì cho ra hồn. một phác thảo…
Thế thì còn gì bằng –tôi nói – Cái đó kích thích trí tưởng tượng. Những người đàn bà như vậy được yêu mãi mãi. Đàn bà hoàn chỉnh người ta chóng chán. Đàn bà cao quý cũng vậy. Nhưng chán những phác thảo thì không bao giờ.
Bốn giờ sáng. Tôi đưa Pat về nhà, đang trên đường quay trở lại. Trời đã hưng hửng. phảng phất hương bình minh.
Tôi đi men nghĩa trang, ngang qua tiệm cà phê Quốc Tế, về nhà. Cửa quán rượu dành cho cánh tài xế nằm cạnh nhà công đoàn xịch mở, một cô gái bước ra. Chiếc mũ nồi nhỏ, chiếc áo măng tô xinh tồi tàn, đôi bốt véc ni cao cổ… gần đi ngang qua cô gái thì tôi nhận ra….
Kìa, Lida…
Không ngờ lại gặp được anh đấy! – cô gái nói.
Em ở đâu đến vậy? tôi hỏi.
Cô gái nhún vai – Em đã chờ tại đây. Em nghĩ biết đâu anh sẽ đi ngang. Cứ khoảng này là anh về nhà mà.
Ờ, đúng thế…
Đi với em chứ? Cô hỏi.
Tôi ngần ngừ - Không được đâu…
Anh không cần trả tiền – cô vội nói.
Đâu phải vì thế - tôi đáp không suy nghĩ – anh có tiền….
Ra vậy…- cô nói chua chát và lùi lại một bước.
Tôi cầm tay cô – Đừng thế, Lida…
Cô đứng đó, gày gò, xanh xao trên đường phố xám xịt trống vắng. Trước đây ít năm tôi đã gặp cô như vậy, khi tôi thẫn thờ và đơn độc sống cho qua ngày đoạn tháng, không suy nghĩ, không hy vọng. Thoạt đầu cô có vẻ dè chừng như mọi cô gái đồng cảnh với cô, nhưng rồi, sau vài lần trò chuyện cùng tôi, cô tỏ ra đáng tin cậy và quyến luyến tôi. Mối quan hệ giữa hai đứa tôi có phần kỳ quặc… thỉnh thoảng có đến hàng tuần tôi không gặp cô, rồi đột nhiên cô đứng ở đâu đó và chờ đợi tôi. Thời gian ấy, cả hai đứa hoàn toàn chẳng có gì, chẳng có ai… vì vậy một chút hơi ấm, một chút gần gụi mà chúng tôi có thể trao nhau hẳn có ý nghĩa hơn lúc bình thường. Đã lâu rồi tôi không gặp Lida nữa… không gặp từ ngày tôi biết Pat.
Lâu nay em biến đằng nào vậy, Lida?
Cô nhún vai – Hỏi mà làm gì, anh. Em chỉ muốn gặp lại anh. Vậy đấy, giờ thì em đi được rồi.
Em khỏe chứ?
Thôi mà… - cô nói – Anh đừng khách sáo thế.
Môi cô run run. Trông cô có vẻ đói – Để anh đi cùng với em một quãng – tôi nói.
Gương mặt giang hồ hờ hững, tội nghiệp của Lida linh hoạt hẳn lên và  trở nên ngay thơ. Dọc đường, tôi ghé vào một trong những quán dành cho tài xế mở cửa suốt đêm mua dăm món lặt vặt để cô có cái ăn. Thoạt đầu cô từ chối, cô chỉ chấp thuận khi nhge tôi bảo bản thân tôi cũng đói. Nhưng cô chú ý sao cho tôi không bị bịp, không bị ấn cho những món hàng chẳng ra gì. Cô cũng không muốn mua tới nửa cân dăm bông; theo cô chỉ hai lạng rưỡi là đủ, nếu chúng tôi còn mua thêm xúc xích Franfuot. Nhưng tôi khăng khăng lấy nửa cân dăm bông va hai hộp xúc xích.
Lida sống trong một căn xép áp mái mà cô có để tâm xếp đặt chút ít. Một chiếc đèn dầu đặt trên bàn, bên giường có một ngọn nến cắm vào miệng chai. Trên tường thấy những tranh ảnh cắt ra từ các tờ tạp chí, găm bằng đinh ghim. Trên ngăn tủ lăn lóc mấy cuốn tiểu thuyết trinh thám, cạnh đó một tệp ảnh khiêu dâm. Một số khách chơi, đặc biệt mấy bố đã có vợ, khoái xem thứ đó lắm. Lida gạt chúng vào ngăn kéo, rồi lôi ra một chiếc khăn trải bàn đã tã nhưng sạch sẽ.
Tôi mở các gói. Trong khi đó Lida thay quần áo. Trước hết cô cởi bỏ váy ngoài, mặc dù tôi biết đôi chân mới khiến cô đau và mỏi nhất. Cô phải đi bách bộ nhiều quá. Cô đứng đó; đôi bốt véc ni cao đến đầu gối, trên mình chỉ còn bộ đồ lót đen.
Anh thấy cặp đùi em thế nào? – cô hỏi.
Hết sảy, như mọi lúc.
Cô hài lòng, nhẹ nhõm ngồi xuống giường để cởi đôi bốt – Đôi này giá hai trăm mác kia đấy – cô nói, tay giơ đôi bốt cho tôi xem.
Chờ tới khi kiếm lại được ngần ấy tiến thì chúng cũng vừa rách.
Cô lấy trong tủ ra một chiếc kimono và đôi hài gấm đã bạc màu, sót lại từ những ngày khá giả hơn. Cô mỉm cười gần như biết lỗi. cô muốn vừa mắt tôi. Thốt nhiên tôi thấy nao lòng khi ngồi đây, trên căn buồng nhỏ bé này, tuồng như một người thân của tôi vừa mất.
Chúng tôi cùng ngồi và tôi nói chuyện ân cần với Lida. Dẫu vậy, cô vẫn nhận thấy có cái gì đó đã đổi khác. Ánh mắt cô trở nên rụt rè. Giữa chúng tôi hoàn toàn chẳng có cái gì ngoài sự tình cờ đem lại. Nhưng có lẽ chính nó lại ràng buộc và gắn hai đứa hơn nhiều thứ khác – Anh đi sao? – cô hỏi khi thấy tôi đứng dậy… tuồng như cô hằng sợ hãi điều này.
Anh còn có hẹn…
Cô nhìn tôi – Muộn thế cơ à?
Chuyện làm ăn. Rất quan trọng với anh, Lida ạ. Anh còn phải tìm gặp một người. vào giờ này ông ta thường có mặt ở khách sạn Astoria.
Không một người đàn bà nào tỏ ra biết điều trước những việc đại loại hơn những cô gái như Lida. Nhưng người ta cũng khó lừa dối họ hơn bất kỳ ai. Gương mặt Lida thoắt trống rỗng – Anh có một người đàn bà khác.
Kìa, Lida… chúng mình ít có dịp gặp nhau thế kia mà… có đến gần một năm nay… em thử nghĩ mà xem…
Không, không, ý em không phải như vậy. Anh đã có người đàn bà mà anh yêu! Anh đã thay đổi. Em cảm thấy điều đó - Ồ, Lida em.
Đúng, đúng, anh hãy nhận đi!
Chính anh cũng chẳng biết nữa. có lẽ…
Lida đứng lặng một lát. Đoạn cô gật đầu – Vâng, vâng, đương nhiên rồi… em rõ thật ngu ngốc… chúng mình chẳng hề hứa hẹn gì với nhau mà… - Cô xoa hai tay bên thái dương – Em không hiểu tại sao em lại như vậy …- Thân hình mảnh dẻ của cô đứng trước tôi sao gày gò, yếu đuối. Đôi hài gấm… chiếc áo kimono… những đêm dài trống rỗng, hồi ức…- Tạm biệt em, Lida.
Anh đi ư… anh không nán lại chút nữa sao? Anh đi… ngay…?
Tôi hiểu ý cô. Song tôi không thể. Cũng kỳ quặc, song tôi không thể, tôi cảm thấy rất rõ điều đó. Trước kia có bao giờ tôi như vậy đâu. Tôi không có những ý tưởng thái quá về tính chung thủy. Nhưng giờ thì không được. Thế thôi. Tôi đột nhiên cảm thấy mình đã tách xa khỏi mọi cái cũ biết chừng nào.
Lida đứng trong khung cửa – Anh đi…- Cô chạy vào buồng – Đây, em biết anh đã để tiền cho em, dưới tờ báo… em không muốn nhận nó… Đây… đây… phải, anh đi đi…
Anh phải đi, Lida ạ.
Anh sẽ không trở lại…
Có chứ, Lida…
Không, không, anh sẽ không trở lại…em biết thế! Anh cũng đừng trở lại làm gì! Đi đi, đi đi chứ… - Cô khóc. Tôi xuống gác, không ngoái nhìn trở lại.
 
Tôi còn lang thang hồi lâu qua các phố. Một đêm lạ lùng. Tôi rất tỉnh táo và không sao ngủ được. tôi đi ngang tiệm Quốc Tế, nghĩ tới Lida, tới những năm trước kia, tới nhiều thứ mà tôi đã quên từ lâu, nhưng chúng đã xa xôi lắm, và dường như đã hết thuộc về tôi. Rồi tôi thơ thẩn qua phố của Pat. Gió mạnh lên, hết thảy các cửa sổ tòa nhà nàng ở đều tối om, bình minh xám nhờ nhón gót dọc các cánh cổng, rốt cuộc tôi đi về nhà. Lạy Chúa, tôi thầm thì nhủ, tôi tin là mình hạnh phúc.
(Còn tiếp)
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0

CHƯƠNG XIII
 
Cái cô gái mà anh lúc nào cũng che che giấu giấu ấy! – bà Zalepski nói – anh không cần phải che giấu làm gì. Cô ta cứ việc công khai đến với anh. Tôi ưa cô ta…
Bà đã trông thấy cô ấy bao giờ đâu – tôi đáp.
Anh cứ yên tâm, tôi thấy cô ta rồi – bà Zalepski nói có ý nhấn mạnh – Tôi đã thấy cô ta và tôi ưa cô ta… rất ưa đằng khác…, nhưng đó không phải là người phụ nữ thích hợp với anh đâu.
Không à?
Không. Tôi lấy làm lạ, không hiểu bằng cách nào mà anh lại mò ra được người như cô ta trong những quán rượu bê tha của anh. Nhưng tất nhiên thôi, những kẻ ăn không ngồi rồi nhất…
Ta nói chuyện khác đi – tôi cắt lời bà.
Cô ta – bà nói, hay tay chống nạnh – là người phụ nữ dành cho một người đàn ông có những mối quan hệ xã hội chắc chắn, tốt đẹp. Nói ngắn gọn, cho một quý ông giàu có.
Những chai rum, mình đã bỏ qua điều đó! Đó chính là thứ mình thiếu – Bà có thể khẳng định như vậy về mọi người đàn bà – tôi bực tức nói.
Bà lắc những búp tóc hoa râm – Anh cứ chờ đấy! Tương lai sẽ chứng minh là tôi có lý.
Dào ôi! Tương lai! – Tôi cáu kỉnh quăng những chiếc khuy măng sét xuống mặt bàn – Thời buổi này ai còn tính tới tương lai! Chưa gì đã lo nghĩ trước làm gì cho mệt!
Bà Zalepski lo lắng lúc lắc mái đầu uy nghi của bà.
Bọn trẻ các người là một lũ kỳ quặc với nhau cả. Quá khứ bị các người căm ghét, hiện tại thì các người dửng dưng. Thế thì hòng gì có một kết cục tốt đẹp.
Nhưng bà cho thế nào là một kết cục tốt đẹp mới được chứ? – tôi vặn – Một kết cục chỉ có thể  tốt đẹp khi mọi sự trước đó đều tồi tệ thôi. Thà một kết cục tốt còn hay hơn nhiều.
Rõ là miệng lưỡi tráo trở của giống Do Thái – bà Zalepski nói vẻ ngao ngán và cương quyết quay ra cửa. Nhưng tay vừa cầm nắm đấm cửa, bà đã đứng sững lại như trời trồng.
Smoking? – Bà sửng sốt lào thào – Anh?
Bà trợn tròn mắt ngắm nghía bộ comple của Otto Koester treo bên cửa tủ. Tôi mượn cậu ta vì tối nay tôi định cùng Pat đi xem hát – Chính  thế, tôi đấy! – tôi nói độc địa – Khiếu liên tưởng của bà thật không gì bì kịp, thưa quý bà…
Bà nhìn tôi. Một ý nghĩ hỗn độn lướt qua gương mặt béo phị của bà. Nó kết thúc bằng một nụ cười toét miệng, ra ý hiểu – A ha! – bà nói. Rồi một lần nữa – A ha! – Và rồi khi đã ra ngoài, bà còn ngoái lại, hiếu kỳ và láu lỉnh, hết sức rạng rỡ trước niềm vui muôn thuở của đàn bà khi phát hiện ra những chuyện như vậy – Đến mức ấy rồi cơ đấy!
Phải, đến mức ấy rồi đấy, con mụ đỡ chết tiệt – tôi gầm theo bà, khi đã biết chắc bà chẳng nghe thấy mình. Rồi tôi giận dữ quăng đôi giày véc ni mới cùng hộp bìa các tông xuống nền nhà. Quý ông giàu có.. cứ làm như tôi đây không biết!
***
Tôi tới đón Pat. Nàng đứng trong phòng mình, ăn mặc tề chỉnh và đã đứng đợi tôi. Tôi muốn nghẹn thở khi nhìn thấy nàng. Kể từ ngày tôi biết nàng, đây là lần đầu tiên nàng mặc áo dạ hội.
Đó là một chiếc áo dài may bằng thứ gấm óng ánh bạc, từ đôi bờ vai thẳng thớm, nó chảy xuống thanh thoát, mềm mại. Chiếc áo trông có vẻ chật, nhưng lại đủ rộng để không cản trở những sải chân duyên dáng của Pat. Phía trước ngực đóng kín lên trên, nhưng phần lưng lại mở sâu hình góc nhọn. Trong ánh hoàng hôn tím mờ, trông Pat tựa như một ngọn đuốc bạc, hiện lên đột ngột, thay đổi đến sững sờ, trang trọng và rất đỗi xa vời. Phía sau nàng, hình hài bà Zalepski xuất hiện như một cái bóng với một ngón tay trỏ lên trên.
May mà anh đã không làm quen với em trong chiếc áo dài này – tôi nói – Nếu thế có lẽ anh đã chẳng đời nào dám bén mảng lại gần em.
Em không dễ dàng tin anh thế đâu, anh Robby – Nàng mỉm cười – Anh ưng chứ?
Quả đáng ngại quá! Mặc nó trông em như một người đàn bà hoàn toàn khác.
Có gì đáng ngại đâu nhỉ. Áo dài sinh ra chỉ cốt làm thế mà.
Có thể. Nhưng nó khiến anh hơi điếng người. để xứng với nó, có lẽ em phải đi với một người đàn ông khác. Một người đàn ông lắm tiền.
Nàng cười – Một người đàn ông lắm tiền phần lớn đáng tởm, anh Robby ạ.
Nhưng tiền thì không đáng tởm, hả?
Không – nàng nói – Tiền thì không.
Biết ngay mà.
Thế anh không cho như vậy sao?
Có chứ -- tôi nói – Tiền thậm chí không đem lại hạnh phúc,.. nhưng nó khiến ta cực kỳ vững tâm.
Nó giúp ta độc lập, anh yêu ạ, cái đó đáng kể hơn. Nhưng nếu anh muốn, em cũng có thể thay áo dài khác.
Không đời nào. Chiếc áo lộng lẫy lắm. Kể từ hôm nay anh đặt đám thợ may lên trên các bậc triết gia! Bọn họ đưa cái đẹp vào cuộc sống. điều đó trăm lần đáng giá hơn những tư tưởng sâu xa! Coi chừng, anh sẽ còn si mê em nữa kia.
Nàng cười. Tôi thận trọng đảo mắt xuống chân mình, Koester nhỉnh hơn tôi một chút, và tôi đã phải dùng ghim băng xếch bớt cạp quần lên cho tạm vừa. Ơn Chúa, nó vừa vặn.
 
Chúng tôi đi tắc xi đến nhà hát. Dọc đường tôi ngồi khá im lìm mà không biết rõ tại sao. Khi hai đứa xuống xe và tôi trả tiền, tôi như bị buộc phải nhìn người tài xế. Bác ta có cặp mắt thiếu ngủ đỏ kè, râu ria không cạo và trông hết sức mệt mỏi. Bác ta hờ hững nhận tiền – Hôm nay kiếm khá chứ hả? – tôi khẽ hỏi.
Bác tài ngước nhìn – Tàm tạm…- bác nói, giọng khước từ. Bác cho tôi là một thằng khỏe tò mò.
Trong khoảnh khắc, tôi cảm giác lẽ ra tôi phai lên xe ngồi bên bác mà phóng đi… rồi tôi quay đi. Pat đứng đó, thon thả, mềm mại, bên ngoài chiếc áo dài lấp lánh bạc là chiếc áo vét kim tuyến ngắn, tay thụng, trông nàng xinh đẹp, bồn chồn, - Nhanh chân lên, anh Robby, sắp bắt đầu rồi!
Trước cửa vào dồn ứ những người. Đây là buổi công diễn đầu tiên, nhà hát được rọi sáng bởi nhiều đèn pha, xe hơi nối đuôi nhau xịch đến, các bà xuống xe trong những chiếc áo dài dạ hội, lóng lánh đồ trang sức, các ông mặc lễ phục, mặt phốp pháp hồng hào, tươi cười, hồ hởi, cao ngạo, vô tư lự… trong khi đó, những cỗ xe, kẽo kẹt, ì ạch, rầm rầm lui khỏi đó với những anh tài mệt mỏi.
Lại đây nào, anh Robby! – Pat gọi, mắt nàng nhìn tôi rạng rỡ, xúc động – Anh quên cái gì à?
Tôi nhìnđám đông vây quanh với ánh mắt thù địch – Không.. – tôi nói – anh có quên gì đâu.
Rồi tôi lại bên quầy đổi vé. Tôi lấy hai chỗ ngồi trong lô mặc dù giá đắt ghê gớm. tôi không muốn để Pat ngồi giữa những con người tự phụ kia, những kẻ luôn được cuộc đời ưu đãi. Tôi không muốn nàng thuộc về họ. tôi muốn được ngồi riêng với nàng.
Đã lâu rồi tôi không vào nhà hát. Giá Pat không thích thì tôi chẳng tơi đó. Sân khấu, hòa nhạc, sách vở,.. tôi hầu như đã đánh mất mọi thói quen  trưởng giả ấy. Không phải lúc. Chính trị đã bày đủ tấn trò… tiếng súng nổ mỗi tối đủ kết thành bản hòa tấu…, và pho sách khổng lồ của cơ cực còn thấm thía hơn hết thảy các thư viện gộp lại.
Các bao lơn và các dãy ghế phía trước sân khấu đầy kín người. Chúng tôi vừa tìm đến chỗ thì đèn phụt tắt. Chỉ còn ánh phản chiếu chùm đèn sân khấu loang khắp rạp. Âm nhạc nổi lên, nâng bổng hết thảy, khiến tất thảy như chao liệng.
Tôi xịch lui ghế của mình vào góc lô. Như vậy tôi khỏi phải trông thấy cả sân khấu lẫn đám đầu lố nhố của khán giả. Tôi chỉ nghe tiếng nhạc và ngắm nhìn gương mặt Pat.
Âm nhạc khiến cả rạp mê mẩn. Nó tựa một ngọn gió nam, một đêm ấm áp, một cánh buồm căng gió đưới các vì sao, hoàn toàn hư ảo, cái bản nhạc phổ theo “Những câu chuyện của Hofman ấy”. Dưới tác động của nó, tất cả như trải rộng ra, muôn màu sắc, dòng đời trầm đục như đang rì rầm trong nó, không còn trọng lượng, không còn giới hạn, chỉ có ánh hào quang, giai điệu và tình yêu; người ta dễ dàng không hiểu nổi khi những tiết tấu mê ly ấy rung lên cũng là lúc ngời đời đang đầy rẫy cảnh cơ cực, đọa đầy, tuyệt vọng.
Gương mặt Pat trở nên huyền bí trong ánh sáng hắt ra từ đèn sân khấu. Nàng đắm hồn mê say, và tôi yêu nàng bởi nàng không tựa mình vào tôi, không tìm nắm tay tôi, phải, không những chẳng hề nhìn tôi lấy một lần, mà còn có vẻ không mảy may nghĩ tới tôi, có vẻ đã hoàn toàn quên tôi. Tôi ghét những thái độ, cử chỉ không đúng lúc, đúng chỗ, ghét thói chỉ biết đắm say nhau như giống bò khi mà cái đẹp và dáng hình của một tác phẩm vĩ đại đang ùa đến với ta, tôi ghét những ánh mắt đắm đuối của các cặp tình nhân , ghét cái trò cứ xoắn lấy nhau đến là đần độn, cái thứ hạnh phúc thô lậu của loài cừu không bao giờ biết xúc cảm trước cái gì khác ngoài bản thân mình, tôi ghét toàn bộ cái luận điệu tình yêu hòa hai người làm một, bởi tôi thiết nghĩ một thôi hoàn toàn  không đủ thay cho hai, và đã là một thì làm sao còn có thể xa nhau để gặp nhau đươc nữa. Chỉ kẻ nào phải đơn độc luôn mới thấm thía niềm hạnh phúc được gần người yêu dấu. Hết thảy những thứ khác đều làm tiêu ma chất bí ẩn của sự hồi hộp. Và thử hỏi cái gì có sức bắt ta khỏi phạm vi huyền diệu của nỗi cô đơn là sự nổi loạn của cảm xúc, sự rung động đến quên mình mãnh lực của các nhân tố, giông bão, đêm tối, âm nhạc? Và tình yêu?..
Đèn bật sáng. Tôi nhắm mắt trong một giây. Tôi vừa mới nghĩ tới cái gì vậy? pat quay người lại. tôi thấy thiên hạ đang chen chúc ra ngoài cửa. nghỉ giải lao giữa buổi diễn.
Em không muốn ra ngoài sao? – tôi hỏi.
Pat lắc đầu.
Ơn Chúa! Anh ghét cái trò cứ đứng giương mắt ra nhìn nhau ở ngoài kia – tôi đứng dậy đi lấy cho nàng một cốc nước cam. Căng tin đông nghịt. âm nhạc khiến cho nhiều người đói mềm. những chiếc xúc xích nhỏ nóng hổi biến nhanh như thể vừa nổ ra nạn đói.
Tôi cầm cốc nước cam về tới lô thì thấy có một kẻ đứng sau ghê Pat. Nàng quay đầu ra sau, chuyện trò sôi nổi với gã – Đây là ông Boier, anh Robert – nàng nói. Ông cái con tườu, tôi nghĩ bụng, và khó chịu nhìn gã. Robert , nàng gọi tôi vậy đấy, chứ không gọi Robby. Tôi đặt cốc nước lên lan can, ý chờ gã đi. Gã diện một bộ smoking cắt khéo tuyệt vời. nhưng gã cứ tán hươu tán vượn về việc đạo diễn, việc phân vai và đứng lỳ ra. Pat quay sang tôi – Ông Broier hỏi sau buổi diễn chúng mình có định tới tiệm Thác nước không.
Nếu em tha thiết – tôi nói.
Broier gợi ý rằng ở đấy chúng tôi có thể khiêu vũ chút ít chăng. Gã rất nhã nhặn và thật ra tôi ưng gã lắm. Có điều tôi hơi khó chịu trước vẻ hào hoa, vẻ nhẹ nhõm ở gã, thứ mà tôi ngại rằng thế nào cũng tác động tới Pat, và bản thân tôi lại không có được. Bỗng nhiên – tôi không tin vào tai mình nữa – tôi nghe gã gọi Pat bằng em. Mặc dù có cả trăm lý lẽ để lý giải điều đó, tôi những muốn lẳng ngay thằng cha đó vào giữa dàn nhạc.
Chuông reo. Các nhạc công so lại dây đàn. Những cây vĩ cầm hòa theo tiếng sáo réo rắt – Vậy thỏa thuận rồi nhé, ta sẽ gặp nhau ở lối ra – Broier nói, rốt cuộc cũng cuốn xéo.
Tên du đãng nào vậy? tôi hỏi.
Đó không phải tên du đãng, mà là một người đáng mến. một người quen cũ.
Anh vốn ác cảm với loại người quen cũ – tôi nói.
Kìa, anh yêu – Pat đáp – hãy nghe em thì hơn.
Thác Nước, tôi vừa nghĩ vừa ước lượng túi tiền của mình, cái quán ăn cướp chết tiệt!
… Tôi bước đi trong tâm trạng tò mò, u ám. Sau những tiên đoán điềm gở của bà Zalepski lại còn mọc thêm cái gã Broier này nữa. Gã đã chực sẵn chúng tôi bên lối ra vào.
Tôi gọi một chiếc tắc xi – Anh khỏi gọi – Broier nói – xe tôi đủ chỗ mà.
Được thôi – tôi nói. Khước từ điều đó thì thật lố bịch. Nhưng dẫu vậy tôi vẫn cáu.
Pat biết xe của Broier. Đó là một chiếc Packard đồ sộ. nó đậu chênh chếch trên bãi đỗ xe trước mặt. nàng đi thẳng đến chiếc xe.
Nó đã được sơn lại nhỉ - nàng nói và dừng lại trước chiếc xe.
Phải, màu xám – Broier đáp – Em thấy đẹp hơn chứ?
Hơn nhiều.
Broier quay sang tôi – Còn anh? Anh có ưng màu này không?
Nhưng tôi đâu biết trước kia nó màu gì?
Đen.
Màu đen rất đẹp.
Hẳn rồi. nhưng cũng phải thay đổi tí chứ! Vả lại, sang thu lại  có chiếc mới.
Chúng tôi đến tiệm Thác Nước. đây là một tiệm nhảy hết sức lịch sự với một ban nhạc tuyệt vời – Trông có vẻ hết chỗ lắm – tôi thích chí nói khi chúng tôi vừa đến cửa.
Đáng tiếc – Pat bảo.
Ồ, ta sẽ liệu được – Broier nói – rồi ta sẽ thương lượng vớ người quản lý tiệm. – Hình như gã quen thuộc với chốn này lắm, vì quả nhiên người ta đưa tới cho chúng tôi một cái bàn thêm vài cái ghế, và chỉ vài phút sau chúng tôi đã ngự ở chỗ tốt nhất trong cả tiệm, từ đấy có thể bao quát toàn bộ sàn nhảy. Ban nhạc chơi một bản tăng gô, Pat tựa mình vào lan can.
Ơ, đã lâu lắm tôi không nhảy.
Broier đứng lên – Em cho phép?
Nàng nhìn tôi, nét mặt rạng rỡ - Anh sẽ ngồi đây đặt thức uống – tôi nói.
Vâng được.
Bản tăng gô kéo dài. Khi nhảy thỉnh thoảng Pat lại đưa mắt tìm tôi và mỉm cười với tôi. Tôi gật đầu đáp lại, nhưng trong lòng chẳng mấy thú vị. trông nàng tuyệt đẹp và nàng nhảy mới cừ làm sao. Tiếc nỗi Broier cũng chẳng kém tài, thành ra hai người kết nên một cặp xuất sắc. Trông hai người khiêu vũ, tưởng như họ vẫn thường xuyên nhảy cùng nhau. Tôi gọi cho mình một ly to rum. Hai người trở lại bàn. Broier quay ra chào hỏi vài người  quen và tôi được ngồi riêng với Pat một lát.
Em quen biết ông lỏi ấy từ hồi nào vậy? – tôi hỏi.
Lâu rồi. Nhưng sao?
Hỏi thế thôi. Em có hay cùng hắn lại đây không?
Nàng nhìn tôi – Em không biết nữa, anh Robby.
Biết quá đi chứ - tôi bướng bỉnh nói, mặc dù tôi hiểu ý nàng.
Nàng lắc đầu, mỉm cười. giây hút này, tôi yêu nàng xiết bao. Nàng muốn tôi hiểu rằng nàng đã quên hết thảy những gì thuộc về quá khứ. Nhưng có cái gì đó cứ cắn rứt trong tôi, bản thân tôi biết là nó lố bịch đấy, song vẫn không sao vứt bỏ được. Tôi đặt ly rượu lên bàn.
Thì em cứ nói thẳng. Cái đó chẳng can hệ gì.
Nàng lại nhìn tôi – Anh cho rằng tụi em vẫn thường lui tới đây chứ gì?
Đâu có – tôi xấu hổ đáp.
Ban nhạc lại bắt đầu chơi. Broier đến gần – một bản Blue – gã bảo tôi – Hay tuyệt. Anh không định nhảy bài này sao?
Không – tôi đáp.
Đáng tiếc.
Thử một lần xem, anh Robby – Pat nói.
Tốt hơn là không thử.
Nhưng tại sao lại không thử? Broier hỏi.
Tôi không thích – tôi cộc cằn đáp – Tôi cũng chưa học nhảy bao giờ. Không có thời gian. Nhưng mời hai người cứ tự nhiên khiêu vũ, tôi ngồi thế này cũng thú vị chán.
Pat ngập ngừng – Kìa Pat… - tôi nói – Em thích nhảy lắm kia mà.
Đã đành… nhưng anh cũng vui thật chứ?
Còn phải nói! – tôi trỏ vào ly rượu của mình – Đây cũng là một lối nhảy.
Hai người đi. Tôi vẫy bồi bàn và nốc cạn ly rượu. Đoạn tôi ngồi rỗi bên bàn và đếm hạnh nhân muối. Kè kè bên tôi là cái bóng của bà Zalepski.
***
Broier đưa lại bàn vài người nữa. Hai ả đàn bà xinh đẹp và một gã trai tuổi còn khá trẻ có cái đầu nhẵn thín. Sau đó thêm một người thứ tư. Ai cũng nhẹ lâng lâng, linh hoạt, tự tin. Pat quen cả bốn người.
Tôi cảm thấy mình nặng nề như một súc gỗ. cho tới nay bao giờ tôi cũng chỉ gặp riêng Pat. Đây là lần đầu tiên tôi tiếp xúc với đám người quen trước kia của nàng. Tôi không biết bắt đầu với họ ra sao. Cử chỉ của họ nhẹ nhàng, thoải mái, họ đến từ một cuộc đời mà trong đó mọi sự đều trôi chảy, nơi người ta không  phải thấy những gì không muốn thấy, họ đến từ một thế giới khác. Giá tôi ngồi một mình với họ, hoặc có cả Lenz hay Koester thì tôi chẳng hơi đâu mà lo nghĩ, thây kệ sự đời. Nhưng Pat lại quen biết họ, và chính thế moi sự đâm hỏng cả, nó đặt tôi vào tình trạng tê liệt buộc tôi phải so sánh.
Broier đề nghị đến một tiệm khác – Anh Robby – Pat nói khi chúng tôi đi ra – Có lẽ ta nên về chăng?
Không – tôi đáp – về làm gì?
Anh có vẻ chán mà.
Không hề. Sao lại chán chứ? Ngược lại thì có! Vả lại em vui thích thế kia mà.
Nàng nhìn tôi, nhưng không nói gì.
Tôi bắt đầu uống. Không uống như lúc nãy, mà uống ra uống. Gã hói bắt đầu để ý. Gã hỏi tôi uống gì vậy – Rum – Tôi đáp – Grog à? – Gã hỏi – Không, rum – tôi nói. Gã bèn thử một ngụm và bị sặc – Trời đất – gã nói vẻ thán phục – đúng là phải uống quen. Cả hai ả đàn bà cũng bắt đầu chú ý tới tôi. Pat cùng Broier khiêu vũ. Nàng thường xuyên đưa mắt về phía tôi. Nhưng tôi không buồn nhìn nàng nữa. tôi biết tôi xử sự như vậy là bất công, nhưng đột nhiên tôi muốn thế. Tôi cũng điên tiết vì những kẻ kia cứ để mắt đến việc uống rượu của tôi. Tôi chẳng thiết đem chuyện đó ra gây sự với họ như một cậu học trò. Tôi đứng lên, đi lại quầy. Pat dường như hoàn toàn xa lạ với tôi. Quỷ tha ma bắt cô ta cùng lũ người của cô ta đi! Cô ta cùng giuộc với họ. Có đấy!
Gã hói đi theo tôi. Chúng tôi cùng anh bồi rượu cạn một ly votca. Bồi rượu luôn luôn là nguồn an ủi. khắp  thế gian, đâu đâu ta cũng có thể tìm thấy ở họ mối đồng cảm mà chẳng cần tốn nhiều lời. Anh bồi này cũng vậy. Chỉ gã hói là yếu đuối. Gã muốn thổ lộ nỗi lòng. Chả là một ả Fily nào đó đang đè nặng trên tâm hồn gã. Nhưng gã cũng sắp nguôi đến nơi rồi. Gã mách tôi Broier phải lòng Pat từ vài năm nay – Vậy ư? – tôi nói. Gẫ cười khùng khục. Tôi buộc gã câm họng bằng một miếng lườn gà gô. Nhưng có điều gã nói cứ găm trong đầu tôi. Tôi bực vì trót đưa chân vào tình cảnh này, bực vì chẳng thể dửng dưng, và bực sao mình không đấm tay xuống bàn, nhưng đâu đó trong tôi trỗi dậy cơn thèm khát  tàn phá lạnh lùng, nó không chĩa vào những kẻ khác. Chỉ chĩa vào tôi.
Gã hói bắt đầu lắp bắp được và lủi mất. Tôi ngồi lại. Bỗng nhiên tôi cảm giác một cặp vú rắn chắc tì vào cánh tay mình. Đó là một trong hai ả đàn bà mà Broier đưa đến. Ả ngồi sát bên tôi. Cặp mắt xếch màu xám xanh của ả từ tốn vuốt ve tôi. Đó là cái nhìn mà sau nó quả thật không còn gì để nói… chỉ có hành động – Uống được như vậy thật tuyệt diệu – lát sau ả nói… tôi nín thinh. Ả đưa tay với cái ly của tôi. Bàn tay như một con thằn lằn lóng lánh những nhẫn, khô, và toàn gân là gân. Nó cử  động rất chậm rãi, tựa như đang trườn. Tôi hiểu ả muốn gì. Với mi, ta sẽ dứt điểm nhanh chóng, tôi nghĩ. Mi coi nhẹ ta bởi mi thấy ta tức giận. Nhưng mi đã nhầm. ta đã dứt điểm với đàn bà… nhưng với tình yêu thì ta lại không thể. Ta buồn vì lẽ đó.
Ả đàn bà bắt  đầu nói. Giọng ả, yếu ớt, hơi thanh thanh.  Tôi nhận thấy Pat nhìn sang. Tôi chẳng bận tâm đến điều đó. Mà tôi cũng không bận tâm đến ả đàn bà ngồi bên tôi. Tôi có cảm giác mình đang trượt xuống một giếng mỏ trơn tuột. không đáy. Ở đây, vấn đề chẳng liên quan gì tới Brioer va những kẻ kia. Càng không dính dáng tới Pat. Cái giếng ấy là điều bí mật tăm tối, rằng thực tại khơi dậy những ước mơ nhưng lại không thỏa mãn nổi chúng; rằng tình yêu khởi đầu trong một con người nhưng chẳng bao giờ kết thúc trong anh ta; và rằng tất cả khả dĩ có đó: một con người, tình yêu, hạnh phúc, sự sống… rằng khi nào chúng ta cũng ít một cách đáng sợ, càng tưởng nhiều, càng ít hơn. Tôi lén đưa mắt nhìn Pat. Trẻ trung và xinh đẹp, nàng đang bước đi trong chiếc áo dài óng náh bạc, một ngọn lửa sống sáng rực, tôi yêu nàng, và nếu tôi bảo nàng: lại đây em, nàng sẽ tới ngay, chẳng có gì ngăn giữa chúng tôi, chúng tôi có thể gần gũi nhau như chỉ những con người mới có thể gần gũi… ấy vậy mà thỉnh thoảng tất cả vẫn u ám, dày vò tôi một cách khó hiểu. Tôi không sao gỡ nàng ra  khỏi cái vòng xoắn của các sự vật, không sao rứt nàng ra khỏi cái vòng tròn của sự sống vốn tồn tại trên chúng tôi, trong chúng tôi và áp đặt cho chúng tôi những luật lệ của nó, áp đặt hơi thở tội lỗi, vẻ hào nhoáng đáng ngờ của thực tại không ngừng chìm đắm vào cõi hư không, cái ảo ảnh chói lọi của tình cảm mà lúc chiếm được cũng là lúc bị tuột mất. Không bao giờ tháo gỡ được nó, cái dây xích xủng xoảng của thời gian, không bao giờ vận động liên tục hóa ra ngừng nghỉ, kiếm tìm hóa ra yên tĩnh, đang rơi hóa chững. Càng chẳng thể giải thoát nàng khỏi sự ngẫu nhiên, khỏi những gì diễn ra trước kia, thuở tôi còn chưa biết  nàng, khỏi hàng ngàn ý nghĩ, hàng ngàn kỷ niệm, khỏi những gì đã hình thành nên con người nàng trước khi tôi xuất hiện; riêng việc giải thoát nàng khỏi đám người đây kia đã là điều không tưởng rồi…
Cạnh tôi, ả đàn bà vẫn nói với cái giọng yếu ớt của ả. Ả tìm một thằng bạn qua đêm, một mảnh đời xa lạ để tự kích mình, nhằm quên đi bản thân, quên đi sự tỉnh trí quá ư đau đớn, rằng chẳng bao giờ có chút gì đọng lại: không Tôi, không Anh, Chúng ta lại càng không. Phải chăng về cơ bản, ả tìm kiếm chính thứ tôi đang khao khát? Một người bạn để quên đi nỗi cô đơn của cuộc đời, một chiến hữu để vượt qua sự vô nghĩa của kiếp sống?
Đi nào cô – tôi nói – ta quay lại bàn thôi. Thật vô vọng.. thứ mà cô muốn… và cả thứ mà tôi muốn nữa.
Ả nhìn tôi giây lát. Đoạn ả gật đầu ra sau, cười phá lên.
***
Chúng tôi còn la cà sang một vài tiệm nữa, Broier bốc lên, nói luôn mồm và đầy hứng khởi. Pat trầm lặng hẳn. Nàng không hỏi tôi, không trách móc, cũng chẳng tìm cách phân bua, nàng ở đó, vậy thôi; đôi khi nàng khiêu vũ, những lúc ấy nàng tựa một con thuyền mảnh mai xinh đẹp, lặng lẽ, lướt qua một bày con rối và tranh biếm học; thỉnh thoảng nàng mỉm cười với tôi.
Cơn buồn nhủ của câc hộp đêm lướt qau những bàn tay vàng xỉn của nó trên những búc tường và những gương mặt. Âm nhạc như vọng lên từ dưới một ngôi nhà tầng bằng kính. Gã hói uống cà phê. ả có đôi bàn tay thằn lằn nhìn trân trân về phía trước. Broier mua của một cô nàng bán hoa mệt mỏi bó hồng đem chia cho Pat và hai ả đàn bà. Trên những nụ hoa hé nỏ, lóng lánh những giọt nước nhỏ trong veo – Chúng mình cùng nhảy với nhau một bài đi anh – Pat bảo với tôi.
Không – tôi nói, chạnh nghĩ đến những bàn tay đã động tới nàng hôm nay – không – và cảm thấy mình khá lố bịch, khốn khổ.
Kìa anh – nàng nói, mắt tối sầm lại.
Không – tôi đáp – không đâu, Pả.
Rồi rốt cuộc chúng tôi ra về - tôi trở anh về nhà – Broier bảo tôi.
Được thôi.
Gã có một tấm chăn trong xe, bèn phủ lên đầu gối Pat. Trông nàng bỗng hết sức xanh xao, mệt mỏi. khi chia tay, ả đàn bà trong tiệm dúi vào tay tôi một manh giấy. tôi bơ đi như không, và lên xe. Suốt dọc đường, tôi ngó ra cửa xe. Pat ngồi nép trong góc, không nhúch nhích. Tôi không nghe cả tiếng nàng thở. Broier đưa xe về nhà nàng trước tiên. Gã biết nhà nàng, chẳng cần hỏi. Nàng xuống xe, Broier hôn tay nàng – tạm biệt – tôi nói, mắt không nhìn nàng.
Tôi có thể để anh xuống đâu đây? – Broier hỏi.
Ở ngã tư sau – tôi nói.
Tôi rất muốn đưa anh về tận nhà – gã trả lời có phần quá hấp tấp và lịch sự.
Gã muốn ngăn tôi trở lại với nàng. Tôi tự hỏi có nên cho gã một cú lăn quay không. Nhưng thôi kệ xác gã – Hay lắm, vậy anh cho tôi tới tiệm Fretdi – tôi nói.
Giờ này mà anh còn vào đó sao? Gã hỏi.
Anh lo cho như thế thật quý hóa – tôi nói – nhưng xin cứ yên trí rằng tôi còn lọt khắp vào mọi chốn ấy chứ.
Nói xong, tôi thấy thương gã. Suốt tối vừa rồi hẳn gã tự cho mình xử sự rất tuyệt và láu cá.
Tôi chia tay gã, ân cần hơn khi chia tay Pat.
***
Trong tiệm vẫn còn khá đông, Lenz và Ferdinan Grau đang chơi bài poker với chủ xưởng may Bonvis và vài tay nữa. – Ngồi vào bàn đi – Gotfrit nói – hôm nay gặp vận poker đấy.
Xin kiếu – tôi đáp.
Nhìn đây này – cậu ta nói, tay trỏ vào một tệp tiền – Không gian lận nhé. Những bộ đồng chất cứ là rơi xuống từ trên trời.
Được – tôi nói – đưa bài đây.
Tôi tráo hai con K, tuồn bốn con J ra cửa sổ.
Thế đấy! – tôi nói – Xem ra gian lận cũng gặp vận may.
Bao giờ chả thế - Ferdinan tán đồng, gẩy sang cho tôi một điếu thuốc. Tôi không định ngồi lại lâu. Vậy mà giờ đây tôi cảm thấy vững tin hơn. Tôi cũng chẳng vui vẻ gì lắm, nhưng đây là tổ ấm cũ chân thật của tôi – Mang lại cho tôi nửa chai rum nhé – tôi gọi Fret.
Pha thêm vang Bồ Đào nha vào – Lenz nói.
Không – tôi nói – Đây không có thời gian dành cho những thí nghiệm. đang muốn nốc say đây.
Thế thì hãy dùng những thứ rượu ngọt ấy. Vừa cãi cọ nhau hả?
Vớ vẩn.
Khỏi nhiều lời bé yêu. Chớ có búa bố già Lenz này, kẻ thông tỏ mọi ngõ ngách của trái tim. Hãy nhận rằng phải và uống đi.
Người ta không thể cãi cọ với một phụ nữ. Nhiều lắm chỉ có thể tức giận với cô ấy thôi.
Vào lúc ba giờ đêm nay, những sự khác biệt ấy e rằng quá tinh tế. Mình từng cãi nhau tuốt, không trừ cô nào. Đã tới nước không buồn cãi nhau nữa, thì xem như cắt đứt đến nơi.
Hay lắm – tôi nói – Ai khao đây?
Cậu khao – Ferdinan Grau nói – Mình đoán cậu đang chán đời, Robby ạ. Cậu chớ để nỗi buồn ấy gặm nhấm cậu. Cuộc đời rực rỡ, nhưng không hoàn thiện hoàn mỹ. Vả lại, thay vì chán đời, cậu tháu cây bài cực nghệ. Hai con K một lúc thì thật là táo tợn.
Tôi đã chứng kiến một canh bạc, họ đặt bảy ngàn đồng franc Pháp cho hai cây K đấy. – Fret đứng bên quầy chõ sang góp chuyện.
Franc Thụy Sĩ hay franc Pháp? – Lenz hỏi.
Thụy Sĩ.
Phúc đời nhà cậu – Gotfrit bảo – Giá là franc Pháp thì cậu đừng hòng giải tán được cuộc đỏ đen ấy.
Chúng tôi chơi một giờ đồng hồ nữa. Tôi được kha khá tiền. Bonvis thua liên tục. Tôi uống, nhưng chỉ tổi chuốc lấy đau đầu. Vẫn chưa thấy đâu cơn say men mơ màng. Tất cả chỉ càng rõ nét hơn. Dạ dày tôi nóng ran.
Nào, thôi ngừng ở đây, chén cái gì đã – Lenz  nói.  Fret dọn cho cậu ta một chiếc bánh xangduych  và vài con cá sardin! Cất tiền đi, Robby.
Một ván nữa.
Được. vãn cuối cùng. Đặt tiền gấp đôi chứ?
Gấp đôi – những người khác nói.
Tôi rút một cách khá vô nghĩa ba lá bài sau khi đã có trên tay con mười nhép và con K. Đó là ba cây J, Q và A. thế là tôi được Bonvis, kẻ cầm trên tay bốn cây 8 và đang xướng vống lên số tiền cao tận trời. gã vừa chửi rủa vừa xỉa trả tôi cả đống tiền – Thấy chưa  Lenz nói – đã bảo vận may hôm nay đỏ ,à.
Chúng tôi lại ngồi bên quầy rượu. bonvis hỏi về chiếc Karl. Gã không sao quên được chuyện Koester đã cho chiếc xe thể thao của gã đo vãn. Gã vẫn tha thiết mua lại chiếc Karl – Đi mà hỏi Otto ấy – Lenz nói – Nhưng tôi tin rằng cậu ta thà bán phéng cho anh một bàn tay.
Để xem, để xem – Bonvis đáp.
Anh thì hiểu quái gì – Lenz nói – Anh, cái đồ con buôn của thế kỷ hai mươi – Ferdinan Grau phá lên cười. Fret phụ họa theo. Rốt cuộc cả lũ cùng cười. Nếu không cười cái thế kỷ hai mươi này thì chỉ còn nước bắn vào đầu. nhưng cũng chẳng thể cười lâu, bởi tình cảnh thực ra đáng để khóc – Cậu biết khiêu vũ chứ, Gotfrit? – tôi hỏi.
Dĩ nhiên. Mình từng là vũ sư kia mà. Cậu quên rồi à?
Quên… hãy mặc cho cậu ta quên – Ferdinan Grau nói – Quên chính là bí quyết của tuổi trẻ vĩnh viễn. Nhớ lắm chỉ tổ chóng già. Con người ta quên quá ít.
Đâu phải – Lenz nói – mà bao giờ cũng chỉ quên cái sai lầm.
Cậu bày cho mình được chứ? Tôi hỏi.
Khiêu vũ ấy à? Để một tối nào đó bé yêu ạ. Tất cả nỗi phiền muộn của cậu là ở đó, hả?
Phiền muộn gì đâu – tôi nói – Mình đau đầu.
Căn bệnh của thời đại chúng ta đấy, Robby – Ferdinan triết lý – Tốt nhất chúng ta sinh ra không có đầu.
Tôi còn ghé tiệm cà phê Quốc Tế. Alois vừa toan dọn hàng – Còn ai ở đây không? Tôi hỏi.
Roda.
Lại đây, cả ba ta làm một ly nữa.
Xong ngay.
Roda ngồi bên quầy, đang đan những chiếc tất len nhỏ cho chon gái ả. Ả khoe tôi các mẫu đan. ả cũng vừa đan xong một chiếc áo khoác xinh xinh. – Làm ăn ra sao? Tôi hỏi.
Mèng! Chả ma nào còn tiền.
Cô cầm tạm ít tiền của tôi chăng? Đây… đánh poker được đấy.
Tiền được bạc hóa ra tiền đặt cọc- Roda nói, nhổ vào đồng tiền, và nhét vào túi.
Alois đem ra ba cái ly, rồi khi Fritsi đến, lại mang một cái ly nữa.
Nghỉ thôi – sau đó gã nói – Mệt muốn chết rồi.
Gã tắt đèn. Chúng tôi ra về. roda chia tay bên cửa. Fritsti đeo lấy Alois. ả đi bên gã, tươi tỉnh, nhẹ nhàng. Đôi chân bẹt của Alois kéo lê giày trên đường lát đá. Tôi dừng lại, nhìn theo họ. tôi thấy Fritsi cuuis xuống gã bồi rượu gù lưng, bẩn thỉu và hôn gã. Gã hờ hững gạt ả ra. Và đột nhiên, tôi không biết sự thể diễn ra thế nào, đúng lúc tôi quay gót và đưa mắt nhìn lướt con phố vắng, những ngôi nhà cửa sổ tối om và bầu trời đêm lạnh lẽo thì nỗi nhớ Pat điên cuồng ập đến tôi như một cú đấm khiến tôi ngỡ mình loạng choạng. Tôi không hiểu hành vi và toàn bộ buổi tối hôm nay, không hiểu tí gì cả.
Tôi tựa mình vào một bức tường nhà, nhìn trân trân về phía trước. Tôi không hiểu vì sao mình đã xử sự như vậy. Tôi đã sa chân vào một cái gì đó, để nó xâu xé tôi, biến tôi thành gàn dở và bất công, quăng quật tôi và phá hủy  hết thảy những gì tôi đã nhọc công gây dựng. Tôi đứng đấy, khá là bất lực, chẳng biết nên làm gì. Về nhà thì tôi không muốn… về bây giờ cực hết chịu nổi. Cuối cùng, tôi sực nhớ hẳn Anfong vẫn còn mở quán. Tôi lại đấy. Tôi định ở lỳ đằng ấy cho tới sáng.
Anfont chẳng nói gì nhiều khi tôi đến. Bác thoáng nhìn tôi rồi lại tiếp tục đọc báo. Tôi ngồi xuống một chiếc bàn và thiu thiu ngủ. Ngoài hai chúng tôi, đây chẳng còn ai. Tôi nghĩ tới Pat. Lúc nào cũng lại tới Pat. Tôi nhớ lại hành vi cử chỉ của mình. Mọi chi tiết chợt tái hiện trong đầu tôi. Tất cả đều chống lại tôi. Chỉ mình tôi có lỗi. Tôi đã điên rồ. Tôi chăm chăm nhìn lên mặt bàn. Máu sôi lên trong đầu. Tôi nổi giận, tức mình, và hoàn toàn bất lực. Chính tôi, chỉ tôi thôi, đã làm hỏng tất cả.
Đột nhiên có tiếng thủy tinh vỡ cái choang. Tôi đã dùng hết sức dần cái ly vỡ. – Cúng là một cách giải trí – Anfont nói, đoạn đứng lên.
Bác khều những mảnh vỡ khỏi bàn tay tôi – Bác thứ lỗi – tôi nói- Giây lát đó tôi đã không suy nghĩ.
Bác đi lấy bông và băng dính – Tìm đến nhà thổ ấy – bác nói – như thế lại hơn.
Vâng – tôi đáp – Qua rồi mà. Chẳng qua là cơn giận.
Phải lấy tiêu khiển mà xua cơn giận chứ lại đi chuốc thêm bực tức vào người.
Bác nói đúng – tôi nói – nhưng làm thế được đâu phải dễ.
Tất cả là do luyện tập. Các cậu thì ai cũng chỉ hăng húc đầu xuyên tường. nhưng với năm tháng sẽ xịt dần thôi.
Bác đặt chiếc đĩa – “Nỗi khốn khổ” trích từ vở “Người hát rong” lên máy quay đĩa. Trời mau hửng sáng.
Tôi đi về nhà. Trước đó Anfont còn ấn cho tôi uống một ly tướng Feinet Branca. Giờ đây, tôi cảm thấy đầu đau như búa bổ. đường phố không còn bằng phẳng. hai vai nặng trĩu như đổ chì. Tôi quá mệt mỏi và chán ngán.
Tôi chậm chạp lần lên các bậc cầu thang tay thọc vào túi tìm chìa khóa. Bỗng tôi nghe trong bóng tối lờ mờ tiếng ai thở. Một cái gì trăng trắng, không rõ ràng, co ro ở bậc thang trên cùng. Tôi nhảy hai bậc liền – Pat… - tôi kêu lên sửng sốt – Pat… em làm gì ở đây thế?
Nàng cựa mình – Em nghĩ là mình vừa chợp mắt đi một lát…
Phải, nhưng cách nào mà em lại tới đây được cơ chứ?
Em có chìa khóa khu nhà của anh đấy thôi…
Anh không hổi chuyện đấy. ý anh là…- Cơn say tan biến, tôi nhìn những bậc thàng mòn vẹt, nhìn bức tường lở lói và chiếc áo ngân tuyến; đôi giày thanh tú sáng bóng…- ý anh là nói chung sao em lại ở đây…
Em cũng tự hỏi mình điều ấy suốt từ nãy tới giờ…
Nàng đứng dậy và vươn vai, làm như thể việc nàng ngồi ở đây, trên bậc thang, giữa đêm hôm khuya khoắt thế này, là điều hiển nhiên nhất trên đời. đoạn  nàng hít hít mũi – Giá Lenz ở đây anh ta sẽ nói … cô nhắc, rum, rượu anh đào và rượu apxin…
Thậm chí Fernet Branca hẳn hoi – tôi thú nhận, mãi tới tận bây giờ mới định thần, hiểu được tất cả.
Trời đất, Pat, em là một thiếu nữ tuyệt diệu biết bao, trong khi anh chỉ là một thằng ngốc đáng phỉ nhổ! – Tôi nâng bổng nàng lên, mở khóa cửa, và bế nàng đi dọc hành lang. Nàng nép vào ngực tôi, con diệc óng ánh bạc, con chim mỏi cánh, tôi ngoảnh mặt đi để nàng khỏi ngửi thấy hơi rượu, tôi cảm thấy nàng run rẩy mặc dù nàng đang mỉm cười. Tôi đặt nàng xuống một chiếc ghế bành, bật đèn và lấy cho nàng tấm chăn.
Phải chi anh linh cảm được, Pat… thay vì lang thnag đây đó và ngồi lỳ vô tích sự, có phải anh đã gọi điện cho em từ quán bác Anfont, đã huýt sao trước nhà em,.. và bởi không thấy em đáp lại, anh đã ngỡ rằng em không muốn…
Sau khi đưa em về nhà, sao anh không trở lại?
Thì thế, chính là anh cũng không hiểu…
Tốt hơn lầ rồi đây anh cho em cả chìa khóa buồng anh – nàng nói – như vậy em đỡ phải ở ngoài chờ anh.
Nàng mỉm cười, nhưng đôi môi run rẩy , thốt nhiên tôi hiểu việc nàng quay trở lại, chờ đợi và cái giọng can đảm, vui vẻ giờ đây nàng nói với tôi đã bắt nàng gắng sức ghê gớm…
Pat em… - tôi vội vã nói, hoàn toàn rối trí – Pat, chắc em đang lạnh run, em phải uống chút gì mới được, bãn nãy ở ngoài đường, anh thấy nhà Orlop còn sáng đèn, để anh chạy nhanh sang đấy, những người Nga lúc nào cũng sẵn trà, anh trở lại ngay… - tôi thấy người nóng bừng…- suốt đời anh sẽ không tha thứ cho mình chuyện này, tôi nói vọng từ cửa vào, rồi vội vã chạy đọc hành lang.
Orlop vẫn còn thức. ông ngồi trong góc buồng, trước tấm hình Đức Mẹ, một ngọn đèn nhỏ le lói, cặp mắt ông đỏ hoe, chiếc ấm samova nhỏ đang bốc hơi trên bàn.
Bác thứ lỗi – tôi nói – một sự tình cờ không định trước… bác làm ơn cho tôi xin chút trà nóng được không ạ?
Người Nga vốn quen với mọi sự tình cờ. Ông đưa tôi hai tách trà đường và xếp đầy một đĩa những chiếc bánh ngọt xinh xinh – Tôi rất vui được giúp anh – ông nói – chẳng biết tôi có nên… tôi thường lâm vào tình cảnh của anh bây giờ… chẳng biết tôi có nên đưa anh chút hạt cà phê… để nhá chơi…
Cám ơn bác – tôi nói – thật tình cảm ơn bác. Tôi rất thích hạt cà phê…
Nếu còn cần gì – ông nói, giây phút này phong thái của ông cực kỳ đáng mến – tôi còn thức lâu; tôi sẽ rất sung sướng được giúp anh…
Ra ngoài hành lang, tôi nhai vụn nhúm hạt cà phê trong mồm. Chúng sẽ đánh át mùi rượu. Ngồi bên ngọn đèn Pat đang thoa phấn. Tôi đứng lại giây lát bên ngưỡng cửa. Cảnh tượng nàng ngồi đó, mắt chăm chú vào chiếc gương nhỏ, tay cầm búp bông thoa phấn lên hai thái dương khiến tôi vô cùng xao xuyến.
Uống chút trà đi em – tôi nói – hãy còn nóng nguyên.
Nàng cầm lấy cái tách. Tôi nhìn nàng uống – Có quỷ mới biết đêm nay đã xảy ra chuyện gì, Pat ạ.
Thế mà em biết đấy – nàng đáp.
Vậy à? Anh thì không.
Mà biết cũng chẳng ích gì đâu, anh Robby. Chẳng gì anh cũng đã biết hơi quá nhiều, khó có thể thật sự hạnh phúc.
Có lẽ đúng thế - tôi nói – Nhưng không thể để anh ngày một hóa con nít kể từ khi biết em.
Sao lại không! Còn hơn là giả sử anh càng ngày càng lý trí hơn.
Cũng là một lý lẽ đấy – tôi  nói – Em là tài gỡ bí cho kẻ khác. Nhưng anh tin rằng rồi đâu sẽ vào đó cả - Nàng đặt cái tách lên bàn. Tôi ngả lưng xuống giường. Tôi cảm giác dường như mình vừa về đến nhà sau một cuộc hành  trình gian khổ.
Chim chóc bắt đầu hót líu lo. Bên ngoài nghe tiếng sập cửa. Đó là bà giữ trẻ Bender. Tôi nhìn đồng hồ. nửa giờ nữa Frida sẽ có mặt trong bếp, và chúng tôi sẽ không thể đi ra ngoài mà không bị nhìn thấy. Pat vẫn ngủ. nàng thở sâu, đều đều. Đánh thức nàng dậy lúc này thật đốn mạt quá. Nhưng tôi đành buộc lòng – Pat…
Nàng lẩm bẩm gì đó trong giấc ngủ - Pat em… - tôi  nguyền rủa tuốt tuột những căn buồng trọ trên thế gian… - Pat, tới giờ rồi. Em phải dậy mặc quần áo thôi.
Nàng mở choàng mắt và mỉm cười, vẫn ấm nóng bởi giấc ngủ, hệt như một đứa trẻ. Tôi cứ luôn ngạc nhiên về vẻ tươi tắn khi thức giấc này và rất yêu điểm đó của nàng. Tôi chẳng khi nào tươi tỉnh được khi ngủ dậy – Pat… bà Zalepski đang đánh răng rồi đấy.
Hôm nay em ở lại với anh…
Ở đây ư?
Vâng…
Tôi nhỏm dậy – Sáng kiến tuyệt vời… nhưng mà đồ của em là giày và áo dài dành cho buổi tối mà…
Thì em sẽ ở lại đến tối chứ sao…
Thế còn đằng nhà em?
Ta sẽ gọi điện, nói rằng em nghỉ đêm ở đâu đó.
Phải, ta sẽ gọi sau. Em đói rồi chứ?
Chưa.
Dẫu sao anh sẽ thó vài chiếc bánh mì con mới ra lò. Họ treo chúng ngoài kia, bên cửa vào hành lang. Còn vừa kịp thời gian.
Khi tôi trở lại, Pat đang đứng bên cửa sổ. nàng chỉ mang trên người mỗi đôi giày kim tuyến. Ánh sáng yếu ớt buổi sớm phủ lên vai nang như một tấm khăn voan – Chúng mình đã quên chuyện xảy ra hôm qua, phải không Pat? – tôi hỏi.
Nàng gật đầu, không quay người lại.
Đơn giản là chúng mình sẽ không nhập cuộc với đám đông nữa. Tình yêu chân chính không chịu được đám đông. Như thế chúng mình cũng tránh được cãi vã, ghen tuông. Quỷ tha ma bắt cái gã Broier và toàn xã hội đi cho rồi, phải không em?
Vâng – nàng nói – cả ả Marcovit nữa.
Marcovit à? Ai vậy?
Cái cô ả mà anh cùng ngồi bên quầy rượu trong tiệm Thác Nước ấy.
A ha – tôi nói, đột nhiên khá vui thích – aha, thì ra cô ả.
Tôi moi các túi của mình ra – Em trông này. Ít ra câu chuyện ấy cũng mang lại chút lợi ích. Anh đánh poker được cả đống tiền đây. Vì thế tối nay chúng mình lại đi chơi một cú, em nhé? Nhưng cú đi chơi ra trò, không có những kẻ khác. Coi như chúng mình đã quên họ, thế nào em?
Nàng gật.
Mặt trời nhô lên từ sau đám mái nhà của Nhà Công đoàn. Các ô kính cửa sổ bắt đầu lấp lóe. Mái tóc Pat đẫm ánh sáng và đôi vai nàng óng  ánh vàng – Em đã nói thế nào ấy nhỉ, tay Broier ấy làm gì? Ý anh hỏi hắn làm nghề gì?
Kiến trúc sư.
Kiến trúc sư à – tôi nói có phần cụt hứng, tôi những mong nàng đáp hắn chẳng là cái quái gì cả - hừ, kiến trúc sư, điều đó có nghĩa lý gì đâu, phải không, Pat?
Phải, anh yêu ạ.
Không có gì đặc biệt cả, hả?
Hoàn toàn không – Pat tin tưởng đáp, nàng quay người lại, cười – cái đó hoàn toàn chẳng có ý  nghĩa gì cả, chẳng là gì. Một thứ rác rưởi.
Còn căn buồng này, nó không quá thảm hại sao, Pat? Những người khác dĩ nhiên sống khá hơn…
Căn buông tuyệt vời – Pat cướp lời tôi – một căn buồng mê hồn, quả thật em chưa thấy căn buồng nào xinh đẹp hơn, anh yêu của em ạ.
Còn anh, Pat, anh có những nhược điểm của anh và chỉ là tay lái tắc xi quèn, nhưng…
Anh là người em yêu dấu, một anh chàng chuyên thó bánh mì con, một hũ rượu chìm, người tình đích thực chính là anh.
Nàng nhảy lại, ôm choàng lấy cổ tôi - Ồ chàng ngốc của em, được sống thật tuyệt biết bao.
Chỉ khi với em thôi, Pat ạ. Thật đấy!
Mặt trời nhô lên, tuyệt đẹp và rạng rỡ. Làn sương mỏng giăng trên đám bia mộ dưới kia trôi lững lờ. các ngọn cây đã ngập trong  ánh sáng. Khói cuồn cuộn bốc lên từ ống khói những ngôi nhà. Những tờ báo đầu tiên được rao bán. Chúng tôi nằm xuống tận hưởng giấc ngủ sớm mai, ngủ mà thức, giấc ngủ mơ màng đến tột đỉnh trong sự bay bổng tuyệt diệu, hơi thở quyện hơi thở. Sau đó, lúc chín giờ, tôi mạo danh ngài cố vấn cơ  mật Burkhard nói chuyện điện thoại với đích thân ông trung tá Erbot phon Haco trước, rồi mới gọi cho Lenz, để cậu ta thay tôi lái tắc xi buổi sáng.
Cậu ta lập tức ngắt lời tôi – Thôi nhiều lời mà làm gì, nhóc con, Gotfrit náy hiểu thấu mọi biến đổi trong trái tim con người đâu phải vô ích. Biết ngay mà. Chúc vui vẻ  hả, ông bạn vàng!
Câm mõm – tôi sung sướng nói. Tôi báo với bếp ăn là mình ốm, sẽ nằm đến trưa. Ba lần tôi phải chặn đứng cuộc tấn công sốt sắng của bà Zalepski mời mọc tôi nào trà mẫu thảo, nào aspirin, những dải băng. Rồi tôi lén đưa được Pat vào  buồng tắm, thế là yên.
 
(Còn tiếp)
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0

Chương XX
Tháng tám ấm áp và sáng sủa, sang tháng chín tiết trời vẫn gần như mùa hè… nhưng rồi tới cuối tháng chín trời bắt đầu đổ mưa, ngày này qua ngày khác mây giăng nặng trĩu trên thành phố, các mái nhà ướt đẫm, giông tố nổi lên. Một tinh mơ chủ nhật nọ, khi thức dậy ra đứng bên cửa sổ, tôi nhìn thấy những vết loang lổ màu vàng đục trên các tán lá trong khu nghĩa trang, thấy những cành cây trơ trụi đầu tiên.
Tôi đứng hồi lâu bên cửa sổ. Những tháng qua, kể  từ dạo hai đứa đi biển về, có cái gì thật lạ lùng…Không bao giờ, không giờ khắc nào, tôi quên rằng sang thu Pat phải ra đi, nhưng tôi biết điều đó cũng như người ta biết nhiều điều: rằng năm tháng cuốn trôi, rằng ai cũng sẽ già, rằng chẳng ai có thể sống mãi. Hiện tại đã mạnh hơn, nó thường xuyên gạt mọi ý nghĩ vớ vẩn sang bên, và chừng nào Pat còn đó, chừng nào cây cối còn phủ đầy lá xanh, thì những từ ngữ như “thu”, “ra đi”, “ly biệt” chẳng khác là gì ngoài những bóng sáng mờ nhạt nơi chân trời khiến tôi càng cảm nhận sâu sắc hơn cái hạnh phúc được ở gần nàng, quấn quýt bên nàng.
Tôi nhìn xuống khu nghĩa trang bị gió mưa quần cho tơi tả, ướt sũng, nhìn những bia mộ phủ đầy lá cây nâu bẩn. Sương mù như một con thú trắng nhợt suốt đêm qua đã hút kiệt nhựa xanh của đám lá cây giờ đây héo úa, ủ rũ treo mình trên các cành, mỗi cơn gió thốc qua lại giật lìa một loạt lá mới, thổi chúng bạt về phía trước… Và như một cơn đau dữ dội, cào xé, lần đầu tiên tôi đột nhiên cảm thấy cuộc chia ly đã tới gần, rằng nó sẽ trở thành hiện thực, cũng như mùa thu vừa trườn vào qua các ngọn cây ngoài kia, để lại những vết hoen vàng.
Tôi lắng tai nghe ngóng phòng bên cạnh. Pat vẫn ngủ. Tôi đi ra cửa, đứng đó một lát. Nàng ngủ yên không ho hắng gì. Một niềm hy vọng bất chợt xâm chiếm tôi trong khoảnh khắc….Tôi tưởng tượng hôm nay hoặc ngày mai Jaffe sẽ gọi điện bảo tôi rằng nàng chẳng cần đi nữa…, nhưng rồi tôi nhớ lại tiếng khò khè khe khẽ trong hơi thở của nàng đêm đêm, cái tiếng ran đùng đục đều đặn ấy, nó nổi lên, lắng xuống như tiếng một lưỡi cưa mỏng từ rất xa vọng lại… và niềm hy vọng tắt ngấm, cũng nhanh như khi bùng lên.
Tôi quay lại cửa sổ, đăm đăm nhìn ra trời mưa; đoạn ngồi vào bàn viết, bắt đầu đếm tiền. Tôi ước tính xem số tiền đó có thể đủ cho Pat trong bao lâu, nhưng chỉ thêm khổ não, tôi bèn khóa chúng lại.
Tôi nhìn đồng hồ. Bảy giờ kém. Cho tới lúc Pat dậy, tôi còn ít nhất hai tiếng. Tôi hối hả mặc quần áo để tranh thủ lượn một vòng xe hơi. Còn hơn là cứ một mình quanh quẩn trong buồng tối với những ý nghĩ vơ vẩn ấy.
Tôi đến xưởng lấy xe, rồi lái xe chạy chầm chậm qua các phố. Ngoài đường loang loáng bóng người. Trong các xóm thợ, những dãy nhà cho thuê dài dặc đứng trơ trụi, buồn tẻ trong mưa như những ả điếm già rầu rĩ. Mặt tiền các nhà lở lói, bẩn thỉu, các ô cửa sổ ủ dột nhấp nháy chán chường trong buổi sớm mai, và lớp vữa rụng lả tả phơi ra các mảng tường chi chít những lỗ nâu vàng sâu hoắm, như thể bị sâu đục.
Tôi cho xe xuyên qua khu phố cổ, chạy lại nhà thờ. Tới trước cửa ngách, tôi đỗ lại, xuống xe. Từ sau cánh cửa gỗ sồi nặng nề vẳng ra tiếng  đàn ooc ngân nga. Lúc này đúng là giờ hành lễ misa buổi sáng, nghe tiếng đàn thì biết cuộc lễ vừa mới bắt đầu… Ít nhất phải hai mươi phút nữa mới kết thúc, và mọi người mới đổ ra ngoài.
Tôi đi vào khu vườn có cây thánh giá. Cả khu vườn chìm trong ánh sáng xám nhờ. Những bụi hồng ướt đẫm nước mưa, nhưng phần lớn vẫn đâm hoa. Áo mưa của tôi khá rộng thành thử có thể giấu kín những cành hồng vừa cắt. Mặc dù đang là sáng chủ nhật, không một bóng người qua lại. Tôi ôm những cành hồng đầu tiên ra xe không gặp chút trở ngại nào, đoạn trở lại lấy ôm thứ hai. Tôi vừa kịp giấu nó vào vạt áo mưa thì nghe tiếng bước chân ai trên con đường vườn. Kẹp chặt ôm hồng trong tay, tôi đứng sững  trước một trong những bức phù điêu họa bài kinh roze, như thể đang cầu nguyện.
Tiếng bước chân đến gần, nhưng không đi qua mà dừng lại. Tôi cảm thấy bức bối. Tôi đắm mình vào bức phù điêu, làm dấu thánh, rồi thong thả đi sang bức khác xa con đường hơn. Bước chân theo tôi và lại dừng lại. Tôi không biết nên làm gì. Đi tiếp ngay thì không thể được, tôi phải đứng im ít nhất đủ để đọc mười lần bài kinh Kinh mừng Đức Mẹ và một lần bài kinh Lạy Cha… nếu không tôi sẽ lập tức bị lộ tẩy. Cứ đứng thế, tôi ngoái lại nhìn để xác định cái gì đang diễn ra, thận trọng, với một vẻ mặt làm ra vẻ khó chịu, như thể bị quấy rầy trong khi đang mê mải trong đức tin.
Nhìn vào gương mặt tròn trịa, niềm nở của người mục sư, tôi thở phào. Tôi tin rằng mình đã thoát, bởi tôi biết ông sẽ không phá rối mình trong lúc cầu nguyện… vừa hay tôi nhận ra mình đã rủi ro bước tới đúng bức phù điêu cuối cùng. Dù có cầu kinh dềnh dàng đến đâu, vài phút nữa tôi cũng phải xong, và đó hình như chính là điều ông mục sư đang đợi. Cứ tiếp tục vờ vịt thế này chẳng ích gì, tôi bèn thản nhiên thong thả đi về phía lối ra.
Chào con – vị linh mục nói – Sáng danh Jesu Krit!
Đời đời, amen! – tôi đáp. Đó là lời chào nơi đất thánh của những người Thiên Chúa Giáo.
Giờ này đã có người tới đây quả hiếm thấy – ông niềm nở nói và nhìn tôi với cặp mắt xanh trong sáng như mắt trẻ thơ.
Tôi lúng búng không ra câu trong mồm.
Tiếc rằng điều này càng ngày càng hiếm – ông tiếp tục vẻ phiền muộn – Đặc biệt hầu như không còn thấy đàn ông đến cầu nguyện nơi đây. Vì vậy Cha sung sướng về con, chuyện trò cùng con. Hẳn con có điều gì khẩn cầu bức thiết nên mới tới đây từ lúc tinh mơ, giữa tiết mưa gió này…
Chính thế, cầu cho ông đi đi, tôi nghĩ và gật đầu nhẹ nhõm. Tới lúc này hình như ông vẫn chưa mảy may phát hiện ra bó hoa. Điều cốt từ là phải nhanh chóng thoát khỏi ông trước khi ông kịp để ý.
Ông lại mỉm cười với tôi:
Cha sắp đọc bài kinh misa. Cha sẽ gắn điều con khẩn cầu vào lời cầu nguyện của Cha.
Con muốn sự cứu rỗi linh hồn cho một kẻ quá cố chăng?
Cám ơn Cha – tôi đáp, ngạc nhiên xen lẫn bối rối.
Một khoảnh khắc, tôi ngó ông đăm đăm, những cành hoa trong lần áo mưa bắt đầu tụt dần. – Không phải thế, thưa Cha – tôi vội vã nói, cánh tay khép chặt vạt áo mưa.
Cặp mắt trong sáng của ông nhìn thẳng vào mặt tôi với vẻ dò hỏi hồn nhiên. Hình như ông chờ tôi bộc bạch nỗi niềm riêng. Nhưng tôi không nghĩ ra chuyện gì, vả lại cũng chẳng muốn lừa dối ông hơn mức cần thiết. Vì thế tôi im lặng.
Vậy Cha sẽ cầu Chúa cứu vớt một con người vô danh đang trong cảnh khốn khó – cuối cùng ông bảo.
Xin vâng – tôi đáp – nếu ý Cha muốn thế. Xin vô cùng đội ơn Cha.
Ông mỉm cười xua tay – Con không cần phải cám ơn Cha. Tất thảy chúng ta đều ở trong tay Chúa. – Ông nhìn tôi thêm lát nữa, đầu hơi cúi nghiêng về phía trước, tôi cảm giác như có cái gì đó thoáng lướt trên nét mặt ông – Con hãy tin – ông nói – Cha ở trên trời luôn ra tay cứu vớt. Bao giờ Người cũng cứu vớt, cho dù đôi khi chúng ta không hiểu điều đó – Đoạn ông gật đầu chào tôi và quay gót.
Tôi nhìn theo vị linh mục cho tới khi nghe tiếng cánh cửa sập lại sau lưng ông. Phải, tôi nghĩ, giá cứ đơn giản được như thế! Người cứu vớt, luôn luôn cứu vớt! Nhưng phải chăng Người đã cứu vớt Bernard Vido khi cậu ấy nằm gào thét trong rừng Houthonste với một viên đạn xuyên thủng bụng, phải chăng Người đã cứu vớt Katsinsky khi anh ấy ngã xuống ở Handzemo, bỏ lại chị vợ ốm yếu và đứa con chưa một lần thấy mặt, Người đã cứu vớt Muynler, Leo và Kemmerich chăng, đã cứu vớt cậu Fridoman bé nhỏ và Juyrgens và Becghe và hàng triệu triệu người chăng? Mẹ kiếp, đã có quá nhiều máu chảy trên thế gian này vì cái dạng đức tin như tin vào Cha ở trên trời này!
***
Tôi đưa hoa về nhà, đoạn đánh xe trở lại xưởng rồi đi bộ về. Từ bếp đưa ra mùi cà phê mới pha thơm phức và tiếng ả Frida khua nồi xong xủng xoảng. Kể cũng lạ, nhưng mùi cà phê khiến tôi vui hẳn lên. Tôi đã nghiệm thấy điều này từ thời chiến tranh… Không khi nào cái an ủi ta lại là những thứ lớn lao… bao giờ cũng là những thứ nhỏ nhặt, không đáng kể.
Tôi vừa khóa cửa hành lang thì Hasso từ buồng chạy xộc ra. Mặt ông vàng bủng, sưng húp, cặp mắt thao láo đỏ ngầu, trông ông cứ như là đã mặc  nguyên quần áo như thế mà ngủ. Thấy tôi, nét mặt ông để lộ nỗi thất vọng khôn tả.
À, thì ra là anh – ông lẩm bẩm.
Tôi sửng sốt nhìn ông – Mới sớm thế mà bác đã chờ ai à?
Phải – ông khẽ nói – bà nhà tôi, bà ấy vẫn chưa về. Anh có thấy bà ấy đâu không?
Tôi lắc đầu – Tôi ra ngoài có một tiếng thôi mà.
Ông gật - Ấy là tôi nghĩ thế… biết đâu anh lại chẳng trông thấy bà ấy.
Tôi nhún vai – Có thể lát nữa bác gái sẽ về. Bác không thử gọi điện hỏi à?
Ông nhìn tôi vẻ hơi sợ sệt – Tối qua bà ấy đến chỗ người quen. Tôi không biết đích xác họ ở đâu.
Vậy bác biết tên họ chứ? Ta vẫn có thể hỏi số điện thoại ở tổng đài.
Tôi đã thử hỏi rồi. Tổng đài không biết cái tên ấy.
Ánh mắt ông như ánh mắt một con chó bị đòn. – Bao giờ bà ấy cũng kín tiếng về đám người ấy, động hỏi đến là bà ấy lập tức cáu kỉnh. Đành thôi vậy. Tôi mừng vì bà ấy có chỗ giao du. Bà ấy luôn mồm kêu ca rằng dễ thường tôi không cho phép bà ấy đến cả việc kết bạn kết bè.
Có lẽ bác gái sắp về - tôi nói – Thậm chí tôi chắc bác ấy về bây giờ. Để đề phòng, bác đã gọi điện đến các trạm cấp cứu tai nạn và cảnh sát rồi chứ?
Ông gật – Đã gọi đủ. Họ chẳng biết gì cả.
Bác thấy chưa – tôi nói – Vậy thì việc gì bác đã cuống lên. Biết đâu tối qua bác gái chẳng mệt mỏi sao đó nên ngủ lại. Chuyện ấy là thường. Có lẽ độ một hai tiếng nữa bác ấy về đến nhà.
Anh nghĩ vậy à?
Cánh cửa bếp mở, Frida xuất hiện với một cái khay.
Mang cho ai thế cô? – tôi hỏi.
Cho cô Honman - ả đáp, hơi cáu với cái cách tôi nhìn ả.
Cô ấy dậy rồi à?
Chứ sao nữa. – Frida ứng đối ngay – nếu chưa, cô ấy đã chẳng bấm chuông gọi bữa điểm tâm.
Chúa phù hộ cô, Frida – tôi nói – Sáng ra đôi lúc cô thật mát tính đấy. Cô vui lòng chịu khó pha cà phê cho tôi cả thể được không?
Ả càu nhàu gì đấy và đi tiếp, bộ mông đung đưa ra chiều khinh bỉ. Đó là biệt tài của ả. Ả là con người duy nhất tôi thấy có cái kiểu tỏ thái độ độc đáo đầy sức biểu cảm ấy.
Hasso vẫn đang đợi. Đột nhiên tôi thấy xấu hổ vì đã quay lưng đi để giờ đây lại thấy ông đứng cạnh mình, cam chịu và câm lặng – Chắc chắn chỉ một, hai tiếng nữa là bác hết lo thôi – Tôi nói, rồi chìa tay cho ông.
****
Ông không bắt tay tôi, mà nhìn tôi rất lạ - Ta không thể đi tìm bà ấy được sao? Ông khẽ nói.
Nhưng bác có biết bác gái đi đâu đâu.
Có lẽ vẫn có thể tìm được bà ấy – ông nhắc lại – Nếu như ta dùng chiếc xe của mình… cố nhiên tôi xin thanh toán sòng phẳng, - ông vội vã nói.
Vấn đề không phải là ở chỗ đó – tôi đáp – Có điều làm thế chẳng giải quyết được gì. Chúng ta biết đi đâu tìm cơ chứ? Vào giờ này bác gái đã làm gì ra phố mà tìm.
Tôi cũng chẳng biết tính sao – ông nói – vẫn khẽ như ban nãy – Tôi chỉ nghĩ ta có thể đi tìm bà ấy.
Frida quay lại với cái khay không – Giờ tôi phải đi – tôi nói – nhưng tôi cho rằng bác chỉ hay lo lắng không đâu. Tuy vậy, tôi sẵn lòng chiều ý bác nếu cô Honman không sắp sửa phải đi xa, hôm nay tôi muốn ngồi nhà cùng cô ấy. Có lẽ cô ấy chỉ còn ở đây được nốt chủ n hật này. Chắc bác thông cảm cho tôi chứ?
Ông gật.
Trông ông đứng đó mà thương, nhưng tôi nóng lòng muốn đến với Pat quá – Nếu bác vẫn cứ muốn đi ngay, bác có thể xuống đường gọi tắc xi – tôi tiếp – nhưng tôi khuyên bác không nên. Bác chịu khó đợi một lát thì hơn… để tôi gọi điện cho anh bạn Lenz của tôi, anh ta sẽ đi cùng đi tìm với bác.
Tôi có cảm giác ông không hề để tai nghe tôi – Sáng nay anh không trông thấy bà ấy sao? – bất chợt ông hỏi.
Không – tôi ngạc nhiên đáp – Nếu thấy tôi đã nói ngay với bác.
Ông lại gật đầu, và lơ đãng, chẳng nói chẳng rằng, ông trở vào phòng.
***
Pat đã sang phòng tôi và thấy đám hoa hồng. Nàng cười khi thấy tôi bước vào.- Robby – nàng nói – em khá là ngây thơ đấy chứ. Mãi vừa rồi Frida mới vạch cho em thấy hoa hồng tươi vào quãng tinh mơ chủ nhật thế này dứt khoát dính dáng tới chuyện trộm cắp. Cô ấy còn giải thích rằng loại hoa hồng này không hề có bán ở những hàng hoa quanh đây.
Em muốn nghĩ thế nào cũng được – tôi đáp – Miễn em vui vì có hoa là tốt rồi.
Còn vui hơn là bình thường kia, anh yêu ạ. Anh đã bất chấp nguy hiểm để đoạt lấy chúng mà lại!
Chà, nguy hiểm thì còn phải nói! – tôi nghĩ đến vị linh mục – Nhưng sao em dậy sớm thế?
Em không ngủ được nữa. vả lại, em còn nằm mộng. chẳng hay ho gì.
Tôi chăm chú nhìn nàng. Vẻ mặt nàng mệt mỏi, mắt thâm quầng. – Em bắt đầu mộng mị nhảm nhí từ bao giờ vậy? – tôi nói – Anh vẫn nghĩ cho đến nay chỉ riêng anh mới thế!
Nàng lắc đầu – Anh không thấy ngoài kia trời đã sang thu rồi sao?
Bọn anh gọi đó là tiết cuối hè – tôi đáp – Hoa hòng vẫn nở kia mà. Cái duy nhất anh thấy là trời mưa.
Trời mưa – nàng lặp lại – mưa dầm dề đã quá lâu, anh yêu ạ. Thỉnh thoảng tỉnh giấc giữa đêm, em ngỡ như mình bị chôn vùi dưới bấy nhiêu mưa.
Vậy ban đêm hãy sang với anh – tôi nói – Những ý nghĩ vớ vẩn ấy sẽ bay sạch khỏi đầu em ngay. Ngược lại, được kề bên nhau trong đêm tối khi trời đang mưa thú vị biết mấy.
Có lẽ thế - nàng đáp, ngả người vào tôi.
Anh thích những cơn mưa chủ nhật vô cùng – tôi nói – Ta sẽ cảm thấy rõ rệt hơn ta sung sướng đến thế nào.
Chúng mình ở cùng bên nhau, chúng mình có một căn phòng đẹp đẽ, ấm cúng và một ngày rảnh rỗi trước mặt… theo anh thế đã là nhiều lắm rồi.
Gương mặt nàng rạng rỡ lên – Vâng, chúng mình thật sung sướng, phải không anh?
Tuyệt vời là đằng khác. Hễ nhớ lại trước kia… Lạy Chúa! Anh không bao giờ dám nghĩ mình được hưởng hạnh phúc nhường này thêm lần nữa.
Nghe anh nói mà em ấm lòng. Em tin ngay từng lời. Anh hãy nói điều đó thường xuyên hơn.
Anh nói thế vẫn chưa đủ thường xuyên sao?
Chưa.
Có thể - tôi nói – Anh nghĩ mình không được dịu dàng lắm. Chẳng rõ tại sao, nhưng đơn giản là anh không thể. Mặc dù rất muốn.
Không cần thiết, anh yêu, anh thế này em cũng đã hiểu anh rồi. Dẫu vậy, thỉnh thoảng em vẫn muốn nghe những lời như anh vừa nói.
Từ giờ trở đi, anh sẽ luôn miệng lặp lại những điều ấy với em. Cho dù đôi khi anh cảm thấy nó ngớ ngẩn thế nào ấy.
Kìa, sao lại ngớ ngẩn – nàng đáp – Trong tình yêu không có gì là ngớ ngẩn cả.
Ơn Chúa mà lại như thế - tôi đáp – nếu không, con người ta đâm ra kỳ cục hết chỗ nói.
Chúng tôi cùng ăn điểm tâm, rồi Pat lên giường nằm, Jaffe đã dặn như vậy – Anh ở lại đây chứ?  - Nàng nằm trong chăn hỏi ra.
Nếu em muốn – tôi nói.
Đã đành rằng em muốn, nhưng anh không nhất thiết …
Tôi ngồi xuống giường với nàng – Ý anh không phải vậy. Có điều anh nhớ trước đây em không thích bị ai đó nhìn trong khi ngủ.
Trước kia, có thế thật… nhưng bây giờ đôi khi em thấy sợ phải ở một mình…
Có dạo anh cũng như em bây giờ - tôi nói – Đó là thời kỳ hậu phẫu trong viện quân y. Hồi đó anh rất sợ ngủ vào ban đêm. Anh luôn thức chong chong, đọc sách, hoặc nghĩ ngợi miên man, mãi tới lúc trời hửng mới ngủ thiếp đi. Nhưng tình trạng đó rồi qua ngay ấy mà.
Nàng úp mặt vào lòng bàn tay tôi. – Người ta sợ rằng mình sẽ thôi quay trở lại, anh Robby…
Phải – tôi nói – nhưng người ta trở lại và chuyện ấy qua đi. Thì em cứ trông anh đấy. Bao giờ người ta cũng trở lại… cho dù không đúng vào chỗ cũ.
Thì đó – nàng đáp, giọng đã ra chiều ngái ngủ, hai mắt lim dim – Em sợ cả điều ấy nữa. Nhưng anh sẽ trông chừng phải không anh?
Anh sẽ trông chừng – tôi nói, đoạn vuốt ve vầng trán và mái tóc dường như cũng mệt mỏi của nàng.
Nàng thở sâu hơn, hơi trở mình sang bên. Một phút sau, nàng đã ngủ say.
Tôi lại đến bên cửa sổ, nhìn ra trời mưa. Giờ đây dưới màn mưa xám xịt run rẩy bay ngang cửa sổ, ngôi nhà như một hòn đảo nhỏ bồng bềnh giữa vô tận mịt mù. Tôi cảm thấy lo sợ vì hiếm khi Pat tỏ ra yếu đuối và buồn bã vào buổi sáng. Nhưng rồi tôi lại nghĩ vài ngày trước đây nàng vẫn linh hoạt, tươi vui là thế, có thể lát  nữa thức giấc nàng lại thay đổi hẳn. Tôi biết nàng nghĩ ngợi nhiều về bệnh tình của nàng, và tôi cũng được Jaffe cho hay bệnh tình nàng chưa hề thuyên giảm… nhưng đời tôi đã chứng kiến nhiều chết chóc đến nỗi bất kỳ bệnh nào dưới con mắt tôi vẫn cứ là sự sống và hy vọng. Tôi biết người ta có thể chết vì một vết thương, về điểm này tôi có quá nhiều kinh nghiệm… nhưng cũng chính vì thế mà tôi thường khó tin nổi một căn bệnh, mà khi mắc nó rồi vẻ ngoài con người ta vẫn khỏe mạnh như thường, lại có thể nguy hiểm đến tính mạng. Nhờ cách nghĩ ấy mà bao giờ tôi cũng nhanh chóng rũ bỏ được những cơn buồn nản như vừa rồi.
***
Có tiếng gõ cửa. Tôi ra mở. Hasso đứng bên ngoài. Tôi đặt ngón tay trỏ lên miệng ra hiệu giữ yên lặng và bước ra hành lang.
Anh bỏ quá cho – ông lắp bắp.
Mời bác vào trong này – tôi nói và mở cửa phòng mình.
Hasso dừng lại trên ngưỡng cửa. mặt bác như tọp hẳn đi, trắng bệch – Tôi chỉ định nói với anh là ta khỏi cần đi tìm nữa – ông nói, môi hầu như không mấp máy.
Thì bác cứ vào đây đã – tôi đáp – cô Honman đang ngủ, tôi rỗi mà.
Ông cầm trên tay một lá thư, trông ông như kẻ vừa bị một phát đạn nhưng vẫn muốn tin đó chỉ là một cú huých nhẹ - Tốt nhất là anh tự đọc – ông nói và đưa tôi lá thư.
Bác đã dùng cà phê chưa? – tôi hỏi.
Ông lắc đầu – Xin anh đọc lá thư…
Vâng, nhưng khi tôi đọc, bác phải uống chút gì chứ….
Tôi bảo ả Frida pha cà phê. Đoạn tôi đọc lá thư. Đó là thư của bà Hasso, vỏn vẹn vài dòng. Bà báo với ông rằng bà muốn tận hưởng đời mình ít nhiều. Bởi vậy bà không quay về với ông nữa. Bà đã tìm được một người hiểu bà hơn Hasso. Ông chớ tìm bà phí công vô ích; bà đã nhất quyết dứt áo ra đi. Mà đó hẳn cũng là điều tốt nhất cho ông. Ông sẽ khỏi phải lo lắng phần thu nhập đủ hay thiếu. Bà đã đem theo một phần tư trang của mình, số còn lại dịp nào đó bà sẽ nhờ người đến lấy đi nốt.
Lá thư viết rõ ràng cụ thể. Tôi gập nó trao trả lại cho Hasso. Ông nhìn tôi như thể trăm sự tùy thuộc cả ở tôi. – Làm gì bây giờ anh? – ông hỏi.
Bác hãy uống nốt tách cà phê và ăn tạm chút gì đi đã – tôi nói – bây giờ mà chạy cuống lên và tự hủy hoại mình chẳng lợi ích gì đâu. Để rồi ta thử cân nhắc xem. Bác phải gắng sao cho thật bình tâm đã, khi ấy bác sẽ có quyết định đúng đắn nhất.
Ông ngoan ngoãn uống cạn tách cà phê. Tay ông run lẩy bẩy và ông không sao ăn nổi một miếng bánh. – Làm gì bây giờ? – Ông lặp lại.
Chẳng làm gì cả - tôi nói – Hãy chờ đợi.
Ông phác một cử chỉ không bằng lòng. – Chứ bác nhất định làm gì nào? – tôi hỏi.
Tôi không biết. Tôi không sao hiểu được.
Tôi im lặng. Biết nói gì với ông đây. Tôi chỉ có thể an ủi ông, còn hết thảy những việc khác phải do ông tự quyết định. Ông đã hết yêu vợ, có thể coi như vậy… nhưng ông quen có bà, và đối với một người kế toán, thói quen đó có khi còn mạnh hơn cả tình yêu.
Lát sau ông bắt đầu nói, những lời lẽ rối rắm chỉ chứng tỏ ông đang dao động dữ dội. rồi ông bắt đầu tự xỉ vả mình. Ông không buộc tội bà lấy một câu. Ông gắng tự lý giải rằng lỗi là ở ông.
Bác Hasso – tôi nói – bác nói vớ vẩn gì vậy. Trong những chuyện như thế này làm gì có tội hay vô tội. Bác gái đã bỏ mà đi chứ đâu phải bác ruồng rẫy vợ. Việc gì bác phải tự trách móc mình như thế!
Có đấy – ông đáp, mắt nhìn đăm đăm vào hai bàn tay – Tôi không cáng đáng được.
Bác bảo gì?
Tôi đã không cáng đáng được. Không đủ sức cáng đáng cũng là có tội.
Tôi sửng sốt nhìn vào cái thân hình bé nhỏ tội nghiệp lút trong chiếc ghế bành bọc nhung đỏ. – Bác Hasso – lát sau tôi bình tĩnh nói – Đó cùng lắm chỉ là một cái cớ, nhưng không phải tội. Vả lại cho đến nay bác vẫn cáng đáng được gia đình đấy thôi.
Ông lắc đầu lia lịa. – Không, không , tôi đã làm bà ấy phát điên lên với nỗi sợ mất việc triền miên của tôi. Mà tôi cũng có cáng đáng nổi đâu! Tôi đã chiều chuộng bà ấy được cái gì nào! Chẳng gì cả!...
Ông đắm chìm trong sự ủ ê câm lặng. tôi đứng dậy đi lấy chai cô nhắc. – Ta uống một chút – tôi nói – Vẫn chưa có gì mất mát cả.
Ông ngẩng lên.
Chưa có gì mất mát – tôi nhắc lại – Người ta chỉ  mất đi một con người khi người đó chết mà thôi.
Ông vội vã gật đầu và cầm lấy ly rượu. Nhưng rồi ông lại đặt ly xuống mà không hề nhấp môi – Hôm qua tôi đã được lên trưởng phòng – ông khẽ nói – Kế toán trưởng kiêm trưởng phòng. Ông Chánh văn phòng bảo tôi tối qua. Tôi được cất nhắc là vì những tháng vừa rồi tôi luôn làm thêm giờ. Người ta đã sát nhập hai phòng làm một. ông trưởng phòng kia bị sa thải. Tôi được ăn thêm năm chục đồng lương – Ông bất giác nhìn tôi tuyệt vọng – Anh nghĩ liệu bà ấy có ở lại nếu được biết sớm điều này không?
Không – tôi đáp.
Thêm được năm chục mác. Lẽ ra tôi có thể trao số tiền này cho bà ấy. Thế là bà ấy có thể sắm sửa chút đỉnh. Lại còn một ngàn hai trăm mác tôi gửi ở quỹ tiết kiệm nữa! Tôi đã dành dụm chúng làm gì chứ? Tôi muốn để một khoản cho bà ấy phòng khi chúng tôi lâm vào cảnh túng thiếu. Thế mà giờ bà ấy bỏ đi chỉ vì tôi đã ki cóp cho bà ấy.
Ông lại thẫn thờ  nhìn ra phía trước. – Bác Hasso – tôi nói – tôi thiết tưởng mọi việc ít liên quan đến nhau hơn bác nghĩ nhiều. Bác chớ nên dằn vặt mình làm gì. Với bác, điều cần nhất là vượt qua được mấy  ngày tới đây. Rồi bác sẽ biết rõ hơn là nên làm gì. Biết đâu tối nay hoặc sáng mai bác gái lại chẳng trở về. Cũng như bác, thế nào bác gái chẳng nghĩ lại.
Bà ấy không về đâu – ông đáp.
Bác làm sao biết được.
Giá như ai có thể nói với bà ấy rằng bây giờ lương tôi đã khá hơn, rằng chúng tôi sẽ đi nghỉ mát và làm một chuyến du lịch bằng số tiền tôi tiết kiệm được…
Rồi bác sẽ tự nói với bác gái tất cả những chuyện đó. Người ta đâu chia tay nhau chóng vánh như thế.
Tôi lấy làm lạ vì hầu như ông không nghĩ trong chuyện này còn có một người đàn ông nữa. Nhưng có lẽ ông chưa nghĩ được đến đó, ông chỉ mới biết rằng vợ mình bỏ đi, còn hết thảy những chuyện khác vẫn như một màn sương mù mờ mịt phía sau. Tôi rất muốn bảo ông rằng chưa chừng vài tuần nữa ông lại thấy mừng vì bà đã cuốn gói… nhưng nhìn vẻ ngây dại của ông, tôi hiểu nói thế là thô bạo không cần thiết. Trước một tình cảm bị tổn thương, sự thật bao giờ cũng thô bạo và hầu như quá sức chịu đựng.
Tôi còn trò chuyện với ông hồi lâu… cốt để ông trút vợi nỗi lòng. Nhưng chẳng có kết quả gì… ông cứ xoay người vò đầu bứt tai, tuy vậy tôi có cảm giác ông đã bình tĩnh hơn ít nhiều. Ông còn uống một ly cô nhắc. Rồi tôi nghe Pat gọi ở phòng bên.
Bác chờ cho một lát! – tôi nói, đoạn đứng dậy.
Vâng – ông đáp, ngoan như một chú bé ngoan ngoãn và cũng vội nhổm lên.
Bác cứ ở đây, chờ tôi quay lại ngay thôi.
Anh  bỏ lỗi cho…
Tôi trở lại tức thì mà – tôi nói, rồi sang phòng Pat.
Nàng ngồi thẳng  trên giường, trông tươi tắn và khỏe khoắn. – Em ngủ một giấc ngon tuyệt, Robby ạ! Chắc phải trưa rồi.
Em ngủ vừa đúng một tiếng – tôi nói và chìa đồng hồ cho nàng thấy.
Nàng nhìn kim chỉ giờ - thế càng hay, chúng mình càng tha hồ có thời gian bên nhau. Em dậy ngay đây.
Tốt lắm. Mười phút  nữa anh trở vào.
Anh có khách à?
Bác Hasso – tôi nói – nhưng không lâu đâu.
Tôi quay về buồng, nhưng Hasso đã đi khỏi. tôi mở cửa ngó ra hành lang, lối đi vắng ngắt. Tôi theo hành lang lại gõ cửa buồng ông. Ông không lên tiếng. Tôi mở cửa, thấy ông trước tủ. Vài ngăn kéo rút ra nằm chỏng chơ bên cạnh.
Bác Hasso – tôi nói – bác hãy uống một viên thuốc ngủ, rồi lên giường làm một giấc cho khuây đi đã. Lúc này bác xúc động quá đấy.
Ông chậm chạp quay sang tôi – Luôn luôn thui thủi, tối nào cũng vậy! Luôn luôn ngồi trơ trọi như hôm qua, anh thử nghĩ…
Tôi bảo ông rằng hoàn cảnh sẽ thay đổi, rằng thiên hạ thiếu gì những người tối tối vẫn ở nhà một  mình. Ông trả lời chẳng đâu vào đâu. Tôi bèn nhắc lại là ông nên đi ngủ, sự việc chưa chừng lại xoay ra ổn, có khi tối nay bà vợ đã thò mặt về nhà cũng nên. Ông gật đầu và chìa tay cho tôi.
Tối, tôi sẽ lại ghé bác – Tôi nói rồi quay ra. Nhẹ cả người.
***
Pat mở báo la liệt trước mặt – Sáng nay chúng mình đi bảo tàng được đấy, anh Robby nhỉ? – nàng đề nghị.
Đi bảo tàng ấy à?- tôi hỏi.
Vâng. Đang có triển lãm thảm Ba Tư. Chắc anh ít đi vào bảo tàng lắm.
Chưa hề! – tôi đáp – Anh biết làm gì ở đó.
Anh nói phải – nàng cười.
Không sao – Tôi đứng dậy – Mưa gió thế này bồi bổ kiến thức một chút cũng được.
Chúng tôi mặc quần áo rồi đi. Không khí ngoài trời thật tươi mát, đượm mùi lá cây và nước mưa. Khi đi ngang Tiệm Quốc Tế, qua cánh cửa mở, tôi thấy Roda ngồi bên quầy rượu. Trước mặt ả là tách socola. Hôm nay chủ nhật mà. Trên bàn có một gói nhỏ. Hình như sau đó ả sẽ đi thăm con như thường lệ. Lâu lắm tôi không lại tiệm Quốc Tế, tôi lấy làm lạ khi thấy Roda vẫn thản nhiên như ngày nào. Con người tôi đã thay đổi nhiều đến nỗi tôi cứ ngỡ như đâu đâu cũng phải khác trước.
Chúng tôi tới bảo tàng. Tôi cứ đinh ninh ở đây cả hai đứa sẽ khá yên ổn với nhau, nhưng cái đám đông chen chúc trước bảo tàng khiến tôi sửng sốt. Tôi hỏi người trông coi bảo tàng xem chuyện gì xảy ra.
Chuyện gì đâu, – ông đáp – những ngày mở cửa vào tự do bao giờ chả vậy.
Anh thấy chưa – Pat bảo – Còn có vô khối người quan tâm đến nghệ thuật đấy chứ.
Người trông coi bảo tàng đẩy chiếc mũ vải ra sau gáy.- Đâu phải vậy, thưa bà. Hầu hết bọn họ là những kẻ vô công rồi nghề. Ở đây ít ra họ cũng có cái để ngó.
Giải thích như vậy nghe lọt tai hơn. – tôi nói.
Giờ đã thấm vào đâu – người trông coi bảo tàng đáp. – Mùa đông mời ông bà đến xem thử! Mọi ngóc ngách cứ là chật cứng. Có sưởi mà lại.
Chúng tôi vào gian trưng bầy thảm. Đó là một gian phòng tĩnh mịch, hơi khuất nẻo. Qua các ô cửa sổ cao vòm có thể trông ra vườn, nơi sừng sững một cây ngô đồng. Cây ngô đồng vàng ruộm, đến ánh sáng trong phòng cũng vẫn ánh vàng.
Thảm đan đẹp lạ lùng. Có hai tấm dệt hình muông thú từ thế kỷ mười sáu, một số tấm Ispahan, vài tấm thảm tơ Ba Lan màu hồng riềm xanh lục. Thời gian và mặt trời đã phủ lên các tông màu của chúng cái màu xanh phơn phớt, khiến chúng chẳng khác gì những bức tranh phấn màu khổng lồ đượm vẻ thần tiên. Những tấm thảm cho gian phòng cái không khí phi thời gian và sự hài hòa mà các phòng tranh chẳng đời nào có nổi. Cửa sổ với đám lá vàng mùa thu của cây ngô đồng và bầu trời xám ngọc trông cũng tựa như một tấm thảm cổ.
Chúng tôi ngắm nghía hồi lâu, đoạn đi xem các phòng khác trong bảo tàng. Nãy giờ thiên hạ kéo đến mỗi lúc một đông. Lúc này có thể thấy rõ nơi đây quả thật không phải chỗ dành cho họ. Mặt mũi nhợt nhạt, áo quần sờn rách, hai tay chắp đít, họ dè dặt lang thang khắp các phòng, mắt để tận đâu đâu chứ chẳng ngó ngàng gì đến các tác phẩm hội họa thời Phục hưng hay các bức tượng cổ âm thầm bằng cẩm thạch. Nhiều người ngồi trên những chiếc ghế dài đỏ kê men các bức tường. Họ ngồi đó mệt mỏi, trong tư thế sẵn sàng nhổm phắt dậy khi có kẻ đến xua mình đi. có thể thấy họ coi những chiếc ghế đệm là cái gì ghê gớm lắm và không sao quan niệm được rằng mình có quyền ngồi lên đó mà không phải trả tiền. Họ đã quen chẳng được nhận không cái gì bao giờ.
Tất cả các phòng đều lặng lẽ; khách xem nườm nượp, thế mà nơi đây hầu như không nghe tiếng người, dẫu vậy tôi vẫn có cảm giác mình đang chứng kiến một cuộc vật lộn phi thường – cuộc vật lộn âm thầm của những con người bị đánh gục nhưng vẫn chưa chịu khuất phục. Bị đẩy ra khỏi các lĩnh vực công nghiệp, ước vọng, nghề nghiệp… giờ đây họ tìm đến lĩnh vực lặng lẽ của nghệ thuật để khỏi rơi vào trạng thái tê liệt, tuyệt vọng tại nhà của mình. Họ nghĩ đến bánh mì, lúc nào cũng thèm muốn bánh mì và việc làm; nhưng họ tới đây hòng lẩn tránh vài giờ những ý nghĩ của mình… Giữa những mái đầu La Mã sáng rực vẻ kiều diễm bất hủ của những pho tượng mỹ nhân Hy Lạp trắng muốt, họ nặng nề lê bước, với cặp vai xo chúi về phía trước của những con người không còn mục đích sống…, một sự tương phản gây chấn động, một bức tranh tuyệt vọng của những cái loài người đã có khả năng đạt được và không sao đạt được suốt hàng ngàn năm; đỉnh cao của các tác phẩm nghệ thuật vĩnh cửu, nhưng không một lần đủ bánh mì cho mỗi anh em đồng loại của mình.
***
Buổi chiều chúng tôi đi xem phim. Khi hai đứa ra khỏi rạp, trời đã quang mây. Bầu trời trong veo, xanh màu trái táo. Phố phường và các cửa hiệu đã lên đèn. Chúng tôi thủng thẳng về nhà, vừa đi vừa ngắm những ô kính bày hàng.
Tôi dừng chân trước những tấm kính sáng choang cửa một nhà hàng lớn chuyên bán đồ lông. Chiều về se se lạnh, trong gian hàng mẫu này những túm lông cáo bạc to sù và những chiếc măng tô ấm áp. Tôi nhìn Pat, nàng vẫn khoác chiếc áo lông ngắn và ăn vận quả thực quá phong phanh.
Giá đang là người hùng trong phim, anh sẽ vào chọn ngay cho em một chiếc măng tô. – tôi nói.
Nàng mỉm cười – Chiếc nào cơ?
Chiếc này! – tôi chỉ vào chiếc dày dặn nhất.
Nàng cười – Anh chọn sành đấy, Robby. Đó là thứ lông chồn vizon Canada đẹp tuyệt.
Em muốn cái áo ấy chứ?
Nàng nhìn tôi – Anh có biết một chiếc măng tô như vậy giá bao nhiêu không, anh yêu?
Không, – tôi nói – mà anh cũng chẳng muốn biết làm gì. Thà cứ để anh tưởng rằng anh có thể tặng em bất cứ thứ gì anh muốn. Tại sao chỉ có những kẻ khác mới làm được điều ấy?
Nàng nhìn tôi chăm chú – Nhưng em hoàn toàn không muốn có chiếc măng tô loại ấy, Robby ạ.
Sao lại không, – tôi đáp – nó sẽ thuộc về em! Không nói lôi thôi gì nữa. Mai ta sẽ cho người lại lấy.
Nàng mỉm cười – Cám ơn anh yêu – nàng nói và hôn tôi ngay trước phố - Còn bây giờ đến lượt anh – Nàng dừng lại trước một cửa hàng y phục nam giới. – Chiếc áo đuôi én này! Anh cần nó để sóng đôi với chiếc măng tô lông chồn vizon. Và chiếc mũ ống kia cũng sẽ về tay anh. Đội mũ ống vào không hiểu trông anh sẽ thế nào nhỉ?
Như một thằng cha  nạo ống khói – Tôi ngắm nghía chiếc áo đuôi én bạc. Nó được bày trong ô trưng hàng căng nền nhung xám. Tôi nhìn kỹ hơn lần nữa. Đây chính là cửa hàng mà dạo mùa xuân tôi đã ghé mua chiếc cà vạt sau bữa tôi đi chơi riêng với Pat lần đầu và say rượu bét nhè. Thốt nhiên tôi thấy có cái gì đó nghẹn trong cổ, không rõ tại sao. Dạo mùa xuân… khi ấy tôi chưa hề hay biết những gì sẽ diễn ra.
Tôi cầm bàn tay thon mảnh của Pat áp lên mà mình giây lát. – Em cần được sắm sửa thêm vài thứ nữa – đoạn tôi nói – một chiếc măng tô lông không thôi, khác nào một chiếc xe hơi thiếu động cơ. Hai ba chiếc áo khoác dài dạ hội…
Áo dài dạ hội – nàng lặp lại và dừng chân trước những ô kính đồ sộ - phải đấy, áo dài dạ hội… em bắt đầu cảm thấy khó lòng từ chối hơn….
Chúng tôi chọn ba chiếc áo dài tuyệt đẹp. Tôi thấy trò chơi này khiến Pat linh hoạt hẳn. Nàng hoàn toàn để tâm vào việc lựa chọn, bởi nàng rất mê áo dài dạ hội. Chúng tôi cũng chọn luôn những thứ đồng bộ với áo dài, và Pat càng thêm hăng say. Mắt nàng ngời sáng. Đứng bên nàng, nghe nàng ríu rít, tôi tự nhủ: thật khốn nạn khi ta yêu một người đàn bà mà ta lại nghèo. – Đi em! – cuối cùng tôi nói, vẻ chán chường tuyệt vọng – đã chót thì phải chét! – Tôi kéo nàng tới trước một cửa hiệu bán đồ trang sức – Kìa cái vòng đeo tay bằng ngọc lục bảo! Đi kèm với nó là hai chiếc nhẫn và đôi hoa tai! Không bàn luận lôi thôi gì nữa. Ngọc lục bảo là thứ đá quý thích hợp với em nhất.
Nếu thế anh phải nhận chiếc đồng hồ platin này, và cả những chiếc măng sét sơ mi bằng ngọc kia nữa.
Cả cửa hiệu này là của em! Anh không lấy gì nữa đâu đấy…
Nàng cười, nép người vào tôi thở dài – Đủ rồi, anh yêu, đủ rồi! Giờ ta chỉ cần sắm thêm vài chiếc va li rồi đi tới hãng du lịch, sau đó ta sắp đồ và khởi hành, rời bỏ thành phố này, mùa thu này, tiết mưa này.
Phải, tôi nghĩ, lạy Chúa, phải, và em sẽ mau lành! – Đi đâu nào? – tôi hỏi – Ai Cập nhé? Hay xa nữa? tận Ấn Độ và Trung Hoa?
Đến với mặt trời, anh yêu, đi đâu cũng được miễn là đến với mặt trời, đến với phương Nam và nắng ấm. Đến với những con đường trồng cọ, những tảng đá, những ngôi nhà trắng ven biển và những bụi dứa rừng. Nhưng khéo mà ở đó cũng mưa. Có lẽ mưa giăng khắp nơi khắp chốn.
Nếu thế ta lại tiếp tục cuộc hành trình. – tôi nói – kỳ đến chỗ nào hết gặp mưa mới thôi. Đi sâu vào miền nhiệt đới và biển Thái Bình Dương.
Chúng tôi đứng trước ô kính sáng trưng của hãng du lịch tuyến đường Hăm buôc – America. Chính giữa là mô hình một con tàu đang bập bềnh trên những làn sóng bằng bìa xanh, nổi lên sừng sững phía sau là ảnh những tòa nhà chọc trời ở Mahattan phóng cỡ lớn. Để quảng cáo, người ta còn treo những tấm bản đồ to tướng, sặc sỡ với những tuyến đường của hãng ô tô màu đỏ.
Chúng mình sẽ sang cả Mỹ - Pat nói – Sẽ đi Kentucky, Texas, New York, San Fransico và Hawai. Rồi tiếp tục vượt Nam Mỹ. Qua Mexico và kênh đào Panama đến Buenos Aires. Cuối cùng ghé Rio de Ranneiro rồi trở về.
Ừ…
Bnàng nhìn tôi rạng rỡ.
Anh chưa hề đặt chân đến đó – tôi nói – Hồi trước anh trót ba hoa với em.
Em biết – nàng đáp.
Em biết à?
Ô kìa, anh Robby! Cố nhiên là em biết. Em hiểu ngay.
Dạo đó anh khá là rồ rại. Hoang mang, ngu ngốc và rồ dại. Vì thế mà anh bịa chuyện.
Bây giờ thì sao?
Bây giờ còn tệ hơn – tôi  nói – Em đã thấy rồi còn gì. – tôi trỏ vào con tàu trong ô kính – Không đi được mới chó má chứ.
Nàng mỉm cười khoác tay tôi – Chà, anh yêu, sao chúng mình lại không giàu nhỉ? Chúng mình biết cách tiêu tiền ra trò đấy chứ! Trong khi vô khối kẻ giàu không biết làm gì hay ho hơn ngoài việc chúi mãi đầu vào văn phòng hay nhà băng của họ.
Thế họ mới giàu – tôi nói – Giá mình giàu, chắc chẳng giàu được lâu.
Em cũng nghĩ vậy. Chắc chắn mình sẽ để tiền bay đằng nào hết.
Biết đâu vì lo mất tiền mà mình chẳng dám hưởng chút gì. Thời buổi này, giàu có cũng là một cái nghề. Và là một nghề chẳng dễ dàng tí nào.
Bọn  nhà giàu đáng thương! – Pat nói – Vậy có lẽ tốt hơn là mình cứ tưởng tượng rằng mình đã từng giàu có nhưng vừa bị trắng tay. Đơn giản là anh mới bị phá sản trước đây một tuần và phải bán xới tất tật… nhà cửa, đống nữ trang của em, đoàn xe hơi của anh. Anh nghĩ sao?
Hợp thời hết chỗ nói – tôi đáp.
Nàng cười – Vậy ta đi thôi! Hai kẻ thất cơ lỡ vận chúng mình giờ đành lê bước về căn buồng trọ chật hẹp, để cùng nhau ôn lại những câu chuyện thời dĩ vãng vàng son.
Ý hay đấy.
Chúng tôi thong thả đi qua các đường phố ngập trong ánh chiều. Đèn bật mỗi lúc một dày hơn; khi đến bên nghĩa trang, nhìn xuyên bầu trời xanh đậm, chúng tôi thấy một chiếc máy bay bay ngang với những ô cửa sáng nhấp nháy. Trên bầu trời t rong trẻo, cao vòi vọi và cô độc, nó bay đơn chiếc và duyên dáng như một cánh chim thần thương nhớ đến từ một câu chuyện cổ xa xưa. Chúng tôi đứng lại trông theo cho tới khi chiếc máy bay mất hút.
Về nhà chưa đầy nửa giờ thì có tiếng gõ cửa buồng tôi. Bụng nghĩ chắc lại Hasso, tôi ra mở cửa.
Nhưng té ra là bà Zalepski, nét mặt hoảng hốt.
Anh lại đằng này nhanh lên – bà thì thào.
Có chuyện gì vậy?
Hasso.
Tôi nhìn bà, không hiểu. Bà nhún vai – Ông ta khóa trái cửa và không chịu lên tiếng.
Bà chờ cho một lát.
Tôi trở vào bảo Pat hãy nghỉ ngơi, tôi có chút việc cần bàn với Hasso.
Được rồi, anh Robby. Vả lại em cũng đã thấm mệt.
Tôi theo bà Zalepski về đầu kia hành lang. Trước cửa buồng Hasso tụ tập hầu hết khách trọ trong nhà.- Erna Boenich trong chiếc kimono thêu rồng sặc sỡ, mái tóc đỏ hoe; mới cách đây hai tuần cô ta còn óng ánh vàng xen bạch kim… Lão cố vấn kiểm kê mê chơi tem trong chiếc áo khoác mặc nhà cắt theo kiểu nhà binh… Orlop, xanh xao à bình thản, mới từ phòng trà về… George vừa nôn nóng đập cửa vừa ra sức gọi Hasso bằng cái giọng trầm trầm… và cuối cùng là Frida, mắt lác xệch vì hồi hộp, sợ hãi và tò mò.
Chú đập cửa bao lâu rồi, George?
Đã quá mười lăm phút – Frida mặt đỏ phừng phừng lập tức chõ mồm vào – Mà ông ấy ở trong buồng chứ đâu, suốt từ trưa hầu như ông ấy chẳng ló mặt ra đến ngoài, cứ thấy tiếng chân bách bộ liên tục, hết đầu này sang đầu kia buồng, thế rồi im ro…
Chìa khóa cắm ở mặt trong – George nói – Cửa khóa trái.
Tôi nhìn bà Zalepski. – ta phải thúc được chìa khóa rơi ra rồi mở khóa cửa. Bà còn chìa khác chứ?
Để tôi đi lấy chùm chìa khóa – Frida bỗng tỏ ra mẫn cán khác thường. – Có chìa vừa cũng nên.
Tôi hỏi xin một đoạn dây thép, thò vào lựa xoay chiếc chìa khóa về vị trí ban đầu, đoạn thúc nó ra khỏi ổ. Nó rơi đánh cạch xuống sàn nhà, bên trong cánh cửa. Frida rú lên, hai tay ôm mặt.
Cô xéo ra kia, càng xa càng tốt. – tôi bảo ả, đoạn thử chùm chìa khóa. Một chìa khớp. tôi xoay chìa và mở cửa. Căn buồng tối mờ mờ, thoạt nhìn chẳng thấy ai. Hai chiếc nệm giường anh ánh màu xám trắng, những chiếc ghế đứng trơ, cửa tủ đóng.
Ối ông ấy kìa! - Ả Frida bây giờ lại len vào, nhòm qua vai tôi rú lên. Cái hơi thở sặc mùi hành từ miệng ả phả ra rát cả mặt tôi – Trên cửa sổ ấy.
Không – Orlop vừa bước nhanh mấy bước vào buồng vội giật lùi. Ông đẩy tôi ra, nắm nắm đấm kéo sập cửa lại. Đoạn ông quay sang những người kia – Các vị nên lùi đi thì hơn. Cảnh tượng này nhìn vào có lẽ không lợi.
Ông nói từ tốn, bằng cái thứ tiếng Đức hơi nặng lơ lớ giọng Nga, và đứng án trước cửa.
Ôi lạy Chúa! – bà Zalepski lắp bắp lùi lại. Ngay Erna Boeinich cũng giật lùi mấy bước. Mỗi Frida là vẫn tìm cách để xoay nắm đấm cửa. Orlop xô ả ra – Quả thực tốt hơn là… - ông nhắc lại.
Này ông! – Lão cố vấn kiểm kê đột nhiên ưỡn ngực gầm lên – Ai cho ông cái quyền ấy! Một khi ông là người ngoại quốc!
Orlop thản nhiên nhìn lão – Ngoại quốc… - ông nói – Ngoại quốc… thì đã sao. Chẳng liên quan gì tới đây…
Chết rồi hở? – Frida xuýt xoa.
Bà Zalepski – tôi nói – tôi cũng cho rằng tốt hơn chỉ mình bà ở lại, và nếu cần, thêm bác Orlop và tôi.
Hãy gọi điện thoại ngay một bác sĩ – Orlop bảo.
George đã cầm sẵn ống nghe từ bao giờ. Tất cả diễn ra chưa dầy năm giây – Tôi ở lại! – Lão cố vấn kiểm kê tuyên bố, mặt đỏ gay – Là người Đức, tôi có quyền…
Orlop nhún vai và mở cửa. Đoạn ông bật công tắc điện. Các bà rú lên dạt ra đằng sau. Mặt tím ngắt, lưỡi đen bầm thè ra giữa hai hàm răng, Hasso treo lủng lẳng trên cửa sổ.
Cắt dây! – tôi kêu.
Vô ích – Orlop từ tốn nói, cứng cỏi và buồn bã – Tôi biết,… nhìn mặt thì rõ… chết phải vài tiếng rồi.
Ít nhất ta cũng thử cứu…
Tốt hết là đừng… hãy mời cảnh sát tới đã.
Đúng lúc đó chuông reo. Tay bác sĩ sống ở nhà bên sang. Anh ta chỉ đảo mắt ngó qua cái thân hình gày còm đầu rũ gục ấy – Vô phương cứu chữa – anh ta nói – Dẫu vậy, vẫn phải làm hô hấp nhân tạo. Hãy gọi điện báo cảnh sát ngay và cho tôi xin một con dao.
Hasso treo cổ bằng một chiếc dây lụa hồng bện khá dày. Đó là dây đai áo choàng mặc nhà của vợ ông, ông đã khéo léo cột chặt nó vào một cái móc phía trên cửa sổ. sợi dây được miết thêm một lớp xà phòng. Hẳn ông đã trèo lên bậu cửa rồi từ đó buông mình xuống. Hai tay ông nắm chặt, bộ mặt trông hết sức ghê sợ. Lúc này mà để ý điều này kể cũng kỳ, nhưng tôi chợt nhận thấy bộ quần áo ông đang mặc trên người không phải bộ ban sáng. Đó là một bộ comple bằng sợi len se màu xanh lơ, bộ diện nhất  của ông mà tôi biết. ông cũng đã cạo râu và thay quần lót. Trên bàn, xếp cạnh nhau – ngăn nắp tới mức tỉ mẩn – là tấm hộ chiếu của ông, một cuốn sổ tiết kiệm, bốn tờ một chục mác và ít xu lẻ. cạnh nữa là hai bức thư, một gửi cho vợ, một gửi cho cảnh sát. Bên cạnh thư gửi vợ còn có một hộp thuốc lá bằng bạc và chiếc nhẫn cưới của ông.
Hẳn ông phải suy nghĩ rất lung và sắp đặt mọi chuyện từ trước, bởi căn phòng được dọn dẹp sạch sẽ tinh tươm; khi xem xét kỹ hơn, chúng tôi còn tìm thấy trên nóc tủ ngăn một ít tiền và một mảnh giấy đề: Khoản tiền nhà còn thiếu tháng này. Để riêng món tiền này ra, dường như ông muốn tỏ rõ cái chết của mình không ảnh hưởng gì đến việc trả tiền nhà.
Chuông gọi cửa, hai vị nhân viên nhà nước mặc thường phục đến. Anh bác sĩ, lúc này đã hạ người chết xuống, đứng dậy – Chết rồi – anh ta nói – tự sát, không nghi ngờ gì nữa.
Hai vị nhân viên nhà nước chẳng nói chẳng rằng. Sau khi khép cửa lại, họ chăm chú quan sát khắp căn buồng. Họ lôi từ ngăn tủ ra vài lá thư rồi so nét chữ với những bức thư đặt trên bàn… Người trẻ hơn trong hai vị gật đầu.
Có ai biết nguyên nhân không?
Tôi bèn thuật lại những gì mình biết. Anh ta lại gật đầu và ghi địa chỉ của tôi – Cho xác ông ấy đi được rồi chứ ạ? – anh bác sĩ hỏi.
Tôi đã gọi xe cứu thương của Hội từ thiện rồi – anh nhân viên trẻ hơn nói – Xe đến bây giờ đấy.
Chúng tôi chờ đợi. trong phòng lặng lẽ. anh bác sĩ quỳ xuống bên Hasso. Anh ta đã cởi tung quần áo của kẻ xấu số và dùng một chiếc khăn tay xát đi xát lại ngực ông, cố làm những động tác cấp cứu hồi sức. Người ta chỉ nghe tiếng không khí khọt khẹt vào ra hai lá phổi đã chết.
Người thứ mười hai tự sát trong tuần – vị nhân viên trẻ nói.
Cũng cùng nguyên nhân này chăng? – tôi hỏi.
Không. Hầu hết vì thất nghiệp. Hai gia đình tự sát liền, trong đó có một gia đình có ba đứa trẻ. Tất nhiên bằng khí đốt. Tự tử cả gia đình hầu như toàn dùng khí đốt.
Những người tải thương mang cáng đến. Frida theo bén gót họ, lẻn vào. Ả nhìn chằm chặp cái thân hình khốn khổ của Hasso, cứ như thèm lắm. Mặt ả nổi những mảng đỏ, nhễ nhại – Cô muốn gì ở đây? – vị nhân viên đứng tuổi hỏi độp.
Ả lùi lại – Tôi cũng phải khai với chứ - ả ấp úng.
Đi ra! – ông ta ra lệnh.
Những người tải thương phủ lên Hasso một tấm vải, khiêng ông đi. Rồi hai vị nhân viên nhà nước cũng ra về. Họ mang theo các thứ giấy má – Ông ấy có giành riêng một khoản tiền cho việc mai táng – vị trẻ hơn nói – Chúng tôi sẽ chuyển đến cơ quan có trách nhiệm. Nếu bà vợ về, nhờ các vị nói hộ bà ấy đến gặp cảnh sát hình sự khu vực. Người chết đã di chúc lại cho vợ toàn bộ số tiền của mình. Còn những đồ đạc khác, tạm thời để lại đây được chứ?
Bà Zalepski gật đầu – Đằng nào buồng  này cũng cho thuê làm sao được nữa.
Tốt lắm.
Anh ta chào tạm biệt rồi đi. Chúng tôi cũng đi ra, Orlop khóa cửa buồng, trao chìa khóa cho bà Zalepski – Tốt nhất ta hạn chế xì xào chuyện này, ít bao nhiêu càng hay bấy nhiêu.
Tôi cũng nghĩ vậy – Bà Zalepski đồng tình.
Nhất là cô đấy, Frida – tôi thêm.
Frida choàng tỉnh khỏi cơn mơ màng. Mắt ả sáng lên. Ả không đáp.
Cô mà hé một câu với cô Honman, – tôi  nói – thì cứ giờ hồn!
Đây tự hiểu - ả cắm cảu – Quý cô tội nghiệp ốm yếu quá nghe không lợi.
Mắt ả thoáng tia đắc thắng. Tôi phải gắng kiềm chế để không cho ả vài cái bạt tai.
Ông Hasso đáng thương! – bà Zalepski than.
Hành lang tối om – Ông xử sự khá thô lỗ với ông bá tước Orlop đấy – tôi bảo lão cố vấn kiểm kê – Ông không định có vài lời xin lỗi ông ta sao?
Lão già trợn mắt nhìn tôi. Đoạn lão hét váng lên – Một người Đức không biết xin lỗi! lại càng không đời nào xin lỗi một thắng mọi Á! – rồi lão rập cánh cửa sau lưng đánh rầm.
Cái con sâu tem này làm sao vậy? – tôi ngạc nhiên hỏi – Lão vốn lúc nào cũng lành như cừu non kia mà.
Từ vài tháng nay, không cuộc họp tuyển cử nào mà lão không lui tới – George từ trong bóng tối đáp ra.
À ra thế!
Orlop và Erna Boenich đã bỏ đi. Bà Zalepski đột nhiên khóc thút thít – Xin bà chớ có đau buồn quá như thế - tôi nói – Đằng nào thì sự cũng đã rồi.
Khủng khiếp quá – bà thổn thức – Tôi đến phải dọn đi mất, tôi không sao quên nổi.
Bà sẽ quên thôi – tôi nói – Tôi từng chứng kiến hàng trăm xác chết như vậy. Đó là những người Anh bị sát hại bằng hơi ngạt. Rồi tôi cũng quên.
Tôi bắt tay George trở về buồng mình. Buồng tối bưng. Bất giác tôi nhìn về phía cửa sổ trước khi bật đèn. Đoạn tôi lắng tai nghe ngòng phòng Pat. Nàng ngủ. Tôi lại tủ lấy chai cô nhắc rót ra một ly. Thứ cô nhắc này ngon, may mà có nó lúc này. Tôi đặt chai lên bàn. Mới đây, Hasso còn uống rượu rót ra từ chính chai này. Tôi lại cảm thấy áy náy, nhưng không sao quở trách mình được. Tôi đã nhúng tay vào lắm việc tới mức tôi biết rằng: hoặc hết thảy những việc ta làm đều đáng trách, hoặc không nên tự trách một việc nào cả. Không may cho Hasso, sự việc lại xảy ra vào đúng chủ nhật. Giá vào ngày thường, có phải ông vẫn đến sở làm, và biết đâu đã vượt qua được.
Tôi uống thêm cô nhắc. Nghĩ ngợi nhiều chẳng ích gì. Ai biết được đủ mọi chuyện sắp xảy ra với chính mình. Không người nào lường được biết đâu sẽ có lúc anh ta lại cho cái kẻ mà giờ đây anh ta thương hại vẫn còn hạnh phúc chán.
Tôi nghe tiếng Pat trở mình, bèn sang buồng nàng. Nàng đưa mắt đón tôi.
Em tệ quá đi mất, Robby ạ - nàng nói – Chưa chi em đã lại ngủ say như chết.
Tốt chứ sao – tôi đáp.
Không – Nàng nằm sấp, khuỷu tay chống xuống giường – Em không muốn ngủ nhiều đến thế.
Sao lại không? Đôi khi anh muốn đánh một giấc dài năm chục năm.
Nhưng anh lại không muốn già đi năm chục tuổi!
Anh chẳng biết nữa. Bao giờ cũng phải chờ đến sau này mới nói chắc được.
Anh có vẻ buồn? – nàng hỏi.
Đâu nào – tôi nói – Ngược lại. Anh vừa quyết định là bọn mình sẽ diện bộ vào và đi làm một bữa chén ra trò. Toàn những món em mê nhé. Ngoài ra, chúng mình sẽ say sưa chút đỉnh.
Hay lắm – nàng đáp – cái này vẫn liên quan đến cuộc phá sản ghê gớm của chúng mình đấy chứ?
Ừ - tôi nói – Vẫn là phần tiếp diễn của câu chuyện ấy.
(Còn tiếp)
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-10-11 08:38:18dinhvantran>
Ba Người Bạn là tác phẩm tôi thích nhất của Remarque, mà thất lạc đã lâu, tìm mãi bây giờ mới thấy. Mừng quá nên copy về máy ngay, rồi ngồi đọc hết 20 chương một lúc. Những chương sau hơi nhiều lỗi typo, chắc gianghan bận quá nên bỏ sót. Tôi đã sửa lại rất cẩn thận 20 chương gianghan đã nhập xong - cả chính tả lẫn dấu chấm câu - và gửi đến gianghan thay cho lời cảm ơn. Bạn có thể download bản đã sửa dưới đây:

(deleted)

Format: .docx
Size: 416.82 KB

Khi nào có phần mới tôi sẽ sửa tiếp.
Đăng nhập để trả lời
0
Hôm nay rảnh, ngồi đọc lại 20 chương của Ba Người Bạn lần nữa, lại phát hiện ra một số lỗi typo. Nếu muốn, gianghan có thể download file đã sửa dưới đây:

http://www.megaupload.com/?d=KLXMTB5O
Đăng nhập để trả lời
0
Chương XIV

Một tuần sau lão thợ bánh đột ngột xuất hiện trong sân xưởng chúng tôi cùng chiếc Pho của lão – Ra xem thử, Robby – Lenz nói, mắt hằn học nhìn ra cửa sổ - cái thùng bánh mết gái ấy toan khiếu nại gì hẳn  thôi.
Lão thợ bánh trông đến là cau có – Xe trục trặc gì chăng? – tôi hỏi.
Lão lắc đầu – Trái lại, nó chạy cừ lắm. phải, bây giờ nó lại chạy tốt như mới.
Chính thế - tôi xác nhận và nhìn lão niềm nở hơn.
Số là…- lão nói, - số là… tôi muốn mua một chiếc xe khác, lớn hơn…- lão ngó quanh – Dạo trước các anh có một chiếc Cadilac cơ mà.
Trong nháy mắt, tôi hiểu rõ sự tình. Cái cô nàng tóc đen mà hiện lão đang chung sống đã làm lão mềm lòng. – Phải, chiếc Cadilac ấy – tôi nói, vẻ tán thưởng – giá như ngày đó ông thấy hết giá trị của nó! Một báu vật! chúng tôi đã đẩy nó lấy bảy ngàn mác. Nửa như biếu không!
Chà, biếu không…
Biếu không! Tôi nhấn giọng nhắc lại, bụng thầm tính nên làm gì – Tôi có thể hỏi thử - đoạn tôi nói – biết đâu cái nhà ông mua chiếc xe dạo ấy giờ lại đang cần tiền. Thời buổi này chuyện đó xảy ra chóng vánh lắm. ông chờ cho một lát.
Tôi vào xưởng, thuật lại nhanh chóng câu chuyện. Gotfrit nhảy cẫng lên – Các nhóc ơi, moi đâu ra thật nhanh một chiếc Cadilac cũ bây giờ đây?
Để mình lo – tôi nói – cậu liệu sao để lão thợ bánh đừng tút nửa chừng thì hơn.
Xong  ngay! Gotfrit biến mất.
Tôi gọi điện cho Blumenthan. Cũng chẳng có hy vọng mấy nỗi, song cứ thử xem sao. Lão già có mặt ở phòng giấy – Ngài có muốn nhượng lại chiếc Cadilac của ngài không? – tôi hỏi thẳng.
Blumenthan cười.
Tôi có khách cho ngài – tôi tiếp – xỉa ngay tiền mặt lên bàn.
Tiền mặt … - Blumenthan lên tiếng sau một thoáng suy nghĩ – vào thời buổi này, từ đó nghe mới thuần túy thi ca làm sao…
Tôi cũng nghĩ thế - tôi đáp, và đột nhiên hoạt bát hẳn lên.
Vậy ngài tính làm sao, ta bàn với n hau chuyện này được không?
Bàn thì lúc nào mà chẳng được – Blumenthan nói.
Hay lắm. Bao giờ tôi có thể gặp ngài?
Trưa nay, sau bữa ăn tôi rảnh. Ta hẹn hai giờ ở đây, trong văn phòng tôi.
Đồng ý.
Tôi gác máy – Otto – tôi kêu lên với Koester, khá là bồn chồn – mình đâu dám hy vọng được thế này, nhưng giờ thì mình tin thế nào cadilac của tụi mình cũng sẽ trở về!
Koester rời đám giấy má của mình – Thật không? Lão ta định bán chiếc xe? – Tôi gật, mắt nhìn ra cửa sổ, nơi Lenz đang sôi nổi trò chuyện với lão thợ bánh. – cậu ta làm hỏng bét cả - tôi lo lắng nói – luyên thuyên nhiều quá. Lão thợ bánh là một tay chúa đa nghi: chỉ thuyết phục được lão bằng cách im lặng. mình phải mau mau ra thế chân cái thằng Gotfrit mới xong!
Koester cười – May mắn nhé, Robby!
Tôi nháy mắt đáp lại, rồi đi ra. Nhưng tôi nghe thấy gì thế này – Gotfrit đâu vội tán dương chiếc Cadilac – cậu ta chỉ hăng hái mô tả cho lão thợ bánh cái cách thức nướng bánh bột ngô của dân Ấn Độ bên Nam Mỹ. tôi đưa mắt tán thưởng cậu ta, đoạn quay sang lão thợ bánh – Tiếc rằng ông ta không muốn nhượng…
Biết mà – Lenz nói ngay như thể hai thằng đã thông đồng trước.
Tôi nhún vai – Đáng tiếc… nhưng cũng dễ hiểu thôi…- lão thợ bánh đnưgs đó tần ngần. tôi nhìn Lenz.
Sao, cậu không cố thử lần nữa à? – Lenz lập tức hỏi.
Cố nhiên mình sẽ hỏi lại – tôi đáp – Chẳng gì thì mình cũng đã hẹn  với lão cuộc gặp trưa nay. Thế tôi biết tìm gặp ông ở đâu nhỉ? – tôi hỏi lão thợ bánh.
Bốn giờ chiều tôi có việc ở gần đây. Tôi sẽ ghé lại lần nữa.
Được… lúc đó chắc chắn tôi đã biết kết quả. Tôi hy vọng vụ này thành công.
Lão thợ bánh gật đầu. đoạn lão lên chiếc xe Pho, rồ máy phóng đi.
Cậu hoàn toàn mất trí rồi – Lenz nổi xung sau khi chiếc xe quặt vào góc phố. – Thoạt đầu, thằng này phải ra sức mà giữ chân lão, để rồi thằng kia thản nhiên mặc cho lão cút.
Logic  và tâm lý học để đâu hở Gotfrit! – tôi đáp, tay vỗ vai cậu ta – Cậu thì hiểu cóc gì những cái đó…
Gotfrit hẩy tay tôi ra – Tâm với chả lý…- cậu ta nói vẻ khinh miệt – Tâm lý học hữu hiệu nhất là một sự tình cờ may mắn! Mà nó vừa ở đây chứ đâu! Lão già sẽ chẳng đời nào quay trở lại…
Lão sẽ quay lại lúc bốn giờ….
Gotfrit nhìn tôi thương hại – Cuộc chứ? – cậu ta hỏi.
Sẵn sàng – tôi đáp – nhưng cậu sẽ mất trắng thôi. Mình hiểu rõ lão hơn cậu! Cần phải hâm nóng lão nhiều lần. Thêm nữa mình đâu thể bán cho lão thứ mà tụi mình chưa có trong tay…
Ôi trời đất ơi, nếu chỉ vì thế - Gotfrit bắt đầu nói – nếu chỉ vì thế, thì suốt đời này mày sẽ chẳng làm nên cơm cháo gì đâu, con ơi! Thì đấy mới chính là những mẻ làm ăn đích thực! Lại đây, mình sẽ lên lớp không công cho cậu một bài học về đời sống kinh tế hiện đại….
***
Trưa, tôi đi gặp Blumenthan. Dọc đường tôi có cảm giác của một chú dê non buộc phải đến thăm một lão sói già. Mặt trời thiêu đốt mặt đường nhựa, và cứ mỗi bước chân tôi lại cảm thấy mất dần cái hứng dấn thân vào làm mồi nướng  trên kẹp chả của Blumenthan. Tốt hơn hết là giải quyết nhanh gọn – Ngài Blumenthan – vừa đặt chân đến cửa tôi đã vội vào đề, không để lão kịp mở miệng – một đề nghị có lợi ngay trên ngưỡng cửa của ngài! Ngài mua chiếc Cadilac với giá năm ngàn rưởi mác… tôi xin trả ngài sáu ngàn với điều kiện tôi lại bán được nó thật. Điều này sẽ được quyết định trong tối nay…
Blumenthan ngự sau bàn giấy của mình và đang  chén một trái táo. Lão ngừng nhai, nhìn tôi giây lát.
Được – lão thở phì phì và tiếp tục chén.
Tôi đợi đến lúc lão ném lõi táo vào bồ giấy.
Vậy là ngài đồng ý? – đoạn tôi hỏi.
Hượm đã! – Lão lấy từ ngăn kéo bàn ra một trái táo khác.
Anh cũng làm một quả chứ?
Cám ơn ngài, xin cho lúc khác…
Lão ngoạm cái ráu – Chén đẫy táo vào, anh Lokhamp ạ! Táo giúp ta kéo dài tuổi thọ! Mỗi ngày làm dăm trái táo… và thế là suốt đời anh chẳng cần tới bác sĩ!
Chẳng cần, kể cả khi tôi gãy tay chăng?
Lão ngoác miệng cười, quăng lõi táo thứ hai đi, và đứng dậy.
Vậy thì anh đừng để bị gẫy tay!
Nghe thì dễ đấy – tôi nói, lòng thấp thỏm không hiểu điều gì sẽ xảy ra bây giờ đây. Tôi thấy câu chuyện táo tiếc này đáng ngờ quá.
Blumenthan lấy từ chiếc tủ con ra hộp xì gà, mời tôi. Đó là loại thuốc Coronas tôi từng được hút – Thứ này cũng kéo dài tuổi thọ chứ? – tôi hỏi.
Không, rút ngắn tuổi thọ. Bù lại, đã có những trái táo.
Lão phả khói thuốc, và như một con chim tư lự, lão ngểnh đầu nhìn tôi từ dưới lên trên – Bù trừ, anh Lokhamp ạ, bao giờ cũng bù trừ… đó là toàn bộ bí quyết trong cuộc sống…
Giá như người ta làm được…
Lão nháy mắt – Đúng, làm được bí quyết là ở đó. Chúng ta biết quá nhiều và làm được quá ít, bởi vì chúng ta biết quá nhiều.
Lão cười – Anh bỏ quá cho… sau bữa ăn bao giờ tôi cũng đâm ra hơi triết lý…
Đó cũng là thời điểm dễ chịu hơn cả - tôi nói – Vậy thế nào, chúng ta cũng sẽ bù trừ nhau trong vụ chiếc Cadilac chứ, phải thế  không thưa ngài?
Lão giơ tay lên – Chờ cho một giây…
Tôi nhẫn nhục cúi đầu. blumenthan nhận thấy, lão bật cười – Không phải như anh nghĩ đâu! Tôi chỉ định khen ngợi anh đó thôi. Đánh phủ đầu ngay tư ngưỡng cửa, với những lá bài lật ngửa! tính toán với lão già Blumenthan như thế kể cũng khéo. Anh biết tôi đã chờ đợi gì không?
Chờ đợi tôi bắt đầu gạ gẫm với cái giá bốn ngàn rưởi…
Đích thị! Nhưng nếu anh làm thế, thì đã xôi hỏng bỏng không rồi. anh định bán chiếc xe lấy bảy  ngàn mác chứ gì?
Tôi thận trọng nhún vai – Tại sao lại đúng bảy ngàn?
Vì đó là cái giá đầu tiên anh đòi tôi đấy thôi…
Ngài có một trí nhớ tuyệt vời – tôi nói.
Trí nhớ cho những con số. chỉ những con số mà thôi. Đáng tiếc. vậy đấy, để đi đến kết thúc: anh có thể lấy lại chiếc xe với cái giá anh nêu.
Lão chìa tay cho tôi, tôi vội bắt lấy – Ơn Chúa – tôi thở phào – vụ làm ăn đầu tiên kể từ bấy lâu nay. Chiếc Cadilac có vẻ mang lại may mắn cho chúng tôi.
Cho cả tôi nữa – Blumenthan nói – Tôi cũng được lời năm trăm mác mà.
Đã đành. Nhưng cớ sao ngài đã vội bán nó đi? Ngài không thích nó à?
Thuần túy mê tín thôi – Blumenthan giải thích – Cứ có lời là tôi làm…
Thứ mê tín mới tuyệt làm sao chứ - tôi nói.
Lão lắc lư cái sọ bóng loáng – Anh không tin… nhưng đúng thế đấy. như vậy sẽ tránh được thua lỗ… trong những vụ khác. Ngày nay bỏ qua bất kỳ một cú “vào cầu ” nào cũng là thách thức số phận. và thử hỏi còn có kẻ nào cả gan làm điều đó.
***
Bốn rưỡi chiều, với vẻ mặt đầy ngụ ý, Gotfirt Lenz đặt một chai gin lên bàn, ngay trước mắt tôi – Rót đầy chai này đi,con nhé; Và tự bỏ tiền ra! Cậu còn nhớ hai thằng mình đã  cuộc gì không?
Nhớ chứ - tôi nói – nhưng cậu hý hửng hơi sớm đấy.
Gotfrit chẳng nói chẳng rằng lôi chiếc đồng hồ của mình gí sát mũi tôi.
Bốn rưỡi – tôi nói – thậm chí có lẽ còn khớp giờ thiên văn. Ai chả có lần chậm trễ. Đã thế mình đặt cược lên gấp đôi, hai chấp  một…
Nhất trí – Gotfrit tuyên bố hoan hỉ - Vị chi những bốn chai gin tặng không cho thằng này. Người ta gọi đó là cà cuống chết đến đít còn cay. Vẻ vang đấy, con ạ, nhưng chờ xem…
Chờ xem…- suốt từ nãy tôi không còn tin mấy tin tưởng như tôi đã làm ra vẻ. ngược lại tôi đã khá tin chắc rằng cái lão thợ bánh sẽ không thờ mặt đến nữa. Lẽ ra ban sáng tôi phải giữ rịt lấy lão. Lão hay thay đổi ý kiến quá lắm.
Còi của nhà máy sản xuất đệm giường bên kia đường vừa hú tan tầm, Gotfrit đã lặng lẽ đặt lên bàn, trước mặt tôi, ba chai gin không nữa. Đoạn cậu ta tựa lưng vào cửa sổ, nhìn tôi chằm chằm.
Đây khát khô họng rồi – Lát sau cậu ta nói, cố nhấn giọng.
Đúng vào giây phút đó, tôi nghe từ ngoài đường tiếng rù rì không thể nhầm lẫn của một động cơ xe Pho, liền sau đó chiếc Pho của lão thợ bánh quặt vào sân xưởng chúng tôi – Cậu khát hở Gotfrit thân mến – tôi đáp vẻ cao ngạo – vậy hãy ba chân bốn cẳng chạy đi mua về đây cả hai chai rum mà mình đã được cuộc. Cho phép cậu làm một ngụm không mất tiền. Mở mắt ra mà nhìn lão thợ bánh ngoài sân kia! Tâm lý học là thế đó, con trai ta ạ! Còn bây giờ hãy đi dọn cho khuất mắt những chai gin không này đi! Sau đó cậu có thể đi chạy tắc xi là vừa. Đối với một vụ làm ăn tế nhị thế này, con hãy còn non lắm con ạ. Thôi chào con!
Tôi đi ra và lão thợ bánh biết rằng có vẻ như chiếc xe sẽ về tay lão. Cố nhiên người bán đòi tận bảy ngàn rưởi mác, nhưng nếu thấy tiền mặt, ông ta sẽ hạ xuống bảy ngàn.
Lão thợ bánh nghe lơ đãng tới mức toi phải sửng sốt – Sáu giờ tôi sẽ gọi điện cho ông ấy một lần nữa – c uối cùng tôi nói – Sáu giờ à? – lão thợ bánh choàng tỉnh khỏi cơn đãng trí – Sáu giờ tôi phải…- Lão đột nhiên quay sang hỏi tôi – Anh cùng đi với tôi chứ?
Đi đâu kia? – tôi ngạc nhiên hỏi.
Đến chỗ bạn anh, ông họa sĩ ấy. bức tranh vẽ xong rồi.
À, đến Ferdinan Grau…
Lão gật – Anh đi với tôi đi. Sau này chúng ta có thể bàn về chiếc xe.
Có vẻ như lão hơi quan tâm tới việc làm sao cho khỏi phải đi một mình. Ngược lại, tôi rất quan tâm tới việc không để sổng lão thêm một lần nữa – Được thôi – vì  vậy tôi nói – đến đó khá xa đấy.. tốt nhất là ta nên khởi hành ngay thôi.
***
Ferdinan Grau trông ốm yếu. mặt anh ta xám ngoét, u ám và bung bủng. anh đón chúng tôi bên cửa vào xưởng vẽ. Lão thợ bánh hầu như chẳng nhìn anh. Lão có vẻ bồn chồn, hoang mang khác thường.
Nó đâu? Lão hỏi ngay.
Ferdinan trở tay về phía cửa sổ. Bức tranh đặt ở đó, đặt trên một chiếc giá vẽ. Lão thợ bánh hấp tấp đi vào, đoạn dừng lại ngay trước bức tranh, đứng yên bất động. Lát sau lão bỏ mũ xuống. Vì quá vội vã lão quên khuấy mất nghi lễ ấy.
Ferdinan và tôi đứng lại bên cửa – Sức khỏe anh ra sao, Ferdinan? – tôi hỏi.
Anh khoát tay mơ hồ.
Có chuyện gì không?
Sao lại có chuyện gì được?
Trông anh không được khỏe…
Thế thôi à?
Ừ - tôi nói – thế thôi.
Anh đặt bàn tay hộ pháp lên vai tôi và mỉm cười với gương mặt của lão thánh Bernard.
Chúng tôi đợi thêm lát nữa, đoạn lại gần lão thợ bánh. Thấy bức tranh, tôi ngạc nhiên. Mái đầu được vẽ rất đẹp. dựa trên tấm ảnh cưới và tấm thứ hai chụp vội, rất mờ, Ferdinan vẽ nên một thiếu phụ hãy còn trẻ, với cặp mắt nghiêm nghị, hơi tuyệt vọng nhìn thẳng về phía trước.
Phải – lão thợ bánh nói, không hề quay người lại – đúng là bà ấy. Lão tự nói với mình hơn là với chúng tôi, tôi có cảm giác lão chẳng hề biết là lão vừa nói.
Có đủ sáng không ạ? – Ferdinan hỏi.
Lão thợ bánh không đáp.
Ferdinan tiến đến, xoay chếch giá vẽ đi một chút. Đoạn anh lùi lại, gật đầu ra hiệu với bảo tôi cùng vào căn buồng nhỏ cạnh xưởng vẽ - Tôi thật không ngờ - anh ngạc nhiên nói – cái máy cò kè bớt một thêm hai này cũng biết đau đớn! Lão khóc…
Ai chẳng có lúc đau đớn – tôi đáp – Nhưng với lão đã quá muộn.
Quá muộn – Ferdinan nói – bao giờ cũng là quá muộn. Đời là thế đấy, Robby ạ.
Anh chậm rãi đi đi lại lại – Để lão yên một lát. Trong khi đó ta có thể đánh một ván cờ.
Anh quả có một tấm lòng vàng – tôi nói.
Anh dừng bước – Sao kia? Rồi lão lại như không ngay ấy mà. Nếu lúc nào đó con người ta cũng nghĩ tới những việc đại loại thì không kẻ nào trên thế gian còn cười nổi lấy một lần, Robby ạ…
Anh lại có lý – tôi nói – vậy ta làm nhanh một ván cờ đi.
Chúng tôi dàn quân và bắt đầu đánh. Ferdinan thắng khá dễ dàng. Chỉ với một quân tháp và quân giám mục, anh đã dồn tôi vào nước bí, chẳng cần viện tới nữ hoàng – Chúa sừng thật – tôi nói – trông anh như vừa thức trắng ba đêm, ấy thế mà đánh vẫn mả như cướp biển.
Bao giờ cũng thế, hễ buồn là tôi chơi hay – Ferdinan đáp.
Vì sao anh buồn?
Ồ, buồn vậy thôi. Vì trời đang sập tối. Người đứng đắn bao giờ cũng buồn khi tối đến. Chẳng vì nguyên cớ nào cả. Hoàn toàn vu vơ thế thôi…
Nhưng chỉ khi trơ trọi một mình – tôi nói.
Cố nhiên. Giờ của bóng tối. giờ của cô đơn. Giờ nồng đượm nhất của cô nhắc.
Anh lấy ra một chai rượu và hai cái ly – Chúng mình không trở vào với lão thợ bánh sao? Tôi hỏi.
Ngay bây giờ đây – anh rót rượu – Xin chúc mừng, Robby! Bởi vì bọn mình rồi ai cũng đến lúc phải nghẻo!
Xin chúc mừng, Ferdinan! Bởi vì tạm thời cánh ta vẫn sống!
Chà – anh nói – tới lúc đó thì đôi khi cũng chẳng còn lâu la gì đâu. Ta hãy cạn ly nữa mừng cái lẽ ấy!
Nào thì cạn.
Chúng tôi trở vào xưởng vẽ. trời đã tối hơn. Lão thợ bánh vẫn đứng so vai trước bức tranh. Trong căn phòng lớn trống trếnh trông lão cô đơn tội nghiệp, tôi cảm thấy dường như người lão nhỏ thó đi – Tôi nên đóng gói bức tranh cho ông chăng? – Ferdinan hỏi.
Lão giật mình – Không…
Vậy mai tôi sẽ gửi nó lại đằng nhà?
Không để nó ở đây được ư ông? – lão thợ bánh hỏi ngập ngừng.
Tại sao cơ? – Ferdinan ngạc nhiên đáp và bước lại gần lão – Ông không ưng bức tranh à?
Có chứ… nhưng tôi rất muốn để nó lại đây ít bữa nữa…
Tôi không hiểu…
Lão thợ bánh nhìn tôi cầu cứu. tôi hiểu rồi… lão sợ phải treo bức tranh ở n hà, trước mắt cô ẩ tóc đen. Hay lão hãi nhìn hình ảnh người vợ khuất núi bởi lẽ trót tha cô ả kia về nhà chưa chừng – Kìa, Ferdinan – tôi nói – thì cứ để bức tranh treo ở đây đã sao, miễn là ông ấy trả tiền…
Dĩ nhiên rồi…
Lão thợ bánh nhẹ người, rút trong cặp ra cuốn séc. Hai người đến bên bàn – Tôi còn thiếu ông cả thảy bốn trăm mác phải không? – lão hỏi.
Bốn trăm hai – Ferdinan nói – đã khấu phần giảm giá. Ông muốn có hóa đơn chứ?
Vâng – lão thợ bánh đáp – cho nó quy củ.
Hai người lặng lẽ điền vào tờ séc và hóa đơn. Tôi đứng lại bên cửa sổ, ngắm nhìn chung quanh. Trong ánh chiều chạng vạng, từ bốn bức tường lấp lánh những gương mặt trên những bức chân dung đóng khung thiếp vàng không được ai đến nhận và trả tiền. Trông chúng chẳng khác gì một bầy ma tụ họp về từ cõi âm, và dường như mọi cặp mắt bất động kia đều đổ dồn về bức tranh bên cửa sổ, cái thành viên giờ đây sẽ nhập bầy với bọn chúng mà trên đầu nó ráng chiều đang trải cái bóng sáng cuối cùng của sự sống. một cảnh sắc kỳ dị - hai dáng người khom xuống viết bên bàn, bóng tối và dãy chân dung lặng lẽ.
Lão thợ bánh quay lại bên cửa sổ. Đôi mắt đỏ hoe của lão nom như hai hòn bi ve, miệng lão hơi há ra, môi dưới trễ xuống, để lộ những chiếc răng xám xỉn… trông lão đứng đó vừa ủ êm vừa nực cười. Ở tầng trên, thẳng xưởng vẽ lên, ai đó bắt đầu chơi dương cầm, một bài luyện tập tay nào đó, cứ lặp lại  mãi một giai điệu. Tiếng đàn thánh thót, nghe phiền lỗ tai. Ferdinan Grau nán lại bên bàn. Anh châm một điếu xì gà. Ánh lửa diêm rọi sáng gương mặt anh. Căn phòng mờ tối như rộng thênh thang và xanh ngắt qua ánh lửa đỏ nhỏ nhoi ấy.
Có thể sửa bức tranh đi một chút không ông? – lão thợ bánh hỏi.
Sửa gì kia?
Ferdinan đến gần. Lão thợ bánh trỏ vào món trang sức – Có thể xóa cái này đi không?
Đó là chiếc trâm cài cổ áo bằng vàng to tướng mà bữa đặt hàng lão đã đòi thêm cho kỳ được – Đươc là chắc – Ferdinan nói – thậm chí nó còn làm hỏng gương mặt. Bức tranh sẽ thành công nếu xóa nó đi.
Tôi cũng nghĩ vậy – lão cúi gằm mặt một lát – Ông lấy công bao nhiêu?
Ferdinan và tôi đưa mắt nhìn nhau – Không xu công nào cả - Ferdinan hiền hậu nói – trái lại, lẽ ra ông còn được nhận lại chút ít. Vì trên bức tranh sẽ bớt đi một chi tiết mà.
Lão thợ bánh ngạc nhiên ngẩng đầu lên. Trong khoảnh khắc, dường như lão chực phụ họa. nhưng rồi lão cương quyết bảo - Ồ không, ông đừng làm  thế… chẳng gì ông cũng đã phải vẽ nó…
Cũng đúng nốt…
Chúng tôi ra về. Trên cầu thang, nhìn tấm lưng khom khom của lão thợ bánh trước mặt, tôi hơi xúc động về lão và về việc lương tâm lão cắn rứt trong chuyện lừa dối liên quan đến cái trâm. Tôi thật không muốn đề cập với lão chuyện chiếc Cadilac vào lúc này. Nhưng rồi tôi lại nghĩ: môt phần nỗi thương tiếc hẳn là thực lòng của lão trước người vợ quá cố chắc chắn nảy sinh từ chỗ cô ả tóc đen ở nhà nhõng nhẽo quá lắm, thế là tôi lại hăng hái như cũ.
Ta có thể bàn chuyện ấy ở nhà tôi – ra đến ngoài đường, lão thợ bánh nói.
Tôi gật. còn gì hay bằng. lão thợ bánh ngỡ đâu giữa bốn bức tường nhà lão, lão sẽ mạnh hơn… trong khi tôi tính đến ả tóc đen như một sự hỗ trợ.
Cô ả đã chực sẵn bên  cửa đón chúng tôi – Thành tâm chúc mừng – tôi nói trước khi lão thợ bánh kịp mở miệng.
Về cái gì? - ả vội hỏi, cặp mắt linh lợi nhìn.
Về chiếc Cadilac của ông bà…- tôi đáp trơ tráo.
Anh yêu! - Ả reo lên, thoắt đu mình trên cổ lão thợ bánh.
Nhưng nào đã ngã ngũ gì đâu… - lão tìm cách gỡ mình ra khỏi vòng tay ả, phân trần với ả. Nhưng ả cứ ôm rịt lấy lão, nhảy nhót kéo lão xoay tít, cốt để lão không sao nói được. Tôi thấy trên đôi vai lão cái bộ mặt sâu bột đầy trách cứ, phản kháng một cách bất lực.
Cuối cùng lão cũng thoát được – Chúng ta hoàn toàn chưa đi đến thỏa thuận gì – lão thở hổn hển.
Có đấy – tôi nói, vẻ hết sức nhiệt thành – ta đã thỏa thuận! Tôi xin giơ đầu ra hứng chịu trách  nhiệm, bớt cho ông năm trăm mác cuối cùng. Ông trả chiếc Cadilac đúng bảy ngàn mác, không thêm một xu! Đồng ý chứ?
Tất nhiên! - ả tóc đen nhanh nhẩu nói – cái giá quả thực rẻ thế kia mà, anh yêu…
Gượm đã nào! – Lão thợ bánh giơ tay lên.
Nhưng mình lại giở chứng gì vậy? - ả dồn lão – đầu tiên bảo sẽ mua chiếc xe, giờ lại đứng đực ra đấy và không muốn mua nữa.
Muốn chứ - tôi xen vào – chúng tôi đã bàn bạc mọi nhẽ…
Chà, thế ư… anh yêu… còn chờ gì nữa…- Ả áp sát mình với lão. Lão tìm cách né đi, nhưng ả đã tì cặp vú tròn thây lẩy của ả vào cánh tay lão. Lão làm mặt giận dữ, song sức phản kháng của lão yếu hẳn.
Chiếc Pho … - lão nói.
Đương nhiên sẽ được mua lại.
Bốn ngàn mác!
Ông đã mua nó với giá ấy hay sao? – tôi vui vẻ hỏi.
Nó phải được mua lại với giá bốn ngàn – lão thợ bánh tuyên bố dứt khoát. Giờ đây lão đã tìm được điểm phản công sau khi bị đánh phủ đầu – Chiếc xe quả tốt như mới…
Mới…- tôi nói – sau cuộc đại tu…
Sáng nay chính anh thừa nhận như vậy….
Sáng nay khác. Nguyên trong từ “mới” đã chứa đựng cả một sự khác biệt, tùy theo người ta mua hay rao bán. Để được bốn ngàn mác, dễ thường chiếc Pho của ông có bộ bađơsoc bằng vàng!
Bốn ngàn mác, không thì thôi – lão thợ bánh bướng bỉnh nói. Giờ đây lão hoàn toàn trở lại là con người cũ và hình như muốn sửa chữa mọi sự yếu mềm ban nãy.
Vậy thì xin chào! – tôi nói và quay sang ả tóc đen – Tôi lấy làm tiếc thưa quý bà… nhưng tôi không thể cứ làm ăn thua lỗ. Chúng tôi đã chẳng ăn lời xu nào với chiếc Cadilac thì chớ…. Làm sao chúng tôi còn có thể cõng thêm một chiếc Pho cũ rích với một giá cắt cổ. Xin tạm biệt bà…
Ả níu tôi lại. mắt ả lóe sáng, và bây giờ ả nói té tát lão thợ bánh khiến lão ù tai hoa mắt – Chính ông từng kêu tới hàng trăm lần rằng chiếc Pho chẳng còn giá trị quái gì cả - cuối cùng ả rít lên, mắt đẫm lệ.
Hai ngàn mác – tôi nói – hai ngàn, cho dù chấp nhận cái giá ấy cũng đã quá bằng tự sát.
Lão thợ bánh nín thinh.
Nào nói đi, nói gì đi chứ! Sao ông cứ đứng đực ra đấy và chẳng buồn há mồm ra thế? - ả tóc đen chu chéo.
Thưa ông bà – tôi nói – bây giờ tôi xin phép đi lấy chiếc Cadilac về. Có lẽ trong khi đó ông bà bàn tính thêm với nhau.
Tôi cảm thấy mình không thể làm gì hay hơn là biến khỏi nơi đây. Đã có ả tóc đen lo hộ nốt công việc.
Một giờ sau, tôi lại có chiếc Cadilac. Tôi lập tức nhận thấy cuộc tranh cãi đã được ngã ngũ theo cách giản dị nhất. Quần áo lão thợ bánh trông nhàu nhĩ, một chiếc lông đệm giường còn vương trên người…Ả tóc đen, trái lại, mắt sáng long lanh, ả lắc lư cặp vú, nở một nụ cười thỏa mãn và phản trắc. Ả đã thay quần áo, đang mặc trên mình một chiếc váy lụa mỏng, bó sát người. thừa lúc lão không để ý, ả nháy một mắt với tôi và gật đầu, ra hiệu ổn cả. Chúng tôi chạy thử một vòng. Ả tóc đen ngồi ngả ngớn trên chiếc ghế rộng và nói huyên thuyên không dứt. Tôi chỉ ước được ném ả qua cửa sổ xe, nhưng tôi còn cần đến ả. Lão thợ bánh ngồi bên kia tôi, khá là buồn rầu. Lão khóc thương trước cho tiền của lão… và đây mới chính là nỗi tiếc thương chân thành nhất có ở trên đời.
Chúng tôi về tới trước nhà lão và lại đi vào nhà. Lão thợ bánh rời phòng đi lấy tiền. Giờ đây trông lão chẳng khác gì một ông cụ, và tôi nhận thấy lão nhuộm tóc. Ả tóc đen vuốt nếp váy.
Cánh mình phối hợp hết ý hả?
Ừ - tôi đáp miễn cưỡng.
Phải chi cho đây một trăm mác đấy.
Ra thế…- tôi nói.
Lão dê già kiệt xỉ - ả tin cậy thì thầm và ghé lại gần tôi – tiêu tiền như rác! Nhưng đừng hòng moi của lão một xu! Chúc thư lão còn chẳng muốn viết. sau này cố nhiên tất cả đều về tay lũ con lão, còn ngữ như chúng mình cứ là trơ mõm! Sung sướng nỗi gì đâu với cái lão keo bẩn ấy…
Ả xán lại gần lão nữa, lắc lư cặp vú – Vậy mai tôi sẽ sang để lấy một trăm mác. Lúc nào thì anh có ở đấy? Hay anh muốn tạt lại đây? - Ả khúc khích – Chiều mai tôi chỉ có một mình…
Tôi sẽ gửi đến cho cô… - tôi nói.
Ả vẫn cười khúc khích – Anh hãy đích thân mang lại. hay anh sợ? – Hình như ả cho rằng tôi nhút nhát và toan nói trắng ra cho tôi hiểu ả muốn gì – Không sợ - tôi nói – nhưng không có thời gian. Đúng ngày mai tôi phải tới bác sĩ. Bệnh giang mai cũ tái phát, cô biết  đấy! Mắc vào thật khổ một đời…
Ả lùi nhanh một bước, vội tới mức suýt nhào vào chiếc ghế bành bọc nhung. Đúng lúc ấy lão thợ bánh  trở lại. Lão ngờ vực liếc nhìn ả tóc đen. Đoạn lão đếm tiền lên bàn trả tôi. lão đếm thong thả, ngập ngừng. Bóng lão đung đưa trên nền giấy bồi tường in đầy hoa hồng và như cùng đếm. Trong khi viết hoa đơn, tôi sực nhớ hôm nay diễn ra một sự kiện giống hệt thế này… có điều Ferdinan Grau ở vào vị trí của tôi. Mặc dù điều đó chẳng có nghĩa lý gì, tôi vẫn thấy lạ lùng.
Tôi hoan hỉ khi ra tới ngoài đường. khí trời êm dịu và ấm áp. Chiếc Cadilac bóng lộn bên vệ đường – Nào, xin đa tạ bố già – tôi nói, tay gõ lên mũi xe – chóng trở lại đánh những quả mới, nghe bố!
(Còn tiếp)
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0

CHƯƠNG  XV
Mặt trời sáng chói, rực rỡ trên những trảng cỏ. Pat và tôi ngồi bên rìa một khoảng rừng thưa ăn điểm tâm. Tôi đã thu xếp nghỉ hai tuần và đang trên cuộc hành trình cùng Pat. Chúng tôi định ra biển.
Trên đường, trước mặt chúng tôi là một chiếc Xitroen nhỏ cũ kỹ. Chúng tôi mua lại nó bằng cách bán đi chiếc Pho của lão thợ bánh và Koester cho tôi quyền sử dụng nó trong thời gian đi nghỉ. Chiếc xe trông chẳng khác gì một chú lừa thồ nhẫn nại, trên lưng chất đầy va li.
Hy vọng rằng nó không sụm giữa đường – tôi nói.
Nó sẽ không sụm – Pat đáp.
Sao em biết được?
Biết chứ. Vì đang là kỳ nghỉ của chúng mình, anh Robby.
Có thể - tôi nói – Nhưng anh còn biết trục sau của nó nữa, trông mà phát buồn. Nhất là khi trở nặng.
Nó là anh em với chiếc Karl. Nó sẽ trụ được.
Một người anh em mắc chứng còi xương nặng.
Thôi đừng phỉ báng nữa đi, anh Robby. Hiện thời nó là chiếc xe đẹp nhất mà em được biết.
Chúng tôi nằm bên nhau trên thảm cỏ hồi lâu. Gió thổi ra từ rừng, ấm áp và êm dịu. Phảng phất mùi cỏ hoa và nhựa thông – Nói xem, anh Robby. – lát sau Pat hỏi – những bông hoa ven suối đằng kia là hoa gì vậy?
Cỏ chân ngỗng – tôi chẳng nhìn đáp.
Kìa anh! Đó đâu phải cỏ chân ngỗng, loài ấy nhỏ hơn nhiều: thêm nữa chúng chỉ rộ hoa vào mùa xuân.
Ừ nhỉ - tôi nói – Hoa thủy thập đấy.
Nàng lắc đầu – Hoa thủy thập em biết. trông khác hẳn.
Thế thì độc cần.
Kìa anh Robby! Hoa độc cần trắng, chứ không đỏ.
Vậy anh xin chịu. xưa nay, hễ bị hỏi, anh toàn viện ra ba cái tên hoa ấy. Lúc nào người ta cũng tin một trong ba loài đó.
Nàng cười – Tiếc quá. Giá biết trước có phải em đã bằng lòng với cỏ chân ngỗng rồi không.
Với hoa độc cần chứ - tôi nói – bao giờ anh cũng thành công nhất với hoa độc cần.
Nàng nhỏm dậy – Vui thật đấy! Anh thường xuyên bị hỏi như vậy à?
Không thường xuyên lắm. Và trong những hoàn cảnh hoàn toàn khác.
Nàng chống hai tay xuống đất – Thực quả đáng hổ thẹn khi ta lang thang trên trái đất mà gần như không biết chút gì về nó. Đến vài cái tên cũng không.
Em chớ buồn phiền – tôi nói – đáng hổ thẹn hơn nhiều là ta hầu như không biết vì lẽ gì ta lang thang trên trái đất. Cho nên thêm hay bớt vài cái tên cũng có nghĩa gì đâu.
Anh mà nói thế à! Nhưng em tin anh nói vậy chỉ vì lười.
Tôi quay người lại – Dĩ nhiên rồi. nhưng còn lâu con người ta mới suy ngẫm đủ về sự lười. Lười là khởi nguồn của mọi hạnh phúc và kết thúc của mọi triết học. Nào, lại nằm xuống đây đi em. Con người ta nằm quá ít, cứ đứng và ngồi suốt thôi. Cái đó không có lợi cho sự thoải mái về thể xác. Chỉ khi nằm người ta mới hoàn toàn thư giãn.
Một chiếc xe hơi vù vù lao tới và vọt qua – Mecxedes cỡ nhỏ - tôi nói, không hề nhỏm dậy – Loại bốn xi lanh.
Một chiếc nữa đang đến – Pat nói.
Ừ, anh nghe thấy rồi. Xe Rono. Có phải mũi nó giống hệt mõm lợn phải không?
Vâng.
Thế thì đúng Rono rồi. Nhưng nghe kìa, giờ mới là loại búa bổ đấy !  Một chiếc Langxia! Nó sẽ rượt kịp hai chiếc xe kia như con sói săn hai chú cừu non! Hãy nghe tiếng động cơ của nó thôi! thật như tiếng đàn Ooc!
Chiếc xe lướt vèo qua – Về khoản này hẳn anh không chỉ biết ba cái tên, chứ gì? – Pat hỏi.
Cố nhiên. Thậm chí còn đúng phắp.
Nàng cười – Vậy hỏi có đáng buồn không?
Chả có gì đáng buồn cả. Tự nhiên thôi. Đôi khi với anh một chiếc xe hơi còn tốt còn thú vị hơn hai chục bãi cỏ đầy hoa.
Đồ con ngoan cố của thế kỷ hai mươi! Dễ thường anh chẳng chút rung cảm…
Có chứ, anh vừa nói đấy, với xe hơi.
Nàng nhìn tôi – em cũng vậy – nàng nói.
***
Một con chim cu cất tiếng gáy trong rừng thông. Pat bắt đầu đếm.
Em làm thế làm gì? Tôi hỏi.
Anh không biết à? Nó kêu bao nhiêu tiếng, ta sẽ còn sống bấy nhiêu năm.
À, ừ, phải. Nhưng còn điều này nữa. khi nghe cu gáy, phải xóc túi tiền lên. Tiền sẽ sinh sôi – tôi moi số tiền lẻ trong túi ra và xóc thật lực giữa hai bàn tay.
Anh thế đấy – Pat nói và cười – Em muốn sống, còn anh muốn tiền.
Để mà sống – tôi đáp – Một kẻ duy tâm thực thụ cũng khát khao đồng tiền. Tiền là tự do được đúc thành tiền. Và tự do là cuộc sống.
Mười bốn – Pat đếm – Anh đã từng nói khác về điều này.
Đó là trong thời kỳ đen tối của anh. Chẳng nên mở miệng miệt thị đồng tiền. Tiền thậm chí khiến khối ả đàn bà si tình. Và ngược lại, tình khiến khối gã đàn ông si tiền. Như vậy tiền khuyến khích các lý tưởng… và tình, trái lại, khuyến khích chủ nghĩa duy vật.
Hôm nay anh hùng biện gớm – Pat đáp – Ba mươi.
Người đàn ông – tôi tiếp tục giải thích – chỉ đâm hám tiền vì những ham muốn của đàn bà. Giả sử không có đàn bà, cũng sẽ chẳng có tiền, và đàn ông sẽ là một giống anh hùng. Trong các chiến hào không có đàn bà – bởi vậy ở đây tài sản của mỗi người cũng chẳng đóng vai trò gì – duy một điều đáng kể: ông ta là người thế nào. Nói thế không có nghĩa ủng hộ chiến hào… mà chỉ để làm sáng tỏ tình yêu. Nó đánh thức những bản năng xấu xa trong người đàn ông…sự thèm khát của cái, quyền thế, lợi lộc, an nhàn. Chẳng phải vô cớ mà những kẻ độc tài ưa thấy các cộng sự của mình đã thành gia thất…như thế họ sẽ bớt đáng gờm. Và chẳng phải vô cớ mà các thày tu Thiên chúa giáo không lấy vợ,… nếu lấy, họ đã chẳng bao giờ trở thành những nhà truyền đạo dũng cảm nhường ấy.
Hôm nay anh ăn nói thậm chí hay tuyệt – Pat công nhận – Năm mươi hai.
Tôi nhét lại tiền vào túi và châm một điếu thuốc lá – Em vẫn cứ chưa muốn ngừng đếm hay sao? – tôi hỏi – Em đã vượt qua cái tuổi bảy chục khí xa rồi đấy.
Một trăm cơ, anh Robby! Một trăm là con số đẹp. Em muốn đạt tới đó.
Phục em, can đảm ghê! Nhưng em định làm gì với ngần ấy năm?
Mắt nàng lướt nhanh trên người tôi – Rồi sẽ hay. Về vấn đề này em có những cách nhìn nhận khác anh.
Chắc chắn thế. Hơn nữa chỉ bảy chục năm đầu tiên là chông gai nhất. Còn từ đó về sau sẽ bằng phẳng hơn.
Một trăm! – Pat công bố, và chúng tôi tiếp tục lên đường.
***
Biển tiến dần lại chúng tôi như một cánh buồm bạc khổng lồ. Suốt từ nãy chúng tôi đã cảm thấy hơ thở mằn mặn của biển – chân trời mỗi lúc một bao la hơn, sáng sủa hơn, và đột ngột trải ra trước mắt chúng tôi, sôi động, mãnh liệt và vô tận.
Con đường lượn vòng đến sát biển. Rồi một cánh rừng xuất hiện, sau nó là một ngôi làng. Chúng tôi hỏi đường tới ngôi nhà mà mình sẽ trọ. Nó nằm cách làng một quãng, Koester đã cho chúng tôi địa chỉ ấy. Sau chiến tranh, câu ta từng ở đó một năm.
Đó là một biệt thự xinh xắn đứng biệt lập. Sau khi cho chiếc Xitroen lượn một vòng tao nhã, tôi bấm còi. Một gương mặt to bè ló ra từ ô cửa sổ,, trố mắt ngây ra một lát rồi biến mất – Hy vọng đó không phải là cô Muynler – tôi nói.
Cô ta xấu hay đẹp thì can hệ gì – Pat đáp.
Cánh cửa mở. Ơn Chúa, đó chẳng phải cô Muynler, mà là người ở gái. Cô Muynler, nữ chủ nhân của tòa nhà xuất hiện sau đó một phút. Một bà gái già duyên dáng tóc đã hoa râm. Bà mặc áo dài đen kín ngực, trâm cài áo là cây thập tự bằng vàng.
Pat, để dè chừng, hãy kéo cao tất lại đi em – tôi thì thầm sau khi nhìn cái trâm và xuống xe.
Tôi nghĩ chắc ông Koester đã báo trước cho bà – tôi nói.
Vâng, ông ấy có đánh điện cho tôi rằng ông bà sẽ tới – bà  nhìn tôi xét nét – Ông Koester độ này thế nào?
Ô, hoàn toàn tốt… nếu có thể nói như vậy .trong thời buổi này.
Bà gật đầu, tiếp tục quan sát tôi – Ông quen ông ấy lâu chưa? – Sẽ là một bài sát hạch đây, tôi bụng bảo dạ và khai với bà tôi quen biết Otto từ thuở nào. Bà có vẻ hài lòng. Pat lại gần. Nàng đã kéo bít tất lên. Ánh mắt cô Muynler dịu hẳn lại. Hình như Pat được lòng bà hơn tôi – Bà còn phòng trống nào cho chúng tôi không ạ? – tôi hỏi.
Một khi ông Koester đã đánh điện, nhất định ông bà nhận được một phòng – bà Muynler nói và nhìn tôi có phần coi thường – Thậm chí tôi dành cho ông bà căn phòng đẹp nhất – bà bảo Pat.
Pat mỉm cười. Bà Muynler cũng mỉm cười – Để tôi chỉ nó cho ông bà – bà nói.
Hai người sóng vai nhau đi theo con đường hẹp chạy qua một mảnh vườn nhỏ. Tôi lẽo đẽo theo sau và cảm thấy mình là người khá thừa, bởi bà Muynler chỉ chuyện trò với Pat.
Căn phòng bà chỉ cho chúng tôi nằm ở tầng dưới. Có một lối hẹp chạy từ vườn vào. Tôi rất lấy làm thích. Căn phòng khá rộng, sáng sủa và vui mắt. Ở một bên, tựa như trong hốc tường đặt hai cái giường.
Thế nào? – bà Muynler hỏi.
Đẹp lắm – Pat nói – Lộng lẫy là đằng khác – tôi nói, cố làm vẻ dễ mến – Thế căn phòng khác ở đâu ạ?
Bà Muynler từ tốn quay lại nhìn tôi – Căn phòng khác, căn phòng khác nào? Ông muốn một căn phòng khác sao? Ông không thích phòng này à?
Đã đành là tuyệt rồi – tôi đáp – nhưng…
Nhưng sao? – bà Muynler nói có phần mai mỉa – tiếc rằng tôi không có căn nào khá hơn.
Tôi toan giải thích cho bà rằng chúng tôi cần hai buồng riêng thì bà đã nói thêm – Bà nhà chẳng rất hài lòng đấy thôi.
Bà nhà – tôi cảm giác như mình vừa giật lùi một bước. Nhưng tôi đâu nhúch nhích khỏi chỗ. Tôi thận trọng lén nhìn Pat, nàng tựa lưng vào cửa sổ và cố nén cười khi thấy tôi đứng đực ra đấy – Vợ tôi, hẳn rồi… - tôi nói, mắt dán vào cây thập tự bằng vàng đính  trên cổ áo bà Muynler. Chịu thôi, tôi không được phép thú thực với bà. Bà sẽ rú lên và ngã vật ra bất tỉnh mất – Có điều chúng tôi quen ngủ trong hai phòng – tôi nói – Ý tôi là mỗi người một phòng.
Bà Muynler lắc đầu vẻ không tán thành – Hai phòng ngủ khi đã là vợ chồng… những cái mốt thời thượng…
Đâu phải – tôi nói trước khi bà kịp nghi ngờ - Vợ tôi vốn rất tỉnh ngủ. và tôi, đáng tiếc lại ngáy khá to.
À, ra ông ngáy! – bà Muynler đáp, cứ như đáng lẽ bà đã có thể nghĩ ra điều ấy từ lâu.
Tôi sợ giờ đây bà sẽ tìm cho tôi một phòng riêng trên tầng hai, nhưng hình như bà coi hôn nhân là cái gì đó thật thiêng liêng. Bà mở một cánh cửa thông sang căn buồng nhỏ bên cạnh, trong đặt độc một cái giường.
Tuyệt vời – tôi nói – hoàn toàn đủ. Nhưng tôi sẽ không làm phiền ai khác chứ? – tôi muốn biết liệu chúng tôi có được hoàn toàn làm chủ dưới này không?
Ông bà chẳng làm phiền ai cả - bà Muynler đáp và vẻ cao ngạo nơi bà đột nhiên biến mất – Ngoài ông bà ra ở đây không có ai. Mọi phòng khác đều trống – Bà đứng thừ giây lát, đoạn sửa soạn đi ra – Ông bà muốn dùng bữa tại phòng hay trong buồng ăn đây?
Tại phòng ạ.
Bà gật đầu, bỏ đi.
Thế nào, bà Lokhamp? – tôi bảo Pat – Giờ thì hai ta bị giam trong này rồi nhé. Nhưng anh không ngờ cái con quỷ già ấy lại sùng đạo đến thế cơ đấy. Hình như anh cũng chẳng được lòng vì mụ. Kỳ cục, bình thường anh luôn gặp may với các bà già mà.
Đó không phải là bà già, anh Robby, mà là một cô gái già rất dễ thương.
Dễ thương ấy à? – tôi nhún vai – Nhưng dẫu sao bà ta cũng cư xử phải phép gớm. Trong nhà chẳng có ma nào mà cứ làm bộ kiêu kỳ!
Bà ấy không kiêu kỳ một chút nào…
Với em thì không.
Pat cười – Em thấy ưa bà ấy. Nhưng bây giờ chúng mình hãy đi lấy vali và dỡ quần áo bơi ra đi đã.
 
Sau khi bơi một giờ, tôi nằm phơi nắng trên bãi cát. Pat vẫn ơ dưới biển. Cái mũ bơi trắng của nàng lúc ẩn lúc hiện giữa những con sóng xanh nhấp nhô. Vài con hải âu chao liệng. Xa tít chân trời một con tàu lướt qua, kéo theo một vệt khói trắng phấp phới tựa đuôi cờ.
Mặt trời cháy rực, nung mọi sự kháng cự tan chảy thành sự buông thả  không suy tư tới mức buồn ngủ. Tôi nhắm mắt, duỗi dài chân tay. Cát bỏng kêu lách tách. Không khí bị hun nóng dội vào tai tôi o o. Nó gợi tôi nhớ lại một kỷ niệm, nhớ lại cái ngày tôi cũng nằm hệt như thế này…
Chuyện xảy ra vào mùa hè năm 1917. Hồi đó đại đội chúng tôi đang đóng tại Flandern, và chúng tôi bất ngờ được hưởng vài nhày phép về miền đông. Cả tụi gồm Mayer, Hontehof, Brayer, Luytgens, tôi và vài cậu nữa. Phần đông bọn tôi chưa hề ra biển lần nào, và số ngày ít ỏi ấy, quãng ngừng nghi hầu như không tin nổi giữa chết chóc và chết chóc – đã biến thành một cuộc dâng hiến điên cuồng cho mặt trời, cát trắng và biển cả. Chúng tôi ở lỳ suốt ngày ngoài bãi, duỗi dài tấm thân trần truồng của  mình dưới nắng – bởi nguyên sự trần truồng, không bị bó thân trong quân phục và súng ống đã có nghĩa ngang với hòa bình – Chúng tôi nô đùa huyên náo khắp bãi, rồi lại ào xuống biển, chúng tôi cảm nhận chân tay của  mình, hơi thở của mình cử động của mình với toàn bộ sức lực; sự sống lúc này tiềm ẩn trong chúng, và những giờ phút ấy chúng tôi quên hết thảy, vả chăng chúng tôi cũng muốn quên đi hết thảy. Nhưng chiều về trong ánh hoàng hôn, khi vầng dương đã lặn và những cái bóng xám xịt từ chân trời giăng qua mặt biển dần tái nhợt thì trong tiếng vo vo của khí nóng từ từ xen vào một âm thanh lạ, âm thanh ấy to dần và cuối cùng lấn át như một lời hăm dọa trầm đục: tiếng đại bác gầm ngoài mặt trận. Kế đó là sự câm lặng trống rỗng cắt ngang câu chuyện, những cái đầu nghển lên nghe ngóng, từ những gương mặt hoan hỉ của các chú bé vừa đùa nghịch đến mệt lử thoắt lại hiện lên bộ mặt của người lính, gợi bao xúc động, trên đó, trong khoảnh khắc, còn thoáng lướt một sự ngạc nhiên, một nỗi buồn  chứa đựng tất cả những gì không bao giờ được nói ra: lòng can đảm, nỗi cay đắng và lòng ham sống, ý thức nghĩa vụ, nỗi tuyệt vọng, niềm hy vọng và nỗi phiền muộn khó hiểu của những anh linh sớm được khen thưởng. Ít ngày sau bắt đầu cuộc tấn công lớn, và đến ngày mồng 3 tháng 7 đại đội chỉ còn sót lại ba mươi hai mống. Mayer, Hentenhof, và Luytgens đều chết.
Anh Robby! – Pat gọi.
Tôi mở mắt. Tôi phải suy nghĩ một lúc xem mình đang ở đâu. Bao giờ cũng vậy, hễ những hồi ức chiến tranh kéo về, hồn tôi lập tức phiêu diêu tận đâu xa lắm. Những kẻ khác không thế.
Tôi nhỏm dậy. Pat lên khỏi mặt nước. Nàng đi ngay trước luồng nắng rọi xuống biển, một vầng sáng rộng loang chảy trên vai nàng, ánh sáng bao bọc quanh nàng khiến thân hình nàng như thẫm lại. Càng lên gần bãi cát, nàng càng nhô cao hơn trong ánh nắng chói lọi, cho tới khi vầng dương xế chiều lơ lửng sau đầu nàng như một vầng hào quang.
Tôi nhảy phắt dậy, chính vào lúc này hiển hiện trước mắt tôi cái quang cảnh tưởng chừng như không có thực, tưởng như từ một thế giới khác – bầu trời xanh mệnh mông, những lớp bọt biển trắng xóa, và nổi bật phía trước là cái thân hình mảnh mai, kiều diễm của Pat, tưởng như chỉ mình tôi tồn tại trên thế gian này, và đó, từ dưới nước đang đi lên người đàn bà đầu tiên. Trong một khoảnh khắc, tôi cảm nhận mãnh lực thầm lặng, vĩ đại của cái đẹp, tôi cảm giác nó mạnh hơn mọi dĩ vãng đẫm máu, rằng nó phải mạnh hơn, rằng nếu không thế giới sẽ sụp đổ, sẽ chết nghẹt trong sự hỗn độn khủng khiếp của chính nó. Mạnh hơn nữa, tôi còn cảm giác rằng tôi đang tồn tại, đơn giản là đang tồn tại, và rằng Pat đang rồn tại, rằng tôi đang sống, tôi đã thoát khỏi cảnh tàn khốc, rằng tôi có cặp mắt, đôi bàn tay và những suy nghĩ, có dòng máu nóng hổi cuồn cuộn trong huyết quản, và nghĩ rằng tất thảy những cái đó là một điều kỳ diệu không sao hiểu nổi.
Anh Robby! – Pat lại gọi và vẫy tôi.
Tôi nhặt chiếc áo khoác tắm của nàng ở bãi cát lên và đi nhanh lại phía nàng – Em dầm nước lâu quá đấy – tôi nói.
Em hoàn toàn ấm mà – Nàng đáp, thở không ra hơi.
Tôi hôn bờ vai ươn ướt của nàng – Buổi đầu em cần đúng mực  hơn một chút mới phải.
Nàng lắc đầu, nhìn tôi rạng rỡ - Em giữ đúng mực như thế đủ lâu rồi.
Thế à?
Chứ sao. Quá lâu! Rốt cuộc em muốn xả láng lấy một lần – Nàng cười, áp má vào mặt tôi – Chúng mình muốn xả láng thử, anh Robby! Không nghĩ gì  hết, hầu như không nghĩ tới gì hết, chỉ nghĩ đến hai đứa mình, đến mặt trời, kỳ nghỉ và biển cả!
Đồng ý – tôi nói và nhặt chiếc khăn bông – Trước hết anh muốn lau khô cho em đã. Nhờ đâu mà em có sẵn nước da rám nắng thế này?
Nàng mặc áo khoác tắm vào – Nó còn lại từ cái năm sống điều độ của em đấy.  Hồi đó, ngày nào em cũng phải phơi nắng một giờ trên ban công. Và đúng tám giờ tối là lên giường. tối nay thì tám giờ em lại đi bơi lần nữa.
Để còn xem – tôi nói – Con người bao giờ cũng vĩ đại trong dự định. Nhưng trong thực hiện thì không. Vì thế mà con người đầy sức quyến rũ.
***
Cuộc tắm biển tối không thành. Sau khi hai đứa đi tản bộ vào làng và đang lượn chiếc Xitroen trong buổi hoàng hôn thì Pat đột nhiên mệt xỉu, đòi về nhà. Đã chiều lần tôi chứng kiến nàn đang linh hoạt rạng rỡ thoắt sụm xuống, mệt mỏi. Nàng chẳng khỏe khoắn gì, lại không dư thừa sức lực… nhưng vẻ ngoài của nàng không bộc lộ điều đó. Bao giờ nàng cũng tiêu thụ bằng hết sức sống trong mình, nhìn vào cứ ngỡ náng không khi nào có thể kiệt sức với tuổi trẻ dẻo dai của nàng… nhưng rồi cái khoảnh khắc ấy chợt đến; mặt nàng tái nhợt đi, cặp mắt u tối… và thế là hết. nàng không mệt từ từ mà xỉu trong nháy mắt.
Về nhà thôi, anh Robby – nàng giục. giọng nói vốn đã trầm của nàng giờ còn trầm đục hơn.
Về nhà? Về với cái mụ gái già Enfrido Muynler đeo thánh giá vàng trên ngực ấy à? Có trời mà biết nãy giờ con quỷ cái ấy lại nghĩ ra những cái của khỉ gì nữa.
Về nhà đi anh Robby – Pat mệt mỏi ngả vào vai tôi – Nơi ấy là nhà của chúng mình mà.
Tôi buông một tay khỏi vô lăng, ôm lấy vai nàng. Cứ thế chúng tôi chầm chậm xuyên qua hoàng hôn tím biếc, đầy sương mù; khi rốt cuộc nhìn thấy những ô cửa sổ sáng đèn của ngôi nhà nhỏ tựa như một con thú sẫm màu, nép mình trong hõm thung lũng bằng phẳng, chúng tôi thực sự cảm thấy như về tới nhà mình.
Bà Muynler chờ sẵn chúng tôi. Bà đã thay xong áo và giờ đây thay cho chiếc váy len đen, bà mặc một chiếc áo dài bằng lụa đen, cũng vẫn kiểu cắt khổ hạnh ấy. Thêm vào đó, thế chỗ cây thánh giá, là một biểu tượng mang hình trái tim, mỏ neo và cây thánh giá- tượng trưng của nhà thờ cho đức tin, tình yêu và hy vọng.
Bà niềm nở hơn hẳn với hồi chiều, hỏi chúng tôi có ưng bữa ăn chiều mà bà đã chuẩn bị với trứng, thịt nguội và cá hun khói hay chăng.
Được thôi – tôi nói.
Ông không thích sao? Toàn là cá thờn bơn vừa mới hun mà.
Đã hẳn – tôi đáp lạnh nhạt.
Cá thờn bơn mới hun ngon phải biết – Pat nói và đưa mắt nhìn tôi đầy trách móc – Một bữa ăn tối ra trò mà người ta chỉ có thể mơ ước vào ngày đầu tiên nghỉ trên biển, thưa cô Muynler. Giá được thêm trà nóng nữa thì…
Có, có đấy! Trà nóng nguyên! Rất sẵn lòng! Tôi gọi mang tất cả lên ngay đây! – bà Muynler nhẹ cả người, vội vã sột soạt đi ra trong chiếc áo dài lụa.
Anh không thích ăn cá thật à? – Pat hỏi.
Còn phải nói! Thờn bơn chứ đùa đâu! Anh mơ tới món ấy từ bao ngày nay.
Thế mà anh cứ làm bộ mãi? Anh thật quá đáng!
Anh phải trả đũa bà ta về cuộc đón tiếp chiều nay chứ.
Ôi trời đất ơi! – Pat cười – anh chẳng bỏ qua bất cứ điều gì. Em đã quên chuyện đó từ lâu rồi.
Anh thì không – tôi nói – Anh không dễ quên đến thế đâu.
Nhưng anh nên quên.
Chị ở gái bưng khay vào. Những con cá thờn bơn da như hoàng ngọc, thơm nức mùi biển và khói. Bên cạnh còn có những chú tôm tươi.
Anh bắt đầu quên đây – tôi hân hoan nói – Ngoài ra anh nhận thấy anh đói kinh khủng.
Em cũng vậy. Nhưng rót nhanh cho em chút trà nóng đi đã. Kỳ quặc thật, nhưng quả là em đang run. Trong khi ngoài trời ấm thế cơ mà.
Tôi nhìn nàng. Trông nàng tái xanh, mặc dù nàng mỉm cười – Giờ không nói về việc bơi quá lâu nữa – tôi nói, đoạn hỏi chị ở gái – Chị có tí rum nào không?
Cái gì cơ?
Rum. Một thứ đồ uống đóng chai ấy.
Rum à?
Phải.
Không có đâu.
Chị ta giương mắt nhìn không chút biểu cảm, với bộ mặt tròn như cái đĩa nặn từ bột bánh – Không có – chị ta nhắc lại.
Được – tôi đáp – cũng không hề gì. Chào chị, Chúa phù hộ cho chị.
Chị ta biến mất – Pat ơi, may phúc bảy mươi đời là chúng mình có những người bạn biết lo xa – tôi nói – Ban sáng, khi xe sắp chuyển bánh, Lenz còn ấn nhanh vào thùng xe cho anh một bọc khá nặng. Ta xem thử có cái gì trong ấy.
Tôi lôi cái bọc ra khỏi xe. Đó là một thùng nhỏ trong đựng hai chai rum, một chai cô nhắc và một chai vang Bồ Đào Nha. Tôi giơ cao chúng lên – Rum Thánh James hẳn hoi! Có thể tin tưởng ở lũ con trai ấy!
Tôi bật  nút chai và rót kha khá vào trà cho Pat. Khi rót ra tôi nhận thấy bàn tay nàng hơi run – Em lạnh đến thế cơ à? – tôi hỏi.
Chỉ một lát thôi. Giờ khá hơn rồi. Rum ngon đấy. Nhưng em sửa soạn đi nằm đây.
Em nằm ngay đi, Pat – tôi nói – chúng mình sẽ đẩy bàn lại sát giường và ăn ở đấy.
Nàng ưng thuận. Tôi lấy thêm cho nàng một cái chăn từ bên giường và kê lại bàn – Hay em có muốn một ly Grog chính cống không Pat? Cái đó còn có tác dụng hơn. Anh có thể pha một ly?
Nàng lắc đầu. trông nàng quả đã khá hơn. Mắt nàng lại tỏa sáng, đôi môi đỏ thắm, và làn da hơi anh ánh – Tuyệt vời, sao chóng vánh thế - tôi nói – Hẳn là nhờ rượu rum.
Nàng mỉm cười – Nhờ cả chiếc giường nữa chứ, anh Robby. Giường là chỗ nghỉ ngơi tốt nhất của em. Nơi trú ẩn của em đấy.
Kỳ quặc. nếu phải lên giường sớm thế khéo anh phát điên lên mất. Ý anh là phải lên giường một mình ấy.
Nàng cười – Đối với một người đàn bà, điều đó lại khác.
Chớ có nói đối với một người đàn bà. Em không phải là đàn bà.
Vậy em là cái gì?
Anh không biết. nhưng không phải đàn bà. Giả sử em là một người đàn bà bình thường, chính cống, anh đã chẳng thể yêu am.
Nàng nhìn tôi – Nói chung anh có thể yêu chăng?
Thôi nào – tôi nói – Một câu hỏi chưa từng thấy trogn bữa ăn chiều. Em còn nhiều câu hỏi tương tự nữa không?
Có lẽ còn. Nhưng anh trả lời câu này thế nào đã?
Tôi rót cho mình một ly rum – Chúc mừng em, Pat! Có thể em có lý. Có thể tất thảy chúng mình đều không biết yêu. Như trước kia, anh nghĩ thế. Nhưng không phải vì vậy mà chúng mình yêu tồi tệ hơn. Chỉ khác thôi. người ta có nhìn nhận như vậy cho đâu.
Có tiếng gõ cửa. bà Muynler bước chân vào. Bà cầm trên tay một chiếc bình thủy tnh xinh xinh, trong đó sóng sánh một ít chất lỏng – Tôi mang rum lại cho  ông bà đây.
Cảm ơn – tôi nói và cảm động ngắm nghía cái bình nhỏ xíu như cái đê khâu ấy.
Bà lo cho thế này thật là quý hóa quá, nhưng chúng tôi đã tự xoay xở được rồi.
Chúa ơi! – Bà kinh hãi nhìn bốn cái chai đặt trên bàn – Ông bà uống nhiều đến thế ư?
Như là thuốc thôi mà – tôi dịu dàng đáp và tránh không nhìn Pat – Theo đơn của bác sĩ đấy. Tôi có lá gan quá khô, thưa cô Muynler. Nhưng bà không muốn cho chúng tôi cái vinh dự được cùng bà cạn một ly sao?
Tôi mở chai vang Bồ Đào Nha – Chúc sức khỏe bà! Chúc cho nhà bà sắp tới đây đầy khách trọ!
Xin đa tạ! – Bà thở dài, khẽ cúi mình và nhắp nhắp như một con chim – Chúc ông bà kỳ nghỉ tốt đẹp! – Đoạn bà ranh mãnh mỉm cười với tôi  - Nhưng thứ này mạnh đấy. và ngon.
Sự thay đổi ấy khiến tôi kinh ngạc suýt buông rơi cái ly trong tay. Má bà Muynler bắt đầu ửng đỏ, hai mắt long lanh, và bà bắt đầu huyên thuyên đủ thứ chuyện chẳng liên quan gì tới chúng tôi. Pat chịu đựng bà với một sự kiên nhẫn. Cuối cùng bà quay sang tôi – Ông Koester bình an chứ?
Tôi gật đầu.
Hồi trước ông ấy lúc nào cũng lặng lẽ - bà nói – Lắm khi mấy ngày liền ông ấy không nói một lời. Bây giờ ông ấy vẫn thế sao?
Chà, bây giờ thi thoảng ông ấy cũng đã mở miệng.
Ông ấy ở đây gần một năm. Lúc nào cũng một mình…
Vâng – tôi nói – Vì vậy người ta càng ít nói đi.
Bà nghiêm trang gật đầu và nhìn sang Pat – Hẳn ông bà đã mệt.
Hơi hơi ạ.
Rất mệt – tôi bổ sung.
Vậy tôi xin đi đây – bà hoảng sợ  nói – Chúc ông bà một đêm tốt lành! Ông bà ngủ ngon nhé!
Bà đi ra vẻ tần ngần.
Anh tin rằng bà ta còn muốn nán lại nữa – tôi nói – Nực cười, bỗng chốc thay đổi hẳn, hả?
Con người đáng thương – Pat đáp – Hẳn tối nào bà ấy cũng thui thủi một mình trong buồng riêng và có nhiều lo nghĩ.
À. ừ, có thể - tôi nói – Nhưng anh thiết tưởng dẫu sao nãy giờ anh cũng đã cư xử với bà ta hết sức niềm nở đấy chứ.
Anh xử sự rất đúng – Nàng vuốt ve bà tay tôi – Mở cửa ra chút đi, anh Robby.
Tôi đi ra mở cửa. bên ngoài, trời sáng hơn, một vệt ánh trăng đổ dài trên đường len vào tận trong phòng. Dường như cả khu vườn chỉ chờ có cánh cửa mở… hương đêm của các loài hoa lập tức ùa vào. Căn phòng tràn ngập hương thơm của hoa quế trúc, hoa mộc tê và hoa hồng.
Nhìn kìa, em – tôi nói, tay chỉ ra ngoài.
Trong ánh trăng mỗi lúc một vằng vặc, có thể nhìn thấy rõ suốt con đường trong vườn. những nhành hoa uốn mình bên lề đường, lá cây mang màu bạc gỉ, và những bông hoa ban ngày rực rỡ khoe sắc giờ đây anh ánh trong những tông phấn màu phơn phớt, trông huyền ảo và êm dịu. Ánh trăng và đêm tối đã tước đi sức mạnh màu sắc của chúng… nhưng bù vào đó, hương thơm lại nồng nàn hơn, ngọt ngào hơn bất cứ lúc nào trong ngày.
Tôi quay nhìn Pat. Dịu dàng, thon thả và mỏng mảnh, nàng nằm đó mái tóc sẫm xõa trên gối trắng. Nàng không có mấy sức lực… nhưng ngay cả nàng nữa cũng chứa trong mình cái bí ẩn của sự mỏng mảnh, cái bí ẩn của những đóa hoa trong bóng hoàng hôn và trong ánh trăng hư ảo.
Nàng hơi nhỏm dậy – Quả tình em rất mệt, anh Robby ạ. Có sao không anh?
Tôi ngồi xuống bên giường với nàng  - Không hề gì. Em sẽ ngủ ngon giấc.
Nhưng anh lại chưa muốn ngủ.
Thì anh sẽ đi dạo một lát trên bãi biển.
Nàng gật đầu, nằm xuống. Tôi nán ngồi chút nữa – Cứ để cửa mở cả đêm anh nhé – nàng nói giọng buồn ngủ - Như thế sẽ tưởng như mình được ngủ ngoài vườn…
Nàng bắt đầu thở sâu, tôi nhẹ nhàng đứng dậy và đi ra vườn. đến bên hàng rào gỗ, tôi dừng lại hút một điếu thuốc. Từ đây tôi có thể nhìn vào căn phòng. Chiếc áo khoác tắm của Pat vắt trên ghế, váy áo và vài thứ đồ lót quẳng chồng lên trên, và dưới sàn nhà, ngay trước ghế, là đôi giày của nàng. Một chiếc nằm chỏng gót lên. Nhìn cảnh ấy, trong lòng tôi trỗi dậy một cảm giác kỳ lạ về tổ ấm, tôi thầm nghĩ có một người ở đó và sẽ còn ở đó, chỉ cần ta bước vài bước là nhìn thấy người ấy, kề bên người ấy, hôm nay, ngày mai và có lẽ lâu dài.
Có lẽ, tôi nghĩ, có lẽ, bao giờ cũng vẫn cái từ ấy, không sao thoát ra được! Đó là sự chắc chắn mà tôi thiếu… đó là sự chắc chắn mà tất thảy mọi người đều thiếu.
Tôi đi ra bãi cát, ra với biển và với gió, với tiếng sóng ì ầm như tiếng đại bác từ xa dội về.
(Còn tiếp)
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG XVI
Tôi ngồi trên bãi biển ngắm mặt trời lặn. Pat không đi cùng. Cả ngày hôm nay nàng thấy khó ở. Trời xẩm tối, tôi đứng dậy về nhà. Bỗng tôi thấy từ sau rừng chị ở gái tất tưởi chạy lại. Chị ta vừa vẫy vẫy vừa kêu cái gì đó. Tôi không nghe ra: tiếng gió và sóng biển quá ầm. Tôi vẫy tay ra hiệu cho chị ta đứng lại, tôi đến ngay đây. Nhưng chị ta vẫn cứ chạy, hai tay bắc loa trên miệng – Bà nhà… - tôi nghe loáng thoáng - …mau lên…
Tôi cắm cổ chạy – Chuyện gì thế?
Chị ta hổn hển – Mau lên…bà nhà… tai họa…
Tôi chạy theo con đường cát xuyên rừng về nhà. Cánh cổng vườn bằng gỗ bị kẹt, tôi nhảy phắt qua, đâm bổ vào phòng. Pat nằm trên giường với ngực áo đầy máu và hai bàn tay nắm chặt, máu xối ra từ miệng nàng. Bà Muynler đứng bên cạnh nàng tay cầm mớ khăn lau và một bát nước.
Sao thế này? – tôi kêu lên, gạt bà ta ra..
Bà ta nói cái gì đó – Mang bông băng lại đây! – tôi thét – Vết thương ở đâu?
Bà nhìn tôi, môi run rẩy – Đâu phải vết thương…
Tôi đứng lên – Thổ huyết – bà  nói.
Tôi như bị giáng một búa vào đầu – Thổ huyết ư? – tôi nhảy lên giằng lấy bát nước từ tay bà – Mang nước đá lại đây, hãy mang mau chút nước đá lại đây.
Tôi nhúng chiếc khăn tay vào bát nước, đắp lên ngực Pat – Trong nhà không có nước đá – bà Muynler nói. Tôi quay phắt người lại. bà ta giật lùi – Lấy nước đá về đây, vì Chúa, hãy sai người tới quán rượu gần nhất, còn bà gọi điện thoại ngay cho bác sĩ đi!
Chúng tôi làm gì có điện thoại…
Đồ quạ mổ! Thế trạm điện thoại gần nhất ở đâu?
Ở nhà Masman.
Chạy sang đấy ngay! Mau lên! Gọi ngay cho bác sĩ gần nhất. ông ta tên gì? ở đâu?
Bà ta chưa kịp nói tên tôi đã đẩy bà ta ra – Mau mau, chạy quàng lên! Có xa không?
Mất ba phút – bà ta nói đoạn hấp tấp trở ra.
Nhớ lấy cả nước đá! – tôi gọi với theo.
Bà ta gật đầu chạy biến.
Tôi lấy thêm nước và lại nhúng ướt chiếc khăn tay. Tôi không dám động vào Pat. Tôi không rõ nàng nằm như vậy đã đúng tư thế chưa và tuyệt vọng bởi không biết nổi điều duy nhất mình phải biết: liệu tôi nên luồn chiếc gối dưới đầu nàng hay cứ để nàng nằm thẳng như vậy.
Nàng thở khò khè, đoạn nhỏm dậy, và một dòng máu trào khỏi miệng nàng. Nàng thở mạnh, rền rĩ, ánh mắt kinh hoàng như không còn là người, nàng cố nuốt, ho, và máu lại phọt ra. Tôi giữ chặt nàng, lựa đỡ nàng, bàn tay nâng sau vai nàng, tôi cảm thấy tấm lưng tội nghiệp của nàng quằn quại đau đớn… tưởng chừng không dứt, rồi nàng rũ lả trên giường.
Bà Muynler bước vào. Bà nhìn tôi như một bóng ma.
Ta phải làm gì bây giờ?- tôi kêu lên.
Bác sĩ sẽ đến ngay – bà thì thào – nước đá.. chườm ngực, và nếu bà ấy chịu được, cho ngậm một ít…
Đặt đầu nằm thấp hay cao, nói ngay đi, trời đất ơi, mau!
Cứ để vậy.. ông ấy đến bây giờ…
Tôi tãi những mẩu đá lên ngực Pat, thấy nhẹ nhõm vì có thể làm một cái gì, tôi ghè nhỏ đá ra, đùm vào những chiếc khăn chườm cho nàng và lúc nào cũng chỉ nhìn thấy cái miệng méo xệch, thân thương, ngọt ngào ấy, cái miệng duy nhất, đang ứa máu ấy…
Có tiếng xe đạp lạch xạch. Tôi nhảy phắt dậy. Bác sĩ đến – Tôi có thể giúp gì không? – tôi hỏi. Ông ta lắc đầu và giở đồ nghề ra. Tôi đứng sát ông bên giường, tay nắm chặt thành giường. Ông ngước nhìn. Tôi lùi một bước, mắt không rời ông. Ông khám sườn Pat. Nàng rên rỉ.
Có nguy kịch không ạ? – tôi hỏi.
Vợ anh vốn điều trị ở đâu?- ông ta hỏi lại.
Cái gì? Điều trị gì? – tôi lắp bắp.
Bác sĩ nào điều trị? – ông sốt ruột hỏi.
Tôi không b iết… - tôi đáp – không biết, tôi không biết gì cả… tôi không cho rằng…
Ông nhìn tôi – Lẽ ra anh phải biết.
Nhưng tôi không biết. Cô ấy chưa bao giờ nói với tôi chuyện đó.
Ông cúi xuống Pat và hỏi nàng. Nàng toan trả lời, nhưng lại nổi lên một cơn ho ngầu máu. Bác sĩ đỡ lấy nàng. Nàng hớp hớp không khí và thở rít – Jaffe – nàng thối ra trong cổ họng.
Felix Jaffe? Giáo sư Felix Jaffe phải không? – bác sĩ hỏi. Nàng ra hiệu gật bằng ánh mắt. Ông quay sang tôi – Anh gọi điện cho ông ấy được không? Tốt hơn là nên hỏi ông ấy.
Đươc, được ạ - tôi đáp – tôi gọi tức thì. Tôi xin đón ngài sau. Jaffe phải không?
Felix Jaffe – bác sĩ nói – hãy hỏi tổng đài số điện thoại của ông ấy.
Cô ấy sẽ qua khỏi chứ? – tôi hỏi.
Phải cầm máu cái đã – bác sĩ nói.
Tôi túm lấy chị ở và cứ thẳng đường mà chạy. Chị ta trỏ tôi vào ngôi nhà có máy điện thoại. Tôi bấm chuông. Một nhóm người đang ngồi uống bia và cà phê. Tôi đảo mắt nhìn họ suốt lượt, không hiểu sao nổi còn có những kẻ khề khà bên vại bia trong khi Pat thổ ra máu. Tôi xin một cuộc đàm thoại khẩn và chờ bên máy. Trong khi lắng tai vào khoảng tối kêu o o, qua hai cánh màn cửa, tôi thấy một phần căn phòng bên cạnh, u ám và rất rõ nét. Tôi thấy một cái đầu hơi lắc lư phản chiếu ánh sáng điện vàng vọt, thấy một cái áo dài viền đăng ten và một cái cằm chảy xệ với kính kẹp mũi và mái đầu uốn cao ngất ngưởng… một bàn tay già nua, xương xẩu, nổi đầy gân gõ gõ trên mặt bàn… tôi không muốn thấy cảnh ấy, song tuồng như vô phương tự vệ, nó đập vào mắt tôi chẳng khác gì thứ ánh sáng quá gắt.
Rốt cuộc số máy tôi gọi cũng lên tiếng. Tôi xin gặp ông giáo sư.
Đáng tiếc – cô y tá nói – giáo sư Jaffe vừa đi khỏi.
Tim tôi ngừng đập, đoạn gõ loạn lên như búa rèn – Ông ta ở đâu ? Tôi cần nói chuyện với ông ta gấp.
Tôi không biết. Có thể ông lại đến bệnh viện rồi.
Xin cô gọi hộ tới bệnh viện. Tôi chờ. Cô còn một máy điện thoại nữa mà.
Ông chờ cho một lát – Tiếng o o lại tiếp tục. Cái khoảng tối không đáy mà trên nó chỉ giăng độc sợi dây kim loại mỏng manh. Tôi giật mình. Cạnh tôi, trong chiếc lồng phủ kín, một con bạch yến cất tiếng hót. Giọng cô y tá lại vang lên – Giáo sư Jaffe đã rời bệnh viện.
Đi đâu?
Tôi thật tình không biết, thưa ông.
Thế là hết. Tôi tựa mình vào tường – A lô! – cô y tá nói – ông còn ở đấy chứ?
Vâng,.. tôi xin cô, cô y tá, cô không biết khi nào ông ta trở về sao?
Hoàn toàn thất thường.
Ông ta không nhắn lại? Ông ta phải nhắn chứ. Phòng khi có chuyện bất trắc mà còn biết đường tìm.
Có một bác sĩ trực ở bệnh viện.
Vậy cô vui lòng gọi cho ông…- không, không ích gì, vị bác sĩ này có biết gì đâu – thôi được, thưa cô – tôi nói, mệt muốn đứt hơi – khi nào giáo sư Jaffe về, cô xin ông ta gọi điện ngay cho tôi – Tôi cho cô số điện thoại – Nhưng cô làm ơn gấp lên cho, việc khẩn lắm.
Ông có thể tin ở tôi, thưa ông. – Cô  nhắc lại số điện và đóng máy. Tôi đứng đó, đơn độc. Những mái đầu lắc lư, cái sọ hói nhẵn, chiếc trâm và căn phòng bên giờ sao xa lắc, như mọt miếng cao su bóng nhoáng đu đưa. Tôi nhìn ra xung quanh. Tôi chẳng còn việc gì ở đây, ngoài việc nhờ mọi người lại tìm tôi nếu ai có gọi. Nhưng tôi không sao quyết định rời chiếc máy điện thoại cho được. Dường như làm thế là buông luôn sợi chão dòng xuống để cứu mình. Và đột nhiên tôi hiểu phải làm gì. Tôi lại nhấc ống nghe lên, xin số máy của Koester. Cậu ta phải có mặt ở đây. Không thể khác được.
Và đây, đến từ mù mịt của đêm tối, là giọng nói bình thản của Koester. Bản thân tôi cũng lập tức trấn tĩnh, kể lại đầu đuôi cho cậu ta nghe. Toi cảm thấy cậu ta đã ghi lại ngay những điều cần thiết.
Được – cậu ta nói – mình phóng đi tìm ông ta ngay đây. Sẽ gị cho cậu sau. Yên chí. Thê nào cũng tìm ra được.
Thế là thoát. Thoát ư? Thế gian yên ả. Ma quỷ đã biến mất. Tôi chạy về.
Sao? – bác sĩ hỏi – Anh tìm được ông ấy rồi chứ?
Chưa – tôi nói – nhưng đã tìm được Koester.
Koester à? Tôi không biết ông ta! Ông ta nói gì? Ông ta đã điều trị bà nhà theo cách nào?
Điều trị gì kia. Có điều trị gì đâu, Koster đang đi tìm.
Tìm ai?
Jaffe.
Lạy Chúa, thế ông Koester ấy là ai vậy?
À phải… xin lỗi ông. Koester là bạn tôi. cậu ta đi tìm giáo sư Jaffe. Tôi không sao gọi cho ông ấy được.
Đáng tiếc – bác sĩ nói, đoạn lại quay sang Pat.
Cậu ta sẽ tìm được ông ấy – tôi nói. – Chừng nào chưa chết, nhất định cậu ta sẽ tìm được ông ấy.
Bác sĩ nhìn tôi, tuồng như tôi đã hóa điên. Đoạn ông nhún vai.
Ngọn đèn tỏa sáng trong phòng. Tôi hỏi xem liệu mình có thể giúp được việc gì chăng. Bác sĩ lắc đầu. Tôi nhìn đăm đăm ra cửa sổ. Pat thở khò khè. Tôi đóng cửa sổ lại và đi ra ngưỡng cửa đứng.  Tôi ngóng con đường.
Đột nhiên tôi nghe tiếng gọi – Điện thoại nhé!
Tôi quay lại – Có điện thoại. Tôi chạy lại đằng đó chăng?
Bác sĩ nhỏm phắt dậy – Không, để tôi đi. Tôi biết phải hỏi gì hơn anh. Anh cứ ở đây. Chớ làm gì khác. Tôi quay lại ngay.
Tôi ngồi xuống bên giường với Pat. – Pat – tôi khẽ gọi.
Bọn anh đều có mặt ở đây. Bọn anh sẽ trông nom em. Sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra cho em đâu. Không thể có chuyện gì được. Giáo sư đã gọi điện đến. Ông sẽ chỉ  bảo tất cả. Mai thế nào ông cũng đích thân tới đây. Ông sẽ chữa cho em. Em sẽ khỏe. Mà sao em, chẳng hề nói cho anh biết rằng em còn đang ốm? Mất chút máu chẳng can hệ gì đâu, Pat. Bọn anh sẽ bù cho em. Koester đã đón được giáo sư. Giờ mọi sự đều êm đẹp, Pat ạ…
Bác sĩ trở lại – Không phải ông giáo sư…
Tôi đứng dậy.
Một người bạn của anh gọi, ông Lenz.
Koester không tìm được ông giáo sư sao?
Tìm được chứ. Ông ta có cho một số chỉ dẫn. Ông bạn Lenz của anh đã truyền đạt lại với tôi. Thậm chí hoàn toàn rõ ràng và chính xác. Ông bạn Lenz của anh cũng là bác sĩ chăng?
Không. Cậu ta từng mơ ước  làm bác sĩ. Còn Koester?
Bác sĩ nhìn tôi –Lenz nói Koester vừa khởi hành trước đó vài phút. Cùng với ông giáo sư.
Tôi cần phải tìm chỗ dựa lưng – Otto – tôi thốt lên.
Phải, bác sĩ bổ xung – Có một điều duy nhất anh ta nói sai. Anh ta cho rằng trong vòng hai giờ nữa họ sẽ có mặt ở đây. Tôi biết quãng đường này. Nếu phóng hết tốc lực cũng phải mất trên ba giờ. Xét cho cùng….
Thưa bác sĩ – tôi đáp – xin ông cứ tin cho. Anh ta đã nói hai giờ, anh ta sẽ có mặt ở đây trong vòng hai giờ.
Không thể được. Đường đầy khúc quanh, lại đang đêm.
Rồi ông sẽ thấy.
Xét cho cùng… nếu như ông ta đến… ông ta có mặt ở đây vẫn hơn.
Sốt ruột không chịu nổi, tôi ra ngoài trời. bên ngoài sương đã giăng đầy. Biển rì rầm phía xa. Những giọt nước rỏ xuống từ các tán cây. Tôi nhìn ra chung quanh. Tôi không còn đơn độc nữa. Từ chân trời phía nam giờ đây đang vang vọng tiếng gầm rú của một động cơ xe hơi. Từ sau sương mù, sự cứu giúp đang lao tới trên những con đường tái xám, đèn pha lia ánh sáng, bánh xe rít lên, và đôi tay thép cầm lái, cặp mắt khoan vào đêm tối: lạnh lùng tự chủ - cặp mắt của bạn tôi.
***
Sau này tôi được nghe Jaffe thuật lại sự việc đã diễn ra. Sau cú điện thoại của tôi, Koester lập tức gọi điện cho Lenz, nói phải chuẩn bị sẵng sàng. Rồi cậu ta đánh chiếc Karl lại, cùng Lenz phóng tới bệnh viện của Jaffe. Cô y tá trực cho rằng ông giáo sư đã đi dùng cơm tối. Cô mách cho Koester một lô tên quán, nơi có thể tìm được ông. Koester đi ngay. Cậu ta lao phứa qua mọi tín hiệu giao thông… chẳng thèm đếm xỉa đến đám cảnh sát toét còi lao tới. Chiếc xe như một con ngựa phi nước đại xuyên rừng xe cộ. Đến quán thứ tư thì tìm thấy giáo sư. Jaffe lập tức nhớ ra ca bệnh. Ông bỏ dở bữa, theo họ luôn. Họ chở ông ghé qua nhà lấy các đồ nghề cần thiết. Đó là quãng đường duy nhất mà Koester tuy có phóng nhanh nhưng không lao điên cuồng. Cậu ta không muốn làm cho ông bác sĩ hoảng sợ quá sớm. Dọc đường, Jaffe hỏi hiện Pat đang nằm đâu. Koester nói tên một địa điểm cách thành phố bốn mươi cây số. Cậu ta muốn trước hết phải giữ được giáo sư trên xe đã. Mọi thứ tiếp theo sẽ tự bộc lộ. Trong khi sắp xếp túi đồ nghề, Jaffe nói cho Lenz những chỉ dẫn cân được gọi đi ngay. Đoạn ông lên xe với Koester.
Có trầm trọng lắm không? -  Koester hỏi.
Có – Jaffe  nói.
Đúng vào khoảnh khắc ấy chiếc Karl hóa thân thành một bóng ma màu trắng. Thoắt chồm khỏi điểm xuất phát, nó bay vọt lên phía trước. Nó luồn lách, ghếch cả hai bánh lên hè đường, phóng ngược các con đường một chiều, tìm con đường ngắn nhất ra khỏi thành phố.
Anh điên à? – Giáo sư kêu lên. Koester vọt xéo ngay dưới chiếc ba- đơ sốc cao lênh khênh của một chiếc xe buýt, giảm ga đi một chút, rồi lại cho động cơ rú.
Đi chậm lại – ông bác sĩ hét – anh được gì, nếu chúng ta gặp tai nạn chứ!
Sẽ không gặp tai nạn đâu.
Nếu anh cứ phóng tiếp tục như thế này, chỉ hai phút nữa thôi.
Koester ngoặt xe sang trái, vượt ngang một tàu điện.
Sẽ không gặp tai nạn – Giờ đây cậu ta giong xe thẳng một con phố dài. Cậu ta nhìn bác sĩ – Tôi tự biết phải đưa ông đến nơi nguyên vẹn. Ông cứ yên tâm để tôi lái.
Nhưng lao như điên thế này phỏng ích gì! Chỉ rút ngắn được vài ba phút.
Không – Koester vừa nói vừa tránh một chiếc xe tải chở đá – chúng ta còn phải chạy hai trăm bốn mươi cây số nữa.
Sao?
Phải… - Karl luồn giữa một chiếc xe thư và một chiếc xe buýt, lách lên – tôi không muốn nói ông biết trước.
Mà nói trước đã sao – Jaffe càu nhàu – tôi chữa bệnh không căn cứ cây số. Anh hãy đánh xe ra ga. Ta sẽ đến đó nhanh hơn bằng xe lửa.
Không – Koester đã ra đến ngoại thành. Gió thổi bạt lời nói từ miệng cậu ta – hỏi rồi… tàu hỏa khởi hành muộn…
Cậu ta lại nhìn bác sĩ lần nữa, và hẳn bác sĩ đã đọc được điều gì đó trên nét mặt người thanh niên – Thôi cũng đành – ông càu nhàu – Cô ấy là người yêu của anh chăng?
Koester lắc đầu. Cậu ta không đáp lại nữa. Cậu ta đã vượt qua những khoảnh vườn, ra tới đường quốc lộ. Lúc này xe chạy hết tốc lực. Ông bác sĩ thu mình, náu sau tấm kính chắn gió hẹp. Koester đưa ông ta cái mũ da của mình. Còi xe rú liên tục. Tiếng rú ấy dội trở lại từ những cánh rừng. Khi xuyên qua làng mạc, bất đắc dĩ lắm Koester mới giảm tốc độ. Sau tiếng rền như sấm của những tiếng nổ thả sức phát ra từ ống xả, các dãy nhà rúm lại với nhau như bóng của một dãy khăn phơi, chiếc xe hai ngọn đèn pha và tiếp tục khoan vào đêm tối với luồng sáng xoáy phía trước.
Các bánh xe bắt đầu kêu rầm rầm…rít… huýt… hú lên… động cơ nhả hết tốc lực. Koester cúi rạp người về phía trước, thân thể cậu ta là một cái tai khổng lồ duy nhất. Một cái sàng lọc tiếng rền và tiếng hú huýt, rình rập từng tiếng động lạ nhỏ, từng tiếng xèn xẹt, cọ sát khả nghi khả dĩ giấu trong mình sự hỏng hóc hay cái chết.
Đường trở nên ẩm ướt. Chiếc xe chao đảo và trượt bánh trên con đường đất sét. Koester buộc phải giảm tốc độ. Để bù lại sau đó cậu ta phóng nhanh hơn ở những khúc ngoặt. Cậu ta không lái xe  bằng trí óc mà chỉ bằng bản năng. Đèn pha chỉ rọi sáng được nửa khúc  ngoặt. Vào đúng lúc xe quành, khúc ngoặt tối bưng như hũ nút, Koester phải viện đến chiếc đèn rọi, nhưng tia sáng quá mảnh. Ông bác sĩ nín lặng. bỗng không khí lung linh trước đèn pha, nhuốm màu bàng bạc như một dải mây. Đó là khoảnh khắc độc nhất Jaffe nghe Koester chửi thề. Một phút sau, họ đã bị lút giữa sương mù dày đặc.
Koester tắt đèn pha. Họ bơi giữa đám bông, những cái bóng lướt qua, cây cối, những hình thù lờ mờ trong biển sữa, không còn đường sá, chỉ còn may rủi và áng chừng, những cái bóng nhô lên và biến mất trong tiếng gầm của động cơ.
Mười phút sau đó, khi họ thoát khỏi, mặt Koester nom phờ phạc. Cậu ta nhìn Jaffe, lẩm bẩm gì đó, đoạn tiếp tục phóng hết tốc lực, người gò về phía trước, lạnh lùng và lại tự chủ….
***
Cái nóng nhớp nháp khiến căn phòng bức bối, nặng nề - Vẫn chưa cầm ư? – tôi hỏi.
Chưa – bác sĩ đáp.
Pat nhìn tôi. Tôi mỉm cười với nàng. Nhưng lại hóa nhăn nhó – còn nửa giờ nữa – tôi nói.
Bác sĩ ngước nhìn- Còn tiếng rưỡi nữa, nếu không phải là hai. Trời đang mưa.
Những giọt mưa khẽ rì rào, ngân nga trên các tán lá và bụi cây trong vườn. Tôi nhìn ra ngoài với cặp mắt sững sờ. Đã bao lâu rồi, kể từ bữa chũng tôi thức dậy trong đêm, ra ngồi giữa những bụi tử đinh hương, mộc tê thảo, và Pat khe khẽ hát những bài ca ngắn của tuổi thơ. Đã bao lâu rồi, kể từ bữa con đường trắng lóa dưới ánh trăng, và Pat len lỏi giữa các bụi cây như một con thú mảnh mai…
Tôi đi ra cửa ngóng có tới trăm lần. Ra lắm cũng vô ích thôi, tôi biết vậy, nhưng như thế sẽ rút ngắn sự chờ đợi. Không khí ẩm ướt. Tôi nguyền rủa; tôi hiểu nó sẽ gây trở ngại cho Koester. Một chú chim kêu lên trong sương mù – Ngậm mỏ lại! – tôi gầm, và chợt nhớ tới những câu chuyện về lũ chim báo điềm gở - Vớ vẩn – tôi nói to và vẫn cứ rùng mình. Một con bọ cánh cứng vù vù đâu đây… nhưng nó không lại gần… nó không lại gần. Nó vù vù khe khẽ, đều đặn; giờ nó ngưng bặt… giờ nó lại vỗ cánh vù vù rồi lại lần nữa… tôi thốt nhiên run rẩy… không phải tiếng côn trùng mà là một chiếc xe còn ở rất xa đang quành vào khúc ngoặt với tốc độ cao. Tôi đứng ngay đơ, nín thở để nghe rõ hơn: Nó đấy… nó đấy… tiếng vù vù khe khẽ, thanh thanh như tiếng một con ong bắp cày giận dữ. Lúc này nghe mạnh hơn, tôi nhận rõ cả tiếng máy nén; chân trời căng thẳng tới mức chực vỡ toang giờ sụm xuống hòa trong cái vô tận êm ái chôn vùi đêm tối, sợ hãi, kinh hoàng… Tôi nhảy lùi lại, bíu lấy cánh cửa, kêu lên: Họ đến! bác sĩ, Pat, họ đến. Tôi đã nghe thấy họ.
Suốt buổi tối bác sĩ đã cho là tôi khá điên. Ông đứng dậy và cùng nghe  ngóng – Sẽ là một chiếc xe khác – cuối cùng ông nói.
Không, tôi thuộc tiếng động cơ mà.
Ông nhìn tôi bực tức. Có vẻ như ông tự coi mình là chuyện gia về xe hơi. Ông cư xử với Pat kiên nhẫn và thận trọng chẳng khác gì người mẹ; nhưng nghe tôi ăn nói như vậy về xe hơi, ông long mắt nhìn tôi qua cặp kính và đòi hiểu biết hơn tôi – Vô lý – ông nói gọn lỏn rồi trở vào.
Tôi đứng lại bên ngoài, người run lên vì hồi hộp – Karl! Karl! – tôi kêu lên. Lúc này tiếng rì rì và tiếng rú xen lẫn vào nhau… chiếc xe hẳn đã vào làng, nó lao giữa các ngôi nhà với tốc độ điên cuồng. Giờ đây tiếng rú lắng dần; nó đã ở sau rừng… và giờ nó trỗi dậy, dữ tợn, hân hoan, một vệt sáng xuyên qua màn sương, hai ngọn đèn pha, một tiếng sấm rền, ông bác sĩ đứng bàng hoàng bên tôi, ánh sáng vụt lao đến thình lình làm lóa mắt chúng tôi và, giật đánh két, chiếc xe dừng lại trước cửa vườn. Tôi lao bổ đến. Ông giáo sư xuống xe ngay. Ông không nhìn tôi, mà đi thẳng lại bác sĩ. Sau ông là Koester – Cô ấy thế nào? – cậu ta hỏi,
Vẫn thổ ra máu.
Chuyện thường thấy – cậu ta nói – chưa có gì đáng phải lo – Tôi im lặng nhìn cậu ta.
Cậu có điếu thuốc nào không? – cậu ta hỏi.
Tôi đưa thuốc cho Koester – May mà cậu đến, Otto ạ.
Cậu ta rít mấy hơi dài – Mình nghĩ như vậy sẽ hơn.
Cậu phóng nhanh khiếp.
Cũng tạm. Chỉ gặp một quãng đường sương mù.
Chúng tôi ngồi bên nhau trên chiếc ghế băng và chờ đợi – Cậu cho rằng nàng sẽ khỏi chứ? – tôi hỏi.
Dĩ nhiên. Thổ huyết chẳng nguy hiểm gì cả.
Nàng chưa hề nói với mình chuyện này.
Koester gật đầu – Nàng phải qua khỏi, Otto ạ - tôi nói.
Cậu ta không nhìn lên – cho mình điếu thuốc nữa đi – cậu ta nói, - mình quên không mang thuốc theo.
Nàng phải qua khỏi – tôi nhắc lại – nếu không tất cả chỉ là cứt.
Ông giáo sư đi ra. Tôi đứng lên – trời chu đất diệt tôi, nếu tôi còn lên xe với anh lần nữa – ông bảo Koester.
Xin ông thứ lỗi – Koester nói – đó là vợ của bạn tôi.
Thế à – Jaffe nói và nhìn tôi.
Cô ấy sẽ qua chứ? – tôi hỏi.
Ông chăm chú quan sát tôi. Tôi quay nhìn chỗ khác – Thế anh tưởng tôi nỡ đứng đây với anh lâu như vậy khi mà cô ấy không qua khỏi sao? – ông hỏi.
Tôi nghiến chặt hàm răng. Tôi nắm hai bàn tay vào nhau. Tôi khóc – Xin lỗi ông – tôi nói – việc cầm máu diễn ra nhanh quá.
Việc như vậy không bao giờ đủ nhanh cả - Jaffe nói và mỉm cười.
Đừng bực, Otto nhé – tôi nói – về chuyện mình đã khóc.
Cậu ta ôm vai xoay người tôi đi, đẩy tôi về phía cửa.
Vào đi. Nếu ông giáo sư cho phép.
Tôi đã sẵn sàng – tôi nói – tôi vào được chứ?
Được, nhưng chớ có nói – Jaffe đáp – và chỉ một lát thôi. Cô ấy không được phép xúc động.
Tôi không thấy gì ngoài một ánh sáng lung linh trong làn nước. Tôi chớp chớp mắt. Ánh sáng ấy đung đưa, lấp lánh. Tôi không dám quệt nước mắt, sợ Pat tưởng rằng tôi đã khóc bởi bệnh tình nàng trầm trọng. Tôi chỉ cố gượng cười khi bước vào phòng.
Rồi tôi vội vã quay đi.
Ông đến thế này là đúng chứ? – Koester hỏi.
Phải – Jaffe nói – như vậy tốt hơn.
Sáng sớm mai tôi có thể đưa ông về.
Chịu thôi – Jaffe nói.
Tôi sẽ lái nghiêm túc.
Tôi muốn nán lại một ngày nữa để theo dõi. Tôi ngủ giường anh được chứ? – ông hỏi tôi. Tôi gật.
Tốt, vậy tôi sẽ ngủ lại đây. Anh có thể nghỉ tạm trong làng được chứ?
Vâng. Để tôi kiếm cho ông một bàn chải đánh răng và một bộ pijama nhé?
Không cần thiết. Tôi có đủ cả. Bao giờ tôi cũng sẵn sàng cho những vụ như  thế này. Cho dù không hẳn cho cuộc đua xe.
Xin ông thứ lỗi! – Koester nói – tôi nghĩ ông giận là phải lắm.
Tôi không giận.
Vậy tôi ân hận là đã không nói ngay cho ông biết sự thật.
Jaffe cười – Anh có ý nghĩ không hay về đám bác sĩ. Bây giờ anh cứ yên lòng mà đi. Tôi ở lại đây.
Tôi nhặt nhạnh nhanh vài vật dụng cần thiết cho Koester và tôi. Chúng tôi vào làng – cậu mệt không? – tôi hỏi.
Không – cậu ta nói – chúng mình kiếm chỗ nào ngồi tí đã.
Một giờ sau, tôi đâm ra lo lắng – ông ta mà ở lại, chắc hẳn nguy kịch, Otto ạ - tôi nói – nếu không ông ấy ở lại làm gì…
Mình nghĩ là ông ta ở lại vì thận trọng. Ông ta rất mến Pat. Ông ta kể với mình khi tụi mình rẽ vào đây. Ông ta đã chữa cho mẹ cô ấy….
Bà ta cũng…
Mình không biết – Koester vội nói – cũng có thể một bệnh gì khác. Ta đi ngủ chứ?
Cứ đi đi, Otto. Mình muốn ngó lại lần nữa… từ xa thôi.
Được.  mình đi cùng.
Nghe này, Otto. Mình rất thích ngủ ngoài trời vào tiết ấm áp. Cứ để mặc mình. Gần đây mình ngủ thế luôn.
Nhưng trời ẩm ướt mà.
Không hề gì. Mình sẽ nâng mui chiếc Karl lên và sẽ chui vào đó chút xíu.
Được. Mình cũng rất thích ngủ ngoài trời thử xem.
Tôi nhận thấy sẽ không thoát nổi cậu ta. Chúng tôi ôm một ít chăn gối, trở lại chiếc Karl. Hai thằng tháo các dây bảo hiểm, ngả lưng dãy ghế trước ra sau. Như thế nằm tha hồ thoải mái – còn hơn khối lần ngoài mặt trận – Koester nhận xét. Cái mảng sáng cửa sổ rọi qua lớp không khí lạnh lùng. Vài lần, tôi thấy bóng của Jaffe hằn lên. Chúng tôi hút rỗng một bao thuốc. Rồi đèn tắt, chỉ còn le lói một ngọn đèn bàn đêm nhỏ nhoi.
Ơn Chúa – tôi nói.
Có tiếng rơi sẽ sàng trên mui xe. Một làn gió nhẹ thoảng tới. trời trở lạnh – Lấy cả chăn của mình mà đắp, Otto ạ - tôi  nói.
Không, kệ mình, mình đủ ấm mà.
Một  tay hết chê, ông Jaffe ấy, hả?
Hết chê. Rất mẫn cán, mình nghĩ vậy.
Hẳn rồi.
Tôi choàng tỉnh khỏi giấc ngủ chập chờn thắc thỏm. Ngoài trời xám và lạnh. Koester đã dậy – Cậu không ngủ sao, Otto
Có đấy chứ.
Tôi xuống xa, nhẹ bước trên con đường vườn đến bên cửa sổ. Ngọn đèn bàn nhỏ xíu vẫn sáng. Tôi nhìn Pat nằm thiêm thiếp trên  giường. Trong giây lát, tôi sợ nhỡ đâu nàng đã chết. Nhưng rồi tôi nhận thấy, bàn tay phải của nàng động  đậy. Trông nàng rất xanh. Nhưng nàng đã thôi thổ huyết. Giờ đây nàng lại khẽ cựa. Cùng lúc ấy, nằm trên giường bên cạnh, Jaffe mở choàng mắt. Tôi vội lùi. Tôi yên dạ: ông ta vẫn trông chừng nàng.
Mình nghĩ ta nên chuồn khỏi đây – tôi bảo Koester – để ông ấy khỏi thấy bị kiểm tra.
Trong ấy ổn cả chứ? – Otto hỏi.
Ừ, cứ như mình thấy thì ổn. Ngủ ra ngủ, cái ông giáo sư ấy. Súng liên thanh có nổ bên tai vẫn ngủ, nhưng tỉnh liền hễ thấy một con chuột đến nhấm túi bánh của mình.
Ta đi tắm cái chăng – Koester nói – Không khí nơi đây tuyệt diệu – cậu ta vươn vai.
Cậu đi đi.
Đi với mình – cậu ta bảo.
Bầu trời xám xịt rách toang. Những sọc đỏ da cam tràn ra. Màn mây vén lên đằng chân trời, để hiện lên phía sau một màu táo xanh hết sức trong trẻo.
Chúng tôi nhảy ào xuống nước bơi. Nước sáng lóng lánh trong sắc xám và đỏ.
Rồi chúng tôi trở về. Bà Muynler đã dậy. Bà đang cắt rau mùi trong vườn. Bà giật mình khi tôi bắt chuyện với bà. Sượng sùng, tôi cố thanh minh chuyện hôm qua, tôi chửi thề hơi nhiều. Bà bắt đầu khóc – Quý bà tội nghiệp. Bà ấy đẹp thế, và còn trẻ thế.
Nhà tôi sẽ sống trăm tuổi – tôi giận dữ nói vì bà ta khóc như thể Pat sắp chết đến  nơi. Pat sẽ không chết. Bình minh mát lạnh, ngọn gió, cuộc sống sáng sủa, sôi động của biển trong tôi: Pat không thể chết!  Nàng chỉ có thể chết một khi tôi để mất can đảm. Đây, Koester, bạn của tôi… đây, tôi, bạn của Pat… chúng tôi phải chết trước đã. Chừng nào chúng tôi còn sống, chúng tôi sẽ cứu được nàng. Bao giờ cũng vậy đấy. Và chừng nào cả hai chúng tôi còn sống, Pat không thể chết.
Con người ta phải biết quy phục định mệnh – cô gái già nói và nhìn tôi có phần trách móc với bộ mặt táo héo nhăn nheo, nâu xỉn của mình. Hình như cô muốn ám chỉ những lời tôi chửi rủa.
Quy phục ấy à? – tôi nói – Để làm gì? Chẳng ích gì cả. Ở đời, người ta phải trả giá hết thảy mọi thứ, gấp đôi, gấp ba. Vậy còn phải quy phục làm gì nữa?
Phải chứ, phải chứ… làm như thế tốt hơn.
Quy phục, tôi nghĩ. Làm thế thay đổi được gì nào? Đấu tranh, đấu tranh, đó là cách duy nhất trong cuộc vật lộn mà rốt cuộc rồi mình cũng thua này. Đấu tranh vì cái chút ít ta yêu. Bảy mươi tuổi hãy quy phục cũng chưa muộn.
Koester nói vài lời với bà Muynler. Bà lại mau chóng mỉm cười và hỏi cậu ta muốn ăn gì vào buổi trưa.
Cậu xem – Otto nói – đó là quà tặng của tuổi già. Nước mắt và nụ cười… cứ là thay đổi xoành xoạch. Chẳng chút vướng gợn. Có lẽ rồi ta cũng thế thôi! – cậu ta nói vẻ trầm ngâm.
Chúng tôi đi vòng quanh  ngôi nhà – Nàng ngủ được thêm phút  nào, tốt phút ấy – tôi nói. Chúng tôi lại vào vườn. Bà Muynler đã dọn xong bữa điểm tâm. Chúng tôi uống cà phê đen nóng. Mặt trời lên. Trời lập tức ấm áp. Lá cây lóng lánh bởi ánh sáng và nước đọng. Từ biển vọng vào tiếng kêu của Bầy hải âu. Bà Muynler đặt một bó hồng lên bàn. – Để lát nữa chúng ta tặng bà – bà nói. Hương thơm những đóa hồng gợi nhớ các dãy tường vườn và tuổi thơ ấu. – Otto, cậu biết không – tôi nói – mình có cảm giác như chính mình vừa ốm dậy. Mình không như trước kia nữa. Lẽ ra mình phải bình tĩnh hơn. Chín chắn hơn. Càng bình tĩnh, càng giúp ích được nhiều hơn.
Không phải bao giờ cũng giữ được như thế đâu, Robby ạ. Chính mình cũng trải qua những lúc tương tự. Càng sống lâu bao nhiêu, người ta càng dễ nóng nảy bấy nhiêu. Giống như  một ông chủ nhà băng cứ phải chứng kiến hết vụ thua lỗ này đếnn vụ thua lỗ khác.
Cửa mở, Jaffe bước ra trong bộ pijama – Tốt đẹp, tốt đẹp cả - ông đưa tay ngăn khi thấy tôi suýt xô đổ cả bàn cà phê – không thể mong gì hơn thế.
Tôi vào được không?
Chưa được. Chị hầu phòng đang ở trong đấy, rửa ráy, thu dọn gì đó.
Tôi rót cà phê mời ông. Ông nheo mắt nhìn mặt trời, đoạn quay sang Koester – Thực ra, tôi phải cảm ơn anh. Ít nhất tôi cũng được hưởng một ngày thoáng khỏe.
Ông thừa sức thực hiện thường xuyên hơn những cuộc đi như thế này – Koester nói. – Tối trước đi, tối sau trở về.
Thừa sức, thừa sức – Jaffe đáp – Anh đã nhận thấy chúng ta đang sống trong một thời đại con người tự cắn xé mình hay chưa? Rằng người ta vẫn cứ không làm rât nhiều cái mà người ta thừa sức làm, tuy không hiểu tại sao. Ngày nay, công việc đã trở thành một cái gì phi thường, bởi rất nhiều người không có việc làm, tới mức nó đè bẹp mọi thứ khác. Nơi đây đẹp biết bao! Đã hàng năm nay tôi không được thấy. tôi có hai xe hơi, một căn hộ mười phòng và dư dật tiền… nhưng tôi được gì ở chúng! Chúng là cái gì so với buổi sáng hè ngoài trời này! Công việc – một điều ám ảnh tăm tối, bao giờ cũng với ảo tưởng rồi đây mọi sự sẽ khác. Sẽ chẳng khi nào khác cả đâu. Ta biến cuộc đời ta thành một cái gì nực cười.
Tôi cho rằng người thầy  thuốc là một trong số ít người biết được mình sống để làm gì – tôi nói – nếu đã vậy, một anh chàng kế toán biết nói sao đây?
Anh  bạn thân mến – Jaffe đáp – thật là nhầm nếu tưởng rằng thiên ạh ai cũng có khả năng xúc cảm như nhau.
Đồng ý – Koester nói – nhưng con người ta đâu được quyền chọn nghề nghiệp theo khả năng cảm xúc của mình.
Đúng – Jaffe đáp – Những vấn đề nan giải – Ông gật đầu với tôi – Giờ anh vào đi… nhưng phải bình tĩnh… chớ động vào cô ấy, chớ để cô ấy nói.
***
Nàng nằm lút trong đám gối, kiệt lả, như bị đánh gục. mặt nàng tái xanh, mắt quầng thâm, môi nhợt nhạt. chỉ có đôi mắt là to và sáng.
Quá to và quá sáng.
Tôi cầm lấy tay nàng lên. Bàn tay nàng lạnh và khô héo – Pat, bạn can trường của anh – tôi nói lúng túng và toan ngồi xuống với nàng. Chợt tôi phát hiện bên cửa sổ bộ mặt bánh bao tròn vo của chị ở gái đang giương mắt tò mò nhìn tôi – Chị đi ra đi – tôi cáu kỉnh nói.
Nhưng tôi phải kéo rèm cửa – Chị ta đáp.
Được, kéo  mau rồi ra đi.
Chị ta kéo mấy tấm rèm màu vàng che cửa sổ, nhưng đã chịu đi cho đâu. Chậm chạp, chị ta bắt đầu lấy ghim găm rèm lại.
Chị kia – tôi nói – đây không phải rạp hát. Chị biến cho  mau.
Chị ta phớt tỉnh quay người lại – Lúc đầu bảo găm, giờ lại bảo thôi.
Em nhờ chị ta à? – tôi hỏi Pat.
Nàng gật.
Ánh sáng trời làm em khó chịu sao? – tôi hỏi.
Nàng lắc đầu – Hôm nay anh đừng nhìn em quá rõ thì hơn.
Kìa Pat! – tôi hoảng sợ bảo – em chưa được phép nói! Nhưng nếu đó là toàn bộ lý do…
Tôi mở cửa, và thế là chị ở cuốn xéo. Tôi trở vào. Lúc này đã hết lúng túng. Thậm chí tôi còn thấy mừng vì đã chạm chán với chị ở. Vô tình chị ta giúp tôi vượt qua cái khoảnh khắc đầu tiên. Thật không gì khổ tâm hơn là phải nhìn Pat nằm như thế.
Tôi ngồi xuống bên giường – Pat – tôi nói – chẳng mấy chốc em sẽ bình phục…
Nàng mấp máy môi – Mai thôi…
Mai thì chưa, nhưng vài ngày nữa. Rồi em sẽ dậy được và chúng  mình sẽ về nhà. Lẽ ra chúng mình chẳng nên đến đây, không khí ở đây không hợp với em…
Sao lại không – nàng thì thào – em có ốm đâu, anh Robby. Đó chẳng qua chỉ là một tai nạn…
Tôi nhìn nàng. Nàng thật sự không biết nàng ốm chăng? Hay nàng không muốn biết? cặp mắt nàng đưa đi đưa lại vẻ lo lắng. – Anh đừng sợ… - nàng thầm thì. Tôi không hiểu ngay ý nàng, không hiểu tại sao nàng lại quan tâm tới chuyện chính tôi không nên sợ. Tôi chỉ thấy nàng thắc thỏm bồn chồn, ánh mắt lộ vẻ khẩn thiết, khắc khoải kỳ lạ. Thốt nhiên, một ý nghĩ đến trong tôi. tôi đã hiểu tâm trạng nàng. Nàng tưởng tôi e sợ nàng vì bệnh tật của nàng. – Lạy Chúa, Pat – tôi nói – có lẽ vì thế mà em không hề hé chút sự thật nào với anh?
Nàng không đáp, nhưng nhìn nàng thì biết là đúng như  vậy.
Khốn nạn – tôi  nói – thế em cho anh là người thế nào?
Tôi cúi xuống nàng – Em nằm yên một lát, đừng động đậy. – Tôi hôn nàng. Đôi môi nàng khô và nóng bỏng. Khi ngẩng lên, tôi thấy nàng khóc. Nàng khóc lặng lẽ với cặp mắt mở to, gương mặt bất động. Nước mắt cứ thế trào ra.
Hãy vì Chúa, Pat…
Em sung sướng quá – nàng nói.
Tôi sững sờ nhìn nàng. Đó chỉ là một lời nói nhưng là một lời nói mà tôi chưa hề được nghe như thế.
Tôi đã biết nhiều đàn bà, nhưng chỉ toàn là những cuộc gặp gỡ thoảng qua, những chuyện phiêu lưu, đôi khi một giờ hoan lạc, một chiều lẻ loi, sự trốn tránh trước chính mình, trước nỗi tuyệt vọng và trống rỗng. Mà tôi cũng chẳng mong muốn gì hơn, bởi tôi đã học được rằng con người ta không thể tin vào thứ gì khác ngoài tin vào bản thân mình, cùng lắm vào một người bạn nữa. Giờ đột nhiên tôi nhận thấy mình có ý nghĩa trước  một con người, đơn giản vì mình có mặt, và con  người ấy sung sướng vì có mình ở bên. Nói ra hết sức giản dị, nhưng nếu suy nghĩ kỹ, đó là một cái gì hết sức phi thường, hầu như vô bờ bến. Đó là thứ có thể xé tan và biến đổi một con người. Đó là tình yêu, nhưng còn là một cái gì khác nữa, cái mà ta có thể sống vì nó. Một người đàn ông không thể sống vì tình yêu. Nhưng vì một con người thì hẳn được.
Tôi muốn nói điều gì đó mà không nổi. Khi thật sự có điều cần nói, sao khó tìm ra lời đến thế. Và nếu có tìm ra được đúng lời, cũng ngượng ngùng chẳng dám nói ra. Tất cả những từ khuôn sáo này vẫn thuộc về các thế kỷ trước. Thời đại của chúng mình chưa biết cách diễn đạt thành lời tình cảm của nó. Nó chỉ có thể lột tả tình bạn… còn mọi thứ khác đều không thật.
Pat – tôi nói – bạn can trường, quả cảm của anh…
Vừa lúc ấy, Jaffe bước vào. Ông lập tức thâu tóm được tình cảnh – Thành tích tuyệt vời nhỉ - ông càu nhàu – tôi đã biết ngay mà.
Tôi toan đáp lời ông, nhưng đã bị ông tống gọn ra khỏi cửa.
 (còn tiếp)
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0
Chương XVII
Đã qua hai tuần, Pat đủ phục hồi để chúng tôi có thể trở về. Chúng tôi sửa soạn xong hành lý, đang chờ Gotfrit Lenz. Cậu ta phải đến đánh xe về, Pat và tôi sẽ đáp xe lửa.
Đó là một ngày ấm áp, ngà màu sữa. trên trời, mây đứng lặng như những cụm bông, hơi nóng run rẩy trên các đụn cát, và biển lặng như chì trong màn hơi sang sáng lung linh.
Gotfrit đến sau bữa ăn trưa. Từ xa, tôi đã thấy mái tóc hoe vàng của cậu ta sáng rực lên trên bờ dậu. Phải tới lúc Gotfrit rẽ vào con đường dẫn tới biệt thự của bà Muynler tôi mới nhận thấy cậu ta không chỉ đến một mình… Xuất hiện cạnh cậu ta là một tay đua rởm nhỏ thó…. Chiếc mũ caro to tướng đội ngược phù hiệu ra sau, đôi mắt kính ngăn bụi choán gần hết mặt, bộ áo liền quần trắng lốp, và cặp tai voi đỏ rực như hồng ngọc.
Ôi trời, té ra thằng Jupp! - tôi sửng sốt.
Chính nó, thưa cậu Lokham! – Jupp toét miệng cười.
Lại còn diêm dúa chưa kìa! Mày làm trò gì đấy hả?
Thì cậu thấy đấy – Lenz nói vẻ khoái trá và bắt tay tôi. – Cu cậu đang được đào tạo thành tay lái xe đua. Đã tám ngày nay mình kèm cặp nó. Hôm nay nó cứ van lạy mình cho đi theo. Một cơ hội tốt để cu cậu chạy chuyến đường trường đầu tiên.
Tôi sẽ thành tài, thưa cậu Lokham! – Jupp hăng hái quả quyết.
Và thành tài như thế nào chứ! – Gotfrit tủm tỉm cười – Mình chưa thấy thằng khùng nào rượt xe điên cuồng như nó. Ngay ngày đầu to toe cầm lái, với chiếc tắc xi cà khổ của tụi mình, nó đã dám tìm cách vượt một chiếc Mecedes có máy nén khí. Thằng quỷ con đáng nguyền rủa.
Jupp tan ra trong hạnh phúc, nhìn Lenz bằng ánh mắt tôn thờ.
Tôi ngỡ đâu có thể nuốt chửng cái con chim huênh hoang ấy, thưa cậu Lenz! Tôi những muốn chộp nó ở khúc quành, giống cậu Koester.
Tôi phì cười – Mày mở đầu khá đấy, Jupp ạ!
Gotfrit nhìn xuống cậu học trò với vẻ hãnh diện của ông bố.
Bây giờ trước hết mày hãy chộp lấy đống va li này và mang ra ga.
Một mình ạ? – Jupp chực nổ tung vì hồi hộp – Tôi được phép lái hoàn toàn một mình quãng đường từ đây ra ga chứ cậu Lenz?
Gotfrit gật, và Jupp phóng thẳng vào nhà.
Chúng tôi gửi hành lý. Đoạn quay lại đón Pat ra ga. Chúng tôi có mặt sớm mười lăm phút. Ngoài ke vắng tanh. Chỉ có vài bình sữa đứng vất vưởng.
Các cậu đi đi thôi – tôi nói – kẻo về tới nhà quá muộn.
Ngồi bên tay lái, Jupp nhìn tôi vẻ bất mãn.
Mày không thích nghe nói vậy, hả? – Lenz hỏi nó.
Jupp ưỡn thẳng người – Cậu Lokham – nó nói giọng trách móc – tôi đã tính toán chính xác. Đúng tám giờ chúng tôi sẽ có mặt đàng hoàng ở xưởng.
Rất chuẩn! – Lenz vỗ vai nó – Thách cậu ấy cuộc đi Jupp. Để lấy một chai nước suối.
Nước suối thì không – Jupp đáp – nhưng có một bao thuốc lá thì tôi dám cược ngay.
Nó nhìn tôi khiêu khích.
Mày đã biết là đường khá tồi đấy chứ? – tôi hỏi.
Tính cả rồi, thưa cậu Lokham!
Và mày cũng nghĩ tới các khúc cua rồi chăng?
Khúc cua chẳng có nghĩa lý gì đối với tôi. Tôi không biết sợ là gì.
Được, Jupp – tôi nghiêm trang nói – Vậy tao sẽ giữ lời cược. Nhưng dọc đường ông Lenz không được phép cầm lái đâu đấy.
Jupp đặt bàn tay lên ngực – Thề danh dự!
Được rồi, được rồi. Nhưng nói nghe thử, mày nắm khư khư trong tay gì vậy?
Đồng hồ bấm giờ của tôi. Tôi sẽ theo dõi thời gian dọc đường. Tôi muốn biết cái xe này sức chạy đến đâu.
Lenz tủm tỉm cười – Thấy chưa, các bạn. Jupp được trang bị hết nhẽ nhé. Mình tin là thoạt thấy nó, chiếc Citroen già nua, dũng mãnh đã run bắn mọi piston lên rồi.
Jupp không nghe thấy lời giễu cợt. Nó nóng nảy vày vò cái mũ của mình.
Vậy ta đi chứ, cậu Lenz? Cuộc là cuộc mà!
Cố nhiên! Đồ máy nén tí hon! Tạm biệt nhé, Pat! Chào, Robby! – Gotfrit leo lên ghế - Nào, Jupp, giờ hãy cho quý cô đây thấy con người hào hoa phong nhã, nhà quán quân tương lai của thế giới xuất phát ra sao!
Jupp kéo sụp kính đua xuống mắt, vẫy tay như một tay đua kỳ cựu và mau lẹ vào số một, băng con đường lát đá lao ra đường cái lớn.
Pat và tôi còn ngồi một lát trên chiếc ghế dài trước nhà ga. Mặt trời nóng rực, sáng chói, trải ánh nắng trên tấm vách gỗ ngăn trước ke. Mùi nhựa thông và vị muối mặn thoang thoảng. Pat ngả đầu ra sau, nhắm mắt lại. Nàng ngồi im không nhúc nhích, mặt hướng ra đón nắng.
Em mệt không? – tôi hỏi.
Nàng lắc đầu – Không đâu, anh Robby.
Tầu đến kia rồi – tôi nói.
Đầu máy ì ạch chạy tới, đen trũi, nhỏ thó và lạc lõng giữa không gian mênh mông, lung linh nắng. Chúng tôi lên tàu. Tàu vắng khách. Nó phì phò khởi hành. Khói phả ra từ đầu máy đọng lại đen kịt trên nền trời. Phong cảnh lần lượt diễu qua: làng mạc với những mái nhà gianh nâu xỉn, những đồng cỏ đầy bò ngựa, cánh rừng, và rồi, yên ả và say ngủ trong cái thung lũng nằm sau những đụn cát là ngôi nhà của bà Muynler.
Pat đứng cạnh tôi bên cửa sổ tàu nhìn ra. Con đường cua lại gần, có thể nhìn rõ cửa sổ phòng chúng tôi. Cửa mở toang, tấm nệm trắng được phơi một nửa ra nắng.
Bà Muynler kìa – Pat nói.
Ừ nhỉ.
Bà đứng trước cửa nhà vẫy vẫy. pat rút khăn tay của nàng ra, giơ nó bay phần phật trước cửa tàu.
Bà ấy chẳng thấy được đâu – tôi nói – khăn nhỏ và mỏng quá. Đây, lấy khăn của anh này.
Nàng cầm lấy, vẫy. Bà Muynler vẫy lại rối rít.
Con tàu dần dần ra giữa cánh đồng thoáng đãng. Ngôi nhà chìm đi, các đụn cát biến mất. phía sau cái vạch đen của rừng, hồi lâu nữa, thỉnh thoảng biển vẫn lóng lánh hiện ra. Lóng lánh như một con mắt uể oải, rình mò. Rồi cái màu xanh lá mạ dìu dịu của đồng ruộng, rồi sóng lúa trải tận chân trời, gợn lên trong gió nhẹ.
Pat đưa lại khăn cho tôi và ngồi vào một góc. Tôi kéo cửa sổ lên. Thế là qua! Tôi nghĩ, ơn Chúa, qua rồi! Chẳng là gì ngoài một giấc mộng! Cơn ác mộng đáng nguyền rủa.
Chúng tôi về tới thành phố trước sáu giờ. Tôi gọi một chiếc tắc xi, chất đầy vali lên. Đoạn chúng tôi về nhà Pat.
Anh cùng lên chứ? – nàng hỏi.
Tất nhiên.
Tôi đưa nàng lên, rồi quay trở xuống cùng tay tài xế chuyển hành lý. Khi quay lại, vẫn thấy Pat đứng ở tiền sảnh. Nàng đang nói chuyện với ông trung tá Phon Haco và bà vợ ông ta.
Chúng tôi vào phòng nàng. Bên ngoài, màn chiều sáng sủa vừa buông. Trên bàn, cắm trong bình thủy tinh là  những đóa hồng phơn phớt đỏ. Pat đến gần bên cửa sổ, nhìn ra ngoài. Đoạn nàng quay người lại – Chúng mình đã vắng mặt bao lâu, anh Robby nhỉ?
Đúng mười tám ngày.
Mười tám ngày. Em cảm thấy lâu hơn thế nhiều.
Anh cũng vậy. Bao giờ đi xa mà chẳng thế.
Nàng lắc đầu – Em nghĩ khác…
Nàng mở cửa bước ra ngoài ban công. Ngoài ấy có một chiếc ghế xếp dài màu trắng tựa bên tường. Nàng kéo nó lại gần, lặng lẽ nhìn.
Khi quay vào, nét mặt nàng biến đổi, cặp mắt u tối.
Em hãy xem những đóa hồng – tôi nói – Koester tặng đấy. Cậu ta để lại danh thiếp đây này.
Nàng cầm lấy tấm danh thiếp lên, rồi lại đặt xuống mặt bàn. Nàng nhìn bó hồng, nhưng tôi thấy nàng hầu như không nhận ra chúng. Tâm trí nàng còn luẩn quẩn bên chiếc ghế dài. Nàng tưởng đã thoát được nó, thế mà giờ đây không khéo nó lại bám theo nàng suốt đời.
Tôi để nàng yên, không nói gì nữa. Lái ý nghĩ của nàng sang hướng khác cũng vô ích thôi. Nàng phải làm quen với hiện trạng mới, và tốt hơn là nàng ý thức được nó ngay từ bây giờ
***
 Khi có tôi bên nàng. Dù nói hay nói giỏi đến đâu cũng chỉ trì hoãn được ít lâu, nhưng rồi điều đó vẫn sẽ xảy ra, và không chừng khi ấy còn khó chịu đựng hơn nhiều.
Nàng đứng thế hồi lâu, mặt cúi xuống, tay chống lên bàn. Đoạn nàng ngẩng đầu nhìn tôi. tôi không nói gì. Nàng thong thả đi vòng quanh bàn, đặt tay lên vai tôi.
Bạn can trường của anh – tôi nói.
Nàng nép mình vào tôi. Tôi ôm ghì lấy nàng – Từ giờ chúng mình sẽ nhìn thẳng vào sự việc, nghe em?
Nàng gật. đoạn nàng vuốt tóc ra sau – Phút yếu đuối thoảng qua thôi, anh Robby ạ.
Tất nhiên.
Có tiếng gõ cửa. Cô hầu phòng đẩy bàn trà vào – Hay lắm – Pat nói.
Em uống trà nhé? – tôi hỏi.
Không, cho em cà phê, cà phê ngon, pha đặc.
Tôi ở lại thêm nửa giờ. Rồi nàng cảm thấy mệt. Nhìn nàng thì biết – Em nên ngủ một chút đi – tôi khuyên.
Còn anh?
Anh cũng về nhà chợp mắt một lát. Hai giờ nữa, anh sẽ đến đón em đi ăn.
Anh mệt ư? – nàng ngờ vực hỏi.
Ừ, hơi mệt. Trong tàu quá nóng. Anh còn phải rẽ qua xưởng nữa.
Nàng không hỏi gì thêm. Nàng mệt rũ và cứ thế thỉu đi. Tôi bế nàng vào giường, đắp chăn cho nàng. Nàng lập tức thiếp ngủ. Tôi đem bình hoa đặt bên nàng, cài cả danh thiếp của Koester vào đó, để khi tỉnh giấc, nàng có ngay chút gì đó giải khuây. Rồi tôi ra về.
Dọc đường, tôi dừng lại trước một trạm điện thoại tự động. Tôi quyết định gọi ngay bây giờ cho giáo sư Jaffe. Gọi từ nhà sẽ gặp trở ngại. Vì phải tính sao cho cả nhà trọ khỏi nghe lỏm chuyện.
Tôi nhấc ống nghe, xin số máy của bệnh viện. lát sau, ông Jaffe cầm máy. – Lokham đây ạ - tôi vừa nói vừa hắng giọng. – Chúng tôi vừa về hôm nay. Có mặt cách đây một giờ.
Anh chị về bằng xe hơi ư? – Jaffe hỏi.
Không, bằng xe lửa.
Vậy à, tình hình thế nào?
Tốt ạ - tôi đáp.
Ông suy nghĩ một giây – Mai tôi sẽ đến thăm bệnh cho cô Honman. Mười một giờ trưa mai. Anh báo cho cô ấy được chứ?
Không – tôi nói – Tôi không muốn để cô ấy biết tôi đã gọi cho ông. Thế nào mai cô ấy cũng tự điện thoại đến ông. Có gì, ông bảo cô ấy luôn.
Được. Ta thỏa thuận như vậy. Tôi sẽ nói với cô ấy.
Tôi máy móc gạt cuốn danh bạ điện thoại dày cộp, cáu bẩn sang bên. Trên chiếc bục gỗ nhỏ đặt cuốn danh bạ dày đặc những số điện thoại ghi nguệch ngoạc bằng bút chì – Chiều mai tôi ghé ông được không ạ?
Jaffe không đáp.
Tôi nóng lòng muốn biết tình trạng sức khỏe của cô ấy.
Mai tôi chưa thể nói gì với anh đâu – Jaffe đáp – Tôi phải theo dõi cô ấy ít nhất một tuần. nhưng rồi tôi sẽ cho anh biết.
Cám ơn ông – Tôi vẫn nhìn trân trân vào cái bục gỗ trước mặt. Có kẻ nào đã vẽ lên đó một cô ả béo ú đội mũ rơm rộng vành, dưới ghi – Ella, đồ dê cái!
Trong khi điều trị, cô ấy có phải làm gì đặc biệt nữa không ạ? – tôi hỏi.
Để mai tôi còn xem. Nhưng tôi cho rằng ở đằng nhà, cô ấy được chăm sóc hết sức chu đáo.
Tôi không rõ. Nghe đâu tuần sau gia đình ông Haco sẽ đi du lịch. Như vậy chỉ còn mình cô ấy ở nhà với chị hầu phòng.
Vậy à? Được, mai tôi cũng sẽ bàn với cô ấy chuyện này.
Tôi lại kéo cuốn danh bạ đè lên hình vẽ.
Ông có cho rằng cô ấy… rằng một cơn như thế có thể tái phát không?
Jaffe đắn đo một giây – Tất nhiên là có thể - đoạn ông nói – Nhưng cũng không hẳn. Tôi chỉ có thể trả lời anh sau khi đã khám nghiệm kỹ càng cô ấy. Tôi sẽ điện thoại cho anh sau.
Vâng. Cảm ơn ông.
Tôi móc ống nghe lên. Ra ngoài, tôi còn đứng thân một lúc trên đường phố. Không khí bụi bặm, oi búc. Rồi tôi đi về nhà.
***
Tôi chạm trán với bà Zalepski ở cửa. Từ phòng bà Bender, bà vọt ra như một viên đạn đại bác. Thấy tôi, bà dừng lại – Sao, đã về đấy à?
Thì bà thấy đấy. Có gì lạ không?
Với nhà, chẳng có gì cả. Thư từ cũng không. Nhưng bà Bender đã dọn đi.
Thế à? Sao vậy?
Bà Zalepski hai tay chống nạnh – Vì đâu đâu cũng đầy rẫy những quân đê tiện. Bà ấy vào viện tế bần Thiên chúa giáo rồi. Với con mèo và vỏn vẹn hai mươi sáu mác giắt lưng.
Bà kể rằng trại trẻ nơi bà Bender nuôi giữ trẻ đã bị phá sản. Lão giám đốc, một mục sư, thua lỗ trong vụ đầu cơ chứng khoán. Bà Bender bị sa thải, đã thế còn mất trắng hai tháng lương chưa kịp lĩnh.
Bà ấy đã tìm được việc mới chưa? – tôi hỏi không suy nghĩ.
Bà Zalepski chỉ nhìn tôi.
Ừ, mà tất nhiên chưa – tôi nói.
Tôi đã bảo bà ấy yên tâm ở lại đây. Việc trả tiền nhà hẵng cứ thư thả, không vội gì. Nhưng bà ấy không nghe.
Hầu hết người nghèo đều khái tính – tôi nói – Giờ ai sẽ thuê phòng đó?
Vợ chồng Hasso. Phòng này rẻ hơn phòng họ hiện đang ở.
Thế còn phòng Hasso cũ?
Bà ta nhún vai – Để còn xem. Tôi cũng chẳng hy vọng gì có người đến thuê nó.
Bao giờ phòng ấy trống?
Mai. Vợ chồng Hasso đã đang rậm rịch dọn rồi.
Giá thuê căn phòng là bao nhiêu? – tôi hỏi, chợt nảy ra một ý.
Bảy chục mác.
Đắt quá – tôi nói, giờ đã hoàn toàn tỉnh táo.
Kể cả cà phê sáng, hai bánh mỳ con với khá nhiều bơ cơ mà.
Được đấy. nhưng bà phải cắt bớt suất cà phê sáng ả Frida pha đi. Năm chục mác, không thêm một xu.
Anh định thuê chắc? – bà Zalepski hỏi.
Có lẽ thế.
Tôi vào buồng mình, trầm ngâm quan sát cánh cửa thông sang phòng Hasso. Pat sống trong nhà trọ Zalepski! Không, ý định này chẳng hay ho chút nào! Tuy vậy, lát sau tôi vẫn sang gõ cửa phòng họ.
Bà Hasso có nhà. Giữa gian phòng đã dọn quang một nửa, bà ngồi trước gương, đầu đội mũ, đang thoa phấn.
Tôi chào bà, mắt nhìn kỹ căn phòng. Phòng rộng hơn tôi tưởng. Giờ đây, khi một phần đồ gỗ đã được dọn đi rồi, mới có thể nhận thấy rõ điều ấy. Giấy bồi tường một màu, sáng sủa và còn khá mới, cửa ra vào, cửa sổ vừa sơn lại, ban công rộng rãi, đẹp đẽ.
Hẳn anh đã nghe nói giờ lão đòi tôi làm gì – bà Hasso nói – tôi phải dọn vào ở trong căn buồng của mụ ấy! Rõ nhục!
Nhục ư?
Phải, nhục! – bà giận dữ tuôn ra – Mụ ấy và tôi không chịu nổi nhau, anh còn lạ gì, ấy vậy mà giờ lão Hasso ép tôi phải dọn sang buồng mụ, không ban công, lại có độc một cửa sổ. Chỉ vì rẻ hơn! Anh thử nghĩ, ở trong viện tế bần, con mụ ấy nó sẽ đắc sy đến đâu!
Có gì mà đắc ý.
Có đấy,mụ đắc ý phải biết, cái con mụ coi trẻ giả nhân giả nghĩa, miệng nam mô bụng một bồ dao găm ấy! Đã thế lại thêm cái con điếm Erna Boienic ở sát nách! Sặc mùi mèo!
Tôi sửng sốt ngước nhìn bà Hasso. Miệng nam mô bụng một bồ dao găm ư? Kể cũng lạ: khi chửi rủa, con người ta tìm ra những lời nói đến là giàu hình ảnh và mới mẻ. Cách bày tỏ tình yêu sao lặp lại muôn thuở… trong khi những lời rủa nguyền cứ biến hóa muôn hình vạn trạng.
Mèo là giống vật xinh đẹp và rất sạch sẽ - tôi nói – Thêm nữa, tôi vừa ở phòng ấy về. Có thấy mùi mèo miếc gì đâu.
Thế hả? – bà Hasso đáp giọng thù địch và sửa lại mũ cho ngay ngắn – có lẽ còn tùy từng người. Nhưng tôi thì đừng hòng tôi mó tay vào dọn! mặc xác lão tự vần giường tủ sang đấy. Tôi đi chơi! Ít nhất tôi cũng muốn chơi bời một tí giữa cuộc sống chó má này.
Bà đứng dậy. Gương mặt bung bủng run lên vì giận dữ, tới mức long cả phấn. Tôi thấy môi bà bôi son đỏ chót, và nhìn chung bà diện rất chóe. Khi bà sột soạt đi ra, người bà thơm sực nức như cả một tiệm nước hoa.
Tôi sững sờ nhìn theo bà. Đoạn tôi ngắm kỹ căn phòng lần nữa. Tôi suy tính xem nên sắp đặt giường tủ của Pat vào chỗ nào. Nhưng rồi tôi nhanh chóng nghĩ sang chuyện khác. Pat ở đây, luôn luôn ở đây, bên tôi… tôi không sao hình dung nổi! giả sử nàng mạnh khỏe, có lẽ tôi đã chẳng bao giờ dám có ý nghĩ ấy. nhưng hiện giờ… tôi mở cửa, ước lượng bề rộng của ban công. Nhưng rồi tôi lắc đầu và bỏ về buồng mình.
***
Khi tôi bước vào phòng nàng, nàng vẫn đang ngủ. Tôi se sẽ ngồi xuống chiếc ghế bành đặt cạnh giường, nhưng nàng lập tức thức giấc.
Tiếc là anh làm em tỉnh giấc – tôi nói.
Anh vẫn ngồi đây suốt đấy à? – nàng hỏi.
Không. Anh vừa quay lại xong.
Nàng vươn vai, áp mặt vào tay tôi – Thế thì hay. Em không thích có người nhìn em ngủ.
Anh hiểu. anh cũng như em, không thích thế. Nhưng anh đâu chủ tâm nhìn em ngủ. anh chỉ không muốn đánh thức em. Em không chợp mắt lấy một lát nữa sao?
Không, em ngủ đẫy giấc rồi. Em dậy ngay đây.
Tôi đi sang phòng bên trong khi nàng mặc quần áo. Bên ngoài trời tối dần. Từ cửa sổ mở toang của nhà đối diện, một chiếc máy hát mở oang oang khúc quân hành Hohenfriedberg. Một gã hói đầu, bụng phệ phải mang dây đeo quần, đang vặn máy. Gã đi đi lại lại trong phòng và làm động tác thể dục theo nhịp nhạc. Cái đầu hói bóng nhoáng của gã nổi lên giữa bóng tối chạng vạng như một vầng trăng hiếu động. Tôi hững hờ nhìn cảnh ấy. Tôi cảm thấy thẫn thờ và rầu rĩ.
Pat bước vào. Trông nàng xinh tuyệt, hết sức tươi tắn , chẳng còn chút mệt mỏi – Em đẹp quá – tôi ngạc nhiên nói.
Em cảm thấy khỏe nữa, anh Robby ạ. Như thể vừa được ngủ suốt đêm ấy. con người em đổi khác nhanh lắm.
Phải, có Chúa chứng giám! Đôi khi nhanh tới mức người khác không theo kịp.
Nàng tựa vào vai tôi, nhìn tôi – Nhanh quá hả, anh Robby?
Không. Cùng lắm vì anh quá chậm. Anh thường hơi chậm chạp. Pat ạ.
Nàng mỉm cười – Chậm thì vững chãi. Mà vững chãi lại tốt.
Anh vững chãi như một cái nút bấc trên mặt nước vậy – tôi nói.
Nàng lắc đầu – Anh vững chãi hơn anh tưởng nhiều. Nói chung anh khác hẳn hình dung của anh về mình. Em hiếm thấy ai tự đánh giá bản thân lầm lẫn như anh.
Tôi buông vai nàng.
Phải, anh yêu – nàng gật đầu nói – quả đúng như vậy. còn bây giờ ta đi ăn thôi.
Ta đi đâu bây giờ nhỉ? – tôi hỏi.
Đến quán bác Anfongs. Em phải thấy lại tất cả. Em có cảm tưởng như mình đã vắng mặt hàng thế kỷ.
Hay lắm – tôi nói – Nhưng em có thật đói không đã? Người ta chỉ có thể đến quán Anfons với cái dạ dày lép. Nếu không, bác ta sẽ tống khứ.
Nàng cưới – Em đói  ngấu là đằng khác.
Vậy thì đi! – tôi bỗng hớn hở vô cùng.
Cuộc đón tiếp ở quán Anfons thật nồng hậu. Bác mất hút ngay sau khi chào chúng tôi và trở lại với cổ cồn trắng bóc, thắt cà vạt chấm xanh lá cây. Giá hoàng đế Đức có đến bác cũng không  trịnh trọng thế. Chính bác cũng hơi ngượng ngùng về cái dấu hiệu suy đồi chưa từng thấy này.
Sao, bác Anfons, có gì ngon nào? – Pat hỏi, hai tay trống lên bàn.
Anfons mỉm cười tủm tỉm, chúm môi, nheo mắt lại – Cô may lắm nhé! Hôm nay có tôm!
Bác lùi một bước để quan sát hiệu quả lời nói của mình. Hiệu quả hết chê – LẠi thêm một ly vang Mosel mới – bác say sưa thì thào  và lùi thêm bước nữa. Bác nhận được tràng vỗ tay như vũ bão, mà lạ là cả từ cửa vọng vào. Ở đó, cùng với mớ tóc vàng hoe rối bù và cái mũi cháy nắng hiện ngay ra cái mặt nhăn nhở cười của kẻ lãng mạn cuối cùng.
Gotfrit ư? – Anfons reo lên – Cậu hả? Chính cậu? Bố khỉ, ngày hôm nay mới thật là ngày chứ! Hãy ngả đầu vào ngực ta đây!
Bây giờ em sẽ được chứng kiến – tôi bảo Pat.
Hai người lao bổ lại ôm chầm lấy nhau. Anfons vỗ vỗ vào lưng Lenz, nghe cứ ngỡ như bên cạnh có kẻ đang quai búa rèn – Hans, – đoạn bác gào lên với người bồi bàn – mang rượu Napoleon ra đây!
Bác lôi Gotfrit tới bên quầy rượu. người bồi bàn cầm lại một chai lớn phủ đầy bụi. Anfons rót đầy hai ly.
Chúc cậu, Gotfrit, đồ lợn quay khốn kiếp!
Chúc bạn, Anfons, kẻ tù tội già tốt bụng!
Cả hai uống một hơi cạn ly.
Tuyệt hảo! – Gotfrit nói – Đúng là cô nhắc cho các Đức Mẹ.
Rượu này mà nốc ừng ực thì quả đáng xấu hổ - Anfons xác nhận.
Nhưng mà làm sao uống chậm được khi người ta hoan hỉ. Nào, ta cạn thêm ly nữa.
Bác rót rượu và nâng ly. – Đồ cà chua thối bạc bẽo!
Lenz cười khì – Bác Anfons già yêu quý của tôi!
Mắt bác Anfons rưng rưng lệ - Làm ly nữa Gotfrit – bác xúc động nói.
Cứ việc rót ! – Lenz chìa ly ra – Tôi chỉ từ chối loại cô nhắc này một khi không còn ngóc đầu nổi khỏi mặt đất.
Nói thế mới là nói chứ! – Anfons rót ly thứ ba.
Lenz hơi hổn hển trở lại bàn chúng tôi. Cậu ta rút đồng hồ ra.
Đúng tám giờ kém mười tụi này về tới xưởng với chiếc Citroen. Các cậu thấy thế nào?
Một kỷ lục – Pat đáp – Jupp muôn năm! Tôi cũng xin trao tặng cậu ấy một bao thuốc lá.
Còn cậu sẽ được thưởng riêng một xuất tôm! – Anfons, bấy giờ theo sát gót Gotfrit tuyên bố. đoạn, bác đưa chúng tôi một thứ khăn na ná như khăn trải bàn.
Hãy cởi áo khoác ra và quàng cái này vào! Cô đây cũng cho phép chứ ạ?
Tôi thấy cần là đằng khác – Pat nói.
Anfons sung sướng gật đầu – Cô là một phụ nữ biết điều, tôi biết thế. Ăn tôm là phải thoải mái. Không sợ dây bẩn. – Bác tủm tỉm cười – Bản thân cô dĩ nhiên sẽ nhận được thứ lịch sự hơn.
Anh bồi bàn Hans mang đến một chiếc tạp dề trắng tinh. Anfons giở ra và giúp nàng mặc vào – Cô mặc hợp lắm – bác khen.
Cứng cựa thật, cứng cựa thật! – nàng đáp và cười.
Tôi mừng rằng cô đã nhớ cả lời ăn tiếng nói của tôi – Anfons khoan khoái nói – Thật ấm cả ruột.
Bác Anfons! – Gotfrit buộc hai mép khăn của cậu ta ở sau gáy, khiến chúng vểnh ngược lên – Hiện thời tôi chỉ thấy như đang ngồi trong tiệm cắt tóc ấy.
Sẽ khác ngay đây. Nhưng thưởng thức chút nghệ thuật cái đã.
Anfons lại bên chiếc máy hát. Lập tức vang lên bài đồng ca trẩy hội trích trong vở Những ngôi nhà gỗ thông. Chúng tôi im lặng lắng nghe.
Âm thanh cuối cùng vừa lắng, cánh cửa bếp đã mở, anh bồi Hans xuất hiện với một cái liễn to bằng cái chậu tắm trẻ con. Liễn bốc hơi nghi ngút và đầy hụ tôm. Anh bồi thở hổn hển đặt liễn xuống bàn – Mang khăn ăn cho tao nữa – Anfons nói.
Bác định ăn cùng chúng tôi sao, ông bạn vàng của tôi? – Lenz kêu lên – Thật hân hạnh quá!
Nếu như cô đây không phản đối?
Trái lại, thưa bác Anfons!
Pat xích ghế sang bên, và bác ngồi xuống cạnh nàng.
Tôi ngồi gần cô mà lại hay – bác hơi lúng túng nói – Chả là tôi khá thành thạo trong việc bóc tôm. Đối với phụ nữ thì việc này lại chẳng thú vị gì.
Bác thò tay vào liễn vầ bắt đầu gỡ một con tôm cho nàng, nhanh nhoay nhoáy. Hai bàn tay khổng lồ của bác gỡ khéo và đẹp mắt tới mức Pat chẳng có việc gì làm ngoài chén những miếng tôm thơm ngon đã găm sẵn ở nĩa.
Ngon chứ cô
Tuyệt vời! – Nàng nâng ly – chúc sức khỏe bác, bác Anfons!
Anfons trịnh trọng cụng ly với nàng và chậm rãi cạn ly. Tôi nhìn nàng. Tôi muốn giá nàng uống thứ gì không có hơi men thì hơn. Nàng cảm thấy ánh mắt tôi.
Chúc anh, Robby! – nàng nói.
Ở đây thú tuyệt, phải không? – nàng hỏi, mắt vẫn nhìn tôi.
Tuyệt vời! – tôi lại rót rượu cho mình – Chúc sức khỏe em, Pat!
Một tia sáng thoáng hiện trên mặt nàng – Chúc anh Robby! Chúc anh, Gotfrit! – chúng tôi uống – Vang ngon đấy – Lenz nói.
Loại Gracher Ablsberg cất từ năm ngoái – Anfons bảo – tôi mừng thấy cậu biết thưởng thức.
Bác lấy ở liễn tôm con thứ hai và chìa cho Pat cái càng đã lột vỏ.
Nàng từ chối – Bác phải ăn con ấy đi, bác Anfons. Nếu không, bác chẳng được gì vào bụng cả.
Để lát nữa. Gì chứ khoản này tôi nhanh hơn mọi người nhiều.
Thế thì được. – Nàng cầm lấy cái càng tôm. Anfons  tươi roi rói vì hài lòng và tiếp tục chăm bẵm nàng. Trông bác chẳng khác gì một con cú già đồ sộ đang mớm mồi cho một chú chim non trắng nhỏ xinh.
Cuối cùng, cả bọn cùng cạn một ly Napoleon nữa, rồi chia tay với bác Anfons. Pat tỏ vẻ sung sướng – Tuyệt vời! – nàng nói – Cám ơn bác nhiều lắm, bác Anfons. Quả thật tuyệt vời! – Nàng Chìa tay cho bác Anfons . Bác lẩm nhẩm gì đó và hôn tay nàng. Lenz kinh ngạc đến mức mắt chực rơi khỏi tròng – Đến luôn nhé – Anfons nói – Cả cậu nữa, Gotfrit!
Bên ngoài, chiếc Citroen đứng nhỏ thó và lạc lõng dưới ngọn đèn đường.
Ồ! – Pat nói và đứng sững lại. Mặt nàng khẽ giật giật.
Tôi đã đặt tên cho chiếc xe là thần Hecquyn sau thành tích của cu cậu hôm nay! – Gotfrit mở cửa xe – Tôi đưa hai người về nhà nhé!
Không – Pat nói.
Tôi cũng nghĩ thế. Ta đi đâu bây giờ?
Tới tiệm rượu. Hay là thôi, anh Robby? – Nàng quay lại tôi.
Tất nhiên – tôi nói – tất nhiên ta ghé qua tiệm rượu.
Chúng tôi cho xe chạy chầm chậm qua các phố. Trời ấm và trong. Trước các quán cà phê đầy người ngồi. tiếng nhạc văng vẳng tới. Pat ngồi bên tôi. Bỗng tôi không thể tin rằng nàng thật sự ốm, cả người tôi nóng ran, nhưng trong giây lát tôi vẫn không sao nhìn nhận nổi điều đó.
Vào tiệm, chúng tôi gặp Ferdinan và Valentin. Ferdinan đang rất hớn hở. anh đứng dậy chạy ra đón Pat.
Nữ thần Diana – anh nói – Từ những cánh rừng trở về…
Nàng mỉm cười. anh đưa tay quàng vai nàng – Hỡi nữ thần săn bắn rám nâu và can đảm với cây cung bạc… ta uống gì đây?
Gotfrit hất tay Ferdinan ra – Những kẻ vô thần không biết tế nhị là gì – cậu ta nói – Cô đây có hai người đàn ông tháp tùng rồi, anh không nhận thấy sao, hở đồ bò rừng ương ngạnh?
Những kẻ lãng mạn chỉ lẽo đẽo theo sau… chứ có bao giờ được tháp tùng – Grau không chút nao núng vặc lại.
Lenz toét miệng cười, rồi quay sang Pat- Bây giờ tôi sẽ pha cho chị một thứ đồ uống đặc biệt Coctail Kolibri. Đặc sản của Braxin.
Cậu ta đến quầy rượu, pha trộn đủ thứ linh tinh, rồi bưng loại cocktail ấy lại.
Thế nào? – cậu ta hỏi.
Hơi nhẹ, mặc dù là của Braxin – Pat đáp.
Gotfrit cười – thế mà nặng lắm đấy. Pha từ vodka và rum chứ chẳng chơi đâu.
Thoạt nhìn tôi cũng biết là trong ấy chẳng có cả vodka lẫn rum… - Đó là nước quả ép, nước chanh, cà chua và có lẽ thêm một giọt men rượu. Một thứ cocktail không rượu. Nhưng đội ơn Chúa, Pat chẳng nhận ra.
Nàng uống liền ba ly lớn Kolibri, và tôi nhận thấy nàng khoan khoái vì không bị cư xử như một người ốm. Nửa giờ sau, cả bọn ra về, trừ Valentin ngồi lại. Lenz đã sắp đặt như vậy. cậu ta ấn Ferdinan vào chiếc Citroen rồi rồ máy chạy. như thế sẽ tạo cảm tưởng Pat và tôi không về sớm hơn những kẻ khác. Tất cả thật xúc động làm sao, nhưng dẫu sao, trong giây lát, tôi cảm thấy sao mà thật khổ tâm.
Pat khoác tay tôi. Nàng bước đi uyển chuyển duyên dáng bên tôi, tôi cảm nhận hơi ấm của bàn tay nàng, thấy ánh đèn đường lướt trên gương mặt linh hoạt của nàng… Không, tôi không sao hiểu được là nàng ốm, tôi có thể hiểu điều đó suốt ngày dài, nhưng tối đến thì không, khi cuộc sống êm dịu hơn, ấm áp hơn và chứa chan hứa hẹn…
Ta ghé lại nhà anh chơi chút nhé?- tôi hỏi.
Nàng gật đầu.
Hành lang nhà trọ để đèn – Quái quỷ - tôi nói – chuyện gì thế không biết? Đợi anh một lát.
Tôi mở cửa ngó vào. Hành lang trơ trọi được chiếu sáng như một con đường nhỏ ven đô. Cửa buồng bà Bender mở toang, trong đó cũng sáng đèn. Như một con kiến đen nhỏ, ông Hasso dò dẫm cuối hành lang, ông gò lưng vác một cây đèn đứng có chụp bằng lụa hồng. Ông  đang dọn phòng.
Chào bác – tôi nói – Bác dọn muộn thế?
Ông ngâng bộ mặt xanh xao có hàng ria mép mềm thẫm màu – Tôi vừa ở sở về cách đây một giờ. Mà chỉ tối đến tôi mới có thời gian rảnh để dọn.
Thế bác gái không có nhà sao
Ông lắc đầu – Bà ấy đi thăm một bà bạn. Thật may phúc mà giờ bà ấy có một bà bạn để quấn quýt.
Ôm mỉm một nụ cười chất phác, hài lòng và tiếp tục lê bước.
Tôi dón Pat vào – Theo anh, tốt hơn là chúng mình đừng bật đèn, ý em thế nào? – vào buồng rồi, tôi hỏi.
Bật chứ, anh yêu. Một tẹo thôi, rồi anh lại tắt cũng được.
Em là một kẻ tham lam vô độ - tôi nói, đành để bộ ghế nhung đỏ lòa loẹt hiện nhanh dưới ánh đèn sáng trưng rồi vội tắt ngay.
Cửa sổ mở, từ đám cây cối ngoài kia không khí tươi mát ban đêm phả vào như lùa về rừng.
Thích ghê – Pat nói và ngồi lên góc bậu cửa sổ.
Em thích nơi đây thật à?
Vâng, anh Robby. Như ở giữa một công viên mênh mông trong mùa hạ. Đẹp tuyệt.
Ban nãy đi ngang qua em có nhìn thử gian phòng bên không?
Không, sao cơ?
Đấy, bên trái, cái ban công rộng, tráng lệ kia thuộc phòng ấy đấy. Nó hoàn toàn thoáng đãng, không có vật chắn trước mặt. Nếu giờ em ở đây, em sẽ chẳng bao giờ cần đến bộ áo tắm để tắm nắng.
Vâng, nếu em ở đây…
Em có thể ở đây – tôi nói nhẹ nhàng – Em đã thấy là vài ngày tới gian phòng ấy sẽ trống.
Nàng nhìn tôi, mỉm cười – Anh cho rằng như vậy sẽ hay cho hai ta sao? Lúc nào cũng kè kè bên nhau?
Chúng mình sẽ chẳng kè kè bên nhau chút nào – tôi đáp. – Cả ngày anh hầu như không có nhà. Buổi tối cũng thường vắng mặt. nhưng nếu chúng mình đã ở bên nhau, chúng mình không cần phải ngồi la cà ở các tiệm hay lúc nào cũng vội vội vàng vàng chia tay, cứ như đến để thăm nhau vậy.
Nàng hơi cựa mình trong góc cửa. – Nghe thì tưởng như anh đã cân nhắc kỹ lưỡng lắm, anh yêu ạ.
Mà đúng thế - tôi nói – Anh đã nghĩ suốt buổi tối.
Nàng đứng thẳng dậy – Anh nói thật sự nghiêm túc đấy chứ, anh Robby?
Trời đất ơi, thật mà – tôi nói – em vẫn cứ chưa nhận ra sao?
Nàng nín lặng một lát – Robby -, đoạn nàng lên tiếng, giọng nàng còn trầm hơn trước – sao anh lại nảy ra ý nghĩ đó vào lúc này?
Anh nảy ra ý đó – tôi đáp, hăng hái hơn là tôi muốn, vì tôi bỗng cảm thấy đây là giây phút quyết định nhiều thứ lắm chứ không chỉ chuyện gian phòng – anh nảy ý đó, vì mấy tuần qua anh đã thấy được: hoàn toàn ở bên nhau tuyệt diệu biết bao! Anh không chịu đựng nổi những cuộc gặp gỡ chớp nhoáng nữa! Anh muốn ở bên em nhiều hơn thế! Anh muốn em lúc nào cũng bên anh, anh đã mất hứng chơi cái trò ú tim tinh khôn của tình yêu, anh chán ghét nó, anh cần gì nó, anh chỉ muốn có em thôi, lúc nào cũng em, em không bao giờ là đủ với anh, và anh không muốn để mất một phút nào bên em.
Tôi nghe tiếng nàng thở. Nàng ngồi trong góc cửa sổ, hai tay bó gối, và lặng im. Ánh sáng đỏ từ những tấm biển đèn quảng cáo đằng sau đám cây phía đói diện dần lập lòe lên cao, hắt ánh phản chiếu mờ mờ lên đôi giày sáng màu của nàng. Đoạn nó lướt trên váy và đôi tay nàng – Em cứ việc cười nhạo anh – tôi nói.
Cười nhạo gì? – nàng đáp.
Thế đấy, vì lúc nào anh cũng nói: anh muốn. Suy cho cùng, em phải có ý muốn của em chứ.
Nàng ngước nhìn – Anh có biết là anh đã thay đổi rồi không, anh Robby?
Không.
Có đấy. Tự anh chả nói ra là gì. Anh muốn. Anh không hỏi làm gì nữa. Anh muốn, có vậy thôi.
Đó chưa phải sự thay đổi ghê gớm gì. Em vẫn có thể bảo rằng không, dù anh có muốn đến đâu.
Nàng bỗng cúi mình về phía tôi – Tại sao em lại phải bảo rằng không, hở Robby? – nàng nói giọng hết sức dịu dàng, ấm áp – em cũng muốn mà…
Tôi ngạc nhiên ôm lấy vai nàng. Tóc nàng mơn trớn trên mặt tôi – Thật không, Pat?
Thật chứ, anh yêu.
Trời đất – tôi nói – thế mà anh cứ hình dung phải khó hơn nhiều.
Nàng lắc đầu – Cái đó chỉ tùy ở anh, anh Robby…
Anh cũng gần tin như vậy – tôi sửng sốt nói.
Nàng choàng tay lên gáy tôi. – Đôi khi không phải suy nghĩ gì mà lại hay. Không cần làm lấy mọi việc. Có thể dựa dẫm. Ôi, anh yêu, thực ra tất cả đều hết sức dễ dàng; chỉ có điều ta đừng tự làm khổ mình.
Tôi phải nghiến răng một lát. Chính nàng lại nói với tôi điều đó! – Đúng vậy – đoạn tôi bảo – đúng vậy, Pat à. Điều nàng nói chẳng đúng tí nào.
Chúng tôi còn đứng hồi lâu bên cửa sổ - Ta sẽ chuyển toàn bộ đồ đạc của em về đây – tôi nói - Ở đây em sẽ không thiếu thứ gì. Thậm chí chúng mình sẽ sắm một bàn trà có bánh xe. Frida sẽ làm quen với nó.
Chúng mình có rồi thôi, anh yêu. Bàn đó là của em.
Thế càng hay. Ngay ngày mai anh sẽ tập cho Frida đẩy.
Nàng tựa đầu vào vai tôi. Tôi nhận thấy nàng mệt – Anh nên đưa em về nhà bây giờ chăng? – tôi hỏi.
Vâng, ngày bây giờ. Em chỉ ngả lưng thêm lúc nữa.
Nàng nằm yên trên giường, không nói, tuồng như đã ngủ. Nhưng nàng mở mắt, trong đó thỉnh thoảng in ánh phản chiếu của đèn quảng cáo, tựa những quầng sáng phương bắc sặc sỡ lặng lẽ lướt trên tường, trên trần nhà. Bên ngoài đã im ắng. Chốc chốc vẳng sang tiếng Hasso hì hụi với những gì còn sót lại từ bao niềm hy vọng, từ cuộc sống gia đình, và có lẽ từ cả cuộc đời của ông.
Em nên ở lại luôn – tôi nói.
Nàng nhỏm dậy – Hôm nay thì không, anh yêu…
Anh ước gì em ở lại…
Mai…
Nàng đứng dậy và khe khẽ bước qua căn buồng tôi. Tôi nhớ lại cái ngày nàng ở lại lần đầu với tôi, trong cảnh tờ mờ sáng, nàng cũng lặng lẽ đi qua căn buồng như thế, để mặc quần áo. Tôi không biết đó là cái gì nhưng bước đi ấy chứa đựng một chút gì đương nhiên tới mức cảm động, một chút gì gần khiến người ta bàng hoàng, nó như dáng điệu của những thời đã bị chôn vùi, hết sức xa xưa, như sự tuân theo một lời răn không ai còn biết tới. Từ trong bóng tối, nàng trở lại với tôi, đưa tay ôm lấy mặt tôi – Vừa rôi ở bên anh em sung sướng lắm. Rất sung sướng. Em hạnh phúc vì có anh.
Tôi không đáp. Tôi không sao đáp lời nàng  được.
***
Tôi đưa nàng về nhà rồi trở lại tiệm rượu. Koester có đấy – Ngồi xuống đây – cậu ta bảo – Cậu khỏe chứ?
Cũng thường thường, Otto ạ.
Cậu uống chút gì nhé?
Mình đã uống thì phải uống rất nhiều. mà mình không muốn thế. Cũng phải có lúc biết nhịn. Nhưng mình nghĩ ra việc khác để làm rồi. Gotfrit đang chạy tắc xi đấy à?
Không.
Hay. Nếu thế mình sẽ chạy vài giờ.
Mình xuống nhà xe với cậu, - Koester nói.
Tôi đánh xe ra và từ biệt Koester. Đoạn tôi chạy đến bến. Trước mặt tôi, hai xe đã đậu sẵn. Sau đó thêm Gustap và Tommy, anh chàng diễn viên. Rồi cả hai xe kia rời bến, và chỉ lát sau tôi cũng có khách. Một thiếu nữ trẻ muốn đến tiệm Vineta.
Vineta là một tiệm nhảy bình dân với máy điện thoại đặt trên bàn, với  trạm chuyển bưu phẩm chạy bằng khí và những thứ đại loại thu hút dân tỉnh lẻ. Tiệm nằm hơi cách biệt với các tiệm khác, trong một đường phố tối tăm.
Chúng tôi dừng xe. Cô thiếu nữ lục lọi trong túi sắc nhỏ của mình và chìa cho tôi một tờ năm chục mác. Tôi nhún vai – Tiếc là tôi không đổi ra tiền lẻ được.
Tay gác cổng đến gần – Bao nhiêu cả thẩy? – Thiếu nữ hỏi.
Một mác bảy.
Cô ta quay sang tay gác cổng – Anh trả giùm tôi được không? Đi nào, tôi sẽ đưa tiền cho anh ở quầy.
Tay gác cổng mở cổng, rồi theo cô thiếu nữ vào quầy, lát sau, hắn quay ra – Đây…
Tôi đếm lại – Sao chỉ có mác rưỡi.
Đừng có nói nhảm, hay đằng ấy còn quá non hả? hai chục xu thuế cho gác cổng. thôi cút!
Có những nơi người ta cho tiền gác cổng. Nhưng chỉ cho  trong những trường hợp hắn ta kiếm khách hộ, đằng này mình chở khách đến – Đây không non đến thế đâu – tôi nói – đây phải nhận đủ một mác bảy mươi.
Tao thì thoi cho vỡ mõm bây giờ - hắn gầm lên. – Của nợ, không hồn cuốn xéo mau, ở chốn này tao dày mặt hơn mày nhiều.
Tôi không tiếc gì hai chục xu. Có điều tôi không thích để mình bị mắc lỡm – Đừng già mồm, đưa nốt tiền đây – tôi nói.
Tên gác cổng ra đòn nhanh tới mức tôi không kịp đỡ. Mà tránh cũng không thể được vì tôi đang ngồi trong xe. Đầu tôi va vào tay lái. Choáng váng, tôi gượng ngồi dậy. Tai ù như khua trống, máu mũi nhỏ ra. Tên gác cổng đứng án trước tôi.
Thêm cú nữa chứ, đồ xác ướp?
Trong tích tắc, tôi cân nhắc thời cơ của mình. Không thể làm gì được. Thằng cha khỏe hơn tôi: Muốn hạ hắn, phải chơi đòn bất ngờ. Từ trong xe đánh ra thì không ăn thua, làm gì có đà. Còn chờ tới lúc tôi bò được ra khỏi xe thì hắn đủ cho tôi đo ván ba lần. tôi nhìn hắn. Hắn phà hơi bia vào mặt tôi – Tao chỉ trở tay lần nữa, vợ mày thành gái góa.
Tôi nhìn hắn. tôi không nhúc nhích. Tôi ngó trân trân vào bộ mặt khỏe mạnh to bè ấy. Tôi nhìn như muốn nuốt tươi nó. Tôi biết phải đánh vào đâu, tôi tức đến bầm gan tím ruột. Nhưng tôi vẫn ngồi im. Tôi thấy bộ mặt ấy quá gần, quá rõ, như qua một lớp kính phóng đại, to tướng, rõ từng sợi râu rễ tre, lớp da thô giãn chân lông, đỏ tía….
Một chiếc mũ cảnh sát lóe sáng – Chuyện gì thế này?
Tên gác cổng làm bộ mặt khúm núm – Chuyện gì đâu, thưa ngài hạ sĩ.
Viên cảnh sát nhìn tôi – Không có chuyện gì – tôi đáp.
Ông ta đưa mắt nhìn từ tên gác cổng sang tôi – Anh chảy máu mà.
Tôi bị va đầu.
Tên gác cổng lùi lại một bước. Một nụ cười khoái trá ánh lên trong mắt hắn. Hắn ngỡ tôi không tố cáo hắn vì sợ.
Thôi cho xe đi đi – viên cảnh sát bảo.
Tôi nhấn ga, trở lại bến.
Quỷ ạ, trông cậu sao lạ thế? – Gustap nói.
Chả là tại cái mũi – tôi đáp, đoạn thuật lại câu chuyện.
Theo tớ vào quán – Gustap bảo – Tớ từng là cai quân ý viện chứ đùa đâu. Quân chó má, ai lại đánh người đang ngồi.
Anh lôi tôi vào bếp nhà quán, hỏi xin nước đá và loay hoay với tôi suốt nửa tiếng –Cậu sẽ không bị một vêt bầm nào – anh tuyên bố.
Mãi rồi cũng xong – Sao, còn cái đầu thế nào? Không hề gì hả? giờ tụi ta sẽ không bỏ phí thời gian.
Tommy vào – Thằng gác cổng hộ pháp của tiệm Vineta chứ gì? Thằng ấy hay đánh người có tiếng. Tiếc rằng nó chưa từng bị xơi cú ù tai hoa mắt nào.
Giờ nó sẽ được nếm mùi – Gustap nói.
Đúng, nhưng bởi tay tôi – tôi đáp.
Gustap nhìn tôi vẻ không hài lòng. – Chờ tới lúc cậu chui ra khỏi xe thì…
Tôi đã nghĩ ra được một kế. Nếu không thành, anh vẫn có thể xáp vô cơ mà.
Tôi chụp mũ của Gustap lên đầu, chúng tôi lấy cả xe của anh, để tên gác cổng không đánh hơi ngay thấy con mồi. Đằng nào hắn cũng chẳng trông rõ, phố ấy tối lắm.
Chúng tôi tới nơi. Phố vắng không một bóng người. Gustap nhẩy xuống xe, tay cầm tờ hai chục mác.
Mẹ kiếp, không có tiền lẻ! Này gác cổng, anh đổi được không? Một mác bẩy à? Anh trả giùm cho bác tài nhé.
Gustap làm như đang đi về quầy. Tên gác cổng vừa ho, vừa lại gần, dúi cho tôi một mác rưỡi. tôi vẫn cứ chìa tay ra.
Xéo đi…,- hắn gầm.
Nôn ngay tiền thừa ra, đồ chó ghẻ!! – tôi thét.
Một tích tắc, hắn đứng như hóa đá – Thằng khốn! – đoạn hắn nói khẽ và thè lưỡi liếm môi,- mày sẽ còn hối hằng tháng ròng! – hắn lấy đà. Cú ấy mà trúng, khéo tôi lăn quay ra bất tỉnh mất. Nhưng tôi đã thủ thế, tôi xoay người, chúi xuống, quả đấm cực mạnh giáng trúng cái vuốt thép sắc nhọn của cái tay quay mà tay trái tôi ngầm giơ ra đón sẵn. Tên gác cổng rú lên, nhảy lùi lại, vẩy tay lia lịa. Hắn đau đớn xuýt xoa như một cái máy phì hơi và đứng trơ ra đó, không chút thủ thế.
Tôi vọt khỏi xe – Mày nhận ra tao chứ? – tôi thét, thoi cho  hắn môt cú vào dạ dày.
Hắn ngã lăn chiêng – Một.. – Gustap từ quầy vé quay ra, bắt đầu đếm – Hai,… ba…
Đến năm, tên gác cổng đờ đẫn gượng đứng dậy. Tôi lại thấy trước mắt bộ mặt hắn, y hệt lần trước, hoàn toàn rõ ràng, cái bộ mặt to khỏe, bè bè, đần độn, đê tiện này, cái con lợn chắc chẳng bao giờ mắc chứng lao phổi này, và đột nhiên tôi thấy máu bốc lên đầu, lên mắt, tôi lao tới, nện như băm như bổ, trút tất cả những gì tích tụ trong tôi suốt những ngày qua, suốt những tuần qua, lên cái bộ mặt sung súc, to bè, kêu be be ấy, cho tới khi tôi bị lôi ra…
Khỉ ạ, khéo cậu đánh chết hắn… - Gustap kêu.
Tôi nhìn xung quanh. Tên gác cổng tựa lưng vào tường, máu me đầm đìa. Hắn quỵ người, đổ sụm xuống, và bắt đầu chậm chạp bò về phía cửa như một con sâu khổng lồ, lấp lánh trong bộ đồng phục.
Hắn sẽ chừa thói hay gây gổ - Gustap nói – Nhưng phải chuồn cho mau trước khi có người tới! Tội đánh người trọng thương chứ đùa đâu.
Chúng tôi quăng tiền xuống vệ đường, lên xe phóng đi.
Tôi cũng chảy máu à ? – tôi hỏi, - hay là máu tên gác cổng?
Lại là máu mũi của cậu đấy – Gustap đáp – Hắn đã giáng xuống đó một cú trái rất đẹp mắt.
Tôi không hề nhận thấy.
Gustap cười.
Anh biết không – tôi nói – giờ tôi cảm thấy nhẹ hẳn người.
(còn tiếp)
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-12 11:20:08gianghan>
Chương XVIII

Chiếc tắc xi của chúng tôi đậu trước tiệm rượu. Tôi vào tiệm đổi phiên cho Lenz, lấy chìa khóa xe và giấy tờ, Lenz theo ra ngoài – Cậu kiếm khá tiền chứ? – tôi hỏi.
Tam tạm – cậu ta đáp – Vì quá nhiều tắc xi chạy, hoặc quá ít người đi tắc xi. Còn cậu?
Chả ra gì. Chầu chực suốt đêm ngoài đường mà không kiếm nổi hai chục mác.
Thời buổi đốn mạt! – Gotfrit rướn đôi lông mày lên – Chà, thế thì hôm nay chắc cậu chẳng đến nỗi vội lắm hả?
Không, nhưng sao?
Cậu cho mình đi ghé một quãng.
Được – Chúng tôi lên xe – Cậu đi đâu nào? – tôi hỏi.
Đến nhà thờ.
Cái gì? – tôi hỏi – Cậu có tin mình mà lại nghe nhầm không? Mình nghe thành nhà thờ.
Không đâu, con trai của ta, con chẳng nghe nhầm tẹo nào. Đúng là nhà thờ đấy!
Tôi kinh ngạc nhìn cậu ta – Chớ ngạc nhiên, mà đi đi – Gotfrit nói – Thì đi – tôi cho xe chạy.
Nhà thờ nằm trong khu vực cổ của thành phố, trên một quảng trường quang đãng bao bọc bởi các dãy nhà chung. Tôi dừng xe trước cổng chính – Đi nữa – Gotfrit bảo – vòng hẳn vào trong.
Cậu ta bảo tôi đỗ lại trước một lối hẹp phía sau nhà thờ rồi xuống xe. – Vui vẻ nhé – tôi nói – Dễ thường cậu định xưng tội.
Đi với mình – cậu ta đáp.
Tôi cười – Hôm nay thì thôi. Sáng ra mình đã cầu nguyện rồi. Với mình thế là đủ cho cả ngày…
Đừng nói vớ vẩn nữa, bé yêu. Đi với mình. Mình muốn tỏ ra hào hiệp và cho cậu xem cái này.
Tò mò, tôi theo cậu ta. Qua cánh cửa nhỏ, chúng tôi đã lọt vào các nhà tu. Chúng quây thành một hình tứ giác lớn với những vòm dài hình cung dựng trên mặt trong của những cột đá hoa cương xám bao quanh một khu vườn. Chính giữa nổi lên một cây thánh giá lớn dãi dầu mưa nắng, với hình Chúa Giesu. Bốn bên là các dãy phù điêu trên đá, khắc họa những cảnh đoạn trong bài kinh roze buồn thảm. Trước mỗi bức phù điêu đặt một chiếc ghế dài cầu nguyện cũ kỹ. Khu vườn bị bỏ hoang, hoa nở đầy.
Gotfrit trỏ vào mấy bụi hồng thắm và hồng bạch to tướng – Đó, cái mà mình định cho cậu xem! Cậu nhận ra không?
Tôi đứng sững ngạc nhiên – Cố nhiên mình nhận ra – tôi nói – Té ra cậu đã ngắt hoa ở đây, quân trộm cướp nhà thờ lõi đời kia!
Cách đây một tuần, Pat dọn đến nhà trọ Zalepski, tối đầu, Lenz sai Jupp mang tặng nàng một bó hồng khổng lồ. Nhiều tới mức Jupp phải chạy lên chạy xuống hai lần, lần nào cũng ôm một ôm tướng. Tôi đã nghĩ nát cả óc vì biết nguyên tắc của Lenz là không bao giờ mua hoa. Tôi chưa từng thấy những bông hoa như  thế trong các vườn hoa công cộng.
Sáng kiến tuyệt vời! – tôi thán phục nói – Thế mới xứng làm người.
Gotfrit cười tủm tỉm – Khu vườn này là một mỏ vàng chính cống! – Cậu ta trịnh trọng đặt tay lên vai tôi – Mình cho cậu là người cùng sở hữu! Nên nhớ thời điểm này chính là lúc cậu có thể tận dụng nó!
Sao lại thời điểm này? – tôi hỏi.
Vì hiện tại các vườn hoa công cộng khá trơ trụi. Và hẳn từ trước tới giờ chúng là nguồn tài nguyên duy nhất của cậu chứ gì?
Tôi gật đầu.
Vả lại – Gotfrit giảng giải – lúc này cậu đang bước vào cái giai đoạn mà trong đó có sự khác biệt giữa một kẻ trưởng giả và một kẻ hào hoa được bộc lộ. Quan hệ với một người đàn bà càng lâu, kẻ trưởng giả càng lơ là nàng. Trong khi con người hào hoa mỗi lúc một quan tâm tới nàng – Lenz vung rộng hai tay – Với rừng hoa này, cậu có thể trở thành kẻ hào hoa phong nhã đến độ làm sửng sốt thiên hạ!
Tôi bật cười – Hay lắm, Gotfrit! – tôi nói – Nhưng ngộ nhỡ bị bắt thì sao? Từ đây khó tẩu thoát lắm, và những kẻ sùng đạo dễ dàng quy ngay cho tội xúc phạm nơi thánh địa.
Anh bạn trẻ thân mến ơi – Lenz đáp – cậu có thấy ma nào ở đây không đã? Từ sau chiến tranh, thiên hạ mải kéo nhau tới các cuộc họp chính trị, chứ không tới nhà thờ.
Có thế thật – Nhưng còn các tu sĩ?
Tu sĩ thì quan tâm gì đến hoa, nếu quan tâm đã chẳng bỏ vườn hoang. Còn Chúa thì cùng lắm chỉ vui lây khi thấy cậu đem lại vui sướng cho kẻ khác. Chúa đâu có khắc nghiệt.
Cậu nói đúng! – Tôi nhìn những bụi hồng già to tướng – Thế là mình có đủ hoa cho mấy tuần tới rồi, Gotfrit ạ.
Lâu hơn chứ. Cậu may đấy. loại hồng này nở rất dài ngày, lại lâu tàn. Đủ cho cậu ít nhất là tới tháng chín. Từ đó trở đi đã có các loài cúc. Lại đây  mình chỉ luôn cho.
Chúng tôi đi xuyên khu vườn. hoa hồng thơm ngát. Bầy ong như một dải mây kêu vù vù bay từ đóa hoa này sang đóa hoa khác.
Nhìn kìa – tôi nói và dừng lại – chúng đến từ đâu được nhỉ? – Xuất hiện giữa thành phố ư? Quanh đây làm gì có tổ ong nào? Hay cậu  nghĩ các tu sĩ đặt tổ ong trên các mái nhà
Không đâu, người anh em – Lenz đáp – Mình đem đầu ra bảo đảm là chúng đến từ một trang ấp nào đó. Chúng biết rõ con đường cần đi – cậu ta nháy mắt. – Chúng mình thì không biết, hả?
Tôi nhún vai – Có lẽ có. Ít nhất cũng biết một quãng ngắn. Được đến đâu hay đến đó. Cậu thì không ư?
Không. Mà cũng chẳng muốn biết làm gì. Mục đích biến cuộc sống thành trưởng giả.
Tôi ngước nhìn tháp nhà thờ xanh ánh như sa tanh trên nền trời màu lơ, cái tháp lặng lẽ, vô cùng cổ kính, với bầy én chao lượn xung quanh.
Ở nơi đây yên tĩnh biết bao – tôi nói.
Lenz gật đầu – Phải, bố trẻ ơi, ngồi đây mới nhận thấy: để trở nên lương thiện, thực ra chỉ thiếu có thời gian, hả?
Thời gian và sự yên tĩnh – tôi đáp – cả sự yên tĩnh nữa.
Cậu ta cười – Muộn quá mất rồi! Đã tới lúc con người ta không còn chịu đựng nổi sự yên tĩnh nữa. Vậy hãy đi thôi! trở lại với cuộc sống huyên náo!
***
Gotfrit xuống xe rồi, tôi quay lại bến. tôi đi ngang qua nghĩa trang. Biết giờ này Pat đang nằm trên chiếc ghế dài đặt ngoài ban công, tôi bấm mấy hồi còi liền. nhưng không thấy động tĩnh gì, tôi cho xe chạy tiếp. Bù lại, cách đó một quãng, tôi thấy bà Hasso đang bươn bả đi trong một chiếc áo choàng bằng lụa mỏng, rồi biến sau góc phố. Tôi rượt theo bà, toan ngỏ ý mời bà lên xe đưa đi giúp. Nhưng tới ngã tư, tôi thấy bà chui vào một chiếc xe hơi đỗ khuất sau góc phố. Đó là một chiếc Mecxedes đã hơi tã, đời 1923, nó phành phạch chạy ngay. Một gã đàn ông mũi chẳng khác gì mỏ vịt, diện bộ comple kẻ ô vuông rõ chóe, cầm lái. Tôi nhìn theo chiếc xe khá lâu. Đàn bà mà cứ phải thủi thủi ngồi nhà suốt ngày suốt ắt sinh ra thế. Trầm ngâm, tôi lái xe về bến, xếp vào cuối hàng tắc xi chở khách.
Mặt trời hun nóng mui xe. Xe nhích lên chậm rì rì. Tôi ngủ gà gật, toan đánh một giấc. nhưng hình ảnh bà Hasso cứ ám ảnh trong óc tôi. đã đành hoàn cảnh mỗi người mỗi khác, nhưng suy cho cùng Pat cũng suốt ngày một mình lẻ bóng.
Tôi xuống xe, mò lên trên tìm Gustap – Này, làm một ngụm – anh nói và chìa cho tôi cái phích con.
Mát tỉnh người! phát minh riêng đấy! cà phê bỏ đá. Trời nực thế mà vẫn lạnh hàng giờ. Gustap này thạo đời một cây!
Tôi cầm cốc, uống cạn – Nếu quả là anh thạo đời – tôi nói – hãy bảo tôi cách giải khuây cho một người đàn bà hay phải ở nhà một mình.
Dễ đến thế là cùng! – Gustap nhìn tôi kẻ cả - Quỷ ạ. Robert! Cho nàng một nhóc hay một con chó là xong! Hãy hỏi mình điều gì hóc búa hơn kia!
Một con chó à? – tôi ngạc nhiên – mẹ kiếp, ờ nhỉ, một con chó! Anh nói đúng! Có con chó bên cạnh, sẽ chẳng bao giờ cô đơn cả.
Tôi mời anh một điếu thuốc – Này, anh có tình cờ am hiểu đôi chút về cái khoản này không? Hiện giờ một con chó tàng chắc cũng rẻ thôi nhỉ.
Gustap lắc đầu đầy trách móc – Kìa, Robert, thật quả cậu hoàn toàn chưa biết cậu có thể mong chờ gì ở mình! Ông nhạc tương lai của mình là kế toán thứ hai trong nghiệp đoàn giống chó sục Doberman hẳn hoi! Cố nhiên cậu có thể được nhận nuôi một con cún đực, thậm chí biếu không, giống tốt nhất. Tụi mình đang có một ổ, bốn cặp, bà nội chúng là nữ vô địch Hectha thuộc lâu đài Toggen.
Gustap là một kẻ tốt phước. bố vợ tương lai của anh không chỉ là nhà nuôi chó Doberman, mà còn là chủ quán, chủ tiệm Nơi ẩn dật mới. Ngoài ra, vợ chưa cưới của anh cũng sở hữu một hiệu giặt là. Nhờ vậy, Gustap sống rất đàng hoàng. Ở nhà ông nhạc, anh ăn uống thả cửa không mất tiền, còn áo sơ mi thay ra đã có vị hôn thê giặt là thơm tho. Anh cố tránh né chuyện cưới xin. Cưới rồi, anh sẽ là người phải lo toan.
Tôi giải thích với Gustap rằng một con chó nòi Doberman e không phù hợp. Tôi thấy giống ấy to quá, tính tình lại đáng gờm. Gustap chỉ suy  nghĩ một thoáng – Đi với mình – anh nói – tụi mình sẽ tính kế. Mình nghĩ ra rồi. Nhưng cậu chớ có xen lời vào đấy!
Được.
Anh dẫn tôi đến một cửa hiệu nhỏ. Trong tủ hàng  là những bể nuôi cá đầy rong. Vài chú chuột bạch nép mình buồn bã trong một cái thùng. Hai bên treo những lồng hoàng yến, sẻ ức đỏ, bạch yến, chúng nhảy nhót loạn xạ.
Một người đàn ông nhỏ bé, chân vòng kiềng, mặc áo gile len nâu ra tiếp chúng tôi. Mắt ướt nhèm, da xám nghoét, cái mũi cam sành đỏ tía: đích thị một tay bợm bia rượu.
Thế nào Anton, con Asta thi thố ra sao? – Gustap hỏi.
Đoạt giải nhì và giải danh dự ở Koen – Anton đáp.
Vét đĩa thế! – Gustap nói – Sao không chiếm giải nhất?
Họ trao giải nhất cho Udo Blankenfels – Anton làu bàu.
Phía trong tiệm vọng ra tiếng chó sủa ăng ẳng, tiếng rền rĩ. Gustap đi vào. Anh xách cổ ra hai chú chó sục nhỏ, bên trái con đen trắng, bên phải con nâu hung. Tay xách con nâu hung lên giật giật. Tôi nhìn anh: đồng ý.
Đó là một con cún nghịch ngợm và xinh tuyệt. Cẳng thẳng, mình chữ nhật, đầu vuông, tinh khôn, nhâng nháo. Gustap thả cho cả hai con chạy.
Con chó lai đến là kỳ cục – anh nói, tay chỉ con nâu hung – cậu moi nó ở đâu ra vậy?
Anton khoe rằng gã mua nó từ một quý bà đã đi sang Nam Mỹ. Gustap phá lên cười nghi hoặc. tự ái, Anton đưa xem cả một bản gia phả, trong đó ghi từ đời cụ tổ con chó. Gustap phẩy tay và tỏ vẻ  khoái con đen trắng. Anton đòi giá của con hung nâu một trăm mác, Gustap trả có năm. Anh không ưa cụ nội nó. Anh chê bai cả cái đuôi con chó. Mà tai tiếc nó cũng chẳng chuẩn gì cả. con đen trắng mới chúa sừng chứ.
Tôi đứng trong góc cửa hiệu lắng nghe. Chợt có cái gì chạm vào mũ tôi. Sửng sốt, tôi quay người lại. Một con khỉ con ngồi vắt vẻo trên một cái sào trong góc hiệu, hơi còng lưng xuống, bộ lông vàng khè, mặt buồn thiu. Nó có cặp mắt đen tròn xoe, và đôi môi đầy phiền muộn của một bà lão. Ngang bụng con khỉ thắt một cái đai da buộc chặt vào một cái xích. Đôi bàn tay bé xíu, đen sì, giống tay người kinh khủng.
Tôi vẫn cứ đứng yên xem sao. Con khỉ từ từ mon men lại gần trên chiếc sào. Nó vừa mon men vừa nhìn tôi không rời, một cái nhìn không chút ngờ vực, mà rụt rè, lạ lùng làm sao. Cuối cùng, nó thận trọng thò tay ra. Tôi chìa cho nó ngón tay trỏ. Nó giật mình, đoạn nắm lấy ngón tay tôi. Một cảm giác kỳ lạ khi cảm nhận cái bàn tay trẻ con lành lạnh nắm chặt ngón tay mình. Tuồng như một con người khốn khổ, câm lặng bị phù phép trong cái hình hài còng gập này đang muốn được cứu thoát ra ngoài. Tôi không dám nhìn lâu vào cặp mắt buồn thống thiết ấy.
Gustap hổn hển nhô ra khỏi rừng cây cảnh – vậy là thỏa thuận rồi nhé. Anton, mình sẽ bù cho cậu một con cún đực Doberman nòi Hertha. Cậu trúng quả này là quả đậm nhất đời còn gì! – Đoạn anh quay sang tôi – Cậu muốn đem nó về luôn chứ?
Giá bao nhiêu?
Không một xu. Đổi lấy con Doberman mà mình vừa tặng cậu ấy. Phải, cứ để Gustap xoay sở cho là nhất! Phi Gustap không xong!
Chúng tôi thỏa thuận rằng chạy tắc xi xong tôi sẽ quay lại bắt con chó sau.
Cậu có biết cậu vừa vớ bở gì không? – Gustap hỏi tôi khi đã ra ngoài đường – Một của cực hiếm. Một chú chó sục Ailen. Búa bổ. Không chê vào đâu được. Lại còn cuốn gia phả nữa, lạy Chúa, cậu chớ có ngó ngàng vào đó, kẻo bao giờ cậu cũng phải cung kính cúi mình trước khi cậu bắt chuyện với con vật đấy.
Gustap – tôi bảo – anh vừa giúp tôi một việc rất lớn. Đi, giờ ta cùng đi uống thứ cô nhắc lâu đời nhất mà ta có thể tìm được.
Hôm nay không được! – Gustap nói – Hôm nay mình phải giữ cho bàn tay khéo léo. Tối nay mình sẽ chơi ky trong nghiệp đoàn. Hứa với mình là cậu sẽ cùng đến đi. Toàn những người đứng đắn rất mực, thậm chí có cả một ngài tổng giám đốc bưu điện.
Tôi sẽ đến – tôi nói – Cho dù ngài tổng giám đốc bưu điện không có mặt chăng nữa.
***
Gần sáu giờ, tôi lái xe trở lại xưởng. Koester đang mong tôi – Jaffe gọi điện tới chiều nay. Dặn cậu gọi lại cho ông ta.
Tôi nghẹn thở trong một giây. – Ông ta có nói gì không, Otto?
Không, không nói gì đặc biệt. Chỉ dặn rằng ông ta sẽ ở phòng khám đến năm giờ. Sau đó sẽ tới nhà thương Dorothen. Vậy cậu phải gọi điện lại đằng ấy.
Được.
Tôi đi vào phòng giấy. Trong phòng nóng và ngột ngạt, vậy mà tôi run rẩy, chiếc ống nghe lẩy bẩy trong tay tôi – Vớ vẩn – tôi tự át mình và chống tay thật vững lên mặt bàn. Phải đợi khá lâu mới gọi được Jaffe – Anh rảnh không? – ông hỏi.
Rảnh ạ.
Vậy anh lại đằng này nhé. Tôi còn ở đây một giờ nữa.
Tôi muốn hỏi ông xem Pat có việc gì không. Nhưng tôi không dám. – Vâng – tôi nói – mười phút sau tôi sẽ có mặt ở chỗ ông.
Tôi đặt ống nghe xuống và lập tức gọi về nhà. ả hầu gái cầm máy. Tôi hỏi gặp Pat – Không biết cô ấy có đây không ? – Frida càu nhàu – Để tôi xem xem đã.
Tôi đợi. đầu óc tôi mụ mị, nóng bỏng. sao lâu thế. Rồi tôi nghe tiếng máy lạo xạo và giọng Pat. – Anh Robby đấy à?
Tôi nhắm mắt lại một lát – Em thế nào, Pat?
Em khỏe. Em ngồi trên ban công đọc sách cho đến bây giờ. Một cuốn sách xúc động lắm.
Thế à, một cuốn sách xúc động à? – tôi nói – VẬy thì hay lắm. anh chỉ định báo với em rằng hôm nay anh về nhà hơi muộn một tí. Em đã đọc hết cuốn sách của em chưa?
Chưa, em đang đọc dở. Còn đủ đọc  trong vài giờ nữa.
Tới lúc đó anh có mặt ở nhà lâu rồi. Thôi em đọc nốt nhanh lên nhé!
Tôi ngồi lặng một lát. Đoạn đứng dậy. – Otto – tôi nói – mình lấy chiếc Karl đi được không?
Cố nhiên. Nếu cậu muốn thì mình đi cùng. Mình chẳng có việc gì làm ở đây cả.
Không cần đâu. Chẳng có chuyện gì quan trọng. Mình đã gọi điện báo cho nhà rồi.
Ánh sáng đẹp làm sao, tôi nghĩ khi chiếc Karl đã vọt ra ngoài đường, ánh chiếu trên các mái nhà mới tuyệt vời làm sao! Cuộc sống tràn đầy, ngọt ngào quá đỗi!
Tôi phải đợi Jaffe ít phút. Một nữ y tá đưa tôi vào một căn phòng nhỏ, trong đó ngổn ngang những tờ tạp chí cũ. Trên bậu cửa sổ đặt mấy chậu cây leo. Bao giờ cũng vẫn những tờ tạp chí đóng bìa nâu ấy, bao giờ cũng vẫn những đám dây leo buồn thảm mà người ta chỉ bắt gặp trong các phòng chờ của các thầy thuốc và trong nhà thương.
Jaffe bước vào. Ông mặc một chiếc blu trắng tinh còn nguyên nếp là. Nhưng khi ông ngồi xuống bên tôi, tôi thấy ở mặt trong ống tay áo phải có một vệt tia máu đỏ tươi nhỏ xíu. Đời tôi, tôi từng thấy nhiều máu…, nhưng cái vết máu bé tí ti này bỗng chốc đè nặng lên tôi còn hơn cả đống bông băng đẫm máu. Sự vững tin trong tôi tắt ngấm.
Tôi đã hứa sẽ cho anh biết tình trạng sức khỏe của cô Honman – Jaffe nói.
Tôi gật đầu, mắt nhìn tấm khăn trải bàn có những hình nổi bằng nhung sặc sỡ. Tôi nhìn  chăm chăm vào đám hình lục giác chằng chịt, và có linh cảm điên rồ rằng mọi sự ắt sẽ tốt đẹp, chỉ cần tôi giữ được bình tĩnh và không chớp mắt trước khi ông Jaffe tiếp lời.
Cách đây hai năm cô ấy nằm sáu tháng ở nhà an dưỡng. Anh biết chứ?
Không – tôi đáp, mắt vẫn không rời tấm khăn trải bàn.
Sau đó bệnh tình có thuyên giảm. Tôi vừa khám kỹ lưỡng cho cô ấy. Mùa đông này, nhất thiết cô ấy phải trở lại đó. Cô ấy không thể ở lại thành phố.
Tôi vẫn nhìn chằm chằm vào những hình lục giác. Chúng nhòa đi và bắt đầu nhảy nhót – Bao giờ cô ấy phải đi? – tôi hỏi.
Trong mùa thu. Muộn nhất là cuối tháng mười.
Vậy đó không phải là chứng thổ huyết chỉ một lần rồi lành sao?
Không.
Tôi ngước mắt nhìn – Có lẽ tôi không cần phải nói anh cũng biết – Jaffe tiếp – rằng bệnh này hết sức khó lường. Một năm trước đây  nó có vẻ đã dứt, các vết tổn thương đã thành sẹo, và có thể xem như bệnh đã bị đẩy lùi. Cũng như vậy, từ tình trạng vừa tái phát hiện giờ, các vết tổn thương có thể lại đi tới chỗ lành lặn một cách đáng kinh ngạc. không phải tôi nói cốt để an ủi… mà sự thực là thế. Bản thân tôi từng chứng kiến nhiều ca bình phục lạ lùng.
Và cả những ca chuyển biến xấu nữa chứ?
Ông nhìn tôi – Cả những ca ấy nữa, tất nhiên.
Ông bắt đầu giảng giải tỉ mỉ cho tôi. Cả hai lá phổi đều bị nhiễm lao, lá phải nhẹ hơn, lá trái nặng hơn. Đoạn ông dừng lời và bấm chuông gọi y tá.
Cô lấy giúp cái cặp giấy của tôi.
Cô y tá mang cặp vào. Jaffe lôi ra hai phong bì lớn. Ông rút phong bì đánh xoạt và giơ phim lên trước cửa sổ. – Thế này anh nhìn rõ hơn. Đây là những bức ảnh chụp quang tuyến.
Trên tấm phim trong màu xám, tôi thấy những đốt sống lưng, hai xương bả vai, xương đòn, khớp vai và những rẻo xương sườn hơi cong cong. Nhưng tôi còn thấy nhiều hơn thế - tôi thấy một bộ xương người. Nó nổi lên, tối thẫm và ma quái từ những cái bóng nhờ nhờ  chồng chéo lên nhau trên tấm phim. Tôi thấy bộ xương của Pat. Bộ xương của Pat.
Jaffe vừa cầm panh chỉ từng đường nét, từng chỗ đậm nhạt khác nhau trên tấm phim, vừa giảng giải. Ông không nhận thấy tôi hoàn toàn chẳng nhìn vào đó nữa. Tính tỉ mỉ của nhà khoa học xâm chiếm ông. Cuối cùng ông quay sang tôi – Anh hiểu rồi chứ?
Vâng – tôi nói.
Anh làm sao vậy?
Chẳng sao cả - tôi đáp – Tôi chỉ không thích nhìn vào đó.
À, ra vậy – Ông sửa lại mục kỉnh. Đoạn ông đút trả hai tấm hình vào phong bì và nhìn tôi dò xét – Anh đừng nghĩ ngợi vẩn vơ làm gì.
Tôi không nghĩ ngợi vẩn vơ. Nhưng khốn khổ khốn nạn quá lắm! hàng triệu người khỏe mạnh. Cớ sao riêng nàng lại không?
Jaffe im lặng một lát.
Không ai có thể trả lời câu hỏi của anh – đoạn ông nói.
Phải – tôi đáp, đột nhiên căm giận khủng khiếp, máu nóng bốc lên ù đầu, - không ai có thể trả lời! Tất nhiên là không! Mẹ kiếp! Người ta không biết làm gì để chống trả lại chúng!
Jaffe nhìn tôi rõ lâu – Xin ông thứ lỗi – tôi nói.- Nhưng tôi không thể tự lừa dối mình. Đáng nguyền rủa là ở chỗ đó.
Ông vẫn còn nhìn tôi – Anh còn rảnh không? – ông hỏi.
Còn – tôi nói – Còn đủ thời gian…
Ông đứng dậy – Bây giờ tôi phải đi thăm bệnh phiên chiều. Tôi muốn anh đi cùng. Cô y tá sẽ đưa anh một chiếc blu trắng. đối với các bệnh nhân, xem như anh là trợ lý của tôi – Tôi không rõ chủ định của ông, nhưng vẫn cầm lấy chiếc blu cô y tá chìa cho mình.
Chúng tôi đi dọc một hành lang dài. Ráng chiều đỏ rực xuyên qua các ô cửa sổ lớn. Một thứ ánh sáng êm ái, dìu dịu và chập chờn đến hư ảo. Vài cửa sổ bỏ ngỏ. hương hoa bồ đề đương nở rộ từ ngoài thoang thoảng bay vào.
Jaffe mở một cánh cửa. mùi ngột ngạt, hôi hám xộc vào mũi chúng tôi. Một người đàn bà với mái tóc vàng óng như vàng mười, trên đó ánh sáng phản chiếu lấp lánh, uể oải giơ tay lên. Vầng trán cao quý với hai thái dương thanh tú. Nhưng băng quấn từ dưới mắt xuống tận mồm. jaffe thận trọng tháo băng. Tôi thấy người đàn bà đó chẳng còn mũi nữa. Thay vào đó là một vết thương đỏ lòm bẩn thỉu đã đóng vảy với hai hốc mũi. Jaffe lại đặt băng lên đó.
Tốt rồi – ông ân cần nói và quay ra.
Ông khép cửa sau lưng. Tôi đứng một lát ngoài hành lang, mắt dõi vào ánh chiều êm dịu.
Anh vào đây! – Jaffe bảo và dẫn tôi vào phòng cạnh đó. Tiếng thở hổn hển, khò khè nóng bỏng của một người đàn ông có bộ mặt xám nghoét với những vết đỏ tía dị thường. Mồm ông ta há hốc, mắt lồi lên, hai bàn tay quờ quạng liên hồi trên tấm chăn. Ông ta đang hôn mê. Biểu đồ nhiệt độ luôn chỉ bốn mươi độ. Một nữ hộ lý đang ngồi đọc bên giường bệnh nhân. Cô ta bỏ sách xuống, đứng dậy khio Jaffe bước vào. Ông ta nhìn tấm biểu đổ, lắc đầu – Viêm cả hai phổi và viêm màng phổi. Từ một tuần nay cầm cự như một con bò mộng. bệnh tái phát. Trước gần như đã bình phục. Ham công tiếc việc quá sớm. Có vợ và bốn con. Vô phương cứu chữa. – Ông nghe ngực bệnh nhân và bắt mạch. Cô hộ lý giúp ông. Cuốn sách của cô ta rơi xuồng đất. tôi nhặt lên và thấy đó là một cuốn sách dậy nấu ăn. Người đàn ông nằm trên gường cứ cào mãi những ngón tay nghều ngào như chân nhện lên tấm chăn. Đó là tiếng động duy nhất trong phòng. – Cô hãy trực ở đây đêm nay – Jaffe nói. Chúng tôi đi ra. Bên ngoài, ánh hoàng hôn càng thắm rực. Lúc này nó tràn ngập hành lang như một dải mây.
Ánh sáng khốn kiếp – tôi nói.
Tại sao? – Jaffe hỏi.
Nó chẳng ăn nhập gì với cảnh. Mỗi thứ  một nẻo.
Sao không! – Jaffe nói – Nó ăn nhập đấy chứ!
Trong phòng tiếp theo là một thiếu phụ nằm thở khò khè. Bà ta được đưa vào chiều nay vì bị nhiễm độc thuốc ngủ nặng. Chồng bà ta gặp tai nạn hôm qua. Ông bị gãy xương sống và được đưa về nhà trong tình trạng hoàn toàn tỉnh táo, miệng gào thét. Đến đêm thì ông tắt thở.
Bà ta sẽ qua khỏi chứ? – tôi hỏi.
Có lẽ.
Để mà làm gì?
Trong những năm vừa rồi tôi đã cứu chữa năm trường hợp tương tự. – Jaffe nói – Chỉ có một bà thử tự sát lần thứ hai. Bằng khí đốt. Bà ta chết. Hai trong số các bà còn lại thì đã tái giá.
Ở phòng kế tiếp nữa là một người đàn ông mắc chứng bại liệt từ mười hai năm nay. Anh ta có nước da như sáp nến, hàm râu đen thưa thớt và cặp mắt rất to, lặng lẽ - Sức khỏe anh ra sao? – Jaffe hỏi.
Người đàn ông phác một cử chỉ mơ hồ. đoạn anh ta trỏ ra cửa sổ - Ông nhìn trời kìa! Thế nào cũng mưa, tôi cảm thấy điều đó –Anh ta mỉm  cười – Trời mưa, ngủ sẽ ngon hơn. – Trước mặt anh ta, trên tấm ga trải giường, là một bàn cờ bằng da với những quân cờ có thể gắn chắc lên đó. Bên cạnh, lù lù một đống báo và vài cuốn sách vứt lăn lóc.
Chúng tôi tiếp tục đi. Tôi nhìn thấy một vài thiếu phụ trẻ với cặp mắt kinh hoàng, đôi môi tím tái, hoàn toàn suy sụp sau một ca đẻ khó… một quái thai với cặp giò mềm oặt quặt ra sau và cái đầu là một bọng nước – một người đàn ông đã cắt bỏ dạ dày – một bà lão như con cú già khóc lóc vì nỗi lũ người thân không thèm ngó ngàng gì tới bà, họ mong bà chết quách đi cho rảnh nợ - một người đàn bà mù tin rằng một  ngày kia mình sẽ sáng mắt trở lại – một đứa trẻ mắc bệnh giang mai với những nốt loét ứa máu và người cha ngồi bên giường – một thiếu phụ ban sáng vừa bị cắt bỏ bầu vú thứ hai – một thiếu phụ khác co gập người vì chứng thấp khớp – thiếu phụ thứ ba bị cắt cả hai buồng trứng – một người bị nát thận – hết phòng này sang phòng khác, phòng nào cũng như phòng nào – những tấm thân co quắp, rền rĩ, những hình hài bất động đã gần như tắt ngấm sự sống, một mớ bòng bong, một chuỗi vô tận thời thở than, sợ hãi, đau đớn, cam chịu, tuyệt vọng, hy vọng, khổ ải…; và lần nào cũng vậy, hễ một cánh cửa vừa đóng, trong hành lang lại xuất hiện cái ráng đỏ của buổi chiều hư ảo ấy, sau sự ghê tởm trong những căn phòng hẹp bao giờ cũng có đó ráng chiều dịu dàng toát lên vẻ rực rỡ êm ái óng vàng, mà ta không sao biết đó là một sự nhạo báng khủng khiếp hay một nguồn an ủi siêu phàm. Jaffe dừng lại trước lối vào phòng mổ. Hai nữ hộ lý đẩy vào một chiếc xe phẳng lỳ có một thiếu phụ nằm trên. Tôi bắt gặp ánh mắt của chị. Chị không nhìn tôi. Chị đi đâu đó, vào một chốn xa xăm vô định. Nhưng tôi đã giật mình trước cặp mắt chứa đựng biết bao can đảm, tự chủ và bình thản ấy.
Gương mặt Jaffe thốt nhiên lộ vẻ mệt mỏi. – Tôi không biết có đúng không – ông nói – nhưng tôi cho rằng dùng lời lẽ làm yên lòng anh hẳn vô ích. Hẳn anh đã chẳng tin tôi. Bây giờ anh đã tận mắt thấy nhiều người trong bọn họ bệnh còn nặng hơn cô Pat Honman. Một vài người chẳng còn biết làm gì hơn là hy vọng. Ấy vậy mà phần đông sẽ qua khỏi. sẽ lại bình phục. Đó là điều tôi muốn cho anh thấy.
Tôi gật đầu – Ông làm thế là phải.
Vợ tôi mất cách đây chín năm. Cô ấy mới hai mươi lăm tuổi. Chưa hề ốm đau. Chỉ do cúm. – Ông im lặng một lát – Anh hiểu vì sao tôi kể cho anh điều này chứ?
Tôi lại gật đầu.
Người ta không sao biết  trước được. kẻ mắc chứng nan y có khi lại sống lâu hơn người khỏe mạnh. Cuộc sống vốn lạ lùng. – Lúc này mặt ông đầy nếp nhăn. Một nữ y tá lại gần rỉ tai ông điều gì đó. Jaffe đứng thẳng dậy, hất đầu về phía phòng mổ.
Giờ tôi phải vào trong ấy. Nếu có lo lắng, anh cũng chớ để lộ với Pat. Đó là điều quan trọng nhất. Anh gắng được chứ?
Được ạ - tôi nói.
Ông bắt tay tôi rồi vội vã cùng cô y tá đi qua cánh cửa bằng kính, vào gian phòng sáng trắng ánh đèn.
Tôi thong thả bước xuống những bậc thang sâu hun hút. Càng xuống dưới càng tối, và ở tầng một đã lên đèn. Khi tôi ra tới ngoài phố, đằng chân trời còn ửng lên lần nữa ráng chiều hồng, dài như một hơi thở sâu. Liền đó nó tắt ngấm, chuyển sang xám xịt.
***
Tôi ngồi trong xe hồi lâu, mắt đăm đăm nhìn ra phía trước, đoạn thu hết can đảm lái xe về xưởng. Koester chờ tôi ở cổng. Tôi đưa xe vào sân, xuống xe – Cậu biết rồi à? – tôi  hỏi.
Ừ, cậu ta đáp – Nhưng Jaffe muốn đích thân nói chuyện với cậu.
Tôi gật đầu.
Koester nhìn tôi.
Otto – tôi nói – mình không phải là trẻ con và biết rằng vẫn chưa có gì mất mát cả. Nhưng dẫu sao tối nay có lẽ mình khó lòng che dấu nổi tâm trạng của mình. Nếu mình ngồi riêng với Pat. Đến mai thì được. Mai mình sẽ bình tâm lại. Hôm nay cả bọn cùng đi đâu đó được không?
Được chứ, Robby. Mình đã nghĩ đến điều đó và đã bảo Gotfrit rồi.
Vậy cho mình mượn chiếc Karl lần nữa. Mình sẽ về nhà đón Pat trước, và nửa giờ sau sẽ đón các cậu.
Đồng ý.
Tôi phóng xe đi. Đến phố Nicolai, tôi chợt nhớ đã quên phắt con chó. Tôi quay xe trở lại bắt con chó.
Hiệu không sáng đèn, nhưng cửa vẫn mở. Anton ngồi trên chiếc giường xếp phía trong cửa hiệu, tay cầm một cái chai – Gustap đã chửi bới tôi thậm tệ - gã nói , phả ra hơi nồng nặc như cả một lò cất rượu.
Con chó sục nhảy lên mừng tôi, nó hít hít tôi, liếm bàn tay tôi. Trong luồng ánh sáng xiên xiên từ ngoài đường hắt vào, đôi mắt con chó lóng lánh màu lá cây xanh. Anton đứng dậy. Gã lảo đảo, và chợt bật khóc – Cún con của tao, giờ mày lại bỏ đi nốt… chúng bỏ đi cả… con Thindo chết rồi… con Mina đã ra đi… ngữ người như bọn ta sống mà làm gì, hở ông?
Lại còn thế nữa! Cái bóng điện buồn tẻ bé tẹo mà giờ gã bật lên, tiếng sột soạt khe khẽ của con rùa và bầy chim, cùng gã đàn ông húp híp, nhỏ thó trong cửa hiệu này – Bọn giàu có, đã đành chúng biết… nhưng ông nói thử, ngữ bọn ta sống để làm gì chứ? Lũ khốn khổ bọn ta sống làm gì hở ông? – Con khỉ rên lên một tiếng và nhẩy tới nhẩy lui trên chiếc sào như một thằng điên. Cái bóng to tướng của nó cùng nhảy trên tường – Koko – gã đàn ông nhỏ thó khi nãy vừa ngồi đơn độc trong bóng tối nốc rượu thổn thức – bạn duy nhất của tao, lại đây! – Gã chìa cái chai cho con khỉ. Nó với tay đón lấy.
Ông sẽ giết chết con vật nếu ông cho nó uống rượu – tôi nói.
Thì đã sao – gã ríu lưỡi đáp – Kéo thêm vài năm trong xiềng xích hay không… cũng thế thôi… thế cả… thưa ông…
Tôi ôm con chó đang nép mình vào tôi âm ấm, rồi đi ra. Mềm mại, với những sải chân dài êm ái, nó chạy theo tôi ra xe.
Về tới nhà, tôi thận trọng lên cầu thang, tay dắt con chó. Tôi dừng lại ở hành lang, ngắm mình trong gương. Nét mặt tôi không có gì khác lạ. Tôi gõ cửa phòng Pat, mở hé cửa và hích con chó chạy vào.
Đứng bên ngoài, tôi nắm chặt dây buộc chó và chờ đợi. Nhưng thay vì giọng Pat, tôi bất ngờ nghe thấy cái giọng trầm trầm của bà Zalepski – Lạy Cha ở trên trời!
Tôi thở phào ngó vào. Tôi chỉ sợ cái phút đầu tiên một mình đối diện với Pat. Giờ thì mọi sự dễ dàng. Bà Zalepski là một vật đệm đáng tin cậy. Bà oai vệ ngự bên bàn với một tách cà phê, trước mặt là bộ bài giàn ra theo một trật tự huyền bí. Mắt sáng long lanh, Pat ngồi cạnh nghe bè tiên đoán tương lai.
Xin chào – tôi nói, đột nhiên hết sức hồ hởi.
Anh ta đây rồi – bà Zalepski trịnh trọng nói – Băng qua một quãng đường ngắn trong ánh chiều tà, bên cạnh là một quý ông tóc đen thuộc tầng lớp đại quý tộc.
Con chó giật dây, vừa sủa vừa vọt qua giữa hai chân tôi, xông vào phòng.
Lạy Chúa tôi! Một con chó sục Ailen! – Pat kêu lên.
Phục em sát đât! – tôi nói – Trước đây vài giờ anh vẫn còn chưa biết nó là giống gì.
Nàng cúi xuống, con chó nhảy bổ lên với nàng.
Nó tên gì, anh Robby?
Anh không biết. Hình như cô nhắc, uytki, hay một cái tên gì đại loại thế, căn cứ vào chủ cũ của nó.
Của chúng mình à?
Ừ, nếu một sinh vật có thể thuộc về một sinh vật khác – Nàng vui sướng đến nghẹn thở.
Chúng mình sẽ gọi nó là Billy, anh Robby nhé! Thời còn con gái, mẹ em có một con chó. Mẹ thường kể em nghe về nó. Nó cũng tên là Billy!
Hóa ra anh làm thế mà lại trúng ghê – tôi nói.
Nó không đái ỉa bậy ra nhà đấy chứ? – bà Zalepski hỏi.
Nó có gia phả như một ông hoàng – tôi đáp – Mà các ông hoàng thì đời nào phóng uế bừa bãi.
Khi bé thì các ông hoàng cũng bẩn. Nó mấy tuổi rồi?
Tám tháng. Ngang với một thanh niên mười sáu cơ đấy.
Trông nó chẳng lấy gì làm sạch sẽ - bà Zalepski nhận xét.
Chỉ cần tắm cho nó là ổn cả.
Pat đứng lên, quàng tay ôm vai bà Zalepski. Tôi đứng chết lặng nhìn nàng.
Tôi hằng mơ ước có một con chó – nàng nói – Chúng tôi được phép nuôi nó, phải thế không ạ? Bà không hề phản đối chứ ạ?
Từ ngày tôi biết bà, lần đầu tiên mẹ Zalepski trở nên bối rối.
Ừ thì… tôi có bảo sao – bà đáp – Mà những lá bài đã chẳng nói đấy là gì. Một sự bất ngờ theo một người đàn ông vào nhà.
Thế chúng có nói tối nay chúng tôi sẽ đi chơi không?
Pat cười – Chúng em chưa xem tới đó, anh Robby. Chúng em đang nói về anh.
Bà Zalepski đứng lên, vơ những lá bài của mình về - Người ta có thể tin, có thể không tin, hoặc tin ngược lại, như ông Zalepski nhà tôi. Xem số cho ông ấy, bao giờ con chín pích báo hiệu điềm gở cũng đứng trên chất lỏng. Vì vậy ông ấy cứ n ghĩ phải dè chừng với sông nước. nhưng khốn, chất lỏng ở đây lại là rượu và bia Pinsen kia!
***
Pat – bà Zalepski vừa ra khỏi, tôi liền ôm ghì lấy Pat trong vòng tay – về  nhà được trông thấy em thật sung sướng xiết bao. Anh cứ luôn ngạc nhiên về điều đó. Khi lên nốt bậc thang cuối cùng và vặn khóa cửa, tim anh bao giờ cũng đập thình thịch, chỉ sợ nhỡ may đây không phải sự thật.
Nàng mỉm cười nhìn tôi, hễ tôi nói với nàng những điều tương tự, hầu như không bao giờ nàng trả lời. Mà có lẽ tôi cũng không hình dung nổi và hết sức bối rối nếu giả sử nàng đáp lại tôi cũng những lời giống như thế…. Tôi thiết nghĩ một người đàn bà không nên nói với một người đàn ông rằng nàng yêu chàng. Chỉ cặp mắt sung sướng rạng ngời của nàng đủ nói lên nhiều điều hơn biết bao lời lẽ.
Tôi ôm ghì nàng hồi lâu, tôi cảm thấy hơi ấm của làn da nàng, hương thơm thoang thoảng của mái tóc nàng… tôi ôm ghì lấy nàng, ngoài nàng ra không còn gì tồn tại nữa, bóng tối bị đẩy lùi, nàng bên tôi đây, nàng sống nàng thở, và chẳng có gì mất mát cả.
Chúng mình đi chơi thật sao, anh Robby? – nàng hỏi kề ngay mặt tôi.
Thậm chí cả bọn – tôi đáp – cả Koester và Lenz. Chiếc Karl đã chực sẵn ở  ngoài cửa.
Thế còn Billy?
Dĩ nhiên Billy cũng đi cùng. Nếu không tụi mình biết làm gì với thức ăn thừa! Hay là em đã ăn tối rồi?
Không, em chưa ăn. Em chờ anh mà.
Nhưng em đừng chờ anh làm gì. Đừng bao giờ cả. Phải chờ đợi thật là khủng khiếp.
Nàng lắc đầu – Anh không hiểu điều đó đâu, anh Robby. Không có gì để chờ đợi, cái đó mới khủng khiếp.
Nàng bật ngọn đèn trước gương – Nhưng giờ em phải bắt tay vào thay áo xống đây, kẻo không kịp. Anh cũng thay chứ?
***
Tôi gọi con chó lại với mình và ngồi vào chiếc ghế bành bên cửa sổ. Tôi thích được ngổi yên thế này ngắm nhìn Pat khi nàng thay xống áo. Không bao giờ tôi cảm nhận được sự bí ẩn trong cái xa lạ vĩnh cửu của người đàn bà hơn là trong cái dáng lượn lờ nhẹ nhàng trước gương soi, cái vẻ xét nét trầm ngâm, cái trạng thái hoàn toàn chìm đắm vào bản thân, sự trôi trở lại với các giác quan thính nhạy bản năng của giới tính. Tôi khó lòng hình dung nổi  một người đàn bà lại nói xoen xoét hoặc cười cợt trong khi trang điểm… nếu có cô nào như thế, hẳn ở cô ta thiếu hẳn nét bí ẩn và nét mê hoặc vô hình của một cái gì luôn khó nắm bắt. Tôi yêu những cử động nhẹ nhàng mà mềm mại của Pat trước gương soi; thật sung sướng được ngắm nàng đưa tay lên sửa mái tóc hoặc cầm bút kẻ lông mày, cẩn thận và thận trọng tô theo hình cánh cung ở hai bên thái dương. Khi đó, nơi nàng có nét gì của một con hoẵng, một con báo mảnh mai, và cả dáng vẻ của một nữ tướng trước giờ xung trận. Mặt nghiêm trang, đầy tập trung, nàng quên hết thảy các thứ xung quanh; nàng chăm chú và bình thản đối mặt với bóng mình trong gương, và khi nàng ghé sát vào nó, dường như ở đó, từ trong bóng tối lờ mờ của thực tại và của muôn đời, hai người đàn bà đang soi mắt vào nhau, lạnh lùng và xét nét, với cái nhìn cổ điển sành sỏi.
Từ ngoài nghĩa trang, hơi thở tươi mát của buổi tối tràn qua cửa sổ vào buồng. Tôi ngồi lặng lẽ, tôi chưa hề quên câu chuyện hồi chiều, tôi còn nhớ rõ tất cả… nhưng hễ nhìn Pat, tôi cảm giác nỗi buồn nặng nề như một tảng đá đè trĩu trong mình lại bị đánh át bởi niềm hy vọng mãnh liệt, thấy nỗi buồn biến hóa và hòa lẫn với niềm hy vọng đến là lạ kỳ, thấy cái này thoắt đổi thành cái kia; nỗi buồn, niềm hy vọng, ngọn gió, chiều tà, cô thiếu nữ xinh đẹp giữa những tấm gương sáng lấp lóa và những cây đèn nến, phải, suốt một khoảnh khắc, thốt nhiên tôi có cảm giác lạ lùng, như thể trong thực tế và trong cái nghĩa sâu sắc nhất, cuộc đời, thậm chí có lẽ cả hạnh phúc, chính là tình yêu với bấy nhiêu sầu muộn, lo sợ và những điều chỉ mình âm thầm biết với nhau.
 
(Còn tiếp)

Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-04-27 16:56:45gianghan>
CHƯƠNG XIX
Tôi đứng trên bãi đỗ xe và chờ đợi. Gustap lái xe tới, xếp hàng sau xe tôi – Con cún cà tàng ấy ra sao, hở Robert? – anh hỏi.
Nó khỏe cực – tôi nói.
Còn cậu?
Tôi chán ngán phẩy tay. – Tôi cũng khỏe cực nếu kiếm được khá tiền hơn. Anh hình dung xem, suốt hôm nay được độc hai chuyến khách năm chục xu.
Anh gật đầu – Càng ngày càng tệ. Cái gì cũng chỉ tệ đi. Chẳng biết rồi sẽ đến nước nào nữa.
Trong khi lẽ ra tôi nhất thiết phải kiếm ra tiền! – tôi nói – Chính lúc này! Thật nhiều tiền!
Gustap gãi cằm. – Nhiều tiền ! – Đoạn anh nhìn tôi – Cứ đứng đắn thì chẳng hớt đâu ra lắm chất màu, Robert ạ. Chỉ bằng cách đầu cơ. Hay ta thử góp vốn đánh cá xem sao? Hôm nay có cuộc đua. Mình biết một hộp đánh cá thượng hạng. Mới đây mình vừa được cá cho con Aida, một ăn hai mươi tám.
Làm gì cũng được. Cơ bản là phải gặp may.
Cậu đã cá cược bao giờ chưa?
Chưa.
Thế thì tay cậu thiêng lắm. Có thể xoay sở được. – Anh xem đồng hồ - Ta đi thôi chứ? Còn vừa kịp.
Thì đi! – Kể từ vụ con chó, tôi đặc biệt tin tưởng Gustap.
Hộp cá cược là một gian phòng khá rộng. Bên phải ngăn một quầy bán xì gà, bên trái đặt chiếc máy cộng. Trong ô kính treo đầy các tờ báo thể thao xanh xanh đỏ đỏ và những tờ đánh máy thông báo tin tức các cuộc đua. Mé tường kê một quầy gỗ chạy dài với các giá để viết. Sau quầy, ba người đàn ông đang tất bật. Một người mải  gào vào ống nói điện thoại, một người khác lăng xăng hết đầu nọ sang đầu kia với những xấp phiếu trong tay, người thứ ba – chiếc mũ ống hất ra sau gáy, điếu xì gà Braxin to, đen, nát nhừ lăn đi lăn lại giữa hai hàm răng, không áo khoác ngoài, tay áo xắn ngược  đứng sau quầy ghi các khoản đặt cược. Chiếc áo sơ mi của gã màu tím gắt.
Sự tấp nập quá độ nơi đây khiến tôi sửng sốt. Phần đông thuộc giới bình dân, thợ thủ công, thợ thuyền, công chức nhỏ, vào ả điếm, mấy thằng ma cô. Một lão đi đôi ghệt xám bẩn thỉu, đội mũ ống xám, áo đuôi tôm rách tươm, giữ chúng tôi lại ngay từ cửa. – Phon Bilinh, cá chứ các ông? Ăn chắc trăm phần trăm!
Lên trăng mà cá với cuội – Gustap đáp, thoạt bước vào đây nét mặt anh đã đột nhiên hoàn toàn đổi khác.
Năm mươi xu thôi mà – Biling nài bỉ - Tôi quen thân với đám huấn luyện. Từ trước – gã vội thêm khi bắt gặp ánh mắt tôi.
Gustap đã đang nghiên cứu danh sách ngựa đua – Bao giờ con Auteuil ra trường đua? – anh gọi với vào quầy.
Năm giờ - gã phụ việc càu nhàu.
Philomeno, cái con thổ tả trứ danh này – Gustap lầm bầm – Con ngựa cỡ quốc gia trên đường đua trũng – Anh xúc động đến vã mồ hôi – Thế con tới là con nào?
Ruộng Hoa Bia – ai đó nói bên cạnh anh.
Gustap lại nghiên cứu – Mở đầu, mỗi đứa mình đặt hai xèng, cá con Toristan thắng – anh bảo tôi.
Anh biết đôi chút về khoản này chứ? – tôi hỏi.
Biết thôi à? Mình thuộc móng từng con ngựa một ấy chứ.
Thế mà lại đi cá cho con Toristan? – Ai đó nói bên tai chúng tôi – Bé Lida Chăm Chỉ sẽ là vận may duy nhất đó, ông ơi! Tôi quen Jony Burxo mà.
Còn tôi – Gustap độp lại – tôi chính là ông chủ chuồng của con Lida Chăm Chỉ. Tôi còn biết rõ hơn ông.
Anh réo số tiền đặt cược của chúng tôi với gã đàn ông bên quầy. Chúng tôi nhận một tấm phiếu và lên trước ngồi trong một khoảnh có kê dăm bộ bàn ghế. Bên tai chúng tôi vang lên đủ mọi thứ tên. Vài anh thợ bàn tán về bầy ngựa đua ở Nizza, hai chú đưa thư nghiên cứu tin dự báo thời tiết từ Paris, và một bác xà ích khoe khoang cái thời bác ta đánh xe đua nước kiệu. Duy một gã đàn ông to béo, tóc dựng chân hương, là ngồi thản nhiên bên bàn, chén hết chiếc bánh mỳ con này sang chiếc bánh mỳ con khác. Hai người khác đứng dựa tường hau háu nhìn vào. Cả hai đều cầm phiếu trong tay, nhưng mặt mũi tiều tụy như thể đã phải nhịn đói mấy ngày ròng.
Chuông điện thoại réo. Ai nấy đều dỏng tai lên. Gã phụ việc xướng tên các chú ngựa đoạt giải. Chẳng thấy nhắc nhỏm gì đến con Toristan cả - Mẹ kiếp – Gustap đỏ mặt nói – Con Salomon thắng. Ai mà ngờ được? Ông chắc? – anh giận dữ hỏi gã đã cá cho con Lida chăm Chỉ - Ông cũng ở cuối danh sách; mãi tít đằng sau…
Phon Bilinh xuất hiện giữa chúng tôi – Thưa ông, giá các ông chịu nghe tôi… hẳn tôi đã khuyên các ông cá cho con Salomon! Chỉ con Salomon thôi! Các ông muốn cá cược không?
Gustap chẳng thèm để tai nghe lão. Anh đã trở lại bình tĩnh và mải mê bàn chuyện ngựa với gã Lida Chăm Chỉ.
Ông có hiểu gì về ngựa không? – Bilinh hỏi.
Hoàn toàn mù tịt – tôi nói.
Vậy ông hãy cá đi! Cá đi ông! Nhưng chỉ hôm nay thôi – lão thì thào thêm – và không bao giờ nữa. Ông cứ nghe tôi. Ông hãy cá con nào cũng được… con Vua Lia, hay con Mối Bạc… có lẽ cả con L’heure bleue nữa. *(Tên Pháp, nghĩa là Giờ xanh)Tôi không định kiếm chác gì, nếu ông thắng chỉ xin ông một chút gọi là – Cái máu cá cược khiến cằm ông lão run lên. Chơi poker nhiều, tôi biết; những kẻ mới nhập cuộc thường thắng – Được – tôi nói – con nào đây?
Xin tùy ông … tùy ông chọn…
L’heure bleue nghe chẳng đến nỗi dở - tôi nói – nào thì đặt mười mác cho con L’heure bleue.
Cậu điên đấy à? – Gustap hỏi.
Không – tôi nói.
Mười xèng cho cái con ngựa khổ mà lẽ ra phải mổ thịt làm xúc xích từ đời nào đấy ư?
Gã Lida Chăm Chỉ vừa nãy bị Gustap chửi là quân lột da thú, giờ phồng má vào hùa với anh – LẠi thế nữa! ai đời đi cá cho con Loiro Boio!*(Nhân vật phiên âm tiếng Pháp sang tiếng Đức nên sai  :) ) Đó là một con bò cái chứ đâu phải ngựa, thưa ông! Hễ muốn, con Giấc Mộng Tháng Năm chỉ cần chạy hai chân cũng đủ xơi tái nó! Cược thắng ư?
Binlinh nhìn tôi cầu khẩn và ra hiệu cho tôi.
Thắng – tôi nói.
Chết mẹ anh đi! – Gã Lida Chăm chỉ lầm bầm vẻ khinh miệt.
Quỷ ạ! – cả Gustap cũng nhìn tôi như thể tôi đã hóa thành một thằng mọi. – Cá cho Gipsy II đến đứa hài nhi nằm trong bụng mẹ cũng biết thế.
Tôi nhất quyết trung thành với con . – tôi tuyên bố. Bấy giờ mà còn thay đổi thì thật là đi ngược lại mọi luật lệ huyền bí của những kẻ phiêu lưu mạo hiểm.
Người đàn ông mặc sơ mi tìm đưa phiếu cho tôi. Gustap và gã Lida Chăm chỉ nhìn tôi nưh thể tôi mắc bệnh dịch hạch. Họ xa lánh tôi ra mặt, cùng xô lại quầy, để vừa bật ra những tràng cười mai mỉa, trong đó vẫn ẩn giấu sự kính phục lẫn nhau giữa các chuyên gia, vừa đặt cược cho con Gipsy II và con Giấc Mộng tháng Năm.
Đúng lúc ấy có người té xỉu. Đó là một trong hai con người hom hem đứng bên bàn khi nãy. Anh ta chuội đầu dọc xuống tường và ngã cái huỵch. Hai chú đưa thư xốc anh ta dậy, đặt ngồi lên một chiếc ghế. Mặt anh ta tái xám xanh. Miệng há hốc.
Ôi trời! – một ả điếm kêu lên, ả người đẫy đà, tóc đen mượt, trán thấp – ai đi lấy hộ một cốc nước nào.
Tôi lấy làm lạ vì chẳng mấy người quan tâm đến kẻ đang bất tỉnh ấy. Phần đông chỉ đưa mắt liếc qua, rồi lại chúi cả vào cá cược. – Chuyện ấy lúc nào chẳng có – Gustap nói – Những kẻ thất nghiệp. Đánh cá đến đồng xu cuối cùng. Bao giờ cũng rình rập một món tiền rõ to, mười ăn cả ngàn.
Bác xà ích từ quầy đi ra với một cốc nước. Ả điếm tóc đen nhúng chiếc khăn tay của ả vào đó rồi lau trán, lau thái dương cho người đàn ông. Anh ta thở dài và đột nhiên mở mắt. Có một cái gì hết sức ghê sợ khi đôi mắt bỗng lặng lẽ hiện về trên bộ mặt đã tắt ngấm sự sống… tuồng như một kẻ xa lạ nào khác đang tò mò và lạnh lùng nhìn ra hai kẽ nứt của một cái mặt nạ xám xanh, bất động.
Ả con gái cầm cốc nước đưa cho người đàn ông uống. Ả nâng anh trong cánh tay như nâng một đứa trẻ. Đoạn ả với lấy một chiếc bánh mì con trên bàn tay của gã tóc rễ tre lúc nãy vẫn đang thản nhiên nhai nhồm nhoàm – Nào, ăn đi,… nhưng từ từ thôi…khéo không ngoạm đứt ngón tay tôi..; thế, bây giờ làm ngụm nước nữa…
Gã đàn ông ngồi ở bàn liếc theo cái bánh của mình, nhưng không nói gì. Kẻ đói lả dần lấy lại thần sắc. Anh ta ăn thêm vài miếng rồi loạng choạng đứng lên. Ả điếm dìu anh ta ra tận cửa. Đoạn, ả lén nhìn nhanh ra sau và mở ví – Đây… giờ thì biến đi, kiếm cái mà chén thay vì cá cược….
Một trong những thằng ma cô nãy giờ xây lưng lại ả, quay người lại. hắn có bộ mặt của loài ác điểu, tai vểnh, diện giầy da sơn, mũ vải thể thao.
Mày cho nó cái gì hả? – hắn hỏi.
Vài xu ranh.
Hắn thúc cùi tay vào ngực ả - Hẳn nhiều hơn thế! Lần sau phải hỏi tao!
Thôi đừng sinh sự nữa, Edo – một tay khác ngăn lại. Ả điếm lôi hộp phấn ra, ả tô lại môi – Tao không nói sai – Edo đáp.
Ả điếm chẳng nói chẳng rằng.
Điện thoại réo chuông. Mải quan sát Edo, tôi không để ý. – Thế mới gọi là vớ bở lợn béo chứ! – bỗng tôi nghe Gustap nói oang oang – Thưa quý vị, còn hơn lợn béo nữa, hắn ta vớ được một ổ lợn khổng lồ với hai chục chú éc con! – Anh vỗ vai tôi – Cậu đã xoáy được một trăm tám chục xèng, mẹ kiếp! Con nghẽo có cái tên nực cười của cậu đã lập nên công trạng!
Sao, thật không? – tôi hỏi.
cái tay ngậm xì gà diện chiếc sơ mi sặc sỡ gật đầu cay cú, rồi cầm lấy tấm phiếu của tôi – Ai gà cho ông vậy?
Tôi ạ - Binlinh vội nói với một nụ cười đầy trông đợi, khúm núm đến dễ sợ, đoạn lão chen vào cúi mình chào. – Chính tôi, nếu ông cho phép… do chỗ tôi giao du…
thôi đi, đồ khỉ… - Tay chủ sòng không buồn nhìn lão, đếm tiền trả tôi. cả gian phòng bỗng lặng lẽ trong giây lát. Ai nấy đều nhìn. Thậm chí cả kẻ nhai bánh điềm nhiên kia cũng ngẩng đầu lên.
Tôi nhét những tờ giấy bạc vào túi – Gượm đã! – Binlinh lào thào – Gượm đã nào! – Mặt lão nổi lên những vết đo đỏ. Tôi dúi vào tay lão mười mác. Gustap cười điệu, thụi vào sườn tôi – Thấy chưa, đã bảo mà! Chỉ cần chịu nghe Gustap này là hái ra tiền!
Tôi tránh không nhắc chàng binh nhất quân y thuở nào về con Gipsy II. Hẳn liền đó tự anh chợt nhớ - Ta đi thôi – anh nói – hôm nay chẳng phải ngày lành cho các bậc sành sỏi.
Có kẻ chộp lấy tay áo tôi bên ngưỡng cửa. Thì ra là gã Lida Chăm Chỉ. – ông sẽ cá cho con nào trong cuộc đua tưởng nhớ Maslopski sắp tới? – gã hỏi vẻ kính cẩn, thèm thuồng.
Cho con trời ơi đất hỡi – tôi đáp và cùng  Gustap sang quán rượu gần đó để cụng một ly mừng sức khỏe con L’heure bleue.
Một giờ sau, tôi đã thua ngóm mất ba chục mác. Không sao dừng được. nhưng rồi tôi cũng thôi cá cược. Khi tôi ra đi, Bilinh dúi cho tôi mảnh giấy – Phòng khi ông cần gì! Hoặc người quen của ông cần  gì. Chả là tôi đại diện cho họ. – Đó là một tờ giấy quảng cáo máy chiếu phim cỡ nhỏ dùng trong gia đình – Tôi làm trung gian cho một hãng buôn quần áo cũ nữa đấy – lão còn cố với theo – Trả tiền mặt!
Bảy giờ, tôi quay xe về xưởng. Karl đứng trên sân, xả khói phành phạch – Hay quá, cậu đây rồi.- Koester reo, tụi mình vừa định xuất hành, luyện thử chiếc Karl! Lên xe thôi!
Cả hội tư thế sẵn sàng, khấp kha khấp khởi. Otto vừa tu sửa lại và thay đổi vài chi tiết cho chiếc Karl, chả là hai tuần nữa cậu ta sẽ cùng nó tham dự một cuộc đua đường núi. Đây sẽ là chuyến chạy thử đầu tiên.
Chúng tôi lên xe, Jupp ngồi chĩnh chiện cạnh Koester, cặp kính đua to bự choán gần hết mặt. Không được đi chuyến này, khéo chú chàng vỡ tim mất. Lenz và tôi ngồi ghế sau.
Karl vọt đi, tung bụi mịt mù. Chúng tôi ra tới con đường ngoại ô dài, và chạy với tốc độ một trăm bốn mươi cây số giờ. Lenz và tôi rạp sát người xuống lưng ghế trước, gió mạnh tới mức tưởng như thổi bay cả đầu. Bạch dương hai bên đường lướt qua vun vút, bánh xe rít lên và tiếng động cơ tuyệt với tựa tiếng thét mãnh liệt của tự do truyền vào khắp xương tủy chúng tôi mười lăm phút sau, trước mặt chúng tôi xuất hiện một chấm đen to lên rất nhanh. Đó là một chiếc xe hơi khá ì ạch, chạy với tốc độ khoảng từ tám chục đến một trăm cây số giờ. Nó chạy không lấy gì làm nghiêm, cứ lạng hết sang phải lại lạng sang trái. Con đường thì hẹp, vì thế Koeester phải giảm tốc độ. Khi tốc độ xuống một trăm cây số giờ và chúng tôi toan bấm còi xin đường, trên con đường nhánh bên phải chợt xuất hiện một tay đi mô tô đang tiến lại gần, và liền đó biến vào sau một hàng rào cây con trước ngã tư. – Thổ tả! Có chuyện rồi! – Lenz kêu lên.
Đúng trong khoảnh khắc đó, chúng tôi thấy tay đi mô tô xuất hiện trên đường, trước chiếc xe kia hai chục mét. Hình như anh ta coi nhẹ tốc độ của chiếc xe hơi, nên cố cua vòng trước mũi nó. Chiếc xe hơi giật mạnh sang cua trái để tránh, nhưng chiếc mô tô cũng trượt vút sang trái. Chiếc xe hơi lại nhoằng sang phải, chắn bùn quệt vào chiếc mô tô, hất nhào nó. Chiếc xe hơi trật ngang, không làm chủ được nữa, nó lao đổ mũi tên chỉ đường, húc gẫy cột đèn và đâm sầm vào một gốc cây.
Tất cả diễn ra trong tích tắc. Khoảnh khắc tiếp theo đo, chúng tôi lao tới gần với tốc độ còn khá cao, bánh xe kêu ken két. Koester phi chiếc Karl như một con ngựa vọt lên giữa người lái mô tô, chiếc mô tô và chiếc xe hơi mù khói nằm ngang đường, bánh xe bên trái suýt chẹt lên tay kẻ ngã mô tô, bên phải lướt sạt đuôi chiếc xe hơi, đoạn động cơ xe rú lên. Karl lại chạy theo đường thẳng, tiếng phanh rít, tất cả trở nên im ắng. – Giỏi lắm, Otto! – Lenz nói.
Chúng tôi chạy trở lại, giật cửa xe ra. Động cơ vẫn nổ. Koester thò tay vào bảng đồng hồ, rút chìa khóa. Tiếng máy đang khò khè tắt lịm, tiếng người rên rỉ nổi lên.
Toàn bộ cửa kính của chiếc Limousine nặng nề đã vỡ vụn. Trong khoang xe tối lờ mờ, chúng tôi thấy một gương mặt đàn bà máu me lênh láng. Cạnh bà ta, một người đàn ông nằm kẹt giữa tay lái và ghế ngồi. Trước hết, chúng tôi xốc người đàn bà ra, đặt nằm trên mặt đường. Mặt bà ta đầy những vết toạc, vài mảnh thủy tinh còn găm nguyên trên đó, nhưng máu vẫn tuôn ra đều đều. Tệ hơn nữa là cánh tay phải. Ống tay áo khoác trắng của bà ta giờ thắm đỏ, máu rỏ xuống thành giọt. Lenz cắt phanh ống tay áo. Một dòng máu trào ra, rồi lại rỏ đều đều. Mạch máu bị cứa đứt, Lenz xoắn chiếc khăn tay của mình thành một cái gạc – Lôi người đàn ông ra đi, mặc mình xoay xở ở đây – cậu ta nói – Tụi mình phải nhanh chóng đến nhà thương gần nhất.
Để lôi được người đàn ông ra, chúng tôi phải vặn rời lưng ghế. May mà chúng tôi mang theo đủ dụng cụ và tháo khá chóng vánh. Ông này cũng bị chảy máu, hình như còn bị gãy vài cái xương sườn. Khi chúng tôi dìu ông ta ra, ông ta rú lên một tiếng và đổ gục xuống. Đầu gối ông ta cũng bị chấn thương sao đó. Nhưng lúc này chúng tôi đây không thể làm gì hơn được.
Koester cho Karl lùi lại sát nơi tai nạn. Người đàn bà tiếp tục rú lên khiếp đảm khi thấy chiếc xe lại gần, mặc dù nó lùi rất từ từ. Chúng tôi ngả lưng một chiếc ghế trước ra để có thể  đặt người đàn ông nằm. Còn người đàn bà đặt ngồi ở ghế sau. Tôi ngồi cạnh bà ta, trên bậc lên ô tô; phía bên kia Lenz cũng ngồi như vậy giữ chặt người đàn ông – Mày ở lại đây trông chiếc xe, nghe không Jupp – Lenz nói.
Quái, tay lái mô tô ấy biến đâu rồi nỉ? – tôi hỏi.
Chuồn rồi, trong lúc tụi ta còn mải bận bịu – Jupp giải thích.
Chúng tôi cho xe chạy chầm chậm. ở làng gần kế đó có một Viện điều dưỡng nhỏ mà chúng tôi thường thấy khi đi ngang. Tòa nhà trăng trắng, thâm thấp trên một quả đồi. theo chúng tôi biết, đó là một dạng Viện điều dưỡng người điên của tư nhân dành cho đám bệnh nhân chớm bệnh, giàu có… nhưng thế nào ở đó chẳng sẵn một bác sĩ và một phòng băng bó cấp cứu.
Chúng tôi trườn xe trên đồi và bấm chuông. Một cô y tá rất xinh đẹp đi ra. Trông thấy máu, cô ta tái mét mặt, ù té chạy vào. Liền đó, một cô khác, cứng tuổi hơn hẳn, ra tiếp – Tôi rất tiếc – cô nói ngay – chúng tôi không có các thiết bị cứu chữa những trường hợp tai nạn. Các ông phải đến nhà thương Virchop. Không xa đây lắm đâu.
Đến đó dễ phải mất một giờ đồng hồ. – Koester đáp.
Cô y tá  nhìn cậu ta vẻ khước từ - Chúng tôi hoàn toàn không có phương tiện.  Mà cũng chẳng có bác sĩ nào ở đây…
Như vậy là các chị vi phạm pháp luật – Lenz nói – Viện điều dưỡng tư kiểu của các chị đây phải có một bác sĩ trực thường xuyên. Chị vui lòng cho phép tôi sử dụng cuốn danh bạ điện thoại của chị chứ? Tôi muốn gọi điện tới ban giám đốc ty cảnh sát và ban biên tập tờ Nhật báo.
Cô y tá đâm phân vân – Tôi nghĩ chị có thể yên tâm – Koester lạnh lùng nói – Các chị sẽ được trả công rất hậu. Chúng tôi cần trước hết một cái cáng. Còn bác sĩ thì thế nào chị cũng tìm ra – Cô ta vẫn cứ do dự - Một cái cáng – Lenz nói – cũng được quy định trong luật, giống như một lượng bông băng đủ dùng…
Vâng được – cô ta vội vã đáp, hình như đã bị đè bẹp bởi bấy nhiêu kiến thức của Lenz, - có ngay đây, để tôi phái người…
Cô ta biến mất – Rách việc, - tôi nói.
Ngay trong bệnh viện thành phố cũng vậy thôi – Gotfrit thản nhiên đáp – tiền trước nhất rồi tệ quan liêu, sau nữa mới đến chạy chữa.
Chúng tôi trở lại xe dìu người đàn bà ra. Bà ta không nói một lời, chỉ chăm chăm nhìn vào hai bàn tay mình. Chúng tôi đưa bà ta vào một căn phòng kê đơn nhỏ ở tầng dưới cùng. Rồi chiếc cáng được đưa tới để khiêng người đàn ông. Chúng tôi nâng cáng lên. Ông ta cất tiếng rên. – Gượm đã…
Chúng tôi nhìn ông ta. Ông ta nhắm mắt lại – Tôi không muốn ai biết chút gì về việc này… - Ông ta khó nhọc nói.
Ông hoàn toàn không có lỗi – Koester đáp – Chúng tôi trông thấy rất rõ diễn biến tai nạn và sẵn sàng làm chứng cho ông.
Không phải chuyện ấy – người đàn ông nói – Vì lý do khác tôi muốn việc này không bị lộ ra. Các anh hiểu cho…- ông ta nhìn về phía cửa mà người đàn bà vừa đi vào.
Nếu vậy đây chính là nơi ông cần – Lenz giải thích – Bệnh viện tư mà. Việc duy nhất còn vướng là chiếc xe của ông phải biến trước khi cảnh sát trông thấy nó.
Người đàn ông chống tay gượng nhỏm dậy – Các anh vui lòng giúp nốt tôi việc đó được không? Gọi điện cho một xưởng chữa xe chẳng hạn? Và xin cho tôi địa chỉ của các anh! Tôi muốn… tôi chịu ơn các anh…
Koester khoát tay khước từ - Xin cứ cho tôi địa chỉ - người đàn ông nói – tôi rất muốn biết….
Hoàn toàn đơn giản – Lenz đáp – Chính chúng tôi cũng có một xưởng sửa chữa và chuyên sửa loại xe như xe của ông. Chúng tôi sẽ lập tức móc theo chiếc xe về xưởng, nếu ông đồng ý, và tu sửa nó nguyên vẹn. Như thế sẽ được việc cho ông, mà chúng tôi hẳn cũng có lợi.
Còn gì bằng – người đàn ông nói – Các anh hãy cầm địa chỉ của tôi… tôi sẽ đích thân lấy xe về. Hoặc phái người đến.
Koester đút tấm danh thiếp vào túi, rồi chúng tôi khiêng ông ta vào. Bác sĩ, một người đàn ông trẻ, đã tới từ lúc nào. Ông ta rửa máu trên mặt người đàn bà, lúc này có thể thấy các vết rạch sâu hoắm. Người đàn bà chống cánh tay lành lặn nhổm dậy, nhìn trân trân vào lớp kền sáng loáng của một cái chậu đặt trên bàn bông băng. – Ôi trời – bà ta khẽ kêu lên và nằm phịch xuống với cặp mắt thất đảm.
Chúng tôi phóng xe vào làng hỏi tìm một xưởng thợ. Ở đó, chúng tôi thuê của một bác phó rèn các móc sắt và sợi dây cáp, hứa trả hai chục mác. Thế nhưng bác ta vẫn ngờ vực, muốn thấy tận mắt chiếc xe hỏng. Chúng tôi đành đưa bác ta đi xem rồi sẽ quay trở lại.
Jupp đứng giữa đường vẫy tay rối rít. Nhưng không có chú, chúng tôi cũng đã biết chuyện gì xảy ra. Một chiếc Mecedes cũ, cao thành, đỗ ở vệ đường, bốn người đang kéo chiếc xe hỏng.
Chúng mình vừa đến kịp – Koester nói.
Anh em Phocto đấy – bác phó rèn bảo. – Lũ ấy khiếp lắm. Sống ở mạn kia kìa. Chúng đã vớ được gì thì đừng hòng chịu nhả ra nữa.
Để rồi xem.
Tôi đã trình bầy hết nhẽ với họ, thưa cậu Koester – Jupp thì thào – Tranh chấp rõ đốn mạt. Họ định xí chiếc xe cho xưởng riêng của họ mà cậu.
Được rồi, Jupp. Mày cứ ở lại đây đã.
Koester đến gặp tên to con nhất trong bốn đứa và nói chuyện với hắn. Cậu ta giải thích cho hắn xe này là của chúng tôi – Cậu có cái gì cưng cứng trong người không? – Tôi hỏi Lenz.
Có mỗi chùm chìa khóa, nhưng chính mình sẽ cần đến nó. Lấy một cái mỏ lết nhỏ ấy.
Chịu thôi – tôi nói – sẽ gây trọng thương mất. tiếc là đôi giày mình đang đi khí nhẹ. Nếu không, đá và đạp bao giờ cũng lợi hại hơn cả.
Bác cùng tham chiến chứ? – Lenz hỏi bác phó rèn – Cánh ta sẽ bốn chọi bốn.
Tôi phải lo cho thân tôi! Để mai chúng ghè nát xưởng của tôi ra à. Tôi giữ trung lập triệt để.
Cũng phải thôi – Gotfrit nói.
Tôi góp một tay – Jupp tuyên bố.
Mày liều đấy! – tôi bảo – Mày canh chừng ngộ có ai đến, chỉ có vậy thôi.
Bác phó rèn lảng xa chúng tôi một quãng nhằm tỏ rõ thái độ triệt để trung lập của mình.
Thôi đừng lảm nhảm nữa! – liền đó tôi nghe tên to con nhất trong đám anh em nhà Phocto gầm lên với Koester. – Ai đến trước, xơi trước! Xong! Giờ thì xéo đi!
Koester giải thích lần nữa rằng chiếc xe đó thuộc về  bọn tôi. Cậu ta mời hắn cùng về Viện điều dưỡng để hắn có thể hỏi rõ chuyện. Tên này cười gằn khinh bỉ. Lenz và tôi lại gần – Chúng mày hẳn cũng muốn vào nhà thương hả? – Phocto hỏi, Koester không đáp, lẳng lặng đến gần chiếc xe. Ba thằng Phocto kia đứng thẳng dậy. Giờ đây chúng đứng sát bên nhau – Đưa cáp kéo xe đây. – Koester bảo chúng tôi – Ê lỏi – thằng Phocto cả đe nẹt. Hắn cao hơn Koester một đầu – Tôi lấy làm tiếc, – Koester nói – nhưng chúng tôi phải kéo chiếc xe về - Hai tay thọc túi quần, Lenz và tôi túc tắc tiến lại gần hơn nữa. Koester đã lường trước, trong nháy mắt, cậu ta tóm lấy cẳng chân tên này, giật hắn ngã lăn cu chiêng. Đoạn cậu ta chồm lên quại vào dạ dày thằng anh em tiếp theo giữa lúc thằng này vớ lấy cái đòn bẩy xe, khiến hắn loạng choạng rồi cũng đổ phịch xuống đất. Liền sau đó, Lenz và tôi nhảy xổ vào hai thằng còn lại. Tôi nhận ngay một cú trúng mặt. Cú đấm không mạnh lắm, nhưng máu mũi tôi bắt đầu đổ ra, tôi quai hụt quả tiếp theo, tay trượt qua cái cằm nhầy mỡ của thằng kia, và nhận một cú nữa giữa mắt, té nhào một cách đến là bất hạnh, vồ ngay phải cái thằng Phocto vừa nãy bị Koester cho đo ván bằng cú móc vào dạ dày đang nằm sóng xoài dưới đất. Thằng này bèn đè nghiến lấy tôi xuống mặt đường nhựa, tay bóp cổ tôi. Tôi gồng hết cơ bắp để hắn khỏi bóp chết mình, đồng thời cố co mình lật người lại đạp hắn ra hoặc thúc chân vào bụng hắn. Nhưng Lenz và cả thằng Phocto địch thủ của cậu ta đang đè lên cả hai cẳng tôi mà vật lộn, thành thử tôi không thoát ra nổi. Tôi thở khó nhọc mặc dù đã căng hết cơ cổ, bởi mũi tôi đang đổ máu không hít hơi được. Dần dần, mọi vật xung quanh tôi nhòa đi, bộ mặt thằng Phocto chập chờn trước mắt như một tảng thịt nấu đông, và tôi cảm giác sau đầu mình xuất hiện những bóng đen. Cảnh cuối cùng tôi nhìn thấy là Jupp đột nhiên ở bên tôi… chú quỳ dưới cái rãnh ven đường, lặng lẽ chăm chú theo dõi tôi quằn quại, và đúng vào giây phút yên ắng mà chú thấy thuận lợi nhất, chú vung búa nện vào cổ tay Phocto. Bị cú búa nữa, Phocto buông tôi ra, giận dữ nhoai từ dưới đất lên định túm Jupp, nhưng chú chàng đã nhảy lùi lại nửa mét, hết sức bình tĩnh giáng cú búa đã đời thứ ba lên các ngón tay của đối thủ, rồi một cú nữa vào đầu. tôi nhổm phắt dậy, nằm đè lên Phocto và bắt đầu xiết cổ hắn. Đúng lúc đó vang lên một tiếng rống như của loài thú, rồi tiếng rên rỉ- Buông ra! Buông ra!
Đó là thằng Phocto cả. koester vặn một cánh tay hắn ra sau, giật ngược theo sống lưng. Thằng cha ngã chúi đầu xuống đất, giờ đây Koester cưỡi trên lưng hắn, tiếp tục vặn cánh tay hắn, đồng thời dùng đầu gối thúc cánh tay ngược lên gáy thằng cha. Phocto rống lên, nhưng Koester hiểu rằng phải trị hắn đến nơi đến chốn thì chúng tôi mới hòng được yên. Cậu ta giật mạnh cho trật khớp tay Phocto trước khi buông tha hắn. Phocto nằm đờ dưới dất hồi lâu. Tôi nhìn lên. Một trong mấy thằng em vẫn đang đứng, nhưng tiếng rống của thằng anh hình như đã làm hắn tê liệt.
Thôi xéo đi, kẻo lại được xơi trận nữa – Koester bảo.
Để tạm biệt, tôi rập đầu thằng Phocto của mình xuống mặt đường một lần nữa rồi buông hắn. Lenz đã đứng cạnh Koester. Áo khoác cậu ta rách toạc. Mép chảy máu. Cuộc vật lộn hình như bất phân thắng bại, bởi tuy thằng Phocto của cậu ta cũng chảy máu, hắn đứng vững chẳng kém gì cậu ta. Thất bại của thằng anh cả quyết định hết thảy. Không thằng nào dám ho he. Chúng đỡ thằng anh dậy và mò về xe của chúng. Thằng lành lặn còn quay lại lần nữa nhặt đòn bẩy xe. Hắn lấm lét nhìn Koester cứ như cậu ta là quỷ sứ không bằng. Rồi chiếc Mecedes rù rì lăn bánh.
Bác thợ rèn bỗng chốc thò mặt đến – Đáng đời chúng – bác ta nói – Lâu lắm chúng chưa được nếm mùi. Thằng cả từng ngồi tù vì tội đá chết người đấy.
Không ai đáp lời bác ta. Koester chợt rùng mình – Thật kinh tởm – cậu ta nói, đoạn quay người đi – Bắt đầu thôi!
Có tôi – Jupp vừa nói vừa lôi cuộn dây cáp đến.
Lại đây – tôi bảo – Kể từ hôm nay chú mày sẽ là hạ sĩ quan và được quyền phì phèo thuốc lá.
Chúng tôi công chiếc xe lên, buộc chặt vào sau chiếc Karl bằng sợi cáp thép. – Cậu tin sẽ không hại gì chiếc Karl chứ? – tôi hỏi Koester – Suy cho cùng Karl là một chú ngựa đua chứ đâu phải một con lừa thồ.
Koester lắc đầu.- Có gì xa xôi. Đường lại êm – Lenz chui lên chiếc xe hỏng, xe chúng tôi từ từ lăn bánh. Ấp khăn tay vào mũi, tôi ngắm nhìn những cánh đồng về chiều và mặt trời đang lặn. Sự thanh bình đến phi thường không khuấy đảo nổi ở nơi đây cho ta cảm giác thiên nhiên hoàn toàn dửng dưng trước những gì mà bầy kiến nhung nhúc ác độc được gọi là loài người này xô đẩy trên thế gian. Điều quan trọng là giờ đây những đám mây đang dần chuyển thành những núi vàng nhấp nhô, những cái bóng tím biếc của hoàng hôn từ chân trời lặng lẽ tràn về, những chú chim sơn ca từ trong ngút ngàn trời mây trở lại các luống cày, và màn đêm dần buông xuống.
Chúng tôi cho xe chạy vào sân xưởng. Lenz chui khỏi chiếc xe hỏng, trịnh trọng ngả mũ trước nó – Xin chào mi, hơi kẻ được chúc phúc! Một chuyện đáng buồn đã run rủi mi tới chốn này, nhưng con mắt chan chứa yêu thương của ta chỉ thoáng nhìn cũng đoán biết mi mang theo về đây từ ba ngàn đến ba ngàn rưởi mác. Giờ hãy cho mình một cốc vại rượu anh đào và một bánh xà phòng… mình cần gột rửa sạch khỏi người cái lò nhà Phocto ấy!
Cả bọn ai cũng cạn một ly, đoạn bắt tay ngay vào việc rỡ tung chiếc xe, càng rời càng tốt. Là vì không phải bao giờ một mình chủ xe đặt sửa đã đủ… thường thì sau đó công ty bảo hiểm còn đến để điều chiếc xe hỏng cho một trong những xưởng sửa chữa có quan hệ hợp đồng với công ty. Bởi vậy, tháo rời được nhiều chi tiết bao nhiêu, càng hay bấy nhiêu.
Tiền công lắp ráp sẽ cao tới mức thà cứ để chúng tôi sửa lại hóa lại rẻ hơn. Khi cả bọn ngừng tay, trời đã tối – Tối nay cậu chạy tắc xi chứ? – Tôi hỏi Lenz.
Đời nào – Gotfrit đáp – Chớ có bao giờ ham kiếm tiền thái quá. Với mình, đống sắt vụn kia đủ rồi.
Mình thì chưa – tôi nói… Cậu không đi thì để cho mình săn chở hết đám khách quanh các hộp đêm từ mười giờ tới hai giờ sáng cho.
Thôi xin cậu – Gotfrit cười tủm – Hãy thử ngó vào gương tí ti đã. Gần đây cậu đến là rủi ro với cái mũi của cậu đấy. Thấy cái củ cải ấy thì ma nào thèm lên xe của cậu! Liệu mà về nhà chườm đi cho được việc.
***
Gotfrit nói phải. Mũi miếc thế này thì làm ăn quái gì. Bởi thế tôi sớm chia tay ra về. Dọc đường gặp Hasso, tôi cùng ông đi nốt quãng đường cuối. Trông ông bụi bậm và thiểu não – Bác gầy đi đấy – tôi bảo.
Ông gật và than phiền rằng tối tối ông chẳng còn được ăn cho ra bữa. Hầu như ngày nào bà vợ cũng la cà với đám người quen và thường xuyên về nhà muộn. Ông mừng thấy vợ tìm được thú vui giải trí, nhưng  chiều về ông không thiết nấu nướng cho mình mình ăn. Ông cũng chẳng đói lắm; ông quá mệt mỏi.
Tôi liếc nhìn ông sóng vai đi bên tôi. Có thể nói ông thực bụng tin những điều ông vừa nói, nhưng nghe mà đau lòng. Chỉ vì thiếu một chút đảm bảo, một ít tiền, mà cuộc hôn nhân này, đời người khiêm nhường, hiền khô này tan vỡ. Tôi nghĩ đến hàng triệu người cùng thân phận như họ, luôn luôn chỉ vì thiếu một chút bảo đảm, một ít tiền. Cuộc sống đã bị co lại một cách khủng khiếp, trở thành cuộc vật lộn tầm thường cho sự tồn tại trần trụi. Tôi nghĩ đến cuộc ẩu đả hồi chiều, nghĩ đến những gì mình đã chứng kiến trong các tuần qua, nghĩ đến tất cả những gì mình  đã làm, rồi tôi nghĩ đến Pat và thốt nhiên có cảm giác như các sự kiện không sao hòa nhập nổi với nhau. Khoảng cách quá lớn, cuộc sống đã trở nên quá bẩn thỉu đối với hạnh phúc, hạnh phúc không thể kéo dài, người ta đã hết tin vào hạnh phúc – cái quãng thời gian hoãn án tử hình, không nơi ẩn náu.
Chúng tôi cùng lên cầu thang, mở khóa cửa, Hasso dừng chân nơi tiền sảnh – Thôi, chào anh…
Hôm nay bác gắng ăn chút gì đi – tôi nói.
Ông lắc đầu với nụ cười yếu ớt như thể xin lỗi, rồi đi vào căn buồng tối om trống rỗng của mình. Tôi nhìn theo ông, đoạn tiếp tục bước trong ống hành lang. Bỗng tôi nghe tiếng hát khe khẽ. Tôi đứng lại, lắng tai. Không phải tiếng máy hát của Erna Boenich phát ra như thoạt đầu tôi nhầm tưởng, đó là giọng Pat. Nàng ở một mình trong phòng và đang hát. Tôi đưa mắt về phía cánh cửa nơi Hasso vừa khuất dạng, rồi lại nghiêng mình nghe ngóng, thốt nhiên tôi xiết chặt hai nắm tay… Mẹ kiếp, cả ngàn lần, đó cứ việc là khoảnh khắc hoãn án tử hình không nơi ẩn náu, cả ngàn lần mọi sự việc cứ tách rời nhau xa tới mức không sao tin nổi… chính vì ta không sao tin nổi, chính vì thế, mà hạnh phúc bao giờ và bao giờ cũng đầy sức chinh phục, mới mẻ đến ngỡ ngàng.
***
Pat không nghe bước chân tôi. Ngồi dưới sàn nhà, trước tấm gương, nàng đang ướm thử chiếc  mũ vải đen xinh xinh. Chiếc đèn bàn đặt bên nàng, trên thảm. Cả căn phòng ngập trong bóng tối mờ ảo màu nâu vàng ấm áp, duy gương mặt nàng được ánh đèn rọi sáng. Nàng lôi một chiếc ghế lại gần mình, từ thành ghế thõng xuống vài dải lụa, một cái kéo nằm lấp lóa trên mặt ghế.
Tôi đứng bên ngưỡng cửa lặng lẽ ngắm nàng cặm cụi với chiếc mũ. Nàng thích ngồi dưới sàn; thỉnh thoảng, tối về tôi vẫn bắt gặp nàng ngủ thiếp dưới sàn, trong một góc phòng, bên cạnh là một cuốn sách và con chó.
Lúc này con chó cũng đang phủ phục cạnh nàng, nó cất tiếng sủa. Pat ngước lên, thấy bóng tôi trong gương. Nàng mỉm cười, với tôi, mọi vật trên thế gian như bừng sáng qua nụ cười của nàng. Tôi đi vào phòng, quỳ xuống sau lưng nàng, và sau tất cả  những chuyện rác rưởi trong ngày, tôi đặt môi lên làn da mềm mại, ấm áp trên gáy nàng.
Nàng giơ cao chiếc mũ vải đen. – Em vừa sửa lại đây này, anh yêu. Anh thấy có đẹp không?
Một chiếc mũ xinh tuyệt! – tôi nói.
Nào anh có chịu nhìn đâu cơ chứ! Em đã tháo vành sau ra khâu lên trước đấy.
Anh nhìn rất kỹ đằng khác – tôi dụi mặt vào tóc nàng, nói – nó là một chiếc mũ mà giá trông thấy, đám thợ may Pari đến tái người vì ghen.
Thôi đi, Robby! – nàng cười đẩy tôi ra – Anh mù tịt chuyện này mà. Có bao giờ anh để ý em mặc đồ gì không nhỉ?
Không sót một chi tiết – tôi tuyên bố, và ngồi xổm sát bên nàng trên sàn nhà, hơi lui vào bóng tối, để giấu cái mũi.
Vậy ư? Thế tối qua em mặc gì nào?
Tối qua á? – Tôi ngẫm nghĩ. Tôi không biết thật.
Em đoán ngay mà, anh yêu. Hầu như anh chẳng biết tí gì về em cả.
Đúng – tôi nói – nhưng cái hay là ở đó. Biết nhiều về nhau chỉ tổ khỏe hiểu lầm. Hiểu nhau càng kỹ, càng đâm xa lạ. Xem vợ chồng Hasso ấy… họ nhìn thấu gan ruột nhau và ghét nhau hơn cả những người xa lạ nhất.
Nàng đội chiếc mũ vải đen xinh xắn lên đầu, ngắm nghía trước gương – Điều anh vừa nói chỉ đúng một nửa, Robby ạ.
Mọi chân lý đều vậy cả - tôi đáp – Không bao giờ chúng ta mong đạt được hơn. Thì thế chúng ta mới là những con người. chúng ta đã làm quá đủ vai trò ngu ngốc với những chân lý nửa vời của mình. Với những chân lý tuyệt đối, chúng ta làm sao sống nổi.
Nàng bỏ mũ xuống, đặt sang bên. Đoạn nàng quay người lại, đúng lúc đó nàng nhìn thấy mũi tôi. – Anh làm sao thế này? – nàng hoảng sợ hỏi.
Chẳng có gì nghiêm trọng. Trông thế thôi. Anh đang sửa chữa dưới gầm xe thì bị một vật gì rơi trúng mũi.
Nàng nhìn tôi ngờ vực – Ai biết được anh đã ở những đâu. Không bao giờ anh chịu kể em nghe chuyện gì. Em biết về anh cũng ít như anh biết về em.
Thế càng hay chứ sao – tôi nói.
Nàng đi lấy một chậu nước và một chiếc khăn, đoạn gập khăn nhúng ướt chườm cho tôi. Nàng quan sát tôi lần nữa – Trông anh cứ như bị đánh ấy. Cổ cũng xây xước đây này. Chắc anh vừa trải qua một cuộc phiêu lưu gì đó chứ gì, anh yêu.
Cuộc phiêu lưu thú vị nhất của anh sẽ còn diễn ra nội nhật hôm nay – tôi nói.
Nàng ngạc nhiên ngước nhìn – Vào lúc muộn thế này ư, anh Robby? Anh còn định làm gì nữa thế?
Anh ở lại đây! – tôi đáp, quẳng béng chiếc khăn chườm đi và ôm lấy nàng. – Anh ở lại đây cùng em suốt tối nay.
(Còn tiếp)
Khi tất cả mọi thứ đã mất, tương lai vẫn còn
Đăng nhập để trả lời
0