33. tuổi thơ của quỷ
“Tôi không tin vào Chúa, cũng chẳng tin vào Phật.”
“Vậy anh tin vào cái gì?”
“Tôi tin vào quỷ.”
“Quỷ? Anh không đùa đấy chứ? Tại sao?”
“Bởi vì chúng gần gũi với đời sống con người. Chúng thuộc về tôi. Chúng từng nằm trong tôi. Tôi tin trong mỗi chúng ta đều tồn tại mầm mống của một con quỷ, chúng ẩn nấp đâu đó, như xác chấy rận, đợi thời khắc thích hợp sẽ vùng sống dậy, sục thẳng vào nơi tỏa hương vị máu.”
“Cách nghĩ đó thật khó thuyết phục. Nhưng trường hợp của anh, anh có tìm cách khống chế nó không? Nó đã trỗi dậy trong anh bao nhiêu lần rồi?”
“Tôi không biết. Một hai lần gì đó. Cũng có thể hơn. Mà biết đâu nó đã là tôi từ lâu, chiếm dụng tôi một cách toàn phần.”
“Kể cho tôi nghe một vài kỷ niệm nào đó đi!”
“Cậu muốn nghe chuyện gì?”
“Chuyện gì cũng được. Hãy nói về tuổi thơ của anh chẳng hạn.”
“Tuổi thơ à? Tuổi thơ của tôi là chuỗi ngày buồn chán đứng sau song cửa bị khóa và ngóng đợi. Ban đầu ngóng cha tôi, rồi sau đó tôi không xác minh mình đợi thứ gì. Có lẽ tôi cần một biến cố. Tôi từng nhiều lần mong nhà bị bốc cháy, để tôi có dịp nỗ lực dùng hết sức bình sinh mà trèo qua song cửa bị khóa đó. Thật ngu xuẩn. Nhưng chẳng có gì xảy ra. Tuổi thơ của tôi bị mắc kẹt, bị khóa lại sau những ước muốn kiểu như vậy.”
“Tại sao anh lại ngóng đợi cha? Ông ấy đi đâu? Làm ăn xa ư?”
“Không biết. Cha mẹ tôi bỏ nhau. Cha tôi thỉnh thoảng ghé thăm mẹ con tôi, nhét vào tay tôi tấm bánh. Đến giờ tôi cũng không nhớ chính xác cái bánh ấy màu sắc hình dạng ra làm sao, có tẩm chút hương vị gì. Chẳng biết nó có ngon không. Chỉ biết nó mờ nhạt giống như hình ảnh cha tôi. Ông không đọng lại trong ký ức tôi một điều gì cụ thể, ngoài cử chỉ cho một tấm bánh. Mà tấm bánh cũng bị tôi vứt liền sau đó, tôi chẳng thèm ăn. Và bởi vì tôi không ăn chúng, nên tôi cũng không nhớ được mùi vị của cha tôi. Tôi không lưu giữ được chút hơi ấm nào từ ông cả.”
“Lúc đó anh bao nhiêu tuổi? Cha mẹ anh có giải thích lý do vì sao họ chia tay nhau không?”
“Tôi không rõ. Họ không đánh đập nhau. Ít ra là trong tầm quan sát của tôi. Một đôi lần họ có tranh cãi nhẹ. Lúc ấy tôi khoảng bảy tuổi, học lớp hai. Một buổi chiều cô giáo có việc riêng nên cho lớp nghỉ học sớm, thay vì đợi cha đến đón, tôi leo lên yên sau xe đạp thầy thể dục, đi nhờ một đoạn. Tôi hối hả chạy về nhà, định bụng làm cho cha tôi vui vì không phải mất thời gian đến đón tôi. Tôi nghĩ đến chiếc bánh khoai mì nướng mẹ tôi sẽ thưởng vì điểm mười môn tập viết. Nhưng khi vừa vào nhà, tôi thấy mẹ tôi vừa nấu ăn vừa khóc. Phòng khách vắng bóng cha. Tôi hỏi, mẹ tôi không trả lời, lại còn khóc to hơn. Bà nói, từ nay chúng ta phải tập cách chăm sóc lẫn nhau, kể từ bây giờ gia đình ta chỉ có hai người thôi. Tôi không đủ trí khôn để hỏi những câu ý nghĩa hơn. Và vì thế, mẹ tôi thấy cũng không cần thiết cung cấp nguồn gốc cuộc chia tay cho đứa trẻ biết. Lâu dần, tôi quen với hoàn cảnh của mình, tôi tập quen với cách nghĩ rằng, nếu như một người cha bỏ rơi đứa con bé bỏng, nó cũng không cần thiết phải lục vấn nguyên do hay đi tìm ông ấy. Tìm kiếm là việc của người lớn, họ bỏ rơi thì tự họ phải có trách nhiệm đi tìm và hàn gắn lại. Không phải việc của tôi. Người ta nên chấp nhận việc thất lạc như việc đi trễ hay việc leo nhầm lên một chuyến xe, hoặc họ nỗ lực khắc phục, nếu không họ sẽ đến một địa điểm mới, sự quay lại hẳn tiêu tốn khối thời gian. Bởi vì vị thế của tôi là bị động, nên tôi phải tập quên. Tôi quên ông ấy như quên một tấm bánh đã vứt sau hè.”
“Sau đó thì sao? Anh có gặp lại ông ấy chứ?”
“Không. Cứ thế mờ dần và tan biến. Không để lại chút đau đớn, nuối tiếc hay day dứt gì. Như một chuyến xe chạy vụt qua trước mặt ta, quẩn vào làn bụi mỏng, rồi làn bụi cũng chết lặng vào không khí. Chúng tôi chuyển nhà đi nơi khác. Tôi tự đón xe buýt sau giờ tan học, về nhà tự tắm rửa và xem tivi một mình. Tôi nhớ thời điểm đó chưa có tivi màu. Thế giới nhìn qua màn hình trắng den buộc tôi phải tăng cường khả năng liên hệ thực tế lẫn phóng đại trí tưởng tượng. Đôi khi tôi phải tự hài lòng với cách nhìn dị biệt, như mặt trời không chỉ có màu cam hay đỏ, rừng cây không hẳn chỉ màu xanh, con bò đâu phải lúc nào cũng vàng, chúng có thể ngả cam như cách tivi trắng đen phản chiếu, hoặc cũng có thể úa màu bất kỳ nếu như ngày nào đó tôi mang tâm trạng u buồn. Nói chung nó lệ thuộc vào cách nhìn của riêng tôi. Sau đó mẹ tôi từ công sở trở về, hai mẹ con cùng ăn bữa tối với nhau trong lặng lẽ. Tôi không gặp lại cha tôi nữa. Mẹ tôi cũng thôi trò khóc vặt khi làm bếp, chuyển qua thái độ cáu kỉnh, bất kể mọi lúc, khiến tôi không thể đề phòng. Những khi tôi làm gì trái ý bà, bà chửi mắng tôi thậm tệ, thậm chí bà ném cả rau quả đang làm bếp vào mặt tôi. Nếu tôi bị điểm kém, ba nguyền rủa tôi, nói rằng tôi là nòi giống ngu độn, vô dụng. Lâu dần, tôi không có nhu cầu chia sẻ ý nghĩ với bà ấy. Tôi cất giấu chúng làm của riêng. Thỉnh thoảng tôi hồi nhớ, tôi cũng biết ơn bà. Nhờ lối giáo dục khắc nghiệt, có phần ngược đãi ấy, mà tôi trở nên mạnh mẽ. Tôi học cách đối phó và giải quyết những rắc rối một mình. Tôi lần lượt gỡ những khó khăn vướng phải ra khỏi lưới, mỗi tuổi mỗi tự tin và thuần thục hơn. Tôi quyết không làm phiền tới vai trò của mẹ mình, ngoài việc mỗi năm hai lần cầu viện bà ấy đi họp phụ huynh. Tôi học giỏi nhất lớp, sức khỏe loại cừ, điểm hạnh kiểm thì miễn chê, lúc nào cũng tốt. Mỗi năm hai lần, mẹ tôi được dịp mỉm cười hãnh diện vì tôi. Bà bắt đầu thôi ném rau củ cũng như thôi nguyền rủa tôi ngu độn. Nhưng bà vẫn cáu kỉnh không đâu. Bà chuyển sang tấn công những người hàng xóm đáng thương. Ai chạm tới bà, dù chỉ là lời móc máy nhỏ, bà liền thẳng tay trừng trị.”
“Có lẽ mẹ anh mất cân bằng sau ly hôn. Cũng có thể do tâm lý căng thẳng vì mưu sinh vất vả. Nên không điều chỉnh được hành vi.”
“Ừ, chắc vậy. Nhưng bà ấy làm nhiều việc đáng sợ, thậm chí rất ác.”
“Sao anh lại nhận xét về mẹ anh nghiệt ngã như vậy?”
“Bởi vì tôi đã từng nhìn thấy bà ấy đánh thuốc độc con mèo hàng xóm vì dám đánh cắp cá trong bếp nhà tôi. Xong việc, bà mang xác con mèo ra phơi ở cổng nhà chủ của chủ nó, xiên trên một chiếc cọc nhọn, có đính kèm mảnh giấy: “Trả giá một con cá bằng cái chết!”. Tôi rùng mình, hỏi mẹ vì sao con mèo phải trả giá đắt đỏ đến vậy? Mẹ tôi bảo, con còn nhỏ lắm, không hiểu gì cả. Từ ngày cha con ra đi, kinh tế gia đình ta sa sút hẳn. Trong suốt một tuần mẹ con ta chỉ được ăn một bữa cá, còn lại là rau đậu, tương cà, thảng hoặc bàn ăn mới hiện diện vài quả trứng bé xíu, còn thịt ư, đừng có mơ, sẽ chẳng bao giờ có lát thịt nào. Vì thế, việc một con mèo ăn cắp bữa cá duy nhất trong tuần là không thể chấp nhận được. Mẹ con ta không được ăn, nhưng con mèo CỦA HÀNG XÓM thì lại khoan khoái đánh chén, con không thấy điều đó là bất công sao, Kan? Mẹ tôi nhấn mạnh vào ba chữ CỦA HÀNG XÓM. Tôi nói, nhưng sao nó phải trả giá bằng cả sinh mạng? Nó BUỘC PHẢI TRẢ GIÁ – mẹ tôi lại nhấn mạnh – bởi vì mẹ không muốn chuyện này lập lại lần thứ hai. Cũng như mẹ không muốn chuyện mất cắp xảy ra bởi bất kỳ con mèo nào khác. Do đó, hơn cả ý nghĩa tiêu diệt, nó là đòn cảnh cáo, nó là lập lại trật tự, tìm lại công bằng, Kan, con hiểu chứ? Bây giờ bước theo mẹ, cứng rắn lên, hãy núp ở hàng rào đó, chăm chú xem chuyện tiếp theo sẽ là gì. Thú thực, lúc đó não bộ tôi gần như đông cứng lại, mụ mị, giống như thuật thôi miên, tôi làm theo tất cả những lời mẹ tôi chỉ dẫn. Phía sau hàng rào, tôi chờ đợi. Tới giờ tôi vẫn không sao quên được vẻ mặt kinh hoàng của bà hàng xóm, bà ấy gần như bị chết đứng, với hai mắt mở to ngây dại, cái miệng gần như sùi bọt mép. Tôi nghĩ bà ấy tê liệt toàn thân trong thoáng chốc, gần như một cái chết lâm sàng. Tôi dám thề rằng những bộ phim kinh dị tôi xem sau này không có cảnh nào vỡ tung thần kinh đến vậy. Thật đấy! Tôi không cường điệu vấn đề đâu. Oái ăm thay, nhìn cảnh đó, tôi không khỏi thích thú. Tôi phá lên cười. Và rồi như hiệu ứng dây chuyền, tôi thấy cái vẻ thảm hại của con mèo bị phanh thây cũng rất buồn cười. Đôi mắt nó, một đôi mắt bi ve vàng ệch, phản chiếu long lanh bầu trời, cũng lộ vẻ kinh hoàng hệt như bà chủ nó. Tôi cười không dứt. Lần đầu tiên tôi khám phá ra niềm vui tuổi thơ, ấy là được chứng kiến người khác kinh hãi một điều gì. Cũng vì thế, tôi dần phát hiện ra mình bắt đầu sống chung với quỷ.”
“Anh còn làm những trò gì nữa, tiếp sau đó?”
“Trò quỷ ấy à? Vô số kể! Cũng từ sau vụ con mèo bị phơi thây, chuyện rò rỉ khắp khu phố rồi không biết cách nào đã lan truyền tới trường học. Tôi bị cô lập. Tôi đoán có kẻ nào đó trong khu phố đã tiếp tay. Khốn nỗn có đến hai trai một gái học cùng trường tôi, là hàng xóm của tôi. Tôi dùng phép loại suy để truy tìm thủ phạm, nhưng thất bại. Tôi không ngửi được tí dấu vết nào từ ba đứa chúng nó. Nhưng ở trường, sự cô lập diễn ra ngày càng quyết liệt hơn. Tôi bị cuốn vào những xung đột vụn vặt không đâu, mà chẳng thể cầu viện mẹ mình. Tôi trở nên dối trá khi che dấu những vết bầm tím vì xô xát, hay phải tự giặt quần áo dơ bẩn để xóa vết tích đánh nhau trước khi bị mẹ phát hiện. Nếu chúng rách toạc hoặc cặp sách bị xé nát, tôi phải tự bịa ra lý do. Tất nhiên một đôi lần thiếu khôn ngoan, tôi đành chịu trận để mẹ nã cho một trận đòn nhớ đời, khiến cơ thể bầm dập te tua còn hơn đánh nhau với lũ bạn. Tôi đã nói rồi, tôi phải tự học cách tự vệ và giải quyết những vấn đề cá nhân.”
“Đáng buồn như vậy sao? Lúc nào anh cũng phải gồng mình lên thế à?”
“Gồng mình ư? Chính xác! Nhưng lúc nhỏ tôi không hiểu sâu xa đến vậy, tôi cho rằng tôi đang trải nghiệm cuộc sống một cách tự nhiên, những phương pháp rèn luyện, ứng phó đều diễn ra tự nhiên. Như cách một con cá phóng ra tia điện, con nhím xù lông hay loài cây tiết nọc độc, tất cả đều có lý do, nếu không có ai đó đủ tin cậy, hoặc anh không thể dựa vào ai, thì anh phải tự học lấy cách bảo vệ mình và vượt qua mọi trở ngại. Nếu anh sống sót, anh đúng. Mà quả tình tôi đã trưởng thành, đã sống sót và đang nằm bên cạnh cậu đây. Vậy tôi đã đúng, phải không?”
“Ừ, đúng về khía cạnh nào đó. Nhưng bất kỳ đứa trẻ nào cũng cần được chở che.”
“Tất nhiên, nhưng đôi khi cần phó mặc cho chúng, hãy quẳng chúng ra đường cho chúng tăng cường sức mạnh. Để tôi kể cậu nghe, có lần tôi suýt giết chết một thằng khốn trong lớp đấy…”
“Tại sao lại thế?”
“Vì nó dám nói tôi giống như chó hoang. Tôi chặn nó lại, nói, mày nhắc lại lần nữa xem. Nó dõng dạc, tao nói mày là thứ chó hoang, rõ chưa? Nghĩa là thứ con hoang đàng mất dạy và bẩn thỉu, đúng không, mày muốn diễn đạt chính xác thế, đúng không, tôi bình tĩnh cật vấn lại. Nó gật đầu, ngửa cổ cười kiêu hãnh. Lúc đó, có hẳn một đám đông bu vòng tròn. Tôi đọc được nỗi khao khát ngầu đỏ trong mắt đám đông mọi rợ ấy, chúng thèm muốn cảnh đánh nhau. Được, tôi sẽ thỏa mãn cho tất cả. Tôi dồn hết sức lực và nỗi ức chế tích tụ nhiều năm trời vào đôi tay, nhào đến siết cổ thằng khốn đó. Vòng tròn xung quanh hò reo cổ vũ. “Nữa đi, nữa đi!”, bọn chúng hô vang nhịp nhàng, bước chân rập rình chuyển động, vũ điệu của chúng như một trò chơi nhảy xạp tập thể, như loài cáo nhảy múa nơi hang động, ăn mừng miếng thịt tươi. Nhịp tim của tôi cũng nhảy liên hồi. Mỗi lần “nữa đi”, vòng tay tôi bóp chặt hơn một chút. Hơi thở thằng nhỏ khò khè, cổ họng nó nấc lên từng tràng ằng ặc, rồi lịm dần. Ban đầu nó vùng vẫy, sau cùng bất lực xuôi tay, chân nhũn ra. Tôi siết cổ nó cho đến khi nó trợn ngược hai mắt, đứng tròng, trắng dã, lưỡi thè ra, không thở được nữa. Tôi đinh ninh rằng nó đã chết, tôi chuẩn bị thở hắt ra một tràng nhẹ nhõm. Chợt vòng tròn xung quanh đột ngột giãn ra, tiếng hò reo câm nín. Sự im lặng rợn ngập bao trùm. Và rồi bỗng chốc mặt đất rung lên, vòng tròn đứt gãy. Bọn chúng rùng rùng bỏ chạy tán loạn, thét lên những tiếng kêu cứu tuyết vọng. Lúc đó tôi không biết chuyện gì đã xảy ra, phải có một chuyện gì ghê gớm lắm cái đám đông khoái trá kia mới bỏ chạy chứ? Tôi buông cổ thằng nhóc. Nó đổ gục xuống, giãy lên một cái rồi nằm ngay đơ trên thảm cỏ. Lúc ấy tôi nhớ đến con mèo ăn cắp cá phải trả giá bằng cái chết phơi thây trên cọc nhọn, còn đính kèm mẩu giấy cảnh báo. Tôi nghĩ thằng này chết hẳn rồi. Tôi bèn lục cặp sách, rứt ra mảnh giấy, tôi suy nghĩ tìm cách diễn đạt một câu thấm thía, hệt như mẹ tôi từng làm. Rồi tưởng tượng đến cảnh mẹ thằng khốn cũng chết như trời trồng khi đọc mảnh giấy ghim trên xác con. Ồ, cảm xúc dậy lên mãnh liệt hệt như năm xưa mục kích bà hàng xóm. Khi tôi viết xong dòng chữ: “Một lời chọc tức, tắt thở vĩnh viễn”, có vẽ kèm thêm mũi tên chỉ hướng xuống phía dưới, tôi định bụng sẽ đính mảnh giấy lên trán nó. Nhưng lúc tôi ngẩng đầu lên thì cái xác đã lết đi xa được một đoạn. Tôi không đuổi theo. Có một cái gì đó trào lên trong mắt tôi, ướt ròng và lạnh ngắt, nhưng tôi thề đấy không phải nước mắt. Làm sao tôi có thể tin là mình khóc khi vừa mới dồn sức giết một kẻ thù? Tôi cần gì phải khóc? Thực sự có cần thiết là phải tỏ ra là biết khóc hay không? Tôi khóc vì hối hận ư? Tôi khóc vì mừng nó sống dậy ư? Hay tôi khóc vì tôi sợ hãi chính tôi? Không! Tuyệt đối đấy không phải nước mắt. Chắc do tôi cố sức quá nên mi mắt mới đổ mồ hôi thôi. Ờ, đến lúc đó thì tôi mới thấy hai chân mình khuỵu xuống, đôi tay run rẩy, các ngón quắp quíu không duỗi ra được, tôi bèn vò nát mảnh giấy, nuốt luôn vào bụng.”
“Trời ơi! Rồi sao nữa? Ắt hẳn nhà trường sẽ xử lý chuyện này thẳng tay lắm?”
“Không! Kết quả là chuyện ghê gớm này rơi tõm vào im lặng. Cô giáo không hế biết gì, vì không ai dám mách lẻo, chắc sợ bị tôi trừng trị. Từ đó cả lớp sợ tôi. Con quỷ trong tôi reo mừng chiến thắng, nó đã cứu tôi thoát khỏi sự hành hạ của đám đông. Vì thế, tôi quyết tâm nuôi dưỡng nó, không chút hồ nghi, lại mong nó lớn lên từng ngày. Tôi rút ra được một chân lý: muôn chiến thắng, phải biết tàn ác.”
“Trong ngần ấy năm, không lẽ anh chỉ biết có giải quyết mọi rắc rối bằng bạo lực thôi sao?”
“Không hẳn thế. Bởi vì trong nhiều trường hợp, tôi nhận ra bạo lực đồng nghĩa với thất bại, nếu không may gặp phải đối thủ mạnh hơn. Tôi bèn chuyển sang dùng âm mưu. Tôi ghi dấu cột mốc ấy năm lên mười hai tuổi. Tôi vừa bước vào tuổi dậy thì.”
“Sớm vậy sao? Tôi phải đến mười bốn tuổi mới mộng tinh lần đầu.”
“Thật đáng buồn, cậu chậm phát dục quá nhỉ? Nhưng bù lại, bây giờ khả năng của cậu rất ngon lành.”
“Để đuổi kịp anh đó mà, cũng là bù lỗ cho hai năm muộn màng, so với anh.”
“Ừ, tôi nói đến đâu rồi nhỉ?”
“Mười hai tuổi, dậy thì, anh chuyển sang dùng mưu.”
“Đúng vậy. Chính là khi tôi gặp một đối thủ mạnh hơn. Thằng này ở lớp khác, to con hơn tôi. Có lẽ chuyện rò rỉ vào tai nó, và nó háo hức muốn so tài cao thấp với tôi. Đám trè con hiếu thắng và ồn ào, cậu thừa biết rồi mà. Bất cứ thằng trẻ ranh nào cũng tưởng rằng mình được trời ban cho một sức mạnh tuyệt đối vô song nào đó. Để cần một thực nghiệm, chúng sẵn sàng lao đi tìm kiếm cơ hội kiểm tra sức mạnh ấy. Và cái thằng to con này quả là đánh hơi rất tài. Vào giờ ra chơi khi nó lướt ngang cửa số, quét tia nhìn ngang người tôi, là tôi cảm nhận ngay chuyện gì sẽ xảy ra. Nó đã đánh hơi trúng đích. Tôi trấn tĩnh ngay cơn nao núng, nhưng tôi cũng không ngờ cuộc tỉ thí diễn ra quá sớm, ở một nơi tôi hoàn toàn thiếu cảnh giác: trong nhà vệ sinh. Phải, ngay khi vạch quần ra trong nhà vệ sinh, cú đấm của nó đã khiến tôi phải ôm cái mồm đầy máu bỏ chạy. Tôi bị gãy một cái răng. Môi toét ra. Nó rượt tôi chạy vòng sân trường, tôi mất trí lủi bừa vào phòng giám thị. An toàn trong chốc lát.”
“Nó chưa thỏa mãn, nên sẽ chặn đường anh làm cú dứt điểm?”
“Đúng! Kinh nghiệm mách bảo cho tôi chuyện đó. Vì thế, trước khi thụ động chờ nó ra tay, tôi chuẩn bị sẵn vũ khí đối phó. Vấn đề là tìm ra vũ khí gì? Suốt hai tiết học còn lại, tôi ngồi chết cứng trên ghế, không nghe, không hiểu cô giáo đang giảng dạy điều gì, đầu óc tôi quay cuồng với viễn cảnh bị tấn công. Tôi nghĩ biết đâu tôi sẽ bị đập chết, rồi cái xác bẹp dúm thảm hại sẽ bị đem treo mắc trên hàng rào trường học, hoặc căng rách trước cổng nhà tôi. Hình ảnh cái chết của con mèo ăn cắp cá thuở nào chợi hiện lên trước mặt. Thân xác giăng phơi của nó đong đưa ám ảnh tôi. Nhưng tôi không muốn chết. Tôi không bao giờ muốn tôi chết đứng như bà hàng xóm. Tôi suy nghĩ nát óc, tôi cứ nhìn lên bảng. Trên bảng, cô giáo đang giảng và viết bài, tay cô đưa lên đưa xuống nhịp nhàng, bụi phấn cứ rơi… rơi… trắng xóa. Tôi chớp mắt, sướng phát cuồng. A, tìm ra rồi. Cảm ơn bụi phấn!”
“Bụi phấn sao? Anh dùng bụi phấn làm gì?”
“Để đỡ đòn. Đúng như dự đoán, khi tôi ra khỏi cổng trường một đoạn, đã thấy thằng có nắm đấm thép ấy ngạo nghễ đứng chờ ở xa, cởi trần như một võ sĩ quyền anh ngoại hạng. Nó cười rất tươi. Thấp thoáng phía sau một đám đông mục kích. Sao lúc nào cái đám đông mọi rợ đó cũng đeo dính vào tôi? Chúng sợ tôi, nhưng chúng không hề buông tha tôi. Tôi dõng dạc nhìn thẳng mắt kẻ thù, bước qua, thủ chắt hai nắm tay. Chỉ có tôi mới biết thứ gì trong đó. Ở một khoảng cách vừa đủ, đối thủ tung một cú đấm thép. Vừa kịp lúc tôi cũng tung xòe cả hai nắm tay mình ra, nhằm thẳng vào mặt nó. Một vùng trời đất trắng xóa, mịt mờ. Đầu nó giống như một xúc thịt tẩm bột. Thằng khốn gào lên hãi hùng, hai tay ôm chặt lấy mặt, dụi lia lịa. Bụi phấn! Tôi nghĩ nó sẽ bị mù thôi. Bụi phấn nhiều như thế kia mà. Cuộc đời nó rồi sẽ tha hồ mà tung cú đấm vào không khí với hai mắt mù lòa ấy.”
“Trời ơi! Khủng khiếp quá!”
“Đó, đám đông xung quanh cũng nói câu đó. Thật trùng hợp! Nhưng tôi thấy có gì đâu mà khủng khiếp nhỉ? Tôi chỉ tự vệ thôi mà. Nhưng không ai dạy cho tôi cách tự vệ nào hay hơn, tôi đành phải tự mày mò. Mà sao không ai dạy cho mấy đứa kia đừng gây chiến với tôi nữa? Tôi sẽ không trả thù nếu không bị ức hiếp. Vậy trong chuyện này ai có lỗi? Và phe nào thì cần được giáo dục trước để có hòa bình? Dù thế nào đi nữa, tôi cũng mừng vì tôi đã thắng. Phải, lúc nào tôi cũng thắng. Tôi thắng vì tôi biết tự giáo dục chính tôi.”
“Rốt cuộc thế nào? Hai mắt thằng bé đáng thương ấy?”
“Sao? Cậu nói thằng bé đáng thương ư? Tôi mới đáng thương chứ? Bởi vì nó không bị mù, bụi phấn không làm nó mù được. Nó chỉ cần đến bác sĩ và nghỉ học hai này rồi đâu lại vào đó. Nó trở lại trường, nhìn tôi không chớp mắt. Tôi hiểu ánh mắt đó. Sợ hãi lẫn căm thù. Rồi nó cũng sẽ giống như tôi, để vượt qua nỗi sợ hãi, chỉ có thể dùng lòng căm thù làm động lực, làm đòn bẩy tạo sức mạnh. Ai mà biết khi nào lòng căm thù sẽ trấn áp nỗi sợ hãi. Hôm nay tôi ném bụi phấn vào mắt nó, hẳn ngày mai nó sẽ tung tro than, ớt bột, cát, hoặc cái thứ chó chết gì đó vào mắt tôi, làm sao tôi lường hết được? Một trò chơi bất tận của lòng thù hận, cậu biết không? Tôi thấp thỏm không yên. Cuộc đời học sinh của tôi thời kỳ ấy thực sự là địa ngục. Chỉ khi về đến nhà tôi mới yên ổn, mới biết rằng mình vẫn còn cơ hội sống sót. Tâm lý đè nặng những ngày tháng ấy khiến cho tôi kiệt sức. Cho đến khi nó đột ngột chuyển trường thì tôi mới hồi sinh. Tôi cũng không biết nó chuyển trường do hoàn cảnh hay do không muốn đối đầu với tôi. Dù sao, tôi cũng kiệt sức vì âu lo suốt thời gian dài. Cậu thấy không? Vậy giữa tôi và nó, ai đáng thương hơn?”
***
Trời sắp sáng rồi, tôi nghe tiếng thở của Kan đều đều. Cánh tay tôi tê dại. Đầu Kan đang tựa lên cánh tay tôi. Thôi ngủ đi Kan! Tôi ước gì tuổi thơ anh đừng như vậy. Tôi ước gì Kan đừng vứt tấm bánh sau hè, để mùi cha Kan lưu dấu lên tuổi thơ Kan. Để Kan được dạy cách tồn tại mà không phải đánh nhau. Để Kan không kiêu hãnh sống với phương châm “tôi tự giáo dục chính tôi” mà không lạc lối vì đau đớn. Và để Kan tin rằng giọt nước mắt ứa ra sau khi ta hại chết một ai đó là có thực.
Vâng, trong trường hợp này Kan thật đáng thương. Nhưng còn tôi thì sao? Giữa tôi và Kan, ai đáng thương hơn?
Trời đã sáng hẳn, tôi nhớ đến G.g
...::: Ma quỷ thích phá hoại, chúng thích sự thù hận hơn tình yêu, nhưng ma quỷ không bao giờ nói dối, cũng không bao giờ phản bội, còn trung thành hơn cả những tín đồ trung thành nhất :::...
★
★
★
★
★
0