Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Những con ngựa gỗ An-be Li-kha-nốp

1 trả lời, 5.661 lượt xem — Trang 1 / 1
Những Con Ngựa Gỗ
Tác Giả: An-be Li-kha-nốp
Dịch Giả: Nam Cường
 
 
 
LỜI NÓI ĐẦU
 
Các em ạ, tôi thật muốn so sánh đời người với âm nhạc.
Các em hãy điểm lại những năm tháng đã sống, ngày nọ tiếp ngày kia, kể từ khi biết ghi nhớ đi. Tôi tin rằng em nào cũng sẽ không quên trong cuộc đời em có những lúc vui tươi như buổi sáng nắng tinh sương, lại cũng có những mẩu ngày ảm đạm khi các em mắc lỗi, khi em chưa hài lòng với bản thân hoặc khi trong lòng buồn bã. Không một ai sống trong một cuộc đời bằng phẳng vô tư như sợi dây thép kéo căng. Bởi vì cuộc sống tươi đẹp là ở đó, ở chỗ nó xao động mà trong đó có những phát hiện và mất mát.
 
Khi con người biết cảm nhận đau khổ, anh ta sẽ biết đánh giá cao hơn hạnh phúc và niềm vui, bởi vì tất cả đều được nhận biết qua so sánh. Cuộc sống giống như âm nhạc là ở đó. Sẽ không phải là âm nhạc, nếu như giai điệu bằng phẳng và đơn điệu. Âm nhạc lên bổng, xuống trầm tựa như sóng biển; có lúc nó trang trọng, có lúc lặng lẽ, buồn rầu và vui tươi hệt như cuộc sống.
 
Tôi đặt tên cho cuốn sách gồm những mẩu chuyện vừa trong tập này là “Âm nhạc” (*).
 
Tôi muốn bằng cuốn sách nhỏ này kể chuyện về cuộc sống, không phải về cuộc sống bình lặng trơn tru mà về một cuộc sống có nhiều băn khoăn lo lắng của một em nhỏ cùng lứa tuổi với các em.
 
TÁC GIẢ
 
Chú thích:
(*) Nguyên bản tiếng Nga tên tác phẩm là: Âm nhạc. Bản dịch này mang tên: Những con ngựa gỗ.
Đăng nhập để trả lời
0
Những Dốc Đứng (Phần 1)

 
Tôi đâu có hiểu chiến tranh đã bắt đầu.
 
Chúng tôi ngồi trên một tấm chăn trần dưới những cây anh đào để tránh bị cảm lạnh vì mặt đất lạnh giá ngay cả khi trời nồng nực, và đợi cha tôi. Cha tôi đi mua bia. Nơi bán bia ở đầu phố, chỉ phải đi chừng dăm phút, vậy mà chắc hẳn có chuyện gì xảy ra, nên cha tôi vẫn chưa thấy về. Sau cùng cha tôi cũng đã về. Ông bước vào vườn, rập mạnh cổng và tôi thấy ông đi vội vã như sợ chậm, bộ mặt căng thẳng, có lẽ gặp chuyện không may, chứ người đi mua bia về làm gì có bộ mặt như vậy. Tôi hơi ngạc nhiên, con cha tôi vẫn rảo bước và dừng lại bên chiếc chăn.
-         Chiến tranh bắt đầu rồi! – cha tôi nói.
Mọi người không hiểu mỉm cười, Sau đó họ đứng bật dậy khỏi chiếc chăn còn tôi thì quay đi, quên bẵng những lời nói của cha, rồi nhìn theo làn gió nhẹ thổi hiu hiu và những cánh hoa anh đào rắc xuống như tuyết rơi ngày hè.
Sau đó vẫn tôi không hiểu là chiến tranh đã bắt đầu, ngay cả sau này, khi anh em bạn bè và họ hàng tập trung uống rượu như trong ngày hội, rồi cha tôi khi đó đang mặc chiến áo vét-tông màu đen, đeo chiếc huy hiệu TTQG (1) đứng dậy đọi chiếc mũ lưỡi trai kiểu mới lên vầng trán cao và khoác vai chiếc ba-lô đi đường bằng vải bạt.
Mọi người bước ra mảnh sân oi bức vì nóng nực, xanh nắt vì sắc cỏ và ánh sáng nắng trời, đăng giậm giậm chân, không biết nên làm thêm việc gì, rồi ngồi xuống – tiện đâu ngồi đấy. Bà tôi ngồi xuống một khúc gỗ cũ kỹ mà không hiểu sao vẫn chưa bị đem ra xẻ; mẹ tôi ngồi với cha trên chiếc ghế dài, còn khách khứa ngồi ngay lên đám cỏ non rậm rì.
Người lớn ngồi im lặng, họ cũng kéo tôi ngồi xuống, nhưng tôi cứ muốn đứng bật dậy chạy trên nền cỏ mát lạnh. Tuy vậy không ai ho phép tôi. Một bàn tay nặng nề của ai đó đè nặng lên vai tôi, như một quả tạ và tôi không sao đứng lên, không chạy được trên nền có hấp dẫn, để cứ ngạc nhiên nhìn những bộ mặt đam chiêu, những đôi môi mếu máo và những nếp nhăn.
Thế rồi mọi người đứng dậy và cha tôi bước đến bên tôi. Ông bế tôi tung lên cao, còn tôi thì cười sung sướng. Tôi bay cao trên không trung, và tôi thấy nkhachs khứa và bạn bè của cha tôi đang nhìn tôi – vui vẻ và cởi mở.
Tôi cười, không hề biết rằng chiến tranh đang xảy ra, không biết một chút gì, tôi vẫy tay với cha, tôi sung sướng vì cuối cùng cha đã hiểu ra mà tặng tôi chiếc huy hiệu TTQG.
Cha tôi đi dọc theo đường phố nóng nực và bụi bặm bên phải và bên trái cha là mẹ tôi và khách khứa. Mọi người cầm tay nhau như đi dạo, choán hết lòng đường đá. Họ còn hát bài Ca-chiu-sa – một bài hát tuyệt vời – cha tôi thỉnh thoảng ngoái nhìn lại, còn tôi thì đứng cạnh bà mỉm cười, bởi vì tôi đang vui.
 
*
*  *
Dần đàn tôi mới hiểu chiến tranh là gì. Thoạt đầu là những bức thư. Cha tôi gửi từ mặt trận về những bức ảnh có in hình một phụ nữ. Một tay bà cầm tờ giấy có in lời thề, tay kia trỏ lên cao, trên đó có ghi dòng chữ mà tôi đánh vần từng từ: “Bà mẹ - Tổ quốc kêu gọi!” – và lần nào tôi cũng đưua tay lên chống cằm suy nghĩ. Bà mẹ - Tổ quốc kêu gọi ai vậy? Bà kêu gọi tất cả, như vậy có nghĩa là kêu gọi cả tôi, nhưng tôi vẫn chưa nghĩ ra là mình phải đi đâu. Tôi buồn rầu nhớ đến đường phố mùa hè rực rỡ mà cha tôi đã đi cùng khách khứa; tôi thử hình dung khuôn mặt của ông, nhưng nó cứ biến đi không sao nhớ lại được, tôi thấy sợ hãi. Khi đó tôi nhìn tấm ảnh treo phía trên tủ, nét mặt cha tôi ở đó nom rất trẻ, nhưng rất giống và tôi thấy yên tâm. Nhưng càng nhìn kỹ tấm bưu ảnh, tôi vẫn càng không hiểu bà mẹ - Tổ quốc kêu gọi tôi đi đâu. Cha tôi viết thư, lời lẽ rất vui vẻ - mẹ tôi bao giờ cũng đọc to các bưu thiếp của ông, mẹ tôi khóc, còn tôi thì chỉ muốn ngửi tấm bưu thiếp ấy, bởi vì nó có màu vàng như tẩm bơ.
Lúc còn lại một mình tôi cứ như con chó, ra công hít hít tấm bưu thiếp, nhưng không thấy có mùi gì khác, ngoài mùi giấy.
Sau đó mẹ tôi có đem về nhà những mảnh giấy có nhiều màu. Những mảnh giấy này có các ô ghi chữ số và mẹ tôi bảo rằng giờ đây sẽ phân phát lương thực theo các tấm phiếu ấy. Rồi mẹ tôi ngó vào rương xem bột mì và bột mạnh có từ hồi trước chiến tranh đến nay còn lại bao nhiêu. Mẹ tôi thở dài lắc đầu bảo rằng còn lại rất ít. Tôi cảm thấy sung sướng vì giờ đây sẽ không bị bắt ép ăn các món cháo bột đáng ghét ấy nữa.
Tuy vậy, tôi nhanh chóng thay đổi suy nghĩ của mình, và đĩa cháo bột lúa mạnh vàng ngậy váng mỡ chỉ còn xuất hiện trong mơ, cứ như một sự quở trách hay trừng phạt. Bởi vì mẹ tôi đã có một món ăn mới – món cháo bột loãng.
Cháo bột loãng là một món ăn kỳ lạ. Tôi đã nhiều lần thấy bà và mẹ nấu món ấy  và còn nhớ cách nấu đến tận ngày nay. Bột được rắc vào nước nóng, thêm chút muối, đem nấu lên – thế là xong; xin hãy cầm lấy thìa và kiểm nghiệm cuộc sống của mình. Nếu chiếc đứng dựng trong cháo bột – thì còn chưa sao, vẫn có thể sống được, bởi vì như thế là còn bột. Nhưng nếu chiếc thìa đổ - như vậy là không hay, hết bột và mẹ tôi lại thở dài, rồi đi đến tủ quần áo lựa chọn sống áo.
Mẹ tôi cáu bẳn đẩy chiếc mắc áo, các móc sắt va lách cách vào nhau ngày càng to hơn, bởi vì các mắc áo trống không tăng lên nhiều trong đó.
Chỉ riêng bộ quần áo vét-tông của cha tôi có bọc ngoài bằng một tấm ga trải giường là vẫn treo nguyên ở một chỗ, cứ như nó bị lạnh và có thể cóng lại ấy. Mẹ tôi không bao giờ chạm đến nó, mà chỉ kéo ra kéo vào những chiếc sống áo của mình thôi.
Những chiếc váy áo của mẹ cứ biến đi, nhuwgn món cháo bột thì không biến đi đâu. Hồi đó đêm đêm tôi cứ mơ thấy đĩa cháo tấm vàng ngậy bốc khói nghi ngút. Những đĩa cháo ấy bà tôi thường nấu vào ngày chủ nhật và tôi bắt đầu hiểu rằng đó là vào các ngày chủ nhật trước kia.
Hồi trước chiên tranh.
 
*
* *
Tôi đi học vào mùa thu thứ hai sau khi chiến tranh xảy ra.
Bàn học ở lớp tôi gồm bốn dãy có chừa ra những lối hẹp mà các cô giáo thường phải đi lách nghiêng  người. Cuối các buổi học trong lớp thường rất ngột ngạt bởi vậy giờ ra chơi trực nhật nghiêm khắc bắt tất cả ra khỏi lớp và mở toang các cửa sổ con để thông gió. Trường cũ, lại nhỏ không thích hợp với số lượng học sinh đông như vậy, vì thế vào giờ nghỉ hành lang chật kín những cái đầu húi trọc, không làm sao mà chạy đi chạy lại được nữa; muốn ra khỏi đám đống này phải dùng đến cùi tay hết chan lại hích.
Tôi không ngạc nhiên về sự chật chội và chen chúc này, bởi tôi chưa từng được học ở một trường nào rộng rãi hơn. Tôi cũng chẳng biết sẽ phải khác đi như thế nào, cho nên giờ ra chơi tôi cũng lách qua đám đông bọn con trai. Dùng cùi tay hích vào người khác và tôi thích thú với cái trò bát nháo ấy.
Trường học chia ra ba ca. Những học sinh ca đầu tất nhiên phải học đầu tiên, phải dậy sớm hơn vì buổi học bắt đầu lúc 8 giờ.
Mùa đông, tôi và mẹ tôi thường ra khỏi nhà lúc trời còn tối đất, trên đầu lơ lửng những ngôi sao lớn lấp lánh, tuyết cứng lạo xạo dưới đôi ủng; trên phố, những ngọn đèn đường thưa thớt tựa như những bông hoa bồ công anh, vì ánh sáng của chúng tỏa lan trong không khí giá lạnh cứ xòe thành những tán tròn.
Tôi vừa đi vừa ngái ngủ, tai nghe tiếng lạo xạo dưới chân. Mẹ dắt tay tôi, đôi lúc tôi nhắm mắt lại. Những lúc ấy tôi, đôi lúc tôi nhắm mắt lại. Những lúc ấy, tôi như con ngựa già yếu, không để ý đến những gì diễn ra trước mắt, mà chỉ ngoan ngoãn rẽ khi người ta giật dây cương. Mẹ tôi cũng im lặng bởi vì một buổi sáng không có gì thú vị thì cũng không cần thiết phải chuyện trò; lúc nào muốn tôi nhanh chân, mẹ chỉ cần lắc nhẹ tay tôi. Tôi vẫn nhắm mắt rảo bước; tôi thấy đường lên dốc, như vậy có nghĩa là nó sắp tới trường và tôi khó khăn lắm với hé được đôi mi mắt nặng trĩu cứ dính chặt vào nhau.
Bao nhiêu lần tới trường, thì bấy nhiêu lần tôi chờ đợi cái giây phút trọng đại ấy. Đúng 8 giờ kém 15 phút, một luồng âm thanh trầm trầm kéo dài vang lên trong sự im lặng băng giá, hệt như tiếng rú của con quái vật thời tiền sử. Tiếp đó là một luồng, luồng nữa, và cả một đàn quái vật gầm lên nhất loạt. Mọi người trên đường phố bỗng sinh động hẳn, bước nhanh chân, một số người con chạy, mẹ tôi buông tay tôi ra và bảo:
-         Con nhanh chân lên. Mẹ chạy đi đây.
Mẹ tôi quay về phía bệnh viện rảo bước, còn những con quái vật thời tiền sử vẫn rống lên báo trước rằng người nào đã đi làm thì không được phép đến muộn. Chúng gầm rú chừng một phút hoặc lâu hơn một chút, rồi câm lặng cũng bất ngờ như lúc bắt đầu. Đó là tiếng còi nhà máy mà tôi bao giờ cũng rất sợ hãi nghĩ đến. Ở trường, chúng tôi được giải thích rằng hễ tiếng còi nhà máy rú lên giữa thanh thiên bạch nhật như đã rú vào các buổi sớm mai thì đó là báo động phòng không. Lúc ấy phải chạy xuống hầm trú ẩn, hay nấp vào các hỗ phòng không trong các sân nhà.
Những lời nói ấy làm cho tôi sợ hãi; ngồi học trong lớp mà tôi cứ bất chợt hoảng hốt: có cảm giác còi nhà máy sắp rú lên bây giờ. Nhưng thời gian trôi đi mà không hề thấy còi báo động. Chỉ có một lần vào buổi tối, trên bầu trời thành phố bỗng xuất hiện ba luồng ánh sáng xanh đan chéo nhau trong giây lát. Lúc ấy tôi đang ở ngoài đường – hình như hai mẹ con tôi đang đi đến cửa hàng – tôi tưởng đó là máy bay Đức: trên trời có tiếng ầm ầm. Hẳn rằng mẹ tôi cũng nghĩ như vậy, bà ôm chặt lấy tôi, nhưng vẫn đứng nguyên tại chỗ. Chúng tôi đứng giứa đường như bị thôi miên và ngẩng mặt lên nhìn trời. Những luồn ánh sáng quét mọi chỗ và một luồng đã xòe “tay” chộp được một chiếc máy bay nhỏ. Các luồng ánh sáng khác lập tức chập lại và tại giao điểm của chúng, tôi thấy một ngôi sao nhỏ trên cánh máy bay. Người lái máy bay thong thả cho máy bay lượn vòng trên thành phố - chắc hẳn đây là buổi tập của những người sử dụng đèn chiếu, bởi vậy còi thành phố không gầm rú – nhưng dù sao hai mẹ con tôi vẫn không rời mắt khỏi cảnh tượng này cho đến khi các đèn chiếu lần lượt tắt hẳn.


-------------------
Chú thích
(1): Thể thao Quốc gia.


* Thực ra các mẩu truyện vừa trong tác phẩm Những con ngựa gỗ không hề chia phần, nhưng vì mỗi truyện đều quá dài (~40 trang 1 truyện) nên tớ không post hết 1 truyện chỉ trong lần reply được. Vì vậy tớ chia mỗi truyện làm 5 phần, mong các bạn trong VnThuQuan thông cảm.
Đăng nhập để trả lời
0