Toàn cảnh văn học Đức 15 năm qua
Cuộc hội thảo quốc tế mang tên “Văn học Đức từ sau 1989” tổ chức tại thủ đô Berlin đã mang đến cho những người tham dự một bức tranh toàn cảnh về tình hình văn học Đức từ sau ngày thống nhất đất nước. 12 nhà nghiên cứu văn hoá ngôn ngữ Đức từ 11 nước (Tiệp Khắc, Thuỵ Điển, Hy Lạp, Hà Lan, Việt Nam, Canada, Mỹ, Bạch Nga, Litva, Phần Lan, Tây Ban Nha) đã nói lên niềm phấn khởi có dịp tìm hiểu một cách tập trung về đời sống văn hoá, trước hết là văn học, của toàn nước Đức trong ngót 15 năm đầy biến động vừa qua.
Ba báo cáo then chốt của hội thảo là của nhà nghiên cứu văn học J.Plath với chủ đề “Văn học Đức sau 1989”; của bà I.Ingke, Tổng biên tập Tạp chí Kafka và của bà F.Gunther, đại diện Nhà xuất bản Aufbau (Xây dựng). Riêng báo cáo của J.Plath cho thấy những biến động trong đời sống xã hội của Đức15 năm qua đã tác động mạnh mẽ đến chủ đề tác phẩm của văn học và nghệ thuật. Sự thay đổi chủ đề đó còn do sự cạnh tranh dữ dội của các cơ quan truyền thông đại chúng, như: truyền hình, truyền thanh, phim ảnh, video, vi tính... mà các tác giả, nhất là những nhà văn của Cộng hoà dân chủ Đức trước đây phải thích ứng dần. Ở đây, cần nhấn mạnh một lần nữa sự thay đổi về chủ đề, chứ số lượng đầu sách văn học vẫn ổn định. Từ năm 2000 đến nay cũng vậy. Năm 2001, các NXB của Đức in ra tổng số 89.986 đầu sách, thì trong đó có 14,2% là sách văn học (không kể sách nghiên cứu, truyện trinh thám, sách giải trí...). Tỷ lệ ấy vẫn giữ vững trong các năm 2000, 2003. Nhưng cũng phải nói rõ rằng: có tới 38% là sách dịch từ nước ngoài. ¾ của 38% ấy là từ tiếng Anh, cụ thể là 6.924 đầu sách. Nếu lấy con số đầu sách in ra trung bình mỗi năm là 80.000 đem nhân với 15 năm thì quả là một thành tựu to lớn.
Nhìn một cách tổng thể, các tác phẩm văn học Đức trong các năm này có bốn chủ đề chính được đề cập là: Nước Đức dưới thời quốc xã; năm 1989; nước Cộng hoà dân chủ Đức và các bang miền Đông; thế hệ trẻ nước Cộng hoà liên bang Đức hôm nay.
Tác giả của chủ đề thứ nhất (Nước Đức dưới thời quốc xã) phần lớn là những nhà văn cao tuổi, ít nhiều đã chứng kiến sự việc thời đó. Trong số các tác phẩm được chú ý, có “Kẻ bị bỏ rơi” của Han Ulrich Treichel (in năm 1998); Giếng nhảy của Martin Walser (1998); “Trong trí nhớ” của Dieter Fort (1998); “Biên niên các cảm giác” của Alexander Kluge (2000); Một người đàn bà ở Berlin của một nữ tác giả giấu tên (2003); Những tập nhật ký thời kỳ 1933-1945 mới được phát hiện của Victor Klemper, Walter Kemowski, Gert Ledig. Loạt sách trên được in với số lượng lớn, trung bình mỗi cuốn từ 200.000 đến 300.000 bản, phản ánh được những năm tháng cực kỳ khốc liệt, đầy bom đạn chết chóc, đói khát, thất nghiệp. Một số tác giả trẻ hơn, như Berhard Schlink, Jens Sparschuh, Marcel Beyer, Maxim Biller, F.C.Delus... cũng có nhiều đóng góp tích cực.
Về đề tài nói trên, thật ra nhà văn xuất sắc nhất vẫn là Guenter Grass nhà văn được giải thưởng năm 2000 và trở nên quen thuộc với độc giả Việt Nam qua tiểu thuyết lớn “Cái trống thiếc” (xuất bản lần đầu năm 1959). Cũng tố cáo những gì là nguy hại, là tàn bạo của chủ nghĩa quốc xã, Grass còn cho ra đời nhiều tác phẩm khác, qua những chiêm nghiệm của bản thân: như Mèo và chuột, Những năm chó má và gần đây nhất là Cánh đồng xa rộng, Thế kỷ của tôi, Dáng đi như cua... Toàn bộ tác phẩm của ông được đánh giá là đã mở ra một kỷ nguyên mới cho văn học Đức, sau hàng chục năm bị huỷ hoại về mặt ngôn ngữ lẫn tinh thần, trở thành tiếng nói mãi mãi lưu lại dấu ấn cho thế kỷ XX. Hiện nay ngoài sáng tác văn học, Grass vẫn tận dụng mọi thời gian địa điểm, cả trên các diễn đàn của truyền thông đại chúng, đấu tranh cho công cuộc cải cách xã hội. Như đã có lần đề cập, đối với ông sự thống nhất nước Đức là cả một thời khắc nhọc nhằn đòi hỏi biết bao nhiêu nỗ lực để thực hiện thế cân bằng tinh thần cho dân tộc của ông. Từ nhiều năm trước, trong một cuộc trả lời phỏng vấn, Grass tự nhận mình là “một người theo chủ nghĩa nhân đạo, luôn luôn hướng tới ý tưởng nhân ái”.
Năm 1989 được người Đức quen gọi là “Năm bước ngoặt”(Wende) mà dấu hiệu của nó là sự sụp đổ của bức tường Berlin. Song, từ sự kiện chính trị để có ngay một sự kiện văn học tương xứng không phải dễ. Các nhà văn không phải là các ký giả. Ý tưởng mang ý nghĩa thẩm mỹ đòi hỏi phải có thời gian mới thể hiện được. Có lẽ cuốn “Điều còn lại” của Christa Wolf là tác phẩm đầu tiên đề cập sự kiện này. Nội dung cuốn sách kể về lực lượng an ninh nước Cộng hoà dân chủ Đức năm 1979 - Tức là trước đó 10 năm và được xuất bản năm 1990. Tác phẩm này gây sự tranh cãi dữ dội trên toàn nước Đức. Tờ “FAZ” (báo Toàn cảnh Frankfurt) cho rằng “Tác giả có ý định cứu vớt nước Cộng hoà dân chủ Đức) và còn vu cho bà làm tay sai của “Stasi”(An ninh). Giới trí thức ở cả hai miền Đông và Tây thì khuyên: văn không nên can thiệp vào chính trị.
Trực tiếp và đi thẳng vào “bước ngoặt”, F.C Delius mới là người đầu tiên nói về bức tường sụp đổ, qua tác phẩm “Những quả lê của Ribbeck”(1991). Tiếp theo là cuốn “Các nữ tu sĩ xứ Bratislava” của F.R. Fries (in năm 1994); “Dưới cái tên của Norma” (B.Burmeister, 1994); “Những người anh hùng như chúng ta” (Th. Brussig, 1995)... Cuốn “Một cánh đồng xa rộng” của G.Grass (1995) cũng có thể xếp vào loạt tác phẩm có liên quan đến năm 1989. Tác phẩm này lấy Cộng hoà Dân chủ Đức làm bối cảnh chính để diễn tả các diễn biến chính trị, các trạng thái tình cảm của người dân trước sự sụp đổ của bức tường. Cuốn “Những người anh hùng như chúng ta” có nhân vật trung tâm là Klaus Uhetzscht, một học viên trường sĩ quan Công hoà Dân chủ Đức cũ, kể lại những tháng ngày anh làm chiến sĩ biên phòng bên bức tường nóng bỏng ấy.
Sau ngày thống nhất đất nước, tưởng rằng Cộng hoà Dân chủ Đức bị gạt khỏi trí nhớ của mọi người, nhưng không, nó vẫn là một thực thể của lịch sử được các nhà văn thể hiện dưới các góc độ khác nhau. Một nhà nghiên cứu văn học diễn đạt theo cách của mình: “Nước Cộng hoà Dân chủ Đức bị chôn vùi đã hồi sinh trong văn học”. Về đề tài này, có khá nhiều nhà văn đã cầm bút, nhưng phần lớn những người này đã sống trong chế độ xã hội chủ nghĩa của Cộng hoà Dân chủ Đức, thuộc các thế hệ khác nhau. Các nhà văn ưu tú của Cộng hoà Dân chủ Đức vẫn thể hiện bản lĩnh của những người trước sau tin tưởng vào tương lai tốt đẹp của đất nước, của dân tộc. Đó là Hermann Kant, Christa Wolf, Eva Strittmatter, Stefan Heym, Helmut Sakowski... mà chúng tôi từng giới thiệu qua công trình nghiên cứu “Văn học Đức đương đại – đôi nét phác thảo”, đăng hai kỳ trên báo Văn nghệ hồi đầu năm 2003. Điều đáng nói thêm là họ vẫn tiếp tục sáng tác và có những thành tựu được công chúng rộng rãi hoan nghênh. Năm trước, Christa Wolf được trao giải thưởng Sách Đức, được thừa nhận là tác giả xuất sắc nhất trong việc m tả số phận của con người trong một nước Đức bị chia cắt. Tác phẩm mới nhất của bà được lấy tên là Ruột rà phát hành dưới hình thức đĩa VCD, có nội dung tương tự với cuốn Hồi ức về Christa T. Với những suy nghĩ, trăn trở của người phụ nữ ở giai đoạn cuối nước Cộng hòa Dân chủ Đức. Vượt qua những khó khăn trong đời sống riêng, Hermann Kant, nguyên chủ tịch Hội Nhà văn Cộng hoà Dân chủ Đức, vừa cho xuất bản tiểu thuyết Okarina, tiếp theo cuốn Kormoran. Nói chung, hầu hết các nhân vật của Kant là quả cảm, luôn tự khẳng định lý tưởng dân chủ và nhân đạo, đã trở thành quen thuộc với độc giả Đức. Nếu cần nói đôi dòng về nữ thi sĩ Eva Strittmatter , Thì đó là : Sau khi chồng và một người con qua đời, bà đã kinh qua những ngày tháng cô đơn, đau đớn cả về tinh thần lẫn thể xác, bà vẫn say mê làm việc, sáng tạo. Bà quan niệm: Tình yêu là một cuộc chung sống hài hoà của cộng đồng mới là cốt lõi của cuộc sống con người. Danh vọng, lòng kính trọng của độc giả và ngay cả văn học cũng phải đứng sau cái cốt lõi ấy, Trong số các tác phẩm của bà mới xuất bản còn có “Màu xanh em thân yêu”, “Ba cây liếu ấy ngày nào tôi đã ngợi ca”, “Một đoá hồng chế ngự tất cả”, “Những tháng năm ở Piestany”; Tất cả những gì bà viết, dù là thơ hay văn xuôi, đều vươn tới hạnh phúc của con người, với một trái tim yêu thương, một tâm hồn lớn... Trong số những tác giả trẻ viết về Cộng hoà Dân chủ Đức, một số tên tuổi nổi lên bởi những tác phẩm khá đặc sắc của họ, như: Monika Marol với “Dòng chữ lặng yên số 6” (1991) Reinhardgirgl với “Những đêm chó má” (1997”. Thomas Brussig với “Nơi kết thúc ngắn hơn của đại lộ mặt trời” (200), Jan Hensel với “Chúng tôi những đứa trẻ trong khu vực” (2002), André Kubiczek với “Các tài năng trẻ” (2002). Các tác phẩm: “Sự tạm thời” (2000) của Wolfganghibig; “Những cuộc chạy chốn của Hampel” (2000) của Michael Kumpfmueller và cả tập thơ “Vineta” (1998) của Uwkolbe cũng được đông đảo đánh giá cao. Nhiều tác giả không phủ nhận những gì là tốt đẹp, là ưu việt của một chế độ đã đem lại cho người lao động trong bốn thập kỷ. Những biến động trong xã hội, trong tâm lý con người cũng được miêu tả khá sinh động sau khi thành lập lại các bang ở miền Đông. Các báo cáo viên của Hội thảo quốc tế này đều thể hiện sự quan tâm và hy vọng đối với thế hệ nhà văn trẻ hiện nay. Bà Franziska Guenther, đại diện nhà xuất bản Xây dựng (Aufbau) - một cơ quan thường xuyên giới thiệu các tác phẩm “cỡ lớn”, có tầm vóc kin điển hoặc chuyên làm tuyển tập toàn tập của những tác giả lớn và thế giới, cũng tỏ một niềm tin vào sự xuất hiện những cái nhìn mới, phát hiện mới về chính thế hệ họ, hiện thực và sinh động sẽ khắc dấu ấn khá phai mờ về một giai đoạn lịch sử không mấy bình yên. Phần lớn tuổi họ mới trên dưới 30. Lứa tuổi ấy thực sự thổi vào văn học những hoài bão, khát vọng của tuổi trẻ hôm nay. Riêng về tác phẩm của họ cũng có thể viết một công trình nghiên cứu dài hơi. Giới văn học và đông đảo bạn đọc thừa nhận Judith Hermanl nữ tác giả trẻ tuổi (Sinh năm 1972) là gương mặt tiêu biểu nhất trong số các nhà văn trẻ ở Đức hiện nay. Tác phẩm “Ngôi nhà mùa hạ, về sau...” của chị (NXB 1998) được đánh giá như một sự kiện đột biến của văn Đức. Tác phẩm được tái bản nhiều lần, mỗi lần hàng vạn bản mà vẫn tiêu thụ hết. Tác phẩm được trao giải thưởng văn học Kleist, làm người ta liên tưởng tơí nữ văn hào Anna Seghrs cũng đã từng nhận giải thưởng này ở lứa tuổi Judith Hermann hôm nay. Gần đây, chị đã cho xuất bản tập truyện ngắn mới, nhan đề là “Chẳng gì hơn là ma quỷ”, cũng gây tiếng vang không kém. Bên cạnh Judith Hermann là: Ghoppe (với tác phẩm “Cuộch du ngoạn của những người thợ cạo” 1996), Agroesching (“Thủ trưởng của Jakop”), S.Wacklitz (“Một đất nước mờ xa”), Dprecht (“Các nhà du hành vũ trụ”), Bkronauer ( “Lòng yêu quý quá sớm đối với súc vật”), L. Molikova (“Đêm sáng rõ”), T.Handke (“Chuyến đi mùa đông tới những dòng sông”)... Nhà thơ trẻ Durs Guenbein được đánh giá là một ngôi sao thi ca, năm 1995 đã nhận giải thưởng văn học Buechner. Còn nữa, những D.Gagner, F lllies, J.Franck, Z.Jenny, J. Erpenbeck, Ch.Kracht... Họ đều là những gương mặt đáng chú ý của văn học Đức hôm nay. Các tác giả không chỉ viết mà còn trực tiếp đọc tác phẩm của mình ở các câu lạc bộ văn học của thành phố, tại các viện, các toà soạn báo, trung tâm xuất bản. nhà bảo tàng... Tuy nhiên, cũng chưa nên thoả mãn với những gì cac nhà văn trẻ đã làm được. Tất cả là bước đầu khích lệ, cổ vũ là cần thiết, nhưng cũng phải giúp các nhà văn trẻ thật sự nghiêm túc tự đánh giá mình, tiếp tục vượt những thử thách phía trước. Có những tác phẩm chưa đặc sắc, kết cấu rời rạc, nhân vật không đậm nét, văn viết đơn điệu, chưa thành truyện. Phần lớn mơi miêu tả bề ngoài, không có nội tâm hoặc rất ít nội tâm, mơi dừng lại ở mục đích giải trí, không đặt những ý tưởng sâu sắc mang tầm xã hội thời đại rộng lớn.
(Theo báo Văn nghệ)
Cuộc hội thảo quốc tế mang tên “Văn học Đức từ sau 1989” tổ chức tại thủ đô Berlin đã mang đến cho những người tham dự một bức tranh toàn cảnh về tình hình văn học Đức từ sau ngày thống nhất đất nước. 12 nhà nghiên cứu văn hoá ngôn ngữ Đức từ 11 nước (Tiệp Khắc, Thuỵ Điển, Hy Lạp, Hà Lan, Việt Nam, Canada, Mỹ, Bạch Nga, Litva, Phần Lan, Tây Ban Nha) đã nói lên niềm phấn khởi có dịp tìm hiểu một cách tập trung về đời sống văn hoá, trước hết là văn học, của toàn nước Đức trong ngót 15 năm đầy biến động vừa qua.
Ba báo cáo then chốt của hội thảo là của nhà nghiên cứu văn học J.Plath với chủ đề “Văn học Đức sau 1989”; của bà I.Ingke, Tổng biên tập Tạp chí Kafka và của bà F.Gunther, đại diện Nhà xuất bản Aufbau (Xây dựng). Riêng báo cáo của J.Plath cho thấy những biến động trong đời sống xã hội của Đức15 năm qua đã tác động mạnh mẽ đến chủ đề tác phẩm của văn học và nghệ thuật. Sự thay đổi chủ đề đó còn do sự cạnh tranh dữ dội của các cơ quan truyền thông đại chúng, như: truyền hình, truyền thanh, phim ảnh, video, vi tính... mà các tác giả, nhất là những nhà văn của Cộng hoà dân chủ Đức trước đây phải thích ứng dần. Ở đây, cần nhấn mạnh một lần nữa sự thay đổi về chủ đề, chứ số lượng đầu sách văn học vẫn ổn định. Từ năm 2000 đến nay cũng vậy. Năm 2001, các NXB của Đức in ra tổng số 89.986 đầu sách, thì trong đó có 14,2% là sách văn học (không kể sách nghiên cứu, truyện trinh thám, sách giải trí...). Tỷ lệ ấy vẫn giữ vững trong các năm 2000, 2003. Nhưng cũng phải nói rõ rằng: có tới 38% là sách dịch từ nước ngoài. ¾ của 38% ấy là từ tiếng Anh, cụ thể là 6.924 đầu sách. Nếu lấy con số đầu sách in ra trung bình mỗi năm là 80.000 đem nhân với 15 năm thì quả là một thành tựu to lớn.
Nhìn một cách tổng thể, các tác phẩm văn học Đức trong các năm này có bốn chủ đề chính được đề cập là: Nước Đức dưới thời quốc xã; năm 1989; nước Cộng hoà dân chủ Đức và các bang miền Đông; thế hệ trẻ nước Cộng hoà liên bang Đức hôm nay.
Tác giả của chủ đề thứ nhất (Nước Đức dưới thời quốc xã) phần lớn là những nhà văn cao tuổi, ít nhiều đã chứng kiến sự việc thời đó. Trong số các tác phẩm được chú ý, có “Kẻ bị bỏ rơi” của Han Ulrich Treichel (in năm 1998); Giếng nhảy của Martin Walser (1998); “Trong trí nhớ” của Dieter Fort (1998); “Biên niên các cảm giác” của Alexander Kluge (2000); Một người đàn bà ở Berlin của một nữ tác giả giấu tên (2003); Những tập nhật ký thời kỳ 1933-1945 mới được phát hiện của Victor Klemper, Walter Kemowski, Gert Ledig. Loạt sách trên được in với số lượng lớn, trung bình mỗi cuốn từ 200.000 đến 300.000 bản, phản ánh được những năm tháng cực kỳ khốc liệt, đầy bom đạn chết chóc, đói khát, thất nghiệp. Một số tác giả trẻ hơn, như Berhard Schlink, Jens Sparschuh, Marcel Beyer, Maxim Biller, F.C.Delus... cũng có nhiều đóng góp tích cực.
Về đề tài nói trên, thật ra nhà văn xuất sắc nhất vẫn là Guenter Grass nhà văn được giải thưởng năm 2000 và trở nên quen thuộc với độc giả Việt Nam qua tiểu thuyết lớn “Cái trống thiếc” (xuất bản lần đầu năm 1959). Cũng tố cáo những gì là nguy hại, là tàn bạo của chủ nghĩa quốc xã, Grass còn cho ra đời nhiều tác phẩm khác, qua những chiêm nghiệm của bản thân: như Mèo và chuột, Những năm chó má và gần đây nhất là Cánh đồng xa rộng, Thế kỷ của tôi, Dáng đi như cua... Toàn bộ tác phẩm của ông được đánh giá là đã mở ra một kỷ nguyên mới cho văn học Đức, sau hàng chục năm bị huỷ hoại về mặt ngôn ngữ lẫn tinh thần, trở thành tiếng nói mãi mãi lưu lại dấu ấn cho thế kỷ XX. Hiện nay ngoài sáng tác văn học, Grass vẫn tận dụng mọi thời gian địa điểm, cả trên các diễn đàn của truyền thông đại chúng, đấu tranh cho công cuộc cải cách xã hội. Như đã có lần đề cập, đối với ông sự thống nhất nước Đức là cả một thời khắc nhọc nhằn đòi hỏi biết bao nhiêu nỗ lực để thực hiện thế cân bằng tinh thần cho dân tộc của ông. Từ nhiều năm trước, trong một cuộc trả lời phỏng vấn, Grass tự nhận mình là “một người theo chủ nghĩa nhân đạo, luôn luôn hướng tới ý tưởng nhân ái”.
Năm 1989 được người Đức quen gọi là “Năm bước ngoặt”(Wende) mà dấu hiệu của nó là sự sụp đổ của bức tường Berlin. Song, từ sự kiện chính trị để có ngay một sự kiện văn học tương xứng không phải dễ. Các nhà văn không phải là các ký giả. Ý tưởng mang ý nghĩa thẩm mỹ đòi hỏi phải có thời gian mới thể hiện được. Có lẽ cuốn “Điều còn lại” của Christa Wolf là tác phẩm đầu tiên đề cập sự kiện này. Nội dung cuốn sách kể về lực lượng an ninh nước Cộng hoà dân chủ Đức năm 1979 - Tức là trước đó 10 năm và được xuất bản năm 1990. Tác phẩm này gây sự tranh cãi dữ dội trên toàn nước Đức. Tờ “FAZ” (báo Toàn cảnh Frankfurt) cho rằng “Tác giả có ý định cứu vớt nước Cộng hoà dân chủ Đức) và còn vu cho bà làm tay sai của “Stasi”(An ninh). Giới trí thức ở cả hai miền Đông và Tây thì khuyên: văn không nên can thiệp vào chính trị.
Trực tiếp và đi thẳng vào “bước ngoặt”, F.C Delius mới là người đầu tiên nói về bức tường sụp đổ, qua tác phẩm “Những quả lê của Ribbeck”(1991). Tiếp theo là cuốn “Các nữ tu sĩ xứ Bratislava” của F.R. Fries (in năm 1994); “Dưới cái tên của Norma” (B.Burmeister, 1994); “Những người anh hùng như chúng ta” (Th. Brussig, 1995)... Cuốn “Một cánh đồng xa rộng” của G.Grass (1995) cũng có thể xếp vào loạt tác phẩm có liên quan đến năm 1989. Tác phẩm này lấy Cộng hoà Dân chủ Đức làm bối cảnh chính để diễn tả các diễn biến chính trị, các trạng thái tình cảm của người dân trước sự sụp đổ của bức tường. Cuốn “Những người anh hùng như chúng ta” có nhân vật trung tâm là Klaus Uhetzscht, một học viên trường sĩ quan Công hoà Dân chủ Đức cũ, kể lại những tháng ngày anh làm chiến sĩ biên phòng bên bức tường nóng bỏng ấy.
Sau ngày thống nhất đất nước, tưởng rằng Cộng hoà Dân chủ Đức bị gạt khỏi trí nhớ của mọi người, nhưng không, nó vẫn là một thực thể của lịch sử được các nhà văn thể hiện dưới các góc độ khác nhau. Một nhà nghiên cứu văn học diễn đạt theo cách của mình: “Nước Cộng hoà Dân chủ Đức bị chôn vùi đã hồi sinh trong văn học”. Về đề tài này, có khá nhiều nhà văn đã cầm bút, nhưng phần lớn những người này đã sống trong chế độ xã hội chủ nghĩa của Cộng hoà Dân chủ Đức, thuộc các thế hệ khác nhau. Các nhà văn ưu tú của Cộng hoà Dân chủ Đức vẫn thể hiện bản lĩnh của những người trước sau tin tưởng vào tương lai tốt đẹp của đất nước, của dân tộc. Đó là Hermann Kant, Christa Wolf, Eva Strittmatter, Stefan Heym, Helmut Sakowski... mà chúng tôi từng giới thiệu qua công trình nghiên cứu “Văn học Đức đương đại – đôi nét phác thảo”, đăng hai kỳ trên báo Văn nghệ hồi đầu năm 2003. Điều đáng nói thêm là họ vẫn tiếp tục sáng tác và có những thành tựu được công chúng rộng rãi hoan nghênh. Năm trước, Christa Wolf được trao giải thưởng Sách Đức, được thừa nhận là tác giả xuất sắc nhất trong việc m tả số phận của con người trong một nước Đức bị chia cắt. Tác phẩm mới nhất của bà được lấy tên là Ruột rà phát hành dưới hình thức đĩa VCD, có nội dung tương tự với cuốn Hồi ức về Christa T. Với những suy nghĩ, trăn trở của người phụ nữ ở giai đoạn cuối nước Cộng hòa Dân chủ Đức. Vượt qua những khó khăn trong đời sống riêng, Hermann Kant, nguyên chủ tịch Hội Nhà văn Cộng hoà Dân chủ Đức, vừa cho xuất bản tiểu thuyết Okarina, tiếp theo cuốn Kormoran. Nói chung, hầu hết các nhân vật của Kant là quả cảm, luôn tự khẳng định lý tưởng dân chủ và nhân đạo, đã trở thành quen thuộc với độc giả Đức. Nếu cần nói đôi dòng về nữ thi sĩ Eva Strittmatter , Thì đó là : Sau khi chồng và một người con qua đời, bà đã kinh qua những ngày tháng cô đơn, đau đớn cả về tinh thần lẫn thể xác, bà vẫn say mê làm việc, sáng tạo. Bà quan niệm: Tình yêu là một cuộc chung sống hài hoà của cộng đồng mới là cốt lõi của cuộc sống con người. Danh vọng, lòng kính trọng của độc giả và ngay cả văn học cũng phải đứng sau cái cốt lõi ấy, Trong số các tác phẩm của bà mới xuất bản còn có “Màu xanh em thân yêu”, “Ba cây liếu ấy ngày nào tôi đã ngợi ca”, “Một đoá hồng chế ngự tất cả”, “Những tháng năm ở Piestany”; Tất cả những gì bà viết, dù là thơ hay văn xuôi, đều vươn tới hạnh phúc của con người, với một trái tim yêu thương, một tâm hồn lớn... Trong số những tác giả trẻ viết về Cộng hoà Dân chủ Đức, một số tên tuổi nổi lên bởi những tác phẩm khá đặc sắc của họ, như: Monika Marol với “Dòng chữ lặng yên số 6” (1991) Reinhardgirgl với “Những đêm chó má” (1997”. Thomas Brussig với “Nơi kết thúc ngắn hơn của đại lộ mặt trời” (200), Jan Hensel với “Chúng tôi những đứa trẻ trong khu vực” (2002), André Kubiczek với “Các tài năng trẻ” (2002). Các tác phẩm: “Sự tạm thời” (2000) của Wolfganghibig; “Những cuộc chạy chốn của Hampel” (2000) của Michael Kumpfmueller và cả tập thơ “Vineta” (1998) của Uwkolbe cũng được đông đảo đánh giá cao. Nhiều tác giả không phủ nhận những gì là tốt đẹp, là ưu việt của một chế độ đã đem lại cho người lao động trong bốn thập kỷ. Những biến động trong xã hội, trong tâm lý con người cũng được miêu tả khá sinh động sau khi thành lập lại các bang ở miền Đông. Các báo cáo viên của Hội thảo quốc tế này đều thể hiện sự quan tâm và hy vọng đối với thế hệ nhà văn trẻ hiện nay. Bà Franziska Guenther, đại diện nhà xuất bản Xây dựng (Aufbau) - một cơ quan thường xuyên giới thiệu các tác phẩm “cỡ lớn”, có tầm vóc kin điển hoặc chuyên làm tuyển tập toàn tập của những tác giả lớn và thế giới, cũng tỏ một niềm tin vào sự xuất hiện những cái nhìn mới, phát hiện mới về chính thế hệ họ, hiện thực và sinh động sẽ khắc dấu ấn khá phai mờ về một giai đoạn lịch sử không mấy bình yên. Phần lớn tuổi họ mới trên dưới 30. Lứa tuổi ấy thực sự thổi vào văn học những hoài bão, khát vọng của tuổi trẻ hôm nay. Riêng về tác phẩm của họ cũng có thể viết một công trình nghiên cứu dài hơi. Giới văn học và đông đảo bạn đọc thừa nhận Judith Hermanl nữ tác giả trẻ tuổi (Sinh năm 1972) là gương mặt tiêu biểu nhất trong số các nhà văn trẻ ở Đức hiện nay. Tác phẩm “Ngôi nhà mùa hạ, về sau...” của chị (NXB 1998) được đánh giá như một sự kiện đột biến của văn Đức. Tác phẩm được tái bản nhiều lần, mỗi lần hàng vạn bản mà vẫn tiêu thụ hết. Tác phẩm được trao giải thưởng văn học Kleist, làm người ta liên tưởng tơí nữ văn hào Anna Seghrs cũng đã từng nhận giải thưởng này ở lứa tuổi Judith Hermann hôm nay. Gần đây, chị đã cho xuất bản tập truyện ngắn mới, nhan đề là “Chẳng gì hơn là ma quỷ”, cũng gây tiếng vang không kém. Bên cạnh Judith Hermann là: Ghoppe (với tác phẩm “Cuộch du ngoạn của những người thợ cạo” 1996), Agroesching (“Thủ trưởng của Jakop”), S.Wacklitz (“Một đất nước mờ xa”), Dprecht (“Các nhà du hành vũ trụ”), Bkronauer ( “Lòng yêu quý quá sớm đối với súc vật”), L. Molikova (“Đêm sáng rõ”), T.Handke (“Chuyến đi mùa đông tới những dòng sông”)... Nhà thơ trẻ Durs Guenbein được đánh giá là một ngôi sao thi ca, năm 1995 đã nhận giải thưởng văn học Buechner. Còn nữa, những D.Gagner, F lllies, J.Franck, Z.Jenny, J. Erpenbeck, Ch.Kracht... Họ đều là những gương mặt đáng chú ý của văn học Đức hôm nay. Các tác giả không chỉ viết mà còn trực tiếp đọc tác phẩm của mình ở các câu lạc bộ văn học của thành phố, tại các viện, các toà soạn báo, trung tâm xuất bản. nhà bảo tàng... Tuy nhiên, cũng chưa nên thoả mãn với những gì cac nhà văn trẻ đã làm được. Tất cả là bước đầu khích lệ, cổ vũ là cần thiết, nhưng cũng phải giúp các nhà văn trẻ thật sự nghiêm túc tự đánh giá mình, tiếp tục vượt những thử thách phía trước. Có những tác phẩm chưa đặc sắc, kết cấu rời rạc, nhân vật không đậm nét, văn viết đơn điệu, chưa thành truyện. Phần lớn mơi miêu tả bề ngoài, không có nội tâm hoặc rất ít nội tâm, mơi dừng lại ở mục đích giải trí, không đặt những ý tưởng sâu sắc mang tầm xã hội thời đại rộng lớn.
(Theo báo Văn nghệ)
Love mickey,