Diễn Đàn » Tác giả người ngoại quốc

Murakami Haruki :Tôi tạo ra quy tắc

0 trả lời, 355 lượt xem — Trang 1 / 1
Murakami Haruki :Tôi tạo ra quy tắc

Murakami Haruki (s.1949) là một trong các nhà văn hàng đầu của Nhật Bản hiện nay. Tác phẩm của ông đặc trưng cho sự “thoát ly” của nhà văn Nhật ngày nay khỏi những chuẩn mực cổ điển của văn chương Nhật Bản. Mặc dù vẫn lấy bối cảnh Nhật Bản, tác phẩm Murakami in đậm dấu ấn của văn hoá phương Tây, mang tâm thức của con người hiện đại và trăn trở về những vấn đề có tính toàn cầu. Tuy nhiên, nếu đọc và nghiền ngẫm kỹ, ta sẽ thấy, ẩn sâu dưới cái bề ngoài rất “Tây” đó là một tâm hồn phong phú và nhạy cảm, một con người luôn tìm kiếm, với những suy tư triết lý thâm trầm về ý nghĩa của hiện hữu, một cái gì rất gần gũi với các tác gia kinh điển Nhật Bản như Akutagawa Ryunosuke, Kawabata Yasunari, Mishima Yukio... mà nhiều độc giả Việt Nam đã từng biết đến.

-Khi viết, ông có thường khởi đầu từ một cái sườn có sẵn không? Ông có biết những gì mình viết sẽ đi đến đâu không?

- Không, không thường xuyên như vậy. Thường tôi chỉ bắt đầu một câu chuyện mà không biết nó sẽ diễn tiến tới đâu. Tôi chỉ việc viết một chương, rồi chương thứ hai, cứ thế. Tôi không biết chuyện gì sẽ xảy ra; dường như mọi thứ tự nó đến.

Một trong những khoái cảm lớn nhất khi ta viết là khám phá những gì sẽ xảy ra tiếp theo. Không có cái khoái cảm đó thì viết chẳng có ý nghĩa gì.

- Một số tiểu thuyết khác của ông cũng được phát triển từ truyện ngắn. Khi kết thúc những truyện ngắn đó, ông có nhận thức rằng vẫn chưa hoàn thành một cái gì đó, rằng còn phải viết một cái gì khác hơn thế nữa? Hay đơn giản là sau một thời gian, ông tình cờ đọc lại truyện đó và nghĩ: “Hừm, giờ đọc lại mới thấy, lẽ ra mình có thể viết một cái gì hơn thế bằng chất liệu này”?

- Phải mất mấy năm sau - ba, bốn năm, có khi tới sáu, bảy năm - tôi mới nhận ra rằng một truyện ngắn nào đó chưa hoàn tất. Chỉ khi đó, khi nhận ra rằng truyện vẫn chưa hoàn thành, tôi mới viết một dị bản dài hơn. Nhưng không phải tiểu thuyết nào của tôi cũng ra đời theo cách đó. Chẳng hạn, Cuộc săn cừu (A Wild Sheep Chase) ngay từ đầu đã là một tiểu thuyết.

- Một trong những quy ước của phong cách vô cảm (tiểu thuyết đen) là có một nhân vật thuộc típ cô độc hay cá nhân chủ nghĩa từng phải chịu một nỗi đau lớn lao vào một lúc nào đó; người đọc thường có cảm giác anh ta đang cố tìm cách vượt qua nỗi đau, nhưng anh ta không nói gì về nỗi đau đó. Ta có thể thấy điều này trong tác phẩm của Raymond Chandler chẳng hạn: Ta không biết đích xác điều gì đã xảy ra với Philip Marlowe đến nỗi anh ta thành như thế - ta chỉ có một cảm nhận chung là có một điều tệ hại đã xảy ra với anh ta, và giờ đây anh ta phải cố sống với nó. Tôi nghĩ, một phần do vậy mà đó là một cấu trúc hay cho người viết, bởi có rất nhiều nhân vật của ta cùng chịu một cảm giác thống khổ tương tự nhau. Thế nên ta có thể tạo ra những nhân vật mà cuộc sống trong hiện tại như Chandler và Ross Macdonal, có thể là do những nhân vật thám tử của họ dường như rất cá nhân chủ nghĩa. Dù có chuyện gì xảy ra với họ, họ luôn luôn có thể sống theo cách của mình, làm việc theo cách mình thích và không bao giờ kêu ca về những bất hạnh của mình. Tôi thích vậy. Chính tôi không viết trực tiếp về những loại đau đớn, thống khổ, vân vân... Dĩ nhiên, tôi có những nỗi đau và thống khổ của tôi, nhưng nhìn chung, tôi không nói nhiều về bản thân mình. Và tôi không viết về điều đó bởi tôi đã đọc quá nhiều cuốn sách về nỗi đau, nỗi đau, nỗi đau - mệt lắm rồi! Thế nên tôi không viết về chuyện đó.



- Tôi thấy hầu như tất cả tiểu thuyết của ông đều kể từ ngôi thứ nhất. Có bao giờ ông nghĩ đến chuyện không viết từ ngôi thứ nhất không?

- Có; một dạo nọ tôi thử viết ngôi thứ ba, nhưng không xong.

- Vấn đề nằm ở đâu? Viết cách ấy không thú vị sao? Có phải do giọng điệu?

- Khi thử dùng ngôi thứ ba, tôi cảm thấy mình trở thành ông trời. Nhưng tôi không muốn làm ông trời. Tôi không thể biết hết mọi thứ. Tôi không thể viết ra mọi thứ. Tôi chỉ là chính tôi. Tôi chỉ nên viết cái gì như chính bản thân mình. Viết văn giúp tôi thâm nhập vào tiềm thức của chính mình; đó là quá trình tôi sử dụng để kể những câu chuyện của tôi. Đó là việc lý thú nhất tôi từng làm. Với tôi, kể một câu chuyện hay cũng giống như những gì xảy ra khi tôi đi ngoài phố. Tôi thích đường phố, nên mỗi khi đi, tôi quan sát mọi thứ, lắng nghe và hít thở mọi thứ. Khi bạn làm vậy, thế giới thay đổi - bạn cảm nhận mọi thứ bằng một cách khác. ánh sáng, âm thanh, và cảm xúc của bạn. Viết lách là như vậy đối với tôi. Tôi đã bốn mươi sáu tuổi và có vợ, nhưng khi viết, tôi có thể trở thành hai mươi lăm và chưa vợ. Tôi có thể đi khắp bằng đôi giày của người khác - và cảm thấy đôi giày ấy. Viết lách trở thành cuộc đời thứ hai của anh. Điều đó thật tuyệt.

- Một số nhà phê bình, cả ở Mỹ lẫn Nhật, có nói rằng tác phẩm của ông không thật là Nhật Bản. Tự ông có cho rằng mình có một cảm thức. Nhật Bản rõ rệt không, hay ông chỉ viết về những vấn đề của Nhật Bản thay vì chỉ viết về những vấn đề phổ quát?

- Với tôi, ý kiến ai đó cho rằng tác phẩm của tôi không thực sự mang tính Nhật Bản là rất nông cạn. Chắc chắn tôi cho mình là nhà văn Nhật Bản. Tôi viết theo một phong cách khác và có thể bằng những chất liệu khác, nhưng tôi viết bằng tiếng Nhật, tôi viết cho xã hội Nhật và cho người Nhật. Nên tôi nghĩ, những ai bảo phong cách của tôi chủ yếu chịu ảnh hưởng của văn chương phương Tây đều sai. Tôi muốn biến cải văn chương Nhật từ bên trong chứ không phải từ bên ngoài. Cho nên, về cơ bản, tôi tự tạo ra quy tắc cho mình.

- Ông có thể cho vài ví dụ về điều ông muốn nói không?

- Hầu hết các nhà thuần tuý chủ nghĩa ở Nhật chỉ yêu thứ ngôn ngữ đẹp và đề cao sự tinh tế hơn là nội lực hay sức mạnh. Người ta khâm phục cái đẹp này vì tự thân cái đẹp, thành thử phong cách của họ dùng rất nhiều ẩn dụ cứng nhắc, mang tính hình thức, hoàn toàn không thanh thoát, tự nhiên. Trong phong cách đó ngày càng được gọt giũa tinh vi đến mức chẳng khác gì một thứ cây cảnh. Tôi không ưa những hình thức viết truyền thống đó; nghe thì hay đấy, nhưng có khi không truyền tải được gì hết. Ngoài ra, ai biết thế nào là đẹp? Thành ra trong tác phẩm của mình, tôi cố gắng thay đổi điều đó. Tôi muốn viết tự do hơn, nên tôi dùng nhiều ẩn dụ dài dòng và kỳ quặc mà đối với tôi là tươi mới.

- Phản ứng của độc giả Mỹ đối với tác phẩm của ông như thế nào? Tôi đặc biệt quan tâm đến các độc giả trẻ.

- Khi thăm các trường đại học ở Mỹ, tôi rất thú vị khi biết rằng nhiều sinh viên quan tâm đến văn chương và văn hoá Nhật. Điều tôi lưu ý là dường như họ đọc các tác phẩm Nhật đương đại đơn giản vì chúng là tiểu thuyết chứ không phải là “tiểu thuyết Nhật Bản”. Họ đọc sách của tôi hay Amy Yamada hoặc Banana Yoshimoto cũng như họ từng đọc García Márquez hay Vargas Llosa và các tiểu thuyết gia Mỹ La-tinh khác vài năm trước. Phải mất một thời gian sự thay đổi này mới diễn ra. Ngày nay các nhà văn từ những nước khác nhau đang đổi chỗ cho nhau và tìm thấy độc giả toàn cầu một cách dễ dàng hơn; thế giới này vốn nhỏ bé và đang ngày càng nhỏ bé. Tôi nghĩ đó là một điều vĩ đại.

- Khi sống ở nước ngoài - ở Pháp một năm, rồi ở Trung Quốc một năm - chúng tôi cảm thấy dường như càng tiếp xúc với những nền văn hoá khác, mình lại càng suy nghĩ nhiều hơn về đất nước của mình. Ông có thấy đúng như vậy không?

- ở chừng mực nào đó thì đúng. Sống ở nước ngoài giúp tôi thử nghiệm nền văn hoá Nhật từ bên ngoài. Nhiều người Mỹ hỏi tôi vì sao tôi không viết về nước Mỹ, nhưng quả thật là tôi không thực sự có hứng thú viết về nước Mỹ. Tôi muốn viết về Nhật Bản. Tôi thích viết về châu á hơn. Thành thử tôi đang viết một cuốn sách (Biên niên sử con chim vặn dây thiều, tạm dịch, tiếng Anh: The Wind - Up Bird Chronicle).

- Ông có nói rằng với Cuộc săn cừu ông muốn viết về cuộc sống của con người ở thập niên 1970 và 1980 chứ không phải thập niên 1960. Nhưng cũng đã có sự thay đổi phong cách trong tác phẩm này - ông dường như cũng đã từ bỏ phương pháp về cơ bản là hiện thực mà ông đã dùng trong hai tiểu thuyết đầu tay. Đó có phải là một chuyển biến có ý thức không - liệu đó có phải là mong muốn tìm một lối viết khả dĩ cho ông nhiều tự do hơn, hay cái gì trong đó tương tự?

- Khi viết Cuộc săn cừu, tôi biết mình muốn là người kể chuyện. Đó là điều quan trọng nhất đã xảy ra với tôi với tư cách nhà văn. Hai tác phẩm đầu tiên thì ngắn hơn nên không cần có cốt truyện; thật ra cả hai đều tập hợp những phiến đoạn. Nhưng khi đã trưởng thành hơn trong tư cách nhà văn, tôi bắt đầu nhận thấy rằng truyện kể có nhiều khả năng - nhiều khả năng đến mức giờ đây tôi cho rằng câu hỏi quan trọng nhất tôi tự đặt ra cho mình khi viết, ấy là truyện của tôi có sức sống hay không. Bây giờ tôi cũng hiểu rõ hơn rằng truyện có nhiều loại; đôi khi chỉ cần tạo ra một ẩn dụ cũng có thể phát triển thành kể một kiểu truyện. Dẫu vậy, khi bắt tay viết Cuộc săn cừu, tôi biết rằng mình muốn kể một câu chuyện mang tính tự sự liên tục - một câu chuyện lớn, dài hơi. Và khi thử viết truyện này, tôi nhận ra rằng mình cần một sức mạnh siêu nhiên nào đó giúp tôi kể chuyện. Tôi không quan tâm viết một câu chuyện hiện thực, mà là viết một câu chuyện siêu nhiên, hoang đường. Thời nay mà kể chuyện bằng những phương pháp hiện thực truyền thống thật không dễ. Bạn cần một cái gì khác - một cái gì siêu nhiên hoặc hoang đường - để làm cho truyện thật hơn. Tôi biết rằng trong Cuộc săn cừu câu chuyện dường như trở nên hiện thực hơn khi người chăn cừu xuất hiện, mặc dù bản thân người chăn cừu là không thật. Tôi thích thế.

- Ông đã dịch nhiều tác phẩm của các nhà văn Mỹ - chẳng hạn F. Scott Fitzgerald, John Irving, Tim O’Brien và Raymond Carver, người này rất khác người kia. Ông có cho rằng các bản dịch ông đã thực hiện có ảnh hưởng đến sáng tác của chính ông? Chẳng hạn, có một vài truyện trong tập Con voi biến mất làm tôi nhớ tới truyện của Carver - rằng nhiều nhân vật trong tập truyện của ông cũng làm những công việc chán ngắt như nhân vật Carver.

- Đó chỉ là trùng hợp thôi. Công việc dịch thuật là người thầy lớn của tôi. Đôi khi tôi chọn một cuốn sách để dịch vì tôi muốn học vài điều từ đó; dịch nó ra là cách tốt nhất để làm việc đó bởi vì bạn phải đọc và nghiền ngẫm từng chi tiết trên mỗi trang. Nhưng tôi không chịu ảnh hưởng nhiều lắm từ Carver. Trước khi đọc ông, tôi đã hiểu làm một nghề chán ngắt như thế nào, bởi tôi đã từng lao động vất vả trước khi cầm bút. Bằng nhiều cách, tôi từng là một người như họ. Lúc đó tôi không phải là nghệ sĩ. Tôi chỉ là một người bình thường. Thế nên khi nghĩ đến chuyện viết cái gì, tôi lại nghĩ đến về những con người đó, chứ không nghĩ đến các nghệ sĩ.

(Báo Văn nghệ Trẻ)


📎 i1
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0