Vũ Hùng :Những vần thơ đậm nét trường ca
Vũ Hùng, từ là một người lính “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” và anh làm thơ từ những thập niên 1970 của thế kỷ trước. Thơ anh làm, không phải để quảng đại mà như sự chẳng đừng trước cảm xúc tự nhiên trong anh. Không những vậy, anh viết khá đều giữa hai khoảng thời gian chiến tranh và hoà bình. Mươi năm trở lại đây, bạn đọc thấy nhiều thơ anh được đăng trên báo, tạp chí địa phương và Trung ương. Nhất là hai tập thơ “Huyền thoại miền đất gió” do Hội Văn học - nghệ thuật Kon Tum xuất bản - 1998 và “Đẻ núi”, Nhà xuất bản Văn học - Hà Nội 2003 phát hành với hơn 70 bài thơ nhiều thể loại. Tạo được “xung chấn” cảm xúc lắng đọng người đọc.
Cũng như những người lính trong cuộc trường chinh vệ quốc vĩ đại của dân tộc thuở những năm sáu mươi, bảy mươi ở thế kỷ hai mươi, Vũ Hùng nếm trải đủ bề. Vậy nên thơ anh cứ hiển hiện những gì mà một thời tôi cùng đồng đội đi qua linh khí vừa “bi” vừa “tráng” của Đất nước. Để rồi, nào những chia ly…
Con đi, mẹ tiễn chiều bạc tóc
Nghẹn nhiều, nước mắt ở bên trong
Vợ tiễn đưa chồng
Ngong ngóng nhớ thương
Sáng nhoè ánh mắt!
(Chia tay - 1969)
Và mất mát bi thương vẫn hằn khắc ký ức:
Ao tròn khơi chiếc hố bom
Nhớ xưa đồng đội quây tròn mấy anh
Bóng người soi bóng nước xanh
Các anh như vẫn quẩn quanh… quây tròn
(Bên miệng hố bom B.52)
Hoặc những vần thơ “tự sự” ở bài “Leo Cổng Trời” được toát lên một quá khứ đầy gian khổ của người lính hành quân trên đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại, từ Bắc vào Nam chiến đấu, thực hiện ý chí giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc mà lịch sử trao cho. Những thách thức cam go, tưởng như vắt kiệt sức trai trẻ đến rã rời qua mỗi chặng đường:
Cả đoàn quân ba lô sũng nước
Chẳng biết Cổng Trời cao bao nhiêu thước
Người sau đội người trước leo lên
… Bụng thì đói, dốc thì trơn quá
Đầu gối run, đôi mắt trổ hoa…
Điều lắng đọng khá ấn tượng được Vũ Hùng tái hiện trong sự gian khổ của người lính thấm đẫm cái “bi” song luôn bừng lên cái “tráng” mà nhuệ khí hào sảng ấy chỉ có ở “bộ đội Cụ Hồ”:
… Lại giục nhau mau leo tới hỏi “Giời”
Leo hết đêm chân cẳng rụng rời
Vui giữa sân trời lập loè nắng sớm
Khá hoành tráng, mang sắc thái của trường ca, Vũ Hùng khái quát một cách sâu sắc những nét văn hoá đặc thù của non nước Tiên Rồng đậm màu truyền thuyết và chí khí cương cường của dân tộc quật khởi, trở thành truyền thống máu thịt, xuyên suốt chiều dài bốn ngàn năm dựng nước, giữ nước:
… Đẻ bọc trứng nở trăm người con
Huyền thoại sinh sau, đẻ thời xưa ấy
Con gái Việt Mường đẻ chung áo váy
Mớ ba, mớ bảy, áo váy xoay tròn
Đẻ tiếng trống đồng, đàn bầu thổn thức…
Rồi:
Sông Hồng tung lưỡi gươm
Trượt ngang hòn đá mài sắc nhọn
Câu thơ đẻ nghiêng vách núi
Nở hình trận mạc nước non
Bài hát đẻ ra chiếc gậy Trường Sơn
Cây tre đằng ngà truyền đời đánh giặc…
(Bài Đẻ núi 1970)
Là người giàu cảm xúc, lại sống ở thời kỳ đất nước “nở hình trận mạc” và Vũ Hùng từng cầm súng ra trận, nên anh đi khá nhiều nơi. Mỗi miền quê, anh qua, đều in đậm một cảm xúc da diết. Để rồi cảm xúc ấy được dàn trải ra trong bài thơ “Dọc quê hương” (1970):
… Ba Vì tròn ba đỉnh trống đồng úp lên vựa lúa
Lặng tiếng chuông chùa hắt bóng Hồ Tây
Nhớ chùa Hương lam khói Phủ Dầy
Trăng cong mái đình chầu văn lãy lướt…
Và:
… Động Người xưa, cây Chò ngàn năm
Phất cờ lau Đinh Bộ Lĩnh…
… Nụ hát đời tôi cái bống, cái bồng
Ăn cơm đội đèn ngọt bùi rau má..
Hoặc:
Làng Sen xanh nước biếc Lam Hồng
Phà Bến thuỷ dập dìu người ra trận…
Hay đau đáu một nỗi niềm rất… thi nhân:
Mưa nắng đèo Ngang lơ thơ gai góc
Mười cô gái ngã ba Đồng Lộc
Nụ cười duyên dáng vóc người đi…
Cùng những rung động nao nung, khi:
… Nhịp hò Hiền Lương trôi bờ đất mẹ
Trăng cắt đôi vần chia nửa mùa xuân.
Ký ức trong thơ Vũ Hùng mặn mòi “một thời để nhớ” ấn tượng người đọc là vậy. Những năm rời quân ngũ, với cương vị công tác khác, sau đó trở thành hội viên Hội Văn học - nghệ thuật Kon Tum, anh viết hàng trăm bài thơ với “nhịp điệu” không hề “nhâm nhi” hào quang quá khứ, được đăng trên nhiều báo, tạp chí trong và ngoài tỉnh. Và, phong cách thơ Vũ Hùng cứ đằm đằm thi pháp trường ca. Không những vậy, còn định hình rõ “chất liệu” sử thi hiện đại:
Hỏi tên người: Bà mẹ Giẻ Triêng
Chiếc giù đung đưa người xa khuất
Mẹ thuỷ chung gùi theo vào đất
Cây sâm lũ cha trồng xanh bóng mẹ trên nương…
(Công trường xây dựng đường Hồ Chí Minh - 2002)
Được biết, sau 3 năm (2000 -2003), Vũ Hùng “vật vã” đến tã tượi, để rồi hoàn tất một trường ca dài hơn 2.500 từ với tựa đề “Ta - trước Ngọc Linh” (*). Bằng những vần thơ tinh bố cục thành 12 chương, khái quát khá hoành tráng về non nước con người vùng cực bắc Tây Nguyên, kiên cường quật khởi, song giàu lòng yêu thương qua những điển tích huyền thoại ăm ắp nhân văn…
Chắc chắn, một ngày gần đây thi phẩm đầy đặn của anh được xuất bản, ra mắt bạn đọc, đem lại cảm thụ lắng đọng cho những người yêu thơ…
Kon Tum - Thái Nguyên, tháng 12-2003.
(Báo Văn nghệ trẻ)
Vũ Hùng, từ là một người lính “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” và anh làm thơ từ những thập niên 1970 của thế kỷ trước. Thơ anh làm, không phải để quảng đại mà như sự chẳng đừng trước cảm xúc tự nhiên trong anh. Không những vậy, anh viết khá đều giữa hai khoảng thời gian chiến tranh và hoà bình. Mươi năm trở lại đây, bạn đọc thấy nhiều thơ anh được đăng trên báo, tạp chí địa phương và Trung ương. Nhất là hai tập thơ “Huyền thoại miền đất gió” do Hội Văn học - nghệ thuật Kon Tum xuất bản - 1998 và “Đẻ núi”, Nhà xuất bản Văn học - Hà Nội 2003 phát hành với hơn 70 bài thơ nhiều thể loại. Tạo được “xung chấn” cảm xúc lắng đọng người đọc.
Cũng như những người lính trong cuộc trường chinh vệ quốc vĩ đại của dân tộc thuở những năm sáu mươi, bảy mươi ở thế kỷ hai mươi, Vũ Hùng nếm trải đủ bề. Vậy nên thơ anh cứ hiển hiện những gì mà một thời tôi cùng đồng đội đi qua linh khí vừa “bi” vừa “tráng” của Đất nước. Để rồi, nào những chia ly…
Con đi, mẹ tiễn chiều bạc tóc
Nghẹn nhiều, nước mắt ở bên trong
Vợ tiễn đưa chồng
Ngong ngóng nhớ thương
Sáng nhoè ánh mắt!
(Chia tay - 1969)
Và mất mát bi thương vẫn hằn khắc ký ức:
Ao tròn khơi chiếc hố bom
Nhớ xưa đồng đội quây tròn mấy anh
Bóng người soi bóng nước xanh
Các anh như vẫn quẩn quanh… quây tròn
(Bên miệng hố bom B.52)
Hoặc những vần thơ “tự sự” ở bài “Leo Cổng Trời” được toát lên một quá khứ đầy gian khổ của người lính hành quân trên đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại, từ Bắc vào Nam chiến đấu, thực hiện ý chí giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc mà lịch sử trao cho. Những thách thức cam go, tưởng như vắt kiệt sức trai trẻ đến rã rời qua mỗi chặng đường:
Cả đoàn quân ba lô sũng nước
Chẳng biết Cổng Trời cao bao nhiêu thước
Người sau đội người trước leo lên
… Bụng thì đói, dốc thì trơn quá
Đầu gối run, đôi mắt trổ hoa…
Điều lắng đọng khá ấn tượng được Vũ Hùng tái hiện trong sự gian khổ của người lính thấm đẫm cái “bi” song luôn bừng lên cái “tráng” mà nhuệ khí hào sảng ấy chỉ có ở “bộ đội Cụ Hồ”:
… Lại giục nhau mau leo tới hỏi “Giời”
Leo hết đêm chân cẳng rụng rời
Vui giữa sân trời lập loè nắng sớm
Khá hoành tráng, mang sắc thái của trường ca, Vũ Hùng khái quát một cách sâu sắc những nét văn hoá đặc thù của non nước Tiên Rồng đậm màu truyền thuyết và chí khí cương cường của dân tộc quật khởi, trở thành truyền thống máu thịt, xuyên suốt chiều dài bốn ngàn năm dựng nước, giữ nước:
… Đẻ bọc trứng nở trăm người con
Huyền thoại sinh sau, đẻ thời xưa ấy
Con gái Việt Mường đẻ chung áo váy
Mớ ba, mớ bảy, áo váy xoay tròn
Đẻ tiếng trống đồng, đàn bầu thổn thức…
Rồi:
Sông Hồng tung lưỡi gươm
Trượt ngang hòn đá mài sắc nhọn
Câu thơ đẻ nghiêng vách núi
Nở hình trận mạc nước non
Bài hát đẻ ra chiếc gậy Trường Sơn
Cây tre đằng ngà truyền đời đánh giặc…
(Bài Đẻ núi 1970)
Là người giàu cảm xúc, lại sống ở thời kỳ đất nước “nở hình trận mạc” và Vũ Hùng từng cầm súng ra trận, nên anh đi khá nhiều nơi. Mỗi miền quê, anh qua, đều in đậm một cảm xúc da diết. Để rồi cảm xúc ấy được dàn trải ra trong bài thơ “Dọc quê hương” (1970):
… Ba Vì tròn ba đỉnh trống đồng úp lên vựa lúa
Lặng tiếng chuông chùa hắt bóng Hồ Tây
Nhớ chùa Hương lam khói Phủ Dầy
Trăng cong mái đình chầu văn lãy lướt…
Và:
… Động Người xưa, cây Chò ngàn năm
Phất cờ lau Đinh Bộ Lĩnh…
… Nụ hát đời tôi cái bống, cái bồng
Ăn cơm đội đèn ngọt bùi rau má..
Hoặc:
Làng Sen xanh nước biếc Lam Hồng
Phà Bến thuỷ dập dìu người ra trận…
Hay đau đáu một nỗi niềm rất… thi nhân:
Mưa nắng đèo Ngang lơ thơ gai góc
Mười cô gái ngã ba Đồng Lộc
Nụ cười duyên dáng vóc người đi…
Cùng những rung động nao nung, khi:
… Nhịp hò Hiền Lương trôi bờ đất mẹ
Trăng cắt đôi vần chia nửa mùa xuân.
Ký ức trong thơ Vũ Hùng mặn mòi “một thời để nhớ” ấn tượng người đọc là vậy. Những năm rời quân ngũ, với cương vị công tác khác, sau đó trở thành hội viên Hội Văn học - nghệ thuật Kon Tum, anh viết hàng trăm bài thơ với “nhịp điệu” không hề “nhâm nhi” hào quang quá khứ, được đăng trên nhiều báo, tạp chí trong và ngoài tỉnh. Và, phong cách thơ Vũ Hùng cứ đằm đằm thi pháp trường ca. Không những vậy, còn định hình rõ “chất liệu” sử thi hiện đại:
Hỏi tên người: Bà mẹ Giẻ Triêng
Chiếc giù đung đưa người xa khuất
Mẹ thuỷ chung gùi theo vào đất
Cây sâm lũ cha trồng xanh bóng mẹ trên nương…
(Công trường xây dựng đường Hồ Chí Minh - 2002)
Được biết, sau 3 năm (2000 -2003), Vũ Hùng “vật vã” đến tã tượi, để rồi hoàn tất một trường ca dài hơn 2.500 từ với tựa đề “Ta - trước Ngọc Linh” (*). Bằng những vần thơ tinh bố cục thành 12 chương, khái quát khá hoành tráng về non nước con người vùng cực bắc Tây Nguyên, kiên cường quật khởi, song giàu lòng yêu thương qua những điển tích huyền thoại ăm ắp nhân văn…
Chắc chắn, một ngày gần đây thi phẩm đầy đặn của anh được xuất bản, ra mắt bạn đọc, đem lại cảm thụ lắng đọng cho những người yêu thơ…
Kon Tum - Thái Nguyên, tháng 12-2003.
(Báo Văn nghệ trẻ)
Love mickey,