Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Bàn về tính nhạc của thơ

0 trả lời, 22 lượt xem — Trang 1 / 1
Bàn về tính nhạc của thơ

Đào Anh Kha

Mối tương quan hình bóng giữa nhạc và thơ

Nhạc và thơ vốn có chung một nguồn gốc, cùng sinh ra trên một mảnh đất, cùng lớn lên dưới một bầu khí quyển: xứ sở vật lý của âm thanh.

Từ buổi bình minh của nhân loại, trong những cuộc vui chơi giải trí hoặc trong bầu không khí tôn nghiêm của những buổi lễ tế thần linh, những con người nguyên thuỷ đã hò reo nhảy múa, trong những tiếng dậm chân, tiếng vỗ tay và tiếng dặt dìu của những nhạc khí thô sơ, và khi Nhạc nhập vào Lời con người cất lên tiếng hát. Ngôn ngữ dần dần phát triển, khi tiến lên một trình độ tinh tế nhất định, Thơ mới ra đời. Tức thì, Nhạc nhập vào Thơ, cất lên một tiếng hát khác thường, Tiếng hát của Thơ. Cho nên không phải ngẫu nhiên mà chúng ta qua câu chuyện thần thoại Hy-La về Oóc-phê, bắt gặp ở đây một chàng trai tài hoa xuất chúng, vừa là nhà thơ vừa là nhạc sĩ và ca sĩ. Anh ta vốn là con đẻ của Cảm hứng văn chương nghệ thuật (Muse).

Bởi vậy, như một đôi tri kỷ trong cái ý nghĩa “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, Nhạc và Thơ luôn gắn bó với nhau. Lịch sử cho thấy rằng trong những buổi đầu khi Thơ mới nảy sinh, đôi bạn tri kỷ này vẫn luôn kề bên nhau, khác nào cặp nghệ sĩ cùng phối hợp tài năng để mang đến cái niềm vui thanh cao cho những con người cổ sơ. Còn hơn thế, quyền lực của họ cao siêu, huyền bí đến đỗi nó đã giúp cho những con người trần thế, thời bấy giờ, tiếp xúc với các thần linh, Thượng đế. Thơ được xem như là tiếng hát của những linh hồn thánh thiện. Theo truyền thuyết, nhờ có Thiên Khải (Révélation) mà các nhà thơ bậc Thánh (các môsơlim thuộc dòng dõi Hêbơrơ) ghi được Lời Nói của Chúa, viết nên những thiên bất hủ trong “Thánh Kinh”. Đó chính là những lời thơ “linh thiêng” được các tông đồ cùng con chiên của Chúa đọc lên ngân nga, giữa tiếng du dương trầm bổng của các nhạc cầm.

Nào hãy ngợi ca đấng Vĩnh hằng với

cây đàn hạc

Hãy ngợi ca đấng Vĩnh hằng trên

mười sợi dây của cây đàn lia

Hãy ca tụng vinh quang của Ngài

bằng thánh ca mới mẻ

Hãy cất cao tiếng hát, thật tài tình,

trên mọi cây đàn của ngươi

Bởi chưng, Lời Nói của đấng Vĩnh

hằng là Chân lý…

(Thi Vịnh - 33)

Càng về sau, khi cả hai bên - Nhạc và Thơ - đều đã lớn lên, họ say nhau như một cặp tình nhân. Trong cái ý nghĩa “mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai” (Tản Đà), một khi Nhạc làm hình thì Thơ làm bóng, và một khi Thơ làm cái hình thì mặc nhiên Nhạc là cái bóng.

Sự gần gũi giữa Nhạc và Thơ từng được triết gia Hy-lạp cổ đại Aristote lưu ý, ông cho rằng nhờ kỹ năng bắt chước Tự nhiên mà con người tái hiện lại “trong lời thơ, không những chỉ những hình ảnh, mà còn cả giai điệu và nhịp điệu”. Còn triết gia Platon thì nhận xét theo cách của ông: “Trong khi các nhà thơ trữ tình soạn những bài ca đẹp đẽ mà chúng ta đều biết, họ thâm nhập vào vận động của âm nhạc và nhịp điệu, bỗng nhiên hoan hỉ và say đến mất hồn, khác nào những Bà đồng cốt (Bacchante) đến tận bờ sông, múc lên, từ dòng nước, sữa và mật ong”.

Cái quan niệm Thơ tái hiện Tự nhiên ấy của Aristote cũng được biểu lộ nơi nhà thơ Nhật Bản Xyrayuki (t.k X) khi ông viết: “Thơ tức là để cho trái tim mình tự diễn đạt xuyên qua những gì đã được nghe được thấy. Đó là, giữa các đoá hoa, tiếng hót của con chim họa mi, trên mặt hồ tiếng ồm ộp của con ếch... Nghe những tiếng đó, nào ai là kẻ đang sống mà không cất lên tiếng hát của mình!”

Thơ, Tiếng hát của tâm hồn

Con người sớm nhận thức rõ rằng Thơ chính là tiếng hát của tâm hồn mình. Tiếng hát ấy mang đến cho ta một niềm vui vô tận, mà ta chào đón như một vật báu của Trời cho Shiller (t.k.XVIII) viết: “Bạn hãy vui sướng vì cái thiên tư về giai điệu Trời rơi xuống. Rằng đã có nhà thơ để hát lên cho bạn nghe những gì Nàng Thơ dạy cho anh ta. Chúa Trời đã nhập vào làm bừng tỉnh nhà thơ, nhà thơ hoá Chúa Trời đối với những ai nghe tiếng hát của anh ta”. Voltaire (t.k.XVIII) viết: “Thơ là âm nhạc của tâm hồn, đặc biệt của những tâm hồn vĩ đại và nhạy cảm... Thơ là sự hùng biện hài hoà của âm thanh”. Rồi đến Alfred de Vigny (t.k. XIX) phát biểu: “Bất cứ ai làm được một câu thơ hay, đều hát lên”. Verlaine, nhà thơ đã có những bài thơ du dương vào bậc nhất trong các nhà thơ tiếng Pháp, chủ trương âm nhạc là yếu tố dẫn đầu, tiên quyết, xác định giá trị của một bài thơ. Và chúng ta không hề ngạc nhiên khi R.Tagore của ấn Độ (t.k.XX) đã gọi toàn bộ những bài thơ mà ông đã làm là những khúc ca.

Những khúc ca của tôi xuyên suốt

cuộc đời, tìm đến với Người (1).

Chúng dẫn tôi đi từ cửa nhà này sang

cửa nhà khác

Trong khi dò dẫm, quan sát vũ trụ

của riêng mình

Nhờ các khúc ca, tôi cảm biết mọi thứ

chung quanh.

Các khúc ca dạy tôi những gì mình

chưa học đến

Chỉ cho tôi những nẻo đường bị

che giấu

Đặt một tinh cầu chói lọi tận

chân trời của tim tôi.

Những khúc ca, dài theo ngày,

đưa đến vùng trời bí ẩn

ồ, đến tận chấn song của lâu đài nào

chúng dẫn dắt tôi đây

Lúc chiều tối, khi cuộc hành trình của

tôi chấm dứt?

(Thơ Dâng)

Biến thiên phong phú về hình thái nhạc trong thơ

Nếu như tâm hồn người vốn là một vũ trụ mênh mông, bí ẩn, thì bầu trời Thơ đầy nhạc điệu có vô vàn hình thái Nhạc biến hóa không cùng. Bởi vậy, các nhà thơ trải qua nhiều đời, nối tiếp nhau tìm những thể loại thơ, những hình thái biểu đạt của thơ để nói lên mọi trạng thái của tâm hồn, và họ có nhiều cách thức khác nhau. Ví như Baudelaire, nhà thơ “nghệ sĩ” nhất trong tất cả các nhà thơ, đã suy nghĩ nhiều về mặt này, cho nên ông viết: “Thơ vốn gắn liền với Nhạc bằng cái ngữ điệu (prosodie) vốn có gốc rễ ăn quá sâu vào tâm hồn ta, đến nỗi chẳng có lý thuyết kinh điển nào biết được. Một câu thơ nên thơ (une phrase poétique) gắn liền với nghệ thuật âm nhạc, và cả với toán học. Này nhé, có dòng đi ngang, có dòng thẳng đi lên, có dòng thẳng đi xuống: Nó có thể vọt đứng lên Trời mà không chút hổn hển, hoặc đâm xuống địa ngục với tất cả độ nhanh vì trọng lượng; Nó có thể đi vòng theo đường xoáy trôn ốc, vẽ đường parabôn, đường khúc khuỷu, diễn đạt cả một loạt góc chồng chất lên nhau”.

Ông có ý chỉ cho chúng ta thấy rằng, có rất nhiều thủ pháp để tạo nên những làn điệu và nhịp điệu phong phú cho Thơ. Và phải chăng bằng lối nói độc đáo ấy ông đã tiên báo sự ra đời về sau của những thể loại thơ hoàn toàn tự do, tuỳ hứng, ví như đã có lối thơ xuống bậc thang rất hiệu quả mà thiên tài thơ Maiakôpxki đã dùng, hay như lối thơ táo bạo xếp hàng ngang, hàng dọc, hàng chéo và hàng cong, dưới bàn tay đầy sáng tạo của Apollinaire...

Phải chăng, đó là một khuynh hướng tìm tòi không đến nỗi là “nặng về hình thức” của Thơ hiện đại?.

Nhạc trong thơ là sự hài hòa tổng quát toàn diện.

Một khi Nhạc đã nhập vào Thơ để thành cái bóng, tức thì cái bóng đó được nhân to lên gấp bội, trên các chiều có thể: Chẳng hạn chiều sâu của cảm xúc, chiều cao của trí tuệ, chiều rộng bát ngát của tâm hồn. Trong khi ấy, tính hài hoà của nó, tức là tính năng tinh hoa của nó, dưới những kích động của ngôn từ hình tượng (4), phóng toả ra, chiếm lĩnh toàn thể não bộ của ta. Xuất phát từ chỗ hài hoà giữa các âm thanh, âm sắc, âm vang, cộng hưởng, làn điệu, nhịp điệu... chất Nhạc phút chốc vươn tới độ cao của sự hài hoà giữa các âm thanh với các đường nét, màu sắc, hương thơm mùi vị... “Hoà hợp chan hoà hương, sắc, với thanh âm” câu thơ của Baudelaire, - bỗng chốc nổi lên một bản Đại hoà tấu (grande Symphonie) xuất phát từ sự hài hoà giữa mọi tình cảm và mọi tư duy - một sự hài hoà tổng quát và toàn diện là chỉ có Thơ mang đầy nhạc tính mới có được. Bấy giờ, bầu trời tâm tư của ta sáng bừng lên và bỗng nhiên sống động, đưa toàn bộ bản ngã vào một thế giới khác đầy hấp dẫn - đó là, như J.Supervielle nói: “Cái ảo ảnh của một thế giới tuyệt đối hài hoà mà ở đấy tính đối lập giữa tất cả những gì vốn là mâu thuẫn đều tan biến”. Để hiểu rõ nguyên nhân của hiện tượng này, T.Carlyle có thể cho chúng ta một lời phân tích: “Tư duy mang tính nhạc (pensée musicale) có khả năng thâm nhập vào trung tâm của sự vật phát hiện ra cái giai điệu nằm giấu mình trong đó, là vì dưới bề sâu của mọi sự vật, đều là du dương, tất nhiên liền được diễn tả bằng tiếng hát”. Nhưng vì sao, đứng trước cái ảo ảnh về một “thế giới hài hoà” chỉ có thể nằm trong nội tâm, chúng ta lại xúc động, cảm thấy một niềm vui, một sự say sưa khó tả? Baudelaire có thể đem đến một lời giải đáp khá thoả đáng, mang tính hiện thực của cuộc đời: “Chính bởi nhờ có Thơ đã thông qua Nhạc, mà tâm hồn chúng ta nhìn thấy những ánh sáng nằm ở phía sau ngôi mộ. Và khi một câu thơ mặn nồng dẫn hạt lệ lên mi mắt, những hạt lệ ấy không phải là bằng chứng về một sự lạm dụng hưởng thụ, mà đúng ra, đấy là một nỗi sầu day dứt, một đòi hỏi của thần kinh, của một bản thể tự nhiên bị đọa đày vào tình trạng bất hoàn hảo, và dường như nó muốn, ngay tức khắc trên mặt đất này, chiếm lấy cái Thiên đàng vừa được phát hiện”.

Quyền lực của tính nhạc trong thơ

Tính Nhạc mang đến cho Thơ một cái Đẹp có đầy quyền lực, có sức hấp dẫn và cảm hoá to lớn đối với tâm tư mỗi người chúng ta.

Các nhà nghiên cứu Truyện Kiều ở nước ta trước đây đã từng hết sức tán thưởng thiên tài của Nguyễn Du khi ông đưa Nhạc vào Thơ, đồng thời ông cũng đã nói lên đủ, cái quyền lực của Nhạc là như thế nào.

Cuộc đời chìm nổi của Kiều có bốn lần đánh đàn được Nguyễn Du mô tả, mỗi lần nàng đàn trong một tâm trạng khác, thì tiếng đàn cũng hoàn toàn khác. ở đây chỉ xin nêu 3 trường hợp:

l. Sau khi đã viếng mồ Đạm Tiên, linh cảm trước cái “mệnh bạc” của mình, Kiều được ngồi đàn bên Kim Trọng trong mối tình đầu, thì hẳn bâng khuâng:

“………… dây vũ dây văn

Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương

Khúc đâu Hán Sở chiến trường

Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng

chen nhau

Khúc dâu Tư Mã, Phượng Cầu

Nghe ra như oán như sầu phải chăng

… Quá quan này khúc Chiêu Quân

Nửa phần luyến chúa nửa phần

tư gia,

Trong như tiếng hạc bay qua

Đục như nước suối mới sa nửa vời

Tiếng khoan như gió thoảng ngoài

Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.

Một tiếng đàn xốn xang, chen niềm vui lẫn nỗi buồn ấy, làm sao không khiến anh chàng thư sinh Kim Trọng “... ngọn đèn khi tỏ khi mờ/ Khiến người ngồi đó mà ngơ ngẩn sầu/ Khi tựa gối, khi cúi đầu/ Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày”.

2. Đến khi Kiều sa cơ, bị bắt buộc phải ngồi trước cả hai vợ chồng Thúc Sinh, Hoạn Thư mà đánh đàn, thì:

Bốn dây như khóc như than

Khiến người trong cuộc cũng tan

nát lòng

Cùng trong một tiếng tơ đồng

Người ngoài cười nụ, người

trong khóc thầm.

3. Và khi, sau cái chết của Từ Hải - người anh hùng đã cứu mình, người tri âm tri kỷ, đã phải chết chỉ vì một sự nông nổi của chính mình - nàng lại bị Hồ Tôn Hiến, kẻ giết chồng mình - bắt phải đánh đàn, thì:

Một cung gió thảm mưa sầu

Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay

Ve ngâm vượn hót nào tày

Lọi tai, Hồ cũng chau mày, rơi châu

Hỏi rằng, này khúc ở đâu

Nghe ra muôn oán nghìn sầu

lắm thay

Thưa rằng, bạc mệnh khúc này

Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ

Cung cầm lựa những ngày xưa

Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây

Dưới mãnh lực của một tiếng đàn “khốc quỷ kinh thần” như thế, lão Hồ Tôn Hiến, mặc dù bản chất lừa đảo hiểm độc, làm sao mà tránh khỏi:

Nghe càng đắm, ngắm càng say

Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình.

Shakespeare xưa kia từng có lần nhận xét: “Các nhà thơ làm như thể vị thần Oóc-phê lôi cuốn được cả cỏ cây, đất đá và những làn sóng. Bởi vì chẳng có sinh vật người nào mà lại sống sượng, chai lỳ, hung dữ đến mức âm nhạc không làm cho bản chất tự nhiên đổi thay, dù chỉ là trong một lúc. Con người nào mà không mang âm nhạc bên trong mình, mà sự hài hoà dịu dàng giữa các âm thanh không làm cho xúc động, là để dành cho những sự phản bội, xảo trá, cướp đoạt. Những vận động bên trong con người hắn tối tăm như núi lửa Ê-re-bơ (3). Bạn hãy coi chừng loại người đó”. Để định nghĩa nhà thơ, S.P.Roux chỉ nhấn mạnh một điểm: “Nhà thơ là kẻ được ký thác vào tay sự hài hoà của tất cả những gì hiện hữu, do đấy mà anh ta mang lại cho tất cả những cái đó một đời sống mới”.

Để kết thúc, xin phép được nói rằng: Sức nhạy cảm mạnh mẽ về tính Nhạc, nơi nhà thơ, là một trong những yêu sách hàng đầu, để anh ta có thể thành công trong sáng tạo Thơ.n

(Viết xong tháng 5-1993)



(*) Trích từ cuốn THƠ, Nữ hát trong thế giới thẩm mỹ của Đào Anh Kha, nghiên cứu bình luận về nghệ thuật Thơ.

(1) Người: Tức là “Thượng đế”, biểu tượng cho lý tưởng tuyệt đối về Chân - Thiện - Mỹ của Tagore.

(2) Oóc- phê: Nhà thơ, nhạc sĩ và ca sĩ huyền thoại của HyLạp - La Mã cổ đại. Tương truyền rằng tiếng đàn cùng tiếng hát của ông lung lạc được cả thú dữ, chế ngự được cả ma quỷ, thần linh.

(3) Ê-re-bơ: Núi lửa nằm dưới đáy đại dương Nam cực.

(4) Xem bài BàN Về NGÔN Từ HìnH TƯợNG CủA THƠ trên tạp chí Văn, số Xuân 2004.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0