Nguyễn Trãi không nghĩ như thế!
Hà Quảng
(Trao đổi cùng ông Tạ Phương về bài thơ Cây chuối)
Cây chuối
Tự bén hơi xuân tốt lại thêm
Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm.
Tình thư một bức phong còn kín
Gió nơi đâu gượng mở xem.
Các nhà thơ xưa hay làm thơ ngâm vịnh phong cảnh, sự vật trước mắt (Vịnh), loại thơ lấy cảnh, vật để ngụ tình. Tuy tả cái quạt nhưng lại muốn nói về người con gái, viết về cây tre, cây trúc nhưng lại ám dụ về bậc chính nhân quân tử... Nguyễn Trãi có nhiều bài thơ viết về hoa lá, chim muông, cây cỏ, thời tiết... theo thể loại này (Hoa mộc môn, Cầm thú môn, Thời lệnh môn... trong Quốc âm thi tập). Bài Cây chuối trong phần Hoa mộc môn là một bài được nhiều người phẩm bình, lý giải, tuỳ theo chỗ đứng, cách nhìn mà phân tích khác nhau thậm chí đối lập nhau đôi khi đưa đến tranh cãi trách cứ hơi nặng lời (chữ của Phụ bản Thơ - số 9).
Bài viết gần đây của ông Tạ Phương có đưa ra một cách hiểu mới ngồ ngộ, là lạ về bài thơ Cây chuối của Nguyễn Trãi, chúng tôi xin có vài lời trao đổi. Bài của anh Phương khá dài và có nhiều trích dẫn lý thú cho phép chúng tôi không nhắc lại. Chỉ xin bàn về các vấn đề chính: Tạ Phương cho bài Cây chuối của Nguyễn Trãi “gợi đến cái ý phồn thực”, và “tương quan hình tượng nõ - nường” chính là hình ảnh nõ: nõn chuối - phong thư cuộn chặt và nường - gió xuân.
Đi xa hơn một bước anh cho bài Cây chuối là phóng tác của Nguyễn Trãi trên cơ sở bài Nõn chuối chưa mở (Vị triển ba tiêu) của Tiền Hử đời Đường.
Tạ Phương cũng đề nghị nên chọn bài thơ khác tiêu biểu hơn của Nguyễn Trãi để dạy cho học sinh trung học vì bài Cây chuối “xuất xứ chưa rõ ràng”.
Để dễ bàn luận xin trở lại bài thơ gốc. Bài thơ của Nguyễn Trãi, nếu thông suốt một số từ cổ, và đừng cố tách khỏi bút pháp và phong cách người xưa thì cũng không phải khó hiểu lắm. Người đọc bình thường có thể hiểu bài thơ như thế này:
Từ khi gặp được hơi xuân (những) cây chuối cứ tươi tốt mãi lên
Nhiều buồng chuối đẹp (chín) toả hương suốt đêm
Có đọt chuối non nhô lên cuộn lại như bức thư tình còn phong kín
Từng làn gió ngang qua muốn nhẹ mở ra xem.
Câu 1 ít ai bàn cãi.
Câu 2 có ba từ cổ: Đầy, lạ, mầu. Theo chúng tôi, Đầy ở đây là nhiều. Ta thường có nói Trong nhà đầy người... Sau vườn đầy chim chóc... Lạ ở đây là tươi tốt đẹp đẽ (Người hoà tươi tốt cảnh hoà lạ - thơ Điểm Bích). Mầu là mùi, hương thơm.
Câu 3 và câu 4 có nhiều cách hiểu. Riêng Tạ Phương cho đây là tương quan nõn chuối và gió xuân, trong đó nõn chuối là phong thư cuộn chặt (tính nam), gió xuân là nường (tính nữ), theo ý nghĩa phồn thực mà Nguyễn Trãi đưa vào với ẩn ý tinh nghịch...
Chúng tôi cho cách hiểu này không thích hợp với hình tượng thơ và phong cách Nguyễn Trãi. Một người như Nguyễn Trãi, dẫu làm thơ Nôm chăng nữa cũng không thể có cái ảnh hưởng phồn thực suồng sã trần tục như vậy! Vả lại Nguyễn Trãi có nói gió xuân đâu, ông chỉ nói gió nơi đâu, bởi vậy gió này không hề có tính dục, mà phần sau chúng tôi sẽ phân tích. Nguyễn Trãi cũng không nói gì đến nõn chuối, Nguyễn Trãi chỉ viết Tình thư một bức phong còn kín. Hình ảnh nõn chuối - tính dục nam, Tạ Phương do ảnh hưởng bài thơ Tiền Hử Nõn chuối chưa mở mà đưa vào đây không hợp với chỉnh thể bài thơ, vì nõn chuối chỉ là phần mới nhú ra của lá non, còn bó chặt, nhô lên ngắn, còn phải đợi chờ gió mới mở ra được; ở đây khi Nguyễn ví với phong thư tức là chỉ đọt lá chuối non đã nhô cao, tuy vẫn còn cuộn tròn nhưng đã mềm mại rung rinh theo gió và phần ngoài có thể đã bong ra... Cụ Đào Duy Anh khi chú giải Quốc âm thi tập cũng xem “thư phong kín ở đây là chỉ cái đọt chuối còn cuộn lại”... “có gió thì đọt chuối mới mở ra” (Nguyễn Trãi toàn tập, NXBKHXH, 1976, Tr.835).
Như vậy câu thứ 4 mới hợp. Chữ gượng ở câu 4 tức là nhẹ, gượng mở là nhẹ mở. Chúng ta đã từng quan sát bụi chuối chắc thấy rõ điều này. Một bụi chuối có nhiều thân chuối, cũng có nhiều nõn chuối mới nhú lên, nhưng chỉ cái phần lá non cuộn tròn đã nhô lên khá cao mới được gọi là đọt của bụi cây mới dễ nhìn thấy trong đêm. Chính cái đọt lá chuối non này được Nguyễn ví với phong thư và chỉ “một bức” mà thôi. Một lần nữa ta thấy cái nõn chuối của Tiền Hử khác với đọt lá chuối non của Nguyễn Trãi và càng thấy sự tinh tế của cụ khi quan sát cảnh vật. Cũng cần nói thêm điều này: Ví nõn chuối, đọt chuối, lá chuối với phong thư thì nhiều người đã nói. Tiền Hử ta đã biết, Thẩm Chu (đời Minh) cũng đã từng có bài thơ viết trên lá chuối: Tiên dục khai thuyền khứ, Nhân quân cánh tả tiêu (Đêm muốn dục thuyền đi, Thư người trên lá chuối...) Nhưng đến Nguyễn Trãi mới nói rõ là bức thư tình. Có nghĩa là người con gái đã yêu.
Và như trên chúng tôi đã nói, bài thơ Nguyễn Trãi vịnh Cây chuối nhưng muốn nói về người con gái. Nghĩa khái quát, nghĩa bóng của bài thơ:
Người con gái từ khi bén tình yêu cứ đẹp lên, cuộc sống nàng toả đầy hương sắc. Tình yêu của nàng như bức thư còn phong kín, người tình nơi đâu cứ nhẹ bóc xem.
Cũng qua cách vịnh bụi chuối thể hiện trong bài thơ này, ta thấy chất dân giã trong thơ Nôm của cụ. Xưa thường lấy cây mai, cây liễu để nói người phụ nữ, riêng Nguyễn Trãi lại lấy Cây chuối, chúng tôi cho đây là nét độc đáo của bài thơ.
Hình ảnh gió, gió xuân như người tình của muôn hoa, ta gặp nhiều trong thơ cổ. Hình ảnh đọt chuối - bức thư phong kín để chỉ tình yêu người con gái tuy lạ nhưng không phải không có thi sĩ từng vận dụng cách nói tương tự: Lòng trẻ còn như cây lụa trắng (Nguyễn Bính). ở đây chúng ta có thể tham khảo thêm ý kiến Xuân Diệu. Một người tinh tế về thẩm thơ như Xuân Diệu không bỗng nhiên mà cho rằng đọt chuối tượng trưng cho người con gái còn e ấp, còn trinh tiết, còn gió tượng trưng cho người con trai, là đối tượng anh mà cô gái đang mong đợi. (Xem: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập 1, Nxb Văn học, 1987). Chúng tôi đồng ý với Xuân Diệu ở vế sau: Gió chỉ người con trai, còn vế đầu: đọt chuối - phong thư không phải là bản thân cô gái mà là tình yêu của cô, như vậy mới khớp với hình ảnh cây chuối hình ảnh người con gái trong toàn bài.
ý thứ hai mà Tạ Phương nêu lên, anh cho là Nguyễn Trãi dựa vào bài thơ Nõn chuối chưa mở của Tiền Hử mà phóng tác bài Cây chuối, theo chúng tôi cũng khiên cưỡng. Về chủ đề thơ thì bài Nguyễn Trãi vịnh Cây chuối để nói hạnh phúc của người con gái gặp tình yêu, khác với chủ đề mà Tiền Hử nêu lên trong thi phẩm về nõn chuối của mình: Người trinh nữ với bao điều bí ẩn - Lòng thơm còn ngại bởi xuân hàn (Phương tâm do quyến khiếp xuân hàn). Nó không phải là anh em sinh đôi như Tạ Phương ức đoán. Có thể cách xây dựng hình ảnh thơ có chỗ tương đồng (hình ảnh phong thư), nhưng hình tượng thơ và tâm sự gửi gắm của chủ thể trữ tình thì khác nhau, khó mà nói người này phóng tác theo người kia. Chúng tôi chưa có điều kiện tìm hiểu xuất xứ bài thơ của Tiền Hử được sáng tác trong hoàn cảnh nào nhưng với khoảng cách gần năm trăm năm và cuộc sống hai người khác nhau chắc gì có sự tương hợp để Nguyễn Trãi cảm xúc mà phóng tác?
ý thứ ba mà Tạ Phương đề nghị, chúng tôi nghĩ cũng không cần thiết. Xuất xứ bài thơ Cây chuối không rõ ràng chỉ là do quan niệm của anh, chứ xét theo Quốc âm thi tập và cuộc đời Nguyễn Trãi thì bài thơ này đủ rõ để học sinh tìm hiểu. Còn ý nghĩa thì có những tác phẩm tuỳ theo lứa tuổi mà hiểu thấp cao, nặng nhẹ khác nhau, không nhất thiết phải hiểu hết ý nghĩa tác phẩm trong một thời điểm. Nhất là những ý tranh luận có tính nghiên cứu. Bài thơ này dễ tạo được xúc cảm thẩm mỹ cho học sinh vì hình ảnh ví von sinh động và tình cảm chân thành của tác giả. Liên hệ bản thân, bài thơ này theo chúng tôi thì đã gần 40 năm từ khi còn học trường cấp 2 cho đến nay, vẫn gây hứng thú khi đọc lại, điều đó nói lên sự thành công của nó trong chương trình Văn nhà trường...
Xin có vài ý kiến lạm bàn mong các bạn yêu văn học cổ chỉ giáo!
(Báo Văn nghệ)
Hà Quảng
(Trao đổi cùng ông Tạ Phương về bài thơ Cây chuối)
Cây chuối
Tự bén hơi xuân tốt lại thêm
Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm.
Tình thư một bức phong còn kín
Gió nơi đâu gượng mở xem.
Các nhà thơ xưa hay làm thơ ngâm vịnh phong cảnh, sự vật trước mắt (Vịnh), loại thơ lấy cảnh, vật để ngụ tình. Tuy tả cái quạt nhưng lại muốn nói về người con gái, viết về cây tre, cây trúc nhưng lại ám dụ về bậc chính nhân quân tử... Nguyễn Trãi có nhiều bài thơ viết về hoa lá, chim muông, cây cỏ, thời tiết... theo thể loại này (Hoa mộc môn, Cầm thú môn, Thời lệnh môn... trong Quốc âm thi tập). Bài Cây chuối trong phần Hoa mộc môn là một bài được nhiều người phẩm bình, lý giải, tuỳ theo chỗ đứng, cách nhìn mà phân tích khác nhau thậm chí đối lập nhau đôi khi đưa đến tranh cãi trách cứ hơi nặng lời (chữ của Phụ bản Thơ - số 9).
Bài viết gần đây của ông Tạ Phương có đưa ra một cách hiểu mới ngồ ngộ, là lạ về bài thơ Cây chuối của Nguyễn Trãi, chúng tôi xin có vài lời trao đổi. Bài của anh Phương khá dài và có nhiều trích dẫn lý thú cho phép chúng tôi không nhắc lại. Chỉ xin bàn về các vấn đề chính: Tạ Phương cho bài Cây chuối của Nguyễn Trãi “gợi đến cái ý phồn thực”, và “tương quan hình tượng nõ - nường” chính là hình ảnh nõ: nõn chuối - phong thư cuộn chặt và nường - gió xuân.
Đi xa hơn một bước anh cho bài Cây chuối là phóng tác của Nguyễn Trãi trên cơ sở bài Nõn chuối chưa mở (Vị triển ba tiêu) của Tiền Hử đời Đường.
Tạ Phương cũng đề nghị nên chọn bài thơ khác tiêu biểu hơn của Nguyễn Trãi để dạy cho học sinh trung học vì bài Cây chuối “xuất xứ chưa rõ ràng”.
Để dễ bàn luận xin trở lại bài thơ gốc. Bài thơ của Nguyễn Trãi, nếu thông suốt một số từ cổ, và đừng cố tách khỏi bút pháp và phong cách người xưa thì cũng không phải khó hiểu lắm. Người đọc bình thường có thể hiểu bài thơ như thế này:
Từ khi gặp được hơi xuân (những) cây chuối cứ tươi tốt mãi lên
Nhiều buồng chuối đẹp (chín) toả hương suốt đêm
Có đọt chuối non nhô lên cuộn lại như bức thư tình còn phong kín
Từng làn gió ngang qua muốn nhẹ mở ra xem.
Câu 1 ít ai bàn cãi.
Câu 2 có ba từ cổ: Đầy, lạ, mầu. Theo chúng tôi, Đầy ở đây là nhiều. Ta thường có nói Trong nhà đầy người... Sau vườn đầy chim chóc... Lạ ở đây là tươi tốt đẹp đẽ (Người hoà tươi tốt cảnh hoà lạ - thơ Điểm Bích). Mầu là mùi, hương thơm.
Câu 3 và câu 4 có nhiều cách hiểu. Riêng Tạ Phương cho đây là tương quan nõn chuối và gió xuân, trong đó nõn chuối là phong thư cuộn chặt (tính nam), gió xuân là nường (tính nữ), theo ý nghĩa phồn thực mà Nguyễn Trãi đưa vào với ẩn ý tinh nghịch...
Chúng tôi cho cách hiểu này không thích hợp với hình tượng thơ và phong cách Nguyễn Trãi. Một người như Nguyễn Trãi, dẫu làm thơ Nôm chăng nữa cũng không thể có cái ảnh hưởng phồn thực suồng sã trần tục như vậy! Vả lại Nguyễn Trãi có nói gió xuân đâu, ông chỉ nói gió nơi đâu, bởi vậy gió này không hề có tính dục, mà phần sau chúng tôi sẽ phân tích. Nguyễn Trãi cũng không nói gì đến nõn chuối, Nguyễn Trãi chỉ viết Tình thư một bức phong còn kín. Hình ảnh nõn chuối - tính dục nam, Tạ Phương do ảnh hưởng bài thơ Tiền Hử Nõn chuối chưa mở mà đưa vào đây không hợp với chỉnh thể bài thơ, vì nõn chuối chỉ là phần mới nhú ra của lá non, còn bó chặt, nhô lên ngắn, còn phải đợi chờ gió mới mở ra được; ở đây khi Nguyễn ví với phong thư tức là chỉ đọt lá chuối non đã nhô cao, tuy vẫn còn cuộn tròn nhưng đã mềm mại rung rinh theo gió và phần ngoài có thể đã bong ra... Cụ Đào Duy Anh khi chú giải Quốc âm thi tập cũng xem “thư phong kín ở đây là chỉ cái đọt chuối còn cuộn lại”... “có gió thì đọt chuối mới mở ra” (Nguyễn Trãi toàn tập, NXBKHXH, 1976, Tr.835).
Như vậy câu thứ 4 mới hợp. Chữ gượng ở câu 4 tức là nhẹ, gượng mở là nhẹ mở. Chúng ta đã từng quan sát bụi chuối chắc thấy rõ điều này. Một bụi chuối có nhiều thân chuối, cũng có nhiều nõn chuối mới nhú lên, nhưng chỉ cái phần lá non cuộn tròn đã nhô lên khá cao mới được gọi là đọt của bụi cây mới dễ nhìn thấy trong đêm. Chính cái đọt lá chuối non này được Nguyễn ví với phong thư và chỉ “một bức” mà thôi. Một lần nữa ta thấy cái nõn chuối của Tiền Hử khác với đọt lá chuối non của Nguyễn Trãi và càng thấy sự tinh tế của cụ khi quan sát cảnh vật. Cũng cần nói thêm điều này: Ví nõn chuối, đọt chuối, lá chuối với phong thư thì nhiều người đã nói. Tiền Hử ta đã biết, Thẩm Chu (đời Minh) cũng đã từng có bài thơ viết trên lá chuối: Tiên dục khai thuyền khứ, Nhân quân cánh tả tiêu (Đêm muốn dục thuyền đi, Thư người trên lá chuối...) Nhưng đến Nguyễn Trãi mới nói rõ là bức thư tình. Có nghĩa là người con gái đã yêu.
Và như trên chúng tôi đã nói, bài thơ Nguyễn Trãi vịnh Cây chuối nhưng muốn nói về người con gái. Nghĩa khái quát, nghĩa bóng của bài thơ:
Người con gái từ khi bén tình yêu cứ đẹp lên, cuộc sống nàng toả đầy hương sắc. Tình yêu của nàng như bức thư còn phong kín, người tình nơi đâu cứ nhẹ bóc xem.
Cũng qua cách vịnh bụi chuối thể hiện trong bài thơ này, ta thấy chất dân giã trong thơ Nôm của cụ. Xưa thường lấy cây mai, cây liễu để nói người phụ nữ, riêng Nguyễn Trãi lại lấy Cây chuối, chúng tôi cho đây là nét độc đáo của bài thơ.
Hình ảnh gió, gió xuân như người tình của muôn hoa, ta gặp nhiều trong thơ cổ. Hình ảnh đọt chuối - bức thư phong kín để chỉ tình yêu người con gái tuy lạ nhưng không phải không có thi sĩ từng vận dụng cách nói tương tự: Lòng trẻ còn như cây lụa trắng (Nguyễn Bính). ở đây chúng ta có thể tham khảo thêm ý kiến Xuân Diệu. Một người tinh tế về thẩm thơ như Xuân Diệu không bỗng nhiên mà cho rằng đọt chuối tượng trưng cho người con gái còn e ấp, còn trinh tiết, còn gió tượng trưng cho người con trai, là đối tượng anh mà cô gái đang mong đợi. (Xem: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập 1, Nxb Văn học, 1987). Chúng tôi đồng ý với Xuân Diệu ở vế sau: Gió chỉ người con trai, còn vế đầu: đọt chuối - phong thư không phải là bản thân cô gái mà là tình yêu của cô, như vậy mới khớp với hình ảnh cây chuối hình ảnh người con gái trong toàn bài.
ý thứ hai mà Tạ Phương nêu lên, anh cho là Nguyễn Trãi dựa vào bài thơ Nõn chuối chưa mở của Tiền Hử mà phóng tác bài Cây chuối, theo chúng tôi cũng khiên cưỡng. Về chủ đề thơ thì bài Nguyễn Trãi vịnh Cây chuối để nói hạnh phúc của người con gái gặp tình yêu, khác với chủ đề mà Tiền Hử nêu lên trong thi phẩm về nõn chuối của mình: Người trinh nữ với bao điều bí ẩn - Lòng thơm còn ngại bởi xuân hàn (Phương tâm do quyến khiếp xuân hàn). Nó không phải là anh em sinh đôi như Tạ Phương ức đoán. Có thể cách xây dựng hình ảnh thơ có chỗ tương đồng (hình ảnh phong thư), nhưng hình tượng thơ và tâm sự gửi gắm của chủ thể trữ tình thì khác nhau, khó mà nói người này phóng tác theo người kia. Chúng tôi chưa có điều kiện tìm hiểu xuất xứ bài thơ của Tiền Hử được sáng tác trong hoàn cảnh nào nhưng với khoảng cách gần năm trăm năm và cuộc sống hai người khác nhau chắc gì có sự tương hợp để Nguyễn Trãi cảm xúc mà phóng tác?
ý thứ ba mà Tạ Phương đề nghị, chúng tôi nghĩ cũng không cần thiết. Xuất xứ bài thơ Cây chuối không rõ ràng chỉ là do quan niệm của anh, chứ xét theo Quốc âm thi tập và cuộc đời Nguyễn Trãi thì bài thơ này đủ rõ để học sinh tìm hiểu. Còn ý nghĩa thì có những tác phẩm tuỳ theo lứa tuổi mà hiểu thấp cao, nặng nhẹ khác nhau, không nhất thiết phải hiểu hết ý nghĩa tác phẩm trong một thời điểm. Nhất là những ý tranh luận có tính nghiên cứu. Bài thơ này dễ tạo được xúc cảm thẩm mỹ cho học sinh vì hình ảnh ví von sinh động và tình cảm chân thành của tác giả. Liên hệ bản thân, bài thơ này theo chúng tôi thì đã gần 40 năm từ khi còn học trường cấp 2 cho đến nay, vẫn gây hứng thú khi đọc lại, điều đó nói lên sự thành công của nó trong chương trình Văn nhà trường...
Xin có vài ý kiến lạm bàn mong các bạn yêu văn học cổ chỉ giáo!
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,