Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Trinh Đường và “ngôi đền thơ”

0 trả lời, 287 lượt xem — Trang 1 / 1
Trinh Đường và “ngôi đền thơ”

Ngô Văn Phú

Không ai yêu thơ, mê thơ, sống chết cho thơ như Trinh Đường. Suốt một đời sống cho thơ, vì thơ. Làm thơ, biên tập thơ, soạn thơ, lặn lội khắp đất nước, mở hòm thơ lưu gửi riêng ở bưu điện để truy tìm những bài thơ hay… Coi thơ như một “ngôi đền thiêng”, mà mình là một thầy sa môn, thường gióng kinh nhật tụng và công đức thập phương bằng những áng thơ hay, để tôn vinh thêm cho ngôi đền ấy. Mê thơ như mê người tình, lập bàn thờ thờ “Nàng Thơ” ngay trong nhà. Hễ ai đến, trước khi trò chuyện, chủ nhân sẽ lôi vào cuộc luận bàn về thơ, mỗi người đều phải thành kính thắp nhang lên bàn thờ đó… Yêu thơ, lặn lội lần mò trong những chuyến đi liên tục, khắp mọi nơi, khắp trận địa ác liệt, khắp hang cùng ngõ hẻm. Sa Pa tuyết, Tây Bắc sương mù, Cà Mau đất mũi, Quảng Ninh biển lẫn với trời xanh… Đi thực tế đến nỗi một lần xe bị lũ quật xuống sông, lội lên bờ, đưa sào cứu đồng đội, sưởi lửa, rồi lại đọc thơ cho chiến sĩ nghe; một lần xe suýt lăn xuống vực, may mà cũng thoát chết… Mê thơ đến nỗi ốm, một tay phải truyền huyết thanh, tay kia vẫn vung lên đọc thơ...

Về cuối đời thì luôn luôn xách trong tay cả một thế kỷ thơ Việt, tự tin và tâm huyết, muốn làm sáng danh thơ ca Việt Nam, theo cách tuyển chọn riêng của mình…

Phải công nhận rằng, cái tâm của Trinh Đường với thơ đã cảm hoá được nhiều người. Nhiều bạn bè, đủ các thế hệ đã nhớ đến ông, người thì nhớ đến tính thẳng thắn khen chê, có lúc đến cực đoan của ông; người thì nhớ đến tính công tâm của ông, không vụ cây đa cây đề, thân quen, quyền thế, hễ ai có thơ hay thì khen, thì dồn sức vào biên tập, đưa lên báo, đưa vào sách, hết sức nhiệt tình…

Thời kỳ làm ở báo Văn nghệ, tôi từng chứng kiến Trinh Đường phát hiện Bằng Việt từ Nga gửi về bài thơ gửi cho báo Văn nghệ đầu tiên… Nghe nhạc Beethoven, cũng Trinh Đường, phát hiện Bài ca chim Chơrao của Thu Bồn, thành một sự kiện thơ của Báo những năm tháng ấy. Sau này, ông cũng rất chuẩn xác khi biên tập bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ, và đi đâu cũng cổ vũ khoe với bạn bè… Ông khen Đào Cảng, Thi Hoàng ở Hải Phòng; phát hiện được Văn Thảo Nguyên với bài thơ Đường lên Bản Muốm thì nhắc đi nhắc lại cả tuần. Sau này, khi cùng chấm cuộc thi Tác phẩm Tuổi Xanh với ông, vẫn sự chân tình, say đắm thơ trẻ, ông lại khen Vũ Thị Huyền, Nguyễn Hưng Hải, Đỗ Huy Chí, Đinh Thị Thu Hiền. Ông lập nhóm thơ Khuê Văn và được bầu làm Trinh Đoàn trưởng gồm Ngô Quân Miện, Nguyễn Thái Vận, Trần Nguyên Vấn, Võ Văn Trực… và tổ chức đi thực tế cho cả nhóm, cùng nhóm nỗ lực hoàn thành các công trình thơ mà ông tâm huyết như Thơ Việt thế kỷ XX, chọn lọc và bình và Thơ vùng văn hoá sông Hồng… Ông khiến cho cả gia đình vợ, con cũng phải vào guồng: “đi tìm những áng thơ hay”. Nguyễn Nhã Tiên, nhà thơ miền Trung ghi nhận: “Trinh Đường là một người sống chết với thơ. Gầy gò, da bọc lấy xương, ngày chỉ uống vài thìa cháo loãng, sức không còn đủ lật người qua xoay xở. Nghĩa là bệnh ấy, sức ấy, tưởng như rồi sẽ ngày một, ngày hai. Mắt đã nhìn không rõ, cái gì cũng quên, thậm chí quên luôn sự có mặt của những người đang viếng thăm ông. Bằng chứng là đến tên tôi, ông cũng hỏi đi hỏi lại đến mấy lần. Nhưng có một điều ông không quên. Vâng, đó là thơ!” (Trinh Đường, trọn đời vì thơ, Trần Phương Trà sưu tầm biên soạn, trang 70). Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn nhớ lại: “Hồi đầu chống Mỹ, khi Trinh Đường còn giữ chân “gác gôn” trang thơ của báo Văn nghệ, tôi đã có lần theo chân mấy anh cùng tuổi đến thăm ông ở căn gác hẹp cuối phố Bà Triệu và cái ấn tượng còn lại cho tới bây giờ, ấy là sự thiêng liêng mà con người ấy đặt vào sự sáng tác nói chung cũng như việc biên tập thơ nói riêng. Trước một bài thơ sắp sửa đưa in dù đó là bất cứ của ai, ông đều có sự cẩn trọng tỉ mỉ như nhau. Ông tính đi tính lại từng câu thơ trong bài còn quá cả người sáng tác ra chính bài thơ đó nữa. Trên nét mặt đăm chiêu, dấu hiệu của một đời người nhiều lên thác xuống ghềnh, như thấy toát ra sự thân thiện: Với thơ công phu bao nhiêu cũng là chưa đủ” (Sách đã dẫn, trang 80).

Quan niệm về thơ của ông thật rõ ràng: Phải vừa truyền thống, vừa hiện đại. Ông viết:

“Thơ với tôi là Đạo, không đắc đạo, không thể có thơ hay. Nuôi lớn cơ thể ta là dòng máu truyền từ cha ông, nuôi lớn thơ ta là tinh thần và bản sắc của cha ông. Không ai đi mượn máu mượn hồn để sống và sống nhờ vào người khác. Sáng tác nhất thiết phải trên cơ sở truyền thống. Không dòng sông nào không chảy tự nguồn.

Nhai lại, ăn theo, đều phi nghệ thuật. Sáng tạo là đổi mới, là hiện đại hoá nhưng phải trên cơ sở tự thân, chứ không phải ngoại nhập, lai căng.

Quả thật có nhiều cái cũ đã lỗi thời. Nhưng tình cốt nhục, nghĩa vợ chồng, tình đồng chủng, đồng loại… những gì đã tạo nên nền tảng của xã hội không bao giờ cũ”.

Về nghệ thuật thơ, ông quan niệm phải vừa thực vừa ảo thì mới có thơ hay: “Mọi trường phái nghệ thuật đều có lý do ra đời, tựu trung cách thể hiện độc đáo nhất vẫn là thực và ảo. Thực mới vực được đạo, ảo mới làm cho thực huyền ảo, lung linh…”.

Người làm thơ phải luôn có tâm hồn tươi tắn, trẻ trung, đồng thời lại phải có trình độ già dặn, trải nghiệm. Ông viết: “Mỗi nhà thơ phải có một lúc hai người. Một người già và một người trẻ. Người trẻ để có được chất tuổi trẻ trong cái nhìn và trong ngòi bút. Người có tuổi có đủ yếu tố làm một nhà ngự sử, một nhà tiên tri, một nhà lập ngôn và đủ tư cách tham gia hội nghị Diên Hồng trong thời loạn và trong thời bình”.

Trinh Đường sẵn có một vốn liếng văn hoá. Ông học chữ nho từ nhỏ, chữ Pháp khá thông thạo, ông chăm nghiên cứu sách vở Đông Tây. Chắc hẳn về thơ, ông cũng đọc và nghiền ngẫm nhiều… Bài thơ đầu nhiều người đất Bắc biết đến ông là bài 728. Đó là một trong những bài thơ hay viết về đấu tranh thống nhất của các nhà thơ quê miền Nam. 728 là mốc cây số ở bên cầu Hiền Lương. Sau năm 1954, tập kết ra Bắc, ông đến Vĩnh Linh vùng giới tuyến tạm thời, cùng đi thực tế với nhà thơ Nguyễn Bính và nhà văn Nguyễn Thành Long mà viết được. Lời thơ da diết, mạnh mẽ, mang được phong cách riêng, khiến cho nhiều người nhắc đến Trinh Đường, là nhắc đến bài thơ này…

Sau đó, ông ra Quảng Ninh, viết Bạch đằng tráng khúc… Tráng khúc là thể loại ông tự đặt. Thực ra đó là một trường ca lịch sử viết ở thời hiện đại, ở thế kỷ XX. Hơi thơ khoẻ, hùng tráng, gây được ấn tượng mạnh. Suốt một đời thơ, ông đã in được hơn một chục tập thơ. Ông viết đúng như những gì ông quan niệm, phát biểu về thơ: truyền thống kết hợp với hiện đại, thực hoà với ảo; hồn hậu tươi tắn với những trải nghiệm với những cái nhìn sắc bén, trung thực của một quan ngự sử trước cuộc đời... Ông say mê, tìm tòi, luân chuyển câu chữ, cách viết…

Có cả một tập thơ ông viết toàn là thơ văn xuôi, ở đó ông hoà đồng với thiên nhiên trù mật và con người hào phóng ở đất mũi… Đó là tập Cà Mau.

Thơ Trinh Đường thường đạt ở chất hùng tráng, tính bao quát… Ông luôn tìm tòi thể nghiệm, để cho thơ mình luôn mới. Nhưng xem ra, những bài thơ nhuần nhị của ông lại đậm truyền thống phương Đông.

Càng tuổi cao, thơ ông càng chắt lọc vị đời. Vũ Quần Phương cho rằng: “Trước năm 1990, thơ ông có nhiều bài cảm động, nhưng trong toàn mạch chưa thấy rõ tâm trạng thường trực tác giả, chưa thấy rõ cái nỗi canh cánh không giấu được của hồn người. Mỗi bài thơ còn mang dáng dấp một bài nghị luận, có cảnh và ít nhiều tình nhưng chưa vào sâu được khái quát nhân thế. Bài thơ mới là những không gian nhỏ có ý nghĩa mà chưa thành một cõi người ta.

Từ những năm 90 thế kỷ trước thơ Trinh Đường có biến động mạnh. Ông chịu đi, có thơ từ rừng đước Cà Mau, lại có thơ về tuyết Hoàng Liên Sơn, thậm chí có cả thơ giã từ cuộc đời, cảm động và sâu sắc, sau khi thoát một tai nạn xe hơi tuột phanh trên dốc núi liền ba phút. Không biết do tuổi tác, do lịch lãm, một đời người, do thời thế hay do trong mắt chứa nhiều sông núi mà hai tập thơ gần đây nhất Hành trình (1995) và Trò chơi phù thế (1997), ông viết hay hẳn lên. Hàm súc như thơ cổ điển. Đằm sâu tình nghĩa đời người (Sách đã dẫn, trang 64).

Quả là trong hai tập thơ trên, Trinh Đường có nhiều bài thơ hay, nhiều tứ thơ lạ. Hình như nỗi vất vả đời thường, sự chuân chuyên trong nỗi thơ, nỗi đời mà thơ ông đã bước được vào đến “Cõi người ta”.

Với Trinh Đường, đời và thơ, phải luôn luôn khám phá và sáng tạo.



(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0