Văn học so sánh trong bối cảnh toàn cầu hoá hôm nay
Trần Đình Sử
LTS: Trong bối cảnh giao lưu văn hoá quốc tế hiện nay và hoạt động tiếp nhận văn học, nghệ thuật có nhiều vấn đề cần được thảo luận, bộ môn văn học so sánh ở nước ta đang gây nên mối quan tâm đặc biệt của nhà trường, của giới nghiên cứu văn hoá, ngữ văn, nghệ thuật. Cả ngày 4-6-2004, tại Hà Nội, đã diễn ra Hội thảo khoa học về văn học so sánh, với quy mô toàn quốc, do khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội đăng cai tổ chức. Đông đảo các thầy giáo, cô giáo, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh khoa Ngữ văn cùng nhiều nhà khoa học văn hoá, ngữ văn ở ngoài trường Đại học Sư phạm Hà Nội từng quan tâm đến văn học so sánh, đã đến dự. Nhiều bản tham luận được trình bày. Một số tham luận đáng chú ý, có tính thời sự cao, liên quan đến văn học hiện đại như: Văn học so sánh trong bối cảnh toàn cầu hoá (đề dẫn của Trần Đình Sử), Một số vấn đề xung quanh phạm trù Chủ nghĩa hiện đại (Lại Nguyên Ân), Tiến tới xây dựng bộ môn văn học thế giới so sánh ở các trường đại học ở nước ta (Nguyễn Văn Dân), Sự tiếp nhận các phương pháp sáng tác hiện đại và hậu hiện đại trong thơ hôm nay (Trần Ngọc Hiếu), Đi tìm một cách tiếp nhận ảnh hưởng nước ngoài đặc trưng cho văn học Việt Nam (Vương Trí Nhàn), Đặc điểm phê bình văn học Việt Nam nhìn từ góc độ tiếp nhận (Đỗ Lai Thuý). Dưới đây là bài của Trần Đình Sử rút từ cuộc hội thảo này.
(P.V)
Từ cuối thế kỷ XX sang đầu thế kỷ XXI quá trình toàn cầu hoá là một thực tế không thể né tránh và đảo ngược, văn học Việt Nam không thể đứng ngoài. Đồng thời với toàn cầu hoá (Globalization) về thị trường kinh tế, xuất hiện sự toàn cầu hoá về chính trị, văn hoá, môi trường, thể thao, y tế, đặc biệt là mạng E-mail, xa lộ thông tin… hầu như đang xoá bỏ sự cách ngăn các nước, làm cho các dân tộc trên thế giới vốn xa xôi bỗng gần gũi trong gang tấc. Đó là quá trình mà các yếu tố và quan hệ xã hội của các nước không ngừng lan rộng; các tư tưởng, quan niệm, hành vi, các lực lượng xã hội đồng thời mang đặc điểm chung của vùng, khu vực và toàn cầu. Các mối liên hệ ấy làm cho thế giới như thu nhỏ lại, biến thành “xóm địa cầu” (global village) như cách nói của Mc Luhan.
Từ tình hình đó chúng ta hiểu rõ thêm về xu thế của “Văn học thế giới” mà Mác và Ăngghen đã dự báo trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản năm 1847: “Giai cấp tư sản do khai thác thị trường thế giới đã khiến cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới. Các trạng thái khép kín, giữ mình, tự cung tự cấp của các địa phương và của các dân tộc đã được thay thế bằng mối giao lưu qua lại và sự dựa dẫm vào nhau nhiều mặt của các dân tộc. Sự sản xuất vật chất đã như thế thì sản xuất tinh thần cũng như thế. Sản phẩm tinh thần của các dân tộc sẽ trở thành tài sản chung. Tính phiến diện và tính hạn chế của dân tộc cũng ngày càng trở nên khó tồn tại, và thế là từ các nền văn học của các dân tộc và các địa phương sẽ hình thành một nền văn học thế giới”.
Nền văn học thế giới ấy không phải giản đơn là tổng cộng của các nền văn học dân tộc tách biệt, cũng không phải là sự hoà tan các nền văn học dân tộc vào một cái gọi là văn học thế giới vô bản sắc, mà là một tổng thể văn học các dân tộc đa dạng, có bản sắc riêng, nhưng có chung những mối liên hệ thời đại, địa phương và xu thế phát triển.
Mọi người đều biết, trước khi đi đến những liên hệ chung có tính toàn cầu, mỗi nền văn học đã trải qua giai đoạn tồn tại biệt lập, trong ngôn ngữ dân tộc mình. Tiếp đó là giai đoạn phát triển trong mối liên hệ khu vực và vào thời hiện đại thì phát triển trong mối liên hệ với văn học toàn thế giới. Hiện chưa có tài liệu nói về giai đoạn tồn tại biệt lập của văn học Việt Nam thời cổ xưa. Từ thời trung đại đến nay văn học Việt Nam luôn tồn tại trong quá trình từ khu vực ra thế giới rộng lớn và ở thời nào cũng có thể tìm thấy dấu ấn sâu đậm của ảnh hưởng cũng như cách tiếp nhận của người Việt với tư cách là mối liên hệ văn học vùng và thế giới.
Tất nhiên mối liên hệ vùng ngày xưa và toàn cầu hoá hôm nay là một quá trình phức tạp, không đồng đều và nhiều khi bất bình đẳng. Có khi một mặt đó là quá trình khuếch trương, áp đặt, chinh phục đối với phía mạnh và là quá trình lựa chọn, tiếp nhận, sáng tạo, biến đổi đối với phía yếu. Đó là một thách thức rất lớn đối với các dân tộc có nền kinh tế ở vào thế yếu, văn hoá chậm phát triển, bởi nước thường vẫn chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp. Nhưng ta không thể đắp đê chặn đứng các ảnh hưởng từ ngoài trong thời hiện đại, mà phải tiếp nhận để ý thức về vị trí, giá trị của văn học mình trong thế giới, tìm đường để tự khẳng định mình trong văn học thế giới. Những quan niệm bảo thủ, hẹp hòi về văn hoá, văn học đều không có lợi cho việc xác định vị thế văn học dân tộc mình trên thế giới. Những quan niệm tự ti, thủ tiêu bản sắc lại càng tai hại hơn trong sự nghiệp vươn lên của văn học dân tộc. Thách thức và cơ hội luôn đi đôi với nhau.
Văn học so sánh là ngành nghiên cứu ra đời nhằm khám phá mối liên hệ văn học giữa các quốc gia hay liên quốc gia, bổ sung quan trọng cho hướng nghiên cứu văn học dân tộc biệt lập từ trước đến nay. Thiếu văn học so sánh chúng ta sẽ chỉ khép cửa đề cao một chiều văn học dân tộc, thiếu hẳn ý thức về vị thế, thân phận, tư cách của văn học dân tộc mình trong cộng đồng văn học nhân loại. Thiếu văn học so sánh chúng ta sẽ thiếu con mắt quốc tế để nhìn nhận mỗi thành tựu và yếu kém của chúng ta. Thiếu văn học so sánh chúng ta mất khả năng đánh giá những tiềm năng sáng tạo tự chủ của văn học dân tộc trước các ngọn triều Âu á không ngừng xô đến các tộc người trên mảnh đất hình chữ S.
Trước đây, có một thời có một số người rất sợ văn học so sánh. Họ sợ rằng nghiên cứu văn học so sánh chỉ có lợi cho các nước có truyền thống và văn học hùng hậu, còn đối với nền văn học nhỏ yếu đi sau, càng so sánh càng lộ ra sự yếu kém, sợ làm mất niềm tin. Nhưng đó là cách nhìn cũ, chỉ thấy có một vấn đề ảnh hưởng trong văn học so sánh. Ngày nay với lý thuyết tiếp nhận và tiếp biến văn hoá, tiếp nhận đã thành một bình diện lớn của văn học so sánh. Ngày trước lý luận văn học so sánh chỉ quan tâm con đường ảnh hưởng từ A đến B (người phát và người nhận). Ngày nay văn học so sánh còn tập trung nghiên cứu sự tiếp nhận của B đối với A. Tầm đón nhận của văn học mỗi dân tộc sẽ quy định sự tiếp nhận đó. Sự tiếp nhận có thể là “đọc nhầm”, và phương thức đọc nhầm cũng tạo ra cái mới. Chính sự tiếp nhận là tấm gương phản ánh cá tính, tiềm lực của chủ thể người tiếp nhận, phản ánh mối duyên văn học của các dân tộc. Không chỉ tiếp nhận văn học mà còn tiếp nhận lý luận và mỹ học nữa. Những người chỉ nhìn thấy quan hệ văn học từ phía ảnh hưởng, chỉ thấy kết quả ảnh hưởng là những hiện tượng văn học đồng chất, nhưng nhìn từ phía chủ thể tiếp nhận mới hay kết quả tiếp nhận là những hiện tượng đa nguyên, đa dạng. Và sự chủ động tiếp nhận, chứ không phải bắt chước giản đơn lại là con đường tự làm giàu, tự phát triển của văn học dân tộc. Nghiên cứu tiếp nhận là nghiên cứu sự định vị của chủ thể tiếp nhận.
Trong lịch sử văn học các dân tộc không nơi nào từ chối tiếp nhận, vì đó là nhu cầu của tiến bộ. Trong văn học Việt Nam các tác giả trung đại đã tiếp nhận và sáng tạo. Trong văn học Việt Nam hiện đại không chỉ thơ mới, tiểu thuyết, phóng sự, tản văn, mà cả thơ cách mạng Việt Nam hiện đại, như trong tập Từ ấy của Tố Hữu đã tiếp nhận ảnh hưởng của thơ tượng trưng, siêu thực trong Lao Bảo, Huế tháng Tám… Sự tiếp nhận văn học Liên Xô, Trung Quốc và phương Tây trong các giai đoạn tiếp sau đang là vấn đề chưa được nhìn nhận thấu đáo, đầy đủ.
Bên cạnh nghiên cứu ảnh hưởng và tiếp nhận, việc nghiên cứu song hành do các nhà học giả Mỹ đề xướng có ý nghĩa trong việc khám phá các quan hệ giá trị thẩm mỹ cộng đồng. Các dân tộc, ngôn ngữ và văn hoá trên thế giới là khác nhau, nhưng tư duy, tình cảm, tâm lý, thẩm mỹ lại có nhiều điều giống nhau thuộc về tính người, khiến cho các nền văn học khác nhau lại có những biểu hiện tương tự. Theo quan điểm của phương pháp song hành thì không có hiện tượng văn học nào giữa các dân tộc mà không thể so sánh, nhưng điều đó không có nghĩa là so sánh tràn lan, tuỳ tiện, mà đòi hỏi có mục đích xác lập quan hệ, giải quyết vấn đề đặt ra và có phạm vị xác định thì nghiên cứu mới có ý nghĩa. Theo Remak thì một là các hiện tượng như Herder và Điđơrô, Muýt xê và Hai nơ, Tomax Man và Andrê Giđơ, bất kể họ có quan hệ gì hay không, đều có thể so sánh. Các hiện tượng này do không có “liên hệ về sự thực”, cho nên có thể so sánh dị đồng và rút ra phán đoán về giá trị. Thứ hai, so sánh song hành phá vỡ hạn chế về thời gian, không gian, chất lượng. Chẳng hạn có thể so sánh Đỗ Phủ và Gớt, Gớt và Nguyễn Du, Nguyễn Du và Puskin, có thể so sánh Sêchxpia, kịch tác gia hàng đầu với Goócnây, kịch tác gia chưa đạt vị trí hàng đầu. Nghiên cứu song hành còn có thể nghiên cứu văn học với nghệ thuật, tâm lý học, triết học, tư tưởng chính trị… Nghiên cứu song hành có thể tiến hành từ các mặt chủ đề, nhân vật, cốt truyện, phong cách, thủ pháp, hình ảnh tượng trưng. Ví dụ có thể nghiên cứu tiểu thuyết về gia tộc trong Hồng Lâu Mộng với gia tộc trong Dòng họ Butđenbơruc của T.Man và Gia đình Ti bô của Mácten DuyGa. Hoặc có thể nghiên cứu so sánh chủ đề “đứa con bất nghĩa” trong Vua Lia của Sêchxpia và trong Lão Gôriô của Bandắc. Nghiên cứu song hành thực chất là nghiên cứu loại hình đang mở ra chân trời mới cho văn học so sánh. Sự khác biệt xuất hiện trong nghiên cứu song hành (loại hình) chính là tính dân tộc. ở đây tính dân tộc thể hiện trong từng yếu tố nhỏ như tượng trưng, kết cấu, cho đến các yếu tố lớn như trào lưu, phương pháp, như tính dân tộc trong chủ nghĩa lãng mạn Đức khác tính dân tộc trong chủ nghĩa lãng mạn Anh, Nga… Về phương diện này, tăng cường nghiên cứu song hành văn học Việt Nam với văn học thế giới là con đường khám phá bản sắc dân tộc. Cách khám phá tính dân tộc bằng nghiên cứu tiếp nhận và nghiên cứu song hành (loại hình) khác hẳn với lối nghiên cứu tính dân tộc từ phương pháp tự khẳng định, vì ở đây có một con mắt quốc tế nhìn trở lại tính dân tộc, xem xét nó trong ngữ cảnh văn học thế giới.
Hướng nghiên cứu liên ngành (Interdsciplinary) của văn học so sánh hiện đại đang cần được làm minh xác hơn. Theo một số nhà nghiên cứu, không nên lẫn nghiên cứu so sánh liên ngành của văn học so sánh với nghiên cứu liên ngành trong nghiên cứu văn học nói chung, như kết hợp nghiên cứu văn học với tâm lý học, dân tộc học, ngôn ngữ học, thống kê học, ký hiệu học. Nghiên cứu liên ngành trong văn học so sánh nên được gọi là nghiên cứu “siêu văn học” để phân biệt với nghiên cứu liên ngành trong khoa nghiên cứu văn học. Các hiện tượng lịch sử, khoa học, văn hoá, ý thức hệ… được nghiên cứu trong văn học so sánh trước hết phải là hiện tượng có tính quốc tế, như chiến tranh thế giới 1 và 2, chiến tranh Việt Nam, chủ nghĩa cộng sản, cách mạng giải phóng dân tộc và chủ nghĩa phi lý tính đối với văn học thế giới thế kỷ XX. Trong các trường hợp này người nghiên cứu phải làm rõ hai vế - một bên là hiện tượng văn hoá tư tưởng có tính quốc tế và một bên là các hiện tượng văn học chịu ảnh hưởng.
Trên đây vừa nói về các hướng và phương pháp nghiên cứu văn học so sánh. Cùng với các phương pháp là đối tượng nghiên cứu. ở đây có thể chia ra so sánh về thể loại, so sánh sáng tác (đề bài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ), so sánh về lý luận văn học (còn gọi là so sánh thi học) nghiên cứu sự dịch thuật, nghiên cứu cách miêu tả người nước ngoài trong văn học dân tộc cũng thuộc văn học so sánh. Chẳng hạn nghiên cứu xem người Việt Nam miêu tả người châu Âu, người Trung Hoa, người Mỹ, người ấn Độ… trong văn học như thế nào, hoặc ngược lại, văn học nước ngoài đã miêu tả người Việt Nam như thế nào. Cuối cùng là nghiên cứu so sánh tiến trình văn học các dân tộc trong khu vực và trên thế giới.
Như vậy văn học so sánh là lĩnh vực cho thấy mối quan hệ giữa văn học Việt Nam và văn học thế giới, đặc biệt cho thấy vị thế, thân phận và tính tự chủ của văn học Việt Nam trong văn học thế giới. Nó làm thay đổi quan niệm về một nền văn học Việt Nam biệt lập.
Văn học so sánh ở Việt Nam đã bắt đầu từ thế kỷ XX. Theo bản thống kê chưa đầy đủ của Lê Phong Tuyết, thì so sánh văn học Việt Nam và Âu Mỹ có hơn 61 bài. Các bài nghiên cứu so sánh văn học Việt Nam và Trung Quốc theo Nguyễn Hữu Sơn tính trên Tạp chí Văn học có 71 bài, tính cả Tạp chí Hán Nôm và một số bài khác theo tôi đã có trên 100 bài. So sánh văn học dân gian Việt Nam và thế giới theo tài liệu của Nguyễn Xuân Kính có khoảng trên 50 bài. Tổng cộng có khoảng trên 200 bài với khoảng trên chục cuốn sách có đề cập đến. Số tác phẩm nghiên cứu so sánh về văn học Việt Nam ở nước ngoài đến nay chưa được thống kê, tập hợp. Trong đó phải kể đến các học giả Pháp, Nga, Trung Quốc và người Việt ở hải ngoại. Đó là một con số quá ít, đề tài lại rời rạc, phân tán, chưa tập trung, chưa đủ để nhận thức tính quốc tế và các mối quan hệ quốc tế của văn học Việt Nam. Đó là chưa kể về mặt lý luận và kỹ thuật nghiên cứu, nhiều bài nghiên cứu chưa phân biệt được nghiên cứu văn học so sánh với nghiên cứu so sánh văn học.
Đi sâu vào phương pháp nghiên cứu có thể thấy ngoại trừ một số không nhiều nghiên cứu có mục đích bài bản, phương pháp hẳn hoi, không ít bài chỉ dừng ở quan hệ ảnh hưởng bề ngoài, thiếu sự phân tích thấu đáo. Vấn đề tiếp nhận chưa được quan tâm đầy đủ, nghiên cứu song hành, siêu văn học thưa thớt cơ hồ như chưa có. Không ít người còn nhầm lẫn so sánh văn học với văn học so sánh.
Tuy vậy, nhìn chung ý thức văn học so sánh trong giới nghiên cứu văn học Việt Nam ngày một nâng cao. Cách đây không lâu Tạp chí Hán Nôm có tổ chức mấy số văn học so sánh. Tiếp đó Viện Văn học cho ra tập sách Văn học so sánh và ứng dụng (2001). Gần đây khoa Ngữ văn và Báo chí Trường Đại học Khoa học và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh cho ra tập sách Văn học so sánh nghiên cứu và dịch thuật (2003). Hội nghị văn học so sánh của khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm tổ chức vào tháng 6-2004 này góp thêm một lực đẩy cho ngành văn học so sánh Việt Nam được phát triển và phổ biến rộng rãi. Ngành Việt Nam học, theo chúng tôi hiểu, hơn đâu hết phải có ý thức về so sánh - văn học so sánh, văn hoá so sánh, lịch sử so sánh, ngôn ngữ so sánh, tôn giáo so sánh. Thiếu ý thức so sánh nghiên cứu Việt Nam học, chẳng khác gì nghiên cứu các vấn đề Việt Nam của người Việt Nam xưa nay. Nhưng muốn cho ngành văn học so sánh được phát triển, thì tự thân nó phải phá vỡ thế nghiên cứu cô lập đơn độc và tham gia vào các quan hệ quốc tế.
Với hội nghị này, chúng tôi đề nghị với các cơ quan Nhà nước cùng cơ quan quản lý đào tạo đại học và quản lý nghiên cứu khoa học những đề nghị sau:
1- Nhanh chóng đưa bộ môn văn học so sánh vào chương trình học chính thức cho sinh viên đại học.
2- Nhanh chóng triển khai biên soạn giáo trình văn học so sánh phù hợp với trình độ nghiên cứu hiện đại.
3- Xúc tiến dịch thuật các công trình văn học so sánh có giá trị của thế giới cho sinh viên đọc.
4- Xúc tiến thành lập Hội nghiên cứu văn học so sánh Việt Nam và thiết lập các mối liên hệ quốc tế.
Chúng tôi nhiệt liệt hoan nghênh các tác giả đã có bài hưởng ứng với Hội nghị Khoa học của chúng tôi, sự đóng góp của các vị và các bạn sẽ là những viên gạch xây đắp cho nền văn học so sánh Việt Nam được phát triển.
(Báo Văn nghệ)
Trần Đình Sử
LTS: Trong bối cảnh giao lưu văn hoá quốc tế hiện nay và hoạt động tiếp nhận văn học, nghệ thuật có nhiều vấn đề cần được thảo luận, bộ môn văn học so sánh ở nước ta đang gây nên mối quan tâm đặc biệt của nhà trường, của giới nghiên cứu văn hoá, ngữ văn, nghệ thuật. Cả ngày 4-6-2004, tại Hà Nội, đã diễn ra Hội thảo khoa học về văn học so sánh, với quy mô toàn quốc, do khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội đăng cai tổ chức. Đông đảo các thầy giáo, cô giáo, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh khoa Ngữ văn cùng nhiều nhà khoa học văn hoá, ngữ văn ở ngoài trường Đại học Sư phạm Hà Nội từng quan tâm đến văn học so sánh, đã đến dự. Nhiều bản tham luận được trình bày. Một số tham luận đáng chú ý, có tính thời sự cao, liên quan đến văn học hiện đại như: Văn học so sánh trong bối cảnh toàn cầu hoá (đề dẫn của Trần Đình Sử), Một số vấn đề xung quanh phạm trù Chủ nghĩa hiện đại (Lại Nguyên Ân), Tiến tới xây dựng bộ môn văn học thế giới so sánh ở các trường đại học ở nước ta (Nguyễn Văn Dân), Sự tiếp nhận các phương pháp sáng tác hiện đại và hậu hiện đại trong thơ hôm nay (Trần Ngọc Hiếu), Đi tìm một cách tiếp nhận ảnh hưởng nước ngoài đặc trưng cho văn học Việt Nam (Vương Trí Nhàn), Đặc điểm phê bình văn học Việt Nam nhìn từ góc độ tiếp nhận (Đỗ Lai Thuý). Dưới đây là bài của Trần Đình Sử rút từ cuộc hội thảo này.
(P.V)
Từ cuối thế kỷ XX sang đầu thế kỷ XXI quá trình toàn cầu hoá là một thực tế không thể né tránh và đảo ngược, văn học Việt Nam không thể đứng ngoài. Đồng thời với toàn cầu hoá (Globalization) về thị trường kinh tế, xuất hiện sự toàn cầu hoá về chính trị, văn hoá, môi trường, thể thao, y tế, đặc biệt là mạng E-mail, xa lộ thông tin… hầu như đang xoá bỏ sự cách ngăn các nước, làm cho các dân tộc trên thế giới vốn xa xôi bỗng gần gũi trong gang tấc. Đó là quá trình mà các yếu tố và quan hệ xã hội của các nước không ngừng lan rộng; các tư tưởng, quan niệm, hành vi, các lực lượng xã hội đồng thời mang đặc điểm chung của vùng, khu vực và toàn cầu. Các mối liên hệ ấy làm cho thế giới như thu nhỏ lại, biến thành “xóm địa cầu” (global village) như cách nói của Mc Luhan.
Từ tình hình đó chúng ta hiểu rõ thêm về xu thế của “Văn học thế giới” mà Mác và Ăngghen đã dự báo trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản năm 1847: “Giai cấp tư sản do khai thác thị trường thế giới đã khiến cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới. Các trạng thái khép kín, giữ mình, tự cung tự cấp của các địa phương và của các dân tộc đã được thay thế bằng mối giao lưu qua lại và sự dựa dẫm vào nhau nhiều mặt của các dân tộc. Sự sản xuất vật chất đã như thế thì sản xuất tinh thần cũng như thế. Sản phẩm tinh thần của các dân tộc sẽ trở thành tài sản chung. Tính phiến diện và tính hạn chế của dân tộc cũng ngày càng trở nên khó tồn tại, và thế là từ các nền văn học của các dân tộc và các địa phương sẽ hình thành một nền văn học thế giới”.
Nền văn học thế giới ấy không phải giản đơn là tổng cộng của các nền văn học dân tộc tách biệt, cũng không phải là sự hoà tan các nền văn học dân tộc vào một cái gọi là văn học thế giới vô bản sắc, mà là một tổng thể văn học các dân tộc đa dạng, có bản sắc riêng, nhưng có chung những mối liên hệ thời đại, địa phương và xu thế phát triển.
Mọi người đều biết, trước khi đi đến những liên hệ chung có tính toàn cầu, mỗi nền văn học đã trải qua giai đoạn tồn tại biệt lập, trong ngôn ngữ dân tộc mình. Tiếp đó là giai đoạn phát triển trong mối liên hệ khu vực và vào thời hiện đại thì phát triển trong mối liên hệ với văn học toàn thế giới. Hiện chưa có tài liệu nói về giai đoạn tồn tại biệt lập của văn học Việt Nam thời cổ xưa. Từ thời trung đại đến nay văn học Việt Nam luôn tồn tại trong quá trình từ khu vực ra thế giới rộng lớn và ở thời nào cũng có thể tìm thấy dấu ấn sâu đậm của ảnh hưởng cũng như cách tiếp nhận của người Việt với tư cách là mối liên hệ văn học vùng và thế giới.
Tất nhiên mối liên hệ vùng ngày xưa và toàn cầu hoá hôm nay là một quá trình phức tạp, không đồng đều và nhiều khi bất bình đẳng. Có khi một mặt đó là quá trình khuếch trương, áp đặt, chinh phục đối với phía mạnh và là quá trình lựa chọn, tiếp nhận, sáng tạo, biến đổi đối với phía yếu. Đó là một thách thức rất lớn đối với các dân tộc có nền kinh tế ở vào thế yếu, văn hoá chậm phát triển, bởi nước thường vẫn chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp. Nhưng ta không thể đắp đê chặn đứng các ảnh hưởng từ ngoài trong thời hiện đại, mà phải tiếp nhận để ý thức về vị trí, giá trị của văn học mình trong thế giới, tìm đường để tự khẳng định mình trong văn học thế giới. Những quan niệm bảo thủ, hẹp hòi về văn hoá, văn học đều không có lợi cho việc xác định vị thế văn học dân tộc mình trên thế giới. Những quan niệm tự ti, thủ tiêu bản sắc lại càng tai hại hơn trong sự nghiệp vươn lên của văn học dân tộc. Thách thức và cơ hội luôn đi đôi với nhau.
Văn học so sánh là ngành nghiên cứu ra đời nhằm khám phá mối liên hệ văn học giữa các quốc gia hay liên quốc gia, bổ sung quan trọng cho hướng nghiên cứu văn học dân tộc biệt lập từ trước đến nay. Thiếu văn học so sánh chúng ta sẽ chỉ khép cửa đề cao một chiều văn học dân tộc, thiếu hẳn ý thức về vị thế, thân phận, tư cách của văn học dân tộc mình trong cộng đồng văn học nhân loại. Thiếu văn học so sánh chúng ta sẽ thiếu con mắt quốc tế để nhìn nhận mỗi thành tựu và yếu kém của chúng ta. Thiếu văn học so sánh chúng ta mất khả năng đánh giá những tiềm năng sáng tạo tự chủ của văn học dân tộc trước các ngọn triều Âu á không ngừng xô đến các tộc người trên mảnh đất hình chữ S.
Trước đây, có một thời có một số người rất sợ văn học so sánh. Họ sợ rằng nghiên cứu văn học so sánh chỉ có lợi cho các nước có truyền thống và văn học hùng hậu, còn đối với nền văn học nhỏ yếu đi sau, càng so sánh càng lộ ra sự yếu kém, sợ làm mất niềm tin. Nhưng đó là cách nhìn cũ, chỉ thấy có một vấn đề ảnh hưởng trong văn học so sánh. Ngày nay với lý thuyết tiếp nhận và tiếp biến văn hoá, tiếp nhận đã thành một bình diện lớn của văn học so sánh. Ngày trước lý luận văn học so sánh chỉ quan tâm con đường ảnh hưởng từ A đến B (người phát và người nhận). Ngày nay văn học so sánh còn tập trung nghiên cứu sự tiếp nhận của B đối với A. Tầm đón nhận của văn học mỗi dân tộc sẽ quy định sự tiếp nhận đó. Sự tiếp nhận có thể là “đọc nhầm”, và phương thức đọc nhầm cũng tạo ra cái mới. Chính sự tiếp nhận là tấm gương phản ánh cá tính, tiềm lực của chủ thể người tiếp nhận, phản ánh mối duyên văn học của các dân tộc. Không chỉ tiếp nhận văn học mà còn tiếp nhận lý luận và mỹ học nữa. Những người chỉ nhìn thấy quan hệ văn học từ phía ảnh hưởng, chỉ thấy kết quả ảnh hưởng là những hiện tượng văn học đồng chất, nhưng nhìn từ phía chủ thể tiếp nhận mới hay kết quả tiếp nhận là những hiện tượng đa nguyên, đa dạng. Và sự chủ động tiếp nhận, chứ không phải bắt chước giản đơn lại là con đường tự làm giàu, tự phát triển của văn học dân tộc. Nghiên cứu tiếp nhận là nghiên cứu sự định vị của chủ thể tiếp nhận.
Trong lịch sử văn học các dân tộc không nơi nào từ chối tiếp nhận, vì đó là nhu cầu của tiến bộ. Trong văn học Việt Nam các tác giả trung đại đã tiếp nhận và sáng tạo. Trong văn học Việt Nam hiện đại không chỉ thơ mới, tiểu thuyết, phóng sự, tản văn, mà cả thơ cách mạng Việt Nam hiện đại, như trong tập Từ ấy của Tố Hữu đã tiếp nhận ảnh hưởng của thơ tượng trưng, siêu thực trong Lao Bảo, Huế tháng Tám… Sự tiếp nhận văn học Liên Xô, Trung Quốc và phương Tây trong các giai đoạn tiếp sau đang là vấn đề chưa được nhìn nhận thấu đáo, đầy đủ.
Bên cạnh nghiên cứu ảnh hưởng và tiếp nhận, việc nghiên cứu song hành do các nhà học giả Mỹ đề xướng có ý nghĩa trong việc khám phá các quan hệ giá trị thẩm mỹ cộng đồng. Các dân tộc, ngôn ngữ và văn hoá trên thế giới là khác nhau, nhưng tư duy, tình cảm, tâm lý, thẩm mỹ lại có nhiều điều giống nhau thuộc về tính người, khiến cho các nền văn học khác nhau lại có những biểu hiện tương tự. Theo quan điểm của phương pháp song hành thì không có hiện tượng văn học nào giữa các dân tộc mà không thể so sánh, nhưng điều đó không có nghĩa là so sánh tràn lan, tuỳ tiện, mà đòi hỏi có mục đích xác lập quan hệ, giải quyết vấn đề đặt ra và có phạm vị xác định thì nghiên cứu mới có ý nghĩa. Theo Remak thì một là các hiện tượng như Herder và Điđơrô, Muýt xê và Hai nơ, Tomax Man và Andrê Giđơ, bất kể họ có quan hệ gì hay không, đều có thể so sánh. Các hiện tượng này do không có “liên hệ về sự thực”, cho nên có thể so sánh dị đồng và rút ra phán đoán về giá trị. Thứ hai, so sánh song hành phá vỡ hạn chế về thời gian, không gian, chất lượng. Chẳng hạn có thể so sánh Đỗ Phủ và Gớt, Gớt và Nguyễn Du, Nguyễn Du và Puskin, có thể so sánh Sêchxpia, kịch tác gia hàng đầu với Goócnây, kịch tác gia chưa đạt vị trí hàng đầu. Nghiên cứu song hành còn có thể nghiên cứu văn học với nghệ thuật, tâm lý học, triết học, tư tưởng chính trị… Nghiên cứu song hành có thể tiến hành từ các mặt chủ đề, nhân vật, cốt truyện, phong cách, thủ pháp, hình ảnh tượng trưng. Ví dụ có thể nghiên cứu tiểu thuyết về gia tộc trong Hồng Lâu Mộng với gia tộc trong Dòng họ Butđenbơruc của T.Man và Gia đình Ti bô của Mácten DuyGa. Hoặc có thể nghiên cứu so sánh chủ đề “đứa con bất nghĩa” trong Vua Lia của Sêchxpia và trong Lão Gôriô của Bandắc. Nghiên cứu song hành thực chất là nghiên cứu loại hình đang mở ra chân trời mới cho văn học so sánh. Sự khác biệt xuất hiện trong nghiên cứu song hành (loại hình) chính là tính dân tộc. ở đây tính dân tộc thể hiện trong từng yếu tố nhỏ như tượng trưng, kết cấu, cho đến các yếu tố lớn như trào lưu, phương pháp, như tính dân tộc trong chủ nghĩa lãng mạn Đức khác tính dân tộc trong chủ nghĩa lãng mạn Anh, Nga… Về phương diện này, tăng cường nghiên cứu song hành văn học Việt Nam với văn học thế giới là con đường khám phá bản sắc dân tộc. Cách khám phá tính dân tộc bằng nghiên cứu tiếp nhận và nghiên cứu song hành (loại hình) khác hẳn với lối nghiên cứu tính dân tộc từ phương pháp tự khẳng định, vì ở đây có một con mắt quốc tế nhìn trở lại tính dân tộc, xem xét nó trong ngữ cảnh văn học thế giới.
Hướng nghiên cứu liên ngành (Interdsciplinary) của văn học so sánh hiện đại đang cần được làm minh xác hơn. Theo một số nhà nghiên cứu, không nên lẫn nghiên cứu so sánh liên ngành của văn học so sánh với nghiên cứu liên ngành trong nghiên cứu văn học nói chung, như kết hợp nghiên cứu văn học với tâm lý học, dân tộc học, ngôn ngữ học, thống kê học, ký hiệu học. Nghiên cứu liên ngành trong văn học so sánh nên được gọi là nghiên cứu “siêu văn học” để phân biệt với nghiên cứu liên ngành trong khoa nghiên cứu văn học. Các hiện tượng lịch sử, khoa học, văn hoá, ý thức hệ… được nghiên cứu trong văn học so sánh trước hết phải là hiện tượng có tính quốc tế, như chiến tranh thế giới 1 và 2, chiến tranh Việt Nam, chủ nghĩa cộng sản, cách mạng giải phóng dân tộc và chủ nghĩa phi lý tính đối với văn học thế giới thế kỷ XX. Trong các trường hợp này người nghiên cứu phải làm rõ hai vế - một bên là hiện tượng văn hoá tư tưởng có tính quốc tế và một bên là các hiện tượng văn học chịu ảnh hưởng.
Trên đây vừa nói về các hướng và phương pháp nghiên cứu văn học so sánh. Cùng với các phương pháp là đối tượng nghiên cứu. ở đây có thể chia ra so sánh về thể loại, so sánh sáng tác (đề bài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ), so sánh về lý luận văn học (còn gọi là so sánh thi học) nghiên cứu sự dịch thuật, nghiên cứu cách miêu tả người nước ngoài trong văn học dân tộc cũng thuộc văn học so sánh. Chẳng hạn nghiên cứu xem người Việt Nam miêu tả người châu Âu, người Trung Hoa, người Mỹ, người ấn Độ… trong văn học như thế nào, hoặc ngược lại, văn học nước ngoài đã miêu tả người Việt Nam như thế nào. Cuối cùng là nghiên cứu so sánh tiến trình văn học các dân tộc trong khu vực và trên thế giới.
Như vậy văn học so sánh là lĩnh vực cho thấy mối quan hệ giữa văn học Việt Nam và văn học thế giới, đặc biệt cho thấy vị thế, thân phận và tính tự chủ của văn học Việt Nam trong văn học thế giới. Nó làm thay đổi quan niệm về một nền văn học Việt Nam biệt lập.
Văn học so sánh ở Việt Nam đã bắt đầu từ thế kỷ XX. Theo bản thống kê chưa đầy đủ của Lê Phong Tuyết, thì so sánh văn học Việt Nam và Âu Mỹ có hơn 61 bài. Các bài nghiên cứu so sánh văn học Việt Nam và Trung Quốc theo Nguyễn Hữu Sơn tính trên Tạp chí Văn học có 71 bài, tính cả Tạp chí Hán Nôm và một số bài khác theo tôi đã có trên 100 bài. So sánh văn học dân gian Việt Nam và thế giới theo tài liệu của Nguyễn Xuân Kính có khoảng trên 50 bài. Tổng cộng có khoảng trên 200 bài với khoảng trên chục cuốn sách có đề cập đến. Số tác phẩm nghiên cứu so sánh về văn học Việt Nam ở nước ngoài đến nay chưa được thống kê, tập hợp. Trong đó phải kể đến các học giả Pháp, Nga, Trung Quốc và người Việt ở hải ngoại. Đó là một con số quá ít, đề tài lại rời rạc, phân tán, chưa tập trung, chưa đủ để nhận thức tính quốc tế và các mối quan hệ quốc tế của văn học Việt Nam. Đó là chưa kể về mặt lý luận và kỹ thuật nghiên cứu, nhiều bài nghiên cứu chưa phân biệt được nghiên cứu văn học so sánh với nghiên cứu so sánh văn học.
Đi sâu vào phương pháp nghiên cứu có thể thấy ngoại trừ một số không nhiều nghiên cứu có mục đích bài bản, phương pháp hẳn hoi, không ít bài chỉ dừng ở quan hệ ảnh hưởng bề ngoài, thiếu sự phân tích thấu đáo. Vấn đề tiếp nhận chưa được quan tâm đầy đủ, nghiên cứu song hành, siêu văn học thưa thớt cơ hồ như chưa có. Không ít người còn nhầm lẫn so sánh văn học với văn học so sánh.
Tuy vậy, nhìn chung ý thức văn học so sánh trong giới nghiên cứu văn học Việt Nam ngày một nâng cao. Cách đây không lâu Tạp chí Hán Nôm có tổ chức mấy số văn học so sánh. Tiếp đó Viện Văn học cho ra tập sách Văn học so sánh và ứng dụng (2001). Gần đây khoa Ngữ văn và Báo chí Trường Đại học Khoa học và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh cho ra tập sách Văn học so sánh nghiên cứu và dịch thuật (2003). Hội nghị văn học so sánh của khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm tổ chức vào tháng 6-2004 này góp thêm một lực đẩy cho ngành văn học so sánh Việt Nam được phát triển và phổ biến rộng rãi. Ngành Việt Nam học, theo chúng tôi hiểu, hơn đâu hết phải có ý thức về so sánh - văn học so sánh, văn hoá so sánh, lịch sử so sánh, ngôn ngữ so sánh, tôn giáo so sánh. Thiếu ý thức so sánh nghiên cứu Việt Nam học, chẳng khác gì nghiên cứu các vấn đề Việt Nam của người Việt Nam xưa nay. Nhưng muốn cho ngành văn học so sánh được phát triển, thì tự thân nó phải phá vỡ thế nghiên cứu cô lập đơn độc và tham gia vào các quan hệ quốc tế.
Với hội nghị này, chúng tôi đề nghị với các cơ quan Nhà nước cùng cơ quan quản lý đào tạo đại học và quản lý nghiên cứu khoa học những đề nghị sau:
1- Nhanh chóng đưa bộ môn văn học so sánh vào chương trình học chính thức cho sinh viên đại học.
2- Nhanh chóng triển khai biên soạn giáo trình văn học so sánh phù hợp với trình độ nghiên cứu hiện đại.
3- Xúc tiến dịch thuật các công trình văn học so sánh có giá trị của thế giới cho sinh viên đọc.
4- Xúc tiến thành lập Hội nghiên cứu văn học so sánh Việt Nam và thiết lập các mối liên hệ quốc tế.
Chúng tôi nhiệt liệt hoan nghênh các tác giả đã có bài hưởng ứng với Hội nghị Khoa học của chúng tôi, sự đóng góp của các vị và các bạn sẽ là những viên gạch xây đắp cho nền văn học so sánh Việt Nam được phát triển.
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,